1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Làm giàu protein củ sắn bằng cách lên men với nấm men làm thức ăn cho lợn địa phương ở lào tt

28 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 486,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sản lượng hàng năm là 1,6 triệu tấn Bộ Nông nghiệp và Lâm nghiệp, 2013.Các nông trại sắn không chỉ cần một nguồn thu nhập chính cho các hộ gia đình nôngthôn mà còn được sử dụng trong các

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGƯỜI HƯỚNG DẪN

1: PHÓ GIÁO SƯ, TIẾN SĨ LÊ VĂN AN

2: PHÓ GIÁO SƯ, TIẾN SĨ TRẦN THỊ THU HỒNG

HUẾ, 2019

Trang 3

GIỚI THIỆU

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Lợn là một trong những động vật quan trọng nhất đối với các hộ chăn nuôi quy

mô nhỏ ở vùng cao của Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Lào vì nó có thể được bán khicần tiền mặt để mua gạo và các thực phẩm khác, để trả học phí hoặc chi phí bệnh việncho người trong gia đình bị ốm và thịt lợn được sử dụng trong các nghi lễ truyền thốngcủa gia đình Lợn có thể được nhốt trong một khu vực nhỏ, có thể thích ứng với nhiềuphụ phẩm nông nghiệp, nhà bếp và mang lại lợi nhuận đầu tư nhanh chóng (Steinfeld,1998) Khoảng 75% hộ gia đình ở vùng cao trong nước đang nuôi lợn (FAO, 2017).Nhìn chung, lợn bản địa chiếm khoảng 85,1% trong hệ thống chăn nuôi quy mô nhỏ(DLF, 2017), chúng rất khỏe mạnh và có thể kiếm thức ăn cho chúng trong điều kiện tự

do, lợn bản địa được nuôi chủ yếu trong các hệ thống đầu tư thấp chủ yếu từ thức ăn tựnhiên (Kennard, 1996; FLSP, 2002) Ở hầu hết các vùng của Lào, phụ phẩm nôngnghiệp, như cám gạo và cỏ tự nhiên là thức ăn chính cho lợn (ILRI 2002) Ở các vùngnông thôn Lào, nơi hầu hết nông dân đang trồng lúa để bán, thức ăn cho lợn là cám gạocho ăn cùng với một lượng nhỏ thức ăn xanh Do đó, cám gạo có sẵn ở hầu hết các hộnông dân nhưng giá trị dinh dưỡng cám gạo không cao (ILRI, 2002; FLSP, 2002) Dothức ăn chiếm khoảng 50-60% chi phí sản xuất, nên chất lượng thức ăn rất quan trọngđối với sự thành công của hoạt động chăn nuôi lợn Các vấn đề chính có thể xảy ra dothức ăn chất lượng thấp dẫn đến kém ăn, tăng trưởng chậm, tỷ lệ chuyển đổi thức ăncao và tỷ lệ sống thấp do các vấn đề về chất lượng nguyên liệu, công thức thức ăn, côngnghệ chế biến, lưu trữ và quản lý thức ăn Vấn đề chính là việc cung cấp protein nhưđậu nành và bột cá nhưng lại không có sẵn ở các vùng nông thôn và đắt đỏ(Phengsavanh và Stür., 2006)

Trồng sắn chủ yếu để lấy củ Năng suất của củ sắn là khác nhau tùy thuộc vào

độ phì nhiêu của đất, hệ thống quản lý và tưới tiêu Năng suất củ sắn có thể từ 10 đến

15 tấn / ha mà không cần đầu tư trên đất bị xói mòn (Howeler, 1991) Ở Lào, sắn(Manihot esculenta Crantz) được gọi là ‘Man Ton’, hiện là cây trồng quan trọng thứ ba

