Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, Việt Nam tham gia 12 hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương, cùng với nhiều hiệp định khác đang trong quá trình đàm phán, điều này đã tạo ra một môi trường đầu tư hấp dẫn và được quốc tế đánh giá cao.
Hội nhập sâu rộng mang lại lợi thế cho nền kinh tế và doanh nghiệp, nhưng cũng tạo ra nhiều thách thức, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp Nhà nước Do đó, việc cân nhắc kỹ lưỡng trong các quyết định sản xuất và thông tin về chi phí - giá thành là điều cần thiết.
Quản lý chi phí sản xuất chặt chẽ và tiết kiệm là yếu tố quan trọng giúp doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh và gia tăng lợi nhuận Hệ thống kế toán chi phí sản xuất là công cụ hiệu quả hỗ trợ doanh nghiệp trong việc kiểm soát chi phí, từ đó đảm bảo điều kiện cần thiết cho sự tồn tại và phát triển.
Kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm đóng vai trò quan trọng trong doanh nghiệp, giúp các nhà quản lý đưa ra quyết định kinh doanh chính xác Việc hạch toán chi phí và giá thành sản phẩm một cách đầy đủ và kịp thời cho phép nhận diện nguyên nhân biến động chi phí, từ đó đề xuất các biện pháp khắc phục hiệu quả Điều này không chỉ giúp tối ưu hóa lợi nhuận mà còn nâng cao quản trị doanh nghiệp trong bối cảnh thị trường cạnh tranh Do đó, kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm luôn là mối quan tâm hàng đầu của các nhà quản lý.
Trong những năm gần đây, ngành than, đặc biệt là Công ty than Núi Hồng, gặp nhiều khó khăn trong sản xuất kinh doanh Dù đã cố gắng duy trì ổn định sản xuất và bảo đảm việc làm cho công nhân, nhưng sự sụt giảm về giá bán và thị trường tiêu thụ đã ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả kinh doanh.
Trước tình hình khó khăn hiện tại, việc cắt giảm chi phí và tổ chức lại sản xuất than để phù hợp với nhu cầu thị trường là rất quan trọng.
Kết quả khảo sát tại Công ty than Núi Hồng cho thấy có một số vấn đề phát sinh trong công tác kế toán chi phí sản xuất và giá thành.
Kế toán sử dụng tài khoản 152 để ghi nhận vật liệu phụ và các loại vật liệu khác của đơn vị Do chi phí công cụ dụng cụ thường thấp, nên khi nhận kho, kế toán có thể nhầm lẫn chi phí công cụ dụng cụ với chi phí sản xuất vật liệu.
Việc lập danh điểm theo dõi nguyên vật liệu của công ty được thực hiện theo phương pháp sổ số dư, tuy nhiên thực tế lại áp dụng phương pháp ghi thẻ song song kết hợp với sổ đối chiếu luân chuyển Điều này dẫn đến tình trạng ghi trùng lặp giữa thủ kho và kế toán.
Vào thứ ba, toàn bộ tài sản cố định (TSCĐ) được sử dụng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty đều áp dụng phương pháp trích khấu hao theo cách tuyến tính Tuy nhiên, phương pháp này không phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh trong ngành khai thác mỏ.
Vào thứ Tư, công ty than Núi Hồng áp dụng hình thức kế toán tập trung; tuy nhiên, với địa bàn sản xuất kinh doanh rộng, việc kiểm tra giám sát của phòng kế toán thường diễn ra chậm Điều này dẫn đến việc cung cấp thông tin cho lãnh đạo không kịp thời, ảnh hưởng đến công tác chỉ đạo sản xuất trong đơn vị.
Nhận thấy những vấn đề tồn tại trong kế toán tại Công ty Than Núi Hồng – VVMI, tôi đã nhận thức rõ tầm quan trọng của kế toán chi phí sản xuất và giá thành trong hoạt động sản xuất kinh doanh than Do đó, tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu “Kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại Công ty Than Núi Hồng”.
