1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh bắc kạn

128 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 128
Dung lượng 1,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan, đề tài "Quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn” là công trình nghiên cứu khoa học của riêng t

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

/

BỘ NỘI VỤ

./

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

/

BỘ NỘI VỤ

./

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, đề tài "Quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn” là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định

Tác giả

Nông Đình Thép

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập và thực hiện đề tài này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các Thầy, Cô tại Học viện Hành chính Quốc gia và của các Sở, Ban, ngành tỉnh Bắc Kạn

Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng chí lãnh đạo và bạn bè đồng nghiệp đã dành sự quan tâm giúp đỡ tận tình trong suốt 02 năm qua

Đặc biệt tôi xin trân trọng cảm ơn sự hướng dẫn khoa học của Cô giáo, Tiến sĩ Hoàng Thị Cường đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành luận văn này

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày … tháng năm 2020

Tác giả

Nông Đình Thép

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài luận văn 1

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn 2

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 4

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn 4

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 6

7 Kết cấu của luận văn 6

Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC KHOÁNG SẢN 7 1.1 Cơ sở lý luận về bảo vệ môi trường trong hoạt động khoáng sản 7

1.1.1 Khái niệm về khoáng sản, bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản 7

1.1.2 Đặc điểm của bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản9 1.2 Quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản 12

1.2.1 Vai trò của quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản 12

1.2.2 Các yếu tố tác động quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản 13

1.2.3 Nội dung quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản 16

1.2.4 Công cụ quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản 17

1.3 Các hoạt động khai thác khoáng sản tác động đến môi trường 21 1.4 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trong hoạt

Trang 6

động khai thác khoáng sản 22

1.4.1 Tỉnh Cao Bằng 22

1.4.2 Tỉnh Thái Nguyên 26

1.4.3 Bài học kinh nghiệm đối với tỉnh Bắc Kạn 32

Tiểu kết chương 1 34

Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC KHOÁNG SẢN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC KẠN 35

2.1 Khái quát về tỉnh Bắc Kạn 35

2.1.1 Vị trí địa lý, địa hình 35

2.1.2 Điều kiện tự nhiên 36

2.1.3 Các yếu tố kinh tế - xã hội 40

2.2 Tình hình hoạt động khai thác khoáng sản tác động đến môi trường 43

2.2.1 Thực trạng hoạt động khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn 43 2.2.2 Thực trạng bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản 47 2.3 Thực trạng quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn 49

2.3.1 Hệ thống quản lý nhà nước về môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản 49

2.3.2 Thực hiện chiến lược, chính sách và kế hoạch bảo vệ môi trường 52

2.3.3 Về quan trắc và kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản 54

2.3.4 Giám sát môi trường 58

2.3.5 Công tác tuyên truyền, giáo dục về bảo vệ môi trường 60

2.3.6 Sử dụng công cụ quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản 60

2.4 Đánh giá việc thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trong

Trang 7

hoạt động khai thác khoáng sản 70

2.4.1 Kết quả đạt được 70

2.4.2 Yếu kém 73

2.4.3 Nguyên nhân yếu kém 75

2.4.4 Những vấn đề đặt ra trong quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn 77

Tiểu kết chương 2 81

Chương 3: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC KHOÁNG SẢN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC KẠN 82

3.1 Quan điểm, mục tiêu quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản 82

3.1.1 Quan điểm 82

3.1.2 Mục tiêu 83

3.2 Căn cứ đề xuất giải pháp quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản 84

3.2.1 Thực trạng quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản 84

3.2.2 Nhiệm vụ quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản 85

3.3 Giải pháp cơ bản nhằm tăng cường quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn 89

3.3.1 Sắp xếp hợp lý công tác cán bộ quản lý bảo vệ môi trường 89

3.3.2 Tăng cường vai trò, nhiệm vụ của cơ quan chuyên môn 90

3.3.3 Nâng cao năng lực cán bộ quản lý môi trường về hoạt động khai thác khoáng sản cấp tỉnh, huyện, xã 92

3.3.4 Hoàn thiện các công cụ quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường hướng tới phát triển bền vững 93

Trang 8

3.3.5 Tăng cường công tác thanh tra, giám sát ở địa phương 98

3.4 Kiến nghị thực hiện giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn 99

Tiểu kết chương 3 102

KẾT LUẬN 103

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 105

Trang 9

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BVTM : Bảo vệ môi trường

ĐTM : Báo cáo đánh giá tác động môi trường HĐKTKS : Hoạt động khai thác khoáng sản HĐND : Hội đồng nhân dân

KT-XH : Kinh tế - Xã hội

ÔNMT : Ô nhiễm môi trường

QCVN : Quy chuẩn kỹ thuật Việt Nam

QLNN : Quản lý nhà nước

QPPL : Quy phạm pháp luật TNKS : Tài nguyên khoáng sản UBND : Ủy ban nhân dân

Trang 10

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1: Sơ đồ hệ thống quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường 50 Hình 2.2: Sơ đồ cơ cấu tổ chức, bộ máy của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bắc Kạn 51

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ

Bảng 2.1: Số lượng điểm quan trắc định kỳ theo các thành phần môi trường 55Biểu đồ 2.1: Biểu đồ biến động Số lượng các điểm quan trắc môi trường 55

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài luận văn

Tỉnh Bắc Kạn được tái thành lập tỉnh từ ngày 01 tháng 7 năm 1997; là một tỉnh miền núi nằm sâu trong nội địa vùng Đông Bắc với có tổng diện tích

tự nhiên là 4.868,41 km2, tổng dân số của tỉnh là 313.905 người với 7 dân tộc cùng sinh sống Tỉnh Bắc Kạn có phía Đông giáp tỉnh Lạng Sơn; phía Tây giáp tỉnh Tuyên Quang; phía Nam giáp tỉnh Thái Nguyên; phía Bắc giáp tỉnh Cao Bằng và có vị trí quan trọng về mặt an ninh quốc phòng Tỉnh Bắc

Kạn được biết đến là tỉnh có “suối đãi vàng, có Hồ Ba Bể, có nàng áo xanh”,

đặc biệt Hồ Ba Bể được ghi nhận là một trong 20 hồ nước ngọt đẹp nhất thế giới, được công nhận là Vườn di sản ASEAN và năm 2011 được UNESCO công nhận Hồ Ba Bể là một vùng đất ngập nước có tầm quan trọng của thế giới - là khu Ramsar thứ 3 của Việt Nam Tỉnh Bắc Kạn còn được biết đến là một tỉnh “xanh” đạt tỷ lệ che phủ lên đến 72,4% và là tỉnh có độ che phủ rừng lớn nhất cả nước Bắc Kạn được đánh giá là một trong những tỉnh có thế mạnh, tiềm năng về khoáng sản, đến nay đã phát hiện 273 mỏ và điểm khoáng sản với 24 loại khoáng sản khác nhau Khoáng sản phân bố ở hầu hết các huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh, trong đó nhiều khoáng sản có giá trị, như: chì, kẽm, sắt, vàng tập trung nhiều ở khu vực huyện Chợ Đồn, Ngân Sơn, Pác Nặm, Na Rì; đá vôi và cát sỏi làm vật liệu xây dựng thông thường tập trung chủ yếu ở huyện Chợ Đồn, Na Rì, thành phố Bắc Kạn, huyện Chợ Mới

Trong những năm qua, ngành công nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản tỉnh Bắc Kạn được quan tâm đầu tư, phát triển đã đem lại nhiều nguồn lợi trước mắt, động lực cho phát triển các ngành kinh tế khác và đóng góp đáng

kể cho ngân sách tỉnh so với các lĩnh vực khác, giai đoạn 2011 - 2018, tỷ lệ đóng góp ngân sách từ hoạt động khoáng sản chiếm 40% tổng thu ngân sách

Tuy nhiên, khoáng sản là một tài nguyên đặc biệt, không tái tạo được và không phải là vô tận; HĐKTKS có sự tác động xấu nhất định đến môi trường,

Trang 12

như: các sự cố sụt lún tại thị trấn Bằng Lũng và xã Bằng Lãng, vỡ đập chứa bùn thải quặng đuôi mỏ sắt Bản Cuôn 1, xã Ngọc Phái (huyện Chợ Đồn), xưởng tuyển luyện khoáng sản phát tán khói bụi gây ô nhiễm làm cây thông, cây mỡ chết tại xã Bằng Vân (huyện Ngân Sơn), xã Bằng Lãng (huyện Chợ Đồn), xã Cẩm Giàng, huyện Bạch Thông Các sự cố môi trường xảy ra với tần suất cao hơn, ảnh hưởng tới cảnh quan, môi trường, đất đai, môi trường nước, đặc biệt đối với sức khỏe con người và gây bức xúc trong dư luận

Cùng với xu phát triển ngành công nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản và trên cơ sở các quy định của pháp luật về HĐKTKS, tỉnh Bắc Kạn đã ban hành nhiều quy định, chính sách QLNN về khoáng sản, môi trường, phê duyệt Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2010 - 2020, có xét đến năm 2025; Quy hoạch bảo vệ môi trường tỉnh Bắc Kạn đến năm 2015, định hướng đến năm 2020 đã bước đầu