ở Lào, sau lúa và ngô cho nông dân sản xuất nhỏ ở vùng cao Gần đây, cây sắn đã trởthành cây trồng quan trọng cho sử dụng trong nước hoặc xuất khẩu vì nó có thể được

sử dụng làm thực phẩm và thức ăn chăn nuôi cũng như chế biến công nghiệp thành tinhbột (Bộ Nông nghiệp và Lâm nghiệp, 2013) Sắn đã trở thành cây trồng chính ở Lào,chủ yếu là do xuất khẩu tinh bột được chiết xuất từ củ sắn Có năm nhà máy tinh bộtsắn có tổng diện tích trồng sắn là 60.475 ha, cho năng suất trung bình của củ tươi là 27tấn / ha Sản lượng hàng năm là 1,6 triệu tấn (Bộ Nông nghiệp và Lâm nghiệp, 2013).Các nông trại sắn không chỉ cần một nguồn thu nhập chính cho các hộ gia đình nôngthôn mà còn được sử dụng trong các khẩu phần ăn của lợn làm nguồn năng lượng vì củsắn có hàm lượng năng lượng cao (75 đến 85% carbohydrate hòa tan) nhưng proteinthô thấp (2 đến 3% CP) Củ sắn bao gồm carbohydrate tiêu hóa cao ở dạng tinh bột với

ít chất xơ (Kang và cs, 2015; Polyorach và cs, 2013) Lên men ở trạng thái rắn của củsắn là một công nghệ đầy hứa hẹn vì nó có khả năng nâng hàm lượng protein lên mứccần thiết để cân bằng carbohydrate, do đó tạo ra thức ăn gần như hoàn chỉnh cho lợn(Boonnop và cs, 2009) Sengxayalth và Preston, (2017a) đã báo cáo sự gia tăng protein

1

Trang 4

thực từ 2 đến 12% theo vật chất khô (VCK) của bột sắn Vanhnasin và cộng sự,(2016a) protein thực của củ sắn tăng từ 2 đến 7% trong chất khô (DM) Những pháthiện tương tự đã được báo cáo bởi Balagopalan và cộng sự, (1988), họ đã phát triểnmột quá trình lên men ở trạng thái rắn để làm giàu protein của bột sắn và chất thải của

nhà máy tinh bột sắn bằng nấm Trichoderma pseudokonigii rifai Lên men bằng nấm

men, vi khuẩn đã được nghiên cứu để làm giảm các thành phần phi dinh dưỡng, làmtăng giá trị dinh dưỡng của các sản phẩm phụ nông nghiệp (Okpako et al 2008;Aderemi et al 2007; Trần Thị Thu Hồng và Nguyễn Văn Ca, 2013) Phosphate bổ sungdẫn đến tăng sinh khối của nấm men và vi khuẩn (Papagianni et al 1999) Hữu vàKhammeng, (2014) đã báo cáo rằng khi thay thế ngô bằng bột sắn lên men có chứa13% protein thô ( theo VCK), tỷ lệ tiêu hóa và tồn dư Nito tương tự như khẩu phần đốichứng Protein làm giàu từ củ sắn có thể cung cấp trong khẩu phần ăn của lợn tới 25đến 28% protein trong khẩu phần ăn dựa trên bột sắn (hoặc củ sắn ủ), thay thế lá khoaimôn ủ (Vanhnsin và Preston, 2016b) hoặc bột đậu nành (Sengxayalth và Preston,2017b) Cũng tương tự như tăng trưởng ở lợn được báo cáo bởi Phương và cộng sự,(2013) đối với bột sắn được làm giàu từ 3 đến 5,5% protein thực khi sử dụng nấm

Aspergillus niger để ủ.

Thức ăn địa phương được sử dụng trong các hệ thống chăn nuôi nhỏ cho lợnbao gồm phụ phẩm gạo, thức ăn từ cây trồng và các nguyên liệu từ thực vật xanh khácnhau (ILRI 2002) Tuy nhiên, thức ăn địa phương có giá trị dinh dưỡng thấp Phụ nữthường là những người chủ chốt trong việc này, theo thông lệ truyền thống, họ dành 2đến 3 giờ mỗi ngày để thu thập và chuẩn bị thức ăn cho lợn (Trung tâm Nghiên cứuNông nghiệp Quốc tế Úc 2010) Nông dân có ít kiến thức về tối ưu hóa việc sử dụngcác nguồn thức ăn hiện có, tốc độ tăng trưởng của lợn chỉ 100 đến 120 g / ngày nếu phụthuộc vào thức ăn địa phương Trong thức ăn hoàn chỉnh thương mại, các nguồnprotein phổ biến nhất là bột cá và bột đậu nành Những thức ăn này cung cấp proteinchất lượng cao cho lợn, nhưng chúng được nhập khẩu và đắt tiền Do giá cao, cácnguồn protein như vậy không thể được sử dụng bởi các hộ nông dân nghèo(Phengsavanh và cs, 2010) Vì vậy, cải thiện giá trị dinh dưỡng dồi dào của thức ăn địaphương trong vùng của họ, đặc biệt là ứng dụng lên men vi sinh vật, có thể cải thiện giátrị dinh dưỡng của thức ăn địa phương và sử dụng làm thức ăn cho lợn địa phương ởLào, giúp giảm chi phí thức ăn và mang lại lợi ích kinh tế cho nông dân ở vùng nôngthôn

