1.3.2 Khái niệm kinh doanh lữ hành Tiếp cận theo nghĩa rộng, kinh doanh lữ hành được hiểu là doanh nghiệp đầu tư để thực hiện một, một số hoặc tất cả công việc trong quá trình tạo ra và
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên BÙI THỊ CHINH xin cam đoan các số liệu, thông tin sử dụng trong bài Báo cáo tốt nghiệp này được thu thập từ nguồn thực tế tại Công ty, trên các sách báo
khoa học chuyên ngành (có trích dẫn đầy đủ và theo đúng qui định) ; Nội dung trong
báo cáo này do kinh nghiệm của bản thân được rút ra từ quá trình nghiên cứu và thực tế
tại Công ty Cổ phần Du lịch VNTOUR KHÔNG SAO CHÉP từ các nguồn tài liệu,
báo cáo khác
Nếu sai sót Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm theo qui định của Nhà Trường và Pháp luật
Sinh viên (ký tên, ghi đầy đủ họ tên)
BÙI THỊ CHINH
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trước hết em xin chân trọng gửi lời cảm ơn sâu sắc tới các thầy cô giáo trong trường và đặc biệt là các thầy cô trong khoa đã giúp đỡ em trong suốt quá trình học tại trường
Đặc biệt em xin chân thành cảm ơn Thầy Nguyễn Hoàng Long đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn em hoàn thành bài khoá luận này
Em xin chân thành cảm ơn các anh chị trong công ty cổ phần du lịch VNTOUR đã tận tình chỉ bảo và tạo điều kiện cung cấp cho em thông tin trong thời gian em nhận đề tài khoá luận
Trong thời gian có hạn và lượng kiến thức còn hạn chế nên bài khoá luận không tránh khỏi những thiếu xót Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy cô và các bạn giúp cho em hoàn thiện bài viết này
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên (ký tên, ghi đầy đủ họ tên)
BÙI THỊ CHINH
Trang 3CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
-
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN Họ và tên sinh viên : BÙI THỊ CHINH MSSV : 1311150167 Lớp :13DLH04 Nhận xét chung
Điểm BCTN (Điểm số và điểm chữ)
Tp.HCM, ngày tháng năm 20
Giảng viên hướng dẫn (Ký, ghi rõ họ tên) -
Trang 4MỤC LỤC
Phần mở đầu 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu của luận văn 2
3 Đối tượng nghiên cứu 2
4 Phạm vi nghiên cứu 2
5 Phương pháp nghiên cứu 2
6 Kết cấu của đề tài 3
Chương 1: Cơ sở lý luận về kinh doanh lữ hành 4
1.1 Một số khái niệm cơ bản về du lịch 4
1.1.1 Khái niệm về du lịch 4
1.1.2 Các loại hình du lịch chính 5
1.1.2.1 Phân loại theo tài nguyên du lịch 5
1.1.2.2 Phân loại theo mục đích chuyến đi 5
1.1.3 Khái niệm về khách du lịch 7
1.2 Nhu cầu du lịch 7
1.2.1 Khái niệm về nhu cầu du lịch 7
1.2.2 Đặc điểm của nhu cầu du lịch 8
1.3 Khái niệm về lữ hành và kinh doanh lữ hành 10
1.3.1 Khái niệm về lữ hành 10
1.3.2 Khái niệm kinh doanh lữ hành 10
1.3.3 Hãng lữ hành 11
1.3.3.1 Khái niệm hãng lữ hành 11
1.3.3.2 Phân loại lữ hành 12
1.3.4 Sự ra đời của hoạt động kinh doanh lữ hành 13
1.3.5 Vai trò, đặc điểm kinh doanh lữ hành 15
1.3.5.1 Vai trò của kinh doanh lữ hành 15
1.3.5.2 Đặc điểm của kinh doanh lữ hành 16
1.3.6 Doanh nghiệp lữ hành 18
1.3.6.1 Định nghĩa 18
1.3.6.2 Vai trò của doanh nghiệp lữ hành 18
1.3.6.3 Phân loại doanh nghiệp lữ hành 19
Trang 51.3.7 Sản phẩm kinh doanh lữ hành 20
1.3.7.1 Khái niệm sản phẩm lữ hành 20
1.3.7.2 Hệ thống sản phẩm kinh doanh lữ hành 20
1.4 Hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty lữ hành 21
1.4.1 Hiệu quả kinh tế 21
1.4.1.1 Khái niệm hiệu quả kinh tế 22
1.4.1.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh lữ hành 22
1.4.2 Hiệu quả kinh doanh lữ hành 26
1.4.2.1 Bản chất của hiệu quả kinh doanh lữ hành 26
1.4.2.2 Ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh lữ hành 26
1.4.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh lữ hành 27
Tóm tắt Chương 1 30
Chương 2: Thực trạng hoạt động kinh doanh lữ hành nội địa tại Công ty Du Lịch VNTOUR 31
2.1 Giới thiệu công ty cổ phần du lịch VNTOUR 31
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty 31
2.1.2 Chức năng và nhiệm vụ của đơn vị 32
2.1.3 Cơ cấu tổ chức của Công ty 33
2.1.3.1 Sơ đồ tổ chức 33
2.1.3.2 Chức năng, nhiệm vụ của các phòng ban 33
2.1.4 Sơ lược về tình hình hoạt động kinh doanh trong thời gian qua 37
2.1.4.1 Doanh thu 37
2.1.4.2 Thị trường khách 39
2.1.5 Định hướng phát triển trong tương lai 41
2.2 Thực trạng hoạt động kinh doanh lữ hành nội địa tại công ty cổ phần du lịch VNTOUR 42
2.2.1 Chương trình du lịch của công ty 42
2.2.1.1 Đặc điểm tour du lịch 42
2.2.1.2 Giá tour 44
2.2.1.3 Tổ chức thực hiện tour 46
2.2.2 Hoạt động Marketing của công ty 47
2.2.2.1 Về sản phẩm 47
Trang 62.2.2.2 Chính sách phân phối sản phẩm 50
2.2.2.3 Công tác tuyên truyền quảng cáo 52
2.2.2.4 Chính sách giá 53
2.2.3 Đội ngũ lao động 53
2.2.3.1 Cơ cấu lao động 54
2.2.3.2 Đội ngũ hướng dẫn viên 55
2.2.4 Hoạt động điều hành của công ty 56
2.3 Đánh giá hoạt động kinh doanh lữ hành nội địa tại công ty cổ phần du lịch VNTOUR 57
2.3.1 Điểm mạnh 57
2.3.2 Điểm yếu 57
2.4 Nghiên cứu hành vi sử dụng sản phẩm du lịch công ty của du khách 59
2.4.1 Xây dựng mô hình nghiên cứu 59
2.4.2 Phương pháp phân tích 60
2.4.3 Phương pháp phân tích số liệu 61
2.4.4 Kết quả nghiên cứu 62
Tóm tắt Chương 2 75
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh lữ hành nội địa tại Công ty du lịch VNTOUR 76
3.1 Giải pháp mở rộng thị trường và tăng cường quảng cáo 76
3.1.1 Cơ sở đề ra giải pháp 76
3.1.2 Phương án thực hiện 77
3.1.3 Đánh giá hiệu quả của giải pháp 80
3.2 Giải pháp đa dạng hóa sản phẩm 80
3.2.1 Cơ sở đề ra giải pháp 80
3.2.2 Phương án thực hiện 81
3.2.3 Đánh giá hiệu quả của giải pháp 82
3.3 Giải pháp chính sách giá 82
3.3.1 Cơ sở đề ra giải pháp 82
3.3.2 Phương án thực hiện 82
3.3.3 Đánh giá hiệu quả của giải pháp 83
3.4 Giải pháp nâng cao chất lượng lao động 84
Trang 73.4.1 Cơ sở đề ra giải pháp 84
3.4.2 Phương án thực hiện 84
3.4.3 Đánh giá hiệu quả của giải pháp 86
3.5 Giải pháp tăng cường liên kết kinh doanh 86
3.5.1 Cơ sở đề ra giải pháp 86
3.5.2 Phương án thực hiện 86
3.5.3 Đánh giá hiệu quả của giải pháp 87
3.6 Giải pháp đầu tư mở rộng lĩnh vực kinh doanh 88
3.6.1 Cơ sở đề ra giải pháp 87
3.6.2 Phương án thực hiện 87
3.6.3 Đánh giá hiệu quả của giải pháp 88
3.7 Giải pháp hoàn thiện hoạt động tổ chức kinh doanh 88
3.7.1 Cơ sở đề ra giải pháp 88
3.7.2 Phương án thực hiện 88
3.7.3 Đánh giá hiệu quả của giải pháp 89
3.8 Giải pháp hoàn thiện công tác thực hiện chương trình du lịch 89
3.8.1 Cơ sở đề ra giải pháp 89
3.8.2 Phương án thực hiện 90
3.8.3 Đánh giá hiệu quả của giải pháp 90
3.9 Giải pháp kiến nghị 91
3.9.1 Kiến nghị với ban giám đốc 91
3.9.2 Kiến nghị với các phòng ban chức năng 91
3.10 Đề nghị với nhà nước và Tp.HCM 92
Tóm tắt Chương 3 94
Kết luận 95
Tài liệu tham khảo 96 Phụ lục
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ, HÌNH ẢNH, ĐỒ THỊ
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức Công ty CP Du lịch VNTOUR 33
Bảng 2.1: Kết quả kinh doanh của công ty du lịch VNTOUR 37
Bảng 2.2: Thị trường khách du lịch của công ty giai đoạn 2014-2015 40
Bảng 2.3: Thống kê trình độ học vấn 54
Biểu đồ 2.1: Doanh thu, chi phí và lợi nhuận qua các năm 37
Biểu đồ 2.2: Tổng lượt khách du lịch của công ty giai đoạn 2014-2015 40
Biểu đồ 2.4: Mô hình nghiên cứu hành vi sử dụng SPDL của khách hàng 59
Biểu đồ 2.3: Trình độ học vấn nhân viên của công ty 55
Bảng 2.4: Các yếu tố sử dụng mô hình 62
Bảng 2.5: Thông tin về giới tính 62
