1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Đánh giá quy định về việc xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản theo quy định của luật hôn nhân và gia đình 2014

13 59 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 0,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay có theo thống kê tỉ lệ vô sinh ngày càng chiếm tỷ lệ cao, ước tính cứ một trong bốn cặp vợ chồng sẽ gặp vấn đề về sinh sản có nghĩa ¼ cặp vợ chồng ở các tuổi khác nhau có nhu cầu sinh con nhưng không thể mang thai như mong muốn. Nếu quay lại chục năm trước có lẽ hy vọng có con với một số cặp vợ chồng là điều không tưởng, nhưng hiện nền y học thế giới nói chung, y học nước nhà nói riêng ngày càng phát triển thì mong ước được làm cha, làm mẹ của một số cặp vợ chồng hiếm muộn đã trở thành hiện thực, bởi các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản ra đời, đặc biệt là kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm thực sự đã mang lại niềm vui và hạnh phúc đến cho bao nhiêu cặp vợ chồng. Tuy nhiên, vấn đề sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản ở nước ta đang trở nên ngày càng phổ biến, do vậy cũng cần phải có một hành lang pháp lý để quản lý chặt chẽ vấn đề này. Để làm rõ hơn các quy định của pháp luật về vấn đề trên em xin chọn đề số 10: “Đánh giá quy định về việc xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình 2014”.

Trang 1

BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

BÀI TẬP HỌC KỲ MÔN: LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

ĐỀ BÀI SỐ 10:

“Đánh giá quy định về việc xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình 2014”

Hà Nội, 2020

Trang 2

MỤC LỤC

NỘI DUNG

I, KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KỸ THUẬT HỖ TRỢ

SINH SẢN

1,Kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là gì?

2, Các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản hiện nay

II, CÁC QUY ĐỊNH VỀ XÁC ĐỊNH CHA, MẸ, CON

TRONG TRƯỜNG HỢP SINH CON BẰNG KỸ

THUẬT HỖ TRỢ SINH SẢN THEO QUY ĐỊNH CỦA

LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014

1 Những vấn đề pháp lý liên quan đến sinh con bằng kỹ

thuật hỗ trợ sinh sản

2 Đánh giá quy định xác định cha, mẹ, con trong

trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản theo

pháp luật Việt Nam

2.1, xác định cha mẹ đối với trường hợp cặp vợ chồng vô

sinh

2.2, Xác định cha mẹ đối với trường hợp phụ nữ độc thân

2.3, xác định cha mẹ trong trường hợp mang thai hộ vì

mục đích nhân đạo

3 Hướng giải quyết nhằm hoàn thiện các quy định của

pháp luật về vấn đề sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh

sản

1

1

3

4

4

6

7

7

Trang 3

MỞ ĐẦU

Hiện nay có theo thống kê tỉ lệ vô sinh ngày càng chiếm tỷ lệ cao, ước tính cứ một trong bốn cặp vợ chồng sẽ gặp vấn đề về sinh sản có nghĩa ¼ cặp

vợ chồng ở các tuổi khác nhau có nhu cầu sinh con nhưng không thể mang thai như mong muốn Nếu quay lại chục năm trước có lẽ hy vọng có con với một số cặp vợ chồng là điều không tưởng, nhưng hiện nền y học thế giới nói chung, y học nước nhà nói riêng ngày càng phát triển thì mong ước được làm cha, làm mẹ của một số cặp vợ chồng hiếm muộn đã trở thành hiện thực, bởi các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản ra đời, đặc biệt là kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm thực sự đã mang lại niềm vui và hạnh phúc đến cho bao nhiêu cặp vợ chồng Tuy nhiên, vấn đề sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản ở nước ta đang trở nên ngày càng phổ biến, do vậy cũng cần phải có một hành lang pháp lý để quản lý chặt chẽ vấn đề này Để làm rõ hơn các quy định của pháp

luật về vấn đề trên em xin chọn đề số 10: “Đánh giá quy định về việc xác định

cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình 2014” Trong quá trình tìm hiểu và

làm bài không tránh khỏi những sai sót kính mong thầy/cô bỏ qua và góp ý cho em được hiểu rõ hơn về vấn đề và rút kinh nghiệm cho những phần sau

Em xin chân thành cảm ơn!

NỘI DUNG

I, KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KỸ THUẬT HỖ TRỢ SINH SẢN

1,Kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là gì?

