1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích thực trạng sản xuất và các yếu tố phát triển nghề đan lợp tại phường thới long quận ô môn TPCT

90 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 0,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phát triển ngành nghề truyền thống là chiến lược kinh tế quan trọng của Đảng và nhà nước ta, nó không những khôi phục được các hoạt động ngành nghề, tạo việc làm cho số đông lao động tại

Trang 1

Trang

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG ……… ……… …… 1

1.1 Đặc vấn đề……… ……… …….1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu……… ……….….2

1.3 Câu hỏi nghiên cứu……… ………2

1.4 Phạm vi nghiên cứu……… ………… ……2

1.5 Lược khảo tài liệu tham khảo……… ……….…….….3

1.6 Nội dung của đề tài……… ……… ……4

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU……… ………….………5

2.1.Phương pháp luận……… ……… 5

2.1.1 Một số thuật ngữ về ngành nghề và làng nghề truyền thống … 5

2.1.2 Các ngành nghề truyền thống đặc trưng ở ĐBSCL ………… ….6

2.1.3 Vai trò của nghề truyền thống đối với phát triển kinh tế địa phương……… …… 7

2.2 Phương pháp nghiên cứu……… …….8

2.2.1 Thu thập số liệu……… …….8

2.2.1.1 Chọn địa bàn nghiên cứu……… ….8

2.2.1.2 Số liệu sơ cấp được thu thập từ các đối tượng sau……… …8

2.2.1.3 Số liệu thứ cấp ……… … 9

2.2.2 Phương pháp phân tích……… ……9

2.2.2.1 Đối với mục tiêu (1)……… ….9

2.2.2.2 Đối với mục tiêu (2)……… ….10

2.2.2.3 Đối với mục tiêu (3)……… ………10

Trang 2

2.2.2.4 Đối với mục tiêu (4)……… ………11

2.5.Một số chính sách liên quan đến phát triển ngành nghề truyền thống ….11

CHƯƠNG 3: GIỚI THIỆU VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG SẢN XUẤT CỦA NGHỀ ĐAN LỢP TẠI PHƯỜNG THỚI LONG QUẬN Ô MÔN TPCT 14

3.1 Giới thiệu địa bàn nghên cứu 15

3.1.1 Đặc điểm tự nhiên……… ……….15

3.1.1.1 Vị trí địa lý 15

3.1.1.2 Đất đai và khí hậu 16

3.1.2 Đặc điểm kinh tế - văn hóa xã hội……… ………… 16

3.1.2.1 Kinh tế 16

3.1.2.2 Văn hóa – xã hội 17

3.1.3 cơ sở hạ tầng……… ………18

3.2 Vài nét sơ lược về các nghề truyền thống nông thôn tại TPCT 19

3.3 Qúa trình hình thành và phát triển nghề đan lợp tại Thới long… …21

3.4 Phân tích thực trạng hoạt động của các hộ sản xuất 22

3.4.1 Mô tả quá trình sản xuất 22

3.4.2 Chu kỳ sản xuất 23

3.4.3 Tình hình nguyên vật liệu 24

3.4.4.Thiết bị sản xuất 25

3.4.5 Nguồn lao động 27

3.4.6 Nguồn vốn sản xuất 30

3.5 Thị trường 32

3.5.1 Mô tả kênh thị trường 32

3.5.2 Thị trường tiêu thụ……… ……34

3.5.3 Hình thức liên hệ và thanh toán trong kênh thị trường 35

3.6 Đánh giá mức độ am hiểu về quản lý và điều hàng của chủ hộ 37

Trang 3

3.8 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của hộ sản xuất 41

3.8.1 Các yếu tố tham gia ngành nghề 41

3.8.1.1 Yếu tố bên trong 41

3.8.1.2 Yếu tố bên ngoài 42

3.8.2 So sánh lợi thế của nghề làm lợp với các nghề đan đát khác 44

3.7 Kết quả sản xuất……… …….45

CHƯƠNG 4: ĐÁNH GIÁ LỢI THẾ CẠNH TRANH CỦA NGHỀ ĐAN LỢP TẠI THỚI LONG 47

4.1 Phân tích lợi thế cạnh tranh 47

4.2 Mô hình 5 động lực của Micchael Poter……… … 48

4.2.1 Đối thủ cạnh tranh……… 49

4.2.2 Nhà cung cấp ……… ……… … 50

4.2.3 Nhà tiêu thụ……… …51

4.2.4 Khả năng tham gia của các đối thủ mới……… 51

4.2.5 Sản phẩm thay thế……… …………52

4.3 Mô hình kim cương……… …………53

4.3.1 Lợi thế cạnh tranh và bất lợi ……… ……54

4.3.1.1 Lợi thế……… ……… ……… 54

4.3.1.2 Bất lợi……… ………55

4.3.2 Các định chế hỗ trợ……… ……… 55

4.3.2.1 Lợi thế……… ……… 55

4.3.2.2 Bất lợi……… ………….56

4.3.3 Các ngành hỗ trợ có liên quan……… ……….57

4.3.4 Các điều kiện về cầu……… ……… 57

Trang 4

4.4 Ma trận Swot……… ……… 57

4.4.1 Điểm mạnh……… …… 58

4.4.2 Điểm yếu ……… ….59

4.4.3 Cơ hội……… … 60

4.4.4 Đe dọa……… ……… …60

CHƯƠNG 5: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HOẠT ĐỘNG CỦA NGHỀ ĐAN LỢP TẠI THỚI LONG……… … 61

5.1 Đổi mới hình thức sản xuất……… …………61

5.2 Giải pháp kỹ thuật…… ………62

5.3 Giải pháp về vốn……… … 62

5.4 Giải pháp thị trường……… …… 62

5.4 Sơ đồ Venn……… ……… 64

CHƯƠNG 6: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 66

6.1 Kết luận ……… ……….66

6.2 Kiến nghị……… 67

TÀI LIỆU THAM KHẢO……… …68

DANH MỤC BIỂU BẢNG

Trang

Trang 5

Bảng 3 - 1: Giá trị sản xuất của ngành công nghiệp tiểu thủ công nghiệp… 17

Bảng 3 - 2: Thống kê số hộ tham gia ngành nghề thống truyền nông thôn tại thành phố Cần thơ 19

Bảng 3 - 3: Mô tả chu kỳ sản xuất 23

Bảng 3 - 4: Đánh giá mức độ cung cấp của nguyên liệu tre 24

Bảng 3 - 5: Đánh giá thiết bị sản xuất 25

Bảng 3 - 6: Mô tả đặc điểm của lao động trong từng công đoạn sản xuất 29

Bảng 3 - 7: Các yếu tố tham gia ngành nghề 41

Bảng 3 - 8: Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia nghề của hộ sản xuất .42

DANH MỤC HÌNH

Trang

Trang 6

Hình 3 - 1: Bản đồ hành chính Quận Ô Môn 15

Hình 3 - 2: Trình độ học vấn của chủ hộ 27

Hình 3 - 3: Phân bố lao động trong nghề 28

Hình 3 - 4: Nguồn vốn của hộ sản xuất 30

Hình 3 - 5: Kênh thị trường tiêu thụ sản phẩm lợp 32

Hình 3 - 6: Thị trường tiêu thụ 34

Hình 3 - 7: Mức độ am hiểu về quản lý và điều hành của hộ sản xuất 38

Hình 4 - 1: Mô hình 5 động lực của nghề đan lợp tại Phường Thới Long 48

Hình 4 - 2: Mô hình kim cương của nghề đan lợp tại Phường Thới Long 53

Hình 4 - 3: Ma trận Swot cho nghề đan lợp Phường Thới Long ………….…58

Hình 5 - 1: Thể hiện mối quan hệ giữa các tác nhân …… ….…… ….64

Trang 8

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU CHUNG 1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Quá trình phát triển kinh tế - xã hội của một đất nước trong xu thế toàn cầu hóa luôn cần thu hút các nguồn lực trong và ngoài nước, đặc biệt tại các nước đang phát triển, nước nghèo thì sự hỗ trợ về các nguồn lực tài chính, kỹ thuật từ các tổ chức quốc tế và chương trình mục tiêu quốc gia đóng vai trò quan trọng giúp khai thác lợi thế so sánh của một số ngành nghề, lĩnh vực; nhằm mục tiêu tạo cơ hội phát triển kinh tế - xã hội, cũng như nâng cao đời sống cho cộng đồng

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) có điều kiện thuận lợi trong sản xuất và cung cấp lương thực thực phẩm cho cả nước và xuất khẩu; sự phát triển kinh tế -xã hội của vùng từ nay đến năm 2010 đã được xác định thông qua Nghị quyết 21 của

bộ chính trị, cụ thể là đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế hướng theo tăng tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ Chính sách này đã tác động không nhỏ đến điều kiện kinh tế - xã hội ở các địa phương cũng như đối với phần lớn nông hộ sống ở vùng nông thôn mà thu nhập của họ gắn liền với hoạt động sản xuất nông nghiệp Do đó, việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất từ nông nghiệp sang các ngành khác là một xu thế tất yếu trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngày nay của cả nước cũng như ở vùng ĐBSCL

