… Lý thuyết về việc đa dạng hóa có thể nói đã ra đời từ rất lâu thậm chí là trước cả thị trường chứng khoán, nhưng mọi việc chỉ dừng lại ở việc đa dạng hóa giản đơn, chẳng hạn như họ cố
Trang 1MỤC LỤC
Trang
Chương 1:GIỚI THIỆU
1.1 Đặt vấn đề nghiên cứu 1
1.1.1 Sự cần thiết của nghiên cứu 1
1.1.2 Căn cứ khoa học và thực tiễn 2
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 5
1.2.1 Mục tiêu chính 5
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 5
1.3 Các giả thuyết cần kiểm định và câu hỏi nghên cứu 5
1.3.1 Giả thuyết cần kiểm định 5
1.3.2 Câu hỏi nghiên cứu 5
1.4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 5
1.4.1 Không gian nghiên cứu 5
1.4.2 Giai đoạn nghiên cứu 6
1.4.3 Đối tượng nghiên cứu 6
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Phương pháp luận 7
2.1.1.Cơ sở lý thuyết của việc đa dạng hóa 7
2.1.2 Cách thưc đo lường hiệu quả của việc đa dạng hóa 9
2.2 Phương pháp nghiên cứu 14
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 14
2.2.2 Phương pháp phân tích số liệu 15
Chương 3: SƠ LƯỢC VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 3.1 Thị trường chứng khoán Việt Nam- Một thị trường non trẻ 17
Trang 23.2.2 Rủi ro từ cách điều hành của các cơ quan có thẩm quyền 21
Chương 4: PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ SỰ SUY GIẢM RỦI RO DO ĐA
DẠNG HÓA
4.1 Phân tích chung 25
4.1.1 Thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu 25
4.1.2 Phân tích ảnh hưởng của việc gia tăng kích cỡ danh mục đến rủi
ro ở các giai đoạn khác nhau 26
4.1.3 Ảnh hưởng của việc gia tăng kích cỡ danh mục đến lợi nhuận 29
4.2 Tiến hành kiểm định các giá trị nhận được 36
4.3 Thiết lập hàm hồi quy về mối quan hệ giữa độ lệch chuẩn của danh
mục và danh mục và danh mục kích cỡ n 37
Chương 5: MỘT SỐ HẠN CHẾ VÀ SAI SÓT 39
Chương 6: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
6.1 Kết luận 45
6.2 Đề xuất cho các nghiên cứu tiếp theo
TÀI LIỆU THAM KHẢO: 48
PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Diễn biến tỉ suất giá chứng khoán tính theo tháng từ ngày
01/01/2007 đến ngày 31/03/2008 49
Phụ lục 2: Biểu đồ phân bố tỉ suất lợi nhuận và rủi ro của danh mục một
chứng khoán ở các giai đoạn 62
Phụ lục 3: Bảng các kết quả kiểm định 65
Trang 3DANH MỤC BIỂU BẢNG
Bảng 2.1: Minh họa phương pháp tính lợi nhuận theo REA 13
Bảng 3.1: Quy mô sàn giao dịch chứng khoán Tp Hồ Chí Minh đến hết ngày 31/12/2006 17
Bảng 3.2: Các quỹ đầu tư vào Việt Nam thành lập năm 2007 19
Bảng 4.1 Phân bố trung bình rủi ro tổng thể trong 5 giai đoạn 26
Bảng 4.2: Tỉ lệ độ lệch chuẩn của các loại danh mục so với danh mục thị trường 27
Bảng 4.3: Tỉ lệ rủi ro của các danh mục so với danh mục toàn thị trường (Tính theo tháng) 27
Bảng 4.4: Tỉ lệ suy giảm của rủi ro trên mỗi chứng khoán được thêm vào danh mục 28
Bảng 4.5: Lợi ích biên của sự suy giảm độ lệch chuẩn 29
Bảng 4.6: Tỉ suất lợi nhuận bình quân trong 5 giai đoạn 30
Bảng 4.7: Hệ số nhân lợi nhuận bình quân tính theo tháng (phương pháp REA) 34
Bảng 4.8: Phân hạng 36
Bảng 4.9: Giá trị thống kê 36
Bảng 4.10: Các giá trị thống kê của hàm hồi quy 37
Bảng 5.1: Độ lệch chuẩn của danh mục khả dĩ ở các kích khác nhau theo tháng trong thời gian xem xét 01/01/2007 đến 31/03/2008 41
Trang 4DANH MỤC HÌNH
Trang Biểu đồ 2.1: Mối liên hệ giữa việc gia tăng kích cỡ danh mục (n)
và sự suy giảm rủi ro (Phương sai - 2
P
σ ) 9 Biểu đồ 3.1: Diễn biến VN-Index và khối lượng giao dịch tại Sàn Tp Hồ
Chí Minh từ ngày 01/01/2006 đến ngày 16/04/2008 18 Biểu đồ 3.2 : Diễn biến Hastc-Index và khối lượng giao dịch tại Sàn Hà
Nội từ ngày 24/05/2006 đến ngày 16/04/2008 18 Biểu đồ 4.1: Diễn biến của Hastc-Index từ 01/01/2007 đến 31/03/2008 25 Biểu đồ 4.2: Diễn biễn của VN-Index từ 01/01/2007 đến 31/03/2008 25 Biểu đồ 4.3: Sự phân bố của độ lệch chuẩn và tỉ suất lợi nhuận của danh
mục 1 chứng khoán 31 Biểu đồ 4.4: Sự phân bố của độ lệch chuẩn và tỉ suất lợi nhuận của danh
mục 4 chứng khoán 31 Biểu đồ 4.5: Sự phân bố của độ lệch chuẩn và tỉ suất lợi nhuận của danh
mục 8 chứng khoán 32 Biểu đồ 4.6: Sự phân bố của độ lệch chuẩn và tỉ suất lợi nhuận của danh
mục 16 chứng khoán 32 Biểu đồ 4.7: Sự phân bố của độ lệch chuẩn và tỉ suất lợi nhuận của danh
mục 32 chứng khoán 33 Biểu đồ 4.8: Sự phân bố của độ lệch chuẩn và tỉ suất lợi nhuận của các
kích cỡ danh mục trong 15 tháng 35 Biểu đồ 5.1: Tỉ trọng giá trị thị trường của các chứng khoán niêm yết
trên sàn Hà Nội 42 Biểu đồ 5.2: Tỉ trọng giá trị thị trường của các chứng khoán niêm yết