Tổng quan nghiên cứu của đề tài
Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là đề tài nghiên cứu phổ biến, phản ánh cả lý luận và thực tiễn tại các doanh nghiệp Việt Nam Mỗi nghiên cứu được thực hiện ở thời điểm, không gian và đối tượng khác nhau, do đặc thù riêng của từng ngành Vì vậy, các kiến nghị và giải pháp cũng đa dạng, phù hợp với hoàn cảnh cụ thể.
Nghiên cứu về kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong ngành than.
Luận văn của Lê Văn Tâm (2008) nghiên cứu về tổ chức công tác kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm than nguyên khai tại công ty cổ phần than Hà Tu Tác giả đã phân tích lý thuyết kế toán chi phí và giá thành trong các doanh nghiệp sản xuất, đồng thời đi sâu vào thực trạng tại doanh nghiệp khai thác than Dựa trên thực trạng công tác kế toán chi phí và giá thành, luận văn đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác kế toán sản xuất và giá thành sản phẩm than nguyên khai, bao gồm việc phân bổ lương, kế toán công cụ dụng cụ, kế toán thiệt hại trong sản xuất, hình thức kế toán, và áp dụng phần mềm phù hợp với đặc thù của doanh nghiệp.
Nghiên cứu về kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong các ngành khác.
Luận văn "Hoàn thiện công tác chi phí sản xuất và tính giá thành xi măng tại các công ty xi măng thuộc Tổng công ty Xi Măng Việt Nam" tập trung vào việc cải thiện quy trình quản lý chi phí sản xuất, nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh và tối ưu hóa giá thành sản phẩm Nghiên cứu sẽ phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chi phí sản xuất xi măng, từ đó đề xuất các giải pháp cụ thể để giảm thiểu chi phí và tăng cường khả năng cạnh tranh cho các công ty Mục tiêu cuối cùng là giúp các công ty xi măng cải thiện lợi nhuận và phát triển bền vững trong ngành công nghiệp xây dựng.
Năm 2009, Phạm Hoài Nam từ Trường Đại học Thương Mại đã trình bày và phân tích các quan điểm về chi phí và giá thành trong doanh nghiệp sản xuất Tác giả cũng đã nghiên cứu đối tượng tập hợp chi phí và đối tượng tính giá thành sản phẩm, cung cấp cái nhìn sâu sắc về quản lý chi phí trong lĩnh vực này.
Luận văn đã phân tích thực trạng chi phí sản xuất và tính giá thành tại các công ty khai thác mỏ, chỉ ra những hạn chế trong tổ chức kế toán chi phí, bao gồm hệ thống chứng từ, tài khoản, nội dung các khoản mục chi phí và hệ thống sổ kế toán Bên cạnh đó, luận văn cũng đề xuất các giải pháp và triển vọng cho vấn đề này.
Luận văn của Nguyễn Thị Lan (2013) với tiêu đề “Hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần xây lắp Sơn Giang” nghiên cứu các lý thuyết cơ bản trong kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm cho đơn vị xây lắp Bài viết phân tích thực trạng công tác kế toán tại công ty, chỉ ra những ưu điểm và tồn tại, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán sản xuất và giá thành Các khía cạnh được xem xét bao gồm tập hợp chứng từ, kế toán nguyên vật liệu và nhân công trực tiếp, phương pháp tính giá thành, trích trước chi phí sửa chữa lớn, cũng như kế toán thiệt hại trong sản xuất.
Luận văn "Kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm tại tổng công ty cổ phần may 10" của Lê Thị Thu Hằng, Đại học Kinh tế quốc dân (2014) nghiên cứu và xây dựng mô hình lý thuyết về kế toán chi phí và tính giá thành trong các doanh nghiệp sản xuất, đặc biệt là trong lĩnh vực may gia công xuất khẩu Luận văn cung cấp cái nhìn tổng thể và hệ thống về kế toán chi phí, đồng thời khảo sát thực tế tại Tổng Công ty CP May 10 để phát hiện những hạn chế trong quy trình kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm may mặc gia công xuất khẩu Từ đó, luận văn đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống kế toán, nâng cao hiệu quả trong việc tính giá thành sản phẩm.
