1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Luận văn thạc sĩ) PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG của đầu tƣ TRỰC TIẾP nƣớc NGOÀI đến vấn đề VIỆC làm của VIỆT NAM

105 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân Tích Ảnh Hưởng Của Đầu Tư Trực Tiếp Nước Ngoài Đến Vấn Đề Việc Làm Của Việt Nam
Tác giả Phạm Linh Phương
Người hướng dẫn TS. Đinh Thị Thanh Bình
Trường học Trường Đại Học Ngoại Thương
Chuyên ngành Kinh Tế Quốc Tế
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2018
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 385,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 2.1.2. Hình thức và lĩnh vực đầu tư của FDI vào Việt Nam (0)
  • 2.1.3. Tương tác của khu vực FDI với nền kinh tế (52)
  • 2.2. Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới vấn đề việc làm ở Việt Nam (57)
    • 2.2.1. Biến và mô hình (57)
    • 2.2.2. Số liệu (65)
    • 2.3.3. Phương pháp ước lượng (72)
    • 2.3.4. Kết quả ước lượng (73)
    • 2.3.5. Nguyên nhân dẫn đến hiệu ứng việc làm ròng tiêu cực của FDI tại Việt Nam (80)
  • CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO TÁC ĐỘNG TÍCH CỰC CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TỚI VẤN ĐỀ VIỆC LÀM CỦA VIỆT NAM . 68 3.1. Bối cảnh thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam (83)
    • 3.2. Hàm ý chính sách (84)
  • KẾT LUẬN (90)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (92)

Nội dung

Tương tác của khu vực FDI với nền kinh tế

Nghiên cứu phân tích sự tương tác giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp nội địa qua hai khía cạnh chính: khả năng liên kết và bổ trợ sản xuất, cùng với tính cạnh tranh Nếu doanh nghiệp FDI có sự liên kết chặt chẽ với doanh nghiệp trong nước, hiệu ứng việc làm tích cực sẽ gia tăng Tuy nhiên, nếu cạnh tranh gia tăng, điều này có thể dẫn đến hiệu ứng việc làm tiêu cực.

Trung bình Kinh tế ngoài nhà nước

Biểu đồ 2.7 Giá trị gia tăng trên một lao động theo khu vực kinh tế, 2005-2016 (Triệu VND/lao động)

Nguồn: Tác giả tính toán từ Tổng cục Thống kê (2018)

Chênh lệch về trình độ sản xuất giữa khu vực FDI và khu vực nội địa có thể làm giảm tính kết nối và không tạo ra thị trường mới cho doanh nghiệp nội địa Biểu đồ 2.7 cho thấy giá trị gia tăng trên mỗi lao động của khu vực FDI đã liên tục tăng từ năm 2005 đến 2016, đạt hơn 360 triệu VND/lao động vào năm 2016, vượt trội so với các thành phần khác trong nền kinh tế Cụ thể, vào năm 2015, giá trị gia tăng trên mỗi lao động của khu vực FDI cao gấp 9 lần so với khu vực nội địa ngoài nhà nước và gấp 1,5 lần so với khu vực doanh nghiệp nhà nước.

Biểu đồ 2.8 Tỷ trọng nhập khẩu so với giá trị gia tăng theo khu vực kinh tế,

Ghi chú: *NK/VA: giá trị nhập khẩu/giá trị gia tăng ngành

**NX/VA: (giá trị xuất khẩu – giá trị nhập khẩu)/giá trị gia tăng ngành

Nguồn: Tác giả tính toán từ Tổng cục Thống kê (2018) và Ngân hàng Thế giới

Chênh lệch lớn về năng suất lao động giữa khu vực doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp FDI trình độ cao có thể dẫn đến sự liên kết yếu giữa hai bên.

Doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam yêu cầu tiêu chuẩn kỹ thuật và trình độ quản lý cao, điều mà doanh nghiệp trong nước khó đáp ứng, dẫn đến xu hướng phụ thuộc vào xuất nhập khẩu để cạnh tranh Jenkins (2006) đã tính toán tỷ trọng giá trị nguyên liệu đầu vào nhập khẩu trên tổng giá trị nguyên liệu đầu vào để đánh giá tính liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước Luận văn này cũng đưa ra một phương pháp đo lường khác, đó là giá trị nhập khẩu hàng hóa cần thiết để tạo ra một VND giá trị gia tăng theo khu vực kinh tế Mặc dù phương pháp của Jenkins cung cấp một đại lượng tốt để đánh giá sự phụ thuộc vào nhập khẩu, tỷ lệ mà luận văn đưa ra có thể không phản ánh hoàn toàn chính xác sự phụ thuộc này, do mối quan hệ với tỷ lệ giá trị gia tăng trên tổng giá trị nguyên liệu đầu vào theo khu vực kinh tế Tuy nhiên, tỷ lệ này dễ tính toán hơn so với phương pháp của Jenkins.

Nghiên cứu sử dụng số liệu từ Tổng cục Thống kê (2018) để phân tích dữ liệu nhập khẩu Để quy đổi giá nhập khẩu từ USD sang VND, nghiên cứu áp dụng tỷ giá trung bình chính thức do Ngân hàng Thế giới cung cấp (2018b).

Kết quả nghiên cứu cho thấy, để tạo ra một VND giá trị gia tăng, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài cần sử dụng hơn 1,4 VND nhập khẩu, với mức cao nhất đạt 2,78 VND vào năm 2015 Tỷ lệ tương quan với khu vực trong nước luôn dưới 0,66 cho thấy khu vực nước ngoài phụ thuộc nhiều vào nguyên liệu nhập khẩu, sử dụng ít nguyên liệu nội địa hơn so với doanh nghiệp trong nước Thực trạng này đã tồn tại từ những năm 1990 (Jenkin, 2006).

Liên kết giữa nguyên liệu đầu vào và đầu ra trong nước có thể không đạt hiệu quả cao Nghiên cứu cần xem xét cách phân phối giá trị gia tăng đầu ra giữa khu vực FDI và khu vực nội địa thông qua chỉ số cán cân thương mại.

Giá trị hàng hóa nhập khẩu và nguyên liệu đầu vào là chỉ số quan trọng trong luận văn tính toán Mối liên hệ giữa chỉ số này và sự phụ thuộc vào nhập khẩu phụ thuộc vào tỷ lệ Giá trị gia tăng xuất khẩu (NX) so với Tổng giá trị nguyên liệu đầu vào Phương pháp tính toán dựa trên công thức Y = C + I + G + NX, trong đó NX được xem là giá trị gia tăng phân phối ra nước ngoài, còn C, I, G đại diện cho giá trị gia tăng trong nước từ tiêu dùng cuối cùng, đầu tư và chi tiêu chính phủ.

Kết quả nghiên cứu cho thấy giá trị gia tăng từ khu vực FDI chủ yếu được phân phối ra nước ngoài thông qua xuất khẩu, với hơn 0,4 VND trong số 1 VND được tạo ra từ FDI được chuyển ra nước ngoài trong giai đoạn 2012-2015 Sự gia tăng chỉ số NX/VA chỉ ra rằng sự kết nối giữa FDI và các doanh nghiệp nội địa về đầu ra sản phẩm đang giảm, dẫn đến hiệu ứng gián tiếp tích cực bị suy giảm, đặc biệt là đối với lao động trình độ cao do thiếu hoạt động chuyển giao công nghệ Nếu giá trị gia tăng từ xuất khẩu được tiêu thụ hoặc đầu tư trong nước, sẽ có khả năng tạo ra nhiều việc làm hơn, đặc biệt là cho những công việc yêu cầu trình độ cao tại các doanh nghiệp nội địa.

Sự khác biệt giữa hàng hóa xuất khẩu của FDI và hàng hóa xuất khẩu của khu vực nội địa dẫn đến việc tăng cường xuất khẩu có tác động tích cực đến quy mô việc làm Điều này là nhờ FDI đã tạo ra thị trường mới, trực tiếp tạo thêm cơ hội việc làm cho người lao động.

Giá trị gia tăng từ khu vực nội địa chủ yếu được phân phối trong nước, với mỗi 1 VND giá trị gia tăng nội địa, khu vực này còn nhập khẩu ròng thêm khoảng 0,1 VND giá trị gia tăng từ nước ngoài Điều này phản ánh thâm hụt thương mại ròng trong giai đoạn 2012-2015.

