DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮTAPEC Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương ARPU Mức tiêu dùng trung bình của 01 thuê bao di động ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á CAFTA-DR Hiệp
Trang 1MỤC LỤC:
DANH MỤC HÌNH VẼ 6
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 7
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 8
LỜI MỞ ĐẦU 10
1 Tính cấp thiết của đề tài: 10
2 Tình hình nghiên cứu: 11
3 Mục đích của nghiên cứu: 13
4 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu: 14
5 Phạm vi nghiên cứu: 14
6 Phương pháp nghiên cứu: 14
7 Kết quả nghiên cứu: 15
8 Cấu trúc của luận văn 15
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 16
1.1 Tổng quan về toàn cầu hoá 16
1.1.1 Các quan niệm về toàn cầu hoá 16
1.1.2 Khái niệm toàn cầu hoá kinh tế 19
1.1.3 Nội dung và biểu hiện của toàn cầu hoá kinh tế 21
1.2 Những cơ hội phát triển đối với các doanh nghiệp khi thực hiện đầu tư nước ngoài trong bối cảnh toàn cầu hóa 31
1.2.1 Cơ hội mở rộng thị trường 31
1.2.2 Cơ hội duy trì khả năng sinh lợi nhuận 32
1.2.3 Cơ hội tìm kiếm và tận dụng các nguồn lực, nguồn tài nguyên thiên nhiên mới 34
1.2.4 Cơ hội tối ưu hóa chi phí sản xuất và kinh doanh hơn so với các hình thức thâm nhập thị trường nước ngoài khác 35
Trang 21.2.5 Cơ hội nâng cao uy tín, năng lực cạnh tranh và giảm thiểu rủi ro 36
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH CƠ HỘI PHÁT TRIỂN CỦA TẬP ĐOÀN VIỄN THÔNG QUÂN ĐỘI (VIETTEL) TẠI THỊ TRƯỜNG MỸ LA TINH 37
2.1 Tổng quan về Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel) 37
2.2 Phân tích cơ hội phát triển của Viettel tại thị trường Mỹ La tinh 40
2.2.1 Cơ hội mở rộng thị trường 40
2.2.2 Cơ hội duy trì khả năng sinh lợi nhuận 58
2.2.3 Cơ hội tận dụng nguồn lực chất lượng cao và giá thành cạnh tranh 61
2.2.4 Cơ hội tối ưu hóa chi phí sản xuất và kinh doanh 65
2.2.5 Cơ hội nâng cao uy tín và năng lực cạnh tranh 73
CHƯƠNG 3: BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIETTEL VÀ CÁC DOANH NGHIỆP VIỄN THÔNG KHÁC KHI ĐẦU TƯ RA THỊ TRƯỜNG NƯỚC NGOÀI 80
3.1 Đối với Tập đoàn Viễn thông Quân đội 80
3.1.1 Bài học về sự cẩn trọng khi nghiên cứu thị trường 80
3.1.2 Bài học về cách thức điều hành, quản lý hoạt động từ công ty mẹ 83
3.2 Đối với các doanh nghiệp viễn thông khác 84
3.2.1 Bài học về tầm nhìn và chiến lược lựa chọn thị trường đầu tư trong bối cảnh toàn cầu hóa: 85
3.2.2 Bài học về chính sách nhân sự 88
3.2.3 Bài học về chiến lược cạnh tranh với các đối thủ lớn 90
3.2.4 Bài học về tận dụng những điều kiện thuận lợi về quy định và luật pháp tại thị trường nước ngoài 92
KẾT LUẬN 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
Trang 3La tinh (USD) … 53Hình 2.12: Thu nhập trung bình tháng trong năm 2016 của người lao động Peru vàViệt Nam (USD)……… 56
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
APEC Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương
ARPU Mức tiêu dùng trung bình của 01 thuê bao di động
ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
CAFTA-DR Hiệp định thương mại tự do giữa Mỹ, Cộng hòa Dominic và các
nước Trung MỹCMEP Ủy ban Hiện đại hóa Doanh nghiệp nhà nước Haiti
FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài
FITEL Quỹ Đầu tư Viễn thông
GATT Hiệp định chung về Thuế quan và Mậu dịch
GDP Tổng sản phẩm quốc nội
GSMA Hiệp hội thông tin di động toàn cầu
IMF Qũy Tiền tệ quốc tế
M&A Mua bán và Sáp nhập
MTC Bộ Giao thông Vận tải và Truyền thông Peru
NAFTA Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ
OECD Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
OSIPTEL Cơ quan giám sát đầu tư tư nhân vào lĩnh vực viễn thông của PeruTPP Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương
UNCTAD Tổ chức thương mại và phát triển thuộc Liên hợp quốc
WTO Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Bài luận văn đi vào nghiên cứu những khái niệm, lý luận chung nhất về toàncầu hoá, toàn cầu hoá kinh tế và những cơ hội phát triển mà doanh nghiệp có đượctiến hành đầu tư ra nước ngoài trong bối cảnh toàn cầu hoá Từ cơ sở lý thuyết đã
Trang 5tìm hiểu được từ các tài liệu cũng như các bài nghiên cứu trước đó trong cùng lĩnhvực, sau đó vận dụng và đặt ra các giả thuyết về trường hợp của Tập đoàn Viễnthông Quân đội (Viettel) khi đầu tư tại thị trường Mỹ La tinh, kết hợp với phân tíchcác dữ liệu thu thập được, tác giả đã rút ra một số kết luận như sau
Thứ nhất, khi tiến hành đầu tư vào thị trường Mỹ La tinh trong bối cảnh toàncầu hóa, Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel) đã có được cơ hội mở rộng thịtrường, cơ hội đưa dịch vụ của mình đến phục vụ những đối tượng khách hàng mới.Tại 2 thị trường Haiti và Peru, Viettel đã xây dựng được 7 triệu thuê bao di độngvới mức tiêu dùng trung bình cao hơn các khách hàng trong nước Dự kiến đến năm
2020, thị trường Mỹ La tinh sẽ mang về cho Viettel thêm 3 triệu thuê bao mới nữa,nâng tổng số khách hàng sử dụng dịch vụ tại thị trường này lên 10 triệu thuê bao.Thứ hai, khi đầu tư vào thị trường Mỹ La tinh, Viettel có được cơ hội tiếp cận
và tận dụng nguồn lao động dồi dào và trẻ (thị trường Haiti với 10 triệu người, thịtrường Peru với hơn 31 triệu người với 65% dân số nằm trong độ tuổi lao động), chấtlượng cao (lao động Peru có trình độ học vấn cao cũng như kinh nghiệm chuyênmôn tốt, lao động Haiti có sự nhiệt tình, chăm chỉ và tính năng động cao) và giáthành cạnh tranh hơn thị trường trong nước (với nguồn lao động tại thị trường Haiti),giúp cho Viettel tiết kiệm được một lượng đáng kể chi phí, nâng cao năng lực cạnhtranh của thị trường này cao hơn các thị trường khác mà Viettel đang đầu tư
Thứ ba, Viettel có được cơ hội tiết kiệm chi phí giao dịch, bao gồm chi phíchính thống như chi phí đóng thuế nhập khẩu, chi phí luân chuyển vốn quốc tế hoặcgiao dịch tài chính và chi phí phi chính thống như chi phí vận động hành lang dođược hưởng ưu đãi từ chính sách khuyến khích đầu tư thông thoáng, minh bạch vàcông bằng như cơ chế thuế ổn định, cạnh tranh tự do không phân biệt nhà mạngtrong hay ngoài nước…
Thứ tư, chiến lược đầu tư vào thị trường Mỹ La tinh giữa muôn vàn khó khăn
đã mang lại cho Viettel cơ hội nâng cao uy tín, củng cố niềm tin của khách hàngvào năng lực của bản thân doanh nghiêp không chỉ tại thị trường Việt Nam mà cảtrên thị trường quốc tế, cũng như nâng cao năng lực cạnh tranh với các nhà mạng
Trang 6hàng đầu thế giới, góp phần không nhỏ để chuẩn bị cho những chiến lược đầu tư dàihạn, hướng đến các thị trường lớn như Mỹ và châu Âu.
Sau khi nghiên cứu, phân tích trường hợp của Viettel tại thị trường Mỹ Latinh, bài luận văn cũng đã rút ra một số bài học kinh nghiệm nhằm mục tiêu giúp bảnthân Viettel tận dụng tốt hơn các cơ hội phát triển khi hoạt động tại thị trường nướcngoài, đồng thời giúp các doanh nghiệp viễn thông Việt Nam khác xây dựng chiếnlược đầu tư ra nước ngoài nói chung và thị trường Mỹ La tinh nói riêng
LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Trang 7Không ai có thể phủ nhận rằng toàn cầu hóa đang là xu hướng phổ biến nhấttrong nền kinh tế thế giới hiện nay Theo Charles W.L Hill trong cuốn GlobalBusiness Today (2008), chúng ta đang vận động từ một thế giới của các nền kinh tếđóng sang một thế giới mới mà ở đó các rào cản đối với thương mại và đầu tư quốc
tế được xóa bỏ, khoảng cách giữa các quốc gia được rút ngắn nhờ sự phát triển củagiao thông và công nghệ thông tin, nền văn hóa giữa các nước bắt đầu trở nên tương
tự nhau, và các nền kinh tế riêng lẻ của từng quốc gia đang dần nhập lại thành một
hệ thống kinh tế toàn cầu, có mối liên hệ mật thiết và gắn bó với nhau Từ những sựthay đổi đang diễn ra trong nền kinh tế toàn cầu, có thể thấy rằng toàn cầu hoá cótác động mạnh mẽ đến tất cả các quốc gia và dân tộc trên toàn thế giới bởi quá trìnhnày tạo ra cho các nước rất nhiều cơ hội phát triển về kinh tế, xã hội, kỹ thuật vàcông nghệ
Việt Nam cũng không nằm ngoài dòng chảy tự nhiên đó Kể từ sau quá trìnhcải cách toàn diện đất nước bắt đầu từ năm 1986, Việt Nam đã chuyển đổi từ nềnkinh tế đóng sang nền kinh tế thị trường và ngày càng hội nhập hơn với nền kinh tếthế giới Việc gia nhập vào Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (1996), Tổ chứcThương mại Thế giới (2007) và mới đây nhất là Hiệp định đối tác xuyên Thái BìnhDương (2016) cùng hàng loạt các hiệp định thương mại tự do song phương khác đã,đang và sẽ có những tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế Việt Nam Là một trongnhững bộ phận chính cấu thành nên nền kinh tế, các doanh nghiệp Việt Nam, bất kểquy mô lớn hay nhỏ cũng đều sẽ chịu ảnh hưởng trực tiếp của quá trình toàn cầuhoá, nếu là ảnh hưởng tích cực thì có thể tận dụng để tối đa hoá lợi nhuận, nâng cao
vị thế, nhưng nếu là ảnh hưởng tiêu cực thì có thể sẽ dẫn tới thất bại
Hiện nay đã có nhiều nghiên cứu về những tác động, những cơ hội mà toàncầu hoá mang lại cho các doanh nghiệp Việt Nam khi hoạt động tại thị trường trongnước như cơ hội thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài, cơ hội được chuyển giaocông nghệ hiện đại hơn từ các nước đang phát triển… Tuy nhiên, vẫn chưa có nhiềunghiên cứu về các cơ hội phát triển của doanh nghiệp khi hoạt động kinh doanh trựctiếp tại thị trường nước ngoài dưới hình thức đầu tư Trong khi đó, Tập đoàn Viễnthông Quân đội (Viettel) là một trong những đơn vị tiên phong trong hoạt động này
Trang 8và thị trường Mỹ Latinh là một thị trường tiềm năng với 33 quốc gia và dân số hơn
600 triệu người Do đó, tác giả đã chọn đề tài “Cơ hội phát triển của Tập đoàn Viễnthông Quân đội (Viettel) tại thị trường Mỹ Latinh trong bối cảnh toàn cầu hoá” làm
đề tài nghiên cứu
2 Tình hình nghiên cứu:
Với tầm ảnh hưởng ngày càng sâu rộng của toàn cầu hoá đối với hoạt độngkinh doanh của các quốc gia nói chung và các doanh nghiệp nói riêng thì việc phântích các cơ hội cũng như thách thức mà doanh nghiệp phải đối mặt khi tiến ra thịtrường nước ngoài đang dần trở thành một trong những đề tài được nhiều nhà khoahọc, giới chuyên môn và nhiều tác giả trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu
Tình hình nghiên cứu trên thế giới:
- Daniels, John D và Bracker, Jeffrey, Profit Performance: Do Foreign
Operations Make a Difference?, NXB Springer, Mỹ 1989.