trên sàn Tp Hồ Chí Minh 42
Trang 6CHƯƠNG 1
GIỚI THIỆU
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU:
1.1.1 Sự cần thiết nghiên cứu
“Khi đầu tư chúng khoán, làm sao để có được lợi nhuận nhưng đồng thời
vẫn giảm rủi ro xuống một mức chấp nhận được?” Có nhiều cách khác nhau chẳng hạn như đầu tư vào các công ty có chỉ số tài chính tốt, báo cáo thường niên
dự báo một tương đầy triển vọng hay đơn giản hơn là đầu tư vào những công ty lớn có tên tuổi trên thị trường, hoặc đầu tư vào những ngành những lĩnh vực mà mình nắm rõ…Nhưng điều đó cũng không có gì đảm bảo là vào một ngày đẹp trời nào đó bạn thức dậy, đọc báo và thấy rằng công ty mà mình mua cổ phiếu đã
bị phá sản, còn bản báo cáo tài chính với các chỉ số đạt chất lượng AAA của họ chỉ là một mánh khóe kế toán đơn giản nào đó
“Làm sao để tránh được điều này?” Người xưa đã có câu “Đừng bao giờ đặt tất cả trứng đã mua vào cùng một rổ”- Đa dạng hóa danh mục đầu tư chính là cách tự bảo hiểm tốt nhất Có thể buổi sáng đó, bạn vẫn buồn vì công ty của mình
đã bị phá sản, xong ít ra các công ty khác trong danh mục đầu tư của bạn vẫn còn
đó Vậy đa dạng hóa danh mục đầu tư là như thế nào? Đơn giản chỉ là gia tăng số loại cổ phiếu nắm giữ? Nếu vậy, bao nhiêu là đủ ?
Có người nói trong danh mục chỉ cần 10 đến 20 loại cổ phiếu khác nhau là được, có người lại nói là từ 30 trở lên, lại có người bảo rằng càng nhiều càng tốt Điều này thực tế đúng là dựa trên quan điểm của từng cá nhân, nhưng có một điều mà chắc hẳn mọi người ai cũng phải đồng ý Đó là việc đa dạng hóa phải cân bằng giữa lợi ích từ việc giảm thiểu rủi ro mà danh mục đầu tư mang lại và chi phí tăng thêm do hệ quả của việc đa dạng hóa Nếu không đơn thuần bạn chỉ cần đơn giản là mua tất cả các loại cổ phiếu đang niêm yết trên 2 sàn Hà Nội và
Tp Hồ Chí Minh là xong!
Trang 7Thị trường chứng khoán Việt Nam từ đầu năm đến nay (15/04/2008), do bị tác động từ tình hình kinh tế thế giới lên diễn biến rất phức tạp, chỉ số Vn-Index
và Hastc-Index ở 2 sàn Tp Hồ Chí Minh và Hà Nội đã mất hơn 50% số điểm chỉ trong vòng chưa đầy năm tháng Nhắc đến điều này để thấy rằng việc đa dạng hóa là cần thiết, không phải do tình hình thị trường đang có nhiều biến diễn phức tạp mà ngay cả khi thị trường tăng trưởng liên tục và ổn định thì đa dạng hóa cũng không bao giờ là thừa Bởi vì bạn không thể đoán định được những điều bất ngờ xảy ra đối với công ty mà mình mua cổ phiếu
Vậy ở thị trường chứng khoán Việt Nam, việc đa dạng hóa mang lại hiệu quả như thế nào? Cần bao nhiêu loại chứng khoán trong một danh mục thì đạt được mục đích của việc đa dạng hóa? Đa dạng hóa có loại bỏ được hoàn toàn rủi ro? Để trả lời cho những câu hỏi thú vị này, nên tôi đã quyết định thực hiện đề
tài “Đa dạng hóa danh mục đầu tư, giảm thiểu rủi ro trong đầu tư chứng
khoán tại Việt Nam” làm Luận văn của mình
1.1.2 Căn cứ khoa học và thực tiễn
Đa dạng hóa danh mục đầu tư là một đề tài thú vị và gây tranh cãi từ lâu trong cộng đồng các nhà kinh tế học và những người đầu tư chúng khoán, những câu hỏi thường gặp nhất là:
- Trong một danh mục thì bao nhiêu loại chứng khoán là đủ? 10, 15, 20 hay 100 thì đủ để giảm thiểu rủi ro xuống một mức chấp nhận được
- Chiến lược “Mua và nắm giữ” – Buy and hold (BH) hay Phân phối lại danh mục – Reallocation (REA) ở mỗi thời điểm bắt đầu của chu kỳ đầu
tư, thì chiến lược nào tốt hơn
- Đa dạng hóa giữa các ngành thì có tốt hơn là đa dạng hóa với các loại cổ phiếu trong cùng một ngành
- Các tiêu chí nào là thích hợp cho việc lựa chọn một cổ phiếu vào trong danh mục đầu tư
- Tác dụng đa dạng hóa của các cổ phiếu được xếp hạng cao (AAA) có tốt hơn các cổ phiếu ở thứ hạng khác
- Có phải trong một danh mục, càng nhiều cổ phiếu thì tác dụng đa dạng
Trang 8…
Lý thuyết về việc đa dạng hóa có thể nói đã ra đời từ rất lâu thậm chí là trước cả thị trường chứng khoán, nhưng mọi việc chỉ dừng lại ở việc đa dạng hóa giản đơn, chẳng hạn như họ cố gắng phân tán rủi ro bằng cách đầu tư vào các ngành nghề, các lĩnh vực khác nhau dựa vào sự khác biệt về bản chất giữa các ngành chẳng hạn như: Ngành khai khoáng được xem là có nhiều rủi ro trong khi
đó các ngành phục vụ các mục đích công cộng có sự bảo hộ của nhà nước như nông nghiệp, sản xuất nhu yếu phẩm hay bưu chính viễn thông được cho là ít rủi
ro hơn