Theo định nghĩa từ Đạo luật về Chứng chỉ và Mức thành công của các phòng Y tế Hỗ trợ Sinh sản (Hoa Kỳ), kỹ thuật hỗ trợ sinh sản (tiếng Anh: Assisted Reproductive Technology A.R.T.) bao gồm tất cả các phương pháp chữa trị chứng vô sinh trong đó cả trứng lẫn tinh trùng đều được sử dụng Nói chung ART là công tác phẫu thuật lấy trứng từ buồng trứng của một người

nữ, kết hợp với tinh trùng của một người nam, sao đó đem trở vào người nữ

đó hay một người nữ khác

Những phương pháp giúp có thai đơn thuần hơn như bơm tinh trùng vào tử cung (không trực tiếp động đến trứng) và kích thích tạo trứng (không trực tiếp lấy tinh trùng) không được xếp vào lĩnh vực của ART

2, Các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản hiện nay

Thụ tinh trong ống nghiệm – IVF (In-vitro Fertilization)

Thụ tinh trong ống nghiệm là biện pháp hỗ trợ sinh sản cho các cặp vợ chồng hiếm muộn bằng cách cho trứng và tinh trùng kết hợp ở ngoài cơ thể Phôi thai được tạo thành sau khi trứng và tinh trùng kết hợp thành công sẽ

Trang 4

được chuyển lại vào buồng tử cung của người phụ nữ Phôi sau đó làm tổ, phát triển thành thai nhi như trong các trường hợp thụ thai tự nhiên

Thụ tinh trong ống nghiệm IVF là kỹ thuật đặc biệt giúp tinh trùng và trứng kết hợp với nhau trong môi trường phòng thí nghiệm Tinh trùng sau khi được lọc rửa, sẽ được cấy chung với trứng trong đĩa môi trường và để ủ trong tủ Tinh trùng có thể đi xuyên vào trứng và xảy ra quá trình thụ tinh chỉ trong vài giờ đầu Trong kỹ thuật này, trứng và tinh trùng gặp nhau, kết hợp với nhau một cách tự nhiên để tạo thành phôi

Phương pháp này thường được chỉ định khi: Tắc vòi trứng; Tinh trùng

ít, yếu, dị dạng (không đủ để bơm tinh trùng vào buồng tử cung); Không tinh trùng, phải lấy tinh trùng từ mào tinh, tinh hoàn; Vợ lớn tuổi; Bơm tinh trùng nhiều lần thất bại

Thụ tinh nhân tạo (IUI)

Nếu theo định nghĩa về A.R.T thì thụ tinh nhân tạo (IUI) không thực sự nằm trong lãnh vực này Tuy nhiên, IUI là một phương pháp hỗ trợ sinh sản khá giản đơn, ít tốn kém về chi phí và thời giờ hơn

Thụ tinh nhân tạo viết tắt của intrauterine insemination (IUI) là thụ tinh bằng phương pháp bơm tinh trùng vào buồng tử cung - được tiến hành bằng cách chọn lọc tinh trùng khỏe nhất của người chồng, sau đó bơm vào buồng

tử cung của người vợ ở thời điểm rụng trứng

Kết quả là cho tinh trùng bơi vào ống dẫn trứng và thụ tinh với trứng của người vợ, từ đó dẫn đến thụ thai như bình thường Tùy thuộc vào nguyên nhân dẫn đến vô sinh, kỹ thuật thụ tinh nhân tạo có thể được phối hợp với chu

kỳ kinh nguyệt của người vợ hoặc sử dụng kết hợp với các loại thuốc hỗ trợ sinh sản

Phương pháp này được chỉ định khi: Khó thụ thai bằng quan hệ tình dục bình thường hay cảm thấy khó có thể quan hệ tình dục qua đường âm đạo; Vợ hoặc chồng có khuyết tật thể chất hoặc gặp phải vấn đề về tâm lý tình dục; Lạc nội mạc tử cung hay có các bất thường ở cơ quan sinh dục; Vợ/chồng nhiễm HIV hoặc các bệnh lây truyền qua đường tình dục; Tinh trùng của nam giới ít và yếu nhẹ; Nam giới mắc chứng xuất tinh sớm, không

có khả năng quan hệ tình dục do chấn thương hoặc dị tật bẩm sinh; Vô sinh nam không rõ nguyên nhân

Tiêm tinh trùng vào bào tương noãn (ICSI)