Bảng 2.6: Thông tin về độ tuổi 63
Bảng 2.7: Thông tin về hôn nhân 63
Bảng 2.8: Thông tin về thu nhập 64
Bảng 2.9: Hệ số Cronbach Alpha của giá cả 64
Bảng 2.10: Hệ số Cronbach Alpha của nhân viên 65
Bảng 2.11: Hệ số Cronbach Alpha của quy trình 65
Bảng 2.12: Hệ số Cronbach Alpha của sản phẩm du lịch 66
Bảng 2.13: Hệ số Cronbach Alpha của sản phẩm du lịch sau khi loại SP6 67
Bảng 2.14: Hệ số Cronbach Alpha của cơ sở vật chất 67
Bảng 2.15: Hệ số Cronbach Alpha của xúc tiến 68
Bảng 2.16: Kết quả phân tích EFA của nhóm biến độc lập 69
Bảng 2.17: Kết quả phân tích EFA của nhóm biến phụ thuộc 71
Bảng 2.18: Hệ số tương quan 72
Bảng 2.19: Hệ số xác định sự phù hợp của mô hình 73
Bảng 2.20: Hệ số của phương trình hồi quy 73
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chon đề tài
Ngày nay trên thế giới du lịch trở thành một nhu cầu tất yếu trong cuộc sống của con người Nhiều quốc gia phát triển ngành du lịch chiếm tỷ trọng cao trong nền kinh tế quốc dân Ở Việt Nam cũng vậy, tuy là ngành kinh tế còn non trẻ nhưng tầm quan trọng của du lịch đã được đánh giá đúng mức
Những năm gần đây, du lịch Việt Nam đã không ngừng lớn mạnh, mang lại nguồn lợi nhuận không nhỏ cho đất nước Với tiềm năng đa dạng phong phú, đất nước đang là điểm đến nổi tiếng trên thế giới Theo tổng cục Du Lịch Việt Nam, con số lượt khách du lịch quốc tế đến với Việt Nam cả năm 2015 ước đạt 7.943.651 lượt khách, tăng ở mức 0.9% so với năm 2014 Theo dự báo của Tổng cục Du Lịch Việt Nam Năm 2015 ngành
Du Lịch Việt Nam sẽ thu hút 7-8 triệu lượt khách quốc tế, 32-35 triệu khách nội địa, con
số tương ứng năm 2020 là 11-12 triệu lượt khách quốc tế, 45-48 triệu lượt khách nội địa Doanh thu từ du lịch sẽ đạt từ 18-19 tỷ USD năm 2020
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế thế giới hiện nay cùng với sự ưu đãi, khuyến khích của nhà nước về phát triển ngành du lịch thì một chiến lược kinh doanh đúng đắn càng trở nên cấp thiết đối với sự tồn tại của các doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường thì các doanh nghiệp phải cạnh tranh để tồn tại và phát triển Để duy trì và tăng trưởng đòi hỏi các nhà kinh doanh lữ hành luôn phải nâng cao chất lượng hàng hoá, giảm chi phí sản xuất, nâng cao uy tín… nhằm tới mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận
Do vậy, đạt hiệu quả kinh doanh và nâng cao hiệu quả kinh doanh luôn là vấn đề được quan tâm của các doanh nghiệp và trở thành điều kiện sống còn để doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển
Vi vậy, sau thời gian thực tập tại công ty cổ phần du lịch VNTOUR em đã lựa chọn đề tài: “ Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh lữ hành nội địa tại công ty
cổ phần du lịch VNTOUR”
Trang 112 Mục đích nghiên cứu của luận văn
Phân tích thực trạng kinh doanh du lịch của công ty VNTOUR, tìm hiểu từng khâu thiết kế, tổ chức và thực hiện chương trình du lịch nội địa Đánh giá điểm mạnh, điểm yếu và đề xuất những biện pháp khắc phục
Tìm hiểu những định hướng và mục tiêu của công ty để có những kiến nghị nhằm phát triển hoàn thiện bộ phận tổ chức thực hiện chương trình du lịch nội địa
Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện tổ chức kinh doanh và thực hiện chương trình du lịch và đánh giá sơ bộ hiệu quả của các giải pháp
3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động kinh doanh lữ hành của công ty du lịch VNTOUR trong 3 năm 2014, 2015, 2016
Về thời gian: phân tích dữ liệu ba năm gần đây và các dự định hướng phát triển đến mốc năm 2020
5 Phương pháp nghiên cứu
Điều tra, thống kê, tổng hợp, phân tích đánh giá, dùng biểu đồ, sơ đồ để biểu đạt
Phương pháp nghiên cứu tại bàn: thu thập thông tin thứ cấp về du lịch ói chung và du lịch nội địa nói riêng tại công ty VNTOUR
Trang 12 Phương pháp điều tra thực tế: thu thập thông tin sơ cấp trong thời gian thực tập tại công ty VNTOUR
Phương pháp phỏng vấn chuyên gia: trao đổi ý kiến với người quản lý có kinh nghiệm gắn bó lâu năm với công ty
6 Kết cấu đề tài
Gồm 3 chương, không kể phần mở đầu và kết thúc
Chương 1: Cơ sở lý luận về kinh doanh lữ hành
Phần này sẽ giới thiệu sơ lược về những định nghĩa cơ bản về kinh doanh lữ hành, chương trình du lịch, phân loại và yếu tố cấu thành chương trình du lịch, quy trình tổ chức và thực hiện chương trình du lịch lấy đó làm cơ sở để so sánh với thực tế
Chương 2: Thực trạng hoạt động kinh doanh lữ hành nội địa tại công ty cổ phần
du lịch VNTOUR
Phần này sẽ giới thiệu công ty du lịch VNTOUR, phân tích thực trạng kinh doanh
và tổ chức thực hiện chương trình du lịch nội địa Bên cạnh đó còn đánh giá về thực trạng, điểm mạnh, điểm yếu trong từng khâu kinh doanh lữ hành, tổ chức thực hiện chương trình du lịch để có cái nhìn căn bản về tình hình công ty
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh lữ hành nội địa tại công ty cổ phần du lịch VNTOUR
Đề xuất các định hướng và mực tiêu phát triển của công ty VNTOUR, trên cơ sở thực trạng đề ra một số giải pháp nhằm hoạt thiện hoạt động tổ chức kinh doanh và thực hiện chương trình du lịch Đồng thời có những kiến nghị với ban giám đốc và phòng ban của công ty để đáp ứng nhu cầu của du khách
Trang 13Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KINH DOANH LỮ HÀNH
1.1 Một số khái niệm cơ bản về du lịch
Thời kỳ du lịch hiện đại gắn liền với sự ra đời của Hãng du lịch Thomas Cook – người đặt nền móng cho việc phát triển các hãng du lịch ngày nay Nhưng du lịch chỉ sự thực phổ biến cuối thế kỷ XIX và bùng nổ vào thập kỷ 60 của thế kỷ XX khi cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật lần thứ 2 đem lại những thành quả to lớn về kinh tế xã hội Nền kinh tế thế giới đã phát triển ở mức độ cao, khoa học công nghệ phát triển như vũ bão, mức sống dân cư trên thế giới được nâng lên nhiều lần, du lịch trở thành nhu cầu không thể thiếu trong đời sống văn hóa xã hội của con người và hoạt động du lịch đang phát triển mạnh mẽ, trở thành ngành kinh tế quan trọng của nhiều nước và trong đó có cả các nước công nghiệp phát triển
Tháng 6 năm 1999 hội nghị quốc tế tại Ottawa Canada đã định nghĩa về du lịch như sau:
“Du lịch là một hoạt động của con người đi tới một nơi ngoài môi trường thường xuyên trong khoảng thời gian đã được các tổ chức du lịch quy định trước, mục đích của chuyến đi không phải là để tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong phạm vi vùng tới thăm”
Theo Luật du lịch Việt Nam:“Du lịch là hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”
Trang 14Từ các định nghĩa trên cho thấy du lịch là một hoạt động liên quan đến con người
đi ra khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình bằng các cuộc hành trình ngắn ngày hay dài ngày Quá trình đi du lịch của họ được gắn với các hoạt động kinh tế, các mối quan hệ, hiện tượng ở nơi họ cư trú tạm thời
Du lịch văn hóa
Du lịch văn hóa là loại hình du lịch mà ở đó con người được hưởng thụ những sản phẩm văn hóa của nhân loại, của một quốc gia, của một vùng, một dân tộc Hoạt động du lịch diễn ra chủ yếu ở môi trường nhân văn, hoặc tập trung khai thác tài nguyên du lịch nhân văn
1.1.2.2 Phân loại theo mục đích chuyến đi
Du lịch tham quan
Đây là loại hình du lịch nhằm nâng cao sự hiểu biết về thế giới xung quanh Đối tượng tham quan có thể là một tài nguyên du lịch tự nhiên như một phong cảnh kỳ thú, cũng có thể là tài nguyên du lịch nhân văn như một di tích…