Phát triển ngành nghề truyền thống là chiến lược kinh tế quan trọng của Đảng

và nhà nước ta, nó không những khôi phục được các hoạt động ngành nghề, tạo việc làm cho số đông lao động tại địa phương, nâng cao thu nhập, mà còn tạo ra khối lượng hàng xuất khẩu, đồng thời góp phần bảo vệ những giá trị bản sắc văn hoá dân tộc của địa phương Ví dụ: hoạt động đan đát lục bình ở Đồng Tháp, bánh pía , lạp xưởng ở Sóc Trăng, dệt chiếu, thảm ở Trà Vinh, đường thốt nốt, kẹo dừa Bến Tre, mây tre đan ở Cần Thơ, gốm mỹ nghệ ở Vĩnh Long, dệt thổ cẩm ở An Giang

Từ trước đến nay, các làng nghề truyền thống có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển nông thôn; cụ thể là tạo công ăn việc làm đối với nhiều đối tượng cả

kể người lớn tuổi và trẻ em, đồng thời góp phần giữ gìn giá trị văn hoá bản sắc của

Trang 9

vùng miền đó Tuy nhiên, trong tiến trình hội nhập kinh tế thế giới đã và đang ảnh hưởng sâu sắc đến các hoạt động ngành nghề truyền thống, dẫn đến sự mai một dần của một số làng nghề

Vì vậy, việc phân tích các yếu tố tác động và giải pháp phát triển ngành nghề truyền thống là hết sức cần thiết Để góp phần làm rõ thêm nên tôi tiến hành nghiên

cứu “ Phân tích thực trạng sản xuất và các yếu tố phát triển nghề đan lợp tại

phường Thới Long Quận Ô Môn TPCT” làm đề tài tốt nghiệp

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

- Mô tả về thực trạng sản xuất của nghề đan lợp tại Phường Thới Long Quận Ô Môn, TPCT;

- Xác định các yếu tố tác động dẫn đến sự tham gia nghề đan lợp của hộ gia đình;

- Xác định lợi thế cạnh tranh của nghề đan đan lợp của hộ gia đình theo phương pháp PACA; và

- Chỉ ra một số biện pháp liên quan đến sự phát triển nghề đan lợp tại Phường Thới Long Quận Ô Môn TPCT

1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

(1) Thực trạng sản xuất của nghề đan lợp tại phường Thới Long quận Ô Môn TPCT như thế nào?

(2) Các yếu tố chính nào dẫn đến sự tham gia nghề của các hộ gia đình ?

(3) Lợi thế cạnh tranh của nghề đan lợp được đánh giá như thế nào?

(4) Những giải pháp ưu tiên nào cần được thực hiện để góp phần phát triển nghề đan lợp tại địa phương ?

1.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Đề tài tập trung phân tích thực trạng và hướng phát triển nghề nhằm xác định tiềm năng và vấn đề tồn tại cần giải quyết với sự tham gia các đối tượng tại địa

Trang 10

phương Tuy nhiên, đề tài chỉ phân tích chi tiết nghề đan lợp tại Phường Thới Long, Quận Ô Môn, Thành Phố Cần Thơ và các hộ gia đình làm đối tượng nghiên cứu chính Nguồn số liệu phỏng vấn trực tiếp các đối tượng được thực hiện trong khoảng thời gian từ tháng 3-4/2007

1.5 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU THAM KHẢO

Dự án xây dựng và phát triển làng nghề sản xuất hàng đan đát tại tỉnh Sóc Trăng của nhóm tác giả: Ts Mai Văn Nam, Ths Phạm Lê Thông , Ths Nguyễn Phú Son, Ths Từ Văn Bình… năm 2003 Mục tiêu nghiên cứu: xây dựng HTX đan đát tại Huyện Kế Sách và Mỹ Tú, Tỉnh Sóc Trăng để tạo công ăn việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân địa phương, đặt biệt là người nghèo và người dân tộc Góp phần quảng bá ngành du lịch và sản phẩm du lịch của Tỉnh Sóc Trăng Xây dựng cửa hàng giới thiệu sản phẩm đan đát Phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu thị trường như phân tích cầu và cung thị trường, đưa ra các chiến lược Marketing, phân tích các chỉ số tài chính Kết quả nghiên cứu; về mặt tài chính, việc thành lập và đưa vào hoạt động HTX đan đát sẽ có kết quả cao nếu tận dụng được nguồn nguyên liệu tại chổ, tạo cơ hội việc làm cho cho lao động địa phương Góp phần bổ sung thêm sự phong phú của các sản phẩm đan đát, nâng cao tính cạnh tranh của thị trường đan đát

Đề án phát triển làng nghề đan đát xã Thái Mỹ huyện Củ Chi Thành phố Hồ Chí Minh Của Ủy ban nhân dân huyện Củ Chi năm 2003 Mục tiêu nghiên cứu: tạo lập mô hình làng nghề phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hợp tác hóa, đẩy mạnh sản xuất, có thị trường ổn định, đăng ký nhãn hiệu hàng hóa, giải quyết việc làm, nâng cao tay nghề, tăng thu nhập cho người lao động Phương pháp nghiên cứu: thu thập số liệu sơ cấp trực tiếp từ các hộ và cơ sở sản xuất, số liệu thứ cấp từ các cơ quan ban ngành, phân tích bằng phương pháp thống kê, phương pháp quan sát Kết quả đạt được: đưa ra các dự báo về thuận lợi và thách thúc của làng nghề, định hướng mục tiêu tiêu phát triển làng nghề, đưa ramột số giải pháp để phát triển làng nghề

Trang 11

1.6 NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI

Chương 2: Đưa ra phương pháp luận như đưa ra một số thuật ngữ về ngành nghề và làng nghề truyền thống, giới thiệu sơ lược về các ngành nghề truyền thống đặc trưng ở ĐBSCL và vai trò của nghề truyền thống đối với phát triển kinh tế địa phương Đua ra phương pháp nghiên cứu trong đề tài

Chương 3: Giới thiệu địa bàn nghiên cứu như đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của Phường Thới Long và phân tích thực trạng hoạt động sản xuất của hộ đan lợp như quy trình sản xuất tình hình nguyên vật liệu, vốn sản xuất và thị trường tiêu thụ…

Chương 4: Đánh giá lợi thế cạnh tranh của nghề làm lợp như sử dụng mô hình kim cương, mô hình 5 động lực của Machael Porter và ma trận SWOT

Chương 5: Từ việc phân tích thực trạng sản xuất và xác định lợi thế cạnh tranh của nghề đan lợp trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp như đổi mới hình thức sản xuất, giải pháp về vốn, giải pháp thị trường và đưa ra sơ đồ Venn về phát triển nghề đan lợp

Chương 6: Kết luận - kiến nghị

Trang 12

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 PHƯƠNG PHÁP LUẬN

2.1.1 Một số thuật ngữ về ngành nghề và làng nghề truyền thống

- Nghề truyền thống là nghề đã được hình thành từ lâu đời, tạo ra những sản

phẩm độc đáo, có tính riêng biệt, được lưu truyền và phát triển đến ngày nay hoặc có nguy cơ bị mai một, thất truyền

- Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn,

phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn, có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau

- Làng nghề truyền thống là làng nghề có nghề truyền thống được hình thành từ

lâu đời

Để được công nhận ngành nghề truyền thống, phải đáp ứng 03 tiêu chí sau: a) Nghề đã xuất hiện tại địa phương từ trên 50 năm tính đến thời điểm công nhận;

b) Nghề tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hoá dân tộc;

c) Nghề gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của làng nghề

Làng nghề có thể có biểu tượng (logo) để các thành viên của làng nghề sử dụng nhằm mục đích tăng tính cạnh tranh, quảng bá sản phẩm truyền thống của địa phương Biểu tượng của làng nghề phải nêu được đặc trưng, hình tượng hoá nghề nghiệp của làng nghề và tuân thủ các quy định hiện hành về biểu trưng, biểu tượng Các thành phần kinh tế của làng nghề bao gồm: các cơ sở sản xuất, tổ hợp tác, hợp tác xã, hiệp hội nghề nghiệp… có liên quan đến các hoạt động sản xuất, kinh doanh và quản lý ngành nghề truyền thống (Nguyễn Hữu Đặng1, 2005)

1 Khoa Kinh tế & Quản trị kinh doanh, Trường Đại học Cần Thơ

Trang 13

Ngoài giá trị sản xuất đóng góp cho nền kinh tế địa phương, phát triển ngành nghề truyền thống còn góp phần bảo tồn và xây dựng nét đặc trưng của địa phương

đó khi được nhắc đến Thông thường, mỗi địa phương được mệnh danh với một hoặc vài loại đặc sản nơi đó Cụ thể như: gốm tráng men Bát Tràng, gốm đỏ Vĩnh Long, chiếu Định Yên, nem Lai Vung, nếp Phú Tân…