Công trình nghiên cứu này đi sâu vào nghiên cứu một số doanh nghiệp cụ thể
để trả lời hai câu hỏi chính: Liệu rằng lợi nhuận của một doanh nghiệp có khả năngcao hơn nếu như họ mở rộng hoạt động kinh doanh ra thị trường nước ngoài? Lợinhuận của doanh nghiệp đó sẽ cao hơn khi mức độ phụ thuộc vào doanh số từ thịtrường nước ngoài của họ càng cao? Kết quả nghiên cứu của công trình này lànguồn tham khảo hữu ích cho một số giả thuyết được đặt ra tại bài luận văn này
- Dunning, John H và Lundan, Sarianna M, Multinational Enterprises and
the Global Economy, NXB Edward Elgar Publishing Limited, Anh 2008.
Công trình nghiên cứu này chủ yếu nghiên cứu các vấn đề xoay quanh cácdoanh nghiệp đa quốc gia, cụ thể: định nghĩa và các khía cạnh của đầu tư nướcngoài, các lý do thúc đẩy doanh nghiệp hoạt động theo chính sách đa quốc gia, cácyếu tố tác động và ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp tại thị trường nướcngoài, một số chiến lược hoạt động của các doanh nghiệp đa quốc gia Công trìnhnghiên cứu cũng đưa ra các kiến nghị dành cho chính phủ và các doanh nghiệp đaquốc gia nhằm giúp hoạt động đầu tư ra nước ngoài có hiệu quả hơn
Trang 9- Gutterman, Alan S và Brown, Robert L., Going Global: A Guide to
Building an International Business, NXB Thomson/West, Mỹ 2011.
Công trình nghiên cứu này đề cập đến tầm quan trọng của chiến lược kinhdoanh và hiểu biết về luật pháp khi một doanh nghiệp hoạt động tại thị trường nướcngoài và cách mà doanh nghiệp xây dựng cũng như quản lý kinh doanh Bằng việckhái quát các vấn đề liên quan đến pháp lý tại Mỹ và các thị trường khác, công trìnhnghiên cứu là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích đối với tác giả trong phần phân tíchhoạt động kinh doanh của Viettel tại thị trường Mỹ La tinh
Tình hình nghiên cứu trong nước:
Liên quan đến đề tài tác giả đang nghiên cứu, có thể kể đến một số công trìnhcủa các tác giả sau:
- Nguyễn Hoàng Hải, Tác động của toàn cầu hoá kinh tế với doanh nghiệp
vừa và nhỏ ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Trường Đại học Ngoại
thương, Hà Nội năm 2004
Đề tài này đã phân tích tác động của tiến trình toàn cầu hoá kinh tế đến các yếu
tố liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp vừa và nhỏ, bao gồm các khía cạnh vềnăng lực cạnh tranh, chiến lược kinh doanh và môi trường hoạt động của doanhnghiệp Đề tài nghiên cứu đã đưa ra một số đề xuất, giải pháp nhằm nâng cao khảnăng thích ứng của doanh nghiệp Việt Nam trước tác động của toàn cầu hoá, đồngthời cũng đưa ra một số kiến nghị đối với cơ quan quản lý Nhà nước nhằm hỗ trợtối đa các doanh nghiệp trong quá trình hội nhập Kết quả nghiên cứu của đề tài lànguồn tham khảo hữu ích cho việc xây dựng luận văn này
- Dương Trà My, Thực trạng thâm nhập thị trường thế giới của các doanh
nghiệp Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hoá, Luận văn thạc sĩ kinh tế,
Trường Đại học Ngoại thương, Hà Nội năm 2008
Luận văn đã hệ thống hóa và luận giải một số cơ sở lý luận chung về toàn cầuhoá cũng như đi sâu phân tích các tác động tích cực và tiêu cực của toàn cầu hoá đốivới các nền kinh tế đang phát triển, từ đó chỉ ra những cơ hội và thách thức đối vớicác doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình thâm nhập thị trường thế giới Trên cơ
Trang 10sở phân tích những vấn đề nổi cộm đang đặt ra ở Việt Nam hiện nay, luận văn đãrút ra một số bài học có giá trị tham khảo cho các doanh nghiệp và cơ quan quản lýNhà nước nhằm mục tiêu hội nhập kinh tế quốc tế thành công, đồng thời kiến nghịcác giải pháp lựa chọn nhằm hạn chế tác động tiêu cực và phát huy tác động tíchcực của quá trình toàn cầu hoá.
Tất cả các tài liệu, các công trình nghiên cứu nói trên đều đã chỉ ra những tácđộng hai chiều của toàn cầu hoá đối với doanh nghiệp và cũng rút ra một số bài họckhá hữu ích về việc xây dựng chiến lược kinh doanh tại thị trường nước ngoài Tuynhiên, phạm vi nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở tổng quan các doanh nghiệp nóichung mà chưa đi sâu vào từng doanh nghiệp cụ thể Do đó tác giả lựa chọn đốitượng nghiên cứu là Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel), có thể coi là đơn vịtiêu biểu nhất trong công tác đầu tư ra thị trường nước ngoài và phạm vi nghiên cứu
là thị trường Mỹ La tinh, thị trường tiềm năng và cũng là thị trường có khoảng cáchđịa lý xa nhất tính đến thời điểm hiện tại của Viettel Trong quá trình nghiên cứu,tác giả sẽ tiếp tục kế thừa những thành quả của những công trình nghiên cứu trước
đó, vận dụng vào hoàn cảnh cụ thể tại Viettel, đồng thời tiếp tục bổ sung các nộidung cần thiết để rút ra được những bài học, những giải pháp hữu hiệu nhất cho bảnthân Viettel cũng như các doanh nghiệp viễn thông khác của Việt Nam khi hoạtđộng kinh doanh tại thị trường nước ngoài
3 Mục đích của nghiên cứu:
Mục đích chính của bài nghiên cứu này nhằm:
Thứ nhất là hệ thống hoá những kiến thức, lý luận chung nhất về toàn cầu hoá(bao gồm khái niệm, biểu hiện của toàn cầu hoá và toàn cầu hoá kinh tế, những cơhội phát triển đối với các doanh nghiệp khi đầu tư ra nước ngoài trong bối cảnh toàncầu hoá)
Thứ hai là phân tích những cơ hội phát triển của Viettel tại thị trường Mỹ Latinh và đánh giá kết quả mà Viettel đã đạt được khi tận dụng các cơ hội đó
Thứ ba là đưa ra một số bài học kinh nghiệm nhằm giúp Viettel tận dụng tốt hơncác cơ hội phát triển và bài học kinh nghiệm cho các doanh nghiệp viễn thông Việt
Trang 11Nam khác đang có ý định đầu tư ra nước ngoài nói chung và thị trường Mỹ La tinhnói riêng.
4 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu:
Để đạt được mục đích nghiên cứu nói trên, luận văn đi sâu vào trả lời câu hỏi:Viettel đã có được những cơ hội phát triển nào tại thị trường Mỹ La tinh và họ đãtận dụng những cơ hội ấy như thế nào?
Các giả thuyết nghiên cứu được đặt ra trong luận văn bao gồm:
Giả thuyết 1: Tại thị trường Mỹ La tinh, Viettel có những cơ hội mở rộng thịtrường
Giả thuyết 2: Tại thị trường Mỹ La tinh, Viettel có những cơ hội duy trì khảnăng sinh ra lợi nhuận
Giả thuyết 3: Tại thị trường Mỹ La tinh, Viettel có những cơ hội tìm kiếm vàtận dụng các nguồn lực mới
Giả thuyết 4: Tại thị trường Mỹ La tinh, Viettel có những cơ hội tiết kiệm chiphí sản xuất và kinh doanh
Giả thuyết 5: Tại thị trường Mỹ La tinh, Viettel có những cơ hội nâng cao uytín và năng lực cạnh tranh
5 Phạm vi nghiên cứu:
Hoạt động đầu tư và kinh doanh của Viettel tại thị trường Mỹ La tinh (baogồm hai quốc gia Haiti và Peru) từ năm 2010 đến nay
6 Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính Đầu tiên, bài sẽtập trung nghiên cứu nguồn tài liệu thứ cấp liên quan đến khái niệm toàn cầu hoá vàcác cơ hội phát triển mà toàn cầu hoá mang lại cho các doanh nghiệp khi triển khaiđầu tư tại thị trường nước ngoài Sau đó, tác giả sẽ thu thập các số liệu liên quan đếnhoạt động đầu tư và kinh doanh của Viettel tại thị trường Mỹ La tinh, phân tích và sosánh với cơ sở lý thuyết nói trên để trả lời câu hỏi nghiên cứu và chứng minh giả
Trang 12thuyết nghiên cứu Các tài liệu được sử dụng để làm cơ sở cho bài luận văn này là cácnghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước, các bài báo và báo cáo kết quả kinhdoanh của Viettel.