Du lịch giải trí
Mục đích của chuyến đi là thư giãn sau những ngày làm việc căng thẳng để phục hồi sức khỏe Với mục đích này du khách chủ yếu muốn tìm đến những nơi yên tĩnh, có không khí trong lành Trong chuyến đi du lịch thì nhu cầu giải trí là nhu cầu không thể thiếu được của khách Do vậy ngoài thời gian nghỉ ngơi tham quan thì các chương trình vui chơi, giải trí cho du khách là rất cần thiết
Trang 15 Du lịch nghỉ dưỡng
Một trong những chức năng xã hội quan trọng của du lịch là phục hồi sức khỏe Ngày nay, nhu cầu đi nghỉ càng lớn do sức ép công việc căng thẳng, do môi trường ô nhiễm…Địa chỉ cho các chuyến nghỉ dưỡng là những nơi có khí hậu trong lành như các bãi biển, vùng núi, vùng nông thôn…
Du lịch thể thao
Là loại hình du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu thể dục thể thao tăng cường sức
khỏe cho con người hoặc đi tham dự các hoạt động thể thao lớn như thế vận hội
Du lịch khám phá
Loại hình du lịch này nhằm thỏa mãn nhu cầu khám phá thế giới xung quanh của con người nhằm nâng cao trí thức cho con người như du lịch tìm hiểu về phong tục tập quán, thiên nhiên, môi trường…
Du lịch lễ hội
Ngày nay lễ hội là một yếu tố rất hấp dẫn các du khách Chính vì vậy việc khôi phục các lễ hội truyền thống, tổ chức các lễ hội là một hướng quan trọng của nghành du lịch Tham gia các lễ hội du khách được hòa mình vào không khí tưng bừng của cộng đồng, biểu dương tinh thần đoàn kết cộng đồng, du khách sẽ thấy vui vẻ sảng khoái
Du lịch công vụ
Với mục đích chuyến đi của khách là thực hiện nhiệm vụ công tác Tham gia loại hình này là khách đi dự các hội nghị, kỷ niệm các ngày lễ lớn, các cuộc gặp gỡ thương mại…song có kết hợp tham quan du lịch lễ hội, thăm thân…
Du lịch thăm hỏi
Trang 16Nảy sinh do nhu cầu giao tiếp xã hội, thăm hỏi bà con, họ hàng bạn bè…Hình thức này thường phổ biến với những nước có nhiều người sống ở nước ngoài
Loại hình du lịch này ngày càng phổ biến do nhu cầu kết hợp học tập lý luận với thực tiễn Nhiều nghành học, môn học cần có hiểu biết thực tế như địa lý, địa chất khảo cổ… Để đáp ứng nhu cầu này nhiều nhà cung ứng du lịch đã xây dựng phòng học ngoài trời được thiết kế phù hợp với nội dung học tập
Ngoài các loại hình du lịch được phân loại như trên còn có các loại hình được phân loại tùy theo như phân loại theo phương tiện, theo thời gian hay theo chuyến du lịch, phân loại theo loại hình lưu trú, theo hình thức tổ chức, phân loại theo phương thức hợp đồng…
1.1.3 Khái niệm về khách du lịch
Theo Luật du lịch năm 2006, khách du lịch được hiểu:
“ Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến”
Khách du lịch được phân chia thành khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc
tế Theo Luật du lịch Việt Nam (Điều 34) quy định như sau:
“ Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam”
“Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch”
1.2 Nhu cầu du lịch
1.2.1 Khái niệm về nhu cầu du lịch
Nhu cầu là cái tất yếu, tự nhiên, nó là thuộc tính tâm lý của con người hay nói cách khác nhu cầu chính là cái gây lên nội lực ở mỗi cá nhân Nhu cầu là mầm sống là
Trang 17nguyên nhân của mọi hành động Một nhu cầu nếu được thỏa mãn thì gây ra những tác động tích cực và ngược lại nếu không được thỏa mãn thì nó sẽ phản tác dụng
Nhu cầu du lịch là một loại nhu cầu đặc biệt và tổng hợp của con người được hình thành trên cơ sở của nhu cầu sinh lý đó là nhu cầu nghỉ ngơi, nhu cầu tinh thần, nhu cầu
tự khẳng định, nhu cầu giao tiếp
Nhu cầu du lịch là sự mong muốn, khát khao được rời khỏi nơi ở thường xuyên của mình để đến một nơi khác nhằm thỏa mãn nhu cầu về nghỉ ngơi, tham quan, giải trí, khám phá của mình mà không theo đuổi mục đích kinh tế
Vấn đề ở đây đặt ra là chúng ta phải nắm bắt nhu cầu của khách để từ đó có các biện pháp nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu đó và tạo được sự hài lòng đối với khách du lịch
1.2.2 Đặc điểm của nhu cầu du lịch
Trong sự phát triển không ngừng của nền sản xuất xã hội thì du lịch là một đòi hỏi tất yếu của con người, du lịch trở thành nhu cầu mang tính toàn cầu Nhu cầu du lịch được khơi dậy và chịu ảnh hưởng của nền kinh tế Nhu cầu du lịch của con người phụ thuộc vào rất nhiều điều kiện như thiên nhiên, chính trị kinh tế xã hội và phụ thuộc vào nhóm xã hội mà mình đang sống
Các nhu cầu chính đáng của khách du lịch cũng được thể hiện theo thứ bậc từ thấp đến cao theo lý thuyết nhu cầu của Maslow
Theo Maslow, cá nhân chỉ phát sinh nhu cầu ở cấp độ cao khi các nhu cầu ở cấp
độ thấp được thỏa mãn Nghĩa là thỏa mãn những nhu cầu sinh lý như ăn uống, đi lại, chỗ
ở …con người sẽ mong muốn tiến đến những nhu cầu cao hơn Đây cũng chính là cơ chế nảy sinh nhu cầu của con người
Nhu cầu thiết yếu
Nhu cầu thiết yếu là nhu cầu cơ bản nhất đảm bảo sự sinh tồn của con người Đối với khách du lịch, những nhu cầu cơ bản như: ăn, uống, ngủ, nghỉ không ngừng đòi hỏi phải
Trang 18thỏa mãn một cách đầy đủ về mặt lượng mà còn đòi hỏi đảm bảo về mặt chất Nhìn chung ở mức độ nhu cầu này thường có những mong muốn
- Thoát khỏi thói quen thường ngày
- Thư giãn cả về tinh thần và thể xác
- Tiếp xúc với thiên nhiên đặc biệt là thiên nhiên hoang dã
- Tìm kiếm những cảm giác mới lạ
Nhu cầu an toàn
Đối với khách du lịch là người đã rời khỏi nơi ở thường xuyên của mình đến những nơi xa lạ, mới mẻ chưa thể dễ dàng thích nghi được ngay với môi trường xung quanh nên mong muốn được đảm bảo an toàn về tính mạng, thân thể với họ càng cấp thiết hơn
Nhu cầu giao tiếp
Những nhu cầu về sinh lý an toàn được thỏa mãn cũng có nhiều ý nghĩa về cảm giác cơ thể, con người luôn có nhu cầu sống trong một nhu cầu nào đó và được người khác quan tâm đến
Trong du lịch cũng vậy, mỗi cuộc hành trình, các đối tượng trong đoàn không phải khi nào cũng là người quen biết mà phần lớn họ không có quan hệ quen biết Do vậy trong suốt chuyến đi, khách du lịch phải sống với những người hoàn toàn mới, gặp gỡ những người không cùng dân tộc, ngôn ngữ chính vì thế ai cũng mong muốn có được người bạn đồng hành tin cậy, mở rộng được quan hệ giao lưu và đặc biệt họ rất mong muốn được quan tâm chú ý
Nhu cầu được kính trọng
Đối với khách du lịch thì nhu cầu được kính trọng được thể hiện qua những mong muốn như:
- Được phục vụ theo đúng hợp đồng
- Được người khác tôn trọng
- Được đối xử bình đẳng như mọi thành viên khác
Nhu cầu hoàn thiện bản thân
Trang 19Qua chuyến đi du khách được hiểu biết thêm về thế giới xung quanh mình, qua đó
để họ tự đánh giá tự kết luận, hoàn thiện cho bản thân và trân trọng những giá trị tinh thần, mong muốn được làm giàu kiến thức cho bản thân mình Do đó người làm du lịch phải là nơi cung cấp những giá trị về mặt tinh thần và kiến thức mà họ mong muốn
1.3 Khái niệm về lữ hành và kinh doanh lữ hành
đi với mục đích du lịch Du lịch ở đây đang được hiểu ở một phạm vi rộng lớn hơn
Nhưng với nghĩa hẹp hơn tiêu biểu là định nghĩa về lữ hành trong Luật Du lịch Việt Nam:
“Lữ hành là việc xây dựng, bán và tổ chức thực hiện một phần hoặc toàn bộ chương trình du lịch cho khách du lịch”
1.3.2 Khái niệm kinh doanh lữ hành