Nhìn chung, các ngành nghề truyền thống thường gắn liền với địa giới hành chính của địa phương đó; ví dụ: thổ cẩm Châu Phong, Văn Giáo; chiếu Định Yên, gốm Măng Thít, Long Hồ, mắm Châu Đốc, bánh pía Vũng Thơm, kẹo dừa Bến Tre.…

2.1.2 Các ngành nghề truyền thống đặc trưng ở ĐBSCL

- Ngành đan đát, trầm: chủ yếu sản xuất những sản phẩm được chế tạo từ các

nguyên liệu như lác, lục bình, dây nhựa, lá cọ, tre, trúc… Các sản phẩm chính như chiếu, thảm, đồ trang trí nội thất, nón, dụng cụ đánh bắt cá, chứa nông sản…Phần lớn được sản xuất ở các địa phương như: đan đát Cần Thơ, Hậu Giang Đồng Tháp, Sóc Trăng, Trà Vinh,

- Ngành dệt thổ cẩm: tập trung sản xuất tại các địa phương như Văn Giáo

(Tịnh Biên) và Châu Phong (Tân Châu) của tỉnh An Giang, chủ yếu do người dân tộc Chăm và Khmer thực hiện với những hoa văn rất tinh xảo và đặc trưng được thể hiện trên những sản phẩm như khăn, xà rông, quà lưu niệm

- Ngành đồ gỗ: sản phẩm chủ yếu phục vụ nhu cầu của người dân vùng nông

thôn, giao thông đường thuỷ như ghe, vỏ lãi, tủ, giường, bàn ghế… Một số địa phương sản xuất phổ biến như Thốt nốt (sản phẩm nội thất), Phụng Hiệp, Chợ Mới (ghe xuồng)

- Ngành thực phẩm: hầu như các địa phương của vùng đều có những sản phẩm

ẩm thực đặc trưng của địa phương như bánh pía, lạp xưởng Sóc Trăng, kẹo dừa Bến Tre, nem Lai Vung, rượu Xuân Thạnh, khô các loại Châu Đốc, Kiên Giang và Trà Vinh

Trang 14

- Ngành gạch ngói, gốm mỹ nghệ: hiện nay ngành sản xuất gạch ngói vẫn phát

triển mạnh ở An Giang, Đồng Tháp, Sóc Trăng; trong khi đó, một số cơ sở sản xuất gạch ngói ở Vĩnh Long đã chuyển sang sản xuất gốm mỹ nghệ phục vụ cho thị trường xuất khẩu khoảng 10 năm nay

Trên đây, là một số thông tin nghiên cứu và phản ánh một số ngành nghề truyền thống phổ biến với sự tham gia đông đảo của người dân địa phương Bên cạnh đó, vẫn còn một số sản phẩm truyền thống với qui mô nhỏ nên không được phản ánh trong đề tài này

2.1.3 Vai trò của nghề truyền thống đối với phát triển kinh tế địa phương

Phát triển ngành nghề truyền thống là chiến lược kinh tế quan trọng của Đảng

và Nhà nước ta, bởi vì không những giữ gìn ngành nghề truyền thống mà còn góp phần ổn định cuộc sống đối với người dân ở vùng nông thôn Theo phóng sự của Báo Người lao động (28/03/2007), giá trị tạo ra mỗi năm từ các làng nghề Việt Nam khoảng 300 triệu đôla Mỹ và thu hút 11 triệu lao động tham gia Đặc biệt khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế giới cũng góp phần đưa sản phẩm truyền thống của các làng nghề truyền thống đến các thị trường mới Tuy nhiên, hiện nay hoạt động của các làng nghề bị mai một dần, chỉ có 32% phát triển tốt, 42% hoạt động cầm chừng và 26% có nguy cơ bị xoá sổ

Theo tài liệu của Viện phát triển bền vững ở Việt Nam cho thấy đa số các cơ sở sản xuất trong các làng nghề có quy mô hộ gia đình (chiếm đến 80,1%) Trung bình hàng năm các làng nghề đóng góp vào tổng kim ngạch xuất khẩu là 600 triệu đôla

Mỹ, đồng thời tạo việc làm cho người dân vùng nông thôn

Hiện nay, 70% trong số 1.450 làng nghề tập trung ở các tỉnh miền Bắc; riêng ĐBSCL có hơn 200 làng nghề lớn nhỏ, thu hút khoảng 100.000 lao động nông nhàn Theo số liệu mô tả trong đề tài nghiên cứu của Ths Nguyễn Hữu Đặng (năm 2005) cho thấy, tương ứng với giá trị xuất khẩu 1 triệu đôla Mỹ hàng thủ công mỹ nghệ thì thu hút từ 3.000 – 4.000 lao động chuyên nghiệp và nông nhàn; trong khi đó, xuất khẩu 1 triệu đôla Mỹ hạt điều thì chỉ giải quyết được khoảng 400 lao động

Trang 15

Ngoài giá trị sản xuất đóng góp cho nền kinh tế địa phương, phát triển ngành nghề truyền thống còn góp phần bảo tồn và xây dựng nét đặc trưng của địa phương

đó khi được nhắc đến Thông thường, mỗi địa phương được mệnh danh với một hoặc vài loại đặc sản nơi đó Cụ thể như: gốm tráng men Bát Tràng, gốm đỏ Vĩnh Long, chiếu Định Yên, nem Lai Vung, nếp Phú Tân…

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1.1 Thu thập số liệu

2.1.1.1 Chọn địa bàn nghiên cứu

Do đặc điểm sản xuất của các ngành nghề truyền thống thường được tổ chức sản xuất tập trung tại một địa phương (ấp, xã) nên việc chọn điểm khảo sát cũng mang tính đại diện cao Cụ thể, đối với ngành tre đan chủ yếu tập trung ở những nơi gần sông ngòi đặc biệt là nghề đan lợp ở Phường Thới Long Quận Ô Môn Thành phố Cần Thơ là một điển hình Bởi vì, thuận tiện cho việc vận chuyễn, nguyên vật liệu (tre), cũng như tiêu thụ sản phẩm (lợp) với số lượng lớn

2.1.1.2 Số liệu sơ cấp

- Hộ tham gia nghề đan lợp: Đề tài tiến hành khảo sát và phỏng vấn trực tiếp 20

hộ sản xuất lợp tại Phường Thới Long Nội dung thu thập từ đối tượng này chủ yếu liên quan đến thực trạng sản xuất của hộ như qui mô, nguồn lực sản xuất, thị trường đầu vào và đầu ra, và ảnh hưởng của các chính sách, tổ chức nghề nghiệp tại địa phương

- Cán bộ thuộc các tổ chức nghề nghiệp (Hợp tác xã): nhóm nghiên cứu thu thập những thông tin liên quan đến thực trạng phát triển nghề và những hoạt động thường niên hỗ trợ các hộ gia đình

- Cán bộ thuộc các cơ quan địa phương (Chi cục HTX, UBND Phường): Thực hiện phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc về một số vấn đề như: vai trò của địa phương đối với sự phát triển ngành, đóng góp của cơ sở đối với phát triển kinh tế -

xã hội địa phương và việc thực hiện các chính sách hỗ trợ phát triển nghề đan lợp

Trang 16

2.2.1.3 Số liệu thứ cấp

Thu thập từ các cơ quan quản lý ngành, chính quyền địa phương bao gồm báo cáo tổng kết năm, kế hoạch và các chính sách liên quan đến phát triển ngành nghề truyền thống và các nghiên cứu trước đây

2.2.2 Phương pháp phân tích

Nhằm thỏa mãn các mục tiêu nghiên cứu về thực trạng phát triển ngành nghề dựa trên cơ sở đánh giá lợi thế cạnh tranh và đề xuất giải pháp ưu tiên phát triển, một số phương pháp phân tích được áp dụng như sau:

2.2.2.1 Đối với mục tiêu (1): công cụ thống kê mô tả được áp dụng nhằm mô

tả thực trạng phát triển của nghề đan lợp tại địa bàn nghiên cứu thông qua việc ước lượng các tiêu chí như qui mô sản xuất, nguồn lực sản xuất của hộ sản xuất

2.2.2.2 Đối với mục tiêu (2): phân tích các yếu tố tác động dẫn đến sự tham

gia các hoạt động ngành nghề, nhóm nghiên cứu sử dụng hai công cụ đánh giá sau đây để thoả mãn mục tiêu trên, đó là:

- Công cụ xếp hạng các nguồn lực của cơ sản xuất bao gồm: bí quyết sản xuất (know-how), nguồn nhân lực, khả năng tài chính, và thông tin, quan hệ xã hội Đây

là phương pháp xác định hành vi tham gia ngành dựa vào lợi thế cạnh tranh về nguồn lực của cơ sở sản xuất do Trung tâm thương mại quốc tế của Tổ chức thương mại thế giới thiết kế

- Công cụ so sánh cặp các tiêu chí bao gồm: hiệu quả sản xuất, dễ gia nhập ngành, yếu tố thị trường, kỹ năng sản xuất, và ảnh hưởng tích cực về môi trường Các tiêu chí này nhằm xác định tầm quan trọng của các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia ngành