ICSI là từ viết tắt của Intra-cytoplasmic Sperm Injection là phương pháp tiêm tinh trùng trực tiếp vào noãn để tạo phôi Đây là kỹ thuật được thực hiện nhằm làm tăng khả năng thụ tinh Cụ thể, một tinh trùng chất lượng tốt

sẽ được lựa chọn để tiêm trực tiếp vào bào tương của trứng Sau khi thụ tinh

Trang 5

thành công, phôi sẽ được nuôi cấy đến ngày thứ 3 hoặc thứ 5 rồi chuyển vào buồng tử cung của người mẹ để làm tổ, phát triển thành thai nhi khỏe mạnh

Trên đây là ba kỹ thuật phổ biến được các cặp vợ chồng lựa chọn, ngoài ba kỹ thuật nêu trên còn một số kỹ thuật khác như: Trưởng thành trứng trong ống nghiệm – IVM (Invitro Maturation of Oocytes); Thụ tinh ống nghiệm xin trứng – Oocyte donation; Chuyển phôi trữ - Frozen Embryo Transfer (FET)

II, CÁC QUY ĐỊNH VỀ XÁC ĐỊNH CHA, MẸ, CON TRONG TRƯỜNG HỢP SINH CON BẰNG KỸ THUẬT HỖ TRỢ SINH SẢN THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014

1, Những vấn đề pháp lý liên quan đến sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản

Hiện nay nền y học ngày càng phát triển; các y bác sĩ, các nhà khoa học tìm ra nhiều cách khác nhau nhau để giúp những cặp vợ chồng không may mắn khi không thể có con theo cách tự nhiên Ở nước ta có hai kỹ thuật hỗ trợ sinh sản phổ biến được áp dụng là kỹ thuật thụ tinh nhân tạo và thụ tinh trong ống nghiệm Hai kỹ thuật này được quy định rất rõ trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 là hai kỹ thuật hỗ trợ sinh sản được nhà nước thừa nhận,

cụ thể:

Điều 3: Giải thích từ ngữ

Khoản 21 Sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là việc sinh con bằng

kỹ thuật thụ tinh nhân tạo hoặc thụ tinh trong ống nghiệm

Đây là việc sử dụng các biện pháp kỹ thuật y học hiện đại để can thiệp vào quá trình thụ thai của người phụ nữ nhằm mục đích giúp những cặp vợ chồng hiếm muộn, vô sinh hoặc phụ nữ độc thân có thể mang thai và có những đứa con như họ mong muốn Sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản đã thể hiện được sự phát triển vượt bậc của ngành khoa học lĩnh vực y học, giải quyết được tình trạng vô sinh ở cả phụ nữ và nam giới do ảnh hưởng bởi sự tác động của nhiều yếu tố như môi trường ô nhiễm, hóa chất độc hại hay di chứng của chiến tranh để lại, đem lại niềm vui và hạnh phúc cho biết bao gia đình

Đối với kỹ thuật thụ tinh nhân tạo.

Hiện nay, thụ tinh nhân tạo đang là một trong những vấn đề nhận được

sự quan tâm nhiều nhất xoay quanh lĩnh vực sức khỏe sinh sản Thụ tinh nhân tạo được biết đến là một phương pháp hỗ trợ sinh sản hiệu quả được áp dụng phổ biến trong điều trị vô sinh hiếm muộn nhằm mang đến cơ hội làm cha, làm mẹ cho nhiều cặp vợ chồng Phương pháp này sử dụng các kỹ thuật để tạo điều kiện cho quá trình thụ thai được diễn ra thuận lợi nhất tại các cơ sở y

tế chuyên khoa

Trang 6

Dưới góc độ y học, thụ tinh nhân tạo được hiểu là thủ thuật bơm tinh trùng của chồng hoặc của người cho tinh trùng vào tử cung của người phụ nữ

có nhu cầu sinh con để tạo phôi Đây là một trong những biện pháp hỗ trợ sinh sản hiệu quả cao hiện nay và trở thành lựa chọn của rất nhiều cặp vợ chồng vô sinh, hiếm muộn

Đối với kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm.