Lý thuyết Đa dạng hóa hiện đại chỉ thực sự bắt đầu khi Harry Markowitz phát triển lý thuyết về việc xây dựng “danh mục đầu tư khả dĩ tối ưu”, dựa trên quan hệ về lợi nhuận - rủi ro Trong đó ông giả thuyết hành vi của nhà đầu tư chỉ dựa vào lơi nhuận mong đợi và phương sai của lợi nhuận "expected returns-variance of returns" [3, tr.77] Ông đã cố gắng lượng hóa rủi ro, dựa trên độ lệch chuẩn lợi nhuận của danh mục đầu tư Nhưng các nghiên cứu chỉ thật sự phát triển khi William F Sharpe phát triển một mô hình đo lường lợi nhuận đơn giản
hơn, còn được gọi là Diagonal Modell thường được biết đến với tên gọi “mô hình chỉ số đơn” [4, tr 281]
i i i i
R = +A B I C+ (1)
Với R i là giá trị thị trường của chứng khoán i
A i là giá trị cổ phiếu I khi chỉ số thị trường (I) bằng 0
B i là hệ số tương quan giữa thị trường và chứng khoán i, được xem là đại diện cho phần rủi ro hệ thống tức rủi ro không thể đa dạng hóa
I là chỉ số thị trường
C i là sai số, được xem là đại diện cho phần rủi ro có thể đa dạng hóa
Hai nghiên cứu trên đã giúp phát triển các lý thuyết cũng như thực nghiệm
sau đây, mà Luận văn này dựa vào đó để nghiên cứu, đó là:
- Nghiên cứu của John L Evans và Stephen H Archer với tựa đề là
Trang 9trong đó hai ông nghiên cứu về mối quan hệ giữa mức độ đa dạng hóa và độ lệch chuẩn của lợi nhuận; đại diện cho rủi ro của danh mục trong đầu tư chứng khoán dựa trên mẫu 470 chứng khoán khác nhau của chỉ số Standard and Poor suốt từ tháng 1 năm 1958 đến tháng 7 năm 1967, họ đã xây dựng một hàm hồi quy để dự đoán mối quan hệ giữa số chứng khoán trong một danh mục và độ lệch chuẩn (rủi ro) của danh mục Từ đây hai ông rút ra kết luận là với một danh mục sấp xỉ khoảng 10 cổ phiếu là đạt được lợi ích biên của việc đa dạng hóa [5, tr 767]
- Nghiên cứu của Henry A Latané và William E Young về những tiêu chuẩn của việc xây dựng một danh mục đầu tư “Test Of Portfolio Of Building Rules” dựa trên mẫu 224 cổ phiếu trong khoảng thời gian từ tháng 1 năm 1953 đến tháng 12 năm 1960 chia thành 7 nhóm Hai ông đã tiến hành so sánh nhiều tiêu chuẩn khác nhau để lựa chọn chứng khoán trong danh mục và kích cỡ của danh mục đầu tư Họ đã rút ra một số kết luận, trong đó có kết luận rằng 85 – 95% lợi ích khả dĩ từ việc đa dạng hóa có thể được với một danh mục từ 8 đến 16 loại cổ phiếu khác nhau [6, tr 607]
- Nghiên cứu của Lawrence Fisher và James H Lorie về sự khác nhau trong việc đa dạng hóa giữa các ngành Nghiên cứu này “Some Studies Of Variability Of Returns On Investments In Common Stocks” dựa trên một khối lượng khổng lồ các danh mục khả dĩ niêm yết trên sàn chứng khoán New York suốt 40 năm (1926-1965) Hai ông cũng đưa ra kết luận tương tự như Henry A Latané và William E Young là với một danh mục có từ 8 đến 16 chứng khoán thì lợi ích khả dĩ từ việc đa dạng có thể đạt được là từ 80-90%.[7, tr117]
- Nghiên cứu của W H Wagner và S C Lau “The Effect Of diversification
On Risk” chỉ ra sự khác biệt của các chỉ tiêu khác nhau, khi đa dạng hóa giữa các nhóm cổ phiếu cùng chất lượng, dựa trên các đánh giá về chất lượng của 200 cổ phiếu của chỉ số S&P 500 từ tháng 6 năm 1960 đến tháng 6 năm 1970 Hai ông
đi đến kết luận là với một danh mục có từ 15 đến 20 loại cổ phiếu khác nhau thì
có thể làm giảm độ lệch chuẩn của danh mục từ 42-44% so với danh mục chỉ có một loại cổ phiếu [8, tr49]
Trên đây là 4 nghiên cứu chính làm cơ sở để tôi dựa vào để thực hiện Luận
Trang 101.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU:
1.2.1 Mục tiêu chính
Xem xét rủi ro của danh mục thay đổi ra sao với mỗi loại cổ phiếu được
cộng thêm vào trong danh mục
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Ước lượng số loại cổ phiếu cần thiết cho một danh mục để có thể đạt được
từ 80% đến 90% lợi ích của việc đa dạng hóa
- Xem xét việc đa dạng hóa ảnh hưởng như thế nào đến lợi nhuận
- Phân chia quãng thời gian nghiên cứu thành các thời kì để đánh giá tác dụng đa dạng hóa giữa các khoảng thời gian khác nhau
- Xây dựng hàm hồi quy để cụ thể hóa mối quan hệ giữa rủi ro và số lượng chứng khoán trong danh mục
1.3 CÁC GIẢ THUYẾT CẦN KIỂM ĐỊNH VÀ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 1.3.1 Giả thuyết cần kiểm định
Dựa trên kết luận từ các nghiên cứu đã đề cập ở trên, chúng ta rút ra một
nhận định và đồng thời cũng là giả thuyết chính cần kiểm định cho nghiên cứu này Đó là “Trong danh mục đầu tư chỉ cần có 10 đến 20 loại cổ phiếu là đủ để đạt được mục đích của việc đa dạng hóa”
1.3.2 Câu hỏi nghiên cứu
- Số loại chứng khoán cần thiết trong một danh mục đầu tư thì bao nhiêu là
đủ để đa dạng hóa?