Tiếp cận theo nghĩa rộng, kinh doanh lữ hành được hiểu là doanh nghiệp đầu tư để thực hiện một, một số hoặc tất cả công việc trong quá trình tạo ra và chuyển giao sản phẩm từ lĩnh vực sản xuất qua lĩnh vực tiêu dùng du lịch nhằm thoat mãn hầu hết các nhu cầu thiết yếu, đặc trưng và các nhu cầu khác của khách du lịch với mục đích hưởng hoa hồng hoặc lợi nhuận Điển hình như là sắp xếp để tiêu thụ hoặc bán các dịch vụ vận chuyển, lưu trú, chương trình du lịch hoặc bất kỳ dịch vụ du lịch khác, tổ chức hoặc thực hiện các chương trình du lịch vào và ra khỏi phạm vi biên giới quốc gia, trực tiếp cung
Trang 20cấp hoặc chuyên gia môi giới hỗ trợ các dịch vụ khác có liên quan đến dịch vụ kể trên trong quá trình tiêu dùng của du khách
Cách tiếp cận thứ hai ở nghĩa hẹp hơn để phân biệt hoạt động kinh doanh lữ hành với các hoạt động kinh doanh lữ hành khác như khách sạn, nhà hàng, vui chơi giải trí, người ta giới hạn hoạt động kinh doanh lữ hành chỉ bao gồm những hoạt động tổ chức các chương trình du lịch Điều đó thể hiện rõ ràng nhất mà chúng ta có thể thấy là các công ty lữ hành thường rất chú trọng tới việc kinh doanh chương trình du lịch
Kinh doanh lữ hành bao gồm kinh doanh lữ hành nội địa và kinh doanh lữ hành quốc tế Kinh doanh lữ hành nội địa là việc xây dựng, bán và tổ chức thực hiện các chương trình du lịch cho khách du lịch nội địa và phải có đủ ba điều kiện Kinh doanh lữ hành quốc tế là việc xây dựng, bán và tổ chức thực hiện các chương trình du lịch cho khách du lịch quốc tế và phải có đủ năm điều kiện
1.3.3 Hãng lữ hành
1.3.3.1 Khái niệm hãng lữ hành
Theo thời gian có khá nhiều định nhĩa khác nhau về doanh nghiệp lữ hành xuất phát từ nhiều góc độ trong việc nghiên cứu doanh nghiệp lữ hành Bên cạnh đó bản thân hoạt động du lịch nói chung và du lịch lữ hành nói riêng phong phú và đa dạng Ở thời kỳ đầu tiên, các doanh nghiệp chủ yếu tập trung các hoạt động trung gian, làm đại lý bán sản phẩm của các nhà cung cấp như khách sạn, hàng không Các doanh nghiệp lữ hành (thực chất là đại lý du lịch) được định nghĩa như một pháp nhân kinh doanh chủ yếu dưới hình thức là đại diện, đại lý cho các nhà sản xuất (khách sạn, nhà hàng, ) bán sản phẩm nhằm thu tiền hoa hồng
Một cách định nghĩa khá phổ biến là căn cứ vào hoạt động tổ chức các chương trình du lịch của các doanh nghiệp lữ hành đã được phát triển ở mức độ cao hơn Các doanh nghiệp lữ hành đã tạo ra các sản phẩm của mình bằng cách tập hợp các dịch vụ riêng rẽ như: khách sạn, máy bay, Doanh nghiệp lữ hành không chỉ ở người bán mà trở thành người mua sản phẩm của các nhà cung cấp du lịch Tại Bắc Mỹ, doanh nghiệp
Trang 21được coi như là các công ty xây dựng các chương trình du lịch bằng cách tập hợp các thành phần như khách sạn, tham quan, Và bán chúng với mức giá gộp cho khách du lịch thông qua các đại lý bán lẻ., Ở Việt Nam, doanh nghiệp lữ hành là đơn vị có tư cách pháp nhân,
hoạch toán độc lập, được thành lập nhằm sinh lợi bằng việc giao dịch, ký kết các hợp đồng du lịch và tổ chức thực hiện các chương trình du lịch đã bán cho khách du lịch
Hiện nay, các công ty lữ hành có phạm vi hoạt động rộng lớn hơn mang tính toàn cầu Đồng thời các công ty cũng sở hữu các tập đoàn khách sạn, các hãng hàng không, tàu biển, ngân hàng phục vụ chủ yếu khách du lịch của công ty lữ hành Và các công ty
đó trở thành các tập đoàn kinh doanh du lịch có khả năng chi phối mạnh mẽ thị trường du lịch Giai đoạn này các công ty lữ hành không còn đơn thuần là người bán, người mua sản phẩm của nhà cung cấp du lịch mà trở thành người sản xuất trực tiếp ra các sản phẩm
du lịch Từ đó có thể định nghĩa doanh nghiệp lữ hành như sau:
Doanh nghiệp lữ hành là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích lợi nhuận thông qua việc tổ chức xây dựng, bán và thực hiện chương trình du lịch cho khách du lịch Ngoài ra, doanh nghiệp lữ hành còn có thể tiến hành các hoạt động trung gian bán sản phẩm của các nhà cung cấp du lịch hoặc thực hiện các hoạt động kinh doanh tổng hợp khác đảm bảo phục vụ các nhu cầu du lịch của khách từ khâu đầu tiên đến khâu cuối cùng
Hãng lữ hành được xem là một tổ chức du lịch trung gian, một doanh nghiệp thực hiện chức năng tổ chức tham quan du lịch để bán hay đại lý bán các dịch vụ du lịch cho các nhà cung cấp bao gồm: cơ sở lưu trú, ăn uống, vận chuyển, tham quan, vui chơi giải trí Và do chính mình cung cấp các dịch vụ hướng dẫn, dịch vụ vận chuyển và các thông tin về chuyến lữ hành như: khí hậu, đặc điểm dân cư, giá cả, mua sắm
1.3.3.2 Phân loại hãng lữ hành
Trang 22Tuy nhiên, tùy thuộc vào quy mô, phạm vi hoạt động và tính chất của sản phẩm, hình thức tổ chức, tư cách pháp nhân doanh nghiệp kinh doanh lữ hành có các tên gọi khác nhau: hàng lữ hành, công ty lữ hành, đại lý lữ hành, công ty lữ hành quốc tế, công ty
lữ hành nội địa Sự khác nhau cơ bản giữa các doanh nghiệp lữ hành là: quy mô và địa bàn hoạt động, đối tượng khách, mức độ tiếp xúc với khách du lịch, và mức độ tiếp xúc với nhà cung cấp sản phẩm Dự trên khác biệt đó biết phát huy ưu điểm sẽ tạo nên sự thành công trong kinh doanh du lịch
1.3.4 Sự ra đời của hoạt động kinh doanh lữ hành
Quan hệ giữa cung và cầu trong du lịch là mối quan hệ mâu thuẫn và phức tạp, nó chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố Do đó, sự tồn tại và phát triển của hoạt động kinh doanh lữ hành là một tất yếu khách quan để giải quyết sự mâu thuẫn này
Thứ nhất, cung du lịch mang tính chất cố định, còn cầu du lịch lại phân tán khắp mọi nơi: các tài nguyên du lịch và các nhà cung cấp sản phẩm du lịch (khách sạn, nhà hàng, dịch vụ vui chơi giải trí…) không thể mang được những giá trị của sản phẩm của mình để đến tận nơi ở thường xuyên của khách hay không thể mang rao bán khắp nơi đến tay cho khách mà du khách phải tìm đến với các tài nguyên và sản phẩm du lịch
Như vậy, trong du lịch chỉ có dòng chuyển động ngược chiều từ cầu đến với cung, không có dòng chuyển động từ cung đến với cầu như phần lớn các sản phẩm hàng hoá khác Trong một phạm vi nào đó, người ta có thể nói cung du lịch tương đối thụ động, cầu du lịch phải tìm đến với cung khi cầu không có đủ thông tin về cung Do vậy, phải xuất hiện một hoạt động trung gian là hoạt động kinh doanh lữ hành Hoạt động kinh doanh lữ hành nhằm cung cấp đầy đủ các thông tin về điểm du lịch, cơ sở lưu trú, các dịch vụ khác và làm động tác ghép nối các hàng hoá dịch vụ tạo thành một chương trình
du lịch trọn gói phục vụ cho khách
Thứ hai, cầu du lịch mang tính chất tổng hợp còn cung du lịch mang tính chất đơn
lẻ Khi đi du lịch, khách du lịch có nhu cầu về mọi thứ, từ tham quan tài nguyên du lịch tới việc ăn ngủ, đi lại làm visa hộ chiếu…cũng như thưởng thức các giá trị văn hoá tinh
Trang 23thần Có nghĩa là ngoài những nhu cầu hàng ngày, khách du lịch còn rất nhiều nhu cầu đặc biệt khác
Thứ ba, các cơ sở kinh doanh du lịch gặp khó khăn trong thông tin quảng cáo, khách du lịch thường không có đủ thời gian, thông tin và khả năng tự tổ chức các chuyến
du lịch với chất lượng cao phù hợp nhu cầu Do vậy những thông tin về cung không thể trực tiếp đến với khách du lịch, bản thân khách du lịch lại gặp phải những khó khăn khi đi
du lịch như: ngôn ngữ, thủ tục xuất nhập cảnh, phong tục tập quán, sự hiểu biết về điểm
du lịch và tâm lý lo ngại…Vì vậy mà giữa khách du lịch với các cơ sở kinh doanh dịch
vụ du lịch có nhiều bức tường chắn ngoài khoảng cách về địa lý