Theo khoản 1 Điều 2 Nghị định số 10/2015/NĐ-CP, ngày 28/01/2015 của Chính phủ quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm

và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo thì: “Thụ tinh trong ống nghiệm là sự kết hợp giữa noãn và tinh trùng trong ống nghiệm để tạo thành phôi”

Hay nói cách khác, phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm là phương pháp mà trứng và tinh trùng được thụ tinh bên ngoài cổ tử cung của người phụ nữ

Những trường hợp được áp dụng sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản:

Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Nghị định số 10/2015/NĐ-CP thì

“Cặp vợ chồng vô sinh và phụ nữ độc thân có quyền sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm theo chỉ định của bác sĩ chuyên khoa; cặp vợ chồng

vô sinh có quyền nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo” Như vậy, pháp luật cho phép áp dụng biện pháp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản trong hai trường hợp: (i) Đối với cặp vợ chồng vô sinh (khoản 2 Điều 2 Nghị định

số 10/2015/NĐ-CP: Vô sinh là tình trạng vợ chồng sau một năm chung sống

có quan hệ tình dục trung bình 2 - 3 lần/tuần, không sử dụng biện pháp tránh thai mà người vợ vẫn không có thai) và đối với người phụ nữ độc thân (khoản

6 Điều 2 Nghị định số 10/2015/NĐ-CP: Phụ nữ độc thân là phụ nữ không có quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật)

2 Đánh giá quy định xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản theo pháp luật Việt Nam

2.1, xác định cha mẹ đối với trường hợp cặp vợ chồng vô sinh

Khoản 1 Điều 93 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có quy định:

“Trường hợp người vợ sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì việc xác định cha, mẹ được áp dụng theo quy định tại Điều 88 của Luật này” Đối chiếu đế Điều 88 Xác định cha, mẹ:

1 Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng

Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân

Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng

Trang 7

2 Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ

và phải được Tòa án xác định

Việc xác định cha mẹ trong trường hợp này căn cứ vào thời kỳ hôn nhân của cặp vợ chồng Vì vậy, trong trường hợp con sinh ra trước ngày vợ, chồng đăng ký kết hôn và được vợ, chồng thừa nhận là con chung sẽ không được áp dụng đối với trường hợp con sinh ra bằng hỗ trợ kỹ thuật sinh sản

Để đảm bảo nguyên tắc tự nguyện, người vợ trong cặp vợ chồng vô sinh được xác định là mẹ của đứa trẻ trong mọi trường hợp, kể cả khi người mẹ là người nhận tinh trùng, nhận noãn hay nhận phôi của người khác và người chồng hợp pháp của người mẹ đó cũng chính là cha đứa trẻ, ngay kể cả chồng không phải là người cho tinh trùng

Trên thực tế trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật sinh sản sẽ nảy sinh một vấn đề là: Cha, mẹ pháp lý không đồng nhất với cha, mẹ sinh học Việc xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản tuân thủ theo quy định tại Điều 93 và đối chiếu đến Điều 88 cuả pháp luật hôn nhân gia đình năm 2014 Chẳng hạn như: A và B là vợ chồng, do tinh trùng quá loãng nên B không thể có con được với A C là người đã cho vợ chồng B tinh trùng của mình, các bác sĩ đã tiến hành và cấy thành công cho người vợ là A A mang thai sinh ra D, lúc này D là con của A và B, tức là D

là con hợp pháp của B chứ không phải là con của người cho tinh trùng đó là C

Như vậy, đối với cặp vợ, chồng vô sinh sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì căn cứ xác định cha, mẹ, con được xác định trên nguyên tắc suy đoán pháp lý, đó là căn cứ vào thời kỳ hôn nhân của cặp vợ chồng vô sinh, hôn nhân chám dứt nhưng trong thời hạn 300 ngày đứa trẻ được sinh ra cũng

sẽ là con của cặp vợ chồng Pháp luật quy định thời hạn xác định cha, mẹ, con trong trường hợp này giúp xác nhận đứa trẻ là con của cặp vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân hợp pháp đã sinh ra hoặc đang mang thai đều sẽ là con chung và cả cha và mẹ đều có trác nhiệm chăm sóc đứa trẻ Khoảng thời gian

300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân để xác định con chung là phù hợp: với chu trình sinh sản tự nhiên của con người, nhìn chung phù hợp với quyền và lợi ích của đứa trẻ, người vợ và người chồng

Những phát sinh, vướng mắc

Từ những quy định trên phát sinh vướng mắc, đó là, trong trường hợp đang tiến hành kỹ thuật hỗ trợ sinh sản mà người chồng chết, đứa trẻ sinh ra

đã quá 300 ngày kể từ khi hôn nhân chấm dứt thì đứa trẻ có được xác định là con chung của vợ, chồng không? Trong trường hợp này là có mong muốn của

cả hai vợ chồng nhưng quá thời gian luật định, hiện pháp luật chưa có quy định cụ thể Mà theo nguyên tắc quy định tại Điều 88 Luật Hôn nhân và gia