7 Kết quả nghiên cứu:
Trong quá trình nghiên cứu, tìm hiểu và phân tích, bài luận văn đã chứng minhđược giả thuyết 1, giả thuyết 3, giả thuyết 4 và giả thuyết 5 là phù hợp và rút rađược các kết luận sau: Khi tiến hành đầu tư vào thị trường Mỹ La tinh trong bốicảnh toàn cầu hóa, Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel) đã có được (1) cơ hội
mở rộng thị trường; (2) cơ hội tận dụng nguồn lao động dồi dào, chất lượng cao vàgiá thành cạnh tranh hơn thị trường trong nước; (3) cơ hội tiết kiệm chi phí giaodịch do được hưởng ưu đãi từ chính sách khuyến khích đầu tư và (4) cơ hội nângcao uy tín cũng như năng lực cạnh tranh
8 Cấu trúc của luận văn
Luận văn được chia thành 4 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết và giả thuyết
Chương 2: Phân tích cơ hội phát triển của Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel) tại thị trường Mỹ La tinh
Chương 3: Bài học kinh nghiệm cho Viettel và các doanh nghiệp viễn thông khác khi đầu tư ra thị trường nước ngoài
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Trang 131.1 Tổng quan về toàn cầu hoá
1.1.1 Các quan niệm về toàn cầu hoá
Toàn cầu hoá là một trong những vấn đề quan trọng được tất cả các quốc giatrên thế giới quan tâm nhất hiện nay Trong những năm gần đây, toàn cầu hoá đã vàđang chiếm vị trí trọng tâm trong rất nhiều nghiên cứu khoa học, cũng như trongcác diễn đàn, các cuộc thảo luận quốc tế Tuỳ thuộc vào góc độ tiếp cận của ngườinghiên cứu, bản chất và tính chất của toàn cầu hoá lại được định nghĩa theo nhữngquan điểm khác nhau và cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa nào chính xáchoàn toàn, cũng như được thừa nhận rộng rãi về toàn cầu hoá
Theo Roland Robertson trong cuốn Globalization: Social Theory and GlobalCulture (1992, tr.58), tiến trình toàn cầu hoá bắt đầu ở châu Âu từ đầu thế kỷ XV vàđược mở rộng phạm vi ra ngoài châu Âu từ thế kỷ XVIII Trong khi đó, hai học giảKevin O'Rourke và Jeffrey Williamson đã lập luận trong cuốn Globalization andHistory: The Evolution of a Nineteenth century Atlantic economy (1999, tr.53) rằngtoàn cầu hóa chỉ thực sự bắt đầu vào thế kỷ 19, khi chi phí vận chuyển giảm độtngột cho phép giá hàng hóa ở Châu Âu và Châu Á trùng hợp với nhau Thuật ngữ
“toàn cầu hoá” lần đầu tiên được đưa vào cuốn từ điển tiếng Anh của Webster (HoaKỳ) năm 1961 và đến những năm 1980 thì bắt đầu được sử dụng rộng rãi (NguyễnVăn Dân 2001, tr.14)
Theo Tiến sĩ Nguyễn Văn Dân trong cuốn Những vấn đề của toàn cầu hoákinh tế (2001, tr.15), nói một cách khái quát nhất thì có thể định nghĩa toàn cầu hoá
là quá trình rút ngắn khoảng cách giữa các quốc gia, làm cho con người ngày càngthấy mình sống trong một thế giới giống như một nơi chốn duy nhất, một “ngôi làngtoàn cầu” không biên giới Thuật ngữ “Ngôi làng toàn cầu” được nhà triết học, giáo
sư Marshall McLuhan (Canada) nói đến trong cuốn Understanding Media: TheExtensions of Man (1964), khi đề cập đến khía cạnh toàn cầu của cuộc cách mạngthông tin
Một trong những quan niệm nhận được nhiều sự đồng tình nhất là xem toàn cầu
Trang 14hoá là biểu hiện, là kết quả của sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất dẫnđến phá vỡ sự biệt lập của các quốc gia, tạo ra và làm tăng lên các mối quan hệ gắnkết và tương tác, sự ảnh hưởng, tác động và phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia,dân tộc trên quy mô toàn cầu trong sự vận động, phát triển Với quan niệm này thìtoàn cầu hoá và quốc tế hoá chưa có sự phân biệt rõ ràng
Một quan điểm khác lại cho rằng toàn cầu hóa là giai đoạn cao của quá trìnhphát triển lực lượng sản xuất thế giới, là kết quả phát triển tất yếu của kinh tế thịtrường và khoa học công nghệ, hay thực chất toàn cầu hoá chính là sự tăng trưởngcủa hoạt động kinh tế nói chung đã vượt khỏi biên giới quốc gia và khu vực Toàncầu hoá mang nội dung chủ đạo là toàn cầu hoá kinh tế, phát triển kinh tế vừa làmục tiêu, vừa là động lực của toàn cầu hoá Có thể thấy rằng quan điểm này tậptrung vào khía cạnh phát triển của lực lượng sản xuất khi xem xét bản chất của toàncầu hoá Đúng là toàn cầu hóa phản ánh sự phát triển lực lượng sản xuất trên quy
mô toàn cầu, song vấn đề cơ bản lại ở chỗ bản chất của các hoạt động kinh tế nàythì chưa được làm rõ Vì vậy, hạn chế của quan điểm này là khó lý giải những hiệntượng phản đối, chống lại toàn cầu hóa (Vũ Văn Hà 2001, tr 513-514)
Một quan điểm đáng chú ý khác cho rằng toàn cầu hóa là xu hướng bắt nguồn
từ bản chất của hệ thống kinh tế thị trường là hệ thống mở, không bị giới hạn bởicác đường biên giới và ranh giới dân tộc, chủng tộc và tôn giáo, hay nói cách khác,toàn cầu hóa là quá trình tự nhiên đi tới cộng đồng toàn thế giới của những ngườilao động tự do và phát triển toàn diện (Vũ Văn Hà 2001, tr 514)
Theo định nghĩa mà Uỷ ban Châu Âu đưa ra vào năm 1997, “Toàn cầu hóa cóthể được định nghĩa như là một quá trình mà thông qua đó, thị trường và sản xuất ởnhiều nước khác nhau đang trở nên ngày càng phụ thuộc lẫn nhau do tính năngđộng của việc buôn bán hàng hóa và dịch vụ cũng như do có sự lưu thông vốn tưbản và công nghệ” (Nguyễn Văn Dân 2001, tr.16) Đây không phải hiện tượng mới
mà là sự kế tục của một tiến trình đã được khơi mào từ khá lâu
Từ các quan điểm nêu trên có thể rút ra một định nghĩa chung có tính tổng quáthơn về toàn cầu hoá như sau: Toàn cầu hoá là một quá trình xã hội hóa ngày càngsâu sắc sự phát triển của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất cùng với những
Trang 15mối quan hệ biện chứng giữa hai yếu tố này ở quy mô toàn cầu Đó là quá trình giaolưu và quốc tế hóa trên mọi lĩnh vực của đời sống con người và đời sống các quốcgia trong cộng đồng thế giới Toàn cầu hóa không chỉ phản ánh sự gia tăng của cácmối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau mà còn phản ánh quy mô của các hoạt động liênquốc gia Toàn cầu hóa chính là sự gia tăng mạnh mẽ các mối quan hệ gắn kết, tácđộng phụ thuộc lẫn nhau, là quá trình mở rộng quy mô và cường độ của các hoạtđộng giữa các khu vực, các quốc gia, các dân tộc trên phạm vi toàn cầu trong sự vậnđộng phát triển (Nguyễn Hoàng Hải 2004, tr.5)
Toàn cầu hoá là một xu thế tất yếu khách quan của thời đại và bị chi phối bởisáu nhân tố cơ bản sau:
Thứ nhất là sự phát triển của lực lượng sản xuất mà biểu hiện tập trung nhất là
ở sự phát triển của khoa học kỹ thuật Theo một luận điểm của Các Mác trong cuốnTuyên Ngôn của Đảng Cộng sản (1986, tr.47), các cuộc cách mạng công nghiệp đãdẫn đến sự ra đời của thị trường thế giới, nơi mà các quốc gia, dân tộc phát triểnnhững mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau
Thứ hai là sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường Có thể thấy rằng
cơ chế kinh tế thị trường thúc đẩy quá trình phân công lao động quốc tế bằng cáchtạo điều kiện cho sự phát triển của lực lượng sản xuất, làm cho quy mô sản xuấtkhông chỉ bó hẹp trong phạm vi của một quốc gia mà mang tính chất toàn cầu Hiệnnay, đa số các quốc gia đều thống nhất áp dụng một cơ chế để xử lý các mối quan
hệ kinh tế, đó là cơ chế thị trường với phương thức phân bổ nguồn lực từ sức laođộng đến tư liệu sản xuất Đây chính là cơ sở gia tăng của xu thế toàn cầu hoá.Thứ ba là sự bành trướng của các công ty xuyên quốc gia Nhờ sự tiến bộ khoahọc công nghệ và chính sách tự do hóa thương mại, các nước có thể dễ dàng traođổi các yếu tố đầu vào của sản xuất kinh doanh như vốn, máy móc, nguyên nhiênliệu, nhân công , từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho các công ty, tập đoàn lớn thựchiện phân bổ cơ cấu sản xuất trên phạm vi toàn cầu thông qua hình thức đầu tư ranước ngoài mà vẫn duy trì được sự quản lý thống nhất Các công ty hoạt động theohình thức này được gọi là công ty xuyên quốc gia Bằng việc đầu tư và phân bổ dâychuyền sản xuất kinh doanh ở nhiều nước trên thế giới và thực hiện các hoạt động
Trang 16lưu chuyển vốn, lưu chuyển hàng hoá dịch vụ, các công ty này đã góp phần thúcđẩy thương mại toàn cầu và khu vực.
Thứ tư là sự ra đời của các tổ chức kinh tế toàn cầu, các khối kinh tế khu vực
và liên khu vực, các hiệp định kinh tế thương mại song phương và đa phương Các
tổ chức này vừa là kết quả, vừa là động lực của quá trình toàn cầu hoá Quá trìnhquốc tế hoá phát triển dẫn đến việc cần phải hình thành các tổ chức để quản lý, điềuphối các “luật chơi chung” mang tính toàn cầu giữa các quốc gia Sau đó, khi các tổchức quốc tế ra đời sẽ tác động đến bản thân các quốc gia, buộc họ phải thay đổi đểthích ứng
Thứ năm là vai trò của Chính phủ các nước trong việc quyết định, triển khaicác chính sách mở cửa, tự do hoá trên nhiều lĩnh vực như thương mại, tài chính, đầutư…, cho phép các yếu tố của quá trình sản xuất được lưu chuyển tự do, để từ đóthúc đẩy quá trình toàn cầu hoá
Thứ sáu, sự phát sinh của hàng loạt các vấn đề mang tính chất toàn cầu như ônhiễm môi trường, hiệu ứng nhà kính, phá hủy tầng ôzôn, dịch bệnh, thiếu nguồnnước…và sau này là tình trạng phân hóa giàu nghèo sâu sắc, mâu thuẫn về thươngmại và đầu tư trong quá trình cạnh tranh phát triển giữa các quốc gia Các vấn đềnày đòi hỏi phải có sự phối hợp cố gắng của tất cả các quốc gia, do vậy cũng làmgia tăng mối quan hệ giữa nhiều nước với nhau, mà thực chất chính là một trongnhững biểu hiện rõ ràng nhất của quá trình toàn cầu hoá
1.1.2 Khái niệm toàn cầu hoá kinh tế
Toàn cầu hóa là xu hướng tất yếu khách quan diễn ra trên nhiều phương diệnkhác nhau như kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Trong đó toàn cầu hoá kinh tế làvấn đề nổi bật và chiếm vị trí trọng tâm trong các cuộc thảo luận, các diễn đàn quốc
tế hiện nay bởi trên thực tế, toàn cầu hoá kinh tế vừa là cơ sở, vừa là động lực dẫnđến xu thế toàn cầu hoá trong các lĩnh vực khác
Tương tự như Toàn cầu hoá, hiện cũng có rất nhiều quan điểm được đưa ra đểđịnh nghĩa khái niệm của toàn cầu hoá kinh tế Có quan điểm cho rằng toàn cầu hoákinh tế là những mối quan hệ kinh tế vượt qua biên giới quốc gia, vươn tới quy mô
Trang 17toàn thế giới, đạt trình độ và chất lượng mới Một quan điểm khác lại cho rằng thựcchất của toàn cầu hoá (về kinh tế) là tự do hoá kinh tế và hội nhập quốc tế, trước hết
là về thương mại, đầu tư, dịch vụ…
Theo Tiến sĩ Nguyễn Xuân Thắng trong bài nghiên cứu Toàn cầu hoá kinh tế Đặc trưng và những biểu hiện chủ yếu trong cuốn Những vấn đề của toàn cầu hoákinh tế (2001), toàn cầu hoá kinh tế là một quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế đãđạt đến trình độ đưa vào lưu thông kinh tế toàn cầu đến cả các khâu của quá trình táisản xuất xã hội, dựa trên sự phân công lao động toàn cầu, thông qua các loại hìnhquan hệ kinh tế khác nhau giữa các nước và theo đó các nền quốc gia xâm nhập vàgắn bó chặt chẽ với nhau, chuyển hoá thành nền kinh tế toàn cầu
-Các nhà kinh tế thuộc Tổ chức thương mại và phát triển thuộc Liên hợp quốc(UNCTAD) cho rằng: “Toàn cầu hóa kinh tế liên hệ tới các luồng giao lưu khôngngừng tăng lên của hàng hóa và nguồn lực vượt qua biên giới giữa các quốc giacùng với hình thành các cấu trúc tổ chức trên phạm vi toàn cầu, nhằm quản lý cáchoạt động và giao dịch kinh tế quốc tế không ngừng gia tăng đó”
Các chuyên gia Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) cho rằng toàncầu hóa kinh tế là sự vận động tự do của các yếu tố sản xuất nhằm phân bổ tối ưucác nguồn lực trên phạm vi toàn cầu Theo quan điểm của Qũy Tiền tệ quốc tế(IMF) thì toàn cầu hóa kinh tế là sự gia tăng không ngừng các luồng mậu dịch, vốn,