Cuối cùng do kinh tế phát triển, thu nhập của người dân tăng lên, khách du lịch ngày càng yêu cầu được phục vụ tốt hơn, chu đáo hơn Họ chỉ muốn có một công việc chuẩn bị duy nhất là chi trả cho chuyến du lịch Tất cả những công việc còn lại phải có sự chuẩn bị sắp xếp của các cơ sở kinh doanh du lịch
Chính vì những lý do trên mà tất yếu phải xuất hiện một tác nhân có khả năng liên kết cung và cầu để giải quyết các mâu thuẫn Tác nhân đó chính là các công ty du lịch – những người thực hiện các hoạt động kinh doanh lữ hành
Vậy hoạt động kinh doanh lữ hành là gì? Theo định nghĩa của Tổng cục du lịch Việt Nam ( quy chế quản lý lữ hành ngày 29/04/1995) thì:
“Kinh doanh lữ hành là việc thực hiện các hoạt động nghiên cứu thị trường, thiết lập chương trình du lịch trọn gói hay từng phần, quảng cáo và bán các chương trình này trực tiếp hay gián tiếp thông qua các trung gian hoặc văn phòng đại diện, tổ chức thực hiện chương trình và hướng dẫn du lịch Các doanh nghiệp lữ hành đương nhiên được phép tổ chức mạng lưới đại lý lữ hành”
Theo Luật du lịch Việt Nam phân loại thì kinh doanh lữ hành bao gồm hai loại là: Kinh doanh lữ hành nội địa và kinh doanh lữ hành quốc tế
Kinh doanh lữ hành nội địa là việc tổ chức cho khách là công dân một nước, những người cư trú tại một nước đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ nước đó
Kinh doanh lữ hành quốc tế là việc tổ chức đưa khách ra nước ngoài hoặc đưa khách nước ngoài vào nước sở tại
Trang 241.3.5 Vai trò, đặc điểm kinh doanh lữ hành
1.3.5.1 Vai trò của kinh doanh lữ hành
Đối với khách du lịch
Hiện nay đi du lịch trở thành hiện tượng phổ biến, một nhu cầu thiết yếu với mọi người Du khách đi du lịch sẽ được tiếp cận, gần gũi với thiên nhiên hơn, được sống trong môi trường trong sạch, được tận hưởng không khí trong lành Đi du lịch, du khách được mở mang thêm tầm hiểu biết về văn hóa, xã hội cũng như lịch sử đất nước Doanh nghiệp lữ hành sẽ giúp khách hàng thỏa mãn nhu cầu đó Khi mua các chương trình du lịch trọn gói, khách du lịch đã tiết kiệm được cả thời gian và chi phí cho việc tìm kiếm thông tin, tổ chức sắp xếp bố trí cho chuyến du lịch của họ
Khách du lịch sẽ thừa hưởng những tri thức và kinh nghiệm của chuyên giá tổ chức du lịch tại các công ty lữ hành, các chương trình vừa phong phú hấp dẫn vừa tạo điều kiện cho du khách du lịch thưởng thức một cách khoa học nhất Một lợi thế khác là mức giá thấp của chương trình du lịch Các doanh nghiệp lữ hành khác có khả năng giảm giá thấp hơn rất nhiều so với mức giá công bố của các nhà cung cấp dịch vụ du lịch, điều này đảm bảo cho các chương trình du lịch luôn có giá hấp dẫn đối với khách Một lợi ích không kém phần quan trọng là các doanh nghiệp lữ hành giúp cho khách du lịch cảm nhận đươc phần nào sản phẩm trước khi họ quyết định mua và thực sự tiêu dùng nó
Đối với các nhà cung ứng sản phẩm du lịch
Doanh nghiệp lữ hành cung cấp một các nguồn khách lớn, đủ và có kế hoạch Mặt khác trên cơ sở hợp đồng đã kí kết giữa hai bên các nhà cung cấp đã chuyển bớt một phần rủi ro có thể xẩy ra với doanh nghiệp lữ hành Các nhà cung cấp thu được nhiều lợi ích từ các hoạt động quảng cáo khuếch trương của các doanh nghiệp lữ hành Đặc biệt đối với các nước đang phát triển như Việt Nam, khi khả năng tài chính còn hạn chế thì các mối quan hệ các doanh nghiệp lữ hành trên thế giới là phương pháp quảng cáo hữu hiệu thị trường du lịch quốc tế
Đối với ngành du lịch
Trang 25Doanh nghiệp lữ hành là một tế bào, đơn vị cấu thành nên ngành Du lịch Nó có vai trò thúc đẩy hay hạn chế sự phát triển của ngành Du lịch Nếu mỗi doanh nghiệp lữ hành kinh doanh có hiệu quả sẽ tạo điều kiện tốt cho ngành du lịch nói riêng và toàn bộ nền kinh tế chung
Đốivới doanh nghiệp khác
Mỗi doanh nghiệp kinh doanh đều nằm trong mối quan hệ tổng thể với các doanh nghiệp khác trên thị trường Và doanh nghiệp lữ hành cũng không nằm ngoài quy luật ấy Doanh nghiệp kinh doanh lữ hành thúc đẩy doanh nghiệp và các ngành khác phát triển thể hiện ở chỗ doanh nghiệp lữ hành sử dụng đầu ra của các ngành khác để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình
Đối với cư dân địa phương
Khi lữ hành phát triển sẽ mở ra nhiều tuyến điểm du lịch, đặc biệt là các điểm đến của địa phương Điều này sẽ giúp dân cư địa phương mở mang tầm hiểu biết, giúp họ có
cơ hội kinh doanh và quan trọng hơn là vấn đề giải quyết công ăn việc làm cho người dân
ở đây
1.3.5.2 Đặc điểm kinh doanh lữ hành
Trước hết cần phải hiểu: kinh doanh lữ hành (Tour operators bussiness) là việc thực hiện nghiên cứu hoạt động thị trường, thiết lập các chương trình du lịch trọn gói hay từng phần, quảng cáo và bán chương trình này trực tiếp hay gián tiếp qua các trung gian hoặc các văn phòng đại diện tổ chức các chương trình và hướng dẫn du lịch Kinh doanh
lữ hành là một loại hình kinh doanh dịch vụ Vì vậy hoạt động kinh doanh lữ hành có các đặc trưng sau:
Đặc điểm về sản phẩm lữ hành
Sản phẩm lữ hành có tính chất tổng hợp: sản phẩm lữ hành là sự kết hợp của nhiều dịch vụ: dịch vụ vẩn chuyển, lưu trú, ăn uống, của các nhà sản xuất riêng lẻ thành một sản phẩm mới hoàn chỉnh Sản phẩm lữ hành là các chương trình du lịch trọn gói
Trang 26(package tour) hay từng phần Khách hàng phải trả tiền tròn gói các dịch vụ trong chương trình du lịch trước khi đi du lịch
Sản phẩm lữ hành không đồng nhất do các lần cung ứng do chất lượng dịch vụ cấu thành phụ thược vào tâm lý, trạng thái tình cảm của cả người phục vụ lẫn người cảm nhận Mà các yếu tố đó lại thay đổi và chịu tác động của nhiều nhân tố trong thời điểm khác nhau Sản phẩm lữ hành bao gồm các hoạt dộng diễn ra trong cả một quá trình từ khi đón khách theo yêu cầu, cho đến khi khách trở lại điểm xuất phát: những hoạt động đảm bảo nhu cầu thiết yếu của khách như đi lại, ăn ở, an ninh Không giống như ngành sản xuất vật chất khác, sản phẩm lữ hành không bảo quản, lưu kho, lưu bãi được và giá cả của sản phẩm lữ hành có tính linh động cao Chương trình du lịch trọn gói được coi là sản phẩm đặc trưng trong kinh doanh lữ hành Một chương trình du lịch trọn gói có thể được thực hiện nhiều lần vào các thời điểm khác nhau
Kinh doanh lữ hành mang tính thời vụ rõ nét
Ở các thời vụ khác trong năm, nhu cầu của du khách cũng khác nhau Chẳng hạn, vào mùa hè du lịch biển tăng cao nhưng vào mùa đông thì ngược lại, vào mùa xuân nhu cầu du lịch lễ hội cũng tăng mạnh làm cho hoạt động kinh doanh lữ hành có tính thời vụ
Vì vậy, trong kinh doanh lữ hành đồi hỏi các nhà quản trị phải nắm bắt được tính thời vụ nhằm hạn chế được tính thời vụ, duy trì nhịp độ phát triển đều đặn và năng cao hiệu quả kinh doanh lữ hành
Đặc điểm về mối quan hệ giữa sản xuất và tiêu dùng trong kinh doanh lữ hành
Quá trình sản xuất và tiêu dùng sản phảm lữ hành diễn ra vào cùng một thời gian Trong kinh doanh lữ hành, chúng ta chỉ phục vụ khách du lịch khi có sự có mặt của khách trong quá trình phục vụ Có thể xem khách hàng là yếu tố “nguyên liệu đầu vào” trong quá trình sản kinh daonh lữ hành Vì thế trong kinh doanh lữ hành sản phẩm không thể sản xuất trước Quá trình sản xuất và tiêu dùng sảm phẩm lữ hành diễn ra trong cùng một không gian Các sản phẩm lữ hành không thêt vận chuyển mang đến tận nơi phục vụ khách hàng Khách hàng chỉ có thể thỏa mãn nhu cầu khi vận động gặp gỡ Vì vậy, khách hàng là bộ phận tham gia trực tiếp không thể tách rời từ quá trình sản xuất