- Đa dạng hóa có loại trừ được hoàn toàn rủi ro?
- Đa dạng hóa ảnh hưởng như thế nào đến lợi nhuận?
- Ảnh hưởng của việc đa dạng hóa giữa các thời kì khác nhau, thì giống hay khác nhau?
1.4 GIỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
1.4.1 Không gian nghiên cứu
Như đã đề cập từ ban đầu, chúng ta sẽ chỉ nghiên cứu ảnh hưởng của việc
gia tăng kích cỡ danh mục đối với sự suy giảm rủi ro ở thị trường chứng khoán Việt Nam Mà thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay thì chỉ có 2 sàn giao dịch là Sàn Tp Hồ Chí Minh và Sàn Hà Nội, đồng thời số lượng chứng khoán
Trang 11cho việc nghiên cứu đa dạng hóa, tôi sẽ sử dụng số liệu của các công ty niêm yết trên cả hai sàn Hà Nội và Tp Hồ Chí Minh
1.4.2 Giai đoạn nghiên cứu
Các công ty niêm yết ở hai sàn Hà Nội và Tp Hồ Chí Minh, đa phần lên sàn
vào thời điểm cuối Quý 4 năm 2006 nhằm hưởng lợi từ quy định về niêm yết, cổ phần hóa của Ủy Ban Chứng Khoán Nhà Nước đối với các công ty nên sàn trước thời điểm 31/12/2006 Do vậy để đảm bảo sự tương đồng về thời gian giữa các
dữ liệu trong Luận văn với nhau Chúng ta sẽ chỉ nghiên cứu trong giai đoạn từ ngày 01 tháng 01 năm 2007 đến ngày 31 tháng 03 năm 2008
1.4.3 Đối tượng nghiên cứu
Số liệu được thu thập tập trung toàn bộ vào các công ty lên sàn trước thời
điểm ngày 31 tháng 12 năm 2006 Đối tượng sử dụng trong nghiên cứu ở đây là
sự thay đổi về thị giá của các loại chứng khoán này từ ngày 01 tháng 01 năm
2007 đến ngày 31 tháng 03 năm 2008
Dựa trên các tiêu chí trên thì có khoảng 200 công ty phù hợp với tiêu chuẩn, không kể cổ phiếu của các công ty quản lý quỹ Trong số 200 công ty này, tôi chọn ngẫu nhiên ra 192 công ty, phân vào 6 nhóm với mỗi nhóm là 32 công ty Mục đích của việc phân nhóm này sẽ được đề cập rõ trong phần 2.2.2 Phương pháp phân tích số liệu
Trang 12CHƯƠNG 2
PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 PHƯƠNG PHÁP LUẬN:
Trước khi tiến hành các nghiên cứu thực nghiệm, tôi sẽ trình bày lại các lý
thuyết cơ bản và cùng thống nhất những nguyên tắc liên quan, được sử dụng trong Luận văn này
2.1.1 Cơ sở lý thuyết của việc đa dạng hóa:
Lý thuyết kinh tế hiện đại cho rằng, rủi ro của một cổ phiếu ( rủi ro tổng thể) là sự kết hợp của 2 thành phần: rủi ro hệ thống ( rủi ro không thể phân tán)
và rủi ro phi hệ thống ( rủi ro có thể phân tán) Rủi ro hệ thống là những loại rủi
ro có ảnh hưởng rộng rãi, tác động đến toàn bộ thị trường không phân biệt một ngành một lĩnh vực riêng lẻ nào cả Chẳng hạn như suy thoái kinh tế, chiến tranh…Và mỗi doanh nghiệp, mỗi ngành, mỗi lĩnh vực phản ứng một cách khác nhau đối với loại rủi ro này
Rủi ro phi hệ thống là loại rủi ro xuất phát từ riêng bản thân doanh nghiệp, bản thân ngành Nó không tác đông đến các doanh nghiệp, các ngành, các lĩnh vực khác Chẳng hạn như các chính sách quản trị của công ty thì chỉ ảnh hưởng đến công ty, mất mùa trong nông nghiệp thì ảnh hưởng đến các doanh nghiệp sản xuất chế biến, kinh doanh nông nghiệp… Tất nhiên điều này chỉ mang tính chất tương đối, vì bản thân các ngành các lĩnh vực có mối liên hệ sâu rộng với nhau,
ví như nông nghiệp mất mùa thì sẽ kéo theo giá lương thực tăng và tất yếu là các loại chi phí khác cũng tăng theo, do đó ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế
Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau để giải thích sự suy giảm của rủi ro khi kích cỡ danh mục tăng lên Nhưng ở đây chúng ta sẽ chỉ trình bày thông qua
mô hình Diagonal Modell, bởi vì tính chất đơn giản của nó, ta có thể giải thích
được bản chất của việc đa dạng hóa một cách khá dễ hiểu Công thức (1) có thể được viết lại cho danh mục như sau:
R =α +β R +e (2)
Trang 13Mà lợi nhuận của danh mục thì lại phục thuộc vào tỉ lệ (wi ) của các chứng khoán thành phần Nhưng ở đây để cho đơn giản chúng ta sẽ giả định rằng tỉ lệ này là bằng nhau giữa các chứng khoán, wi 1
Chúng ta thấy rằng khi số chứng khoán trong danh mục gia tăng, phần rủi
ro của danh mục đai diện bởi những nhân tố phi thị trường trở lên nhỏ hơn; Nói cách khác nó bị đa dạng hóa đi Trong khi phần rủi ro thị trường còn lại thì không
bị ảnh hưởng bởi số chứng khoán tăng thêm trong danh mục
Phương sai của lợi nhuận danh mục :
2 2 2 2( )
σ =β σ +σ
(4) Phần rủi ro hệ thống trong phương sai danh mục, 2 2
P M
β σ dựa trên sự vận động của thị trường và lệ thuộc vào hệ số β của các chứng khoán thành phần trong danh mục Do đó nó sẽ vẫn tiếp tục tồn tại cho dù kích cỡ danh mục có mở rộng như thế nào đi nữa