đề cập đến công tác bảo vệ môi trường trong hoạt động khoáng sản Tuy nhiên, chủ yếu tập trung định hướng cho việc khai thác tài nguyên khoáng sản, tăng sản lượng khai thác khoáng sản năm sau cao hơn năm trước và chưa quan tâm đến vấn đề cạn kiệt tài nguyên khoáng sản, ô nhiễm môi trường từ hoạt động khoáng sản, chưa có giải pháp căn cơ về công tác quản lý nhà nước

về bảo vệ môi trường trong hoạt động khoáng sản

Từ những bất cập, hạn chế nêu trên, để đánh giá thực trạng công tác QLNN về BVMT trong hoạt động khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn và đề xuất các giải pháp quản lý BVMT hiệu quả hơn Tác giả lựa

chọn Đề tài "Quản lý nhà nước trong hoạt động khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn" để làm luận văn tốt nghiệp

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

Hiện nay, có khá nhiều công trình, đề án nghiên cứu về lĩnh vực BVMT tại các địa phương, tại các làng nghề, khu công nghiệp, xử lý chất thải trong

đó đã đề cập về vấn đề gây ÔNMT từ hoạt động khai thác khoáng sản;

Trang 13

Đề tài khoa học "Nghiên cứu đề xuất các giải pháp sử dụng hợp lý tài nguyên khoáng sản năng lượng Việt Nam và BVMT", "nghiên cứu, đề xuất giải pháp hiệu quả nhằm bảo vệ khoáng sản chưa khai thác”- Chủ nhiệm đề tài: TS Lại Hồng Thanh (Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản);

Bài viết kết quả nghiên cứu khoa học “BVMT trong khai thác khoáng sản: Cần một giải pháp đồng bộ và lâu dài” - Tạp trí môi trường của Bộ Tài nguyên và Môi trường (Thạc sỹ Trần Trung Kiên);

QLNN về khai thác tài nguyên khoáng sản ở Việt Nam của tác giả Nguyễn Thị Hiệp;

Các nghiên cứu về thực trạng khai thác khoáng sản ở Việt Nam đồng thời rà soát hệ thống văn bản QPPL của Việt Nam về khoáng sản (Luật khoáng sản, Luật BVMT và các văn bản có liên quan); Trên cơ sở đó, đề xuất những giải pháp, nội dung cơ bản để thực hiện tốt hơn công tác QLNN về tài nguyên khoáng sản, cũng như đảm bảo công tác BVMT trong HĐKTKS

Các công trình nghiên cứu đề xuất bảo vệ môi trường trong HĐKTKS trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn:

UBND tỉnh đã xây dựng và phê duyệt phê duyệt kế hoạch ngăn chặn ngăn chặn, xử lý hoạt động khai thác, vận chuyển, chế biến khoáng sản, trái phép gây hủy hoại môi trường trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn;

Đề án “Nâng cao hiệu quả quản lý Quy hoạch, thăm dò, khai thác, chế biến, vận chuyển và tiêu thụ khoáng sản, chống thất thu ngân sách từ HĐKTKS trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn, giai đoạn 2017-2020”;

Quy định quản lý HĐKTKS trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn; Quy hoạch thăm

dò, khai thác và sử dụng khoáng sản tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2013 - 2020;

"Nghiên cứu ảnh hưởng của công nghệ khai thác các mỏ kim loại chì kẽm Bắc Kạn đến môi trường" (Thạc sĩ Nguyễn Phúc Đán)

Các chương trình, đề án, dự án đã đề cập nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý HĐKTKS, góp phần thực hiện tác BVMT được tốt hơn

Trang 14

Cho đến thời điểm chưa có nhiều công trình làm rõ QLNN về BVMT trong HĐKTKS một cách hệ thống từ góc độ của quản lý công; đặc biệt tại các địa phương có tiềm năng về khoáng sản như tỉnh Bắc Kạn Tác giả lựa chọn đề tài luận văn "Quản lý nhà nước về môi trường trong hoạt động khoáng sản trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn" với góc độ tiếp cận riêng và không bị trùng lặp với các công trình đã công bố

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

Xây dựng căn cứ khoa học, đề xuất phương hướng và giải pháp cơ bản quản lý nhà nước về BVMT trong HĐKTKS trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Hệ thống cơ sở lý luận về QLNN đối với công tác BVMT trong HĐKTKS;

Phân tích thực trạng QLNN về công tác BVMT trong HĐKTKS trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn;

Đề xuất giải pháp cơ bản QLNN về công tác BVMT trong HĐKTKS trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

4.1 Đối tượng nghiên cứu:

Hoạt động QLNN về BVMT trong hoạt động khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn

Trang 15

chứng và duy vật lịch sử để xem xét vấn đề QLNN đối với BVMT nói chung

và BVMT trong HĐKTKS nói riêng Vận dụng cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, Pháp luật trong Quản lý công, Khoa học QLNN về kinh tế, xã hội

5.3 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Đây là phương pháp chủ yếu được sử

dụng để xây dựng cơ sở khoa học, cơ sở thực tiễn của luận văn Thông qua phân tích các tài liệu chính thức và không chính thức, từ các tài liệu được công bố, các báo cáo, thống kê của Tổng cục Địa chất Khoáng sản, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Công Thương, Bộ Xây dựng, UBND tỉnh Bắc Kạn, các bài viết trên các báo, tạp chí chuyên ngành và một số trang Website

có liên quan tới vấn đề QLNN về BVMT trong HĐKTKS;

- Phương pháp phân tích tổng hợp: Trên cơ sở tìm hiểu các công trình

nghiên cứu, các tài liệu, các báo cáo để đưa ra những đánh giá, nhận định thực trạng về quản lý nhà nước về công tác BVMT trong HĐKTKS trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn; chỉ rõ nguyên nhân và đề xuất giải pháp phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm, hạn chế trong QLNN về BVMT trong HĐKTKS trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn

- Phương pháp thống kê: Tác giả đã tiến hành thống kê số liệu, văn bản

liên quan về HĐKTKS và QLNN về BVMT trong HĐKTKS của Chính phủ, Bộ Tài nguyên Môi trường, Bộ Công Thương, Bộ Xây dựng, Tổng cục Địa chất Khoáng sản, UBND tỉnh Bắc Kạn và một số bài viết, báo cáo khoa học khác Từ

đó phân tích thực trạng QLNN về BVMT trong HĐKTKS tỉnh Bắc Kạn

- Phương pháp so sánh: Tác giả so sánh các thông tin, số liệu liên quan

tới vấn đề nghiên cứu để thấy được sự thay đổi trong công tác QLNN về BVMT trong HĐKTKS tỉnh Bắc Kạn trong thời gian qua

- Tác giả đã sử dụng nguồn số liệu thứ cấp, từ các kết quả:

Báo cáo và báo cáo khảo sát, của Tổng cục Địa chất và Khoáng sản

Trang 16

Việt Nam, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Công Thương, Bộ Xây dựng

Báo cáo của UBND tỉnh Bắc Kạn về công tác bảo vệ môi trường giai đoạn 2011-2015 và các năm: 2016, 2017, 2018

Báo cáo của UBND tỉnh Bắc Kạn về công tác quản lý khoáng sản giải đoạn 2011-2015 và các năm: 2016, 2017, 2018

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Ý nghĩa thực tiễn

Góp phần hoàn thiện các cơ chế, chính sách và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác BVMT trong hoạt động khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn trong thời gian tới

- Ý nghĩa khoa học

Hoàn thiện cơ sở lý luận QLNN về BVMT trong HĐKTKS;

Đánh giá hiện trạng hoạt động QLNN về BVMT trong HĐKTKS thời gian qua

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành ba chương:

Chương 1: Cơ sở khoa học quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản

Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn

Chương 3: Đề xuất giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn

Trang 17

Chương 1

CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

TRONG HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC KHOÁNG SẢN

1.1 Cơ sở lý luận về bảo vệ môi trường trong hoạt động khoáng sản

1.1.1 Khái niệm về khoáng sản, bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản

a) Khoáng sản

Khoáng sản là khoáng vật, khoáng chất có ích được tích tụ tự nhiên ở thể rắn, thể lỏng, thể khí tồn tại trong lòng đất, trên mặt đất, bao gồm cả khoáng vật, khoáng chất ở bãi thải của mỏ Theo tính chất của công dụng, khoáng sản được chia ra làm bốn nhóm: Khoáng sản kim loại, khoáng sản phi kim, khoáng sản nhiên liệu và khoáng sản nước