- Luận văn: “ Kế toán chi phí và giá thành sản xuất bê tông tươi tại Công ty
Luận văn "CP Đầu tư và Thương mại Dầu khí Sông Đà" (2014) của Triệu Thị Thu Phương tại Đại học Thương Mại đã trình bày lý luận về kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp sản xuất Tác giả đã vận dụng lý thuyết để phân tích thực trạng kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm bê tông tươi, từ đó cung cấp cái nhìn sâu sắc về quản lý chi phí trong ngành xây dựng.
Công ty cổ phần Đầu tư và Thương mại Dầu khí Sông Đà đang tìm kiếm các giải pháp tối ưu hóa chi phí để cải thiện quy trình kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm bê tông tươi Việc này nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và giảm thiểu chi phí cho công ty.
Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm ở nhiều ngành khác nhau, Công ty Than Núi Hồng vẫn thiếu nghiên cứu cụ thể về tình hình kế toán này Đề tài nghiên cứu này sẽ hệ thống hóa lý luận về kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp, đồng thời phân tích thực trạng tại Công ty Than Núi Hồng Từ đó, tác giả sẽ đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại công ty.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Mục tiêu nghiên cứu chung
Nghiên cứu nhằm hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại công ty than Núi Hồng.
Mục tiêu nghiên cứu cụ thể
Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản của kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp sản xuất.
Nghiên cứu kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại công ty Than Núi Hồng nhằm xác định các ưu điểm và hạn chế hiện có Bài viết đề xuất các giải pháp cải tiến hệ thống kế toán, giúp công ty tiết kiệm chi phí và giảm giá thành sản phẩm.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp sản xuất.
Nội dung bài viết nghiên cứu về kế toán tài chính, bao gồm kế toán tổng hợp và kế toán chi tiết, với trọng tâm là chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm than và đá vôi Đặc biệt, nghiên cứu chú trọng vào kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm than tại Công ty Than Núi Hồng.
Nghiên cứu này dựa trên dữ liệu thu thập từ phòng Kế toán - Tài chính kế toán của công ty, cùng với kết quả khảo sát thực tế tại các phân xưởng và bộ phận sản xuất.
+ Thời gian: Thời gian nghiên cứu năm 2015 và 2016.
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập dữ liệu
Quan sát thực hiện kế toán bao gồm việc thu thập dữ liệu, xác định các khoản mục chi phí liên quan, theo dõi quy trình nhập dữ liệu vào máy tính và giám sát quá trình xử lý kế toán.
Cách thức thu thập dữ liệu của phương pháp này :
Tại phòng kế toán, việc kết xuất dữ liệu từ hệ thống phần mềm là rất quan trọng, bao gồm các chứng từ, sổ chi tiết và sổ tổng hợp Đồng thời, dữ liệu cũng được thu thập từ các chứng từ giấy như phiếu đề nghị vật tư, báo cáo vật tư cuối tháng và bảng phân bổ tiền lương.
Phỏng vấn các đối tượng bằng các câu hỏi liên quan như sau :
- Phỏng vấn kế toán trưởng : về chu trình hạch toán chi phí giá thành trong
DN, phương pháp tính giá thành cụ thể.
- Phỏng vấn kế toán NVL,CCDC : Cách phân loại nguyên vật liệu, CCDC trình tự luân chuyển chứng từ nhập và xuất NVL, trình tự ghi sổ.
- Phỏng vấn kế toán tổng hợp : Cách tập hợp các khoản mục chi phí, nhập dữ liệu vào máy và quá trình xử lý kế toán.
Phương pháp thu thập dữ liệu này bao gồm việc ghi chép thông tin trên giấy, đồng thời sử dụng file Word và Excel để thu thập các thông tin chi tiết liên quan đến lao động, tài sản và các loại nguyên vật liệu cụ thể mà doanh nghiệp cung cấp.
Nghiên cứu tài liệu là một phần quan trọng trong lĩnh vực kế toán, bao gồm việc tham khảo các tạp chí chuyên ngành, các thông tư và chính sách liên quan, quyết định và chuẩn mực kế toán, sách kế toán tài chính, cùng với các tài liệu nội bộ của công ty.
Phương pháp xử lý dữ liệu :
Tổng hợp, phân tích và so sánh qua đó để xuất các giải pháp hoàn thiện kế toán tài chính tại Công ty.