Hiệu ứng gián tiếp tích cực tại Việt Nam giảm khi các doanh nghiệp FDI phụ thuộc vào xuất nhập khẩu Tuy nhiên, nếu hàng hóa xuất khẩu của FDI khác biệt so với doanh nghiệp nội địa, hiệu ứng trực tiếp tích cực có thể gia tăng.

Dòng vốn FDI vào các ngành phi thương mại, như dịch vụ, có thể gia tăng hiệu ứng gián tiếp tích cực tại Việt Nam khi các doanh nghiệp FDI buộc phải hợp tác với doanh nghiệp nội địa Nếu các doanh nghiệp FDI phát triển sản phẩm dịch vụ khác biệt so với doanh nghiệp trong nước, hiệu ứng việc làm ròng tích cực sẽ tăng lên Ngược lại, nếu sản phẩm tương đồng với doanh nghiệp nội địa, tác động tiêu cực sẽ gia tăng.

Doanh nghiệp FDI đầu tư vào Việt Nam sẽ làm gia tăng số lượng doanh nghiệp trong ngành, dẫn đến việc thị phần của mỗi doanh nghiệp bị chia nhỏ hơn và tăng tính cạnh tranh trong ngành Cụ thể, trong ngành nông nghiệp, nghiên cứu cho thấy tính cạnh tranh đã tăng lên với sự hiện diện của các doanh nghiệp vào năm 2015.

Bảng 2.4 trình bày chỉ số HHI50, một thước đo về sự cạnh tranh trong ba ngành nhỏ của khu vực nông nghiệp tại Việt Nam Nghiên cứu so sánh sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và không có sự tham gia của họ Giả định rằng nếu không có doanh nghiệp vốn đầu tư nước ngoài, thị phần theo doanh thu của doanh nghiệp trong nước sẽ không thay đổi Kết quả cho thấy, sự vắng mặt của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài dẫn đến sự giảm sút trong cạnh tranh của ngành, với chỉ số HHI50 không có sự tham gia của họ cao hơn chỉ số HHI50 tổng thể.

Bảng 2.4 Chỉ số HHI50 trong ngành nông nghiệp năm 2015

Ghi chú: *HHI50 thu thuần của 50 nước dẫn đầu ngành HHI50 càng cao thể hiện ngành càng kém cạnh tranh.

Nguồn: Tác giả tính toán từ VEC 2015.

Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới vấn đề việc làm ở Việt Nam

Biến và mô hình

2.2.1.1 Mô hình nghiên cứu chung

Mô hình đánh giá tác động của FDI đến việc làm ở Việt Nam bao gồm ba loại biến chính: biến phụ thuộc (em ijt), biến độc lập đại diện cho hoạt động của doanh nghiệp FDI (F ijt), và véc tơ biến kiểm soát (X ijt) Công thức được sử dụng là ln(emijt).

Chỉ số i, j, t đại diện cho các ngành, tỉnh và năm cụ thể, với ngành i được phân loại thành ba lĩnh vực chính: nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ, theo hệ thống phân loại VSIC 2007 Để biết thêm chi tiết về phân ngành, vui lòng tham khảo mục 2.2.2 Số liệu.

+ tương ứng là hiệu ứng không quan sát được theo tỉnh j, năm t;

+v it là nhiễu hỗn hợp;

+ là nhiễu riêng biệt, thỏa mãn các giả thuyết trong hồi quy OLS.

Trong nghiên cứu này, các yếu tố không quan sát được từ các ngành khác có thể ảnh hưởng đến biến phụ thuộc, nhưng để đơn giản hóa, mô hình chỉ xem xét các yếu tố không quan sát trong tỉnh j và năm t Việc này giúp nâng cao độ chính xác của kết quả ước lượng bằng cách tách biệt các yếu tố không quan sát Hơn nữa, mô hình áp dụng logarit cho các biến để tính toán các tương tác tương đối giữa chúng.

2.2.1.2 Các biến trong mô hình

Mô hình nghiên cứu sử dụng hai loại biến để đo lường vấn đề việc làm ở Việt Nam, trong đó biến phụ thuộc em ijt đại diện cho các khía cạnh liên quan đến số lượng và chất lượng việc làm.