HĐKTKS là các hoạt động thăm dò khoáng sản, khai thác khoáng sản hoặc chế biến khoáng sản

b) Bảo vệ môi trường trong hoạt động khoáng sản

Môi trường là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau, vì vậy cũng có nhiều định nghĩa khác nhau về môi trường Môi trường

sử dụng trong lĩnh vực quản lý là khái niệm được hiểu như là mối liên hệ giữa con người và tự nhiên, trong đó môi trường được hiểu như là những yếu

tố, hoàn cảnh và điều kiện tự nhiên bao quanh con người

Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác

động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật (Điều 3 Luật

BVMT năm 2014) Con người, sinh vật trở thành trung tâm trong mối quan hệ

với tự nhiên và các yếu tố vật chất nhân tạo Môi trường được tạo thành bởi

vô số các yếu tố vật chất, trong đó những yếu tố vật chất tự nhiên như đất, nước, không khí, ánh sáng âm thanh, các hệ thực vật, hệ động vật có ý nghĩa đặc biệt quan trọng hơn cả Những yếu tố này được coi là những thành phần

Trang 18

cơ bản của môi trường Chúng hình thành và phát triển theo những quy luật tự nhiên vốn có và nằm ngoài khả năng quyết định của con người Con người chỉ

có thể tác động tới chúng trong chừng mực nhất định Bên cạnh những yếu tố vật chất tự nhiên, môi trường còn bao gồm cả những yếu tố nhân tạo Những yếu tố này do con người tạo ra nhằm tác động tới các yếu tố thiên nhiên để phục vụ cho nhu cầu của bản thân mình, như: khai thác, chế biến khoáng sản, thủy điện, công trình xây dựng hạ tầng kỹ thuật

BVMT trong HĐKTKS có thể hiểu là những hoạt động cải thiện môi trường khi thực hiện khai thác khoáng sản nhằm giữ cho môi trường luôn trong lành, cân bằng sinh thái, giảm thiểu và ngăn chặn suy thoái, ô nhiễm và sự cố môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên

* QLNN về BVMT trong HĐKTKS:

QLNN là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật nhà nước để điều chỉnh các hành vi của con người trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm thỏa mãn nhu cầu hợp pháp của con người, duy trì sự

ổn định và phát triển của xã hội

QLNN về môi trường xác định rõ chủ thể là Nhà nước, bằng chức trách, nhiệm vụ và quyền hạn của mình đưa ra các biện pháp, luật pháp, chính sách kinh tế, kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống và phát triển bền vững KT-XH quốc gia

QLNN về BVMT trong HĐKTKS là QLNN về môi trường đối với các hoạt động thăm dò, khai thác và chế biến khoáng sản; các tổ chức, cá nhân HĐKTKS phải thực hiện các thủ tục hành chính và phải có biện pháp phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường, thực hiện các yêu cầu về bảo vệ, cải tạo và phục hồi môi trường, như:

(1) Thu gom và xử lý nước thải theo quy định của pháp luật;

(2) Thu gom, xử lý chất thải rắn theo quy định về quản lý chất thải rắn;

Trang 19

(3) Tìm kiếm biện pháp ngăn ngừa, hạn chế việc phát tán bụi, khí thải độc hại và tác động xấu khác đến môi trường xung quanh;

(4) Xây dựng kế hoạch cải tạo, phục hồi môi trường cho toàn bộ quá trình thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản và tiến hành cải tạo, phục hồi môi trường trong quá trình thăm dò, khai thác và chế biến khoáng sản;

(5) Ký quỹ phục hồi môi trường theo quy định của pháp luật;

(6) Khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản phải đảm bảo tiết kiệm, hiệu quả, đảm bảo sự hài hòa lợi ích giữa nhà nước, doanh nghiệp, người dân

Khoáng sản có vai trò rất quan trọng và là nguồn nguyên liệu chính cho nhiều ngành công nghiệp then chốt, phục vụ sinh hoạt và bảo vệ sức khỏe con

Trang 20

người HĐKTKS góp phần quan trọng trong hoạt động xuất khẩu để thu ngoại

tệ, đối ứng để nhập khẩu một số hàng hóa phục vụ sản xuất, tiêu dùng trong nước; Thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư vào HĐKTKS góp phần phát triển kinh tế, xã hội; Tăng thu ngân sách quốc gia; Tạo việc làm cho người lao động; Thúc đẩy phát triển các ngành kinh tế khác phục vụ HĐKTKS Ngành công nghiệp khoáng sản là một ngành chiếm tỷ trọng cao trong nền kinh tế; là sản phẩm xuất khẩu chính, đem lại nguồn thu ngân sách lớn của nhiều quốc gia, điển hình như công nghiệp khai dầu mỏ ở các nước Tây Á, thác đồng ở Chilê, công nghiệp than đá ở Ucraina, Bruei, Cooet, Venezuela HĐKTKS diễn ra rất sôi động, phức tạp và nguy cơ tác động đến môi trường là rất lớn BVMT trong HĐKTKS có các đặc điểm sau:

- Sự tác động đến môi trường từ HĐKTKS là rất lớn và không thể tái tạo đối với các khoáng sản sau khi được khai thác, sử dụng Công tác BVMT phải được quản lý chặt chẽ và trách nhiệm BVMT thuộc về cơ quan QLNN

có thẩm quyền và trách nhiệm các tổ chức, cá nhân tham gia HĐKTKS

Nhà nước với tư cách là chủ thể quản lý mọi hoạt động của đời sống xã hội, HĐKTKS theo sự định hướng, quy hoạch phát triển và cấp giấy phép HĐKTKS; Nhà nước thiết lập và trao quyền cho các cơ quan thực hiện chức năng QLNN về môi trường trong HĐKTKS Trong phạm vi thẩm quyền được giao, các cơ quan QLNN có trách nhiệm thực hiện các biện pháp nhằm quản

lý tốt công tác BVMT trong HĐKTKS

Các tổ chức, cá nhân HĐKTKS là chủ thể, tác nhân trực tiếp gây ra những tác động đến môi trường, do đó các chủ thể này có trách nhiệm thực hiện các biện pháp nhằm BVMT trong HĐKTKS; Trước khi thực hiện HĐKTKS, tổ chức cá nhân phải lập các biện pháp BVMT theo quy định của pháp luật và được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt

- BVMT trong HĐKTKS được Nhà nước quy định cụ thể thông qua văn bản QPPL về BVMT nói chung và BVMT trong hoạt động khai thác

Trang 21

khoáng sản nói riêng; cũng như các quy định cụ thể về HĐKTKS, cấp phép HĐKTKS, phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc đăng ký kế hoạch BVMT, phê duyệt phương án cải tạo và phục hồi môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản và thanh tra, kiểm tra HĐKTKS đồng thời tổ chức thực hiện BVMT trong HĐKTKS để phát hiện và xử lý kịp thời các nguy cơ

sự cố, vi phạm các quy định về BVMT

- Tác động môi trường trong HĐKTKS có phạm vi ảnh hưởng rộng vừa trực tiếp, vừa gián tiếp đến môi trường; sự tác động rất phức tạp và có tác động ảnh hưởng lâu dài đến môi trường BVMT trong HĐKTKS cần phải được thực hiện đồng bộ, khoa học, chặt chẽ và đồng bộ; ngoài sự quản lý trực tiếp của Nhà nước, sự chấp hành công tác BVMT của các tổ chức, cá nhân HĐKTKS thì cần có sự tham gia giám sát của Nhân dân

- Quá trình BVMT diễn ra thường xuyên, liên tục kể cả thời gian lâu dài sau khi kết thúc HĐKTKS; chi phí BVMT là rất lớn; công tác BVMT rất phức tạp, khó khăn BVMT trong HĐKTKS cần thiết phải có sự đầu tư về kinh phí, khoa học kỹ thuật, nguồn lực có trình độ chuyên môn Đồng thời, phải có sự phân công, phân phân cấp và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chuyên môn, giữa các cấp; cũng như sử dụng kết hợp nhiều biện pháp kinh tế, chính trị, tuyên truyền, giáo dục, pháp lý trong hoạt động BVMT

- Các hoạt động khai thác khoáng sản có nguy cơ gây ra nhiều tác động xấu đến môi trường xung quanh; việc thực hiện công tác BVMT trong HĐKTKS là rất cần thiết, quan trọng nhằm giảm thiểu tối đa sự tác động đến cảnh quan và hình thái môi trường; tích tụ hoặc phát tán chất thải rắn; làm ảnh hưởng đến nguồn nước, ô nhiễm nước, ô nhiễm không khí, ô nhiễm đất; làm ảnh hưởng đến đa dạng sinh học; gây tiếng ồn và chấn động; sự cố môi trường; tác động đến công nghiệp nói chung; tác động đến kinh tế - xã hội; gây ảnh hưởng đến sức khoẻ và an toàn của người lao động

Trang 22

- Việc thực hiện tốt công tác BVMT trong HĐKTKS chính là đảm bảo

sự phát triển bền vững và sử dụng có trách nhiệm, có hiệu quả tài nguyên khoáng sản tự nhiên Có vai trò quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế,

xã hội của mỗi quốc gia; giảm thiểu sự tác động xấu đến an toàn, an ninh trật

tự, giảm thiểu tệ nạn xã hội khu vực có khoáng sản

- Khoáng sản là tài sản của quốc gia; khai thác, sử dụng, quản lý tốt tài nguyên khoáng sản và đặc biệt thực hiện tốt việc bảo vệ tốt môi trường trong HĐKTKS sẽ là động lực, nguồn vốn ban đầu để phát triển các ngành kinh tế khác; xây dựng công trình phúc lợi xã hội tại địa phương có khoáng sản