Kết cấu của luận văn
Luận văn ngoài phần Lời mở đầu, Kết luận, Phụ lục gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp sản xuất
- Chương 2: Thực trạng kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại Công ty Than Núi Hồng
- Chương 3: Giải pháp hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại Công ty Than Núi Hồng.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ
Khái quát về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
1.1.1.1 Khái niệm và bản chất chi phí sản xuất.
Quá trình sản xuất sản phẩm liên tục phát sinh các khoản chi phí nhằm tạo ra nhiều loại sản phẩm khác nhau Để xác định chính xác chi phí sản xuất trong doanh nghiệp, cần hiểu rõ bản chất của các khoản chi phí này, vì không phải tất cả chi phí doanh nghiệp đều thuộc về chi phí sản xuất.
Hiện nay có nhiều khái niệm về chi phí sản xuất như.
Chi phí sản xuất là số tiền mà doanh nghiệp cần chi để mua các yếu tố đầu vào thiết yếu cho quá trình sản xuất hàng hóa, với mục tiêu cuối cùng là thu lợi nhuận.
Chi phí được định nghĩa theo VAS 01 là tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán, bao gồm tiền chi ra, khấu trừ tài sản và phát sinh nợ, dẫn đến giảm vốn chủ sở hữu Định nghĩa này không bao gồm các khoản phân phối cho cổ đông hoặc chủ sở hữu.
Chi phí sản xuất, từ góc độ kế toán tài chính, được định nghĩa là tổng hợp các hao phí về lao động sống và lao động vật hoá, được thể hiện bằng tiền Đây là khoản chi mà doanh nghiệp phải bỏ ra để thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh trong một khoảng thời gian nhất định, như tháng, quý hoặc năm.
Chi phí sản xuất bao gồm toàn bộ hao phí về lao động sống, lao động vật hoá và các chi phí cần thiết khác mà doanh nghiệp phải chi ra để thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh trong một khoảng thời gian nhất định, được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ.
Đặc điểm của chi phí sản xuất:
- Chi phí sản xuất mang tính vận động liên tục không ngừng và mang tính chất khách quan.
- Chi phí sản xuất mang tính da dạng và phong phú, tiết kiệm chi phí là một quy luật khách quan đối với doanh nghiệp.
Chi phí sản xuất hình thành từ việc chuyển dịch giá trị của các yếu tố sản xuất vào sản phẩm, và điều này được thể hiện qua hai khía cạnh chính.
Về mặt định tính, các yếu tố vật chất trong quá trình sản xuất phát sinh và tiêu hao nhằm tạo ra sản phẩm và dịch vụ, đóng vai trò quan trọng trong việc đạt được mục tiêu sản xuất.
Mức tiêu hao cụ thể của các yếu tố vật chất trong quá trình sản xuất được định lượng qua thước đo phù hợp, với thước đo tổng quát là tiền tệ.
Chi phí sản xuất, bao gồm cả mặt định tính và định lượng, luôn bị ảnh hưởng bởi quá trình sản xuất và các đặc điểm của sản phẩm.
Bản chất của chi phí sản xuất thể hiện trên các khía cạnh sau:
- Về nội dung: Chi phí sản xuất bao gồm:
Hao phí lao động vật hoá bao gồm giá trị của tư liệu sản xuất và giá trị của đối tượng lao động đã tiêu hao, như khấu hao tài sản cố định, chi phí nguyên vật liệu và công cụ dụng cụ.
Hao phí lao động sống như chi phí về tiền lương (tiền công) phải trả cho người lao động tham gia vào quá trình sản xuất sản phẩm.
Một phần giá trị mới được tạo ra bao gồm các khoản trích theo lương và các khoản thuế chi phí như thuế tài nguyên, thuế nhà đất và thuế môn bài.
Các chi phí của doanh nghiệp cần được đo lường và tính toán bằng tiền trong một khoảng thời gian xác định, bao gồm năm cho kỳ kế toán chính thức và tháng hoặc quý cho kỳ kế toán tạm thời.