(1) Tổng quy mô lao động có việc làm ( ) làm việc tại các đơn vị kinh doanh trong ngành i tỉnh j năm t;

Tổng quy mô lao động trình độ cao tại các doanh nghiệp FDI trong ngành i tỉnh j năm t được xác định dựa trên việc sử dụng lao động có chứng chỉ từ cao đẳng trở lên Biến độc lập F ijt phản ánh tổng quy mô hoạt động của các doanh nghiệp FDI, và được tính toán từ Bộ số liệu VEC điều tra tất cả các doanh nghiệp tại Việt Nam Nghiên cứu của Bailey & Driffield (2007) cũng đo lường quy mô hoạt động FDI tại một ngành dựa trên số liệu doanh nghiệp, nhưng để đảm bảo tính chính xác, cần xác định rõ doanh nghiệp nào là doanh nghiệp nước ngoài “sở hữu”.

VEC không phân tách rõ ràng tính sở hữu nội địa hay nước ngoài của một doanh nghiệp.

Luật đầu tư 2005 và dữ liệu từ Bộ số liệu VEC của Tổng cục thống kê xác định ba loại hình doanh nghiệp chính được xem là doanh nghiệp FDI.

(1) Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài;

(2) Doanh nghiệp nhà nước liên doanh với nước ngoài;

(3) Doanh nghiệp tư nhân liên doanh với nước ngoài.

Trong bộ VEC, hai loại hình doanh nghiệp thứ hai và thứ ba không cung cấp thông tin chi tiết về quy mô vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài, dẫn đến việc nghiên cứu không thể áp dụng phân loại của IMF (2010) để xác định tính sở hữu nước ngoài Chỉ có loại hình doanh nghiệp thứ nhất là chắc chắn thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài.

Do đó, với biến độc lập này, nghiên cứu sử dụng hai thước đo khác nhau phản ánh quy mô hoạt động của doanh nghiệp FDI, đó là:

(i) Tổng tài sản của doanh nghiệp ngành i tỉnh j năm t, bằng tổng tài sản của ba loại hình doanh nghiệp

(1), (2) và (3) trong ngành i tỉnh j năm t;

Tổng tài sản của doanh nghiệp FDI là tài sản mà họ có quyền kiểm soát và quản trị Véc tơ biến kiểm soát ijt đóng vai trò quan trọng trong việc xác định quyền lực và ảnh hưởng của FDI đối với tài sản này.

Xijt là véc tơ biến kiểm soát đối với ngành i tỉnh j năm t, bao gồm:

(1) w ijt : mức lương trung bình ngành, đo bằng lương trung bình danh nghĩa có trọng số của ngành i tỉnh j năm t;

(2) xm ijt : quy mô xuất nhập khẩu ngành, đo bằng tổng giá trị xuất nhập khẩu của ngành i tỉnh j năm t;

(3) asset ijt : quy mô doanh nghiệp nội địa, đo bằng tổng tài sản các doanh nghiệp hoàn toàn vốn nội địa trong ngành i tỉnh j năm t; và

(4) rev ijt : quy mô kinh tế tỉnh, đo bằng tổng doanh thu thuần của tất cả các doanh nghiệp trong tỉnh j năm t.

Nghiên cứu đã tiến hành tổng quan tài liệu trong nước và quốc tế để lựa chọn các biến kiểm soát phù hợp cho mô hình, đồng thời điều chỉnh chúng để phù hợp với thực tế số liệu tại Việt Nam Bài viết sẽ trình bày tổng quan về các biến kiểm soát quan trọng, đặc biệt là mức lương trung bình ngành (w ijt), và tác động của chúng đến việc làm trong một ngành hoặc một quốc gia.

Mức lương trung bình tác động tới cả cung và cầu lao động, từ đó làm thay đổi quy mô lao động có việc làm ở trạng thái cân bằng.

Theo Massoud (2008), lương trung bình ngành ảnh hưởng đến quy mô việc làm thông qua hai hiệu ứng: hiệu ứng quy mô và hiệu ứng thay thế Khi lương tăng, chi phí sản xuất cũng tăng, dẫn đến việc giá bán sản phẩm tăng Sự tăng giá này làm giảm lượng cung sản phẩm, từ đó giảm cầu lao động (hiệu ứng quy mô) Bên cạnh đó, khi lương tăng, doanh nghiệp thường có xu hướng thay thế lao động bằng vốn, dẫn đến sự giảm cầu lao động (hiệu ứng thay thế).