2 MỤC TIÊU

Mục đích tổng thể của luận án này là cải thiện giá trị dinh dưỡng của củ sắn

bằng cách lên men với nấm (Saccharomyces cerevisiae), phụ gia Urea và

di-ammonium phosphate như là nguồn protein sử dụng trong khẩu phần của lợn Moo Lath Mục tiêu cụ thể là:

• Nghiên cứu giá trị dinh dưỡng của củ sắn bằng cách lên men với nấm

(Saccharomyces cerevisiae), phụ gia Urê và Di-ammonium phosphate

Trang 5

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

Có những điểm chính sau: (i) Chăn nuôi lợn ở Lào; (ii) nhu cầu về protein và axit aminđối với lợn đang phát triển; (iii) thức ăn cho lợn ở Lào; (iv) phương pháp cải thiện giátrị cho thức ăn chăn nuôi có hàm lượng protein thấp; và (v) sử dụng thức ăn thô xanh

cho lợn

3

Trang 6

CHƯƠNG 2 CẢI THIỆN GIÁ TRỊ DINH DƯỠNG CỦA CỦ SẮN

(Manihot esculenta Crantz)

ĐẶT VẤN ĐỀ

Những vấn đề chính của chăn nuôi lợn quy mô nhỏ ở vùng cao của CHDCND Lào là tỷ lệ chết của lợn con cao và tốc độ sinh trưởng thấp Hầu hết tất cả các giống lợn thuộc giống địa phương (Mou Lath), được quản lý trong các hệ thống bẩn và chịu sự bất cập về thức ăn cả chất lượng và số lượng Theo khảo sát của Phonepaseuth và cs, (2010), hầu hết lợn con ở vùng cao có tốc độ sinh trưởng thấp (20-50 g / ngày) và tỷ lệ chết cao (30-50%) Lợn cai sữa cần từ 5 đến 8 tháng để đạt trọng lượng sống từ 20 đến 30 kg.

Củ sắn bao gồm carbohydrate và do đó là nguồn năng lượng chủ yếu Hàm

lượng tinh bột thay đổi từ 32 đến 35% khối lượng của củ tươi và 80 đến 90% khối lượng củ khô (Montagnac et al., 2009) Hàm lượng protein là không đáng

kể, từ 1 đến 3% chất khô (Buitrago, 1990).

Một cách để cải thiện hàm lượng protein trong thức ăn giàu carbohydrate là lên men ở trạng thái rắn với nấm men (Araujo và cs, 2008; Hong và Ca,

2013) Quá trình lên men của bột sắn với S cerevisiae đã tăng mức protein từ

4,4% lên 10,9% theo VCK và làm giảm hàm lượng xyanua (Oboh và Kindahunsi, 2005).

Lên men trạng thái rắn của củ sắn bằng urê và di-ammonium phosphate (DAP) là một công nghệ đầy hứa hẹn vì nó có khả năng nâng hàm lượng protein lên mức cần thiết để cân bằng carbohydrate, do đó tạo ra khẩu phần thức ăn gần như hoàn chỉnh cho động vật như lợn và gia cầm (Boonnop và cs, 2009).

Thực tế, trong các nghiên cứu được báo cáo cho đến nay là không phải tất cả các hợp chất nitơ được thêm vào (urê và DAP) đã được chuyển đổi thành protein thực, mức độ không bao giờ vượt quá 50 đến 70% protein thô trong các thí nghiệm với củ sắn lên men (Vanhnasin và Preston, 2016a) và bột củ sắn (Sengxayalth và cs, 2017a) Nấm men không thể trực tiếp sử dụng urê mà trước tiên phải được thủy phân thành amoniac bằng urease Tuy nhiên, hoạt động của urease bị ức chế ở pH thấp (Kay và Reid, 1934), giảm nhanh khi củ sắn được lên men.