2.2.2.3 Đối với mục tiêu (3): xác định lợi thế cạnh tranh của nghề đan lợp,

phương pháp phân tích lợi thế cạnh tranh của ngành với sự tham gia của nhiều đối

Trang 17

tượng (gọi là PACA2) được sử dụng Bởi vì, đây là một tập hợp các công cụ để xác định lợi thế và bất lợi thế cạnh tranh về ngành hàng của địa phương nào đó Phương pháp này tiếp cận thực tế từ dưới lên, mang tính tập thể bao gồm nhà sản xuất, hiệp hội nghề nghiệp, các tổ chức hỗ trợ, chính quyền địa phương và các đối tượng khác Những đặc điểm cụ thể của PACA đó là:

- Sử dụng phương pháp đánh giá nhanh với sự tham gia của nhà sản xuất Tạo

sự trao đổi năng động, nhận biết, thống nhất và định hướng vấn đề

- Tổng hợp và chọn lọc thông tin theo cách tiếp cận từ dưới lên

PACA được phân tích dựa vào những công cụ cụ thể như:

- Mô hình 5 động lực của Michael Porter nhằm xác định tình hình hiện tại của

ngành hàng dựa vào 5 nhóm động lực: Đối thủ mới tham gia ngành, đối thủ trong ngành, các nhà cung cấp, khách hàng tiêu thụ, và hàng hoá thay thế

- Mô hình kim cương của Michael Porter nhằm dự báo những lợi thế và bất lợi

thế trong quá trình xây dựng năng lực cạnh tranh của ngành hàng nào đó Sự đánh giá theo mô hình kim cương gồm 4 yếu tố cơ bản: Chiến lược kinh doanh và cạnh tranh, các ngành liên quan và hỗ trợ, các yếu tố đầu vào, và các điều kiện về nhu cầu

- Ma trận SWOT nhằm phân tích tình hình của ngành dưới sự ảnh hưởng của

môi trường bên trong và bên ngoài, từ đó các nhà quản lý có thể xác định các biện pháp và hành động cụ thể nhằm mục đích khai thác cơ hội, điểm mạnh và khắc phục điểm yếu, giảm thiểu rủi ro

2.2.2.4 Đối với mục tiêu (4): Đề xuất các giải pháp ưu tiên nhằm tăng cường

năng lực cạnh tranh của nghề đan lợp thống tại địa bàn nghiên cứu

2 PACA: Participatory Appraisals of Competitive Advantages của Jorg Meyer-Stamer Tài liệu được xây dựng trên cơ sở các khái niệm và kiểm nghiệm thực tế Phương pháp này được giới thiệu lần đầu vào tháng 9- 10/1998 tại miền Nam của Brazil

Trang 18

Dựa vào kết quả phân tích và thông tin thu thập từ các đối tượng liên quan đến giải pháp phát triển ngành nghề, Sơ đồ Venn3 được sử dụng để xác định vai trò, mối quan hệ và các hoạt động cụ thể giữa các đối tượng trong quá trình thực hiện các biện pháp Trong đó, kích cở của vòng tròn (tác nhân) thể hiện vai trò của tác nhân,

và khoãng cách giữa các vòng tròn thể hiện mối quan hệ giữa các tác nhân trong quá trình thực hiện biện pháp

2.3 MỘT SỐ CHÍNH SÁCH LIÊN QUAN ĐẾN PHÁT TRIỂN NGÀNH NGHỀ TRUYỀN THỐNG

2.3.1 Quyết định số 132 của Chính phủ ngày 24 tháng 11 năm 2000 về “Một số

chính sách khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn”, nội dung cụ thể sau

- Nhà nước cho phép chuyển một phần diện tích đất nông nghiệp, lâm nghiệp

để phát triển ngành nghề nông thôn

- Lập quy hoạch, kế hoạch phát triển các vùng nguyên liệu nông, lâm, thủy sản

để bảo đảm nguồn nguyên liệu tại chỗ, ổn định cho ngành nghề nông thôn phát triển

- Cơ sở ngành nghề nông thôn được vay vốn của các tổ chức tín dụng dưới hình thức bảo lãnh bằng tín chấp của tổ chức, đoàn thể chính trị - xã hội theo quy định tại Điều 26 của Nghị định số 178/1999/NĐ-CP, ngày 29 tháng 12 năm 1999 về bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng

- Cơ sở ngành nghề nông thôn thực hiện việc đóng phí, lệ phí theo quy định tại Nghị định số 04/1999/NĐ-CP ngày 30 tháng 01 năm 1999 của Chính phủ, bải bỏ và nghiêm cấm việc thu các loại phí và lệ phí khác trái pháp luật đối với các cơ sở ngành nghề nông thôn

- Cơ sở ngành nghề nông thôn được giảm 50% trở lên về chi phí thuê diện tích tham gia hội chợ, triển lãm giới thiệu sản phẩm ở trong nước Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi về thủ tục xuất nhập cảnh và tài trợ một phần chi phí

3 Sơ đồ Venn do John Venn (1834-1923) phát hiện từ những ô tròn trên khung kính cửa sổ tại trường Gonville

và Caius, Cambribge Sơ đồ Venn được giới thiệu năm 1881

Trang 19

cho các cơ sở ngành nghề nông thôn và nghệ nhân được đi tham quan, học tập, tham gia hội chợ triển lãm, giới thiệu sản phẩm và tìm hiểu thị trường ở nước ngoài

- Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức, chỉ đạo và dành nguồn kinh phí cần thiết trong kế hoạch hàng năm cho việc nghiên cứu, đổi mới công nghệ, cải tiến mẫu mã,

sử dụng các nguồn nguyên liệu trong nước; hướng dẫn việc áp dụng các loại công nghệ phù hợp để nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành, đa dạng hoá sản phẩm, nâng cao giá trị thẩm mỹ và độ tinh xảo của sản phẩm làng nghề; nghiên cứu và chuyển giao công nghệ xử lý chất thải, giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trường trong ngành nghề nông thôn

- Ưu tiên đào tạo và sử dụng lao động đối với những hộ gia đình mà Nhà nước thu hồi đất để phát triển ngành nghề, lao động là người địa phương Khuyến khích các nghệ nhân, hợp tác xã, tổ chức, hiệp hội mở các lớp truyền nghề, dạy nghề cho lao động

2.3.2 Nghị định số 134 của Chính phủ, ngày 09 tháng 06 năm 2004 về

“Khuyến khích phát triển công nghiệp nông thôn” (được gọi là hoạt động khuyến

công), bao gồm những nội dung cụ thể sau:

- Hướng dẫn, hỗ trợ tổ chức, cá nhân khởi sự doanh nghiệp lập dự án đầu tư phát triển công nghiệp nông thôn, tìm kiếm mặt bằng sản xuất, tuyển dụng, đào tạo lao động, huy động vốn, xin ưu đãi đầu tư và các thủ tục hành chính khác theo đúng quy định của pháp luật, phù hợp với quy hoạch phát triển công nghiệp theo vùng, lãnh thổ và địa phương

- Hướng dẫn, hỗ trợ cơ sở sản xuất công nghiệp nông thôn nâng cao năng lực quản lý, hợp lý hoá sản xuất, hạ giá thành sản phẩm

- Hướng dẫn, tư vấn cơ sở sản xuất công nghiệp nông thôn đầu tư xây dựng dây chuyền sản xuất mới, mở rộng quy mô sản xuất, đổi mới và ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất, quản lý chất lượng sản phẩm và bảo vệ môi trường

- Tổ chức đào tạo nghề, truyền nghề và phát triển nghề

Trang 20

- Hỗ trợ cung cấp thông tin, tiếp thị, tìm kiếm thị trường, đối tác kinh doanh và

tổ chức triển lãm, hội chợ và giới thiệu sản phẩm

- Tổ chức các hoạt động trao đổi kinh nghiệm, tham quan, khảo sát; hỗ trợ và tạo điều kiện để các cơ sở sản xuất công nghiệp nông thôn liên doanh, liên kết, hợp tác kinh tế, tham gia các hiệp hội ngành nghề

- Xây dựng mô hình trình diễn kỹ thuật, chuyển giao công nghệ và thực hiện dịch vụ tư vấn khoa học - công nghệ để hỗ trợ tổ chức, cá nhân đầu tư sản xuất công nghiệp nông thôn

2.3.3 Thông tư số 03 của Bộ Công nghiệp, ngày 23 tháng 06 năm 2005:

“Hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị Định 134/NĐ-CP của Chính phủ

về khuyến khích phát triển công nghiệp nông thôn” Nội dung tóm tắt của hoạt động

khuyến công được thực hiện dưới các hình thức sau:

- Tổ chức các lớp, khóa đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn, truyền nghề

- Tổ chức các điểm tư vấn hoặc tiến hành tư vấn trực tiếp tại cơ sở sản xuất công nghiệp nông thôn