Trang 27Ngoài ra các đặc điểm trên, hoạt động kinh doanh lữ hành còn phụ thuộc khá nhiều vào các yếu tố tự nhiên, quỹ thời gian nhàn rỗi, trình độ dân trí cũng như phụ thuộc thu nhập của người dân Từ những đặc điểm cơ bản trên cho thấy việc kinh doanh lữ hành rất dễ gặp rủi ro, nó đòi hỏi các công ty lữ hành phải có mối quan hệ rộng đối với đối tác, các nhà cung ứng tin cậy và đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp
1.3.6 Doanh nghiệp lữ hành
1.3.6.1 Định nghĩa
Theo quy chế quản lý lữ hành của Tổng cục du lịch thì: “ Doanh nghiệp lữ hành là đơn vị có tư cách pháp nhân, hạch toán độc lập được thành lập nhằm mục đích sinh lợi bằng việc giao dịch ký kết các hợp đồng du lịch và tổ chức các chương trình đã bán cho khách du lịch”
1.3.6.2 Vai trò của doanh nghiệp lữ hành
Doanh nghiệp lữ hành ra đời đã giúp cho khách du lịch có điều kiện thuận lợi và cảm thấy thoải mái yên tâm hơn, bớt hao tổn thời gian và tiền của trong chuyến đi du lịch So với việc tự tổ chức một chuyến đi của cá nhân thì giá chuyến đi thông qua các công ty du lịch là tương đối rẻ Khách du lịch sẽ được thừa hưởng các chương trình phong phú hấp dẫn được tổ chức một cách khoa học nhất
Về phía các nhà cung cấp, nhờ có các công ty lữ hành mà họ bớt đi được phần nào
sự thụ động trong việc tiêu thụ sản phẩm, bớt được sự rủi ro vì lượng khách bất thường, tăng được khả năng thu hút khách cũng nhưng việc tiêu thụ sản phẩm của mình để tập trung vào việc sản xuất, mở rộng quy mô và đa dạng hóa sản phẩm, tạo ra các dịch vụ mới phục vụ nhu cầu của khách du lịch
Công ty lữ hành còn thu hút và tổ chức gửi khách tới các điểm du lịch, tạo điều kiện cho các cơ sở kinh doanh ở đó khai thác với mức tốt nhất công suất hoạt động của hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật của mình
Trang 281.3.6.3 Phân loại doanh nghiệp lữ hành
* Phân loại theo phạm vi hoạt động
- Doanh nghiệp lữ hành nội địa: có trách nhiệm xây dựng bán và thực hiện các chương trình du lịch nội địa, nhận ủy thác để thực hiện dịch vụ chương trình cho khách nước ngoài đã được doanh nghiệp lữ hành quốc tế đưa vào Việt Nam
Theo Luật du lịch Việt Nam điều 44 quy định điều kiện kinh doanh lữ hành nội địa như sau:
Có đăng ký kinh doanh lữ hành nội địa tại cơ quan đăng ký kinh doanh
có thẩm quyền
Có phương án kinh doanh lữ hành nội địa, có chương trình du lịch cho khách nội địa
Người điều hành hoạt động kinh doanh lữ hành nội địa phải có thời gian ít nhất
3 năm hoạt động trong lĩnh vực lữ hành
- Doanh nghiệp lữ hành quốc tế: có trách nhiệm xây dựng bán các chương trình du lịch trọn gói hoặc từng phần theo yêu cầu của khách để trực tiếp thu hút khách đến với Việt Nam và đưa công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú tại Việt Nam đi du lịch nước ngoài Thực hiện các chương trình du lịch đã bán hoặc ký hợp đồng ủy thác từng phần hay trọn gói cho doanh nghiệp lữ hành nội địa
Theo Luật du lịch Việt Nam điều 46 quy định điều kiện kinh doanh lữ hành quốc
tế như sau:
Có giấy phép kinh doanh lữ hành quốc tế do cơ quan quản lý nhà nước về du lịch trung ương cấp
Có phương án kinh doanh lữ hành, có chương trình du lịch cho khách du lịch quốc
tế theo phạm vi kinh doanh được quy định tại khoản 1 điều 47 của luật này
Người điều hành hoạt động kinh doanh lữ hành quốc tế phải có thời gian ít nhất bốn năm hoạt động trong lĩnh vực lữ hành
Có ít nhất 3 hướng dẫn viên được cấp thẻ hướng dẫn viên du lịch quốc tế
Có tiền ký quỹ theo quy định của chính phủ
Trang 29* Phân loại theo quy mô và phương thức hoạt động
- Đại lý du lịch : hoạt động chủ yếu làm dịch vụ trung gian tiêu thụ và bán sản phẩm một cách độc lập, riêng lẻ cho các nhà sản xuất du lịch đẻ hưởng hoa hồng theo mức phần trăm của giá bán
- Công ty lữ hành nhận khách: bao gồm cả nhận khách quốc tế, hoạt động chính là xây dựng các chương trình du lịch và tổ chức các chương trình du lịch đã bán cho khách thông qua các công ty lữ hành gửi khách Loại hình kinh doanh này thích hợp với những nơi có tài nguyên du lịch nổi tiếng
- Công ty lữ hành gửi khách: bao gồm cả gửi khách quốc tế và gửi khách nội địa, hoạt động chính của công ty là tổ chức thu hút khách du lịch một cách trực tiếp để đưa khách đến nơi du lịch nổi tiếng Loại hình công ty này thường được thành lập ở nơi có cầu du lịch lớn
- Công ty lữ hành tổng hợp: là công ty trực tiếp khai thác các nguồn khách và đảm nhận cả việc tổ chức các chương trình du lịch
1.3.7 Sản phẩm kinh doanh lữ hành
1.3.7.1 Khái niệm sản phẩm lữ hành
Sản phẩm trong doanh nghiệp lữ hành là các loại hình dịch vụ mà doanh nghiệp cung ứng cho du khách: CTDL, dịch vụ cung cấp và tư vấn thông tin, đại lý du lịch Các dịch vụ cấu thành nên sản phẩm của doanh nghiệp lữ hành phần lớn được cung ứng từ đối tác Các hãng lữ hành sử dụng sản phẩm của hệ thống đó sản xuất ra các loại sản phẩm đặc trưng của mình nhằm cung ứng cho du khách trong hoàn cảnh không gian và thời gian xác định Căn cứ vào tính chất và nội dung của sản phẩm lữ hành có thể chia sản phẩm của doanh nghiệp lữ hành thành ba nhóm cơ bản: các dịch vụ trung gian( DVTG), các CTDL trọn gói và các dịch vụ khác
1.3.7.2 Hệ thống sản phẩm kinh doanh lữ hành
Trang 30Sản phẩm của DVTG chủ yếu do các đại lý du lịch cung cấp Trong hoạt động này, các đại lý du lịch thực hiện hoạt động bán sản phẩm của các nhà sản xuất với khách
du lịch Các đại lý du lịch không tổ chức sản xuất các sản phẩm của bản thân đại lý mà chỉ hoạt động như một điểm bán sản phẩm của các nhà sản xuất du lịch Các DVTG chủ yếu bao gồm: đăng ký đặt chỗ và bán vé các lạo phương tiện khác như: tàu thủy, đường sắt, ô tô, môi giới cho thuê xe và bán bảo hiểm, đăng ký đặt chỗ và bán chương trình du lịch, đặt chỗ khách sạn và các dịch vụ môi giới trung gian khác
Các CTDL trọn gói: hoạt động du lịch trọn gói mang tính chất đặc trưng cho hoạt động lữ hành du lịch Các công ty lữ hành liên kết các sản phẩm của các nhà sản xuất riêng lẻ thành một sản phẩm hoàn chỉnh và bán cho du khách Khi tổ chức các CTDL trọn gói các công ty lữ hành có trách nhiệm đối với khách du lịch cũng như những nhà sản xuất ở mức độ cao hơn nhiều so với hoạt động trung gian
Các dịch vụ khác: trong quá trình của công ty lữ hành có thể mở rộng phạm vi kinh doanh của mình trở thành người sản xuất trực tiếp ra sản phẩm du lịch Vì lẽ đó các công ty lữ hành lớn trên thế giới hoạt động hầu hết trên các lĩnh vực liên quan đến du lịch: kinh doanh khách sạn, nhà hàng, kinh doanh các dịch vụ vui chơi giải trí, vẩn chuyển du lịch, kinh doanh dịch vụ ngân hàng phục vụ du khách Các dịch vụ này thường
là sự kết hợp và sự hợp tác, liên kết trong du lịch Hệ thống sản phẩm của du lịch lữ hành càng phong phú thì hoạt động kinh doanh lữ hành càng phát triển Tuy nhiên các doanh nghiệp lữ hành cần lưu ý rằng: nhu cầu của khách hàng mang tính tổng hợp rất cao Vì thế doanh nghiệp lữ hành muốn phát triển thì phải đáp ứng nhu cầu đó bằng sự đa dang tổng hợp của hệ thống sản phẩm Song doanh nghiệp là người ký hợp đồng và đại diện bán cho nhà sản xuất trực tiếp Nên để tránh rủi ro và đảm bảo duy trì lâu dài, doanh nghiệp lữ hành cần chọn nhà cung cấp, các đại lý cho doanh nghiệp đáng tin cậy, có uy tín
1.4 Hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty lữ hành
1.4.1 Hiệu quả kinh tế
Trang 311.4.1.1 Khái niệm