THÍ NGHIỆM 1

VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Địa diểm

Trang 7

Thí nghiệm được thực hiện trong Phòng thí nghiệm của bộ môn Khoa học Độngvật, Khoa Nông nghiệp và Tài nguyên Rừng, Đại học Souphanouvong Địa điểm nàynằm cách thành phố Luông Pha Băng, CHDCND Lào 7 km Nhiệt độ trung bình hàngngày ở khu vực này tại thời điểm thí nghiệm là 27° C (khoảng 22-32 ° C)

hấp và không hấp sau đó được trộn với urê, men (Saccharomyces cerevisiae) và DAP

(bảng 1) Tỷ lệ urê được thay đổi tùy theo mức độ DAP sao cho các khối ủ là cân bằngnitơ Các khối ủ sau đó được chuyển vào các rổ tre được phủ bằng lưới nhựa để chophép không khí vào tự do (ảnh 2) và lên men trong 14 ngày

Bảng 1 Thành phần của khối ủ (theo VCK) Nghiệm

thức Củ sắn, % Nấm men, % DAP # , % Urea, %

#Phosphorus 20%

Nấm men là saccharomyces cerevisiae đã được sử dụng trong thí nghiệm Các

tế bào S cerevisiae có hình tròn hoặc hình trứng, đường kính 5-10 mm Nó sinh sản

bằng cách phân chia được gọi là đâm chồi (Feldmann và Horst, 2010) Di-ammoniumphosphate (DAP) chứa 16% N và 20% phốt pho (P); Urê có 46% Nito (theo VCK);

nấm men (S cerevisiae) chứa 48,6% CP theo VCK.

5

Trang 8

Các chỉ tiêu theo dõi

Vào các ngày 0, 3, 7 và 14 mẫu được lấy từ các nghiệm thức Có bốn lần lặp lạitrong mỗi giai đoạn của nghiệm thức (mẫu không lặp lại các phép đo trong từng giaiđoạn) và mẫu được phân tích các chỉ tiêu: VCK, Nito, chất hữu cơ và protein thực.Trọng lượng tươi của khối ủ của mỗi nghiệm thức được cân tại mỗi khoảng thời gian đểxác định VCK trong quá trình lên men

Phân tích hóa học

VCK, Nito và khoáng được phân tích theo phương pháp AOAC, (1990) Để ướctính protein thực, 2 g mẫu tươi được cho vào bình Erlenmeyer 125ml với 50 ml nướccất, để yên trong 30 phút, sau đó 10ml TCA (axit trichloracetic) được thêm vào và đểyên trong 20-30 phút nữa Sau đó mẫu được lọc qua giấy Whatman # 4 bằng trọng lực.Dịch lọc được loại bỏ và giấy lọc còn lại và chất nền lơ lửng được chuyển sang bìnhkjeldahl để ước tính tổng lượng Nito Chỉ tiêu protein thô và protein thực được thựchiện trên mẫu tươi

Phân tích thống kê

Số liệu được phân tích bằng tùy chọn Mô hình tuyến tính chung (GLM) trongchương trình ANOVA của phần mềm Minitab, (2010) (phiên bản 16.0) Trong mô hình,các nguồn của biến thể là các nghiệm thức, tương quan nghiệm thức và sai số ngẫunhiên So sánh cặp Turkey được sử dụng để xác định sự khác biệt Các mô hình thống

kê được sử dụng là:

Yijk = µ +ci +dj + tk + (c*d*t)ijk + eijk

Yijk là các biến phụ thuộc; µ: trung bình quần thể; ci là ảnh hưởng của củ sắn, dj là ảnhhưởng của DAP; tk là ảnh hưởng của thời gian; (c*d*t)ijk là sự tương tác giữa ba yếu tố;

eijk là sai số ngẫu nhiên

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Hấp củ sắn trước khi lên men dường như có tác dụng (p = 0,67) đối với việcchuyển đổi protein thô thành protein thực (bảng 2) Việc tăng tỷ lệ DAP từ 0 đến 2%theo VCK đã làm tăng mức trung bình của protein thực của khối ủ từ 4,16 đến 5,85%theo VCK (bảng 2) Tỷ lệ protein thực trong khối ủ tăng theo xu hướng đường cong

ngày; protein thô là 10,5 theo VCK sau khi ủ và không thay đổi vào cuối thời gian lênmen Tỷ lệ protein thực so với protein thô tăng từ 24,6 lên 63,7 so với cùng thời gian(bảng 2; hình 1 và 2) Tuy nhiên, theo (Vanhnasin và Preston, 2016b) cho thấy VCK,protein thô (CP) và protein thực (TP) của củ sắn được lên men (14 ngày) mà không có

cơ chất là VCK 29,5%, CP 3%, TP 1,5% nhưng hàm lượng của khoáng là cao (97%)