Chi phí doanh nghiệp là một khái niệm đa dạng, bao gồm tất cả các khoản chi cần thiết và không cần thiết để duy trì hoạt động kinh doanh Điều này bao hàm cả các khoản thiệt hại về tài sản và các khoản tiền bồi thường Mỗi doanh nghiệp sẽ có chi phí khác nhau do sự khác biệt về chức năng, nhiệm vụ, quy mô và trình độ tổ chức quản lý.
- Độ lớn của chi phí phụ thuộc vào hai yếu tố cơ bản:
Khối lượng lao động và tư liệu sản xuất đã tiêu hao trong một thời gian nhất định.
Giá cả các tư liệu sản xuất đã tiêu hao và tiền lương (tiền công) của một đơn vị lao động đã hao phí.
Chi phí và chi tiêu của doanh nghiệp có nhiều điểm tương đồng, nhưng thực chất chúng khác nhau Chi phí thường liên quan đến nội dung và số lượng tại một thời điểm nhất định Có những trường hợp mà chi phí không được xem là chi tiêu, và ngược lại, có những chi tiêu không được tính là chi phí.
Chi phí trong doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về lao động sống và lao động vật hoá cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh trong một kỳ Chỉ những hao phí liên quan đến sản phẩm sản xuất trong kỳ mới được tính là chi phí, không bao gồm mọi khoản chi tiêu khác Ngược lại, chi tiêu chỉ đơn thuần là sự giảm đi các loại vật liệu, tài sản và tiền vốn của doanh nghiệp, không phụ thuộc vào mục đích sử dụng.
Kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp sản xuất
1.2.1 Nguyên tắc kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
Khi hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm, kế toán cần tuân thủ các nguyên tắc và yêu cầu cơ bản Việc hạch toán chi phí phải đảm bảo tuân theo các nguyên tắc cụ thể để đảm bảo tính chính xác và minh bạch trong báo cáo tài chính.
+ Nguyên tắc cơ sở dồn tích:
Tất cả các giao dịch kinh tế và tài chính của doanh nghiệp, bao gồm tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu và chi phí, cần được ghi chép vào sổ kế toán ngay khi phát sinh, không phụ thuộc vào thời điểm thực tế thu tiền hoặc chi tiền.
Khi đầu tư chi phí sản xuất, theo nguyên tắc dồn tích, chi phí này sẽ được ghi nhận ngay khi phát sinh và được tổng hợp vào giá thành sản phẩm Khi hàng hóa được bán, chi phí sẽ được chuyển vào giá vốn hàng bán.
Báo cáo tài chính lập trên cơ sở dồn tích phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp trong quá khứ, hiện tại và tương lai.
Cơ sở kế toán dồn tích là nguyên tắc quan trọng trong việc xác định lợi nhuận của doanh nghiệp, vì nó ảnh hưởng đến báo cáo lợi nhuận trong một kỳ Lợi nhuận theo cơ sở dồn tích được tính bằng phần chênh lệch giữa doanh thu và chi phí, từ đó báo cáo tài chính, đặc biệt là báo cáo kết quả kinh doanh, được lập dựa trên nguyên tắc này, phản ánh đầy đủ các giao dịch kinh tế trong kỳ Điều này cho phép đánh giá chính xác tình trạng tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp, giúp ích cho việc ra quyết định của các đối tượng sử dụng báo cáo tài chính.
Nguyên tắc giá gốc yêu cầu kế toán ghi nhận tài sản dựa trên chi phí phát sinh, không phải giá thị trường hiện hành Giá trị tài sản trên bảng cân đối kế toán phản ánh chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra để sở hữu tài sản, thay vì giá trị thị trường tại thời điểm báo cáo Các khoản chi phí này đại diện cho số tiền mà doanh nghiệp đã chi ra khi thực hiện nghiệp vụ kinh tế.
Tài sản hình thành từ quá trình sản xuất bao gồm các thành phẩm và bán thành phẩm, với giá trị được xác định từ giá thành sản phẩm dựa trên các chi phí thực tế phát sinh Giá thành sản phẩm bao gồm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung đã được tập hợp Cuối kỳ kế toán, giá thành sản phẩm được tính toán dựa trên các tài liệu về các khoản mục chi phí phát sinh bằng phương pháp phù hợp.