- Trực tiếp hỗ trợ cơ sở sản xuất công nghiệp nông thôn lập dự án khởi sự doanh nghiệp, đầu tư mở rộng sản xuất, đầu tư sản xuất sản phẩm mới, đổi mới và ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất, quản lý chất lượng sản phẩm và bảo vệ môi trường

- Hỗ trợ việc chuyển giao công nghệ có kèm theo đào tạo cho cơ sở sản xuất công nghiệp nông thôn

- Xây dựng mô hình trình diễn và tổ chức trình diễn kỹ thuật để phổ biến công nghệ mới, sản xuất sản phẩm mới và nhân rộng các mô hình tốt đã có

- Tổ chức, hỗ trợ cơ sở sản xuất công nghiệp nông thôn tham gia hội chợ, triển lãm; tham quan khảo sát, học tập - trao đổi kinh nghiệm, liên doanh liên kết, hợp tác kinh tế và tham gia các hiệp hội ngành nghề

- Hỗ trợ cung cấp thông tin, tìm kiếm thị trường, tìm kiếm đối tác kinh doanh

Trang 21

- Các hình thức khuyến công khác phù hợp với các hoạt động quy định định tại Điều 3 Nghị định số 134/2004/NĐ-CP

2.3.4 Nghị định số 66 của Chính phủ, ngày 07 tháng 07 năm 2006 về “Phát

triển ngành nghề nông thôn” bao gồm những nội dung cụ thể sau:

- Nhà nước xây dựng quy hoạch tổng thể và định hướng phát triển ngành nghề nông thôn dài hạn của cả nước và từng vùng kinh tế gắn liền với việc thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn

- Chương trình bảo tồn, phát triển làng nghề gắn với phát triển du lịch

- Xây dựng cụm tiểu thủ công nghiệp, làng nghề tập trung

- Hỗ trợ kinh phí xử lý môi trường, tiếp cận tín dụng

- Thực hiện các chương trình xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu

- Khuyến khích ứng dụng khoa học công nghệ

- Hỗ trợ kinh phí đào tạo nhân lực phục vụ ngành nghề

2.3.5 UBND thành phố Cần Thơ có chủ trương, chính sách hỗ trợ ngành nghề nông thôn như lập quy hoạch ngành nghề nông thôn 2010 định hướng 2015 và quyết định số 69/QĐ.UB về quy định tạm thời về tiêu chuẩn làng nghề công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp

Trang 22

CHƯƠNG 3 GIỚI THIỆU VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG SẢN XUẤT CỦA NGHỀ ĐAN LỢP TẠI PHƯỜNG THỚI

LONG QUẬN Ô MÔN TPCT 3.1 GIỚI THIỆU ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

3.1.1 Đặc điểm tự nhiên

3.1.1.1 Vị trí địa lý

Là một trong 5 phường của quận Ô Môn, nằm về phía Tây của quận, diện tích tự nhiên là 7.551,7ha Bắc giáp huyện Thốt Nốt, đông giáp tỉnh Đồng Tháp và Vĩnh Long, tây và nam giáp phường Thới An và huyện Cờ Đỏ

Hình 3 – 1: Bản đồ hành chính Quận Ô Môn

Địa bàn nghiên cứu

Trang 23

Nguồn : www.Cantho.gov.vn

Phường Thới Long có 18 khu vực đó là:

3.1.1.2 Đất đai và khí hậu

Phường Thới Long có diện tích 3641,68 ha, đất đai thuộc loại đất phù sa phân

bố dọc sông Hậu, cách bờ sông 15-25km, bao gồm 3 loại đất: đất phù sa được bồi ven sông, đất phù sa có tầm loang lổ đỏ vàng, đất phù sa gley

Là một phường thuộc Quận Ô Môn, Thành phố Cần Thơ nên cũng có những điều kiện thời tiết như các vùng khác, có khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo với khí hậu hai mùa rõ rệt, nhiệt độ trung bình hàng năm khoản 26,7oC, lượng mưa 1.697,3mm tập trung chủ yếu (90%) vào mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, ẩm độ trung bình hàng năm là 84,3%

Trang 24

Điều kiện tự nhiên, đất đai và sự phân bố dân cư là những yếu tố thuận lợi cho

việc quản lý sản xuất

3.1.2 Đặc điểm kinh tế - văn hóa xã hội

3.1.2.1 Kinh tế

- Nông - lâm - ngư nghiệp: Tuy là đơn vị hành chính Phường nhưng nông

nghiệp vẫn đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế trong đó cây lúa là chủ yếu:

Diện tích lúa năm 2006 là 5.271 ha năng suất lúa bình quân là 4,89 tấn/ha Hoa màu,

thực phẩm, cây công nghiệp trồng với diện tích là 1195,3 ha Chăn nuôi: đàn bò có

91 con, đàn heo có 5.560 con, gia cầm có 29.317 con Thủy sản bao gồm tôm và cá

với 190,85 ha và tổng sản lượng là 8540 tấn Kinh tế vườn chỉ chiếm một phần nhỏ

với có 953 ha là vườn có thu nhập

- Công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp- thương mại- dịch vụ:

Năm 2006 các cơ sở công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp, thương mại- dịch vụ từng bước phát triển ổn định 07 doanh nghiệp

tư nhân; tiểu thủ công nghiệp tăng 5 toàn phường có 475 cơ sở, gồm các loại: đan lợp, chầm nón, lò gạch, đấp lò… thương mại dịch

vụ tăng 21; toàn phường có 436, cơ sở sức mua bán của người dân địa phương có nâng lên vì sản xuất được giá

Bảng 3- 1: GIÁ TRỊ SẢN SUẤT CỦA NGÀNH CÔNG NGHIỆP – TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP – DỊCH VỤ

ĐVT: triệu đồng

Nguồn: Báo cáo tổng kết năm của phường Thới Long, 2006

Nhìn chung, giá trị sản xuất của ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp tăng qua các năm là do có sự quan tâm lãnh

đạo của Ủy ban nhân dân phường, tạo điều kiện thúc đẩy các cơ sở phát triển, trên cơ sở khuyến khích đẩy mạnh các cơ sở tập trung

đầu tư, đổi mới thiết bị công nghệ phục vụ cho chế biến, xuất khẩu, tăng giá trị hàng hóa, tăng thu nhập Duy trì và phát triển các cơ

sở tiểu thủ công nghiệp, ngành nghề truyền thống …tạo việc làm tăng thu nhập cho người lao động, phát huy hiệu quả của Hợp tác

xã Do đây là phường nên giá trị sản xuất của tiểu thủ công nghiệp không được tách ra vì mỗi năm khu vực này đóng góp vào ngân

sách phường không nhiều nên chưa được quan tâm đúng mức

3.1.2.2 Văn hóa – xã hội

- Dân số và lao động: Toàn phường có 6.031 hộ, dân số trung bình là 35.567

người, mật độ dân số 935 người/km2, đa số là dân tộc Kinh, số người trong độ tuổi

lao động là 23.850 người, thu nhập bình quân đầu người năm 2006 là 10 triệu đồng

Năm 2006, tỷ lệ hộ nghèo của phường giảm so với tổng số hộ là 3,85%, trình

độ dân trí được cải thiện, huy động học sinh ra lớp đạt 106,16% kế hoạch, mở rộng

diện tích xây dựng thêm 6 phòng học

Toàn phường có 6.023 căn nhà ở, trong đó có 118 căn nhà lầu, trệt nóc bê tông 2.861 nhà tường ngói, tôl, 1.729 nhà cột,

mái ổn định, còn lại (1.315 căn) là nhà tạm thời

Thống kê năm 2006, phường xây dựng mới 7 khu vực văn hoá đạt 233% kế

hoạch, nâng chất 8 khu vực, có 98,17% gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình văn hoá

Trang 25

Thông tin liên lạc: Phường có đài truyền thanh hoạt động theo đúng qui định đưa tin ngày 3 buổi, hình thức tương đối phong phú, thông tin kịp thời về tình hình kinh tế xã hội và các chủ trương; bên cạnh loa phát thanh phương tiện nghe nhìn của người dân trong khu vực là tivi, radio Nhìn chung, việc tiếp cận các thông tin thị trường, thông tin kỹ thuật về trồng trọt và chăn nuôi còn ở mức trung bình về nội dung lẫn trình độ tiếp thu và ứng dụng

3.1.3 Cơ sở hạ tầng

- Thuỷ lợi: Từ năm 1999 đến nay, mỗi năm phường tổ chức xây dựng và nạo

vét các con kênh nhằm mục đích khắc phục tình hình khô cạn, thiếu nước nhằm đảm bảo sản xuất, phục vụ sản xuất nông nghiệp

Vận động đóng góp của nhân dân được 297 triệu đồng, xây dựng mới và sửa chữa 29 công trình cầu - đường giao thông nông thôn và 6 công trình thuỷ lợi tổng chiều dài 3.270m vào năm 2005