Ngược lại, phần rủi ro phi hệ thống trong phương sai của danh mục
làσ2( )e P dựa trên sự khác biệt riêng của mỗi công ty, e i Những khác biệt này thì độc lập Do đó:
Trang 14Biểu đồ 2.1: Mối liên hệ giữa việc gia tăng kích cỡ danh mục (n)
và sự suy giảm rủi ro (Phương sai - 2
phần chứng minh gốc từ cuốn sách của: Bodie, Kane, Marcus, (2003) Finace,
Volume 1, Investments, Fifth Edition, McGrawHill /Irwin trang 307 -308
Một lần nữa tôi cần phải nhấn mạnh một điều là mục đích chính của việc đa dạng hóa không phải là gia tăng lợi nhuận, mà mục đích chính của nó là cố gắng giảm rủi ro trong đầu tư chứng khoán, và hạn chế những chi phí tăng thêm do hệ quả của đa dạng hóa gây ra như chi phí giao dịch, tìm kiếm thông tin… và các chi phí này bao giờ cũng phải thấp hơn lợi ích có được từ việc suy giảm rủi ro
2.1.2 Cách thức đo lường hiệu quả của việc đa dạng hóa:
Lợi nhuận, nhà đầu tư khi mua một chứng khoán nào đó thì họ trông đợi vào 2 điều: cổ tức được chia và chênh lệch giá mua, bán Do vậy tỉ suất lơi nhuận của chứng khoán (Expected return ) được tính như sau:
Trang 15d cổ tức được chia của chứng khoán k trong khoảng thời kì i
Nhà đầu tư sẽ luôn cố gắng mua những khoán có tỉ suất lợi nhuận mong đợi cao Vấn đề là chúng ta thường không biết được những cổ phiếu nào sẽ tăng giá trong tương lai và những chứng khoán có tỉ suất lợi nhuận R cao cũng thường là những chứng khoán có rủi ro cao Bởi vì rủi ro được xem là độ phân tán của lợi nhuận, một chứng khoán có lợi nhuận càng cao thì mức độ phân tán của lợi nhuận thông thường cũng cao tương tự Vì vậy lợi nhuận được xem là sự đánh đổi của rủi ro
Để ước lượng rủi ro (mức độ phân tán của lợi nhuận) chúng ta có thể đo lường bằng độ lệch chuẩn hay phương sai (σ) của R trong những khoảng thời gian đầu tư Nhưng ở đây, chúng ta sẽ thống nhất chỉ sử dụng độ lệch chuẩn (S) của R để đo lường rủi ro Công thức tính như sau:
S k là độ lệch chuẩn của chứng khoán k trong suốt thời gian xem xét
R k là tỉ suất lợi nhuận trung bình của chứng khoán k trong thời gian xem xét
k
i
R là tỉ suất lợi nhuận của chứng khoán k tại thời điểm i
n là các khoản thời gian đầu tư có độ dài bằng nhau trong thời gian xem xét
Trang 16Đối với danh mục, tỉ suất lợi nhuận mong đợi của một danh mục với m chứng khoán phụ thuộc vào tỉ lệ về giá trị của các chứng khoán thành phần trong danh mục, nhưng trong Luận văn này chỉ quan tâm đến mối quan hệ giữa rủi ro
và số lượng chứng khoán mỗi loại trong danh mục Do đó tỉ lệ giá trị đầu tư vào các chứng khoán trong danh mục ở đây sẽ bằng nhau, và tỉ suất lợi nhận danh mục ở thời kì i được tính như sau:
Tỉ suất lợi nhuận bình quân của danh mục P trong toàn bộ thời gian xem xét được tính theo công thức
n =
= ∑ (9) Với n là các giai đoạn trong thời gian đầu tư
Rủi ro của danh mục được tính như sau:
1
1 S
1
n
i i
− ∑ (10)
SP độ lệch chuẩn của danh mục
R P là tỉ suất lợi nhuận trung bình của danh mục nắm giữ trong toàn bộ thời gian xem xét
i
P
R là tỉ suất lợi nhuận của danh mục ở thời kì i
Với n là tổng các khoảng thời gian đầu tư có độ dài bằng nhau trong thời gian xem xét
Trang 17
Tiêu chuẩn để đánh giá lợi nhuận của chứng khoán là giá trị của chứng khoán ở cuối thời điểm xem xét, và do đó chúng ta có chỉ tiêu hệ số nhân trung bình của lợi nhuận (G) suốt thời kì đó Trung bình hệ số nhân của lợi nhuận này hoàn toàn khác với trung bình tỷ suất lợi nhuận Chẳng hạn như nếu ta mua một chứng khoán với giá 1 đồng, sau 4 năm giá chứng khoán đó tăng lên thành 1,75 đồng Đồng nghĩa với việc mỗi năm chứng khoán này tăng trưởng trung bình 15%, hay hệ số nhân trung bình của chứng khoán này là 15% Trong khi đó nếu tính tỉ suất lợi nhuận trung bình của chứng khoán này suốt 4 năm lại thành,
i tỉ suất lợi nhuận chứng khoán k ở thời kì T
Sở dĩ chúng ta phải sử dụng chỉ số này, vì khi nắm giữ một danh mục nào
đó chúng ta gặp phải vấn đề là khi mua các cổ phiếu với một tỉ lệ nào đó, (trong trường hợp này thì tỉ lệ đầu tư giữa các cổ phiếu ban đầu trong danh mục là bằng nhau) thì sau một thời gian do sự thay đổi về thị giá, thì tỉ lệ về giá trị giữa các cổ phiếu trong danh mục sẽ thay đổi, vậy chúng ta có cần thiết phải cân đối tỉ lệ này lại như ban đầu không? Do vậy xuất hiện hai chiến lược đầu tư là: mua và nắm giữ (BH), nghĩa là bạn mua và giữ y nguyên như vậy không tác động gì đến tỉ lệ
về giá trị của chứng khoán trong danh mục cho dù thị giá có thay đổi ra sao Chiến lược thứ hai là, chúng ta cố gắng duy trì tỉ trọng phân bố về giá trị của các
