Lý do chọn đề tài luận văn Giám sát và phản biện xã hội là hoạt động quan trọng nhằm phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, đại diện, bảo vệ quyền và lợi
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
/ ./ HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
TẠ THỊ MINH THU
VAI TRÒ CỦA HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ VIỆT NAM TRONG GIÁM SÁT VÀ PHẢN BIỆN XÃ HỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
Chuyên ngành : Quản lý công
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGỌ VĂN NHÂN
HÀ NỘI - NĂM 2020
Trang 2i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu và kết quả trình bày trong luận văn là trung thực, chưa từng được công bố trong bất kỳ các công trình nào khác, các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 29 tháng 2 năm 2020
Tác giả luận văn
Tạ Thị Minh Thu
Trang 3ii
LỜI CẢM ƠN
Em rất vinh dự khi được học tập và nghiên cứu tại Học viện Hành Chính Quốc gia Để hoàn thành được cuốn luận văn này, em xin chân thành cảm ơn đến các thầy giáo, cô giáo tại Học viện Hành Chính Quốc gia đặc biệt Thầy giáo, TS Ngọ Văn Nhân giảng viên Đại học Luật Hà Nội đã giúp đỡ
em trong quá trình thực hiện, hoàn thiện luận văn cao học về nội dung “Vai trò của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trong giám sát và phản biện xã hội” Đây là công trình nghiên cứu mang tính cá nhân, nhận định của bản thân Do vậy, mặc dù đã rất cố gắng nhưng do thời gian và năng lực có hạn nên chắc chắn Luận văn còn nhiều thiếu sót Em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp ý kiến quý báu của các thầy, các cô
Em xin trân trọng cảm ơn!
Trang 4iii
MỤC LỤC
Trang Trang phụ bìa
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA HỘI LIÊN HIỆP PHỤ
1.3 Nội dung, phương thức hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Hội
1.4 Các yếu tố ảnh hướng tới việc thực hiện vai trò giám sát, phản biện
Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN VAI TRÒ CỦA HỘI LIÊN HIỆP
2.1 Nguyên nhân, kết quả và những hạn chế, bất cập trong thực hiện vai
2.2 Một số bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn thực hiện vai trò của
Chương 3: GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA HỘI LIÊN
3.1 Tiếp tục quán triệt sâu sắc quan điểm, đường lối của Đảng, quyết liệt
cụ thể hơn các chính sách, pháp luật của Nhà nước về giám sát, phản
3.2 Tạo sự phối hợp chặt chẽ giữa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Hội
Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trong hoạt động giám sát, phản biện
3.3 Tăng cường công tác phổ biến, tuyển truyền nâng cao nhận thức của
các cấp Hội, hội viên về vai trò của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam
3.4 Bảo đảm các điều kiện cần thiết cho việc thực hiện vai trò của Hội
Trang 51
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài luận văn
Giám sát và phản biện xã hội là hoạt động quan trọng nhằm phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của nhân dân, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, hiệu quả hoạt động của các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị Đồng thời kịp thời phát hiện và kiến nghị xử lý sai phạm, khuyết điểm; kiến nghị sửa đổi, bổ sung chính sách, pháp luật, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tăng cường đồng thuận xã hội
Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân có vai trò quan trọng trong việc tập hợp, vận động, đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân; đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân; đưa các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, các chương trình kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh vào cuộc sống góp phần xây dựng sự đồng thuận trong xã hội” [12, tr.124] Từ sự nhấn mạnh vị trí, vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, Đảng ta yêu cầu:
“Nhà nước ban hành cơ chế để Mặt trận và các đoàn thể nhân dân thực hiện tốt vai trò giám sát và phản biện xã hội Các cấp ủy đảng và cấp chính quyền
có chế độ tiếp xúc, đối thoại trực tiếp với nhân dân; thường xuyên lắng nghe ý kiến của Mặt trận và các đoàn thể nhân dân phản ánh với Đảng, Nhà nước về những vấn đề mà nhân quan tâm, tham gia xây dựng chủ trương, chính sách, pháp luật Thực hiện tốt Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Quy chế dân chủ ở mọi cấp để Mặt trận, các đoàn thể và các tầng lớp nhân dân tham gia xây dựng Đảng, chính quyền và hệ thống chính trị” [12, tr.124]
Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (Hội) là tổ chức chính trị - xã hội trong
hệ thống chính trị, có tư cách pháp nhân, đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các tầng lớp phụ nữ Việt Nam; phấn đấu vì sự phát triển của phụ nữ và bình đẳng giới Theo quy định tại khoản 2 Điều 9 Hiến pháp
Trang 62
năm 2013, cùng với Công đoàn Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam là “tổ chức chính trị - xã hội được thành lập trên cơ sở
tự nguyện, đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của thành viên, hội viên tổ chức mình; cùng các tổ chức thành viên khác của Mặt trận phối hợp và thống nhất hành động trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam” Hội cũng là thành viên của Liên đoàn Phụ nữ Dân chủ Quốc tế và Liên đoàn các
tổ chức phụ nữ ASEAN Là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội
có vai trò tham mưu, đề xuất, tham gia xây dựng, phản biện xã hội và giám sát việc thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước có liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của phụ nữ, gia đình, trẻ em và bình đẳng giới
Đối với hoạt động giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc
và các tổ chức thành viên, sự ra đời của Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội (Ban hành kèm theo Quyết định số 217-QĐ/TW, ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị) và Quy định
về việc Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền (Ban hành kèm theo Quyết định số 218-QĐ/TW, ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị) thực sự là kết tinh của ý chí và sự hòa quyện giữa ý Đảng với lòng dân Việc Bộ Chính trị (khóa XII) ban hành quy chế, quy định nói trên đã tạo điều kiện, phương tiện để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, trong đó có Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, thực hiện tốt hơn vai trò đại diện bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân; cũng là phương thức mở rộng dân chủ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân
Trong những năm qua, bên cạnh việc tổ chức, thực hiện các chức năng, nhiệm vụ khác của mình, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đã và đang tham gia ngày càng sâu rộng vào hoạt động giám sát và phản biện xã hội, đạt được
Trang 73
nhiều kết quả quan trọng Hoạt động giám sát của Hội đã góp phần xây dựng, thực hiện đúng các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các chương trình kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại; kịp thời phát hiện những sai sót, khuyết điểm, yếu kém và kiến nghị sửa đổi, bổ sung các chính sách cho phù hợp; phát hiện, phổ biến những nhân tố mới, những mặt tích cực; phát huy quyền làm chủ của nhân dân, góp phần xây dựng Đảng, Nhà nước, các cấp chính quyền nói chung, các cấp Hội nói riêng trong sạch, vững mạnh Hoạt động phản biện xã hội của Hội góp phần phát hiện những nội dung còn thiếu, chưa sát, chưa đúng, chưa phù hợp trong các văn bản dự thảo của các cơ quan Đảng, Nhà nước, chính quyền các cấp; kiến nghị những nội dung thiết thực, góp phần bảo đảm tính đúng đắn, phù hợp với thực tiễn đời sống xã hội và tính hiệu quả trong việc hoạch định chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, của hội viên; phát huy dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội
Bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động giám sát của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam cũng còn bộc lộ những hạn chế, nhược điểm nhất định Vẫn còn tình trạng cán bộ, hội viên của Hội nhận thức chưa đầy đủ, đúng đắn
về vị trí, vai trò của hoạt động giám sát, phản biện xã hội, dẫn đến tình trạng e ngại, sợ va chạm trong giám sát, né tránh phản biện xã hội Có lúc, có nơi hoạt động giám sát và phản biện xã hội còn mang tính hình thức, thực hiện qua loa, chiếu lệ cho có Tình hình trên đây có ảnh hưởng nhất định tới vị thế, uy tín của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam nũng như các cấp Hội trong việc thực hiện vai trò giám sát và phản biện xã hội, làm suy hiệu quả của hoạt động này