Tăng lương sẽ làm tăng lượng cung lao động trong nền kinh tế, khi người lao động sẵn sàng từ bỏ thời gian rảnh rỗi để làm việc Những người chưa có mong muốn tìm việc sẽ có thêm động lực tham gia sản xuất kinh doanh Nghiên cứu của Vacaflores (2011) sử dụng phương pháp Arellano-Bover/Blunder-Bond, cho thấy có tác động dương có ý nghĩa thống kê ở mức 5% của tiền lương thực tế tới việc làm đối với lao động nữ ở các nước khảo sát Tuy nhiên, trên tổng thể dữ liệu, tác động này không có ý nghĩa thống kê.

Tác động ròng của mức lương trung bình phụ thuộc vào mức độ ảnh hưởng từ phía cung và phía cầu của thị trường lao động.

Nghiên cứu của Geary & Kennan (1982) về tác động của lương đối với quy mô việc làm tại 12 nước OECD cho thấy không có mối quan hệ có ý nghĩa thống kê giữa lương thực tế và quy mô việc làm Điều này chỉ ra rằng lương không phải là yếu tố quyết định đến quy mô việc làm cân bằng.

Nghiên cứu năm 2008 phân tích dữ liệu từ 10 nước OECD trong giai đoạn 1950-2005 đã bác bỏ giả thuyết rằng lương tác động đến quy mô việc làm trong ngắn hạn, cho thấy rằng việc giảm lương thực tế không dẫn đến tăng quy mô việc làm Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng có bằng chứng thống kê cho mối quan hệ dài hạn giữa lương và quy mô việc làm.

Trong mô hình của Fu & Balasubramanyam (2005), xuất khẩu ảnh hưởng đến quy mô lao động trong nước theo hai hướng chính Đầu tiên, xuất khẩu mở rộng quy mô việc làm, tạo ra nhiều cơ hội việc làm hơn, vì sản lượng kinh tế bao gồm cả xuất khẩu và tiêu thụ nội địa Thứ hai, việc tăng cường xuất khẩu làm gia tăng áp lực cạnh tranh quốc tế, buộc các doanh nghiệp phải nâng cao trình độ công nghệ và cải thiện chất lượng cũng như quy mô việc làm.

Bailey & Driffield (2007) phát hiện rằng nhập khẩu có tác động tích cực đến quy mô việc làm có kỹ năng và không có kỹ năng ở Anh trong giai đoạn 1993-1996 Nghiên cứu cho thấy rằng việc nhập khẩu hàng hóa phục vụ sản xuất góp phần tăng cường cơ hội việc làm hơn so với nhập khẩu hàng hóa tiêu dùng.

Số liệu

Nghiên cứu sử dụng dữ liệu mảng từ 63 tỉnh thành phố trong giai đoạn 2011-2015, tập trung vào ba ngành nghề chính: nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ Việc áp dụng số liệu mảng này giúp luận văn tăng cường số lượng quan sát, từ đó kiểm định các giả thuyết nghiên cứu một cách hiệu quả hơn.

Bảng 2.5 Danh sách các tỉnh và mã tỉnh của Việt Nam

Ngành nghề được chia theo Hệ thống ngành kinh tế quốc dân VSIC 2007, trong đó nông nghiệp thuộc ngành cấp A, công nghiệp bao gồm các ngành B, C, D, E, và dịch vụ bao gồm các ngành còn lại Luận văn này phân loại ngành xây dựng (ngành F) vào lĩnh vực dịch vụ do tính phi thương mại cao, tương tự như các ngành dịch vụ khác Do đó, khả năng hấp thụ vốn FDI của ngành xây dựng được kỳ vọng có tính tương đồng với lĩnh vực dịch vụ.

Các số liệu phục vụ cho quá trình thực nghiệm được chiết suất từ hai bộ số liệu là VEC và LFS Bộ VEC, do Tổng cục Thống kê (TCTK) thực hiện, khảo sát hàng năm tình hình sản xuất kinh doanh của tất cả các doanh nghiệp có mã số thuế trên toàn quốc, cung cấp thông tin quan trọng về hoạt động doanh nghiệp Trong khi đó, Bộ LFS cũng được điều tra hàng năm, tập trung vào việc khảo sát mẫu hộ gia đình trên cả nước để thu thập thông tin về lao động và việc làm của người dân.

Dữ liệu về tổng tài sản của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), tổng tài sản của doanh nghiệp 100% vốn FDI, tổng giá trị xuất nhập khẩu, quy mô doanh nghiệp nội địa và doanh thu của các doanh nghiệp trong tỉnh được chiết xuất từ bộ số liệu VEC Tổng quy mô việc làm, việc làm có trình độ cao và lương trung bình danh nghĩa có trọng số được tính toán từ bộ số liệu LFS Từ năm 2011, LFS bắt đầu cung cấp thêm thông tin về ngành nghề hoạt động của các cơ sở kinh doanh thuê lao động theo hệ thống VSIC, dẫn đến việc số liệu thực nghiệm được thu thập trong giai đoạn 2011-2015.

Nghiên cứu sẽ trình bày cách tính toán các biến trong mô hình, bao gồm fdi ijt, fdip ijt và asset ijt Giá trị fdi ijt đại diện cho tổng tài sản trung bình của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trong khi fdip ijt là tổng tài sản trung bình của các doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài Biến asset ijt phản ánh tổng tài sản trung bình của các doanh nghiệp hoàn toàn vốn trong nước trong ngành i tỉnh j năm t Biến xm ijt đo lường tổng giá trị xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp trong ngành tương ứng tại tỉnh trong một năm, và biến rev jt tính tổng giá trị doanh thu thuần bán hàng dịch vụ của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh.

Bộ số liệu LFS được điều tra qua phương pháp chọn mẫu, vì vậy nghiên cứu sử dụng trọng số để tính toán các biến trên quy mô tổng thể Biến emp ijt đại diện cho tổng số lao động có trọng số đang làm việc tại các cơ sở kinh doanh trong ngành i tại tỉnh j vào năm t Biến skill ijt đo lường tổng số lao động có việc làm đạt trình độ cao đẳng chuyên nghiệp, cao đẳng - đại học, và sau đại học trở lên, cũng được tính có trọng số Cuối cùng, lương danh nghĩa trung bình là trung bình có trọng số của lương người lao động trong một tháng tại ngành i tỉnh j vào năm t, chưa bao gồm tiền làm thêm giờ, tiền thưởng và các phúc lợi khác.

Sau khi lọc và gộp dữ liệu, tổng số quan sát còn lại là 943, loại bỏ các quan sát bất thường như asset ijt, emp ijt, w ijt bằng 0 Bảng 2.7 cung cấp thống kê mô tả các biến trong mô hình, cho thấy tỷ lệ lao động trình độ cao trong các ngành chỉ chiếm gần 1/10 tổng số lao động có việc làm Đặc biệt, doanh nghiệp 100% vốn FDI (fdip) chiếm tỷ lệ cao trong tổng số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (fdi) Trung bình, trong số 16 tỷ VND tổng tài sản của doanh nghiệp có vốn nước ngoài tại một ngành của tỉnh, có tới 12,8 tỷ VND tài sản thuộc về các doanh nghiệp 100% vốn FDI.

Một số ngành tại các tỉnh không có sự hiện diện của doanh nghiệp FDI, dẫn đến giá trị FDI và FDIP bằng 0 Những quan sát này đã bị loại trừ trong mô hình thực nghiệm do việc sử dụng biến logarit.

Hệ số tương quan giữa các biến cho thấy fdi và fdip có mối liên hệ chặt chẽ với hệ số tương quan cao nhất là 0,9823 Cả hai đại lượng này đều phản ánh hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các ngành, vì vậy chúng có sự liên kết mật thiết Mặc dù được ước lượng trong các mô hình khác nhau, nhưng không có dấu hiệu của đa cộng tuyến cao.

Bảng 2.7 Thống kê mô tả các biến

Biến Số quan sát emp 943 skill 943 w 943 fdip 943 fdi 943 xm 943 rev 943 asset 943

Nguồn: Tính toán của tác giả

Bảng 2.8 Bảng hệ số tương quan giữa các biến emp emp 1 skill 0,5339 w -0,3337 fdip 0,6068 fdi 0,6176 xm 0,2538 rev 0,5329 asset 0,7195

Nguồn: Tính toán của tác giả

Phương pháp ước lượng

Luận văn này áp dụng ba phương pháp ước lượng: hồi quy gộp (POLS), hiệu ứng ngẫu nhiên (RE), và hiệu ứng cố định (FE) để xác định phương pháp ước lượng tối ưu cho mô hình thực nghiệm Phần này sẽ tóm tắt kết quả lựa chọn phương pháp ước lượng cho mô hình (1) với biến phụ thuộc là ln(emp), biến độc lập là ln(fdip) và các biến kiểm soát, chi tiết hơn được trình bày trong Phụ lục 1 Nghiên cứu bắt đầu với phương pháp POLS, và kiểm định đa cộng tuyến cho thấy các biến độc lập không có sự tương quan cao, xác nhận rằng mô hình không gặp phải vấn đề đa cộng tuyến nghiêm trọng.

Phương pháp ước lượng POLS có thể gây ra những vấn đề khi áp dụng cho dữ liệu mảng, vì có thể tồn tại các nhân tố không quan sát được theo vùng và thời gian ảnh hưởng đến các biến trong mô hình, được gọi là tính không đồng nhất không quan sát được Khi thực hiện POLS, nghiên cứu cần giả định rằng các hiệu ứng không quan sát được không tương quan với các biến độc lập Để kiểm định giả thuyết này, Breusch & Pagan (1980) đã đề xuất giả thuyết H0 rằng các hiệu ứng không quan sát được không tương quan với biến độc lập Nếu giả thuyết này bị bác bỏ, nghiên cứu cần chuyển sang các phương pháp ước lượng khác có tính đến các hiệu ứng này.

RE và FE Kết quả kiểm định bác bỏ giả thuyết H0 với mức ý nghĩa 1%.

Việc lựa chọn giữa phương pháp FE và RE được xác định qua kiểm định Hausman (1978), với giả thuyết H0 là không có sự khác biệt hệ thống giữa hai phương pháp Nếu H0 không bị bác bỏ, phương pháp RE là phù hợp; ngược lại, nếu H0 bị bác bỏ, phương pháp FE nên được sử dụng Kết quả kiểm định cho thấy H0 bị bác bỏ với mức ý nghĩa 1% Đối với phương pháp FE, nghiên cứu kiểm tra khuyết tật phương sai sai số thay đổi bằng lệnh xttest3 trên STATA, sử dụng thống kê Wald hiệu chỉnh của Greene (2000) Kiểm định cho thấy mô hình hồi quy FE có hiện tượng phương sai sai số thay đổi với mức ý nghĩa 1% Để khắc phục khuyết tật này, nghiên cứu áp dụng phương pháp hiệu chỉnh sai số chuẩn của White (1980).

Các mô hình khác cũng áp dụng phương pháp kiểm định và lựa chọn tương tự, cho kết quả nhất quán với phương pháp FE điều chỉnh sai số chuẩn Sau khi xác định được phương pháp ước lượng, nghiên cứu sẽ trình bày và phân tích các kết quả ước lượng.

Kết quả ước lượng

2.3.4.1 Hiệu ứng việc làm ròng của FDI

Nghiên cứu này đánh giá tác động ròng của FDI đến quy mô lao động (emp) và lao động có trình độ cao (skill) Cột (i) và (ii) trong Bảng 2.9 thực hiện hồi quy ln(emp) với ln(fdi) và ln(fdip) kèm theo các biến kiểm soát, trong khi cột (iii) và (iv) thay thế ln(emp) bằng ln(skill).

Kết quả ước lượng cho thấy tác động ròng của quy mô doanh nghiệp FDI đến việc làm là âm và có ý nghĩa thống kê ở mức 10% Cụ thể, nếu doanh nghiệp 100% vốn FDI (fdip) tăng tổng tài sản lên 1%, quy mô việc làm trong ngành sẽ giảm 0,0511 điểm phần trăm Đối với các doanh nghiệp có vốn FDI (fdi), hiệu ứng việc làm ròng còn thấp hơn, với hệ số góc là -0,0502, tương ứng giảm 0,0502 điểm phần trăm Đặc biệt, đối với quy mô việc làm có trình độ cao, mức độ tác động lớn hơn; nếu quy mô hoạt động của doanh nghiệp 100% vốn FDI (fdip) tăng 1%, số lượng việc làm có trình độ cao sẽ giảm 0,0663 điểm phần trăm, với mức ý nghĩa 10% Tác động này mạnh hơn khi xem xét fdi, với hệ số góc là -0,0686, cũng có ý nghĩa thống kê ở mức 10%.

Kết quả nghiên cứu này tương đồng với phát hiện của Jenkins (2006) trong giai đoạn 1995-1999 tại Việt Nam, nhưng cũng chỉ ra tác động tiêu cực không chỉ đến quy mô việc làm chung mà còn ảnh hưởng đến quy mô việc làm ở các vị trí trình độ cao.

Kết quả ước lượng từ bốn mô hình cũng đưa ra những tác động khác nha của các biến kiểm soát tới vấn đề việc làm.

Bảng 2.9 Tác động của FDI tới vấn đề việc làm tại Việt Nam

Hiệu ứng cố định tỉnh

Hiệu ứng cố định năm

Ghi chú: Sai số chuẩn hiệu chỉnh (Robust standard errors) được ghi trong ngoặc đơn Hệ số của các hiệu ứng cố định không thể hiện trong bảng *** p

Ngày đăng: 14/06/2021, 22:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
7. Nguyễn Thế Hoàng. (2014). Phân tích tác động của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tới vấn đề việc làm ở các nước đang phát triển (Luận văn Tốt nghiệp). Đại học Ngoại Thương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích tác động của vốn đầu tư trực tiếp nướcngoài tới vấn đề việc làm ở các nước đang phát triển
Tác giả: Nguyễn Thế Hoàng
Năm: 2014
8. Nguyễn Thị Hường. (2002). Giáo trình quản trị dự án và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài-FDI. Hà Nội: Nhà xuất bản Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quản trị dự án và doanh nghiệp có vốnđầu tư nước ngoài-FDI
Tác giả: Nguyễn Thị Hường
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 2002
1. Ban Kinh doanh Vietnamnet. (2018, January 16). Bộ KHĐT bãi bỏ 1.930 giấy phép con. Truy cập ngày 4/32018, từ http://cafef.vn/news-20180116202905138.chn Link
2. Hà Minh. (2017). Tăng tốc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước. Truy cập ngày 4/32018, từ http://thoibaotaichinhvietnam.vn/pages/thoi-su/2017-11-27/tang-toc-co-phan-hoa-doanh-nghiep-nha-nuoc-50844.aspx Link
3. Lưu Hiệp. (2018). Không có giấy phép con mọc lại sau khi cắt giảm 675 điều kiện kinh doanh. Truy cập ngày 4/3/2018 từ http://cand.com.vn/doanh- nghiep/Khong-co-giay-phep-con-moc-lai-sau-khi-cat-giam-675-dieu-kien-kinh-doanh-477240/ Link
6. Nguyễn Duy Nghĩa. (2017). Rộng cửa thu hút đầu tư của EU vào Việt Nam | Tài chính. Truy cập ngày 4/3/2018 từ http://baocongthuong.com.vn/rong-cua-thu-hut-dau-tu-cua-eu-vao-viet-nam.html Link
4. Ngân hàng Thế giới. (2014). Phát triển kỹ năng: Xây dựng lực lượng lao động cho một nền kinh tế thị trường hiện đại ở Việt Nam Khác
5. Ngân hàng Thế giới. (2017). Việt am: Tăng ường ăng lực Cạnh Tranh Và Liên Kết Của Doanh Nghiệp Vừa Và Nhỏ Khác
9. Nguyễn Thường Lạng. (2017). Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam giai đoạn cuối năm 2017 Khác
10. Ohno, K. (2017). Dịch chuyển tăng trưởng từ số lượng sang chất lượng: Những tiền đề về thiết kế và thực thi chính sách. Slides tại Báo cáo Thường niên Kinh tế Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w