Bảng 2 Giá trị trung bình của VCK, chất hữu cơ (OM), protein thô; protein thực và tỷ lệ TP / CP ở các giai đoạn khác nhau của quá trình lên men (% theo VCK)

Trang 9

khác nhau có ý nghĩa thống kê p<0,05.

DAP: di-ammonium phosphate; VCK: vật chất khô, OM: chất hữu cơ, CP: protein thô, TP: protein thực,

Các giá trị cuối cùng sau 14 ngày lên men được tăng từ 5,63 lên 8,33% Tỷ lệprotein thực so với protein thô tăng từ 46,56 lên 81,35 sau 14 ngày lên men (bảng 3)

Bảng 3 Ảnh hưởng của DAP đến hàm lượng protein thô, protein thực và tỷ lệ

TP / CP sau 14 ngày lên men (% theo VCK)

khác nhau có ý nghĩa thống kê p<0,05.

DAP: di-ammonium phosphate; VCK: vật chất khô, CP: protein thô, TP: protein thực,

Thay đổi khối lượng khối ủ trong quá trình lên men

7

Trang 10

Khoảng 30% VCK ban đầu trong khối ủ đã được lên men vào ngày 14, tỷ lệ mấtmát cho thấy xu hướng cong tuyến tính theo thời gian, sự thay đổi lớn diễn ra trong 3ngày đầu (bảng 4)

Bảng 4 Thay đổi khối lượng khối ủ tươi (FM) và vật chất khô (VCK) trong

quá trình lên men

khác nhau có ý nghĩa thống kê p<0,05.

Protein thô và chất hữu cơ g/kg VCK sau khi trộn khối ủ không thay đổi vàocuối thời gian lên men (ngày 0 đến ngày 14) Tỷ lệ protein thực đã tăng từ 22,98 lên69,51 từ 0 đến 14 ngày và có sự khác biệt giữa thời gian lên men (bảng 5)

khác nhau có ý nghĩa thống kê p<0,05.

Trang 11

1, 2, 3, 4, 5, 6 và 7 ngày).

Quy trình

Củ sắn được gọt vỏ và cắt thành miếng nhỏ (1-2 cm) và hấp trong 30 phút trongmột cái rổ tre đặt trên chảo chứa nước sôi Sau đó, nó được làm nguội trong 15 phút

trước khi trộn với men (S cerevisiae), urê và DAP (tất cả các thành phần này được sử

dụng cùng loại như thí nghiệm 1) Một nửa khối ủ chuyển vào rổ tre được phủ lướinhựa để cho không khí vào tự do và lên men trong 7 ngày (điều kiện hiếu khí) Phầncòn lại của khối ủ được đóng gói chặt vào túi nhựa 0,5 lít, đóng kín (điều kiện yếm khí)

và được bảo quản trong 7 ngày

Các chỉ tiêu theo dõi

Mẫu được lấy từ mỗi nghiệm thức / lặp lại vào ngày 0 (3 giờ sau khi ủ), và sau

đó cứ sau 24 giờ cho đến khi kết thúc quá trình lên men để xác định pH, protein thô,protein thực và amoniac

Phân tích hóa học

pH của từng mẫu được đo bằng máy đo pH kỹ thuật số, phân tích amoniacbằng phương pháp chưng cất hơi nước sau khi bổ sung natri hydroxit (AOAC, 1990).Protein thô được phân tích bằng cách công phá kjeldahl bằng axit sulfuric sau đó chưngcất theo phương pháp AOAC, (1990) Để ước tính protein thực , 2 g mẫu tươi được chovào bình Erlenmeyer 125ml với 50 ml nước cất, để yên trong 30 phút, sau đó 10mlTCA (axit trichloroacetic) được thêm vào và cho để yên trong 20-30 phút nữa Mẫuđược lọc qua giấy Whatman # 4 bằng trọng lực Dịch lọc loại bỏ, giấy lọc còn lại vàmẫu lọc được chuyển sang bình kjeldahl để ước tính tổng lượng Nito.N- Urea được ướctính bằng cách lấy protein-Nito thô trừ Nito-protein thực và Nito-ammonia Các chỉ tiêuprotein thô, protein thật và amoniac được thực hiện trên các mẫu tươi