Trang 8

đình năm 2014, thì đứa trẻ trong trường hợp này không là con chung của vợ, chồng nhưng tế đứa trẻ đó mang huyết thống của người cha đã chết và được sinh ra hoàn toàn dựa trên sự mong muốn của người đã khuất Do vậy, nếu xác định đứa trẻ sinh ra không phải con chung của cặp vợ chồng trên có phù hợp

Ngoài ra, pháp luật hiện hành cũng chưa có quy định đối với trường hợp đang trong quá trình thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản mà người chồng bị tuyên bố mất tích thì người vợ có được tiếp tục thực hiện và nếu thực hiện thì xác định cha, mẹ, con như thế nào?

2.2, Xác định cha mẹ đối với trường hợp phụ nữ độc thân

Khoản 2 Điều 93 quy định: “Trong trường hợp người phụ nữ sống độc thân sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì người phụ nữ đó là mẹ của con được sinh ra.”

Căn cứ để xác định cha, mẹ, con trong trường hợp này chỉ dựa vào sự

tự nguyện và sự kiện sinh đẻ của người phụ nữ độc thân đó Theo quy định tại khoản 2 Điều 93 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 Theo đó, người phụ

nữ sống độc thân đương nhiên là mẹ của đứa trẻ Pháp luật hiện hành ngoài việc cho phép người phụ nữ độc thân được nhận tinh trùng từ người khác còn cho phép họ được nhận phôi trong trường hơp họ không có noãn hoặc noãn không bảo đảm chất lượng để thụ thai Việc quy định cho người phụ nữ đơn thân được phép nhận phôi thể hiện được tính nhân đạo của pháp luật, bởi khi người phụ nữ độc thân khát khao được làm mẹ nhưng do không có noãn hay noãn không đảm bảo chất lượng để thụ thai, do vậy, dù có nhận tinh trùng của người khác thì họ cũng không thể thụ thai được nên lúc này họ có thể nhận phôi để được sinh con

Quan hệ giữa người cho tinh trùng, noãn, phôi với đứa trẻ

Việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản không làm phát sinh quan

hệ cha, mẹ và con giữa người cho tinh trùng, cho noãn, cho phôi với người con được sinh ra Quy định này phù hợp với nguyên tắc áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản (khoản 3 Nghị định số 10/2015/NĐ-CP): Việc cho và nhận tinh trùng, cho và nhận phôi được thực hiện trên nguyên tắc vô danh giữa người cho và người nhận Bởi xuất phát từ việc chính họ là người mong muốn có đứa trẻ và sẽ nuôi dưỡng, chăm sóc chứ không phải là người cho tinh trùng, cho noãn, cho phôi

Quy định trên cũng nhằm tránh những tranh chấp về quan hệ cha, mẹ, con của các chủ thể liên quan, là cơ sở đảm bảo ổn định mối quan hệ cha, mẹ, con, giúp cặp vợ chồng, người phụ nữ độc thân yên tâm nuôi dạy đứa trẻ trong điều kiện tốt nhất

Trang 9

Đứa trẻ không phải là con của người cho tinh trùng, noãn, phôi nên người cho không có quyền xác định lại đứa trẻ là con của mình

2.3, xác định cha mẹ trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo

Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là điểm đổi mới tiến bộ của pháp luật hôn nhân và gia đình Pháp luật cho phép cặp vợ chồng vô sinh có quyền nhờ mang thai hộ Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo đã mở ra cơ hội được làm cha, làm mẹ cho các cặp vợ chồng hiếm muộn, tuy nhiên việc mang thai

hộ phải đáp ứng các quy định của pháp luật về tính tự nguyện, về chủ thể (cả người mang thai hộ và người nhờ mang thai hộ) và các biện pháp kỹ thuật y học Theo khoản 22 Điều 3 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 thì: “Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là việc một người phụ nữ tự nguyện, không vì mục đích thương mại giúp mang thai cho cặp vợ chồng mà người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinhb sản, bằng việc lấy noãn của người vợ và tinh trùng của người chồng để thụ tinh trong ống nghiệm, sau đó cấy vào tử cung của người phụ nữ tự nguyện mang thai

để người này mang thai và sinh con”

Việc xác định cha mẹ đối với trường hợp này được ghi nhận cụ thể tại Điều 94 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014: “Con sinh ra trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là con chung của vợ chồng nhờ mang thai

hộ kể từ thời đểm con được sinh ra” Việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo không làm phát sinh mối quan hệ cha, mẹ, con giữa vợ chồng người được nhờ mang thai hộ với đứa trẻ được sinh ra