kỹ thuật với quy mô và hình thức phong phú, làm tăng sự phụ thuộc lẫn nhau giữacác nền kinh tế trên thế giới
Từ các quan điểm trên có thể rút ra kết luận rằng khái niệm toàn cầu hoá kinh
tế chủ yếu xoay xung quanh ba vấn đề chính Đó là sự phân công lao động toàn cầu;
sự tự do lưu chuyển của hàng hoá, dịch vụ và các nguồn lực sản xuất như vốn, côngnghệ, nhân công vượt ra ngoài biên giới quốc gia; và mối quan hệ kinh tế ngày cànggắn bó và phụ thuộc lẫn nhau của các nước trên toàn thế giới
Theo Nguyễn Hoàng Hải trong bài nghiên cứu Tác động của toàn cầu hoá kinh
tế với doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam (2004, tr.5), một số các thuật ngữ liênquan trực tiếp đến vấn đề toàn cầu hoá kinh tế có thể kể đến là: khu vực hoá kinh tế
Trang 18và hội nhập kinh tế:
- Khu vực hóa kinh tế có thể được hiểu như quá trình làm sâu sắc hơn nữa
các cơ cấu kinh tế phụ thuộc lẫn nhau trong nội bộ khu vực dưới bất kỳ một hìnhthức nào, thông qua trao đổi thương mại, đầu tư trực tiếp hoặc qua những dòngngười di cư và di chuyển lao động Các yếu tố của khu vực hóa kinh tế là tự do mậudịch, di chuyển dòng vốn, mở rộng phân công và hợp tác lao động qua biên giới,phát triển cơ sở hạ tầng chung (vận tải, thông tin liên lạc, ) thiết lập cơ chế kinh tếmang tính đồng nhất nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh các yếu tố sản xuất củanền kinh tế khu vực và của mỗi nước Khu vực hóa kinh tế có thể được xem là một
bộ phận của quá trình toàn cầu hóa kinh tế, là những bước đi để tiến tới toàn cầuhóa kinh tế
- Hội nhập kinh tế là sự chủ động tham gia tích cực của một quốc gia vào
quá trình toàn cầu hóa và khu vực hóa kinh tế thông qua nỗ lực tự do hóa và mở cửatrên các cấp độ đơn phương, song phương và đa phương nhưng vẫn giữ được sựkiểm soát và bản sắc riêng của nền kinh tế Tính chủ động hội nhập kinh tế của mộtquốc gia thường được biểu hiện như sau:
Nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế của hàng hóa - dịch vụ của cácdoanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế
Đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ kinh tế
Nhà nước kiểm soát được dòng vốn đầu tư nước ngoài
Chính sách tự do hóa thương mại phục vụ trước hết cho lợi ích pháttriển quốc gia
Nhà nước kiểm soát di cư lao động
Thiết chế quản lý nền kinh tế dựa vào những thế mạnh của bản sắc dân tộc
1.1.3 Nội dung và biểu hiện của toàn cầu hoá kinh tế
Toàn cầu hóa kinh tế được thể hiện chủ yếu ở hai bình diện: mở rộng địa bànsản xuất và mở rộng thị trường tiêu thụ Và liên quan đến hai bình diện đó là cácquá trình tự do hóa hoạt động kinh tế mà trong đó nổi bật lên các quá trình chính là
Trang 19tự do hóa thương mại, tự do hóa tài chính và tự do hóa đầu tư (Nguyễn Văn Dân
2001, tr.17) Quan điểm này cũng tương tự như quan điểm của O.T Bogomolovtrong cuốn Thách thức đối với trật tự thế giới – toàn cầu hóa kinh tế không giảiquyết được những vấn đề giữa các quốc gia và những vấn đề xã hội của nhân loại(2000) Ông cho rằng “những đặc trưng nổi bật của toàn cầu hóa kinh tế chính là sựliên kết trong các hoạt động kinh tế quốc tế mà bao trùm lên tất cả là các dòng traođổi thương mại, hàng hóa và dịch vụ, các dòng vốn và đầu tư trực tiếp” Như vậy,
để có cái nhìn rõ ràng hơn về các biểu hiện của quá trình toàn cầu hóa kinh tế,chúng ta sẽ đề cập đến khái niệm và nội dung cụ thể của ba xu hướng tự do hóathương mại, tài chính và đầu tư
1.1.3.1 Tự do hóa thương mại:
Theo Từ điển Chính sách thương mại quốc tế của Trung tâm nghiên cứu kinh
tế quốc tế (Đại học Adelaide, Australia), tự do hoá thương mại là thuật ngữ dùng đểchỉ hoạt động loại bỏ các cản trở hiện hành đối với thương mại hàng hoá và dịch vụ.Theo khái niệm này, nếu đặt trong bối cảnh thương mại quốc tế thì tự do hoáthương mại chính là quá trình hướng tới xoá bỏ sự phân biệt đối xử giữa hàng hoátrong nước và hàng nhập khẩu, tạo điều kiện cho sự tự do lưu chuyển dòng hànghoá liên biên giới giữa các quốc gia với nhau
Nói một cách khái quát, tự do hoá thương mại là hành động loại bỏ mọi cản trởđối với các hoạt động giao thương quốc tế nhằm mục tiêu tạo điều kiện cho thươngmại quốc tế phát triển Các rào cản gây trở ngại cho thương mại quốc tế bao gồm:các rào cản thuế quan, phi thuế quan, các hàng rào kỹ thuật, và các rào cản khácmang tính chính trị - xã hội Tự do hoá thương mại chính là việc loại bỏ các rào cảnnêu trên (Lê Thị Bích Thủy 2007, tr.7-8)
Thực tế cho thấy, trong quá trình thực hiện tự do hóa thương mại, tùy theođiều kiện lịch sử và tình hình thực tế, mỗi quốc gia sẽ có những quyết định khácnhau trong việc lựa chọn các biện pháp và cách thức triển khai phù hợp
Hiện có rất nhiều biện pháp đang được nhiều nước sử dụng để loại bỏ các ràocản đối với thương mại quốc tế Một số biện pháp chính có thể nói đến như cắt giảm
Trang 20thuế quan và tiến tới áp dụng mức thuế xuất nhập khẩu bằng 0%; loại bỏ hàng ràophi thuế quan; giảm hạn chế đối với thương mại dịch vụ và đầu tư; thuế hóa cácbiện pháp phi thuế quan; đảm bảo nguyên tắc đối xử công bằng, đối xử quốc gia vàtối huệ quốc trong thương mại quốc tế; minh bạch và công khai hoá các chính sáchpháp luật thương mại; hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện một số hoạt động liên quanđến giao dịch thương mại như thủ tục hải quan, đăng ký sở hữu trí tuệ
Về các hình thức tự do hóa thương mại, hiện các quốc gia trên thế giới đang ápdụng khá nhiều loại hình phong phú khác nhau, tuy nhiên xét trên phạm vi toàn cầu,
có thể tóm gọn lại qua bốn hình thức chủ yếu sau:
Tự do hóa thương mại thông qua các diễn đàn thương mại đa biên:
- Đây là một trong những hình thức phổ biến nhất được đa số các quốc gia
lựa chọn để tiến hành tự do hóa thương mại Có ý kiến cho rằng để quản lý quátrình tự do hóa thương mại, quốc tế đã lập ra các tổ chức như Hội nghị về Thươngmại và Phát triển của Liên Hiệp Quốc, được thành lập năm 1964; và Tổ chứcThương mại Thế giới (WTO), thành lập năm 1995, với tiền thân của nó là Hiệp địnhchung về Thuế quan và Mậu dịch (GATT), thành lập từ năm 1947 (Nguyễn VănDân 2001, tr.17-18) Trên thực tế, WTO hay GATT trước đây chính là biểu hiệnsinh động nhất cho quá trình tự do hóa thương mại thông qua các diễn đàn đa biên
- GATT là một khuôn khổ hợp tác đa phương, ban đầu nhằm mục tiêu cắt
giảm thuế quan, dành các ưu đãi cho các nước đang và chưa phát triển và các quychế thoả thuận khu vực, sau đó mở rộng sang hàng rào phi thuế quan, thuế hoá cácbiện pháp phi thuế quan, xem xét chính sách thương mại của các bên tham gia, mởrộng sang lĩnh vực dịch vụ, sở hữu trí tuệ, đầu tư, môi trường Sau khi WTO ra đời,ngoài việc tiếp tục theo đuổi mục tiêu của GATT là tự do hóa thương mại toàn cầu,WTO hoạt động như một tổ chức toàn cầu chặt chẽ, có những thể chế, nguyên tắc
và cách thức hoạt động rõ ràng Như vậy, có thể kết luận rằng sự mở rộng về quy
mô, số lượng thành viên tham gia và nội dung đàm phán của GATT và sau này là sựphát triển không ngừng của WTO đã cho thấy tính phổ biến của hình thức tự do hoáthương mại thông qua các diễn đàn thương mại đa biên
Trang 21 Tự do hóa thương mại thông qua hội nhập khu vực:
- Đặc trưng của quá trình tự do hoá thương mại thông qua hội nhập khu vực
là được tiến hành thông qua đàm phán về các vấn đề liên quan đến thương mạitrong phạm vi một khu vực cụ thể và dựa trên nguyên tắc có đi có lại giữa các quốcgia trong khu vực đó Biểu hiện của hình thức tự do hóa thương mại này là sự ra đờicủa hàng loạt các tổ chức liên kết kinh tế khu vực như Liên Minh Châu Âu (EU),Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA), Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á(ASEAN)…
- Mục tiêu của các liên kết kinh tế khu vực như trên là tạo ra một môi trường
thương mại ưu đãi trong khu vực trên cơ sở cắt giảm các rào cản thuế quan và phithuế quan, tạo ra các ưu đãi về tiêu chuẩn xuất xứ, thủ tục hải quan…khi lưu thônghàng hóa và dịch vụ giữa các quốc gia trong khu vực
- Hình thức tự do hoá thương mại thông qua hội nhập khu vực chủ yếu phù
hợp với các nước đang phát triển và chậm phát triển, là những nước có nền kinh tếvới sức cạnh tranh còn yếu, chưa đủ cạnh tranh trên phạm vi toàn cầu Việc thamgia vào các tổ chức liên kết kinh tế trong khu vực sẽ giúp các nước này tận dụngđược lợi thế cạnh tranh của toàn khu vực do các nước phát triển hơn mang lại
Tự do hoá thương mại thông qua các hiệp định thương mại song phương:
- Cùng với quá trình toàn cầu hóa và khu vực hóa các quan hệ kinh tế thương
mại, xu hướng hình thành các Hiệp định thương mại tự do song phương đang ngàycàng trở nên phổ biến bởi tính hiệu quả và khả thi cao Đặc trưng của hình thức này
là hai nước tham gia cùng ký kết hiệp định cùng thoả thuận đưa ra các cam kết loại
bỏ các rào cản thương mại song phương và dành cho nhau những ưu đãi về thươngmại trên cơ sở tính toán cân bằng lợi ích của cả hai phía
- Tương tự như hai hình thức đã kể trên, mục tiêu chủ yếu của các hiệp định
thương mại song phương cũng là hướng tới tự do hoá thương mại, thể hiện bằngcách cắt giảm và gỡ bỏ hàng loạt các rào cản thuế quan, phi thuế quan, và các ràocản thương mại khác giữa hai quốc gia
- Trên thực tế, hình thức này không phải luôn luôn mang lại lợi ích cho tất cả
Trang 22các bên tham gia, bởi tùy thuộc theo điều kiện, tính chất và quy mô nền kinh tế màmỗi nước sẽ nhận được những mức độ tác động khác nhau Do vậy, khi áp dụnghình thức tự do hoá thương mại qua các hiệp định thương mại song phương, cácquốc gia, đặc biệt là các nước nhỏ cần phải có sự cân nhắc thận trọng trong khi đưa
ra các nhượng bộ
Tự do hóa thương mại đơn phương:
- Đây là hình thức một quốc gia đơn phương tự nguyện cắt giảm các hàng
rào thuế quan và phi thuế quan đối với hàng hoá và dịch vụ nhập khẩu từ nướcngoài Mục tiêu của hình thức tự do hóa thương mại này là nhằm nâng cao hiệu quả
sử dụng vốn và các nguồn tài nguyên thiên nhiên trên thị trường thế giới, thúc đẩy
sự phát triển của các ngành sản xuất trong nước bằng cách tăng cường mức độ cạnhtranh trên thị trường nội địa, từ đó tạo động lực cho sự phát triển của toàn bộ nềnkinh tế Một số nước tiêu biểu đã từng triển khai hình thức này là Singapore, NewZealand và Australia
1.1.3.2 Tự do hóa tài chính
Theo Vũ Văn Hà trong cuốn Toàn cầu hóa tài chính (2001, tr.268, 279), tự dohoá tài chính là quá trình giảm thiểu và cuối cùng là hủy bỏ sự can thiệp, kiểm soátcủa Nhà nước vào các quan hệ và giao dịch tài chính, làm cho hệ thống tài chínhquốc gia được hoạt động tự do hơn và hiệu quả hơn theo tín hiệu thị trường Có thểhiểu tự do hóa tài chính là quá trình nới lỏng những hạn chế, ràng buộc về cácquyền tham gia thị trường tài chính cho các tổ chức hay cá nhân trong phạm vi kiểmsoát được của pháp luật dưới nhiều hình thức khác nhau:
- Giảm tối đa việc kiểm soát về giá cả (trái phiếu, cổ phiếu và các chứng từ
thanh toán) và lãi suất trên thị trường tài chính (thị trường vốn và thị trường tiền tệ)
- Xã hội hoá khu vực tài chính và đơn giản hoá các thủ tục hành chính trong
việc cho vay tín dụng
- Cho phép sự gia nhập rộng rãi trong lĩnh vực dịch vụ tài chính; đặc biệt xoá
bỏ những trợ cấp cho các tổ chức hoạt động trong thị trường tài chính
Trang 23Có thể nói, bản chất của tự do hoá tài chính là nhằm đưa hoạt động tài chínhvận hành theo cơ chế nội tại vốn có của thị trường và chuyển vai trò điều tiết tàichính từ chính phủ sang thị trường, mục tiêu là tìm ra sự phối hợp có hiệu quả giữaNhà nước và thị trường trong việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ kinh tế - xã hội.