Trong điều kiện kinh tế thị trường như hiện nay, để tồn tại và phát triển các doanh nghiệp phải tính đến hiệu quả ngay trong mỗi phương án kinh doanh cũng như lường trước những diễn biến phức tạp của thị trường Nói cách khác, vấn đề hiệu quả luôn là mối quan tâm hàng đầu của mỗi doanh nghiệp
Hiệu quả có thể hiểu một cách chung nhất là một chỉ tiêu phản ánh trình độ sử dụng các yếu tố cần thiết để tham gia vào các hoạt động để đạt được mục đích nhất định của mỗi người
Về cơ bản, hiệu quả được phản ánh trên hai mặt là hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội
Hiệu quả kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực ( nhân lực, tài lực, vật lực, tiền vốn) để đạt được mục tiêu xác định
Hiệu quả xã hội phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực nhằm đạt được các mục tiêu
xã hội như tạo công ăn việc làm trong phạm vi xã hội, hoặc từng khu vực, nâng cao mức sống, nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho các tầng lớp nhân dân
1.4.1.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh lữ hành
Doanh thu
Đây là chỉ tiêu chung nhất phản ánh hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp Chỉ tiêu này không chỉ phản ánh kết quả kinh doanh lữ hành của công ty mà còn dùng để xem xét từng loại chương trình du lịch của doanh nghiệp đang ở giai đoạn nào của chu kỳ sống của sản phẩm Mặt khác nó còn làm cơ sở để tính toán chỉ tiêu lợi nhuận thuần và hiệu quả kinh doanh của công ty Doanh thu còn là nguồn quan trọng để đảm bảo trang trải các khoản chi phí cho hoạt động kinh doanh và chi phí khác Doanh thu càng cao chứng tỏ hoạt động kinh doanh càng lớn Để đạt được doanh thu cao, doanh nghiệp cần phải cố gắng phấn đấu từ mọi góc độ như tăng giá bán, tăng lượt khách, tăng khả năng chi tiêu của khách, kéo dài thời gian tham gia chương trình của khách
Chỉ tiêu này được xác định bằng công thức:
Trang 32n
DT = Σ PiQi
i=1 Trong đó:
DT : tổng doanh thu từ chương trình du lịch
P : giá bán chương trình du lịch cho một khách
Q : số khách trong một chương trình du lịch
n : số chuyến du lịch mà công ty thực hiện
Doanh thu của một chuyến du lịch thứ i phụ thuộc vào giá bán và số khách có trong chuyến đó Tổng doanh thu từ chương trình kinh doanh du lịch là tổng doanh thu của n chuyến du lịch mà công ty thực hiện được trong kỳ
TC : tổng chi phí cho các chương trình du lịch trong kỳ
Ci : chi phí dùng để thực hiện chương trình du lịch thứ i
n: số chương trình du lịch thực hiện
Chi phí trong kỳ bằng tổng chi phí của chương trình thực hiện chuyến du lịch trong kỳ Chi phí để thực hiện chương trình du lịch thứ i là tất cả các chi phí cần thiết để thực hiện chương trình du lịch như vé tham quan, hướng dẫn viên, ăn ngủ và các dịch vụ khác Nếu chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra cho một chương trình dịch vụ du lịch càng thấp thì nó sẽ giảm được giá thành sản phẩm, hạ giá bán, làm giảm bớt sự cạnh tranh của đối thủ
Trong kinh doanh tiết kiệm chi phí là mục tiêu mà bất kỳ doanh nghiệp nào cũng phấn đấu, có nghĩa là phải giảm thiểu tối đa những gì có thêm ngoài việc chi phí mua bán các dịch vụ thì việc giảm chi phí cho tuyển dụng lao động, chi phí giao dịch tiếp khách
…là rất cần thiết Vì vậy việc chi tiêu của công ty phải có kế hoạch rõ ràng
Trang 33Lợi nhuận
Đây là chỉ tiêu đánh giá tổng hợp biểu hiện kết quả của quá trình sản xuất kinh doanh, nó phản ánh đủ các mặt số lượng và chất lượng hoạt động của doanh nghiệp, phản ánh kết quả việc sử dụng các yếu tố cơ bản của sản xuất như: lao động, nguồn vốn, tài sản…
Chỉ tiêu này được tính như sau:
Chỉ tiêu này cho biết mức độ lợi nhuận trong một đơn vị doanh thu là bao nhiêu
Tỷ lệ này càng lớn càng có hiệu quả
- Tỷ suất lợi nhuận trên chí phí:
Trang 34Chỉ tiêu này cho biết mức độ lợi nhuận trong một đồng chi phí bỏ ra là bao nhiêu
Tổng số lượt khách, tổng số ngày khách thực hiện
* Tổng số lượt khách
Chỉ tiêu này phản ánh số lượt khách tham gia vào các tour của công ty trong kỳ phân tích Chỉ tiêu này phản ánh một cách tổng quát hiệu quả kinh doanh lữ hành của doanh nghiệp
Chỉ tiêu này được tính như sau:
i =1 Trong đó:
TNK: tổng số ngày khách trong kỳ phân tích
ti : số ngày của chương trình du lịch thứ i
Qi: số khách tham gia chương trình du lịch thứ i
Chỉ tiêu này rất quan trọng có thể dùng để tính cho từng loại chương trình du lịch,
so sánh hiệu quả kinh doanh giữa các chuyến du lịch, các thị trường khách, giữa doanh nghiệp và đối thủ… Một chương trình du lịch có số lượng khách ít nhưng thời gian của chuyến đi dài thì làm cho số ngày khách tăng và ngược lại
Trang 351.4.2 Hiệu quả kinh doanh lữ hành
1.4.2.1 Bản chất của hiệu quả kinh doanh lữ hành
Hiệu quả kinh doanh lữ hành thể hiện khả năng mức độ sử dụng các yếu tố đầu vào và tài nguyên du lịch nhằm tạo ra và tiêu thụ một khối lượng sản phẩm dịch vụ trong một khoảng thời gian nhất định nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch Với doanh nghiệp kinh doanh lữ hành là đạt được doanh thu, lợi nhuận cao nhất với mức chi phí thấp Trong đó bao gồm các yếu tố đầu vào là cơ sở vật
chất kỹ thuật, vốn sản xuất kinh doanh và lao động
1.4.2.2 Ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh lữ hành
Hiệu quả kinh doanh lữ hành là một công cụ để các nhà quản trị thực hiện chức năng của mình Việc xem xét và tính toán hiệu quả kinh doanh không chỉ cho biết việc sản xuất đạt được ở trình độ nào mà còn cho phép nhà quản trị phân tích tìm ra các yếu tố
để đưa ra các biện pháp thích hợp trên cả hai phương diện tăng kết quả và giảm chi phí
Hiệu quả kinh doanh lữ hành đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá, so sánh, phân tích vị thế của công ty lữ hành so với các đối thủ cạnh tranh từ đó tìm ra được giải pháp kinh doanh phù hợp với nguồn lực, tiềm năng của công ty Đồng thời sẽ đáp ứng được nhu cầu của khách hàng về chất lượng dịch vụ
Nâng cao hiệu quả kinh tế doanh nghiệp lữ hành tiết kiệm được các chi phí từ đó làm giảm giá bán sản phẩm du lịch, nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm công ty trên thị trường
Nâng cao hiệu quả kinh doanh lữ hành là tiền đề góp phần tạo việc làm do quy mô sản xuất được mở rộng và thúc đẩy các ngành kinh tế khác trong xã hội cùng phát triển như giao thông vận tải, bưu chính viễn thông, khách sạn…
Nâng cao hiệu quả kinh doanh lữ hành sẽ tạo cho đội ngũ lao động được hưởng các chính sách đãi ngộ tốt cũng như được làm việc trong môi trường hiện đại từ đó nhân viên sẽ gắn bó với công ty hơn
Trang 361.4.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh lữ hành
* Các nhân tố khách quan:
- Môi trường tự nhiên: Tài nguyên và môi trường là nhân tố cơ bản để tạo ra sản phẩm du lịch Du khách ở các đô thị lớn, các khu công nghiệp có nhu cầu về các địa phương có môi trường trong lành hơn như các cùng biển, nông thôn hay vùng núi để có thể thoát khỏi sự ồn ào của đô thị tìm thấy sự thư giãn, thoải mái trong những ngày nghỉ Với nhu cầu hòa mình vào thiên nhiên như vậy thì một môi trường trong sạch nên thơ sẽ hấp dẫn du khách Do đó những người làm du lịch cần phải nắm bắt được nhu cầu này của khách để từ đó có thể xây dựng nên các chương trình tham quan du lịch sao cho có thể đáp ứng được nhu cầu của khách
- Môi trường văn hóa: Các đối tượng văn hóa được coi là tài nguyên du lịch đặc biệt Một đất nước có nền văn hóa phong phú và đa dạng sẽ là động lực mạnh mẽ để thu hút khách đến tham quan