- Giao thông: có 11km đường nhựa, đổ cát; 17km đường đất nâng cấp, 12 cầu

bê tông được xây dựng năm 2005 nối liền các khu rất thuận tiện cho việc đi lại của

bà con, cả mùa nắng lẫn mùa mưa

- Hệ thống điện, nước phục vụ người dân: trên toàn địa bàn có 5.901 hộ sử

dụng điện chiếm khoản 97,84% và 4.920 hộ sử dụng nước sạch đạt 81,58% Nhìn chung, điện nước đã đưa về tới đa số người dân, đáp ứng nhu cầu về sinh hoạt cơ

bản cho người dân

3.2 VÀI NÉT SƠ LƯỢC VỀ CÁC NGHỀ NÔNG THÔN TRUYỀN THỐNG TẠI TPCT

Tuy Thành phố Cần Thơ trở thành thành phố trực thuộc Trung ương từ năm

2004 nhưng tỷ trọng sản xuất về nông nghiệp vẫn còn cao chiếm 21.22% tổng giá trị sản phẩm trên địa bàn Nhìn chung hơn một nửa cư dân của TPCT vẫn sống trong vùng nông thôn đất chật người đông; tính trên đất dành cho nông nghiệp canh tác ở mức trung bình thấp 0,1ha/khẩu Vì thế, việc giải quyết lao động nông thôn dôi dư là một nhu cầu cấp bách của xã hội Từ đó, việc khôi phục và phát triển các ngành nghề truyền thống nhằm thu hút lao động nông thôn lúc nông nhàn để tăng thêm thu nhập cho gia đình, phát triển kinh tế địa phương là một nhu cầu cần thiết

Bảng 3- 2: THỐNG KÊ SỐ HỘ THAM GIA NGÀNH NGHỀ TRUYỀN THỐNG

NÔNG THÔN TẠI TPCT TÍNH ĐẾN NĂM 2007

Trang 26

- Qua số liệu ta thấy nghề mây tre đan (đan đát) gồm: đan thúng, rỗ, mê bồ,

soạt, cần xé đa số các sản sẩm này đều phục vụ cho sản xuất nông nghiệp như

đựng các nông sản sau thu hoạch, nghề đan đát thu hút nhiều hộ cũng như nhiều

lao động tham gia sản xuất nhất, đó là do đặc tính các sản phẩm này dễ làm đơn

giản Hơn nữa, Cần Thơ nằm ở khu vục trung tâm của ĐBSCL nên việc vận

chuyển về đường thủy và đường bộ cũng đều thuận lợi, nơi đây có nguồn nguyên

liệu dồi dào, nhiều làng nghề có truyền thống sản xuất lâu năm khách hàng khắp

nơi điều biết đến với giá cả hợp lí và chất lượng sản phẩm ổn định Đây cũng là

nghề đòi hỏi có nhiều lao động tham gia đặc biệt là lao động nữ

- Đối với nghề gỗ được chia làm hai loại: nghề gỗ gia dụng như sản xuất bàn,

ghế, tủ còn lại là nghề gỗ đóng tàu, nghe, xuồng Đặc trưng của nghề gỗ này là

nằm gần sông rạch để dễ vận chuyển như làng nghề gỗ ở lộ Vòng Cung Nghề này

đòi hỏi lao động phải có tay nghề, lao động lúc đầu làm thợ phụ, qua hai ba năm

học nghề của thợ chính mới có thể tự tay đóng tàu, do đặc tính của nghề gỗ đòi hỏi

nguời lao động phải có sức khỏe để làm các công việc nặng nhọc vì thế lao động

nam tham gia nghề là chủ yếu

Trang 27

- Các nghề khác ở đây như: làm bánh tráng, làm nhang, thiêu ren, gốm sứ, gạch ngói cũng chiếm một số luợng lớn hộ tham gia hoạt động

Hiện nay tại thành phố Cần thơ có 8 làng nghề được công nhận là làng nghề truyền thống Bao gômg:

- Làng nghề làm bánh tráng ở Thuận Hưng quận Ô Môn chuyên sản xuất các loại bánh tráng cung cấp cho thị trường Thành phố và khu vực Hiện nay làng nghề này có khoảng 100 hộ tham gia sản xuất thu hút 200 đến 300 lao động tham gia mục tiêu đến năm 20010 thu hút khoảng 600 đến 800 lao động chính và 300 đến

400 lao động phụ

- Làng nghề đan lưới ở Thuận Hưng quận Ô Môn chuyên đan các loại lưới bắt

cá vào mùa nước nổi cung cấp chủ yếu cho thị trường ĐBSCL Tại đây có khoảng

50 đến 70 hộ tham gia sản xuất thu hút khoảng 400 đến 500 lao động

- Làng nghề mộc ở phường Châu Văn Liêm quân Ô Môn chuyên làm đồ gia dụng có khoảng 50 đến 70 hộ tham gia, thu hút được 500 đến 700 lao động

- Làng nghề mộc ở thị trấn Thốt Nốt cũng có khoảng 50 đến 70 hộ thm gia hoạt động sản xuất Đến năm 2010 có khoảng 100 hộ tham gia thông qua chương trình bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống của thành phố

- Làng nghề mộc ở phường An Bình quận Cái Răng chuyên đóng nghe tàu tại đây có khoảng 178 hộ tham gia sản xuất từ xưa đến giờ

- Làng nghề làm nhang ở Thới An quận Ô Môn có khoảng 70 hộ tham gia sản xuất

- Làng nghề mộc ở Ba láng chuyên sản xuất bàn ghế có khoảng 70 hộ tham gia sản xuất

- Làng nghề mộc ở Trung Kiên huyện Thốt Nốt cũng chuyên sản xuất đồ gỗ gia dụng Hiện nay có khoảng 60 hộ tham gia sản xuất

3.2 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NGHỀ ĐAN LỢP TẠI THỚI LONG

Từ ngàn đời nay, nghề đan đát bằng tre trúc đã rất quen thuộc đối với cư dân sống dọc hai bờ sông Mê Kông còn đối cư dân ở Đồng Bằng Sông Cửu Long mà đặc biệt là ở Thành phố Cần Thơ nó đã trở thành một sản phẩm không chỉ phục vụ

Trang 28

cho đời sống hàng ngày mà nó còn mang lại một nguồn thu nhập đối với người dân vùng nông thôn Các sản phẩm đó đã rất quen thuộc với chúng ta như các dụng cụ đựng nông sản như thúng, cần xé, dần, sàng…hay các sản phẩm dùng để bắt tôm,

cá như lợp, lờ Theo đánh giá của PGS-TS Trần Đức Cường, Phó Chủ tịch Viện Khoa học xã hội Việt Nam, “đan đát từ tre trúc là một nghề thủ công quan trọng, với những kỹ thuật được bảo tồn và phát triển từ xưa đến nay, chứa đựng những tri thức bản địa, những kinh nghiệm và tập quán, thực sự là một phần của cuộc sống của cư dân tại các bản làng thuộc các nước trong khu vực sông Mêkong”

Thành phố Cần thơ trở thành đô thị trực thuộc Trung ương, từ đó Thới Long

đã đổi từ xã thành Phường nhưng nghề đan lợp từ lâu trở nên thân thiết với người dân vùng nước nổi ở Phú Luông thuộc Phường Thới Long, Quận Ô Môn Thành phố Cần Thơ vẫn cần mẫn làm ra những sản phẩm dành cho những người gắn bó đời mình với từng con nước lớn ròng Theo như bà Nguyễn Thị Lệ có 45 năm kinh nghiệm trong nghề cho biết thì làng nghề làm lợp tép ở Thới Long hình thành từ những năm 60 của thế kỷ 20 do nhu cầu của thị trường và tận dụng những lúc rãnh rõi khi vụ mùa đã xong, để kiếm thêm thu nhập, tạo công ăn việc làm cho lao động

nữ và những người lớn tuổi hay trẻ em Lúc đầu chỉ có vài hộ tham gia sản xuất những sau năm 1975 thì số hộ tham gia vào nghề ngày càng nhiều hơn cho đến nay làng nghề lợp tép ở Thới Long đã thu hút được 300 hộ tham gia vào sản xuất, hàng năm giải quyết được 2,000 lao động mà đa số họ là phụ nữ Mỗi năm nơi này cung cấp cho thị trường khoảng 400 ngàn đến 500 ngàn cái lợp

Trang 29

Chẻ nan Vót nan Đập vành và bện

hom

Sơ đồ 3 – 1: Quy trình sản xuất của nghề đan lợp

- Công đoạn thứ 1: gọi là chẻ nan tre sau khi được cắt ra làm đừng đoạn, sau đó chẻ ra từng miếng nhỏ rồi sau đó chẻ lấy phần bên ngoài của thân tre sao cho nó không mỏng quá cũng không dày quá Đây là giai đoạn quan trọng đòi hỏi người lao động phải có tay nghề lâu năm vì theo khảo sát có đến 2% tỉ lệ nan chẻ bị hư không

sử dụng được do nan quá mỏng, còn nếu nó quá dày sẽ tốn công người lao động vót nan

- Công đoạn thứ 2: gọi là chẻ nan (chuốt) sau khi tre được chẻ làm nan sẽ đem

đi vót thành những que nhỏ, tròn Giai đoạn này đòi hỏi người lao động phải có đôi tay khéo léo nan vót ra phải tròn, chắc, đều