Việc ghi nhận doanh thu và chi phí cần phải tương thích, tức là khi ghi nhận doanh thu, cần ghi nhận chi phí tương ứng liên quan đến việc tạo ra doanh thu đó Chi phí này không chỉ bao gồm chi phí trong kỳ tạo ra doanh thu mà còn có thể bao gồm chi phí của các kỳ trước hoặc chi phí phải trả liên quan đến doanh thu của kỳ đó Chi phí tổng quát bao gồm các chi phí sản xuất kinh doanh phát sinh trong quá trình hoạt động thông thường của doanh nghiệp và các loại chi phí khác.
Chi phí liên quan đến doanh thu trong một thời kỳ được gọi là chi phí của thời kỳ đó Việc tính toán giá thành sản phẩm hoàn thành một cách chính xác và hợp lý sẽ giúp xác định giá vốn hàng bán, từ đó đảm bảo sự tương ứng với doanh thu trong kỳ Để đạt được mục tiêu này, việc lựa chọn phương pháp tính giá thành phù hợp với từng doanh nghiệp là điều kiện tiên quyết.
Trong kế toán, có thể áp dụng nhiều phương pháp tính toán khác nhau, mỗi phương pháp mang lại kết quả khác nhau Khi đã chọn một phương pháp, kế toán cần thực hiện nhất quán trong các kỳ kế toán Nếu cần thay đổi phương pháp, báo cáo tài chính phải giải thích lý do và tác động của sự thay đổi đó đến kết quả so với phương pháp trước.
Có nhiều phương pháp tính khấu hao tài sản cố định và giá trị hàng tồn kho cuối kỳ, mỗi phương pháp sẽ dẫn đến những con số khác nhau về chi phí và lợi nhuận Việc áp dụng phương pháp nào phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng doanh nghiệp, vì tất cả các phương pháp đều được công nhận Tuy nhiên, kế toán cần áp dụng nhất quán phương pháp đã chọn trong các kỳ kế toán để đảm bảo tính chính xác và minh bạch.
Công tác tính giá thành bao gồm việc tập hợp chi phí sản xuất theo đối tượng, đánh giá sản phẩm dở dang và tính giá sản phẩm hoàn thành Phương pháp tính giá thành cần phù hợp với đặc điểm doanh nghiệp, thống nhất với cách đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ và đảm bảo tính nhất quán qua các kỳ Những phương pháp này hiếm khi thay đổi, giúp so sánh các chỉ tiêu phân tích trong quản lý giá thành.
Thận trọng trong kế toán là việc xem xét và phán đoán cần thiết để lập các ước tính trong điều kiện không chắc chắn Nguyên tắc này yêu cầu lập các khoản dự phòng hợp lý, không đánh giá cao hơn giá trị tài sản và thu nhập, đồng thời không đánh giá thấp hơn giá trị nợ phải trả và chi phí Chi phí cần được ghi nhận khi có bằng chứng về khả năng phát sinh.
Theo nguyên tắc kế toán, khi xuất kho nguyên vật liệu và hàng hóa phục vụ sản xuất, chi phí vật liệu sẽ được ghi nhận vào các tài khoản liên quan ngay tại thời điểm phát sinh, kèm theo chứng từ hợp lệ Đồng thời, khi có bằng chứng về việc giảm giá hàng tồn kho, kế toán cần thực hiện trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho theo quy định.
Trọng yếu trong việc trình bày thông tin trên báo cáo tài chính (BCTC) là việc kế toán xem xét các sự kiện và nghiệp vụ kinh tế để quyết định mức độ cần thiết của thông tin Các nhân tố ảnh hưởng đến phán xét mức trọng yếu được phân loại thành nhân tố tài chính (cả định tính và định lượng) và phi tài chính Những nhân tố này bao gồm quy mô hoặc tỷ lệ phần trăm, bản chất của thông tin, yêu cầu kế toán và lập báo cáo, ảnh hưởng đến cách trình bày BCTC, đặc tính của công ty hoặc ngành, môi trường kinh tế tổng quát, khả năng quản lý, và mong muốn của nhà quản lý, nhân viên kế toán hoặc kiểm toán viên bên ngoài.