1.2 Quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản

1.2.1 Vai trò của quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản

- BVMT nói chung, BVMT trong HĐKTKS nói riêng là vấn đề chung của xã hội, Nhà nước phải quản lý về công tác BVMT vì sự tồn tại và phát triển của xã hội

- Nhà nước bảo đảm khoáng sản được bảo vệ, khai thác, sử dụng hợp

lý, tiết kiệm, hiệu quả, làm nguồn lực quan trọng cho phát triển kinh tế, xã hội; đồng thời, phải đảm bảo về công tác BVMT trong HĐKTKS

- Nhà nước thực hiện định hướng, quy hoạch và xây dựng quy định của pháp luật về HĐKTKS đảm bảo tính hiệu quả KT-XH và BVMT

- Xây dựng tổ chức, bộ máy, đào tạo phát triển nguồn nhân lực thực hiện nhiệm vụ QLNN về BVMT nói chung, BVMT trong HĐKTKS nói riêng; đầu tư, khuyến khích đầu tư vào lĩnh vực BVMT; hợp tác, chuyển giao công nghệ nhằm phát triển xanh và BVMT

- Đầu tư cơ sở vật chất sẵn sàng ứng phó, phòng ngừa với các sự cố môi trường trong HĐKTKS; đầu tư trở lại cho các địa phương, người dân nơi

có HĐKTKS

Trang 23

- Xây dựng hệ thống pháp luật về tài nguyên khoáng sản phải gắn với các yêu cầu về BVMT trong hoạt động khai thác khoáng sản Bên cạnh những

cơ chế quản lý nhằm đảm bảo sự kiểm soát của nhà nước đối với nguồn tài nguyên khoáng sản và giám sát đối với quá trình khai thác, chế biến khoáng sản, pháp luật về khoáng sản nói riêng và pháp luật về môi trường nói chung đều có riêng những quy định về vấn đề BVMT trong hoạt động khai thác khoáng sản

- Quy định rõ chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn QLNN về hoạt động khai thác khoáng sản cho các cơ quan QLNN từ Trung ương đến địa phương

- Xây dựng hệ thống các tiêu chuẩn, QCVN quốc gia về môi trường ngày càng được hoàn thiện Hoạt động khai thác khoáng sản có tác động trực tiếp đến các thành phần của môi trường như nước, đất, không khí

- Xây dựng, ban hành các chính sách pháp luật nhằm thúc đẩy kinh tế hóa trong lĩnh vực khai thác khoáng ngày càng được áp dụng rộng rãi và mang lại hiệu quả cao, góp phần nâng cao hiệu quả kiểm soát ÔNMT và tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước Trong đó, quy định các khoản thu từ HĐKTKS, như: Thuế tài nguyên; Phí BVMT đối với khai thác khoáng sản; Phí BVMT đối với chất thải rắn; Phí BVMT đối với nước thải Đồng thời, khuyến khích việc áp dụng khoa học công nghệ trong HĐKTKS để nâng cao tính hiệu quả kinh tế và giảm thiểu tối đa đến môi trường

- Định hướng, quy hoạch và xây dựng chiến lược thăm dò, khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên khoáng sản

- Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật về BVMT trong hoạt động khai thác khoáng sản

1.2.2 Các yếu tố tác động quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản

QLNN về BVMT trong HĐKTKS chịu sự tác động của nhiều yếu tố ảnh hưởng, tác động chủ yếu như sau:

Trang 24

- Yếu tố chính trị: Chủ trương, đường lối của Đảng đóng vai trò định hướng, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động BVMT trong HĐKTKS Quan điểm của Đảng về BVMT thể hiện qua nhiều giai đoạn, ở nhiều chỉ thị, nghị quyết của Đảng; điển hình như: Nghị quyết 41-NQ/TW của Bộ Chính trị về BVMT trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, Nghị quyết số 02-NQ/TW ngày 25/4/2011 của của Bộ Chính trị về định hướng chiến lược khoáng sản và công nghiệp khai khoáng đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030, Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 03/6/2013 của Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương khóa XI về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và BVMT, Chương trình hành động số 12-CTr/TU ngày 06/8/2013 của Tỉnh ủy Bắc Kạn về chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương (khóa XI) về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản

lý tài nguyên và bảo vệ môi trường Các quan điểm của Đảng là cơ sở để tiếp thu nhiều nguyên tắc BVMT mới “phát triển bền vững công nghiệp khai khoáng gắn với BVMT và đảm bảo quốc phòng - an ninh" là những quan điểm mới, thể hiện nhận thức mới về BVMT trong HĐKTKS

Trên cơ sở văn bản của Trung ương, Tỉnh Bắc Kạn ban hành nhiều văn bản về BVMT trong HĐKTKS, như: Chỉ thị số 08-CT/TU ngày 02/7/2012 của BTV Tỉnh ủy về ngăn chặn, xử lý hoạt động khai thác, vận chuyển, chế biến khoáng sản trái phép gây hủy hoại môi trường, Kết luật số 10-KL/TU ngày 28/7/2017 của BTV Tỉnh ủy về việc tiếp tục lãnh đạo thực hiện có hiệu quả việc ngăn chặn, xử lý hoạt động khai thác, vận chuyển, chế biến khoáng sản trái phép gây hủy hoại môi trường với nhiều giải pháp thực hiện công tác BVMT trong HĐKTKS

- Yếu tố pháp luật: Hệ thống pháp luật có tác động trực tiếp đến công tác quản lý về môi trường trong HĐKTKS và việc ban hành các văn bản QPPL phù hợp với thực tế của địa phương; hoạt động BVMT trong HĐKTKS

Trang 25

có phạm vi rộng, liên quan đến nhiều lĩnh vực như: Luật BVMT, Luật khoáng sản, Luật đầu tư, Luật xây dựng, Luật bảo vệ và phát triển rừng nên việc cụ thể hóa các văn bản pháp luật của Trung ương vào điều kiện thực tiễn của địa phương là rất cần thiết; tuy nhiên, giữa các Luật còn nhiều bất cập, chồng chéo, chưa thống nhất nên ảnh hưởng không nhỏ đến công tác quản lý, như: Những hạn chế trong các quy định của thuế tài nguyên, phí và lệ phí môi trường, quỹ môi trường, bộ chỉ thị môi trường của tỉnh, hướng dẫn các văn bản pháp luật còn chưa được cụ thể và chi tiết

- Yếu tố kinh tế, văn hóa, xã hội: Nhân tố này có ảnh hưởng lớn đến kết quả QLNN Áp lực về phát triển kinh tế, về thu ngân sách đã tác động không nhỏ đến hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản, đặc biệt đối với tỉnh nghèo như tỉnh Bắc Kạn; để đảm bảo kế hoạch, chỉ tiêu phát triển kinh tế đã đề ra khi các ngành kinh tế khác phát triển thì việc tập trung khai thác khoáng sản

là một trong những lựa chọn không thể tránh khỏi sự tác động xấu đến môi trường từ hoạt động khai thác khoáng sản, giảm hiệu lực QLNN về BVMT trong HĐKTKS và chỉ chú trọng đến lợi ích kinh tế

Về văn hóa, xã hội: Mỗi địa phương, vùng miền có các đặc thù của nhóm dân cư, các tầng lớp trong xã hội, phong tục tập quán, điều kiện KT-XH khác nhau QLNN về BVMT trong HĐKTKS cần căn cứ trên thực tiễn này để đưa ra những quyết định phù hợp nhất, như: Tỉnh Bắc Kạn hơn 80% là người dân tộc thiểu số, trình độ học vấn ở mức độ trung bình, nhận thức của người dân về BVMT còn hạn chế; trong khi, các mỏ khoáng sản hầu hết nằm trong các vùng đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống nên hoạt động khai thác khoáng sản gây tác động không nhỏ đến đời sống, văn hóa của người dân và thậm trí phát sinh tệ nạn, mất trật tự an toàn xã hội Các yếu tố văn hóa, xã hội như: Tập tục, tập quán, văn hóa bản địa cũng có tác động lớn đến QLNN, như các người dân tộc thiểu số sinh sống tại các làng bản miền núi từ bao đời nay, việc chuyển đổi nghề là một quá trình khó khăn, đòi hỏi sự nỗ lực của các cấp quản lý trong thời gian dài

Trang 26

- Yếu tố về chất lượng nguồn nhân lực quản lý: Trình độ cán bộ quản lý

về môi trường có tác động lớn đến kết quả BVMT trong HĐKTKS; đóng vai trò quyết định trong việc ban hành chính sách, pháp luật và tổ chức thực thi các quy định về BVMT trong HĐKTKS Tỉnh Bắc Kạn, lực lượng làm công tác quản lý đa phần là cán bộ trẻ, kinh nghiệm quản lý chưa nhiều, nhận thức

về BVMT trong HĐKTKS cũng còn có những hạn chế nhất định Đây là những yếu tố tác động không nhỏ đến QLNN về BVMT trong HĐKTKS của tỉnh Bắc Kạn