Trang 18tỉ lệ về giá trị của các chứng khoán trong danh mục khi có sự thay đổi về thị giá ở mỗi giai đoạn bắt đầu ( trong Luận văn này mỗi quan sát cách nhau một tháng, do vậy chúng ta sẽ phân bố lại tỉ lệ này vào ngày 15 hàng tháng) trong quá trình đầu
tư Nhưng ở đây chúng ta sẽ chỉ nghiên cứu về hệ số lợi nhuận của phương pháp REA, vì theo tôi việc duy trì một tỉ lệ cân bằng về giá trị của các chứng khoán trong danh mục, thì bao giờ cũng có tác dụng phòng chống rủi ro tốt hơn Cách tính hệ số nhân lợi nhuận theo chiến lược REA (ở đây tỉ lệ đầu tư ban đầu là bằng nhau) có thể hiểu qua minh họa sau:
Bảng 2.1: Minh họa phương pháp tính lợi nhuận theo REA
Kì nắm giữ Loại cổ phiếu
(1, 494) = 1,1056
Trong luận văn này, sẽ đề cập nhiều lần đến khái niệm lợi ích của việc đa
dạng hóa (hay lợi ích biên của đa dạng hóa) Chúng ta sẽ thống nhất về khái niệm này là so sánh về tỉ lệ rủi ro của danh mục 1 chứng khoán và với danh mục thị trường ( ở đây là danh mục 192 chứng khoán) với tỉ lệ rủi co của danh mục 1 chứng khoán và các danh mục khác Cách tính như sau:
1 1
Với S1 là độ lệch chuẩn của danh mục 1 chứng khoán
S M độ lệch chuẩn của danh mục thị trường
S i độ lệch chuẩn của danh mục có i chứng khoán
Trang 192.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu
Dữ liệu sơ cấp là giá chứng khoán đóng cửa, được lấy vào ngày 15 (hoặc
vào ngày tiếp theo, nếu ngày 15 không có giao dịch) hàng tháng Như vậy với mỗi chứng khoán riêng lẻ chúng ta sẽ có 15 quan sát (tương ứng với 15 tháng) về
tỉ suất lợi nhuận kỳ vọng
Như vậy khoảng thời gian giữa mỗi quan sát là một tháng, lý do chúng ta không chọn các quan sát theo tuần hay theo ngày là bởi vì điều này nhằm làm giảm bớt những ảnh hưởng do sự khác nhau về biên độ dao động giá đặt lệch do
Ủy ban chứng khoán nhà nước quy định ở các khoảng thời gian khác nhau,và sự khác biệt giữa hai sàn Hà Nội và Tp Hồ Chí Minh Do những thay đổi này có thể dẫn đến những sai lệch trong kết quả nghiên cứu
Ví dụ như chúng ta hãy so sánh biên độ dao động giá 1% với biên độ 5%, với biên độ là 1% nếu trong 1 tháng có tới 20 phiên giao dịch tăng trần thì biên
độ dao động có thể được kéo dãn ra thành (1+1%)20=1,22 nghĩa là một chứng khoán tăng trần liên tục trong 1 tháng cũng chỉ có thể tăng được 22% mà thôi Trong khi đó nếu biên độ là 5% chỉ cần tăng trần trong 4 phiên (1+5%)4=1,215 cũng gần sấp xỉ 22%, một sự khác biệt lớn
Lúc này mọi người có thể đặt câu hỏi là “Như vậy quãng thời gian càng dài thì càng tạo những khác biệt lớn, càng sai lệch?” Thật ra cái chúng ta quan tâm ở đây là không phải là giá chứng khoán, mà độ lệch chuẩn của nó Do vậy việc chọn khoảng thời gian quan sát dài nhằm “tạo khoảng trống” cho các chứng khoán có điều kiện để thể hiện những thay đổi của nó Bởi vì trong quãng thời gian dài thì giá chứng khoán có thể tăng giảm khác nhau, khắc phục được nhược điểm của sự cách biệt biên độ dao động giá quá lớn Nhưng cũng rất may cho chúng ta là biên độ dao động trong quãng thời gian nghiên cứu là khá ổn định, chỉ có trong quãng thời gian một tuần cuối của tháng 03/2008 là Ủy ban Chứng khoán Nhà nước hạ biên độ xuống mà thôi Như vậy ảnh hưởng của biên độ dao động giá đối với kết quả nghiên cứu xem như được loại trừ
Trang 202.2.2 Phương pháp phân tích số liệu
192 chứng khoán này sẽ được phân phối ngẫu nhiên vào 6 nhóm Mỗi
chứng khoán được gán cho một số, cứ như vậy từ 1 cho tới 192 Trong mỗi nhóm sẽ có 5 loại danh mục Danh mục có 1 chứng khoán, danh mục có 4 chứng khoán, danh mục có 8 chứng khoán, danh mục có 16 chứng khoán và danh mục
có 32 chứng khoán Việc phân chia này sẽ không lặp lại, nghĩa là các chứng khoán ở danh mục 4 chứng khoán ở nhóm 1 sẽ không thể xuất hiện ở danh mục 4 chứng khoán ở nhóm 2, đồng thời nó cũng sẽ không xuất hiện ở bất cứ danh mục nào trong số 7 danh mục 4 chứng khoán còn lại trong nhóm 1
Như vậy tổng cộng chúng ta sẽ có 192 danh mục 1 chứng khoán, 48 danh mục 4 chứng khoán, 24 danh mục 8 chứng khoán, 12 danh mục 16 chứng khoán,
6 danh mục 32 chứng khoán
Cách thức liên kết danh mục này cho phép chúng ta đánh giá hiệu quả của việc da dạng hóa Chẳng hạn như ở nhóm 1, các dữ kiện của danh mục 32 chứng khoán có thể so sánh với trung bình của 2 danh mục 16 chứng khoán, so sánh với trung bình của 4 danh mục 8 chứng khoán, so sánh tiếp với trung bình của 8 danh mục 4 chứng khoán, và với trung bình của 32 danh mục 1 chứng khoán Cứ như vậy chúng ta có thể đánh giá được tác dụng của việc đa dạng hóa không chỉ trong nội bộ nhóm với nhau, mà còn tất cả dữ liệu bằng cách tính trung bình của 6 nhóm