Trong giai đoạn hiện nay, việc nâng cao nhận thức, thực hiện đúng đắn, đầy đủ vai trò của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trong hoạt động giám sát
và phản biện xã hội vừa là yêu cầu cấp thiết, vừa là nhiệm vụ cấp bách đang
Trang 84
được đặt ra đối với Hội nói chung, các cấp Hội nói riêng Đó cũng là lý do học viên lựa chọn chủ đề “Vai trò của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trong giám sát và phản biện xã hội” làm đề tài luận văn thạc sĩ, chuyên ngành Quản lý công
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Giám sát, phản biện xã hội là một trong những vấn đề quan trọng trong đời sống chính trị ở nước ta hiện nay, bởi thông qua hoạt động giám sát, phản biện xã hội sẽ thấy được sự tham gia của người dân, của các đoàn thể nhân dân trong việc giám sát, kiểm tra các kế hoạch thực hiện phát triển kinh tế - xã hội ở các cấp Hội, địa phương, tính dân chủ, minh bạch và công khai trong đời sống xã hội Đó cũng là lý do vấn đề giám sát, phản biện xã hội thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu ở các cấp độ, các cách tiếp cận khác nhau
2.1 Các công trình nghiên cứu về giám sát, phản biện xã hội nói chung
- Trần Đăng Tuấn, Phản biện xã hội: một số vấn đề chung, Tạp chí Cộng sản số 17 (tháng 9/2007); Phương thức thực hiện phản biện xã hội, Tạp chí Cộng sản số 23 (tháng 12/2007) Trong hai bài viết này, tác giả đã luận bàn dưới nhiều góc độ khác nhau về những vấn đề chung của phản biện xã hội, phân tích khái niệm phản biện, phản biện xa hội, chủ thể, nội dung, phương thức thực hiện phản biện xã hội; khẳng định vai trò quan trọng của phản biện xã hội trong xây dựng chế độ dân chủ hiện đại và dân chủ pháp quyền trong mọi chế độ xã hội, đặc biệt là trong trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân và vì dân; đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao vai trò của phản biện xã hội
- Hồ Bá Thâm và Nguyễn Thị Tường Văn, Phản biện xã hội và phát huy dân chủ pháp quyền, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010 Các tác giả
đã khảo sát thực trạng phản biện xã hội trên các vấn đề tham nhũng, đất đai, ô nhiễm môi trường, giáo dục, y tế, giao thông của Mặt trận Tổ quốc Việt
Trang 95
Nam thành phố Hồ Chí Minh như một mô hình phản biện xã hội ở Việt Nam;
từ đó, chỉ ra những khó khăn, trở ngại khi thực hiện phản biện xã hội ở nước
dư luận xã hội là xác định tính đúng đắn, hợp lý; tính hợp hiến, hợp pháp; tính tất yếu khách quan và tính khả thi của các mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ đặt ra trong các đường lối, chính sách kinh tế - xã hội, trong các dự án, dự thảo luật của Đảng và Nhà nước Để làm được điều đó thì nhất thiết phải tiến hành điều tra, thăm dò dư luận xã hội
- Hoàng Thị Ngân, Một số vấn đề về giám sát xã hội và phản biện xã hội, bài tham luận tại Hội thảo khoa học “Vấn đề phản biện và giám sát xã hội
ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay - thực trạng và giải pháp” do Viện Nghiên cứu khoa học xã hội thành phố Hồ Chí Minh tổ chức năm 2007 Bài viết trình bày khái lược về các vấn đề như khái niệm, nội dung, mục đíc, hậu quả, đặc trưng, vai trò, ý nghĩa của giám sát và phản biện xã hội; chỉ ra những thuận lợi và khó khăn trong thực hiện giám sát và phản biện xã hội
- Trần Hậu, Các hình thức và giải pháp thực hiện giám sát xã hội và phản biện xã hội đối với tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị, Đề tài nghiên cứu khoa học thuộc Chương trình khoa học và công nghệ KX10.06-
10, Hà Nội, 2009 Công trình tập trung luận giải khái niệm giám sát xã hội và phản biện xã hội, phân tích bản chất và nững đặc trưng cơ bản của hoạt động giám sát và phản biện xã hội; vai trò, tác dụng của giám sát, phản biện xã hội
Trang 106
đối với quyền lực chính trị, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong điều kiện cụ thể của nước ta; xác định chủ thể, khách thể, các hình thức, giải pháp thực hiện giám sát xã hội và phản biện xã hội; vận dụng chúng để xử lý các tình huống thực tiễn trong hoạt động của hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay
Ngoài ra, có thể kể đến nhiều công trình nghiên cứu có liên quan khác, như: Nguyễn Trọng Bình, Một số ý kiến về phản biện xã hội, Thông tin Nhà nước và Pháp luật số 4/2007, Viện Nhà nước và Pháp luật, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; Trương Thị Hồng Hà, Xây dựng cơ chế pháp lý bảo đảm cho nhân dân tham gia hoạt động giám sát và phản biện xã hội, Tạp chí Cộng sản số 8)778)/2007, Hà Nội; Hoàng Hải, Về phản biện và giám sát xã hội, Tạp chí Xây dựng Đảng số 9/2009; Trần Hậu, Góp phần tìm hiểu về phản biện xã hội, Tạp chí Lý luận chính trị, số 6/2009, Hà Nội; Trần Quang Hải, Phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội trong sự nghiệp đổi mới, Tạp chí Cộng sản, số 17/2009, Hà Nội; Đoàn Minh Huấn, Vũ Thị Như Hoa, Một số vấn đề về giám sát xã hội và phản biện xã hội, bài viết trong sách “Chính trị học - một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010; Hoàng Minh Hội, Thực trạng pháp luật về giám sát của nhân dân đối với cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam hiện nay và một số kiến nghị, Tạp chí Khoa học, Đại học quốc gia Hà Nội, số 2/2014, Hà Nội Các công trình, bài viết nêu trên đề cập một cách đa dạng, phong phú các vấn đề, khía cạnh liên quan đến giám sát và phản biện xã hội Những công trình này là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích đối với tác giả luận văn khi luận bàn các vấn đề về kháu niệm, đặc trưng, vai trò của hoạt động giám sát và phản biện xã hội
2.2 Các công trình nghiên cứu về giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
- Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đề án nghiên cứu “Phát huy vai trò phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc”, Hà Nội, 2008 Đây là công trình nghiên cứu khá quy mô của Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tập
Trang 117
hợp sự đóng góp ý kiến, các tham luận, thảo luận trong hội thảo của các nhà khoa học, cán bộ lãnh đạo các cấp, các ngành; đã góp phần làm rõ quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về Mặt trận Tổ quốc trong bối cảnh hiện nay, đánh giá thực trạng vai trò, vị trí, chức năng giám sát
và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
- Nguyễn Thanh Bình, Điều kiện đảm bảo cho hoạt động giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tạp chí Mặt trận, số 70, tháng 8/2009, Hà Nội Nội dung bài viết khẳng định tính đúng đắn trong quan điểm của Đảng về giám sát, phản biện xã hội; trên cơ sở đó, kiến nghị Đảng, Nhà nước tạo các điều kiện, cơ chế cần thiết nhằm bảo đảm phát huy vai trò của hoạt động giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
- Nguyễn Đăng Dung, Cơ sở pháp lý nào cho sự hoàn thiện chức năng giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tạp chí Mặt trận, số 81, tháng 7/2010, Hà Nội Trong bài viết, từ sự phân tích chức năng giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, tác giả đi sâu vào việc luận giải cơ sở pháp lý mà Nhà nước cần tập trung xây dựng, hoàn thiện nhằm phát huy chức năng giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
- Trần Ngọc Nhẫn, Giám sát và phản biện xã hội là cơ chế quan trọng
để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát huy dân chủ, tham gia xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Tạp chí Mặt trận, số 88, tháng 2/2011, Hà Nội
Từ sự phân tích khái niệm, bản chất của nền dân chủ, đặc trưng của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, ghi nhận vai trò quan trọng của giám sát và phản biện xã hội, tác giả bài viết khẳng định rằng, trong giai đoạn hiện nay, giám sát và phản biện xã hội là cơ chế quan trọng để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát huy dân chủ, tham gia xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
- Nguyễn Thọ Ánh, Thực hiện chức năng giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hiện nay, Luận án Tiến sĩ Chính trị học, Học
Trang 128
viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2010 Xuất phát