- Yếu tố về tổ chức thực hiện QLNN: QLNN về BVMT trong HĐKTKS tỉnh Bắc Kạn hiện nay có nhiều mặt chưa theo kịp yêu cầu phát triển KT-XH của tỉnh; chất lượng chuyên môn, kỹ thuật của cán bộ về lĩnh vực HĐKTKS còn thiếu và còn yếu; về quy hoạch và tổ chức thực hiện quy hoạch phát triển để các ngành kinh tế khác chưa có giải pháp căn cơ, đột phá nên vẫn phụ thuộc rất lớn vào ngành công nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản nên gây áp lực cho công tác QLNN về BVMT trong HĐKTKS

- Các yếu tố khác, như: An ninh, quốc phòng; công nghệ; hội nhập quốc tế đều có những tác động đáng kể đến công tác QLNN về BVMT trong HĐKTKS

1.2.3 Nội dung quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản

QLNN về môi trường trong HĐKTKS là một trong những hệ thống quản lý của nhà nước về môi trường bao gồm các nội dung cơ bản sau:

- Xây dựng, ban hành theo thẩm quyền và tổ chức thực hiện các văn bản QPPL, ban hành hệ thống tiêu chuẩn, QCVN môi trường trong HĐKTKS

- Xây dựng, chỉ đạo thực hiện chiến lược, chính sách, chương trình, đề

án, quy hoạch, kế hoạch về BVMT trong HĐKTKS

- Xây dựng, quản lý các công trình BVMT, công trình có liên quan đến BVMT trong HĐKTKS Như trồng rừng thay thế, xây dựng các hệ thống đê

kè, hồ chứa bùn thải quặng đuôi

Trang 27

- Tổ chức, xây dựng, quản lý hệ thống quan trắc; định kỳ đánh giá hiện trạng môi trường, dự báo diễn biến môi trường trong HĐKTKS

- Xây dựng, thẩm định và phê duyệt quy hoạch BVMT; thẩm định báo cáo đánh giá môi trường chiến lược; thẩm định, phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường và kiểm tra, xác nhận các công trình BVMT; tổ chức xác nhận kế hoạch BVMT trong HĐKTKS Cấp, gia hạn, thu hồi giấy phép, giấy chứng nhận về môi trường trong HĐKTKS

- Chỉ đạo, hướng dẫn và tổ chức thực hiện các hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học; quản lý chất thải; kiểm soát ô nhiễm; cải thiện và phục hồi môi trường trong HĐKTKS

- Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về BVMT; thanh tra trách nhiệm QLNN về BVMT; giải quyết khiếu nại, tố cáo về BVMT; xử lý

- Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực BVMT trong HĐKTKS

1.2.4 Công cụ quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản

Công cụ QLNN về BVMT trong HĐKTKS là các biện pháp hành động nhằm thực hiện công tác quản lý môi trường của nhà nước, các tổ chức khoa học và sản xuất Mỗi công cụ có một chức năng và phạm vi tác động nhất định, chúng liên kết và hỗ trợ lẫn nhau Theo bản chất có thể chia công cụ QLNN về BVMT trong HĐKTKS thành các loại cơ bản sau:

- Công cụ chính sách và pháp luật

Trang 28

Công cụ luật pháp, chính sách hay còn gọi là các công cụ pháp lý bao gồm các văn bản về luật quốc tế, luật quốc gia, các văn bản khác dưới luật (Luật, pháp lệnh, nghị định, quy định các tiêu chuẩn môi trường, giấy phép môi trường) kế hoạch, chiến lược và chính sách môi trường quốc gia, các ngành kinh tế và địa phương có liên quan đến HĐKTKS Ngoài ra, còn phải tuân thủ pháp luật quốc tế mà Việt Nam tham gia, ký kết; Việt Nam đã tham gia và ký kết nhiều văn bản trong số đó, điển hình như: Hiệp định Paris

về biến đổi khí hậu, Công ước khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu, Công ước đa quốc gia về môi trường (Basel, Stockholm, Rotterdam, Đa dạng Sinh học, Ramsar), Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UN Environment), Quỹ Môi trường Toàn cầu (GEF) Hiện nay, Luật bảo vệ môi trường được Quốc hội thông qua ngày 23 tháng 6 năm 2014 là văn bản quan trọng nhất về lĩnh vực BVMT; nhiều khía cạnh BVMT cũng được điều chỉnh,

đề cập trong các văn bản pháp luật khác, như Luật khoáng sản, Luật khát triển

và bảo vệ rừng, Luật dầu khí, Luật hàng hải, Luật tài nguyên nước, Luật đầu

tư, Luật xây dựng, các văn bản hướng dẫn luật, quy định của địa phương và

hệ thống các tiêu chuẩn, quy chuẩn về môi trường Các văn bản pháp luật về BVMT được ban hành theo trình tự chặt chẽ, khả thi, bảo đảm tính hệ thống, tính thứ bậc, đáp ứng tốt hơn yêu cầu BVMT trong HĐKTKS Tuy nhiên, hiện tại có nhiều vấn đề mà pháp luật về BVMT trong HĐKTKS còn nhiều chồng chéo, bất cập

- Công cụ kinh tế

Công cụ kinh tế hay còn gọi là công cụ dựa vào thị trường là công cụ chính sách được sử dụng nhằm tác động tới chi phí và lợi ích trong hoạt động của các cá nhân, tổ chức kinh tế để tạo ra các tác động ảnh hưởng tới hành vi của các tác nhân kinh tế theo hướng có lợi cho môi trường Một số công cụ

kinh tế chủ yếu là:

+ Thuế tài nguyên: Là một khoản thu của ngân sách Nhà nước đối với các doanh nghiệp HĐKTKS, tài nguyên thiên nhiên

Trang 29

+ Thuế, phí môi trường: Thuế, phí môi trường là công cụ kinh tế nhằm đưa chi phí môi trường vào giá thành sản phẩm theo nguyên tắc “Người gây ô nhiễm phải trả tiền” Thuế, phí môi trường nhằm hai mục đích chủ yếu: Khuyến khích người gây ô nhiễm giảm lượng chất ô nhiễm thải ra môi trường

và tăng nguồn thu cho ngân sách Trên thực tế thuế/phí môi trường được áp dụng dưới nhiều dạng khác nhau tuỳ thuộc mục tiêu và đối tượng ô nhiễm: Thuế/phí đánh vào nguồn ô nhiễm, thuế/phí đánh vào sản phẩm gây ô nhiễm,

và thuế/phí đánh vào người sử dụng Phí BVMT trong khai thác khoáng sản được tính theo sản lượng khai thác, các tổ chức/cá nhân có HĐKTKS hoặc sử dụng tài nguyên thiên nhiên phải nộp một chi phí nhất định cho nhà nước theo quy định; ký quỹ BVMT trong HĐKTKS Mức phí thải tương ứng với chi phí các dịch vụ môi trường được sử dụng Phí đánh vào người sử dụng còn nhằm mục đích hạn chế việc sử dụng quá mức các dịch vụ môi trường Việc đánh thuế theo sản lượng đầu ra cũng không tạo được động cơ khuyến khích các doanh nghiệp tích cực sản xuất sạch hơn hoặc xử lý chất thải Cách đánh thuế/phí căn cứ vào số lượng chất thải thực tế sẽ có hiệu quả rõ ràng hơn về mặt môi trường Việc thu phí trên cơ sở tự nguyện các hộ sản xuất tự kê khai nên cơ quan quản lý khó kiểm soát được mức độ chính xác thông qua việc kê khai này nên không phản ánh đứng nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền” Cũng như ở nhiều nước trên thế giới, công tác BVMT ở Trung ương cũng như địa phương cho đến nay chủ yếu được thực hiện theo cơ chế mệnh lệnh và kiểm soát Các doanh nghiệp phải tuân thủ các tiêu chuẩn môi trường

cụ thể (mệnh lệnh) Các loại thuế, phí trong HĐKTKS trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn ở mức khá cao, như đối với: quặng sắt là 50.000đ/tấn; quặng chì, kẽm là 220.000đ/tấn; quặng vàng là 220.000 - 270.000đ/tấn Trong khi chưa thể hiện được mức thu theo khối lượng phát thải ra môi trường; việc kiểm soát sản lượng khoáng sản còn nhiều khó khăn, chủ yếu do doanh nghiệp kê khai và điều kiện địa chất khai thác khoáng sản ngày càng khó khăn, chi phí khai thác

Trang 30

lớn nhưng chất lượng và hàm lượng khoáng sản ngày càng ít, nghèo kiệt đi nên các doanh nghiệp luôn tìm mọi cách để đóng góp ngân sách ít nhất, thậm trí chây ỳ, chậm nộp hoặc "chạy" không thực hiện các thủ tục đóng cửa mỏ, hoàn thổ, phục hồi môi trường theo quy định đã gây rất nhiều khó khăn cho địa phương

Các cơ quan quản lý môi trường cần xây dựng, sửa đổi và bổ sung thêm

hệ thống công cụ kinh tế nhằm khuyến khích sử dụng chúng giúp cải thiện mức độ ÔNMT trong HĐKTKS trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn trong thời gian tới