- Môi trường kinh tế: Kinh tế phát triển tạo môi trường thuận lợi cho việc cung ứng các nhu cầu của du lịch Ngoài ra một đất nước có nền kinh tế phát triển, ổn định tất yếu sẽ có sự đâu tư lớn cho du lịch sẽ là cho các điểm du lịch ngày càng trở nên hấp dẫn khách du lịch Đây chính là một trong những yếu tố có tác động không nhỏ đến tình hình kinh doanh của các doanh nghiệp,
- Môi trường chính trị: Bất cứ sự xáo động nào về chính trị xã hội dù lớn hay nhỏ cũng đều ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động du lịch Ổn định và an toàn là yếu tố có ý nghĩa rất lớn đối với du khách và doanh nghiệp cung ứng dịch vụ du lịch Do đó, một môi trường chính trị ổn định luôn là điều kiện tiền đề cho việc phát triển du lịch, đầu tư và phát triển các hoạt động khác
- Khách hàng : Đối với doanh nghiệp lữ hành, khách hàng thực chất là thị trường Thị trường của một doanh nghiệp lữ hành là tập hợp khách du lịch có nhu cầu mua và tiêu dùng sản phẩm du lịch, dịch vụ của công ty và có khả năng thánh toán Kết quả kinh doanh lữ hành phụ thuộc vào tình hình đón khách của công ty Thị trường khách rộng, nhu cầu du lịch cao, quỹ thời gian rỗi nhiều, khả năng chi trả cao là những điều kiện tốt
Trang 37cho công ty khai thác thị trường Khách hàng ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín và hiệu quả kinh doanh của công ty lữ hành
- Đối thủ cạnh tranh: Mức độ cạnh tranh của các đối thủ trong ngành du lịch cũng như các ngành dịch vụ khác là rất lớn, thể hiện ở sự cạnh tranh về giá, các chương trình quảng cáo, tiếp thị, và độ phong phú của chương trình…Điều này gây ảnh hưởng không nhỏ đến thị trường khách cũng như hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
- Các chính sách luật lệ và chủ trương của Nhà nước: chủ trương chính sách, luật pháp của nhà nước có tác động mạnh mẽ đến hiệu quả kinh tế của các doanh nghiệp nói chung đặc biệt là doanh nghiệp lữ hành thông qua các yếu tố như: thuế, tín dụng, thủ tục xuất nhập cảnh…
Với đặc trưng của ngành kinh doanh lữ hành, lượng khách du lịch quốc tế đóng vai trò rất lớn trong sự phát triển kinh tế của doanh nghiệp Vì vậy, kinh doanh lữ hành phụ thuộc rất nhiều vào chính sách mở cửa để đón nhận đầu tư nước ngoài và khách du lịch quốc tế Đối với trong nước, chính sách khuyến khích tiêu dùng hơn là tích lũy sẽ ảnh hưởng đến nhu cầu du lịch
- Tính thời vụ: Đây là nhân tố khách quan ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh lữ hành Tính thời vụ trong kinh doanh lữ hành được hình thành dưới tác động của nhiều yếu tố như thời tiết, khí hậu, thời gian rảnh rỗi của du khách… Trong thời điểm ngoài mùa vụ du lịch thì lượng khách đi du lịch là rất ít, lao động dư thừa, các phương tiện vận chuyển chuyên phục vụ du lịch gần như không hoạt động, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động kinh doanh lữ hành của công ty
- Sự phát triển của các ngành khác: Du lịch là ngành cần có sự hỗ trợ của các ngành khác như bưu chính viễn thông, giao thông vận tải, hàng không, khách sạn, ngân hàng
…Sự phát triển của doanh nghiệp là không thể độc lập, nó thực sự có hiệu quả cao khi các ngành kinh tế lớn mạnh, đủ đáp ứng nhu cầu tổng hợp của xã hội
* Các nhân tố chủ quan
- Vốn kinh doanh: Để có thể tồn tại và phát triển không chỉ có các doanh nghiệp lữ hành mà các doanh nghiệp hoạt động trên lĩnh vực khác nói chung đều cần có vốn Nếu thiếu vốn thì hoạt động của doanh nghiệp hoặc đình chỉ hoặc kém hiệu quả Vì vậy vốn
Trang 38rất quan trọng, tuy nhiên kinh doanh đạt hiệu quả thì phải sử dụng đồng vốn thu được lợi nhuận cao nhất
- Cơ sở vật chất kỹ thuật: Trong du lịch hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật tuy không phức tạp như các ngành sản xuất khác song nó cần có sự đầu tư cơ bản Mặc dù vậy cơ sở vật chất kỹ thuật cũng cần phải được đầu tư nâng cấp liên tục phù hợp với sự phát triển chung của toàn xã hội và quan trọng hơn là phục vụ tốt
nhất cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
- Chất lượng phục vụ: Chất lượng phục vụ trong doanh nghiệp lữ hành được quyết định bởi 3 yếu tố: nhân viên phục vụ, dịch vụ, cơ sở vật chất kỹ thuật Đây là nhân tố đảm bảo thành công cho các doanh nghiệp lữ hành trong điều kiện cạnh tranh gay gắt Phục vụ khách hàng là quy định phức tạp nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng ngày càng cao
về vật chất cũng như chất lượng dịch vụ Nâng cao chất lượng dịch vụ sẽ làm tăng chi phí kinh doanh song chất lượng phục vụ tốt sẽ là yếu tố quyết định đến chất lượng sản phẩm hàng hóa được bán và tiêu thụ, có nghĩa là nó gắn liền với lợi nhuận của doanh nghiệp
- Các chính sách của doanh nghiệp: Tùy theo mục đích của công ty mà công ty đề
ra những chiến lược kinh doanh khác nhau Nếu để cạnh tranh với các công ty khác trên thị trường thì công ty có thể hạ thấp giá bán, đưa ra các chương trình khuyến mại… để tạo ra sức cạnh tranh, điều này làm cho lợi nhuận tức thời của công ty giảm xuống nhưng
có thể làm cho hiệu quả kinh doanh của công ty về lâu dài là tăng lên
Trang 39TÓM TẮT CHƯƠNG 1
Bất cứ một doanh nghiệp kinh doanh nào nói chung và doanh nghiệp kinh doanh
lữ hành nói riêng đều có mục đích trong quá trình kinh doanh, và suy cho cùng mục đích hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp lữ hành chính là lợi nhuận Phát triển hoạt động kinh doanh lữ hành sẽ cho phép doanh nghiệp thiết lập được hệ thống sản phẩm lữ hành có chất lượng, phong phú và đa dạng Từ đó giúp doanh nghiệp chiếm lĩnh được thị trường khách hàng vững chắc để từ đó tối đa hóa được lợi ích kinh tế cho doanh nghiệp mình Bên cạnh đó, hệ thống sản phẩm có chất lượng, giá cả hợp lý còn là phương tiện điều kiện doanh nghiệp phát triển bền vững và duy trì sự tồn tại lâu dài Và do đó những vấn đề được nêu lên ở Chương 1 sẽ là cơ sở lý luận vững chắc cho đề tài Dựa vào những
lý luận này để thực hiện nghiên cứu thực trạng của chính công ty lữ hành VNTOUR được nêu lên trong Chương 2
Trang 40Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH LỮ HÀNH NỘI ĐỊA
TẠI CÔNG TY DU LỊCH VNTOUR
2 1 Giới thiệu công ty Cổ phần Du Lịch VNTOUR
Tên giao dịch: CÔNG TY CỔ PHẦN VNTOUR
Tên giao dịch viết tắt: VNTOUR CORP
Địa chỉ trụ sở chính: 156 Hoàng Văn Thụ, Phường 09, Quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam
Điện thoại: (08) 3985 4911 – Hotline: 0914 50 86 50
Fax: (083) 99.77.554
Website: www.vntour.com.vn Email: info@vntour.com.vn
Mã số thuế: 0312646818
Vốn điều lệ: 4.000.000.000 đồng (bốn tỷ đồng)
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty
Được thành lập từ ngày 12 tháng 2 năm 2014, công ty Cổ phần VNTOUR đặt văn phòng ở 244 Phạm Văn Đồng, P.1, Q Gò Vấp, TP.HCM
Sau đó đăng ký thay đổi lần 2 vào ngày 02 tháng 12 năm 2015, Công ty Cổ phần VNTOUR chuyển sang cơ sở mới đặt văn phòng ở 136 Hoàng Văn Thụ , Phường 9, Quận Phú Nhuận, TP.Hồ Chí Minh và hoạt đông cho đến nay
Chỉ mới hoạt động một thời gian, thế nhưng công ty đã đạt được những thành tích đáng
kể và có được mối quan hệ kinh doanh dịch vụ và du lịch với một số đối tác trong và ngoài nước
Với nhiều cách thức, công ty đã tuyển dụng những nhân viên có năng lực, chuyên môn cao từ nhiều nơi khác nhau Song song với đó là việc củng cố đoàn kết, tạo động lực phấn đấu lành mạnh cho nhân viên trong công ty Bên cạnh đó công ty còn mở rộng hợp tác,