Do vậy, mức tự do hóa tài chính được thể hiện ở tỷ số giữa tiền mở rộng (tiền mặt
và tiền gửi trong hệ thống ngân hàng thương mại) trên thu nhập quốc dân Tỷ lệ nàycàng cao, mức tự do hóa tài chính càng lớn
Nội dung cơ bản của tự do hoá tài chính bao gồm: Tự do hoá lãi suất và giá cả,
tự do hóa hoạt động tín dụng và giảm thiểu thủ tục hành chính của các tổ chức tíndụng nhà nước, tự do hoá hoạt động ngoại hối, tự do hoá hoạt động của các tổ chứctài chính trên thị trường tài chính, cắt giảm thuế và lạm phát trên thị trường tài chínhquốc gia Cụ thể:
- Tự do hóa lãi suất và giá cả là cho phép các định chế tài chính, ngân hàng
tự do xác định các mức lãi suất tiền gửi, lãi suất cho vay, tự do ấn định các mức phítrong phạm vi hoạt động tài chính
- Tự do hóa hoạt động tín dụng và giảm thiểu thủ tục hành chính của các tổ
chức tín dụng nhà nước là việc xóa bỏ các hạn chế, định hướng chủ quan hay ràngbuộc về số lượng trong quá trình cấp và phân phối tín dụng nhằm nâng cao hiệu quảhoạt động tín dụng và mở rộng tín dụng cho mọi thành phần kinh tế
- Tự do hóa hoạt động ngoại hối là việc xóa bỏ các hạn chế về quản lý ngoại
hối và thực hiện điều hành tỷ giá hối đoái theo nguyên tắc thị trường
- Tự do hóa hoạt động của các tổ chức tài chính trên thị trường tài chính là
việc tiến hành mở rộng tự do cạnh tranh trong các hoạt động trung gian tài chínhthông qua việc xóa bỏ những hạn chế về phạm vi hoạt động, phạm vi kinh doanhcủa các tổ chức tài chính
- Cắt giảm thuế và mở rộng quan hệ tự do thương mại nhằm khắc phục
những tổn thất kinh tế mà các quốc gia phải gánh chịu nếu có hàng rào thuế quan.Đồng thời tạo ra một môi trường ổn định kinh tế vĩ mô tạo điều kiện cho các nguồnlực của quốc gia được tận dụng triệt để và hiệu quả
Trang 24Tuy nhiên, tự do hóa không có nghĩa là chấm dứt mọi quy định hay giám sátcác hoạt động tài chính Ngược lại, tự do hóa đòi hỏi phải tăng cường cơ sở hạ tầngquy chế và các cơ quan giám sát Việc đặt ra các quy định là cần thiết để đảm bảocho sự vận hành hiệu quả của các thị trường tài chính và ngân hàng.
Khi nói đến tự do hóa tài chính, chúng ta thường xem xét hai cấp độ là tự dohoá tài chính nội địa hay tự do hoá tài chính trong nước và tự do hoá tài chínhquốc tế hay tự do hoá tài chính với nước ngoài:
- Tự do hóa tài chính trong nước là việc xóa bỏ kiểm soát lãi suất và phân bổ
tín dụng, cho phép các tổ chức tài chính trong nước tự do thực hiện các dịch vụ tàichính theo nguyên tắc thị trường, các thị trường tài chính trong nước được khuyếnkhích phát triển, các công cụ chính sách tiền tệ được điều hành theo tín hiệu thịtrường
- Tự do hóa tài chính với nước ngoài là loại bỏ kiểm soát vốn và các hạn chế
trong quản lý ngoại hối bao gồm tự do hóa giao dịch vãng lai và tự do hóa giao dịchvốn
Việc tự do hóa thị trường tài chính thực chất là điều kiện thúc đẩy và là bước
đi quan trọng cho một quá trình khác cao hơn là hội nhập các thị trường tài chínhquốc tế, để từ đó tiến tới toàn cầu hóa tài chính, khi mà các thị trường quốc gia khácnhau về một sản phẩm hay một dịch vụ tài chính trở thành một thị trường toàn cầuduy nhất
Hiện nay có rất nhiều các tổ chức kinh tế tài chính khu vực và toàn cầu đãđược thành lập để đáp ứng yêu cầu của quá trình tự do hóa, toàn cầu hóa tài chínhnhư Ngân hàng Thế giới (World Bank), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàngchâu Á (ADB) Các tổ chức này tham gia vào việc điều chỉnh quan hệ tài chính –tiền tệ giữa các quốc gia thành viên và thực hiện cho vay để hỗ trợ quá trình pháttriển kinh tế - xã hội Với yêu cầu các quốc gia muốn được cấp vốn thì cần phải cảicách hệ thống tài chính quốc gia hoặc khu vực theo xu hướng tự do hóa, phù hợpvới thông lệ quốc tế, các tổ chức như World Bank hay IMF đang nhằm vào mục tiêuhướng các thị trường quốc gia hội nhập vào thị trường tài chính toàn cầu
Trang 251.1.3.3 Tự do hóa đầu tư
Có ý kiến cho rằng tự do hóa đầu tư cũng tương tự như tự do hóa thương mạihàng hóa và dịch vụ, ở chỗ đều cùng tiến hành việc hạn chế, cắt giảm và tiến tới xóa
bỏ các rào cản đối với các đối tượng của tự do hóa Nếu như rào cản thương mạihàng hóa là thuế quan và phi thuế quan, rào cản thương mại dịch vụ là các biệnpháp hạn chế tiếp cận thị trường và các biện pháp phân biệt đối xử thì rào cản đốivới đầu tư là các biện pháp cấm đầu tư, các biện pháp hạn chế đầu tư và các biệnpháp phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư (Nhóm 07, tr.1)
Về cơ bản, tự do hóa đầu tư được hiểu là quá trình trong đó các rào cản đối vớihoạt động đầu tư, các phân biệt đối xử trong đầu tư được từng bước dỡ bỏ, các tiêuchuẩn đối xử tiến bộ dần dần được thiết lập và các yếu tố để đảm bảo sự hoạt độngđúng đắn của thị trường được hình thành (Đại học Ngoại thương, tr.3)
Đặt trong bối cảnh toàn cầu hóa, tự do hóa đầu tư là những biện pháp nhằm cắtgiảm hay loại bỏ các rào cản có tính cản trở hoạt động đầu tư từ quốc gia này sangquốc gia khác để tạo nên một môi trường đầu tư có tính cạnh tranh và bình đẳnghơn, tạo sự thuận lợi, thông thoáng cho việc di chuyển các nguồn vốn đầu tư giữacác quốc gia (Nhóm 11 – Lớp DTU308.6, tr.5)
Từ các khái niệm trên có thể hiểu rằng khi hoạt động trong một thị trườngđược tự do hóa đầu tư, các nhà đầu tư có thể đầu tư vào bất cứ ngành, lĩnh vực và
dự án nào; dòng vốn đầu tư có thể chảy đến bất cứ nơi nào mà không bị ngăn cảnbởi các quy định phi kinh tế và đều được đối xử công bằng, bình đẳng Ngay cả các
ưu đãi, khuyến khích đầu tư, vốn được coi là một nhân tố kích thích đầu tư cũng sẽkhông được sử dụng trong chế độ đầu tư đã tự do hóa hoàn toàn vì những ưu đãi,khuyến khích này sẽ tạo ra sự phân biệt đối xử Các dòng vốn ở đây bao gồm cả vốncủa Nhà nước và tư nhân, vốn trong nước cũng như vốn nước ngoài, vốn đầu tư trựctiếp cũng như gián tiếp
Các nội dung cơ bản của tự do hóa đầu tư bao gồm loại bỏ các rào cản và ưuđãi trong hoạt động đầu tư; thiết lập tiêu chuẩn đối xử tiến bộ trong hoạt động đầu
Trang 26tư; tăng cường giám sát thị trường để đảm bảo tính đúng đắn trong quá trình vậnhành Cụ thể như sau:
- Loại bỏ dần các rào cản, các quy định gây cản trở, hạn chế cho đầu tư và
những ưu đãi mang tính phân biệt đối xử trong hoạt động đầu tư Một số rào cản cầnloại bỏ để có thể thực hiện đầu tư công bằng và minh bạch đó là:
Hạn chế vốn và quyền kiểm soát của nước ngoài: Quy định về tỷ lệ gópvốn của các nhà đầu tư nước ngoài khi đầu tư vào doanh nghiệp, quyđịnh về số lượng thành viên của các bên trong hội đồng quản trị, quyđịnh khi rút vốn,…
Hạn chế về hoạt động như: quy định về tuyển dụng và sử dụng laođộng, hạn chế về nhập khẩu máy móc thiết bị, yêu cầu tỷ lệ nội địa hóa,yêu cầu tỷ lệ xuất khẩu sản phẩm, hạn chế sản phẩm bán nội địa, kiểmsoát ngoại hối, quy định về chuyển giao công nghệ và quy trình sảnxuất hoặc các tri thức đặc biệt khác,…
Hạn chế về hành chính như: các quy định về đầu tư của các cơ quan quảnlý
Các ưu đãi về thuế như: miễn thuế, giảm thuế, khấu trừ thuế, cho nợthuế, thuế thấp, cho phép doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài lựachọn giữa việc đóng thuế theo tình hình thực tế hay đóng trọn gói hàngnăm,…
Hạn chế liên quan đến việc tiếp nhận và thành lập
- Nội dung thứ hai là thiết lập các tiêu chuẩn đối xử tiến bộ đối với hoạt
động đầu tư Có thể kể đến ba loại tiêu chuẩn chính như sau:
Tiêu chuẩn đầu tiên là không phân biệt đối xử, đối xử công bằng vàbình đẳng Tiêu chuẩn này xuất phát từ nguyên tắc bình đẳng chủ quyềngiữa các quốc gia và là một trong những tiêu chuẩn quan trọng trongkinh doanh quốc tế Theo tiêu chuẩn này, việc một quốc gia quy địnhnhững điều kiện đặc biệt nhằm đặt một quốc gia khác hay các pháp
Trang 27nhân, tự nhiên nhân của quốc gia khác vào vị trí kém thuận lợi hơn sovới quốc gia, pháp nhân, tự nhiên nhân của một nước thứ ba sẽ bị coi làphi pháp và không phù hợp Có hai mức độ trong tiêu chuẩn này, làkhông phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư nước ngoài có quốc tịchkhác nhau và không phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư nước ngoài vàcông dân nước sở tại
Tiêu chuẩn thứ hai là tính minh bạch Tiêu chuẩn này đảm bảo cho tất
cả các bên tham gia vào quá trình đầu tư có thể nhận được thông tin đầy
đủ, chính xác và minh bạch để phục vụ tốt nhất cho quá trình ra quyếtđịnh và thực hiện các nghĩa vụ cũng như các cam kết Việc đảm bảotính minh bạch vừa là nghĩa vụ vừa là quyền lợi của các bên, góp phầnđảm bảo tính ổn định và có thể dự đoán trước được của các quan hệ đầu
tư
Tiêu chuẩn thứ ba là bảo hộ khỏi việc tước đoạt quyền sở hữu, sử dụngcác công cụ quốc tế để giải quyết các tranh chấp trong đầu tư, các quyđịnh về chuyển tiền và các quy định khác,…
- Nội dung thứ ba là tạo môi trường cạnh tranh thông qua việc mở rộng danh
mục các ngành nghề, dịch vụ mà các nhà đầu tư nước ngoài được phép đầu tư Đây
có thể được xem là rào cản lớn nhất đối với những nhà đầu tư nước ngoài Mặc dùcác nhà đầu tư nhìn thấy được tiềm năng khi đầu tư vào ngành nghề, nhưng nếungành nghề đó lại nằm trong danh sách những ngành nghề, dịch vụ bị cấm thì cũng
sẽ không được phép đầu tư (Nhóm 11 – Lớp DTU308.6, tr.5)
- Nội dung thứ tư là tăng cường các biện pháp giám sát thị trường để đảm
bảo sự vận hành đúng đắn của thị trường Để thực hiện được điều này cần thiết lậpcác quy định về cạnh tranh, chống độc quyền; công khai hóa thông tin; giám sát,kiểm soát một cách chặt chẽ đối với thị trường trong đó chính sách cạnh tranh làtrung tâm Các biện pháp này giúp đảm bảo cho thị trường thực hiện đúng chứcnăng của nó và hoạt động bình thường, hạn chế, tiến tới xóa bỏ các biện pháp canthiệp của chính phủ làm phương hại hoặc bóp méo sự vận hành của thị trường (Đại
Trang 28học Ngoại thương, tr.3).