Phân tích thống kê

Số liệu được phân tích bằng tùy chọn Mô hình tuyến tính chung (GLM) trong chương trình ANOVA của phần mềm Minitab, (2010) (phiên bản 16.0) Trong mô hình, các nguồn của biến thể là các nghiệm thức, tương quan nghiệm thức và sai số ngẫu nhiên So sánh cặp Turkey được sử dụng để xác định sự khác biệt; thời gian khi giá trị P của F kiểm tra P

<0,05 Các mô hình thống kê được sử dụng là:

Yij = µ +ai +tj + (a*t)ij + eij

9

Trang 12

Y ij là các biến phụ thuộc; µ trung bình quần thể; a i là ảnh hưởng của điều kiện

(hiếu khí và kỵ khí); t j là ảnh hưởng của thời gian; (a*t) ij là sự tương tác giữa hai yếu

tố; e ij là sai số ngẫu nhiên

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Thành phần hóa học của khối ủ

pH giảm theo thời gian lên men, theo xu hướng gần như tuyến tính, từ 5,8 ngaysau khi ủ, xuống 5,47 trong 3h và xuống 3,43 sau 7 ngày (bảng 1) Tỷ lệ protein thô saukhi trộn khối ủ với chất phụ gia là 10,35% theo VCK và không thay đổi trong 7 ngàylên men Tỷ lệ protein thực trong khối tăng từ 2,37 đến 6,97% theo VCK khi thời gianlên men tăng từ 0 lên 7 ngày, do đó tỷ lệ giữa protein thực với protein thô tăng từ 22,95lên 66,11 so với cùng thời gian (bảng 1) Không có sự khác biệt trong tất cả các chỉ tiêunày giữa điều kiện hiếu khí và kỵ khí, ngoài xu hướng pH giảm nhanh hơn một chúttrong 4 ngày đầu tiên trong điều kiện yếm khí sau đó là tốc độ giảm chậm để đạt đếnmức gần như giá trị cuối cùng sau 7 ngày với điều kiện hiếu khí

Bảng 1 Thay đổi độ pH, protein thô (CP), protein thực (TP) và amoniac trong củ

sắn lên men với nấm men, urê và DAP trong điều kiện hiếu khí hoặc kỵ khí

khác nhau có ý nghĩa thống kê p<0,05.

pH: Power of/potential Hydrogen; CP: protein thô, TP: protein thực; p: probability; SEM: sai số chuẩn của số trung bình; CP and TP (% theo VCK)

Trang 13

Tỷ lệ protein thực trong khối ủ sau quá trình lên men 7 ngày đã tăng gấp đôi từ

34 đến 62% tổng nitơ, và dường như là nguồn gốc từ amoniac (từ DAP) và từ urê (hình3) Tuy nhiên, urê không được xác định trực tiếp mà được coi là nguồn Nito còn lại saukhi trừ Nito-protein thực và Nito-ammonia khi kết thúc quá trình lên men Hai câu hỏiđược trả lời là: i) Tại sao tất cả amoniac không được sử dụng cho sự phát triển của nấmmen?; và ii) tại sao urê không bị thủy phân hoàn toàn thành amoniac? Câu hỏi thứ hai

có lẽ có thể được giải thích là kết quả của sự giảm nhanh chóng pH, cơ chất ức chế hoạtđộng của urease, hoạt động của nó bị giảm ở pH thấp (Kay và Reid, 1934)

Biểu đồ 3 Phân phối nitơ dưới dạng urê, amoniac và protein thực khi

bắt đầu và sau 7 ngày lên men

THẢO LUẬN

Sự gia tăng hàm lượng protein thực của củ sắn bằng cách lên men với nấm men,urê và DAP đã được báo cáo từ một số nhà nghiên cứu Lên men vỏ sắn bằng nuôi cấy

S cerevisiae đã tăng hàm lượng protein từ 2,4% lên 14,1% ( Antai và Mbongo, (1994)).