- Công cụ kỹ thuật quản lý

Công cụ kỹ thuật sử dụng cho quản lý BVMT nói chung và môi trường trong HĐKTKS nói riêng thực hiện vai trò kiểm soát, giám sát nhà nước về chất lượng và thành phần môi trường, về sự hình thành và phân bố chất ô nhiễm trong môi trường Các công cụ kỹ thuật quản lý môi trường có thể bao gồm các đánh giá môi trường, kiểm toán môi trường, các hệ thống quan trắc môi trường, xử lý chất thải, hoàn thổ và phục hồi môi trường Các công cụ kỹ thuật được coi là những công cụ hành động quan trọng của các tổ chức trong công tác BVMT Thông qua việc thực hiện các công cụ kỹ thuật, các cơ quan chức năng có thể có những thông tin đầy đủ, chính xác về hiện trạng và diễn biến chất lượng môi trường, đồng thời có những biện pháp, giải pháp phù hợp

để xử lý, hạn chế những tác động tiêu cực đối với môi trường Các công cụ kỹ thuật đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ, tuân thủ các tiêu chuẩn, quy định về BVMT Đối với công cụ kỹ thuật BVMT trong HĐKTKS phải được đánh giá, định hướng, quy hoạch phát triển tổng thể của ngành khai khoáng với tổng thể phát triển KT-XH, điều kiện hạ tầng kỹ thuật đến việc đánh giá chất lượng quy trình công nghệ khai thác, xử lý môi trường và đóng cửa mỏ, cải tạo, phục hồi môi trường

- Công cụ giáo dục và truyền thông môi trường

BVMT là sự nghiệp của quần chúng Các nhiệm vụ BVMT có được

Trang 31

hoàn thành hay không phụ thuộc phần lớn vào nhận thức và ý thức môi trường của toàn xã hội Giáo dục và truyền thông môi trường cũng là một công cụ quản lý môi trường gián tiếp, rất cần thiết đặc biệt là ở các vùng, địa phương có khoáng sản và đặc biệt nâng cao nhận thức về BVMT ngay chính tại chính quyền, cơ quan QLNN về khoáng sản, không vì cái lợi trước mặt mà đánh đổi sự ÔNMT Quan tâm triển khai giáo dục, tuyên truyền về môi trường đưa vào từ trong trường học, đến việc cung cấp thông tin cho những người có quyền ra quyết định, đào tạo chuyên gia về môi trường, truyền thông

về môi trường

1.3 Các hoạt động khai thác khoáng sản tác động đến môi trường

Các hoạt động thăm dò khoáng sản, hoạt động khai thác khoáng sản và hoạt động chế biến khoáng sản đều có sự tác động đến môi trường

Khai thác khoáng sản là hoạt động xây dựng cơ bản mỏ, khai đào, sản xuất và các hoạt động có liên quan trực tiếp nhằm thu hồi khoáng sản (khoản điều 3 Luật khoáng sản 1996) Theo Luật khoáng sản 2010 thì khai thác khoáng sản là hoạt động nhằm thu hồi khoáng sản, bao gồm xây dựng cơ bản

mỏ, khai đào, làm giàu và các hoạt động có liên quan Đây là hoạt động được tiến hành sau khi đã có giấy phép khai thác khoáng sản của cơ quan Nhà nước

có thẩm quyền và được tính từ khi mỏ bắt đầu xây dựng cơ bản (hay còn gọi

là mở mỏ), khai thác bình thường theo công thức thiết kế, cho đến khi mỏ mỏ kết thúc khai thác (đóng cửa mỏ - phục hồi môi trường)

Thực tế hiện nay, khai thác khoáng sản theo ba phương pháp chính là:

- Phương pháp khai thác lộ thiên: Là phương pháp khai thác mỏ khi sử dụng máy móc, thiết bị bóc lớp đất đá phủ trên loại khoáng sản cần khai thác; các công đoạn chính đó là bóc đất đá (bóc, vận chuyển và thải đất đá trên bãi thải) và khai thác (bóc, vận chuyển và công tác trên kho chứa) Hoạt động khai thác lộ thiên sẽ tác động trực tiếp đến bề mặt khu vực khai thác (phát dọn thảm thực vật, bóc đất đá trên mặt), ảnh hưởng đến thảm thực vật, nước mặt,

ô nhiễm không khí, gây ra nguy cơ sạt lở đất đá

Trang 32

- Phương pháp khai thác hầm lò: Là phương pháp khai thác mỏ khi sử dụng máy móc, thiết bị vở vỉa quặng khoáng sản trong lòng đất bằng hệ thống các đường lò; công tác khai thác mỏ hầm lò hiện các bước chính: mở vỉa ruộng mỏ, chuẩn bị ruộng mỏ và khai thác khoáng sản Hoạt động khai thác hầm lò hạn chế sự tác động trực tiếp đến bề mặt khu vực khai thác, ít tác động đến thảm thực vật, nước mặt; tuy nhiên tác động trực tiếp đến lòng đất, hoạt động bơm hút nước ngầm để tháo khô mỏ ảnh hưởng trực tiếp đến nước ngầm, sụt lún và nguy cơ mất an toàn lao động do sập đường lò, bục nước

- Các phương pháp khai thác khoáng sản khác áp dụng trong khai thác dầu khí, khai thác khí than

1.4 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản

1.4.1 Tỉnh Cao Bằng

Cao Bằng là tỉnh có nguồn tài nguyên khoáng sản khá phong phú, đa dạng về chủng loại và khá tương đồng về điều kiện địa chất, khoáng sản tỉnh Bắc Kạn; là tỉnh có một số cửa khẩu xuất/nhập khẩu hàng hóa, trong đó có khoáng sản với tỉnh Quảng Tây - Trung Quốc Đến nay, đã phát hiện và ghi nhận trên địa bàn tỉnh Cao Bằng có khoảng trên 140 mỏ, điểm khoáng với 22 loại khoáng sản khác nhau thuộc các nhóm năng lượng, không kim loại, kim loại; trong đó có những mỏ quy mô lớn với trữ lượng và chất lượng tốt Khoáng sản được phân bố ở hầu hết các huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh; các

mỏ, điểm khoáng phần lớn ở vùng sâu, vùng xa, rừng núi hẻo lánh, gần biên giới, có điều kiện địa hình, địa chất hết sức phức tạp Phát huy tiềm năng thế mạnh của địa phương, những năm qua Trung ương và Tỉnh đã cấp phép cho các doanh nghiệp tham gia HĐKTKS, đã đóng góp đáng kể cho nguồn thu ngân sách nhà nước tại địa phương và giải quyết việc làm cho người lao động

Hệ thống văn bản QPPL quản lý về BVMT trong HĐKTKS tỉnh Cao Bằng được ban hành khá kịp thời, phù hợp với đặc điểm của địa phương và

Trang 33

ban hành thống nhất chỉ đạo từ Tỉnh ủy đến HĐND, Uỷ ban nhân dân tỉnh triển khai đến các Sở, Ngành và chính quyền địa phương, điển hình như: Trên

cơ sở Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 03/6/2013 của Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương khóa XI về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và BVMT; Tỉnh ủy tỉnh Cao Bằng đã ban hành Chương trình hành động số 39-CTr/TU ngày 26/8/2013 để chỉ đạo thống nhất

và cụ thể quan điểm, mục tiêu về quản lý tài nguyên khoáng sản và môi trường phù hợp với đặc điểm địa phương Hơn nữa, trước thực trạng hoạt động khai thác khoáng sản trái phép, đặc biệt khoáng sản cát sỏi, vàng sa khoáng tại các bãi sông, suối và hoạt động vận chuyển buôn bán lậu khoáng sản sang Trung Quốc, BTV Tỉnh ủy Cao Bằng đã ban hành Chỉ thị số 30-CT/TU ngày 09/4/2012 về ngăn chặn, xử lý hoạt động khai thác khoáng sản trái phép gây ô nhiễm nguồn nước sông Hiến, sông Bằng

Từ sự chỉ đạo quyết liệt của BTV Tỉnh ủy và để phát huy tiềm năng, lợi thế về tài nguyên khoáng sản, cũng như định hướng phát triển ngành công nghiệp khai thác chế biến khoáng sản, sử dụng khoáng sản hợp lý và góp phần quan trọng phát triển KT-XH của địa phương, HĐND tỉnh Cao Bằng thông qua Quy hoạch thăm dò, khai thác, sử dụng khoáng sản tỉnh Cao Bằng giai đoạn đến năm 2020, có xét đến năm 2030 tại Nghị quyết số 11/2017/NQ-HĐND ngày 14/7/2017 và Nghị quyết số 77/2016/NQ-HĐND ngày 08/12/2016 quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí thuộc lĩnh vực tài nguyên và môi trường trên địa bàn tỉnh Cao Bằng UBND tỉnh điều hành triển khai cụ thể chỉ đạo các Sở, Ngành, địa phương triển khai công tác QLNN khá đồng bộ và thực hiện ban hành các văn bản QPPL quản lý về HĐKTKS, quản lý về môi trường trong HĐKTKS (Quyết định số 12/2016/QĐ-UBND ngày 13/7/2016 quy định phân cấp QLNN trong lĩnh vực môi trường trên địa bàn tỉnh Cao Bằng; Quyết định số 06/2017/QĐ-UBND ngày 08/02/2017 quy định về quản lý, khai thác và vận chuyển đất san lấp khi