Tự do hóa đầu tư là một phần của quá trình tự do hóa thương mại quốc tế vềhàng hóa, dịch vụ và tự do hóa các dòng tài chính, công nghệ, tri thức Tự do hóađầu tư phát triển sẽ thúc đẩy sự phát triển của toàn cầu hóa bằng cách tạo các điềukiện thuận lợi cho việc thu hút đầu tư, thúc đẩy sự tự do hóa lưu chuyển của dòngvốn giữa các quốc gia, qua đó sẽ mở rộng quy mô và phát triển các mối quan hệkinh tế trên toàn cầu
1.2 Những cơ hội phát triển đối với các doanh nghiệp khi thực hiện đầu tư nước ngoài trong bối cảnh toàn cầu hóa
1.2.1 Cơ hội mở rộng thị trường
Đầu tư nước ngoài mang lại cơ hội cho doanh nghiệp cơ hội khai thác và mởrộng thị trường mới Thị trường ở đây bao gồm cả thị trường kinh doanh, thị trườngtiêu thụ và thị trường sản xuất Trong giao lưu thương mại thì thị trường rộng lớn là
cơ hội để các doanh nghiệp tăng doanh thu và lợi nhuận từ việc buôn bán, trao đổicác sản phẩm hàng hóa và dịch vụ Khi thị trường nội địa ngày càng trở nên bãohòa, thì việc tìm kiếm và mở rộng hoạt động kinh doanh ra thị trường nước ngoài,tiếp cận đối tượng khách hàng mới là con đường tất yếu để đạt được lợi thế về quy
mô, đặc biệt khi hàng rào kinh tế giữa các quốc gia đang dần được xóa bỏ dưới sựtác động mạnh mẽ của quá trình toàn cầu hóa, tạo điều kiện vô cùng thuận lợi chocác doanh nghiệp lớn triển khai các chiến lược kinh doanh quốc tế
Theo John H Dunning và Sarianna M Lundan trong cuốn MultinationalEnterprises and the Global Economy (2008), trong một số trường hợp, doanhnghiệp đầu tư ra nước ngoài khi các nhà cung cấp hoặc khách hàng chính của họcũng lựa chọn hoạt động kinh doanh ở nước ngoài Alan S Gutterman và Robert L.Brown trong cuốn Going Global: A Guide to Building an International Business(2011) cũng cho rằng quyết định đầu tư ra thị trường nước ngoài của một doanhnghiệp phản ánh nỗ lực bảo vệ nguồn khách hàng cũng như nguồn doanh thu hiện
có bằng cách thiết lập hoạt động kinh doanh ở nơi gần hết mức có thể với các kháchhàng lớn của họ Ví dụ như doanh nghiệp sản xuất lốp ô tô Bridgestone (Nhật) đã
Trang 29mở nhà máy tại Mỹ để dễ dàng cung cấp sản phẩm cho hai khách hàng chính của họ
là Toyota và Honda khi hai tập đoàn này mở rộng phạm vi hoạt động sang Mỹ.Bên cạnh đó, đầu tư nước ngoài là một phương thức tốt để tiếp cận nguồnkhách hàng mới Trên thực tế, trong quá trình thực hiện chiến lược duy trì hoặc giữchân các khách hàng/nhà cung cấp lớn của mình như đã kể ở trên, doanh nghiệp lại
có được cơ hội theo chân các khách hàng/nhà cung cấp đó tiếp cận các thị trườngmới mẻ hơn Ví dụ, khi hoạt động tại Mỹ, Bridgestone sẽ có được cơ hội không chỉphục vụ cho Toyota và Honda mà còn có thể tiếp cận đến hàng nghìn, hàng vạn cáccông ty lắp ráp ô tô khác đang hoạt động tại thị trường Mỹ
Gutterman (2011) cho rằng thông thường người dân bản địa có xu hướng thíchtiêu dùng hàng hóa của các nhà sản xuất nội địa bởi họ thường tin rằng hàng hóa nộiđịa sẽ được giao nhận đúng giờ hơn, sẵn có hơn hay được bảo hành nhanh và dễdàng hơn nếu bị lỗi Do vậy khi thiết lập cơ sở hoạt động tại thị trường bản địa, gầngũi hơn với khách hàng, doanh nghiệp có thể giành được lợi thế tương đương vớicác nhà sản xuất trong nước và mở rộng được thị trường tiêu thụ của mình
Theo Dunning (2008), làn sóng mua bán và sáp nhập các doanh nghiệp xuyênbiên giới trong các lĩnh vực dịch vụ nổi bật như kế toán, kiểm toán, luật và quảngcáo vào những năm 1980-1990 chủ yếu là nhằm vào mục đích tiếp cận và phục vụlớp khách hàng mới tại các thị trường nước ngoài Xu hướng này ngày càng đượcđẩy mạnh trong suốt thập kỷ 90 với tốc độ tăng trưởng chóng mặt của các vụ M&Axuyên biên giới
Từ cơ sở lý thuyết trên có thể đặt ra giả thuyết thứ nhất cho bài nghiên cứu là:Khi đầu tư vào khu vực Mỹ La tinh, Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel) có cơhội mở rộng thị trường mới
1.2.2 Cơ hội duy trì khả năng sinh lợi nhuận
Do bản chất của hoạt động đầu tư là nhằm vào mục đích nâng cao lợi nhuận,các doanh nghiệp, quốc gia trước khi lựa chọn phương án đầu tư nước ngoài cũngđều phải cân nhắc kỹ về khả năng sinh lời mà hoạt động đầu tư này mang lại Lợinhuận càng nhiều cho thấy hiệu quả đầu tư càng cao
Trang 30Liên quan đến câu hỏi: “Liệu có phải doanh nghiệp càng phụ thuộc vào hoạtđộng đầu tư hoặc kinh doanh nước ngoài thì lợi nhuận của doanh nghiệp càng caohay không?”, một số học giả đã đưa ra ý kiến như sau.
Bergstem, Horst và Moran trong cuốn American Multinationals and AmericanInterests (1978) cho rằng đầu tư nước ngoài càng cao thì lợi nhuận trong nước càngcao Wolf (1975), Severn và Laurence (1974) thì phát hiện thấy các nhà đầu tư nướcngoài thường hoạt động có lãi hơn các doanh nghiệp không tham gia vào hoạt độngnày Leftwich (1974) thì kết luận rằng các công ty xuyên quốc gia có khả năng sinhlời cao hơn các doanh nghiệp thuần nội địa (John D Daniels - Jeffrey Bracker,1989)
Alan S Gutterman và Robert L Brown (2011) cũng cho rằng bất kể doanhnghiệp hoạt động có lãi hơn vì họ là công ty đa quốc gia hay doanh nghiệp là công
ty đa quốc gia vì họ hoạt động có lãi hơn thì các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp ranước ngoài vẫn luôn có xu hướng thành công hơn các doanh nghiệp chỉ hoạt độngtrong nước Lý giải cho kết luận này, Gutterman và Brown lập luận rằng khi đầu tư
ra nước ngoài, doanh nghiệp có cơ hội tìm kiếm và sở hữu những công nghệ haynguồn lực giúp họ hoạt động có hiệu quả và kiếm được nhiều lợi nhuận hơn Ví dụnếu nguồn lực là quyền sở hữu độc quyền một loại công nghệ nào đó, như bằngsáng chế, mà doanh nghiệp sẽ không thể nào sở hữu được với cùng mức giá hayđiều kiện tương tự nếu chỉ hoạt động trong nước thì nguồn lực này được gọi là lợithế độc quyền Với lợi thế độc quyền này, doanh nghiệp sẽ có xu hướng đòi hỏi lợinhuận phát sinh từ khoản đầu tư nước ngoài phải cao hơn lợi nhuận đến từ đầu tưtrong nước, bởi họ sẽ phải đối mặt với nhiều rủi ro hơn khi khó có thể trực tiếp quản
lý và kiểm soát các chi nhánh nước ngoài của mình Trong khi đó, với lợi thế độcquyền mà họ đang nắm giữ, doanh nghiệp hoàn toàn có thể hoạt động có lãi hơn cảnhững đối thủ của họ tại ngay chính nước sở tại
Ngoài ra, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đầu tư nước ngoài cao hơndoanh nghiệp thuần nội địa là bởi họ có thể chia sẻ một số loại chi phí có liên quanđến quy mô hoạt động như chi phí nghiên cứu (Research & Development) và chiphí quảng cáo Kinh doanh tại thị trường nước ngoài đồng nghĩa với việc các loại
Trang 31chi phí này có thể được trừ khấu hao vào nhiều tài sản hơn, và khi tính toán chi phí,nguồn doanh thu để bù trừ sẽ tăng lên, còn lợi nhuận thì không bị ảnh hưởng nhiều(Alan S Gutterman - Robert L Brown, 2011).