Quy định như vậy là hợp lý vì:

Thứ nhất, để đảm bảo đặc trưng của việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là giúp đỡ những cặp vợ chồng vô sinh có con; còn người mang thai

hộ chỉ nhằm mục đích giúp đỡ, mục đích nhân đạo;

Thứ hai, quy định trên giúp ổn định mối quan hệ cha, mẹ, con, tránh việc xảy ra tranh chấp

Bên mang thai hộ và bên nhờ mang thai hộ không có quyền xác định lại con trong trường hợp pháp luật đã quy định

3 Hướng giải quyết nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về vấn đề sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản

Thứ nhất, nên bổ sung quy định hạn chế quyền li hôn khi hai vợ chồng đang tiến hành áp dụng biện pháp hỗ trợ sinh sản

Theo khoản 3 Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 thì:

“Chồng không có quyền yêu cầu li hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi” Quy định này chỉ áp dụng đối

Trang 10

với trường hợp sinh con bình thường (theo tự nhiên), còn đối với trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì pháp luật chưa có quy định cụ thể trong một văn bản pháp luật nào, nếu thực tế xảy ra trường hợp người chồng làm thủ tục li hôn khi người vợ đang mang thai thì Tòa án sẽ khó giải quyết vì không có căn cứ pháp lý, lúc này Tòa án vấn có thể thụ lý và đưa vụ án ra để giải quyết Vì vậy, nên sớm bổ sung quy định này vào luật, bởi nếu không được bổ sung thì quyền và lợi ích hợp pháp của người vợ và người con khi sinh ra sẽ bị ảnh hưởng

Thứ hai, việc xác định cha, mẹ, con khi sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản cũng xuất phát từ nguyên tắc chung đó là xác định cha, mẹ, con khi cha mẹ có hôn nhân hợp pháp (Điều 88 và Điều 93 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014) Quy định này nhằm đảm bảo mọi quyền lợi cho cặp vợ chồng, người phụ nữ độc thân và đặc biệt là đứa trẻ Đối với trường hợp người phụ nữ độc thân khi sinh con thì áp dụng tương tự như trường hợp xác định cha, mẹ, con khi cha mẹ không có hôn nhân hợp pháp, trong trường hợp này chỉ có quan hệ giữa mẹ và con

Ngoài ra, trong trường hợp xác định cha, mẹ, con cần quy định rõ sau khi đứa trẻ được sinh ra nếu người cha, mẹ không muốn thừa nhận con thì cũng không được yêu cầu xác định lại Bởi vì họ là người yêu cầu thực hiện việc sinh con bằng biện pháp hỗ trợ sinh sản, quan hệ cha, mẹ và con là tất yếu, không thể phủ nhận Điều này khác với trường hợp sinh con tự nhiên vì người chồng có quyền yêu cầu xác định lại quan hệ cha con khi không tin tưởng đứa con là con ruột của mình Tuy nhiên, trong những trường hợp đặc biệt nếu cặp vợ chồng, người phụ nữ độc thân nghi ngờ cơ sở y tế và có thể có

sự nhầm lẫn trong quá trình thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì nên chăng cho phép họ được quyền yêu cầu xem xét lại

Pháp luật đã cho phép sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản với tinh trùng của người chồng lưu giữ trước khi chết thì cũng nên cho phép xác lập quan hệ cha mẹ con dựa trên căn cứ huyết thống, con là người có chung huyết thống với cha mẹ mà không dựa trên căn cứ thời kỳ hôn nhân để bảo vệ quyền và lợi ích của bà mẹ và trẻ em

Đối với việc xác định cha, mẹ, con trong trường hợp vợ chồng li hôn, theo quy định tại khoản 4 Điều 21 Nghị định số 10/2015/NĐ-CP, trường hợp hai vợ chồng li hôn, người vợ sử dụng phôi để sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản làm phát sinh các quan hệ ngoài quan hệ hôn nhân gia đình thì thực hiện theo quy định của pháp luật hôn nhân gia đình và pháp luật dân sự Với quy định như vậy thì “quan hệ ngoài hôn nhân và gia đình” được hiểu như thế nào? Trường hợp này, pháp luật cũng cần phải quy định cụ thể, nếu không sẽ

Ngày đăng: 14/06/2021, 16:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w