từ quan điểm coi quyền lực nhà nước là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, tác giả luận án coi giám sát và phản biện xã hội là một trong những phương thức cơ bản để nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước là một yêu cầu tất yếu khách quan của quá trình thực hiện quyền làm chủ của nhân dân
Từ sự luận giải nội hàm khái niệm giám sát, phản biện xã hội nói chung, tham chiếu hệ thống giám sát, phản biện xã hội của một số thể chế chính trị trên thế giới, luận án đã luận giải chức năng giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam trong điều kiện một đảng cầm quyền; khẳng định Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam là một chủ thể đặc biệt, nhiều tiềm năng nhất trong thực hiện giám sát và phản biện xã hội
- Hoàng Thị Ánh, Giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc thành phố Đà Nẵng, Luận văn thạc sĩ, Học viện Khoa học xã hội, Hà Nội,
2015 Nội dung luận văn khoa học này đề cập cơ sở lý luận về giám sát, phản biện xã hội, đánh giá thực trạng hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc thành phố Đà Nẵng; từ đó, luận giải một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc thành phố Đà Nẵng
- Nguyễn Văn Pha, Để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện tốt vai trò giám sát và phản biện xã hội, Tạp chí Xây dựng Đảng số 1+2/2016, Hà Nội Bài viết đề cập, phân tích nội hàm khái niệm giám sát, phản biện xã hội; đề xuất một số cơ chế, chính sách, giải pháp có thể thúc đẩy Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện có hiệu quả chức năng giám sát và phản biện xã hội
- Liên quan đến vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam còn có hàng loạt bài viết đăng tải trên các tạp chí khoa học, như: Trần Ngọc Nhẫn, Vai trò phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tạp chí
Lý luận chính trị, 2007, Hà Nội; Đặng Đình Tân, Lại bàn về giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, Tạp chí
Trang 139
Dân vận, số 08/2008; Minh Đức, Để thực hiện tốt vai trò giám sát và phản biện
xã hội của Mặt trận và các đoàn thể nhân dân, Tạp chí Xây dựng Đảng, số 05/2008, Hà Nội Các bài viết này đã khẳng định vị trí, vai trò quan trọng trong thực hiện chức năng giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong điều kiện một đảng cầm quyền ở nước ta hiện nay; đưa ra một loạt các điều kiện để thực hiện tốt chức năng này, như phải luật hóa chức năng giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, phải tạo điều kiện và có cơ chế để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện giám sát, phản biện xã hội trên thực tế, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Sự tổng quan tình hình nghiên cứu trên đây cho thấy đã có rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học đề cập, luận bàn một cách đa dạng, đa chiều về giám sát, phản biện xã hội nói chung, về hoạt động giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nói riêng Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu, đề cập chuyên sâu về hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam Chính vì vậy, học viên chọn thực hiện đề tài “Vai trò của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trong giám sát và phản biện xã hội” với hy vọng kế thừa những kết quả nghiên cứu đã có, tập trung nghiên cứu
về vai trò của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trong giám sát và phản biện xã hội; làm sáng tỏ thực trạng hoạt động giám sát, phản biện xã hội, các kết quả đạt được và hạn chế, bất cập, cũng như chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích
Mục đích nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng thực hiện vai trò của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trong giám sát, phản biện xã hội, xác định rõ nguyên nhân để từ đó đề xuất một số giải pháp bảo đảm phát huy vai trò của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trong giám sát, phản biện xã hội ở nước ta hiện nay
Trang 14Thứ ba, đề xuất, luận giải tính khả thi của một số giải pháp phát huy vai trò của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trong giám sát, phản biện xã hội
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là vấn đề vai trò của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trong giám sát, phản biện xã hội
- Theo thời gian: Luận văn tập trung nghiên cứu tình hình triển khai các hoạt động giám sát, phản biện xã hội, góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền từ năm 2014 đến năm 2018 trong hệ thống Hội Liên hiệp Phụ
Trang 1511
tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam
về vị trí, vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội, của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, về giám sát và phản biện xã hội
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu, đề tài sử dụng các phương pháp phân tích và tổng hợp; phương pháp quy nạp và diễn dịch; phương pháp lịch sử và lôgíc; phương pháp phân tích nguồn thông tin, tài liệu có sẵn; phương pháp thống kê; phương pháp so sánh, khái quát hóa, hệ thống hóa
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Về mặt lý luận
Đề tài góp phần khái quát hóa, phân tích, làm rõ cơ sở lý luận về vai trò của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trong giám sát và phản biện xã hội; đánh giá được thực trạng thực hiện vai trò của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trong giám sát và phản biện xã hội, chỉ rõ nguyên nhân và rút ra một số bài học kinh nghiêm; đồng thời đề xuất, luận giải được một số giải pháp khoa học, khả thi nhằm phát huy vai trò của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trong giám sát và phản biện xã hội
6.2 Về mặt thực tiễn
Với những kết quả nghiên cứu đạt được, đề tài có ý nghĩa thực tiễn quan trọng, có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo đối với học viên, sinh viên các cơ sở giáo dục đại học trong quá trình học tập, nghiên cứu những vấn đề
có liên quan đến giám sát, phản biện xã hội của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam
Kết quả nghiên cứu của đề tài cũng có thể là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích đối với Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam nói chung, các cấp Hội, hội viên nói riêng trong việc triển khai giám sát, phản biện xã hội phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của từng cấp Hội
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có kết cấu gồm 03 chương, 11 tiết
Trang 1612
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ VIỆT NAM TRONG GIÁM SÁT VÀ PHẢN BIỆN XÃ HỘI
1.1 Quản lý nhà nước về hoạt giám sát, phản biện xã hội
1.1.1 Các khái niệm cơ bản
1.1.1.1 Khái niệm giám sát
Giám sát là thuật ngữ được sử dụng khá phổ biến trong các văn bản của Đảng và Nhà nước; tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có được sự thống nhất trong cách hiểu khái niệm này Theo Từ điển Tiếng Việt, giám sát được hiểu
là “sự theo dõi, xem xét làm đúng hoặc sai những điều đã quy định”; hoặc được hiểu là “theo dõi và kiểm tra xem có thực hiện đúng những điều quy định không” [37, tr.55] Còn theo Từ điển Luật học, “Giám sát là sự theo dõi, quan sát mang tính chủ động thường xuyên của các cơ quan tổ chức và nhân dân đối với hoạt động của đối tượng chịu sự giám sát và tác động bằng các biện pháp tích cực để buộc và hướng các hoạt động đó đi đúng quỹ đạo, quy chế nhằm đạt được mục đích, hiệu quả đã được xác định từ trước, bảo đảm cho hiến pháp và pháp luật được tuân thủ nghiêm chỉnh” [51, tr.292]
Theo cuốn Tìm hiểu một số thuật ngữ trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng: “Giám sát là sự theo dõi, kiểm tra, phát hiện, đánh giá của cá nhân, tổ chức, cộng đồng người này đối với cá nhân, tổ chức, cộng đồng người khác trong các lĩnh vực hoạt động kinh tế- xã hội; trong việc thực hiện chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng, Hiến pháp, pháp luật, chính sách của Nhà nước, các quyền, nghĩa vụ công dân, của các tổ chức chính trị- xã hội và những kiến nghị phát huy ưu điểm, thành tựu, xử lý đối với các nhân, tổ chức có những hành vi sai trái” [30, tr.149]
Theo Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội (Ban hành kèm theo Quyết định số
Trang 1713
217-QĐ/TW, ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị): “Giám sát là việc theo dõi, phát hiện, xem xét; đánh giá kiến nghị nhằm tác động đối với cơ quan, tổ chức và cán bộ, đảng viên, đại biểu dân cử, công chức, viên chức nhà nước về việc thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước” [4, tr.2]