- Công đoạn thứ 3: gọi là dệt, sau khi nan được vót xong người sản xuất bắt đầu bện các nan lại với nhau bằng dây gân đến khi nào vừa kích thước của một cái lợp

- Công đoạn thứ 4: gọi là đập vành và bện hom, sắt sau khi mua về cắt ra thành những đoạn vừa với kích thước của lợp sau đó dùng kiềm và búa uống lại thành hình tròn, sau đó những nan nhỏ được bện vào vành sắt còn gọi là bện hom để cho cá tép vào trong lợp mà không ra được

- Công đoạn thứ 5: Gọi là vô lợp, nan được dệt xong người lao động sẽ ráp những bộ phận khác nhau để trở thành một cái lợp hoàn chỉnh

Yêu cầu đối với sản phẩm: sản phẩm làm ra phải đạt yêu cầu về kỹ thuật như chắc chắn, tròn

3.4.2 Chu kỳ sản xuất

Bảng 3 – 3: MÔ TẢ CHU KỲ SẢN SUẤT

Trang 30

Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Chuẩn bị NVL

Sản xuất

Tiêu thụ

Nguồn: số liệu điều tra, 2007

Đặc điểm của nghề đan lợp là chỉ làm vào mùa nước nổi, bắt đầu làm từ tháng

2 âm lịch đến tháng 9 Từ tháng 2 đến 5 là chuẩn bị nguyên vật liệu, sau tết Nguyên đán là hộ sản xuất bắt đầu mua nguyên vật liệu về sản xuất trước hết là làm những công đoạn như chẻ nan, vót nan, đập vành bện trước, từ tháng 5 đến tháng 8 là bắt đầu vô lợp (kết lại) thành sản phảm bán ra thị trường Tháng tiêu thụ cao nhất là tháng 6 do lúc này là bắt đầu cao điểm của mùa lũ khách hàng mua về để bán lại hay dùng bắt tép cá, tháng tiêu thụ ít nhất là tháng 2 do lúc này nước trên các sông ngòi, kênh rạch cạn khô nên sản phẩm tiêu thụ không được

Từ đó, cho ta thấy nếu năm nào lũ lớn thì năm đó bà con sản xuất được mùa và được giá, còn năm nào lũ nhỏ thì sản xuất ít, có nhiều bà con sản xuất quá nhiều mà

lũ năm đó về nhỏ vì thế sản phẩm bị ứ động không bán được, các hộ phải ngâm lợp dưới ao để năm sau bán tiếp hay bán với giá rẻ

3.4.3 Tình hình nguyên vật liệu

Nguyên vật liệu chủ yếu là tre, dây đồng, dây gân, vành sắt

- Tre phải là tre xiêm già mắt tre phải dài, thân tre phải thẳng theo số liệu điều tra có đến 35% nguyên liệu tre được mua trong Thành phố Cần Thơ và 65% còn lại mua chủ yếu từ các tỉnh như: Hậu Giang, Kiên Giang, Đồng Tháp Hiện nay

do việc trồng tre không mang lại hiệu quả kinh tế như các loại cây trồng ăn trái khác nên nhiều hộ gia đình đã phá bỏ rừng tre trồng cây ăn trái nên diện tích tre ngày càng bị thu hẹp Khi được hỏi về tình hình nguyên vật tre theo đánh giá của các hộ sản xuất ta đưa ra bảng sau như sau

Trang 31

Bảng 3 – 4: ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ CUNG CẤP NGUYÊN LIỆU TRE

Nguồn : số liệu điều tra, 2007

Có 20% số người được hỏi cho rằng nguyên liệu tre ngày nay khan hiếm hơn cách nay 5 năm Có 80% số người được hỏi cho rằng nguồn nguyên vật liệu tre ngày nay chỉ đủ cung cấp so với cách đây 5 năm là 55% số người đồng tình Có 45% số người trả lời cách đay 5 năm nguồn nguyên vật liệu tre là dồi dào không có người nào cho rằng tre ngày nay là dồi dào Thật vậy cách đây 5 năm các hộ sản xuất không cần phải đến tận nơi để mua tre mà thương lái dưới sông họ có thể mua tre với giá rẻ mà chất lượng tre lại tốt Ngày nay muốn mua tre phải đặt cọc trước với thương lái hay đến tận nơi mua, giá tre ngày càng có xu hướng tăng lên dẫn đến chi phí sản xuất tăng Theo giá hiện nay một cây tre mua vào với giá 20.000 đồng/cây

- Dây đồng, dây gân, vành sắt được mua tại trung tâm quận Ô Môn Nguồn nguyên liệu phụ này được cung cấp tương đối ổn định từ các cửa hàng bán sỉ hay bán lẻ, Tuy nhiên, mỗi năm giá có thể tăng 5%

3.4.4 Thiết bị sản xuất

Từ khi làng nghề lợp tép được hình thành và phát triển, trải qua nhiều thăng trầm thay đổi nhưng các thiết bị dùng để sản xuất vẫn không có gì thay đổi vẫn dao,

Trang 32

cưa, búa, kéo Từ số liệu điều tra đưa ra kết luận nhận xét của các hộ có sản xuất về thiết bị sản xuất hiện nay:

Bảng 3 –5: ĐÁNH GIÁ THIẾT BỊ SẢN XUẤT

Nguồn: số liệu điều tra, 2007

Cách đây 5 năm thiết bị sản xuất đối với người sản xuất là đáp ứng nhu cầu sản xuất, khi được hỏi có 100% số người đồng tình Hiện nay chỉ có 40% số người được hỏi bằng lòng với thiết bị sản xuất hiện có còn 60% còn lại theo họ đánh giá là lạc

hậu hơn các nơi khác

Hiện nay, trên thị trường có các thiết bị phục vụ cho sản xuất tương đối hiện đại như: máy cuốn vành, máy vót nan Tại Thới Long chỉ có 1 máy cuốn vành của Hợp tác xã Thành Công do Chi cục HTX và phát triển nông thôn hỗ trợ, mới đưa vào sử dụng, còn máy vót nan thì chưa có hộ nào đầu tư Hai loại máy này góp phần giảm lượng lao động chân tay, thời gian lao động được rút ngắn, sản phẩm làm ra đồng nhất và đẹp hơn, do giá của các loại máy này tương đối cao chỉ phù hợp với những hộ có qui mô sản xuất lớn nhưng chưa ai có ý định mua máy móc thiết bị do thông tin về các loại máy này hộ sản xuất chưa nắm rõ Còn đối với những hộ sản xuất nhỏ, không có vốn sản xuất thì máy móc đối với họ là điều không thể mơ tới

Trang 33

Vì thế, lao động chân tay vẫn là nguồn lực chính: điều này cũng làm giảm năng suất lao động và thu nhập của hộ

3.4.5 Nguồn lao động

Hình 3 - 2: Trình độ học vấn của chủ hộ

Nguồn: số liệu điều tra, 2007

Cấp 2 40,0%

34,0%

Trang 34

- Mỗi hộ trung bình có 4 lao động/hộ tham gia sản xuất, trình độ dân trí của lao động trong nghề tương đối thấp trung bình chỉ học hết lớp 5 Nguyên nhân do đa số các đối tượng được hỏi là chủ hộ đã lớn tuổi nên trình độ học vấn thấp, những hộ mù chữ là những hộ tham gia vào sản xuất lâu năm, chỉ sản xuất theo truyền thống gia đình chưa quan tâm nhiều đến việc vay vốn để mở rộng sản xuất hay đầu tư máy móc, còn những hộ học hết cấp 2 đa số là những chủ hộ trẻ mới tham gia nghề khoảng vài năm Nhìn chung, qua khảo sát những chủ hộ có trình độ học vấn cấp hai thì khả năng phân tích thị trường, đầu tư vào hoạt động sản xuất nhiều hơn các hộ

mù chữ hay học hết cấp một vì thế lợi nhuận mang lại cũng cao hơn khoảng 10 đến 12% trên mỗi vụ

Hình 3 - 3 Phân bố lao động trong nghề

Nguồn: số liệu điều tra, 2007

Nam 25,0%

Nữ 75,0%

Trang 35

- Đặc trưng của các ngành nghề truyền thống ở Việt Nam nói chung có một điểm giống nhau là giải quyết việc làm đối với lao động nữ nông thôn Đối với nghề làm lợp tép ở Thới Long cũng vậy theo số liệu điều tra trung bình mỗi hộ có 4 đến 5 lao động trong đó, 75% lao động là nữ tham gia vào sản xuất lợp và 25% lao động là nam, họ tham gia vào việc vận chuyển nguyên liệu hay cắt tre Ngoài ra, lực lượng

lao động này còn tham gia vào các hoạt động sản xuất nông nghiệp

Ngoài lao động gia đình qua khảo sát cho thấy có đến 55% số hộ tham gia sản xuất phải thuê lao động bên ngoài Tuy nhiên họ chỉ nhận nguyên vật liệu tại nơi sản xuất và thực hiện các công đoạn sản xuất tại nhà của họ, phần nhiều đan lợp là hoạt động tạo thêm thu nhập lúc nhàn rỗi và vừa làm vừa chăm sóc gia đình (đối với lao đông nữ) Vì thế, có đến 80% lao động được thuê là nữ, chính vì vậy giá thuê lao