Trang 34

san gạt, cải tạo mặt bằng trên địa bàn tỉnh Cao Bằng; Kế hoạch số UBND ngày 02/10/2017 về việc thực hiện Chỉ thị số 25/CT-TTg ngày 31 tháng 8 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ về một số nhiệm vụ, giải pháp cấp bách về BVMT trên địa bàn tỉnh Cao Bằng và thực hiện ký kết Quy chế phối hợp trong công tác quản lý khoáng sản với các tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang, Bắc Kạn có địa giới hành chính giáp ranh với tỉnh Cao Bằng Hằng năm, tổ chức tối thiểu 02 đợt thanh/kiểm tra về công tác BVMT trong HĐKTKS và ít nhất 01 đợt tuyên truyền về HĐKTKS đến các doanh nghiệp

3183/KH-Đồng thời, nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương và ngăn chặn HĐKTKS trái phép, Tỉnh Cao Bằng đã chủ động trong việc quy hoạch, thu hút đầu tư và cấp giấy phép HĐKTKS cho các doanh nghiệp Hiện nay, tỉnh Cao Bằng đã thu hút, cấp giấy phép khai thác khoáng sản với 58 mỏ khoáng sản (11

mỏ khoáng sản kim loại và 47 mỏ thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường (đá, cát sỏi) với quy mô vừa và nhỏ); đã thu hút đầu tư được 6 dự

án chế biến quặng sắt và 11 dự án chế biến quặng mangan, trong đó, có 3 dự án chế biến quặng sắt và 8 dự án chế biến sâu quặng mangan đã hoàn thành đầu tư xây dựng và đi vào hoạt động sản xuất Đa số các nhà máy chế biến khoáng sản hoạt động cầm chừng, kém hiệu quả và khi hoạt động gây ÔNMT rất lớn đến khu vực xung quanh, gây bức xúc cho người dân

Hiện trạng môi trường tỉnh Cao Bằng cơ bản đảm bảo an toàn, thảm thực vật, độ che phủ rừng đạt trên 53% diện tích tự nhiên; nguồn nước ở các sông, suối, ao hồ được duy trì ở mức ổn định về lưu lượng Khá chủ động trong hoạt động BVMT với phương châm phòng ngừa là chính, kịp thời ngăn chặn tình trạng ÔNMT, giảm nhẹ thiên tai do biến đổi khí hậu gây ra và đã đạt được những thành tựu nhất định

Hệ thống QLNN về BVMT trong HĐKTKS đã được phân cấp trách nhiệm quản lý từ cấp tỉnh đến cấp xã, phường, thị trấn; một số sở, ngành đã

có cán bộ phụ trách về môi trường Hệ thống các văn bản QPPL về BVMT đã

Trang 35

và đang được hoàn thiện, lồng ghép vào các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình và dự án phát triển KT-XH của tỉnh; các dự án đầu tư mới đã chấp hành việc lập, được thẩm định và phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường, kế hoạch BVMT, phương án cải tạo phục hồi môi trường theo quy định Các dự án được tỉnh chấp thuận chủ trương đầu tư cơ bản thực hiện đầy đủ các thủ tục đầu tư theo quy định, cũng như các thủ tục về BVMT; không chấp thuận chủ trương đầu tư các dự án sử dụng công nghệ lạc hậu, tiêu tốn năng lượng, lãng phí tài nguyên, tiềm ẩn gây ÔNMT, ảnh hưởng đến sức khoẻ con người; công tác thanh tra, kiểm tra về lĩnh vực tài nguyên môi trường nói chung và HĐKTKS nói riêng được quan tâm chỉ đạo sát sao; công tác tuyên truyền, phổ biến cho doanh nghiệp việc chấp hành nghiêm pháp luật

về đất đai, khoáng sản, nước và BVMT khá kịp thời Quá trình thanh tra, kiểm tra đã phòng ngừa, ngăn chặn các dấu hiệu vi phạm pháp luật và xử lý nghiêm minh các doanh nghiệp vi phạm; kiểm tra, xác minh, xử lý và giải quyết kịp thời những phản ánh, kiến nghị các ý kiến của cử tri, phản ánh của báo chí và khiếu nại, tố cáo của nhân dân; thực hiện đầy đủ công tác kiểm tra sau các kết luận thanh tra Việc chấp hành pháp luật về tài nguyên môi trường trên địa bàn tỉnh đã có chuyển biến tích cực Hàng năm tiến hành quan trắc, phân tích các thành phần môi trường tự nhiên cơ bản đầy đủ, bố trí kinh phí kịp thời để thực hiện (tần suất 03 lần tại 42 điểm nước mặt, 04 điểm nước ngầm và 47 điểm môi trường không khí) và đã kịp thời phát hiện, đánh giá chất lượng môi trường đặc trưng tại mỗi khu vực, cụ thể như:

- Về môi trường nước mặt: Chất lượng nước tại đầu nguồn các con sông còn tương đối tốt, các chỉ tiêu môi trường nằm dưới QCVN Việt Nam Tuy nhiên, nồng độ các chất ô nhiễm tăng dần lên về phía hạ lưu và nồng độ các chất ô nhiễm diễn biến khác nhau trên các sông suối Quá trình theo dõi chất lượng môi trường cho thấy: Có các 5 chỉ tiêu nước mặt (TSS, BOD5, COD, NH4+, PO43) vượt QCVN tại các điểm tập trung đông dân cư, đô thị,

Trang 36

thị trấn

- Về môi trường nước ngầm: Hiện nay, việc đánh giá diễn biến nước ngầm chưa đầy đủ và liên tục cả về số lượng, lẫn chất lượng Chất lượng nước ngầm chỉ được đánh giá sơ bộ qua quá trình quan trắc, phân tích mẫu tại 03 điểm, tần suất 03 lần/năm nằm rải rác trên địa bàn tỉnh Qua các kết quả phân tích cho thấy chỉ tiêu coliform vượt QCVN hiện hành tại 03 điểm tại 03 đợt quan trắc

- Về diễn biến môi trường không khí: Môi trường không khí trên địa bàn tỉnh hiện nay tương đối trong lành, đặc biệt là khu vực nông thôn Hầu hết, các chỉ tiêu chất lượng không khí trên mạng lưới điểm quan trắc đều nằm trong giới hạn QCVN Tại khu vực thành phố, trung tâm các huyện có chỉ tiêu bụi, độ ồn vượt QCVN

1.4.2 Tỉnh Thái Nguyên

Tỉnh Bắc Kạn giáp ranh với tỉnh Thái Nguyên về phía Nam, trong những năm gần đây Thái Nguyên có tốc độ phát nhanh triển kinh tế, xã hội; là tỉnh giàu nguồn tài nguyên khoáng sản, đứng thứ 2 trong cả nước và có lịch

sử phát triển ngành công nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản và luyện kim Đến nay, đã phát hiện và ghi nhận trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên có 34 loại hình khoáng sản, phân bố tập trung ở các huyện Đồng Hỷ, Võ Nhai, Phú Lương, Đại Từ với nhiều loại khoáng sản có trữ lượng lớn, như: Sắt, than, titan, thiếc, vonfram, chì kẽm

Trong những năm qua, tỉnh Thái Nguyên đã làm khá tốt công tác QLNN về khai thác khoáng sản như: Công tác quy hoạch (quy hoạch thăm

dò, khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản); Công tác tổ chức quản lý (thành lập Ban chỉ đạo quản lý, ban hành các văn bản QPPL và các văn bản quản lý, thẩm định, cấp phép HĐKTKS trên địa bàn, tổ chức thanh tra, kiểm tra, kiểm soát, phát hiện và xử lý các vi phạm) Trong những năm gần đây, tỉnh Thái Nguyên được Trung ương và các tỉnh thành trong khu vực đánh giá

Trang 37

là một điểm sáng QLNN về tài nguyên khoáng sản; đặc biệt, nổi bật là các dự

án khai thác, chế biến khoáng sản đã có đóng góp ngân sách địa phương lớn nhất trong các ngành kinh tế và cơ bản đảm bảo về công tác BVMT trong HĐKTKS

- Công tác xây dựng hệ thống văn bản QPPL quản lý về khoáng sản khá kịp thời, phù hợp với đặc điểm của địa phương và ban hành thống nhất chỉ đạo của Tỉnh ủy, HĐND, Uỷ ban nhân dân tỉnh, điển hình như: Từ Kết luận số 28-KL/TU ngày 27/6/2016 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên và Nghị quyết số 14/NQ-HĐND ngày 18/5/2017 của HĐND tỉnh Thái Nguyên khóa XIII, kỳ họp thứ 4 thông qua Đề án “Tăng cường công tác QLNN về tài nguyên khoáng sản và BVMT trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, giai đoạn 2016-2020” và Uỷ ban nhân dân tỉnh đã ban hành Quyết định số 1599/QĐ-UBND ngày 16/6/2017 triển khai thực hiện Đề án Qua đó, công tác QLNN về BVMT trong HĐKTKS được triển khai khá đồng bộ và các Sở, ngành và địa phương tập trung triển khai một số nhiệm vụ, giải pháp cấp bách

về BVMT trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên theo Chỉ thị số 22/CT-UBND ngày 04/10/2016 Lập, điều chỉnh các quy hoạch thăm dò, khai thác, sử dụng khoáng sản thuộc thẩm quyền, khoáng sản tại các khu vực có khoáng sản phân tán, nhỏ lẻ; quy hoạch phát triển vật liệu xây dựng tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020, trong đó, đề cập nội dung về BVMT trong HĐKTKS từng thời kỳ