Oboh và Kindahunsi, (2005) báo cáo rằng quá trình lên men bột sắn với S cerevisiae đã

làm tăng mức protein từ 4,4% lên 10,9% theo VCK Krisada và cs, (2009) đã thực hiệnmột quá trình lên men tương tự với củ sắn tươi sử dụng urê và men Protein thô tăng từ3,2 đến 21,1% theo VCK với 90% protein thô ở dạng protein thực Phiny và cs, (2012)lên men gạo tấm trong một hệ thống yếm khí chính là mô hình sản xuất rượu gạo củanông dân Sự khác biệt trong quy trình là bổ sung urê (1% của gạo) cũng như men vàkhông cần chưng cất Hàm lượng protein thô được tăng từ 7% theo VCK trong gạo lên23% theo VCK sau khi lên men trong 3 ngày Tỷ lệ protein thô và protein thực khôngđược xác định nhưng tốc độ tăng trưởng của lợn tăng 37% khi gạo làm giàu proteinđược đưa vào khẩu phần ăn, cải thiện 16,5% về tốc độ sinh trưởng so với khẩu phầnđược bổ sung bằng bột cá, chỉ ra rằng phần lớn sự gia tăng của protein thô là proteinthực sự Manivanh và Preston, (2016) đã sử dụng củ sắn làm nguồn carbohydrate, với

sự kết hợp của DAP như một nguồn phốt pho với men và urê Hàm lượng protein thực

11

Trang 14

của củ sắn đã tăng lên 14% trong theo VCK (từ 2,5% ở củ chưa lên men) và tốc độ tăngtrưởng của lợn Moo Lath đã tăng 46% so với khẩu phần ăn đối chứng có protein từ lá,cuống lá môn được ủ)

Phốt pho là cần thiết cho sự sinh trưởng của tất cả các cơ thể sinh học, bao gồm

cả nấm men, do đó tăng 30% protein thực trong bột sắn lên men bằng cách tăng DAP(20% phốt pho) từ 0 đến 2% (theo VCK) Dường như không có nghiên cứu nào có thể

so sánh về tác động của hàm lượng phốt pho trong việc làm giàu protein của tinh bộtvới nấm men và urê

Không có các hợp chất nitơ bổ sung như (urê và DAP) được chuyển đổi thànhprotein thực, mức bổ sung không bao giờ vượt quá 50 đến 70% protein thô trong các thínghiệm với củ sắn lên men (Vanhnasin và Preston , 2016a) và bột củ sắn (Sengxayalth

và cs, 2017a) Khi giải quyết vấn đề này, từ thí nghiệm 1 đã tăng mức độ DAP lên 2%khối ủ, giảm lượng urê xuống còn 1,2% Điều này có tác dụng làm tăng hàm lượngphốt pho trong khối ủ với sự tăng lên liên quan về tỷ lệ Nito được thêm vào dưới dạngamoniac, thay thế Nito-urê Sự gia tăng tuyến tính trong tỷ lệ giữa protein thực vớiprotein thô được cho là do hàm lượng phốt pho tăng lên, nhưng một giải thích khác cóthể là sự thay đổi một phần trong nguồn gốc của NPN được thêm vào - từ urê thànhamoniac Nấm men không thể trực tiếp sử dụng urê mà trước tiên phải được thủy phânthành amoniac bằng urease Tuy nhiên, hoạt động của urease bị ức chế ở pH thấp (Kay

và Reid, 1934), giảm nhanh khi củ sắn được lên men

KẾT LUẬN

6,87% theo VCK khi thời gian lên men tăng từ 0 ngày lên 14 ngày, tỷ lệ protein thực từprotein thô tăng từ 24,6 lên 63,7 so với cùng thời điểm

7,3 % sau 14 ngày lên men

carbohydrate ban đầu thành protein thực sau 14 ngày lên men

thô thành protein thật

ngay sau khi ủ, xuống 5,4 trong 3 giờ và xuống còn 3,43 sau 7 ngày

không thay đổi trong 7 ngày lên men

giảm nhanh hơn một chút trong 4 ngày đầu tiên trong điều kiện yếm khí sau đó là tốc

độ giảm chậm để đạt gần như cùng giá trị cuối cùng sau 7 ngày với điều kiện hiếu khí

thành protein nấm men là do sự thủy phân không hoàn toàn của urê thành amoniac dotác dụng của urease bị ức chế vì giảm pH trong quá trình lên men

Ngày đăng: 14/06/2021, 16:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w