Như vậy, giám sát phải luôn gắn với một đối tượng cụ thể, tức là phải trả lời được các câu hỏi: giám sát ai? giám sát việc gì? Điều này có ý nghĩa rất quan trọng ở chỗ, nó giúp phân biệt “hoạt động giám sát” với “hoạt động kiểm tra” Trong “hoạt động kiểm tra” thì chủ thể hoạt động và đối tượng chịu
sự tác động của hoạt động đó có thể đồng nhất với nhau, như việc tự kiểm tra của chủ thể hoạt động Nói cách khác, chủ thể của hoạt động kiểm tra hoàn toàn có thể tự mình căn cứ vào chương trình, mục tiêu, kế hoạch đã đề ra để
tự xem xét, đánh giá tình trạng tốt, xấu của công việc mình đang làm Còn trong “hoạt động giám sát” thì chủ thể không thể tự mình giám sát hoạt động của chính mình được, nghĩa là không thể “tự ngắm mình” được, mà hoạt động giám sát là hoạt động của chủ thể ở bên ngoài hệ thống hướng tới “theo dõi, xem xét”đối tượng thuộc một hệ thống khác, tức là chủ thể thực hiện hoạt động giám sát và đối tượng chịu sự giám sát không nằm trong cùng một hệ thống phụ thuộc nhau
Hoạt động giám sát là hoạt động theo dõi, xem xét, đánh giá có tính bao quát của chủ thể từ bên ngoài hệ thống đối với đối tượng không nằm trong cùng một hệ thống phụ thuộc nhau nhằm bảo đảm việc thực hiện đúng những chuẩn mực, quy định
Trên bình diện chung, hoạt động giám sát được tiến hành trên cơ sở các quyền và nghĩa vụ của chủ thể tiến hành hoạt động giám sát và đối tượng chịu
sự giám sát Hoạt động giám sát có thể mang tính quyền lực nhà nước hoặc không mang tính quyền lực nhà nước tùy thuộc vào chủ thể tiến hành hoạt động giám sát:
Trang 1814
- Hoạt động giám sát mang tính quyền lực nhà nước được tiến hành bởi chủ thể là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với một hay một số hệ thống cơ quan nhà nước khác Chẳng hạn, theo quy định tại Điều 69 Hiến pháp năm 2013, Quốc hội thực hiện việc giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước (Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao); thực hiện quyền giám sát tối cao việc tuân thủ Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội (Điều 70) Hoặc, hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân đối với các cơ quan nhà nước ở địa phương
- Hoạt động giám sát không mang tính quyền lực nhà nước là loại hình giám sát được tiến hành bởi các chủ thể phi Nhà nước, như hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc (Hội Liên hiệp Phụ nữ, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Nông dân ) và công dân đối với bộ máy nhà nước và đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước; hoặc đơn giản chỉ là hoạt động giám sát quá trình thi công một công trình
1.1.1.2 Khái niệm hoạt động phản biện xã hội
Trong đời sống chính trị của một đất nước, các thiết chế cầm quyền luôn đứng trước nhu cầu là phải lựa chọn, đắn đo cân nhắc trong số rất nhiều các dữ kiện chủ quan và khách quan cũng như các lợi ích của các giai cấp, các nhóm xã hội, dân tộc, quốc tế.v.v khác nhau để đưa ra những quyết sách đúng đắn, kịp thời, hợp lý nhất nhằm giải quyết những vấn đề mà thực tiễn cuộc sống đặt ra Do vậy, họ cố tranh thủ ý kiến, nhận xét, đánh của các tổ chức, cá nhân, cộng đồng xã hội Các lực lượng xã hội khác nhau, vì lợi ích của chính mình và lợi ích chung của cả cộng đồng cũng dưới hình thức này hoặc bằng hình thức khác cũng tìm cách đưa ra những quan điểm, chính kiến của mình xung quanh những các vấn đề mà họ quan tâm Kết quả là, nhờ thông qua sự tranh luận, nhận xét, đánh giá, tìm tòi mà các chủ thể khác nhau
đã đưa ra được những quyết sách đúng đắn, phù hợp nhất có thể, áp dụng vào
Trang 19mà ở đó, quan hệ giữa các chủ thể - phản biện và được phản biện - nằm trong mối quan hệ ràng buộc lẫn nhau: một bên là những thiết chế đại diện có trách nhiệm đưa ra các quyết định lãnh đạo, quản lý chung đối với xã hội; bên kia là các cá nhân công dân và các tổ chức xã hội, đoàn thể nhân dân có mối liên hệ về quyền dân chủ, về quyền công dân và sự quan tâm đến lợi ích chung đã đứng ra nêu lên nhận xét, đánh giá, nêu chính kiến về những vấn đề do các thiết chế thực
Trang 2016
thi quyền lực công đưa ra với mong muốn quyết định đó trở nên phù hợp hơn, khả thi hơn và đem lại lợi ích chung cho toàn xã hội Phản biện xã hội là phản biện mang tính nhân dân, tính xã hội rộng rãi
Hoạt động phản biện xã hội với nội dung này đã luôn hiện hữu trong các chế độ nhà nước từ trước đến nay Từ ngàn xưa, đó là chế độ “chiêu hiền, đãi sĩ” để tranh thủ ý kiến người hiền tài, là chế độ can gián vua chúa Trong chế độ tư bản đó là hoạt động đảng phái đối lập, lobby, mít tinh, biểu tình Còn trong chế độ ta, biểu hiện rõ rệt nhất là nguyên tắc đấu tranh phê bình và
tự phê bình trong Đảng, sự xem xét, đánh giá hoạt động trong các cơ quan, tổ chức nhà nước Sự phê bình không phải đơn giản chỉ là nhận xét cá nhân, sự phê phán giữa các cá nhân với nhau, mà phải hiểu sâu xa hơn là cả sự phản biện chủ trương, đường lối, chính sách
Ở nước ta, phản biện hay phản biện xã hội được đề cập nhiều trong khoảng 15 năm trở lại đây Phản biện xã hội dần trở thành một chức năng quan trọng của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội
Một số nhà khoa học cho rằng, phản biện xã hội là nhận xét, đánh giá của xã hội, của nhân dân và các nhà khoa học về nội dung, phương hướng, chủ trương, chính sách, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội, khoa học - công nghệ, giáo dục, y tế, môi trường, trật tự, an ninh Theo cuốn Tìm hiểu một số thuật ngữ trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng:
“Phản biện là nhận xét, đánh giá, bình luận, thẩm định công trình khoa học,
dự án, đề án trong các lĩnh vực khác nhau, là sự phát hiện sai trái và có lập luận về sự sai trái, bắt buộc giải trình” [30, tr.151]; còn “Phản biện xã hội là
sự phản biện nói chung, nhưng là phản biện nằm ngoài nhà nước, mang tính
xã hội, có quy mô và lực lượng rộng rãi hơn của xã hội, của nhân dân và các nhà khoa học về nội dung, phương hướng, chủ trương giải pháp phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng an ninh, đối ngoại của Đảng, Nhà nước
và các tổ chức liên quan” [30, tr.151]
Trang 2117
Khi hoạt động phản biện xã hội diễn ra, người ta hiểu rằng, trước đó đã tồn tại một số vấn đề nhất định trong sự kiến tạo chính sách, pháp luật của cơ quan nhà nước chuyên trách công việc này và khiếm khuyết ấy có thể làm cho bản thân chính sách, pháp luật đó trở nên bất khả thi khi áp dụng vào điều kiện thực tế - không loại trừ khả năng gây nên những hiệu ứng tiêu cực cho các đối tượng chịu tác động trực tiếp của chúng; chẳng hạn, các cộng đồng dân tộc thiểu số hay các nhóm dân cư nông thôn Cho nên, phản biện xã hội thực chất là đưa ra một cách nhìn khác của cộng đồng xã hội đối với chất lượng và triển vọng của chính sách, pháp luật - một cách “nhìn từ bên ngoài”
so với cách “nhìn từ bên trong” của người trong cuộc Hơn nữa, vì đại diện cho trí tuệ và lương tâm cộng đồng nên tự thân cách “nhìn từ bên ngoài” cũng
đã hàm chứa tinh thần mới mẻ, khoa học và thực tiễn
Phản biện xã hội là một nhu cầu tất yếu, khách quan trên con đường xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay Để hướng tới một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, phản biện xã hội được coi là hoạt động không thể thiếu, là một trong những phương thức đặc trưng của việc thực thi nền dân chủ “Phản biện xã hội là sự phản ánh những dư luận xã hội, ý kiến, kiến nghị và kháng nghị của cộng đồng xã hội, của tập thể, tập đoàn người (xây dựng trên mối quan hệ chung về sản xuất, gia đình, chính trị, văn hóa, phong tục, tập quán, lễ giáo ) về một hay nhiều sự việc, vấn đề có liên quan đến lợi ích chung của cộng đồng, tập thể, tập đoàn người
ấy trên cơ sở tổng hợp, phân tích, lập luận (luận giải) khách quan, khoa học,
có tính thuyết phục nhằm phân định rõ giữa cái tốt với cái xấu, cái đúng với cái sai, cái khẳng định với cái phủ định, cái được với cái chưa được, cái hoàn thiện với cái cần tiệp tục hoàn thiện nhằm đáp ứng đúng những yêu cầu do cuộc sống đặt ra, thỏa mãn được lợi ích chung của cộng đồng, tập thể, tập đoàn cũng như của toàn xã hội” [50, tr.54]
Trang 2218
Từ những điểm phân tích, luận giải nêu trên, có thể định nghĩa: Phản biện xã hội là hoạt động phân tích, luận chứng một cách khách quan, khoa học về tính đúng đắn, hợp lý của các đường lối, chính sách, quyết định liên quan tới lợi ích chung của các cộng đồng xã hội do các chủ thể lãnh đạo, quản lý xã hội đưa ra dựa trên các ý kiến, kiến nghị của các tầng lớp xã hội