Trước tình hình HĐKTKS trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên khá phát triển

và sôi động, nguy cơ gây ÔNMT thì ngoài việc Sở Tài nguyên và Môi trường

và các cơ quan chuyên môn, chính quyền địa phương chủ động triển khai các hoạt động QLNN về môi trường, Tỉnh Thái Nguyên đã thành lập Ban chỉ đạo quản lý tài nguyên khoáng sản tỉnh đảm bảo sự phối hợp và trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh trong QLNN về BVMT trong HĐKTKS; đồng thời, tăng cường sự giám sát, quản lý chéo giữa các tổ chức chính trị, xã hội với cơ quan chuyên môn quản lý về tài nguyên khoáng

Trang 38

sản, phòng ngừa hạn chế vấn đền lợi ích nhóm

- Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật: Xây dựng, ban hành bộ tài liệu tuyên truyền tập huấn về khoáng sản và BVMT, Sổ tay hướng dẫn truyền thông môi trường, hàng năm chương trình tập huấn phổ biến kiến thức, cập nhật các quy định pháp luật về BVMT cho cán bộ quản lý tài nguyên và môi trường cấp huyện, xã, các lãnh đạo và các cán bộ phụ trách tại các doanh nghiệp; đã hoàn thiện các tiêu chí về BVMT trong nội dung bình xét thi đua đối với các tổ chức, cá nhân trên địa bàn tỉnh

- Công tác lập, tổ chức thực hiện quy hoạch khoáng sản và BVMT: Lập Quy hoạch thăm dò, khai thác và sử dụng khoáng sản than, quặng sắt và các loại khoáng sản (nhóm kim loại, nhóm khoáng chất công nghiệp); điều chỉnh Quy hoạch phát triển vật liệu xây dựng tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020; lập mới Quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học của tỉnh; rà soát, điều chỉnh bổ sung Quy hoạch quản lý chất thải rắn vùng tỉnh; rà soát, lập, điều chỉnh, bổ sung Quy hoạch khoáng sản của địa phương ngay sau khi Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố khoanh định các khu vực có khoáng sản phân tán, nhỏ lẻ trên địa bàn tỉnh; định hướng gắn khai thác với chế biến, sử dụng khoáng sản để làm ra sản phẩm kim loại, hợp kim hoặc các sản phẩm khác có giá trị và hiệu quả KT-XH

- Chất lượng công tác thẩm định hồ sơ cấp phép trong lĩnh vực khoáng sản và BVMT được nâng cao và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chuyên môn của tỉnh với cấp huyện, cấp xã; chất lượng hội đồng được quan tâm với đội ngũ cán bộ, chuyên gia có chuyên môn về môi trường, khoáng sản Bước đầu đã tổ chức đấu giá thành công 07 phiên đấu giá quyền khai thác khoáng sản Giải quyết kịp thời công tác giải quyết thủ tục hành chính liên quan, trong 2 năm 2016-2017 trên địa bàn toàn tỉnh có 330/330 hồ sơ thủ tục hành chính về môi trường được giải quyết theo đúng trình tự, thời gian theo quy định Thực hiện tốt công tác thẩm định, cấp quyền khai thác; hiện nay, tổng số

Trang 39

tiền phải nộp là 1.390,905 tỷ đồng và phải nộp nhiều lần (từ năm 2014 đến năm 2037)

- Công tác thanh tra, kiểm tra được tăng cường, ngoài việc kiểm tra giám sát của Sở Tài nguyên và Môi trường và các cơ quan chuyên môn thì Thái Nguyên thành lập đoàn kiểm tra liên ngành về khoáng sản và BVMT trong HĐKTKS Trong 02 năm 2016-2017, thực hiện kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về môi trường trong HĐKTKS đối với 65 mỏ/40 đơn vị; kiểm tra việc chấp hành các nghĩa vụ nộp tiền cấp quyền khai thác khoáng sản, tiền ký quỹ cải tạo phục hồi môi trường của 127 mỏ/72 đơn vị và

xử phạt vi phạm hành chính là 419 triệu đồng

- HĐKTKS đã cơ bản đáp ứng được nguồn nguyên liệu cho các cơ sở chế biến và sử dụng khoáng sản phục vụ cho phát triển kinh tế trên địa bàn (như quặng sắt cho các nhà máy luyện gang, thép với công suất trên 0,2 triệu tấn/năm; quặng chì kẽm cho các nhà máy sản xuất kẽm kim loại với công suất trên 0,02 triệu tấn/năm; than cho các nhà máy nhiệt điện với công suất trên 100 MW; quặng Titan cho các nhà máy luyện xỉ titan và sản xuất pigment với công suất khoảng 0,1 triệu tấn/năm; đá vôi và sét cho các nhà máy xi măng với công suất khoảng 2 triệu tấn/năm; các khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông

thường phục vụ cho xây dựng cơ sở hạ tầng và các công trình dân dụng)

Năm 2016-2017, thu ngân sách ngành khai khoáng tỉnh Thái Nguyên đạt 2.102,94 tỷ đồng (năm 2016 là 781,79 tỷ đồng; năm 2017 là 1.321,15 tỷ đồng) trong đó: thuế tài nguyên là 1.487,53 tỷ đồng, phí môi trường là 218,80

tỷ đồng, tiền cấp quyền khai thác khoáng sản là 396,61 tỷ đồng Ký quỹ cải tạo phục hồi môi trường năm 2016 và 2017 với tổng số tiền là 32,275 tỷ đồng (trong đó năm: 16,619 tỷ đồng và năm 2017: 15,656 tỷ đồng); tạo việc làm và thu nhập ổn định cho trên 12.000 lao động tại địa phương; đóng góp, hỗ trợ địa phương nâng cấp, sửa chữa, xây dựng cơ sở hạ tầng và hỗ trợ tái định cư với trị giá trên 200 tỷ đồng

Trang 40

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, tỉnh Cao Bằng và tỉnh Thái Nguyên còn một số tồn tại, hạn chế trong công tác BVMT trong HĐKTKS như:

- Hiệu lực, công tác thanh tra, kiểm tra chưa hiệu quả, đặc biệt là hoạt động kiểm tra định kỳ; chưa kiên quyết xử lý các vi phạm, như: không thực hiện đúng theo báo cáo đánh giá tác động môi trường đã được phê duyệt, chưa thực hiện quan trắc, giám sát môi trường định kỳ đầy đủ theo quy định, công tác quản lý chất thải nguy hại không nghiêm túc

- Chưa phát hiện kịp thời để cảnh báo, xây dưng phương án bảo vệ, gia

cố công trình BVMT nên vẫn để xảy ra một số sự cố môi trường, như: Sự cố

vỡ hồ chứa bùn thải quặng đuôi của Xí nghiệp khai thác quặng sắt Nà Lúng - Công ty CP khoáng sản luyện kim Cao Bằng tại xã Duyệt Trung, thành phố Cao Bằng ; vỡ bể chứa thải chì chảy của Nhà máy tuyển nổi chì kẽm thuộc Công ty TNHH CKC chảy ra Sông Gâm tại xóm Lạng Cá, thị trấn Pác Miều, huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng; ô nhiễm khói bụi tại Nhà máy sản xuất Feromangan của Công ty CP Khoáng sản NIKKO Việt Nam tại xã Quốc Toản, huyện Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng; vấn đề ÔNMT, tai nạn lao động nghiêm trọng từ hoạt động khai thác mỏ đá vôi trên địa bàn tỉnh Cao Bằng vẫn diễn ra Hoạt động khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên phát triển nhanh chóng và đa phần khai thác theo kiểu lộ thiên nên đất tại các khu vực khai khoáng đều bị ô nhiễm, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đất

và gián tiếp ảnh hưởng đến sức khỏe, đời sống của người dân trong khu vực;

cụ thể, hàm lượng asen tại mỏ sắt Trại Cau và mỏ thiếc Đại Từ vượt chuẩn 12mg/kg; hàm lượng sắt trong tất cả các mẫu ở Trại Cau, Phấn Mễ, Hà Thượng đều ở mức cao, hàm lượng kẽm, chì tại một số khu vực cũng vượt chuẩn cho phép Trong khi, tổng diện tích đất trong hoạt động khai thác chiếm hơn 3.191 ha, tương ứng gần 1% diện tích đất tự nhiên của tỉnh

- Công tác kiểm soát sản lượng, vận chuyển khoáng sản vượt tải trọng gây hư hỏng hạ tầng giao thông của tỉnh; đặc biệt các tuyến đường liên huyện

Ngày đăng: 14/06/2021, 21:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w