Ngoài các nguyên tắc chung trên, việc hạch toán kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm cần tuân thủ các nguyên tắc cụ thể sau:
Nguyên tắc nhận diện chi phí sản xuất bao gồm việc xác định các yếu tố chi phí và tuân thủ quy định ghi nhận chi phí theo chuẩn mực "Hàng tồn kho".
Kinh nghiệm một số nước trên thế giới về kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm và bài học đối với Việt Nam
và giá thành sản phẩm và bài học đối với Việt Nam
1.3.1 Kinh nghiệm một số nước trên thế giới
Kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp ở Mỹ
Mỹ là một quốc gia phương Tây với nền kinh tế thị trường phát triển, nổi bật với các trung tâm tài chính và sở giao dịch mạnh mẽ Hệ thống kế toán Mỹ chủ yếu tập trung vào tài chính, kết hợp giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị trong cùng một hệ thống sổ sách Kế toán chi phí được phân loại thành chi phí cố định và chi phí biến đổi, với tổng chi phí trong kỳ tương ứng với tổng giá thành sản phẩm Phương pháp tính giá thành theo công việc không sử dụng tài khoản chi phí nguyên vật liệu và chi phí nhân công trực tiếp, mà chỉ ghi nhận vào chi phí sản xuất chung Chi phí sản xuất chung bao gồm chi phí nguyên vật liệu gián tiếp, chi phí nhân công gián tiếp, cùng với các chi phí khác như tiện ích, khấu hao, bảo hiểm, và thuê tài sản.
Khi áp dụng phương pháp tính giá thành theo quá trình sản xuất, doanh nghiệp vẫn sử dụng tài khoản nguyên vật liệu và chi phí sản xuất dở dang, nhưng mỗi giai đoạn sản xuất sẽ có một tài khoản riêng.
Hệ thống xác định chi phí có thể sử dụng ba phương pháp: giá thành thực tế, giá thành định mức và chi phí định mức Kế toán chi phí sản xuất tại Mỹ rất linh hoạt, cho phép lựa chọn giữa phương pháp kê khai thường xuyên và phương pháp kiểm kê định kỳ Do đó, việc chọn lựa giữa chi phí thực tế và chi phí định mức là rất quan trọng.
Kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm ở Pháp
Cộng hòa Pháp, một quốc gia Tây Âu với nền kinh tế phát triển lâu đời, nổi bật với công tác quản lý kinh tế và kế toán ở trình độ cao Mô hình kế toán tại đây kết hợp nhu cầu thông tin từ cả quan hệ nội bộ và bên ngoài, giúp đơn giản hóa quy trình thu thuế Đặc trưng nổi bật của mô hình kế toán Pháp là tính tĩnh, trong đó kế toán tài chính và kế toán quản trị được tổ chức độc lập Kế toán quản trị có bộ máy riêng và sử dụng tài khoản cùng hệ thống báo cáo nội bộ tách biệt với kế toán tài chính.
Chi phí trong kế toán Pháp là khoản tiền chi cho các yếu tố cần thiết nhằm tạo ra sản phẩm mang lại lợi ích cho doanh nghiệp Theo chế độ kế toán Pháp, chi phí được phân chia thành ba loại chính: chi phí sản xuất kinh doanh, chi phí tài chính và chi phí đặc biệt Để xác định chính xác chi phí và đáp ứng yêu cầu quản lý của doanh nghiệp, chi phí còn được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau.
Chi phí theo chức năng bao gồm các hạng mục như quản trị hành chính, tài chính, quản lý máy móc thiết bị nhà xưởng, cung cấp vật tư, phân phối và sản xuất.
Chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp.
Chi phí phân bổ, chi phí không phân bổ và chi phí bổ xung.
Chi phí cố định và chi phí biến đổi.
Kế toán Pháp phân biệt giữa giá phí và giá thành, trong đó giá phí xác định các hao phí doanh nghiệp phải chi trả trong quá trình tái sản xuất, bao gồm giá phí tiếp liệu, giá phí sản xuất và giá phí phân phối Giá thành sản phẩm được tính bằng tổng giá phí sản xuất và giá phí phân phối.