Xét theo phạm vi, phản biện xã hội có thể được phân chia thành phản biện xã hội phạm vi rộng và phản biện xã hội phạm vi hẹp
Đối tượng của phản biện xã hội phạm vi rộng là các chủ trương, đường lối, chính sách, quyết định lớn, các dự thảo, dự án luật Bất cứ cá nhân, tổ chức, tầng lớp xã hội nào cũng có thể tham gia phản biện phạm vi rộng, trong
đó, ba chủ thể chính và cũng là ba kênh chính để thực hiện phản biện xã hội gồm: (i) Các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp mà quan trọng nhất là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; (ii) Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp; (iii) Dư luận xã hội
Phản biện xã hội phạm vi hẹp là loại phản biện được tiến hành trong phạm vi đối tượng tham gia hẹp, không thông tin và công bố rộng rãi về quá trình và nội dung phản biện Đối tượng của phản biện phạm vi hẹp là những chính sách, đề án có tính chuyên biệt cao, chưa chính thức trở thành chủ trương của nhà nước, có thể bị kẻ địch lợi dụng để xuyên tạc hoặc có thể gây nguy hại cho nền an ninh quốc gia Chủ thể của phản biện phạm vi hẹp phải là các chuyên gia, các nhà khoa học, các cơ quan, đơn vị có chuyên môn sâu, có khả năng đưa ra các nhận xét, đánh giá, quan điểm mang tính khoa học cao [33, tr.82-83]
1.1.1.3 Khái niệm quản lý nhà nước về hoạt động giám sát, phản biện
xã hội
Trên diễn đàn khoa học quản lý hiện nay, khái niệm quản lý đã có được cách hiểu tương đối thống nhất, theo đó, quản lý là sự tác động liên tục, có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý trên các mặt
Trang 2319
chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội thông qua hệ thống chính sách, pháp luật, các nguyên tắc, quy định và bằng các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng quản lý Như vậy, hiểu một cách đơn giản nhất, quản lý chính là sự tác động của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý thông qua các công cụ quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra
Quản lý nhà nước là một dạng đặc biệt của quản lý xã hội, mang tính quyền lực nhà nước Đặc trưng nổi bật của quản lý nhà nước là sử dụng chính sách, pháp luật để điều chỉnh hành vi của cá nhân, tổ chức trên tất cả các mặt của đời sống xã hội do các cơ quan thuộc bộ máy nhà nước thực hiện nhằm phục vụ nhân dân, duy trì trật tự, kỷ cương, bảo đảm sự ổn định và phát triển của xã hội Theo nghĩa rộng, hoạt động quản lý nhà nước có 03 chức năng cơ bản, gồm: (i) Chức năng lập pháp do cơ quan lập pháp thực hiện; (ii) Chức năng hành pháp (chấp hành và điều hành) do hệ thống cơ quan hành chính nhà nước đảm nhiệm; (iii) Chức năng tư pháp do các cơ quan tư pháp thực hiện
Tuy vậy, nếu hiểu theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước là hoạt động hành chính do cơ quan thực thi quyền lực nhà nước (quyền hành pháp) triển khai thực hiện nhằm quản lý, điều hành các lĩnh vực của đời sống xã hội theo quy định của pháp luật Theo nghĩa này, quản lý hành chính nhà nước là hoạt động quản lý được giới hạn trong các cơ quan hành pháp, gồm Chính phủ và Uỷ ban nhân dân các cấp Hệ thống các cơ quan quyền lực, xét xử và kiểm sát thực hiện quyền lập pháp và tư pháp không thuộc hệ thống quản lý hành chính nhà nước Nếu tiếp cận khái niệm quản lý nhà nước dưới góc độ này thì quản
lý nhà nước có 02 chức năng cơ bản, bao gồm: (i) Chức năng lập quy, được thực hiện bằng việc xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để hướng dẫn việc thực hiện pháp luật; (ii) Chức năng tổ chức, điều hành, phối hợp các hoạt động kinh tế - xã hội để đưa pháp luật đi vào thực tiễn đời sống
xã hội
Trang 2420
Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, với mục đích tăng cường sự gắn bó giữa Đảng với nhân dân, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, Đảng ta chủ trương: “Xây dựng quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân đối với việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách, quyết định lớn của Đảng và việc tổ chức thực hiện, kể cả đối với công tác tổ chức và cán bộ” [12, tr.135]
Trong thời kỳ tiếp tục đổi mới toàn diện đất nước, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, việc phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị được Đảng, Nhà nước ta xác định là yêu cầu, nhiệm vụ, giải pháp đặc biệt quan trọng Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã xác định rõ: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là một bộ phận của hệ thống chính trị, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân Đảng Cộng sản Việt Nam vừa là thành viên, vừa là người lãnh đạo Mặt trận Mặt trận hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, hiệp thương dân chủ, phối hợp và thống nhất hành động giữa các thành viên
Các đoàn thể nhân dân tùy theo tính chất, tôn chỉ và mục đích đã được xác định, vận động, giáo dục đoàn viên, hội viên chấp hành luật pháp, chính sách; chăm lo, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên; giúp đoàn viên, hội viên nâng cao trình độ về mọi mặt và xây dựng cuộc sống mới; tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội” [10, tr.87] Điều 2 Hiến pháp năm 2013 cũng đã khẳng định: “1 .Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; 2 Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí
Trang 2521
thức; 3 Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”
Với những tư duy chính trị - pháp lý mới đó, lần đầu tiên ở nước ta có
sự phân công quyền lực nhà nước một cách rành mạch giữa các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp và kiểm soát quyền lực trở thành một nguyên tắc hiến định Đến nay, bộ máy nhà nước được xây dựng và hoàn thiện thêm một bước; nhiệm vụ và quyền hạn của các thiết chế trong bộ máy nhà nước được quy định một cách minh bạch, hạn chế được sự dựa dẫm, ỷ lại; nhân dân có điều kiện để đánh giá hiệu lực và hiệu quả việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi quyền; giữa các quyền có điều kiện để kiểm soát việc thực hiện quyền lực nhà nước được giao Hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội, hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và các tổ chức chính trị - xã hội đối với hoạt động của các cơ quan nhà nước được tăng cường
Trong bộ máy nhà nước, hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước có
vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng Hoạt động của hệ thống cơ quan này diễn
ra trên tất cả các lĩnh vực của đời sống, tác động trực tiếp và thường xuyên đến quyền, lợi ích của các tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần xã hội Do vậy, hoạt động kiểm tra, giám sát đối với cơ quan hành chính nhà nước là yêu cầu khách quan, cần thiết và không chỉ đơn thuần từ phía các cơ quan nhà nước, mà quan trọng hơn là cần phải thiết lập được cơ chế giám sát bên ngoài, trước hết là cơ chế giám sát thường xuyên và có hiệu quả từ phía nhân dân đối với cán bộ, công chức, viên chức, cơ quan hành chính nhà nước nhằm bảo đảm tất cat quyền lực nhà nước thực sự thuộc về nhân dân
Như vậy, quản lý nhà nước về hoạt động giám sát và phản biện xã hội được hiểu là các cơ quan quản lý nhà nước dùng quyền lực nhà nước (quyền hành pháp) quản lý tất cả các hoạt động giám sát và phản biện xã hội trên tất
Trang 2622
cả các lĩnh vực của đời sống chính trị, văn hóa, kinh tế theo quy định của pháp luật Giám sát công tác quản lý nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo; hoạt động giám sát với cơ quan hành chính nhà nước ở một tổ chức hay cơ quan nào đó; phản biện với các dự án luật, các dự án trọng điểm quốc gia, Các hội nghị phản biện xã hội, các cuộc giám sát đã góp phần phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong việc tham gia xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân,
vì nhân dân
1.1.2 Nội dung quản lý nhà nước về hoạt động giám sát, phản biện
xã hội
1.1.2.1 Nội dung quản lý nhà nước về hoạt động giám sát
Nội dung quản lý nhà nước về hoạt động giám sát gắn liền với từng cơ quan, tổ chức, đơn vị cụ thể như sau:
- Đối với tổ chức Đảng: Giám sát việc thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước, việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn thuộc lĩnh vực phụ trách
- Đối với Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, các cơ quan do Quốc hội thành lập, Hội đồng nhân dân các cấp: Giám sát việc thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; chức năng, nhiệm vụ của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các
Ủy ban của Quốc hội, Kiểm toán nhà nước; việc thực hiện chức năng, nhiệm
vụ của Hội đồng nhân dân, thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân các cấp
- Đối với Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp và các cơ quan, tổ chức, đơn vị trực thuộc: Giám sát việc thực hiện quy định của pháp luật về cải cách hành chính, công khai, minh bạch của Chính phủ, nâng cao chỉ số hài lòng của người dân và doanh nghiệp Cụ thể, giám sát công khai trên Cổng thông tin điện tử của
Trang 2723
Chính phủ, các Bộ, ngành địa phương, về kết luận thanh tra về đấu thầu qua mạng, trả lời ý kiến của công dân các hình thức công khai, minh bạch đề người dân biết, các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu nhằm cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trên các linh vực…giám sát việc thực hiện quy định của pháp luật, giảm thủ tục hành chính, giảm thời gian giải quyết việc của công dân, giám sát cách thức lập và công bố chỉ số hài lòng của người dân, doanh nghiệp
- Đối với Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân các cấp, cơ quan điều tra và các cơ quan tiến hành tố tụng khác: Giám sát việc thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong hoạt động xét xử, thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp; việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân các cấp, cơ quan điều tra và các cơ quan tiến hành tố tụng khác Giám sát việc tiếp công dân và giải quyết đơn thư, khiếu nại, tố cáo các địa phương (cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã); giám sát trực tiếp một số vụ việc khiếu nại tố, cáo tại
cơ sở khi cần thiết
- Đối với cán bộ, đảng viên, đại biểu dân cử, công chức, viên chức nhà nước: Giám sát việc chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao; về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, việc giữ mối liên hệ với nhân dân và thực hiện nghĩa vụ công dân nơi cư trú
- Đối với đơn vị sự nghiệp và doanh nghiệp: Giám sát việc thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; chức năng, nhiệm vụ của đơn vị sự nghiệp và doanh nghiệp; giám sát việc đảm bảo
an toàn thực phẩm của các hộ nông dân, hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm; hoạt động các đơn vị sự nghiệp về an toàn thực phẩm Chương trình giám sát việc thực hiện chính sách pháp luật về khai thác tài nguyên bảo vệ môi trường ứng phó với biến đổi khí hậu; giám sát việc
Trang 2824
công tác quản lý, xử lý vi phạm của các nhà máy nhiệt điện các khu công nghiệp các cụm công nghiệp, các dự án khai thác cát sỏi các dòng sông, ứng phó với biến đổi khí hậu và xâm nhập mặn
- Chương trình giám sát việc thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về đổi mới căn bản giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế: Giám sát việc tuyên truyền tổ chức thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW, các quy định Luật Giáo dục, Luật Giáo dục đại học, Luật Giáo dục nghề nghiệp, trọng tâm là giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp; Việc thực hiện nhiệm giáo dục và dào tạo gắn với mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của ngành giáo dục, các
bộ, ngành có liên quan và các địa phương;
- Chương trình phối hợp giám sát việc thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 (khóa XI) về phát triển khoa học, công nghệ và Luật khoa học
và công nghệ: Giám sát việc thực hiện các quy định của Luật khoa học và công nghệ, việc thực hiện các chế độ chính sách về phát triển khoa học và công nghệ: Giám sát việc chấp hành các quy định của Luật Khoa học và công nghệ, việc thực hiện các chế độ, chính sách về phát triển khoa học công nghệ đối với các tổ chức, cá nhân; trong đó, tập trung vào việc đổi mới phương thức đầu tư và cơ chế tài chính trong hoạt động khoa học, công nghệ và chính sách đào tạo, sử dụng, trọng dụng đội ngũ nhân lực, khoa học công nghệ; việc thực hiện ứng dụng và phát triển khoa học và công nghệ gắn với mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội tại bộ, ngành và địa phương; rà soát, đề xuất hoàn thiện và nâng cao chất lượng, tính khả thi của các chính sách, pháp luật về khoa học công nghệ
- Giám sát thực hiện quy định của pháp luật về Bảo hiểm y tế: Giám sát việc vận động toàn dân tham gia bảo hiểm y tế, các hình thức có hiệu quả
Trang 291.1.2.2 Nội dung quản lý nhà nước về hoạt động phản biện xã hội Mặt trận Tổ quốc thực hiện giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử, cán bộ, công chức Hoạt động giám sát của Mặt trận
Tổ quốc được thực hiện bằng các hình thức bao gồm: (i) Động viên nhân dân thực hiện quyền giám sát; (ii) Tham gia hoạt động giám sát với cơ quan quyền lực nhà nước; (iii) Tổng hợp ý kiến của nhân dân và các thành viên của Mặt trận kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền biểu dương, khen thưởng người tốt, việc tốt, xem xét, giải quyết, xử lý những trường hợp vi phạm pháp luật
Nội dung quản lý nhà nước về hoạt động phản biện xã hội bao gồm phản biện các dự thảo văn bản về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật, các quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án phát triển kinh
tế, văn hóa, xã hội của Nhà nước khi được yêu cầu phản biện, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội Cụ thể:
- Tham gia phản biện các dự án Luật Phòng chống tham nhũng (sửa đổi): là sự phù hợp của dự thảo Luật với chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, tính đúng đắn khoa học, khả thi (theo quy định tại khoản 2, Điều 33 Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam)
Trang 3026
- Tham gia phản biện Dự án Luật Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt:
Tổ chức hội nghị phản biện xã hội đến cơ quan, tổ chức cá nhân có liên quan
để lấy ý kiến, phù hợp của dự thảo Luật với chủ trương đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tính đúng đắn khoa học, khả thi (theo quy định tại khoản 2, Điều 33 Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam)
- Phản biện 01 dự thảo Nghị định của Chính phủ về đổi mới cơ chế hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập, đẩy mạnh xã hội hóa một số loại hình dịch vụ sự nghiệp công
- Dự thảo về chủ trương, đường lối của Đảng liên quan đến Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân
- Dự thảo luật, nghị quyết của Quốc hội; dự thảo nghị quyết, pháp lệnh của Ủy ban thường vụ Quốc hội; dự thảo các đề án, dự án, nghị quyết của Hội đồng nhân dân các cấp; dự thảo các văn bản quy phạm pháp luật của Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân các cấp
- Dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án, đề án phát triển kinh tế - xã hội của Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp
- Khi cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ở Trung ương yêu cầu, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chủ trì phản biện:
- Dự thảo văn bản về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước liên quan đến quyền và trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội; liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; về xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; các dân tộc, các tôn giáo và người Việt Nam ở nước ngoài
- Dự thảo quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước, dự án chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; các chương trình,
dự án, đề án lớn về kinh tế - xã hội (trừ những vấn đề thuộc bí mật quốc gia)
Trang 31- Dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền cùng cấp; dự thảo các nghị quyết, chương trình, đề án của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cùng cấp về phát triển kinh tế - xã hội, các nội dung có liên quan đến quyền và trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội; quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân ở địa phương
- Dự thảo đề án về quản lý, phát triển và sử dụng nguồn nhân lực ở địa phương; đề án thu, chi các loại phí, lệ phí, các khoản đóng góp của nhân dân
- Dự thảo đề án thành lập, chia tách, sáp nhập các cơ quan hành chính nhà nước cùng cấp và các đơn vị hành chính
Để giám sát và phản biện xã hội thật sự phát huy hiệu quả trong cuộc sống, các cơ quan chức năng cần nghiên cứu và xây dựng các quy chế, quy định về tiếp thu ý kiến, kiến nghị từ hoạt động giám sát và phản biện xã hội Trong đó, cần cụ thể về trách nhiệm trả lời, trách nhiệm giải quyết với thời gian rõ ràng của từng cơ quan liên quan Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội cần chủ động lựa chọn những nội dung, vấn đề bức xúc mà
xã hội đang quan tâm, liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của hội viên, đoàn viên và nhân dân để xây dựng kế hoạch triển khai
Trang 32Mục tiêu của hoạt động giám sát xã hội và phản biện xã hội của Mặt trân Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội thành viên là phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội trong đại diện, bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân nhằm góp phần nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý nhà nước, hiệu quả hoạt động của các cơ quan trong hệ thống chính trị; kịp thời phát hiện và kiến nghị xử lý sai phạm, khuyết điểm, kiến nghị sửa đổi, bổ sung chính sách pháp luật, phát huy quyền làm chủ của nhân dân; phát hiện những nội dung chưa phù hợp và còn thiếu trong các dự thảo văn bản pháp luật và chính sách; kiến nghị điều chỉnh,
bổ sung góp phần bảo đảm tính đúng đắn, phù hợp với quy luật phát triển và thực tiễn đời sống xã hội, tính hiệu quả trong việc xây dựng chủ trương, chính sách, pháp luật để phát triển đất nước, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, phát huy dân chủ tăng cường đồng thuận xã hội
1.1.3 Phương thức quản lý nhà nước về giám sát, phản biện xã hội 1.1.3.1 Phương thức quản lý nhà nước về hoạt động giám sát
Phương thức là cách thức phương pháp tiến hành nói chung [37, tr.1021] Phương pháp là cách thức nghiên cứu, nhìn nhận các hiện tượng của
tự nhiên và đời sống xã hội
Phương thức quản lý nhà nước là những phương thức, cách thức và chủ thể áp dụng để tác động lên khách thể quản lý nhằm đạt được những mục đích
đề ra
Trang 3329
Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ là mối quan hệ vốn ra đời trước đổi mới Bước sang thời kỳ xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, mối quan hệ này được xem
là một trong những mối quan hệ lớn, được nhận thức sâu sắc hơn và rõ hơn trong điều kiện mới Yêu cầu đặt ra đối với hoạt động giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội là một nhiệm vụ rất lớn tìm ra cho mình phương phương pháp giám sát và các hình thức phản biện phải mang tính đúng đắn, khoa học, khả thi cao Trong
đó, hoạt động giám sát chủ yếu dựa trên 03 hình thức: (i) Tham gia giám sát với cơ quan quyền lực nhà nước; (ii) Vận động nhân dân giám sát và (iii)
Tự mình giám sát
Hoạt động giám sát đối với các vụ việc, vụ án cụ thể cho đến nay trên thực tế cũng có những quan điểm khác nhau kể cả giám sát của cơ quan nhà nước và giám sát xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Sự khác nhau về quan điểm cũng phản ánh đây là vấn đề rất mới trong hoạt động giám sát, vì
nó liên quan tới lý luận và các nguyên tắc cơ bản của việc phân công, thực hiện, kiểm soát quyền lực nhà nước và hệ thống chính trị Việt Nam
Thứ nhất, trường hợp giám sát tại một cơ sở (cơ quan nhà nước, cơ quan Đảng; đơn vị sự nghiệp; doanh nghiệp):
- Người đứng đầu cơ quan Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hoặc đoàn thể chính trị - xã hội có yêu cầu giám sát trao đổi với cơ quan quản lý nhà nước hoặc cơ quan đảng cấp trên của sơ sở dự kiến được giám sát để thống nhất về mục đích, nội dung, yêu cầu giám sát, quy trình giám sát và xử
lý sau giám sát
- Việc giám sát cần làm rõ mức độ chấp hành pháp luật hoặc các quy định của Đảng, kết quả thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cơ sở được giám sát, những thành tích, đóng góp của cơ sở và các yếu kém, sai phạm phải sửa chữa, khắc phục
Trang 3430
- Lập đoàn giám sát có đại diện của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội và các tổ chức thành viên liên quan, của
cơ quan quản lý nhà nước trực tiếp hoặc cơ quan đảng cấp trên trực tiếp của
cơ sở được giám sát, các chuyên gia ở lĩnh vực liên quan
- Nếu giám sát đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp hoặc một cơ quan quản
lý nhà nước thì quyết định lập đoàn giám sát phải phù hợp với các quy định của pháp luật về kiểm tra, giám sát Nếu giám sát một cơ quan Đảng thì quyết định lập đoàn giám sát phải phù hợp với Điều lệ Đảng và các quy định của Đảng về kiểm tra, giám sát
- Thông báo kịp thời cho cơ quan, tổ chức được giám sát về mục đích, yêu cầu, nội dung giám sát, thời gian tiến hành giám sát và thành phần đoàn giám sát
- Báo cáo kết quả giám sát tại mỗi cơ sở do trưởng đoàn giám sát ký, có kèm theo phần ghi ý kiến của lãnh đạo cơ sở được giám sát
- Báo cáo tổng hợp kết quả giám sát ở cơ sở và các kiến nghị do Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hoặc đoàn thể chính trị - xã hội chủ trì giám sát được gửi tới các cấp chính quyền hoặc cấp ủy đảng liên quan
Thứ hai, trường hợp giám sát tại nhiều cơ sở trong địa bàn một tỉnh, huyện:
- Người đứng đầu Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hoặc đoàn thể chính trị - xã hội cấp tỉnh hoặc cấp huyện có yêu cầu giám sát trao đổi thống nhất với lãnh đạo cơ quan quản lý nhà nước cấp tỉnh, huyện hoặc cơ quan tỉnh
ủy, huyện ủy về mục đích, nội dung, yêu cầu, quy trình giám sát và xử lý sau giám sát Việc quyết định số lượng cơ sở được giám sát, thời gian giám sát nên cân nhắc để vừa đạt mục tiêu giám sát, vừa tiết kiệm các nguồn lực cho việc giám sát
- Quyết định thành lập các đoàn giám sát phải phù hợp với các quy định của pháp luật, Điều lệ Đảng và các quy định của Đảng về kiểm tra, giám sát
- Lập đoàn giám sát có đại diện của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội và các tổ chức thành viên liên quan, của
Trang 351.1.3.2 Phương thức quản lý nhà nước về hoạt động phản biện xã hội Cùng với giám sát, hoạt động phản biện xã hội đã tạo điều kiện để các tầng lớp Nhân dân phát huy quyền làm chủ, tham gia vào quá trình xây dựng pháp luật, các chủ trương, chính sách, chương trình, kế hoạch phát triển kinh
tế - xã hội của địa phương và đất nước
Phản biện xã hội nói lên sự phản hồi của xã hội đối với các hoạt động lãnh đạo, quản lý của Đảng và Nhà nước Phản biện xã hội về thực chất là người dân, các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp của dân góp sức với Đảng và Nhà nước trong việc xây dựng các chủ trương, chính sách, chuẩn bị các quyết định của về chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội Mục đích chính trị của phản biện xã hội là góp phần tạo ra và bảo đảm sự đồng thuận xã hội, sự đoàn kết toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Phản biện xã hội là một hình thức, một biện pháp cụ thể thể hiện quyền của dân và
ý thức trách nhiệm của dân đối với công việc chung của đất nước, thể hiện lòng tin của cơ quan lãnh đạo đối với mối quan hệ chặt chẽ giữa Đảng và Nhà nước với dân, tin ở trình độ chính trị của dân, mức độ hiểu biết của dân về lãnh đạo và quản lý
Hàng năm xây dựng chương trình, kế hoạch phản biện xã hội; Tổ chức hội nghị phản biện xã hội; Gửi dự thảo văn bản được phản biện xã hội đến cơ
Trang 3632
quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để lấy ý kiến; Tổ chức đối thoại trực tiếp giữa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với cơ quan, tổ chức có văn bản được phản biện xã hội Thành phần tham gia hội nghị phản biện là các chuyên gia, nhà khoa học trên các lĩnh vực liên quan đến nội dung phản biện, mỗi hội nghị đều
có ít nhất 5-10 nghiên cứu sâu của các nhà khoa học, các dự thảo văn bản luôn được gửi trước để các chuyên gia nhà phản biện có thời gian nghiên cứu, cho ý kiến, các hội nghị phản biện xã hội đều có sự tham dự của đại diện Ban soạn thảo, Tổ biên tập, lãnh đạo cơ quan ban hành văn bản tham dự, giải trình tiếp thu
ý kiến của các chuyên gia, đồng thời có sự tham gia của các cơ quan báo chí
Sau khi Hội nghị phản biện xã hội, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đều có văn bản phản biện gửi các cơ quan, tổ chức có dự thảo được phản biện và cơ quan tổ chức có thẩm quyền phê duyệt hoặc ban hành văn bản Bên cạnh đó, các tổ chức chính trị - xã hội cũng tổ chức phản biện xã hội nhiều văn bản quy phạm pháp luật, liên quan trực tiếp đến quyền và nghĩa
vụ của hội viên, đoàn viên của tổ chức mình Trên cơ sở ý kiến ghi nhận từ hội nghị phản biện xã hội và đối chiếu với các chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước liên quan đến vấn đề góp ý phản biện xã hội, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lựa chọn, đề xuất các nội dung sửa đổi bổ sung hợp lý vào dự thảo Luật, dự thảo đề án [26]