động cũng rẻ hơn các nơi khác bình quân mỗi tháng có thể kiếm thêm 450.000 đồng

Tay nghề lao động: kết quả khảo sát cho thấy cho thấy lao động tham gia nghề đan lợp có thâm niên trên 20 năm

Bảng 3-6: CÁC ĐẶC ĐIỂM CỦA LAO ĐỘNG TRONG TỪNG CÔNG

ĐOẠN SẢN XUẤT

Số lượng lao động trung bình

Số năm kinh nghiệm

Trang 36

hom

Nguồn: số liệu điều tra, 2006

Từ đó, ta thấy chẻ nan và vót nan đòi hỏi người lao động phải có nhiều kinh nghiệm vì công đoạn này đòi hỏi người lao động mà nhất là lao động nữ phải khéo léo có kinh nghiệm như thế chẻ nan mới không dày cũng không mỏng, nhưng hai công đoạn này không đòi hỏi người lao động phải bỏ ra nhiều sức lao động và lao đông ở đây chủ yếu lao động lớn tuổi nên giá thuê lao động rẻ hơn các công đoạn khác Công đoạn dệt đa phần là lao động đã có kinh nghiệm làm việc từ 10 năm trở lên phải có sức khỏe để dệt các nan lại với nhau cho chắc chắn vì thế giá thuê lao động cao hơn hai công đoạn trên, đập vành và bện hom công đoạn này đa số là lao động nam tham gia và cần phải bỏ ra nhiều công sức nên giá thuê là cao nhất nhưng không cần nhiều lao động, vô lợp đây là đoạn cũng khá đơn giản chỉ cần ráp các bộ phận là trở thành sản phẩm nên giá thuê cũng tương đối nhưng không cần nhiều kinh nghiệm chỉ cần nhìn người khác làm là có thể làm được Quản lý, chỉ có những hộ

có quy mô sản xuất lớn đòi hỏi phải thuê mướn lao động sản phẩm làm ra nhiều nên cần có người quản lý mà đa phần họ là chủ hộ có kinh nghiệm sản xuất, nắm rõ những biến động trên thị trường và quy luật thủy triều hàng năm

3.4.6 Nguồn vốn sản xuất

Vốn là nguồn lực cần thiết để cho các hoạt động sản xuất kinh doanh mà quan trọng nhất là trong các ngành tiểu thủ công nghiệp đa phần họ là những hộ sản xuất nhỏ lẻ nguồn vốn tự có ít Đối với nghề đan lợp, để sản xuất được một mùa trung bình bà con phải phải đầu tư 10,2 triệu đồng đây là con số không nhỏ đối với người dân nông thôn, trong đó có 12,8% là vốn cố định để mua thiết bị sản xuất như: dao, cưa, búa, kéo phần còn lại dùng để mua nguyên vật liệu trong quá trình sản xuất Qua phân tích, vốn có tác động trực tiếp đến hiệu quả sản xuất của hộ giữa vốn lưu

Trang 37

động và vốn cố định thì vốn lưu động có tác dụng làm tăng doanh thu hơn đầu tư về vốn cố định Vì vốn cố định trong nghề đan lợp chiếm một phần nhỏ, còn vốn lưu động mới quyết định tăng doanh thu của chủ hộ nếu hộ nào có vốn lưu động nhiều

họ có thể đầu tư mua nhiều nguyên vật liệu cho sản xuất từ đó làm ra nhiều sản phẩm cung cấp cho thị trường Hiệu quả làm tăng doanh thu của hộ ngoài việc tăng vốn lưu động còn cần phải có tỷ lệ thích hợp giữa vốn lưu động và vốn cố định trong việc đầu tư mới trang thiết bị

Hình 3 - 4: Nguồn vốn của một hộ

Nguồn: số liệu điều tra, 2007

Vốn vay 22,3%

Vốn chủ sở hữu 77,7%

Về tín dụng: có đến 65% hộ sản xuất được hỏi có vay vốn từ ngân hàng hay các tổ chức tín dụng khác, mức vay trung bình mỗi hộ là 4,3 triệu đồng/hộ tương đương 22,3% nguồn vốn sản xuất còn 77,7% còn lại là vốn tự có của hộ Chỉ có 20% số hộ cho rằng họ có đủ vốn sản xuất không cần đi vay các tổ chức tín dụng những hộ này đa phần có quy mô sản xuất trung bình họ không muốn mở rộng sản xuất Còn 15% số hộ còn lại không vay được vốn là do hộ không có tài sản thế chấp hay ngại các thủ tục Tuy nhiên, với lượng vốn vay trung bình là 4,3 triệu trên hộ là quá ít đối với những hộ muốn mở rộng quy mô sản xuất Theo thăm dò nếu được vay vốn nhiều hơn thì những hộ có nhu cầu về vốn sẽ vay nhiều hơn để đầu tư vào sản xuất sẽ mang lại hiệu quả tốt hơn, lợi nhuận sẽ cao hơn

Trang 38

Mua dạo

(thu gom)

Thương lái

Trang 39

18,74% 5,66% 11,26%

57,3% 7,04% 100%

64,34%

Ghi chú

Tự tiêu dùng

Tiêu thụ

Hình 3 – 5: Kênh thị trường tiêu thụ sản phẩm lợp

Nguồn: Số liệu điều tra, 2007

Kênh tiêu thụ nhìn chung có sự tham gia của nhiều tác nhân mới đến tay người

tiêu dùng

- Người mua dạo (thu gom): là những người có nhu cầu mua lợp tép với số

lượng nhỏ khoảng vài chục cái có khi cả trăm cái cho mỗi lần mua, họ đến tận nơi

sản xuất để mua, họ có thể ghé từng nhà để mua mà không đặt trước, thỏa thuận giá

mua bán trực tiếp, nếu được thì mua ngay còn không được thì đến hộ khác mua, số

lượng bán ra hàng năm cho đối tượng này chiếm khoảng 24,4% tổng sản lượng sản

xuất ra trên địa bàn, trong đó họ mua để sử dụng là 5,66%, còn 18,74% bán lại cho

những người có nhu cầu sử dụng tại địa phương Đa phần người mua dạo là những

người sống trong Quận Ô Môn, hay trong TPCT, giá bán cho đối tượng này cao hơn

Trang 40

giá bán bình thường khoảng 7% vì mua với số lượng nhỏ nên họ không có ưu thế thương lượng giá cả so với thương lái Ưu điểm của người mua dạo là năm nào thủy triều lên đột ngột lúc này sản phẩm không đủ cung cấp trên thị trường thì người sản xuất có thể bán sản phẩm với giá cao hơn, tình trạng ép giá không xảy ra Nhược điểm khi bán cho tác nhân này là họ mua trong thời gian ngắn, đột ngột nên đôi khi không đủ sản phẩm cung cấp

- Thương lái: là những người ngoài TPCT như các tỉnh ĐBSCL và các tỉnh Miền Đông Nam Bộ, họ đi bằng nghe lớn đến mua thường mua với số lượng lớn, liên hệ thông qua gọi điện thoại đến từng hộ sản xuất để đặt hàng hay đến tận địa phương để đặt hàng rồi thương lượng giá bán sản phẩm sau một thời gian nhất định

họ sẽ đến lấy, thương lái mua chiếm khoảng 75,6% tổng sản lượng sản xuất của địa phương, do mua với số lượng lớn nên họ có ưu thế thường ép giá người bán thường thấp hơn 5% so với giá bán bình thường Ưu điểm là họ mua với số lượng lớn nên đầu ra ổn định chủ động được thời gian sản xuất, chất lượng sản phẩm không đòi hỏi cao lắm, còn nhược điểm là họ có thể ép giá hộ sản xuất Thương lái mua về thường bán 100% cho các vựa ở các chợ

- Vựa: là những người có nơi mua bán tương đối lớn tại các chợ huyện hay xã của các tỉnh Tây Nam Bộ hay các tỉnh Đông Nam Bộ, họ mua lợp với khối lượng lớn từ các thương lái về tồn trữ sản phẩm bán sĩ và bán lẻ Bán sĩ mua về bán 100% cho những người về bán lẻ, họ là những chủ tiệm tạp hóa nhỏ gần nơi tiêu thụ đối tượng này tiêu thụ khoảng 57,3% khối lượng sản xuất, giá bán sỉ có thể bằng giá thương lái bán cho chủ vựa cộng thêm 10%, bán lẻ cho người tiêu dùng chiếm một

tỷ lệ rất ít khoảng 7,04% nhưng giá bán lẻ rất cao so với giá mà thương lái bán cho chủ vựa khoảng 13% và sản phẩm lợp còn xuất khẩu theo con đường tiểu ngạch

Ngày đăng: 14/06/2021, 16:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w