Giá thành sản phẩm = Giá phí sản xuất + Giá phí phân phối
Giá thành sản phẩm trong kế toán Pháp bao gồm chỉ tiêu giá phí phân phối, tương đương với chi phí bán hàng Kế toán Mỹ và Pháp đều chú trọng đến vai trò quản lý của thông tin kế toán, với kế toán chi phí tập trung vào tính linh hoạt và khả năng dự báo, nhằm cung cấp thông tin kịp thời cho nhà quản trị Do đó, kế toán quản trị thường được thực hiện song song với kế toán tài chính, đặc biệt trong quản lý chi phí và tính giá thành sản phẩm Việc đánh giá chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm luôn được xem xét từ cả hai góc độ kế toán tài chính và kế toán quản trị.
1.3.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Nghiên cứu đặc điểm kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở các quốc gia trên thế giới sẽ cung cấp cho chúng ta những bài học quý giá để cải thiện hệ thống kế toán tại Việt Nam Những bài học này có thể giúp nâng cao hiệu quả tổ chức và quản lý chi phí sản xuất.
Thứ nhất, về các chính sách, chế độ và chuẩn mực kế toán
Hiện nay, nhiều quốc gia đã áp dụng các chuẩn mực kế toán quốc tế một cách linh hoạt, tuy nhiên, chuẩn mực kế toán Việt Nam vẫn còn mang tính khuôn mẫu và chưa phù hợp với thông lệ quốc tế Công tác kế toán tại Việt Nam bị ảnh hưởng bởi nhiều hệ thống chính sách khác nhau như chuẩn mực kế toán, chế độ kế toán, Luật kế toán cùng các thông tư, nghị định, dẫn đến sự không thống nhất và khó khăn cho người làm kế toán và nghiên cứu trong lĩnh vực này.
Bài học kinh nghiệm đầu tiên trong công tác kế toán là xây dựng hệ thống chế độ và chuẩn mực kế toán phù hợp với thông lệ quốc tế và thực tiễn Việt Nam Nhà nước cần tiếp tục điều chỉnh chính sách kế toán dựa trên kinh nghiệm quốc tế, nhằm nâng cao hiệu quả công tác kế toán cho doanh nghiệp Việt Nam và đảm bảo sự phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế trong tương lai.
Thứ hai, về tổ chức công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp.
Doanh nghiệp Việt Nam có thể áp dụng mô hình kế toán kết hợp giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị của Mỹ vào kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm Mô hình này cung cấp thông tin chi tiết từ cả hai góc độ, giúp các nhà quản trị có cái nhìn tổng quát và đưa ra quyết định chính xác hơn Ngoài ra, việc xây dựng mô hình kế toán chi phí này còn tiết kiệm chi phí luân chuyển chứng từ và nhân sự, vì không cần tổ chức hai bộ máy kế toán độc lập Mô hình cũng phù hợp với trình độ kế toán hiện tại của doanh nghiệp và đảm bảo việc kiểm tra, kiểm soát dễ dàng.
Nghiên cứu kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành ở Mỹ, Pháp và các quốc gia khác là rất quan trọng Qua đó, chúng ta có thể học hỏi các mô hình kế toán tiên tiến và cải thiện cách hạch toán chi phí sản xuất Điều này giúp nâng cao nhận thức và tạo điều kiện hòa nhập với nền kinh tế toàn cầu.
Chương 1 của luận văn tập trung vào các vấn đề lý luận về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm, bao gồm định nghĩa, khái niệm và phân loại chi phí sản xuất Bên cạnh đó, chương cũng làm rõ các nội dung liên quan như phương pháp tập hợp và phân bổ chi phí sản xuất, hạch toán kế toán, đánh giá sản phẩm dở dang và tính giá thành sản phẩm Tác giả đã phân tích các nghiên cứu trong và ngoài nước để làm cơ sở so sánh công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm của đơn vị nghiên cứu với các đơn vị khác.
Chương 1 trình bày những vấn đề lý luận chung về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm, tạo cơ sở quan trọng để đánh giá mối quan hệ giữa lý thuyết và thực tiễn tại Công ty than Núi Hồng Dựa trên những phân tích này, bài viết sẽ đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty.