Tuy nhiên để phát huy cao nhất hiệu quả hoạt động của các KCN, việc hoàn thiện các quy chế pháp lý điều chỉnh toàn diện các mặt hoạt động trong KCN là vấn đề luôn cần có sự quan tâm thực
TỔNG QUAN VỀ QUY CHẾ PHÁP LÝ CÁC KHU CÔNG NGHIỆP
KHU CÔNG NGHIỆP
1.1.1 Khái niệm và phân loại KCN Ở Việt Nam khái niệm về KCN đã được trình bày tại nhiều văn bản pháp luật như Quy chế KCN ban hành theo Nghị định số 192-CP ngày 28 tháng 12 năm 1994 của Chính phủ; Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996; Quy chế KCN, Khu chế xuất, Khu công nghệ cao ban hành theo Nghị định số 36/CP ngày 24 tháng 2 năm 1997 của Chính phủ, Luật đầu tư năm 2005 Định nghĩa ban đầu về KCN được nêu trong Quy chế KCN ban hành theo Nghị định số 192-CP ngày 28 tháng 12 năm 1994 của Chính phủ thì KCN được hiểu là KCN tập trung do Chính phủ quyết định thành lập, có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản xuất công nghiệp và thực hiện các dịch vụ hỗ trợ sản xuất công nghiệp, không có dân cư sinh sống
Nghị định của Chính phủ số 29/2008/NĐ-CP ngày 14 tháng 03 năm 2008 quy định về KCN, KCX và KKT thì khái niệm về KCN được hiểu như sau: “KCN là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định của Chính phủ”
Hiện nay, theo Khoản 1, Điều 2, Nghị định số 82/2018/NĐ-CP ngày 22/5/2018 của Chính phủ quy định về KCN, khái niệm KCN được định nghĩa là:
“Khu vực có ranh giới địa lý xác định,chuyên sản xuất hàng hóa công nghiệp và thực hiện dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định tại Nghị định này”
Phân loại: KCN gồm nhiều loại hình khác nhau bao gồm: Khu chế xuất, KCN hỗ trợ, KCN sinh thái
Các KCN này có những đặc điểm chung như sau:
- KCN là nơi tập trung các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vưc công nghiệp
8 và dịch vụ có dự án đầu tư dài hạn (bao gồm cả doanh nghiệp đầu tư kinh doanh kết cấu hạ tầng)
- Có hạ tầng kỹ thuật được đầu tư đồng bộ và đặt tại vị trí thuận lợi về kết nối giao thông, KCN, KCX là các trọng điểm thu hút đầu tư các nhà đầu tư trong nước và ngoài nước để phát triển sản xuất công nghiệp của các địa phương
- KCN được hình thành gắn với nguồn vùng nguyên liệu của địa phương để phát huy tiềm năng thế mạnh tại chỗ và di dời các cơ sở công nghiệp ô nhiễm trong khu vực đông dân cư để đảm bảo công tác bảo vệ môi trường
- Là khu vực được quy hoạch mang tính liên vùng, liên lãnh thổ và có phạm vi ảnh hưởng không chỉ ở một khu vực địa phương
- Trong KCN có thể có hoặc không có dân cư sinh sống, nhưng ngoài KCN phải có hệ thống dịch vụ phục vụ nguồn nhân lực làm việc ở KCN
- Sản phẩm của các doanh nghiệp trong KCN có thể tiêu thụ trong nước hoặc bán ra nước ngoài
Từ khái niệm chung này, Nghị định 82/2018/NĐ-CP đã đưa ra định nghĩa cho một số khái niệm có liên quan như:
- Khu chế xuất (sau đây viết tắt là KCX) "là KCN chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục áp dụng đối với KCN quy định tại Nghị định này Khu chế xuất được ngăn cách với khu vực bên ngoài theo các quy định áp dụng đối với khu phi thuế quan quy định tại pháp luật về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu” 3
- KCN hỗ trợ “là KCN chuyên sản xuất các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ, thực hiện dịch vụ cho sản xuất các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ Tỷ lệ diện tích đất cho các dự án đầu tư vào ngành nghề công nghiệp hỗ trợ thuê, thuê lại tối thiểu đạt 60% diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê của KCN” 4
3 Điểm a, Khoản 1, Điều 2Nghị định số 82/2018/NĐ-CP ngày 22/5/2018 của Chính phủ quy định về KCN
4 Điểm b, Khoản 1, Điều 2, Nghị định số 82/2018/NĐ-CP ngày 22/5/2018 của Chính phủ quy định về KCN
- KCN sinh thái “là KCN, trong đó có các doanh nghiệp trong KCN tham gia vào hoạt động sản xuất sạch hơn và sử dụng hiệu quả tài nguyên, có sự liên kết, hợp tác trong sản xuất để thực hiện hoạt động cộng sinh công nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế, môi trường, xã hội của các doanh nghiệp” 5
- KCN - đô thị - dịch vụ “gồm các khu chức năng: KCN là khu chức năng chính; khu đô thị - dịch vụ có chức năng hỗ trợ, cung cấp các dịch vụ tiện ích xã hội cho KCN (có thể bao gồm các phân khu chức năng như: Nhà ở, bệnh viện, trường học, trung tâm nghiên cứu và phát triển, trung tâm ươm tạo doanh nghiệp và một số hạng mục công trình kinh tế - xã hội khác cần thiết cho sự phát triển đồng bộ, bền vững của khu), được đầu tư xây dựng để đảm bảo sự phát triển hiệu quả, bền vững về kinh tế, xã hội, môi trường của KCN Quy mô diện tích khu đô thị - dịch vụ tối đa không vượt quá một phần ba (1/3) quy mô diện tích KCN” 6
- Ban quản lý KCN “là cơ quan trực thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước trực tiếp đối với KCN trên địa bàn tỉnh hoặc thành phố trực thuộc trung ương theo quy định tại Nghị định này và pháp luật có liên quan; quản lý và tổ chức thực hiện chức năng cung ứng dịch vụ hành chính công và dịch vụ hỗ trợ khác có liên quan đến hoạt động đầu tư và sản xuất kinh doanh cho nhà đầu tư trong KCN” 7
1.1.2 Quá trình hình thành và phát triển của các KCN ở Việt Nam
1.1.2.1 Chính sách và cơ sở pháp lý cho việc hình thành các KCN ở Việt Nam
Theo báo cáo Tổng kết 20 năm hoạt động các mô hình KCN (sau đây viết tắt là KCN) của Bộ Kế hoạch và đầu tư ngày 10/02/2017, KCN ở nước ta hình thành và phát triển gắn liền với công cuộc đổi mới, mở cửa nền kinh tế được khởi xướng từ Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VI (năm 1986) Tiếp theo đó, Đại hội VII đã kịp thời đề ra những đường lối, chủ trương đổi mới mạnh mẽ và toàn diện
5 Điểm c, Khoản 1, Điều 2, Nghị định số 82/2018/NĐ-CP ngày 22/5/2018 của Chính phủ
6 Khoản 3, Điều 2, Nghị định số 82/2018/NĐ-CP ngày 22/5/2018 của Chính phủ
7 Khoản 1, Điều 61, Nghị định số 82/2018/NĐ-CP ngày 22/5/2018 của Chính phủ
10 nền kinh tế, tiến hành công nghiệp hoá (CNH), hiện đại hoá (HĐH) đất nước, được cụ thể hoá bằng Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội 1991 - 2000 Hàng loạt các chương trình phát triển kinh tế – xã hội được triển khai để thực hiện Nghị quyết của Đại hội VII, trong đó có chính sách phát triển KCN, KCX với sự ra đời của KCX Tân Thuận tại thành phố Hồ Chí Minh (1991) và việc ban hành Quy chế KCX 8 và Quy chế KCN 9
Tiếp đó, định hướng chiến lược về quy hoạch phát triển và phân bố KCN, KCX được xác định cụ thể tại Nghị quyết Đại hội VIII (năm 1996): "Hình thành các KCN tập trung (bao gồm cả khu chế xuất và khu công nghệ cao), tạo địa bàn thuận lợi cho việc xây dựng các cơ sở công nghiệp mới Phát triển mạnh công nghiệp nông thôn và ven đô thị Ở các thành phố, thị xã, nâng cấp, cải tạo các cơ sở công nghiệp hiện có, đưa các cơ sở không có khả năng xử lý ô nhiễm ra ngoài thành phố, hạn chế việc xây dựng các KCN mới xen lẫn với khu dân cư"
Báo cáo Chính trị Đại hội IX (năm 2001) về Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010 tiếp tục khẳng định: "Quy hoạch phân bố hợp lý công nghiệp trên cả nước Phát triển có hiệu quả các KCN, khu chế xuất, xây dựng một số khu công nghệ cao, hình thành các cụm công nghiệp lớn" Báo cáo chính trị tại Đại hội X (năm 2006) một lần nữa khẳng định chủ trương “Nâng cao hiệu quả các KCN, khu chế xuất”, đồng thời nhấn mạnh chủ trương tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển bền vững, trong đó có phát triển bền vững KCN, KCX
Báo cáo chính trị Đại hội Đảng XI (năm 2011) và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 – 2020 đã định hướng phát triển KCN, KCX bền vững và theo chiều sâu:
QUY CHẾ PHÁP LÝ CÁC KHU CÔNG NGHIỆP
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm quy chế pháp lý các khu công nghiệp
Thuật ngữ Quy chế pháp lý KCN được sử dụng đầu tiên tại Nghị định số 192-
CP, ngày 28 tháng 12 năm 1994 của Chính phủ về ban hành Quy chế KCN Quy chế này quy định về Các loại hình doanh nghiệp; các lĩnh vực được đầu tư; quyền và nghĩa vụ của các xí nghiệp; xây dựng và kinh doanh công trình cơ sở hạ tầng; quan hệ lao động; quản lý tài chính, ngoại hối; tổ chức và quản lý trong KCN
Tại Điều 24, Nghị định số 192-CP ghi rõ “những quy định khác liên quan đến hoạt động của Xí nghiệp KCN không quy định trong Quy chế này được áp dụng theo các điều khoản tương ứng của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Luật khuyến khích đầu tư trong nước, Luật Công ty, Luật Doanh nghiệp tư nhân và các văn bản pháp luật khác có liên quan” Đến nay, Nghị định số 82/2018/NĐ-CP ngày 22/5/2018 của Chính phủ quy định về KCN bao gồm tổng thể các quy định về: Quy hoạch, đầu tư, thành lập KCN; Chính sách đối với KCN; một số loại hình KCN; quản lý nhà nước KCN; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của BQL KCN
Quy chế pháp lý các KCN có những điểm sau đây:
- Quy chế pháp lý KCN được Chính phủ ban hành dưới hình thức Nghị định, quy định về quy hoạch, thành lập, hoạt động, chính sách và quản lý nhà nước đối với KCN, được áp đối với: Cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động đầu tư và sản xuất kinh doanh trong KCN và khu kinh tế Nhà nước không ngừng hoàn thiện quy chế pháp lý các KCN, đảm bảo hiệu quả cho cả nhà đầu tư, doanh nghiệp và các cơ quan quản lý nhà nước
- Quy chế pháp lý được áp dung chung đối với tất cả các KCN trên toàn quốc
- Quy chế được áp dụng trên nguyên tắc: mọi nhà đầu tư, doanh nghiệp được hưởng đầy đủ và bình đẳng các quyền theo quy chế; quyền và nghĩa vụ là hai mặt không thể tách rời Nhà đầu tư, doanh nghiệp được hưởng quyền đồng thời phải làm nghĩa vụ đối với cơ quan quản lý Điều đó thể hiện mối liên hệ về trách nhiệm pháp lí giữa cơ quan quản lý nhà nước về KCN đối với nhà đầu tư, doanh nghiệp Cơ quan quản lý nhà nước chỉ truy cứu trách nhiệm đối với nhà đầu tư, doanh nghiệp hoạt động trong KCN khi có hành vi vi phạm do pháp luật quy định và chỉ trong giới hạn mà pháp luật cho phép
Khái niệm Quy chế pháp lý KCN được hiểu như sau: Quy chế pháp lý các KCN là tổng thể các quy định về quy hoạch, thành lập, hoạt động, chính sách và quản lý nhà nước về KCN, áp dụng đối với các cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức, cá nhân
16 có liên quan đến hoạt động đầu tư và sản xuất kinh doanh trong KCN do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và được đảm bảo thực hiện trong thực tế
1.2.2 Sự cần thiết phải ban hành quy chế pháp lý các KCN
Quy chế pháp lý các KCN tạo ra khuôn khổ pháp lý cho các nhà đầu tư, doanh nghiệp thực hiện được mục tiêu lợi nhuận của mình, đồng thời giúp các cơ quan quản lý nhà nước có những chế tài, biện pháp cụ thể để xử lý các vi phạm nếu có của các doanh nghiệp, qua đó tạo tâm lý tin tưởng của nhà đầu tư trong hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh, đồng thời có trách nhiệm trong mọi hoạt động của mình, đảm bảo lợi ích hài hòa giữa nhà đầu tư, doanh nghiệp, người lao động, cơ quan quản lý nhà nước cũng như đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội của các KCN
Mục tiêu của các KCN là huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển ngành công nghiệp, thúc đẩy quá trình CNH, HĐH đất nước Quy chế pháp lý vừa tạo điều kiện cho nhà đầu tư, doanh nghiệp thực hiện lợi ích của họ, vừa đảm bảo thực hiện mục tiêu của phát triển kinh tế, xã hội Quy chế pháp lý đối với các KCN phải đạt đươc mục tiêu thu hút cao nhất nguồn vốn đầu tư vào KCN, phù hợp với mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Bên cạnh mục tiêu quan trọng này, sự cần thiết phải ban hành và áp dụng quy chế pháp lý đối với các KCN còn được giải thích bằng các mục tiêu cụ thể dưới đây mà quy chế này hướng đến:
- Việc ban hành các quy chế pháp lý đối với các KCN còn nhằm phát huy những ưu điểm và lợi thế của mỗi KCN, đảm bảo sự hợp tác, cùng có lợi giữa các nhà đầu tư, doanh nghiệp trong KCN Việc áp dụng quy chế pháp lý các KCN còn nhằm đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp cũng như nghĩa vụ của các nhà đầu tư, doanh nghiệp trong KCN, thu hút các doanh nghiệp vào hoạt động sản xuất, kinh doanh trong KCN Thông qua việc ban hành các quy chế pháp lý nhà nước đã tạo điều kiện thuận lợi để phát triển KCN
- Nội dung của Quy chế pháp lý các KCN không chỉ điều chỉnh về quy hoạch, điều hành, kiểm soát các KCN mà còn bao gồm hoạt động khuyến khích, hỗ trợ sự phát triển của các KCN Quy chế pháp lý KCN tạo lập môi trường pháp lý ổn định
17 và bình đẳng cho các doanh nghiệp, xây dựng chính sách khuyến khích đầu tư, sản xuất, kinh doanh; xúc tiến đầu tư, tạo điều kiện cho các nhà đầu tư, doanh nghiệp phát triển
- Quy chế pháp lý các KCN góp phần đảm bảo sử dụng quỹ đất hiệu quả hơn, tránh lãng phí các nguồn tài nguyên, đảm bảo các yêu cầu về phát triển KCN với các yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội
- Quy chế pháp lý các KCN còn góp phần ngăn ngừa các hoạt động xả thải không đảm bảo kỹ thuật của các nhà máy, phân xưởng làm ảnh hưởng đến môi trường Quy chế buộc các nhà đầu tư, doanh nghiệp trong sản xuất, kinh doanh phải xử lý chất thải và bảo vệ môi trường
- Cuối cùng, Quy chế pháp lý còn trực tiếp góp phần tạo việc làm và tăng thu nhập cho người lao động Đây là mục tiêu quan trọng của Quy chế pháp lý các KCN Phát triển công nghiệp phải nhằm phục vụ tốt hơn cuộc sống của người dân, đảm bảo có việc làm và được bảo vệ Quy chế pháp lý, ngoài khuyến khích sử dụng lao động địa phương, còn bao gồm các quy định pháp lý bảo vệ quyền lợi của người lao động, về tiền lương, an toàn lao động và giải quyết các vấn đề tranh chấp
1.2.3 Nội dung của quy chế pháp lý các KCN