Như vậy, giả thuyết thứ hai được đặt ra trong bài nghiên cứu này là: Đầu tưvào khu vực Mỹ La tinh mang lại cho Viettel cơ hội duy trì khả năng sinh lợi nhuận
1.2.3 Cơ hội tìm kiếm và tận dụng các nguồn lực, nguồn tài nguyên thiên nhiên mới
Đầu tư nước ngoài có thể mang lại cho các doanh nghiệp cơ hội tiếp cận và thuđược những nguồn lực hoặc tài nguyên riêng biệt có chất lượng tốt hơn mà giáthành thì lại thấp hơn đáng kể so với việc khai thác những nguồn lực tương tự ở thịtrường nội địa Điều này sẽ giúp doanh nghiệp đầu tư hoạt động có lãi và tính cạnhtranh cũng cao hơn ở các thị trường mà họ đang kinh doanh hoặc dự định sẽ kinhdoanh
Theo Dunning (2008), các nguồn lực mà doanh nghiệp có cơ hội tiếp cận khiđầu tư ở thị trường nước ngoài được phân chia thành 3 loại hình chính như sau:
- Đầu tiên là các nguồn lực vật chất (physical resources) Đối với các doanh
nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất thì đầu tư nước ngoài là cơ hội giúp họkhai thác được nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào ở nước sở tại mà vẫn đáp ứngđược mục tiêu giảm thiểu chi phí và đảm bảo được nguồn cung ứng Các nguồn tàinguyên chính được đưa vào khai thác có thể kể đến như nhiên liệu khoáng sản vànhiên liệu hóa thạch (dầu khí, than đá và gas), khoáng sản công nghiệp, kim loại(đồng, thiếc, kẽm và kim cương), các loại sản phẩm nông nghiệp (cao su, thuốc lá,đường, chuối, dứa, dầu cọ, cà phê và trà) Trong khi đó, doanh nghiệp hoạt độngtrong lĩnh vực dịch vụ (như du lịch, giao thông, xây dựng, y tế hoặc giáo dục) lại có
xu hướng đầu tư nước ngoài để khai thác các nguồn tài nguyên mang tính ràng buộc
về vị trí của nước sở tại (location-bound resources)
- Nguồn lực thứ hai là lực lượng lao động không chuyên hoặc bán chuyên
nhưng rẻ và nhiệt tình Thông thường các doanh nghiệp sẽ tận dụng cơ hội này khichi phí nhân công nội địa quá cao, trong khi việc mở thêm chi nhánh ở nước ngoài
Trang 32với nguồn lao động rẻ hơn hoàn toàn có ích cho hoạt động sản xuất và xuất khẩucác sản phẩm thâm dụng lao động của họ Đa số các hoạt động đầu tư với mục đíchnhư vậy thường được tập trung ở các nước công nghiệp đang phát triển nhưMexico, Đài Loan, Malaysia hoặc một số nước Đông Âu Tuy nhiên, do chi phínhân công ngày càng tăng, việc tìm kiếm nguồn lao động rẻ đang dần chuyển dịchsang các nước khác như Trung Quốc, Việt Nam, Thổ Nhĩ Kỳ hay Ma-rốc
- Nguồn lực thứ ba mà các doanh nghiệp có thể đạt được trong quá trình đầu
tư nước ngoài là năng lực công nghệ, các kỹ năng quản lý, marketing và tổ chứcchuyên nghiệp Tuy nhiên, điều này thường phổ biến hơn đối với các doanh nghiệpkhi đầu tư vào các thị trường phát triển hơn Một số ví dụ có thể kể đến như các liênminh kinh doanh giữa công ty Hàn Quốc, Đài Loan với doanh nghiệp Mỹ hoặc Anhtrong lĩnh vực công nghệ cao, hay việc thành lập các chi nhánh dành cho hoạt độngnghiên cứu của một công ty dược phẩm Pháp tại Nhật đều có thể mang lại lợi íchcho cả hai bên trong việc học hỏi và tiếp thu những kinh nghiệm của nhau Hiện tạiTập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel) đã mở các chi nhánh tại Mỹ và Pháp cũngvới mục đích tiếp cận các nguồn lực công nghệ và quản lý từ các thị trường pháttriển này
Như vậy, giả thuyết thứ ba của bài nghiên cứu này là: Đầu tư vào khu vực Mỹ
La tinh mang lại cho Viettel cơ hội tiếp cận và tận dụng nguồn lực có chất lượng tốt
và giá thành cạnh tranh hơn
1.2.4 Cơ hội tối ưu hóa chi phí sản xuất và kinh doanh hơn so với các hình thức thâm nhập thị trường nước ngoài khác
Bên cạnh cơ hội mở rộng thị trường mới và khách hàng mới, việc trực tiếpthiết lập hoạt động tại nước ngoài cũng giúp cho doanh nghiệp tiết kiệm được nhiềuchi phí sản xuất và chi phí giao dịch
Thứ nhất, doanh nghiệp sẽ có điều kiện thuận lợi hơn trong việc xây dựng vàphát triển sản phẩm, dịch vụ phù hợp với nhu cầu, thị hiếu và văn hóa của ngườidân địa phương bằng việc rút ngắn thời gian nghiên cứu thị trường, tập quán và quytrình kinh doanh, cũng như các thủ tục pháp luật của nước sở tại
Trang 33Thứ hai, doanh nghiệp sẽ tiết kiệm được một lượng lớn chi phí vận tải hàng hóabằng việc đặt cơ sở sản xuất nằm ngay gần thị trường tiêu thụ
Thứ ba, doanh nghiệp sẽ không phải chịu sức ép của các quy định và rào cảnhạn chế nhập khẩu của chính phủ nước sở tại mà ngược lại có thể còn được hưởngnhiều ưu đãi từ chính sách khuyến khích đầu tư nước ngoài của chính phủ như cắtgiảm thuế thu nhập, trợ cấp lao động và vốn
Như vậy, có thể thấy rằng các nhà đầu tư nước ngoài sẽ không chỉ có lợi thếhơn so với các doanh nghiệp xuất khẩu hoặc cung ứng hàng hóa từ một nơi xa xôinào đó mà còn không bị nằm ở thế bất lợi so với các nhà cung cấp sản phẩm, dịch
vụ trong nước Điều này đặc biệt đúng đối với các ngành kinh doanh hàng hóa tiêudùng như máy giặt, thiết bị điện tử, thuốc, mỹ phẩm, thực phẩm và đồ uống
Từ lý thuyết trên, bài nghiên cứu đặt ra giả thuyết thứ ba là: Viettel có cơ hộitối ưu hóa chi phí sản xuất kinh doanh khi đầu tư vào thị trường Mỹ La tinh
1.2.5 Cơ hội nâng cao uy tín, năng lực cạnh tranh và giảm thiểu rủi ro
Đầu tư nước ngoài cũng có thể được các doanh nghiệp coi là một phần quantrọng và cần thiết trong chiến lược sản xuất và kinh doanh toàn cầu với mục tiêu làthiết lập hoạt động tại thị trường mà các đối thủ của họ chưa có mặt hoặc đã đặtchân đến trước nhằm không để mất thị phần trong dài hạn
Ngoài ra, đầu tư nước ngoài cũng được coi là chiến lược giúp doanh nghiệpphân tán và giảm thiểu rủi ro về kinh tế, tài chính và chính trị tập trung tại một thịtrường cố định Ví dụ, nếu toàn bộ hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp chỉdiễn ra ở Mỹ thì khi thị trường này bị suy thoái, việc kinh doanh của doanh nghiệp
đó chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng nặng nề Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp này hoạt độngtại 10 thị trường khác nhau thì cuộc suy thoái chỉ diễn ra ở Mỹ sẽ không thể có ảnhhưởng đến toàn bộ doanh thu, lợi nhuận hay giá cổ phiếu của họ được
Như vậy, giả thuyết cuối cùng được đặt ra trong bài luận văn này là: Viettel có
cơ hội nâng cao uy tín, năng lực cạnh tranh và giảm thiểu rủi ro khi hoạt động tại thịtrường Mỹ La tinh
Trang 34CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH CƠ HỘI PHÁT TRIỂN CỦA TẬP ĐOÀN VIỄN THÔNG QUÂN ĐỘI (VIETTEL) TẠI THỊ TRƯỜNG MỸ LA TINH
2.1 Tổng quan về Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel)
2.1.1 Giới thiệu chung
Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel) là doanh nghiệp kinh tế quốc phòng100% vốn nhà nước do Bộ Quốc phòng thực hiện quyền chủ sở hữu Viettel đượcthành lập vào ngày 1 tháng 6 năm 1989 theo Quyết định số 58/HĐBT của Hội đồng
Bộ trưởng với hai nhiệm vụ chính là phục vụ quốc phòng và tham gia phát triểnkinh tế
Quá trình hình thành và phát triển của Viettel có thể được tóm tắt như sau:
- Năm 1989, Tổng Công ty Điện tử Thiết bị Thông tin (SIGELCO), tiền thâncủa Viettel được thành lập trên cơ sở sáp nhập 03 doanh nghiệp là Công ty Điện tửViễn thông Quân đội, Công ty Điện tử và Thiết bị Thông tin 1, Công ty Điện tử vàThiết bị Thông tin 2
- Năm 1995, Tổng Công ty Điện tử Thiết bị Thông tin được đổi tên thànhCông ty Điện tử Viễn thông Quân đội (tên giao dịch là Viettel), trở thành nhà cungcấp dịch vụ viễn thông thứ hai tại Việt Nam và cũng là doanh nghiệp duy nhất đượccấp giấy phép kinh doanh đầy đủ các dịch vụ viễn thông trong nước
- Năm 2000, Viettel chính thức tham gia thị trường viễn thông Việt Nam, phá thếđộc quyền của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) bằng giấy phép cungcấp thử nghiệm dịch vụ điện thoại đường dài sử dụng công nghệ VoIP với thương hiệu178
- Từ năm 2001-2003, Viettel chính thức cung cấp rộng rãi dịch vụ điện thoạiđường dài trong nước và quốc tế sử dụng công nghệ mới VoIP, thực hiện phổ cậpđiện thoại cố định đến tất cả các vùng miền trong cả nước, đồng thời bắt đầu lắp đặtmạng lưới điện thoại di động
- Năm 2004, Viettel chính thức cung cấp dịch vụ điện thoại di động với dảiđầu số 098
Trang 35- Năm 2005, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định thành lập Tổng Công tyViễn thông Quân đội trực thuộc Bộ Quốc Phòng.
- Từ năm 2006 đến năm 2010, Viettel triển khai thống nhất nguồn nhân lực
và các chiến lược kinh doanh viễn thông tập trung vào 03 lĩnh vực chính là dịch vụ
cố định, di động và Internet, đặc biệt là mạng di động 3G; đồng thời đẩy mạnh hoạtđộng tự nghiên cứu sáng tạo với quyết định thành lập Công ty Công nghệ Viettel(nay là Viện Nghiên cứu và Phát triển Viettel) Trong giai đoạn này, Viettel bắt đầutriển khai hoạt động đầu tư ra các thị trường nước ngoài như Lào, Campuchia, Haiti
Hiện nay Viettel là tập đoàn viễn thông và công nghệ thông tin lớn nhất ViệtNam, được đánh giá là một trong những công ty viễn thông có tốc độ phát triểnnhanh nhất thế giới và nằm trong Top 5 Thương hiệu viễn thông hiệu quả nhất khuvực Đông Nam Á, Top 15 các công ty viễn thông toàn cầu về số lượng thuê bao vớihơn 90 triệu khách hàng trên toàn thế giới
2.1.2 Ngành nghề kinh doanh chính
Một số ngành nghề kinh doanh chính của Viettel có thể kể đến như sau:
- Cung cấp các dịch vụ bưu chính, viễn thông trong nước và quốc tế (baogồm các dịch vụ điện thoại di động, điện thoại cố định, Internet, VoIP, truyền hình,cho thuê kênh, dịch vụ chuyển phát )
- Phát triển các sản phẩm phần mềm trong lĩnh vực điện tử viễn thông, côngnghệ thông tin, Internet
Trang 36- Sản xuất, lắp ráp, sửa chữa và kinh doanh thiết bị điện, điện tử viễn thông,công nghệ thông tin và thiết bị thu phát vô tuyến điện.
- Khảo sát, lập dự án, thiết kế và xây dựng công trình bưu chính, viễn thông,công nghệ thông tin, dự án phát thanh và truyền hình
- Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, địa ốc, khách sạn, du lịch, kho bãi, vậnchuyển
- Xuất nhập khẩu các thiết bị điện tử viễn thông
- Dịch vụ cung cấp thông tin về văn hóa, xã hội, kinh tế trên mạng Internet
và mạng viễn thông
- Sản xuất bột giấy, giấy và bìa; in ấn và các sản phẩm dịch vụ liên quan đến
in ấn
2.1.3 Sơ lược về hoạt động đầu tư nước ngoài của Viettel
Việt Nam hiện có 5 nhà cung ứng dịch vụ mạng viễn thông di động, bao gồmViettel, VinaPhone (thuộc tập đoàn VNPT), MobiFone, Vietnamobile và Gmobile.Trong đó có 3 doanh nghiệp viễn thông đã triển khai các hoạt động tại thị trườngnước ngoài là Viettel, Vinaphone và Mobifone Viettel chính là đơn vị tiên phongtrong việc đầu tư trực tiếp ra nước ngoài từ năm 2006 Áp dụng chiến lược tập trungđầu tư vào phát triển cơ sở hạ tầng, xây dựng mạng di động mới tại nước sở tại, tínhcho đến nay, Viettel đã có mặt tại 10 thị trường với lộ trình phát triển như sau:
- Trong năm 2009, Viettel chính thức khai trương 2 thương hiệu di động tại
2 thị trường gần với Việt Nam nhất là Campuchia và Lào với tên gọi lần lượt làMetfone và Unitel
- Từ năm 2011 đến năm 2013, Viettel liên tiếp cho ra đời thương hiệu diđộng Natcom tại thị trường Haiti, Movitel tại thị trường Mozambique và Telemortại thị trường Đông Timor
- Năm 2014, Viettel tiếp tục đánh dấu sự mở rộng thị trường của mình ranước ngoài bằng việc khai trương dịch vụ di động với thương hiệu Bitel tại thịtrường Peru và triển khai bán hàng cho thương hiệu Nexttel tại thị trường
Trang 37Cameroon Cũng trong năm này, hai thị trường châu Phi khác là Tanzania vàBurundi đã được cấp giấy phép và nằm trong giai đoạn xây dựng hạ tầng Chỉ 1năm sau đó, Viettel cũng chính thức khai trương mạng di động tại 2 thị trường nàyvới thương hiệu Lumitel tại Burundi và Halotel tại Tanzania.