Trong bối cảnh Việt Nam hiện nay để phát huy dân chủ tăng cường đồng thuận, phản biện xã hội đang trở thành một nhu cầu khách quan của xã hội, tình hình kinh tế, chính trị, xã hội ở nước ta có nhiều thay đổi, kéo theo nhiều vấn đề phức tạp cần có sự đồng thuận, sự chung tay của toàn xã hội cùng với Đảng, Nhà nước để giải quyết Phản biện xã hội là công cụ, kênh thông tin quan trọng và không thể thiếu giúp cấp ủy, chính quyền đưa ra các nội dung quyết định đúng đắn, hợp lòng dân Phản biện xã hội đã được thực hiện trên thực tế và đạt được những kết quả bước đầu rất quan trọng, góp phần xây dựng Đảng, chính quyền
Trang 3733
Có thể khẳng định rằng, phương thức hay phương pháp tiến hành trong việc triển khai các hoạt động giám sát, phản biện xã hội phải bảo đảm các nguyên tắc, các quy định về pháp luật, không làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của các cơ quan, tổ chức chịu sự giám sát, phản biện xã hội là cơ
sở pháp lý quan trọng để phát huy vai trò của quản lý nhà nước trong giám sát
và phản biện xã hội
1.2 Khái quát về Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam
1.2.1 Vị trí, vai trò của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài…là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; tập hợp phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, thực hiện dân chủ, tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc [30, tr.139]
Là tổ chức thành viên của Mặt trận tổ quốc Việt Nam, sinh thời Chủ tịch Hồ Chí minh luôn quan tâm và đánh giá cao vị trí vai trò của phụ nữ trong quá trình phát triển của lịch sử dân tộc Việt Nam Bác từng nhấn mạnh:
“Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu
mà thêm tốt đẹp, rực rỡ”; “'Nhân dân ta anh hùng là nhờ có các bà mẹ Việt Nam anh hùng”; “Dân tộc ta và Đảng ta đời đời biết ơn các bà mẹ Việt Nam
đã sinh ra và cống hiến những người ưu tú, đã và đang chiến đấu anh dũng tuyệt vời bảo vệ non sông gấm vóc do tổ tiên ta để lại”
Với hơn 19 triệu hội viên, thời gian qua Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam là tổ chức giữ vai trò nòng cốt trong việc tập hợp, đoàn kết và động viên chị em tham gia tích cực vào thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã
Trang 3834
hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Để thực hiện tốt vị trí, vai trò, chức năng của
tổ chức Hội là tổ chức đại diện cho lợi ích của phụ nữ, là trung tâm tập hợp đoàn kết phụ nữ Việt Nam, hướng dẫn và vận động chị em phấn đấu vì sự nghiệp giải phóng phụ nữ, bình đẳng nam nữ, vì sự nghiệp phát triển và hạnh phúc của phụ
nữ, vì sự nghiệp đổi mới, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội văn minh Các nhiệm vụ được giao Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam có các vai trò cụ thể:
Một là, tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, lý tưởng cách mạng, phẩm chất đạo đức, lối sống; đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước;
Hai là, vận động các tầng lớp phụ nữ chủ động, tích cực thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc; vận động, hỗ trợ phụ nữ nâng cao năng lực, trình độ, xây dựng gia đình hạnh phúc; chăm lo cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của phụ nữ;
Ba là, tham mưu đề xuất, tham gia xây dựng, phản biện xã hội và giám sát việc thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước có liên quan đến các quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của phụ
nữ, gia đình và trẻ em;
Bốn là, xây dựng, phát triển tổ chức Hội vững mạnh;
Năm là, đoàn kết, hợp tác với phụ nữ các nước, các tổ chức, cá nhân tiến bộ trong khu vực và thế giới vì bình đẳng, phát triển và hòa bình
Vai trò đại diện của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam được xác định cụ thể hơn thể hiện thông qua việc quy định Cơ quan Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam “có quyền trình dự án luật trước Quốc hội, trình dự án pháp lệnh trước Ủy ban thường vụ Quốc hội” [38]; “đại diện cơ quan Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam có thể được mời dự các phiên họp công khai của Quốc hội” [39]; “người đứng đầu cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội được mời tham dự phiên họp của Chính phủ khi bàn các vấn đề có
Trang 3935
liên quan” [39]; cơ quan Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam “có quyền đề nghị Ủy ban thường vụ Quốc hội giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh” [40] Đây là những cơ sở pháp lý quan trọng, tạo điều kiện thuận lợi để Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam thực hiện giám sát và phản biện xã hội, kiến nghị và theo dõi các cơ quan có thẩm quyền tiếp thu kiến nghị, đề xuất của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam
Như vậy, giám sát và phản biện xã hội là một trong năm nhiệm vụ trọng tâm của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam để Hội thực hiện chức năng đại diện của tổ chức mình
Để đảm bảo cho Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam thực hiện vai trò, trách nhiệm giám sát, phản biện xã hội, tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, Hiến pháp năm 2013 quy định: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận và các tổ chức xã hội khác hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật Nhà nước tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận và các tổ chức xã hội khác hoạt động”
Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống chính trị Việt Nam, có địa vị pháp lý được xác lập bằng chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, các quy định trong Hiến pháp và pháp luật Là một thành tố của hệ thống chính trị, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam có mối quan hệ gắn bó hữu cơ với các thành tố khác trong hệ thống gồm: Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội
Trong mối quan hệ với Nhà nước, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam được nhà nước thừa nhận và bảo hộ bằng việc quy định các quyền và nghĩa
vụ pháp lý của tổ chức Hội Theo đó, Hội không phải là bộ phận trong cơ cấu của bộ máy nhà nước nhưng Hội có quyền tham gia quản lý nhà nước, các
Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm trong việc đảm bảo cho các cấp Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tham gia quản lý Nhà nước
Trang 4036
Khi xây dựng dự án luật, dự thảo nghị quyết trình Quốc hội, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết trình Ủy ban thường vụ Quốc hội, dự thảo nghị định của Chính phủ, Chính phủ gửi dự thảo văn bản để Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cơ quan Trung ương, các Tổ chức chính trị - xã hội
có liên quan tham gia ý kiến Chính phủ tạo điều kiện thuận lợi để Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cơ quan trung ương, các Tổ chức chính trị - xã hội tuyên truyền, phổ biến pháp luật trong Nhân dân, động viên,
tổ chức Nhân dân tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân, tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử, cán bộ, công chức và viên chức “Chính phủ có trách nhiệm nghiên cứu và trả lời các kiến nghị của Trung ương Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam”
1.2.2 Cơ cấu tổ chức của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam
Trong suốt chặng đường 90 năm (20/10/1930 - 20/10/2020) trưởng thành và phát triển, dưới sự lãnh đạo dìu dắt của Đảng Cộng sản Việt Nam do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện, tổ chức Hội Phụ nữ được rèn luyện, trưởng thành qua từng thời kỳ cách mạng gắn liền với sự lớn mạnh và phát triển của cách mạng Việt Nam Tổ chức Hội không ngừng được củng cố và phát triển
Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc
tự nguyện, dân chủ, liên hiệp, thống nhất hành động Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam là tổ chức thống nhất trong cả nước với hệ thống tổ chức chặt chẽ ở 4 cấp: Trung ương; Tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và tương đương (gọi chung là cấp tỉnh); Huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh và tương đương (gọi chung là cấp huyện); Xã, phường, thị trấn và tương đương (gọi chung là cấp cơ sở) Như vậy, hệ thống tổ chức Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam được thành lập tương ứng với hệ thống tổ chức hành chính nhà nước