Sau đó, chúng ta sẽ tính tỉ suất lợi nhuận trung bình của từng kích cỡ danh mục trong từng nhóm Tiếp theo lấy giá trị trung bình của các tỉ suất lợi nhuận trung bình của các danh mục có cùng kích cỡ ở các nhóm Như vậy chúng ta có thể so sánh được hiệu quả của việc đa dạng hóa
Trong bài 5 thời kì, với mỗi thời kì là 3 tháng Liên tục từ 01/01/2007 đến 31/03/2008, chia ra tương ứng với:
- Giai đoạn 1 từ 01/01/2007 đến 31/03/2007; Kí hiệu là T1
- Giai đoạn 2 từ 01/04/2007 đến 30/06/2007; Kí hiệu là T2
- Giai đoạn 3 từ 01/07/2007 đến 31/09/2007; Kí hiệu là T3
- Giai đoạn 4 từ 01/10/2007 đến 30/12/2007; Kí hiệu là T4
- Giai đoạn 5 từ 01/01/2008 đến 31/03/2008; Kí hiệu là T5
Trang 21Sau khi đã tiến hành phân tích giữa các giai đoạn với nhau như trên, chúng
ta sẽ gộp chung các giai đoạn trên thành một thời kì chung duy nhất từ 01/01/2007 đến 31/03/2008 và thực hiện lại việc đo lường rủi ro cho thời kì chung này, mọi kết luận chủ yếu trong luận văn này sẽ được rút ra từ khối dữ liệu gộp này
Cuối cùng khi đã có được các kết quả tính toán, tôi sẽ thực hiện kiểm định
để rút ra các nhận xét chung, đồng thời cũng sẽ thiết lập hàm hồi quy để chỉ ra mối quan hệ giữa việc gia tăng kích cỡ danh mục và suy giảm rủi ro
Lưu ý: Mặc dù xáo trộn ngẫu nhiên, nhưng để đảm bảo thuận tiện cho việc
quan sát và đánh giá, tôi sẽ trộn các chứng khoán theo thứ tự ABC, do chúng ta kết hợp cả 2 sàn Hà Nội và Tp Hồ Chí Minh và việc đặt tên mã chứng khoán hầu như không có mối liên hệ nào với nhau (Thực ra cũng có một vài công ty có mối liên hệ và được đặt tên khá giống nhau như Công ty cổ phần Sông Đà với các mã S12, S55, S64…Nhưng rất may là trong dữ liệu của chúng ta không sử dụng số liệu của các công ty này, do họ lên sàn sau thời điểm 31/12/2006) vì vậy sẽ vẫn đảm bảo được tính ngẫu nhiên trong việc tạo danh mục
Trang 22CHƯƠNG 3
SƠ LƯỢC VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
3.1 THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM – MỘT THỊ TRƯỜNG NON TRẺ:
Thị trường chứng khoán Việt Nam, Trung tâm giao dịch chứng khoán Tp
Hồ Chí Minh được thành lập theo Quyết định số 127/1998/QĐ-TTg ngày 11/07/1998 của Thủ tướng Chính phủ và bắt đầu giao dịch vào ngày 28/07/2000; Sàn Hà Nội là vào ngày 24/05/2006 Nhưng những diễn biến về chứng khoán chỉ thật sự được sự quan tâm và chú ý của dư luận, khi Việt Nam gia nhập WTO và Hội nghị APEC diễn ra tại Hà Nội vào cuối năm 2006 Từ thời điểm đó có thể nói đã chứng kiến một sự phát triển vượt bậc của thị trường chứng khoán Việt Nam; Bao gồm cả hai sàn Hà Nội và Tp Hồ Chí Minh Số lượng công ty niêm yết trên 2 sàn tăng lên gần 200 công ty ( Số công ty giao dịch trên sàn từ năm 2000 đến đầu năm 2006 là khoảng 35 công ty) Chỉ riêng sàn Tp Hồ Chí Minh giá trị vốn hóa thị trường đã tăng vọt từ 1,5 tỷ USD vào đầu năm 2006 lên 10 tỷ USD vào cuối năm
Bảng 3.1: Quy mô Sàn giao dịch chứng khoán Tp Hồ Chí Minh
đến hết ngày 31/12/2006
Nguồn:Thống kê của www.tuoitre.com.vn
Trang 23Trong giai đoạn này chỉ số Vn-Index và Hastc-Index liên tục đạt những cột mộc mới với đỉnh của Vn-Index là 1.179,32 đạt được vào ngày 12/03/2007, còn Hastc-Index đạt đỉnh 459,36 vào ngày 19/03/2007
Biểu đồ 3.1: Diễn biến VN-Index và khối lượng giao dịch
tại Sàn Tp Hồ Chí Minh từ ngày 01/01/2006 đến ngày 16/04/2008
Biểu đồ 3.2 : Diễn biến Hastc-Index và khối lượng giao dịch tại Sàn Hà Nội
từ ngày 24/05/2006 đến ngày 16/04/2008
Trang 24
Sự tăng trưởng nóng này có thể giải thích bằng việc các nhà đầu tư kỳ vọng quá lớn vào thị trường Vào thời điểm cuối năm 2006 đầu năm 2007 khi thành phần các nhà đầu tư tham gia thị trường chiếm 90% trong 130.000 tài khoản giao dịch trên 2 sàn Hà Nội và Tp Hồ Chí Minh là các nhà đầu tư cá nhân, những người mới chập chững tham gia khi thị trường tăng trưởng nóng, chiến lược đầu
tư của những người này đơn giản là “mua giá cao và bán với giá cao hơn” Họ kỳ vọng vào một sự tăng trưởng thần kỳ của thị trường, mà không dựa vào bất cứ một cơ sở vững chắc nào của các chứng khoán các công ty trên sàn mà họ đã mua
Thị trường vốn đã nóng lại càng trở nên nóng hơn khi thông tin về các quỹ đầu tư được thành lập với giá trị tài sản ròng (NAV) lên đến hàng trăm triệu USD chuẩn bị đầu tư vào Việt Nam
Bảng 3.2: Các quỹ đầu tư vào Việt Nam thành lập năm 2007
Đơn vị tính: Triệu đô la Mỹ
Nguồn: HSBC, Bloomberg từ www.tuoitre.com.vn