- Năm 2016, Viettel đã chính thức ký kết hợp đồng liên doanh với hai đối tácMyanmar National Telecom Holding Public Limited (MNTH) và Star High PublicCompany Limited (Star High) để xây dựng mạng di động Mytel tại thị trườngMyanmar Tổng vốn đầu tư của liên doanh là 2 tỷ USD, trong đó Viettel nắm giữ49% cổ phần, hai đối tác Star High và MNTH chiếm lần lượt là 28% và 23% Đầunăm 2017, Viettel đã nhận được giấy phép đầu tư dịch vụ viễn thông từ Chính phủMyanmar và đặt mục tiêu sẽ khai trương thương hiệu Mytel sau 12 tháng
Có thể nói rằng đầu tư ra nước ngoài là một trong những chiến lược quan trọngnhất của Viettel Tính đến cuối năm 2016, Viettel đã có mặt tại 10 thị trường vớihơn 35 triệu khách hàng và nằm trong nhóm 30 tập đoàn viễn thông có lượng kháchhàng lớn nhất thế giới Trong vòng 10 năm tới, Viettel đặt mục tiêu sẽ nhận được từ
20 đến 25 giấy phép đầu tư mạng viễn thông ở nước ngoài, với thị trường có tổng sốdân từ 500 đến 600 triệu dân và lọt vào nhóm 10 tập đoàn viễn thông lớn nhất thếgiới
2.2 Phân tích cơ hội phát triển của Viettel tại thị trường Mỹ La tinh
2.2.1 Cơ hội mở rộng thị trường
Bối cảnh đầu tư ra thị trường nước ngoài của Viettel:
Năm 2006 là thời điểm Tập đoàn Viễn thông Quân đội bắt đầu những bước điđầu tiên trong hành trình đầu tư ra nước ngoài Đây cũng chính là thời điểm thịtrường viễn thông trong nước bùng nổ với sự vươn lên mạnh mẽ của các nhà mạng.Theo các số liệu của Hiệp hội Thông tin Di động toàn cầu GSMA Intelligence, tốc
độ tăng trưởng thuê bao Viettel năm 2006 đạt 279% so với năm trước đó; thị phầntăng mạnh từ 17,3% lên 31,7% và mức tiêu dùng trung bình/thuê bao (Arpu) đạtmức tương đối cao là 10,3 USD/tháng, tương đương với khoảng 205.810VNĐ/tháng
Trang 38Từ năm 2009, tốc độ tăng trưởng thuê bao của Viettel có dấu hiệu chậm dần.Trong giai đoạn 2009-2012, trung bình mỗi năm lượng khách hàng của Viettel tạithị trường trong nước chỉ tăng thêm khoảng 22%; thị phần mỗi năm cũng chỉ giànhthêm được khoảng 2%; và Arpu của thuê bao Viettel đã giảm xuống còn trung bình5,66 USD/tháng, tương đương 113.215 VNĐ/tháng Dường như dự đoán trướcđược việc thị trường trong nước sẽ bão hòa nhanh chóng, Viettel đã lên kế hoạchthiết lập hoạt động tại một số thị trường nước ngoài để mở rộng nguồn khách hàngcủa mình Tính đến năm 2009, Viettel đã sở hữu 2 thương hiệu viễn thông tại khuvực Đông Nam Á là Metfone (tại Campuchia) và Unitel (tại Lào), nhanh chóngvươn lên dẫn đầu thị trường nước sở tại với tổng số 3,3 triệu thuê bao Tín hiệuthành công của Viettel tại khu vực Đông Nam Á trở thành động lực để Viettel đưacác nước thuộc khu vực Châu Phi và Mỹ La tinh vào chiến lược phát triển tập kháchhàng mới.
Những điều kiện thuận lợi của thị trường Mỹ La tinh:
Sự tăng trưởng kinh tế nhanh và ổn định:
Trong vài năm gần đây, Mỹ La tinh là một trong những khu vực có tốc độ tăngtrưởng kinh tế nhanh nhất trên thế giới Theo số liệu của World Bank, trong giaiđoạn từ năm 2005 đến năm 2015, tốc độ tăng trưởng GDP trung bình của khu vực
Mỹ La tinh đạt khoảng 3,1%/năm Tổng sản phẩm quốc nội năm 2015 đạt 5,3 nghìn
tỷ USD, cao gấp 2 lần so với con số này tại thời điểm năm 2005 (2,8 nghìn tỷUSD) Tỷ lệ lạm phát duy trì ở mức tương đối thấp và không có quá nhiều biếnđộng, trung bình mỗi năm đạt 4,3% Năm 2015 đã giảm xuống còn 2,9% Sự tăngtrưởng kinh tế của khu vực này chủ yếu được thúc đẩy bởi ba yếu tố chính Thứnhất là sự phát triển bùng nổ của các ngành hàng sản xuất, hàng hóa được sản xuấtnhiều để phục vụ xuất khẩu, tạo ra lượng tiền mặt dư thừa trên thị trường và chophép chính phủ cũng như các ngành tư nhân tại khu vực Mỹ Latinh tăng nhu cầutiêu dùng và đầu tư Thứ hai là xu hướng cải cách tổ chức và tập trung đầu tư pháttriển cơ sở hạ tầng Và cuối cùng là sự phát triển của tầng lớp trung lưu và dân sốtrẻ tại nhiều nước Nền kinh tế phát triển mạnh mẽ và tương đối ổn định của Mỹ Latinh là yếu tố thu hút các nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là các nhà đầu tư vốn tư
Trang 39nhân và đầu tư vốn liên doanh, những người đã đổ nhiều lượng vốn lớn đáng kể vàokhu vực này (Financier Worldwide, 2014).
Tại Mỹ La tinh, Viettel đã lựa chọn 2 thị trường Haiti và Peru để đầu tư Nhìnchung, bản thân 2 thị trường này đều có những đặc điểm kinh tế tương đối thuận lợigiúp mang lại nguồn khách hàng mới cho Viettel
Haiti là một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất tại bán cầu Tây.Mặc dù luôn bị ảnh hưởng nặng nề bởi thiên tai, động đất nhưng trong những nămgần đây, nền kinh tế của Haiti đang có dấu hiệu phục hồi từ sau thảm họa động đấtnăm 2010 Theo số liệu của World Bank, tốc độ tăng trưởng GDP năm 2011 đạt5,5%; năm 2013 đạt 4,2% Tuy rằng đang có xu hướng đi xuống nhưng vẫn đạt mức1,2% vào năm 2015 Tỷ lệ lạm phát đã giảm dần trong giai đoạn 2011 đến 2014,nhưng đến năm 2015 lại tăng mạnh lên mức 9%, là mức cao nhất kể từ sau khi Haitiphải đối mặt với thảm họa động đất năm 2010
Hiện tại, Chính phủ Haiti vẫn tiếp tục triển khai các kế hoạch để thu hút đầu tưnước ngoài như tập trung tăng cường quản lý Nhà nước, xây dựng lại cơ sở hạ tầng
và dịch vụ công cộng, cải cách luật pháp và cơ cấu, đồng thời cải thiện môi trường,tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển lĩnh vực tư nhân Nhờ đó, mức độ đầu tư
tư nhân tại Haiti cũng như tốc độ tăng trưởng kinh tế đang ngày càng tăng cao, hứahẹn sẽ đáp ứng được kỳ vọng của người dân nhờ quá trình phát triển năng động.Trong nhiều ngành kinh tế từ nông nghiệp cho đến sản xuất công nghệ cao, Haitiđều cho thấy khả năng đáp ứng được nhu cầu hoạt động của các doanh nghiệp hàngđầu Những doanh nghiệp này nhờ đã gặt hái được một số thành công nhất định nên
đã tiếp tục đầu tư và mở rộng hoạt động, đồng thời cũng có những ảnh hưởng tíchcực đến đời sống của người dân địa phương và tăng cường phát triển thương hiệucủa mình tại thị trường bản địa Hơn nữa, do tại khu vực Mỹ La tinh hiện cũngkhông có nhiều thị trường phát triển nên Haiti trở thành một thị trường hấp dẫn đểđầu tư và hoạt động kinh doanh
Trong khi đó, Peru là một trong những nền kinh tế đóng vai trò quan trọngnhất tại khu vực Mỹ La tinh Bên cạnh những đặc điểm nổi bật như khí hậu đa dạng,
Trang 40khu vực biên giới rộng lớn, nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào, dân số có trình độhọc vấn và kỹ năng cao, Peru được xem là một trong những thị trường mới nổi hàngđầu trên thế giới, với nền kinh tế ổn định, tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm luônđược giữ ở mức trung bình 5,6% trong vòng 14 năm gần đây, năng suất lao động vànăng lực kinh doanh của người dân đạt mức cao, tỷ giá hối đoái ổn định, lạm phátthấp Trên thực tế, trong vòng 15 năm qua, tỷ lệ lạm phát trung bình hàng năm củaPeru ở mức thấp nhất khu vực Mỹ La tinh, đạt khoảng 2,5%, thấp hơn tỷ lệ lạm phátcủa Chile (2,9%), Colombia (4,6%) và Brazil (6%) Tốc độ tăng trưởng GDP đạtmức ấn tượng, với xấp xỉ 5,8% vào năm 2013, 2,4% vào năm 2014 và 3,3% năm
2015, đưa Peru trở thành một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất trongkhu vực và có mức thu nhập từ trung bình lên trên mức trung bình Sự phát triểnnhanh chóng của nền kinh tế cũng đã giúp cho tỷ lệ nghèo đói của Peru giảm gần18% trong vòng 7 năm, tương đương với 21,8% tổng dân số Peru tại thời điểm năm
2015 (World Bank)
Hiện tại Peru đang nằm trong nhóm các nước đứng đầu khu vực Mỹ La tinh vềmôi trường kinh tế vĩ mô, quy mô thị trường, sự phát triển của thị trường tài chính,hiệu quả của thị trường lao động và thị trường hàng hóa Theo Báo cáo về năng lựccạnh tranh toàn cầu của Diễn đàn Kinh tế Thế giới năm 2016-2017, Peru xếp thứ 67với số điểm là 4,23, tăng 2 bậc so với xếp hạng trong Báo cáo của năm trước đó.Xét riêng về môi trường kinh tế vĩ mô, Peru đạt 5,44 điểm, xếp thứ 33 trên tổng số
138 nền kinh tế trên thế giới Về quy mô thị trường, Peru đạt 4,4 điểm, xếp thứ 48
Về mức độ phát triển của thị trường tài chính, đạt 4,75 điểm, xếp thứ 26 Về hiệuquả của thị trường lao động, đạt 4,34 điểm, xếp thứ 61 Về hiệu quả của thị trườnghàng hóa, đạt 4,37 điểm, xếp thứ 65 (World Economic Forum, 2016) Những yếu tốnày đã giúp cho Peru trở thành điểm đến hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài,trong đó có Viettel
Quy mô thị trường rộng lớn, cơ cấu dân số trẻ và có mức thu nhậptrung bình trở lên:
Một trong những điều kiện thuận lợi nổi bật của khu vực Mỹ La tinh là quy môthị trường lớn với khoảng 633 triệu người, trong đó Brazil và Mexico là hai thị