Kết quả của sự kỳ vọng này là chỉ số P/E bình quân đã tăng lên đến mức 43,24 ( sàn Tp Hồ Chí Minh thời điểm 01/02/2007), cá biệt có những chứng
Trang 25quân của khu vực là 20 và thế giới chỉ là 17, 18 Và điều tất yếu đã xảy ra khi giá của các cổ phiếu bắt đầu suy giảm mạnh để trở về với giá trị thực của nó Đầu tiên là sàn Hà Nội, khi liên tục suy giảm và mất tới 200 điểm, chạm đáy 246,47 vào ngày 22/08/2007, Vn-Index mặc dù cố gắng giằng co quanh mức 1000 điểm Nhưng khi những thông tin xấu từ tình hình kinh tế Mỹ liên tục xuất hiện thì lòng tin của các nhà đầu tư vào sự tăng trưởng của thị trường không còn nữa Kết quả như ta đã biết là từ tháng 11 năm 2007 đến nay (tháng 03/2008), Vn-Index và Hastc-Index đã suy giảm mạnh và hiên nay chỉ còn dao động quanh mức 550 điểm và 170 điểm
3.2 THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM - MỘT THỊ TRƯỜNG ĐẦY RỦI RO:
3.2.1 Rủi ro từ bản thân thị trường:
Như ta đã biết thành phần các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt
Nam đa phần là các nhà đầu tư cá nhân Những người này vốn không có nhiều kiến thức và kinh nghiệm đầu tư, họ đầu tư theo kiểu xu hướng số đông là chủ yếu Do vậy khi thấy thị trường tăng trưởng thì họ mua vào, kết quả là thị trường tăng quá mức Và khi thị trường bắt đầu có một vài dấu hiệu suy giảm, thì họ lại bắt đầu bán một cách ồ ạt bất chấp mọi thông tin (dù là tốt đẹp) về tình hình kinh doanh của công ty mà mình đã mua cổ phiếu Tất yếu những người này sẽ là những người bị thiệt hại nhiều nhất khi thị trường bắt đầu điều chỉnh Do họ không có các chiến lược đầu tư cụ thể, và dễ bị tác động tâm lý bởi những nhà đầu tư khác Thông tin họ có được để ra các quyết định thường là từ báo chí (mà một khi thông tin xuất hiện trên các phương tiện thông tin đại chúng thì lúc đó có nghĩa là đã quá trễ) và các thông tin hành lang, không chính thức Về lâu dài, nhóm các đầu tư này sẽ dần suy giảm khi họ nhận được bài học “thị trường chứng khoán không phải là nơi dễ dàng để kiếm siêu lợi nhuận”, nhưng trong thời điểm hiện tại thì nhóm các nhà đầu cơ nghiệp dư này sẽ vẫn là nhóm chiếm
đa số trên thị trường, chứ không phải là các nhà đầu tư tổ chức ( những nhà đầu
tư thực thụ - Thành phần giúp bình ổn thị trường) như tại các thị trường chứng
khoán đã phát triển lâu đời
Trang 26quy định cụ thể để bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu tư nhỏ, không có các điều luật chặt chẽ về việc công bố thông tin của các công ty niêm yết, quy định về việc phát hành thêm cổ phiếu thêm, các quy định về bảo mật thông tin…Tất cả những điều trên khiến cho những người có quyền quyết định trong Hội đồng quản trị và thường là nắm luôn các chức vụ trong Ban Giám đốc công ty mặc sức (cũng có thể là vô tình ?) trục lợi cho riêng mình Hậu quả của nó là, lòng tin của các nhà đầu tư càng suy giảm
3.2.2 Rủi ro từ cách điều hành của các cơ quan có thẩm quyền:
Đề cập tới vấn đề này có lẽ đi hơi xa nội dung của Luận văn này Nhưng nếu không nhắc tới thì lại trở thành thiếu sót, vì bản thân cách điều hành và các chính sách ảnh hưởng rất lớn đến sự vận động của thị trường, tương ứng với nó
là một thị trường rủi ro hay ít rủi ro Do vây ở đây tôi chỉ đề cập đến một vài vấn
đề cụ thể để minh chứng cho cách điều hành thiếu nhất quán của các cơ quan có thẩm quyền đối với thị trường chứng khoán Việt Nam:
Chúng ta còn nhớ là khi thị trường tăng trưởng nóng vào tháng 10/2006 Ủy ban chứng khoán nhà nước đã đề ra một loạt biện pháp để hạ nhiệt thị trường trong đó có việc tăng biên độ dao động của giá từ lên 5%, còn Ngân hàng nhà nước thì ra chỉ thị 03 hạn chế cho vay chứng khoán Kết quả của những biện pháp này và các tác động của nền kinh tế thế giới nên thị trường chứng khoán Việt Nam đã hạ nhiệt
Nhưng khi thị trường hạ nhiệt và “nguy cơ vỡ bong bóng” đã được tháo gỡ Lúc này (tháng 11/2007) Vn-Index và Hastc-Index giảm liên tục, mà theo tôi điều này hoàn toàn hợp lý do những nguyên nhân sau:
- Tình hình kinh tế thế giới đang trong giai đoạn suy thoái, giá dầu thô tăng đạt ngưỡng kỷ lục 120 USD /thùng; Giá vàng cũng phá vỡ mốc
1000 USD/ 1Ounce; Khủng hoảng giá lương thực cũng diễn ra khắp nơi Lòng tin của nhà đầu tư suy giảm là chuyên đương nhiên
- Cộng thêm việc các nhà đầu cơ nhỏ lẻ đã nhận được bài học từ những đợt suy giảm của thị trường vừa qua Nên làm họ đã không còn mặn mà với thị trường như trước nữa
- Còn các nhà đầu tư đã kiếm được lợi nhuận trong giai đoạn vừa qua, thì
Trang 27như bất động sản hay giao dịch vàng trên sàn, hay mua vàng vật chất để bảo toàn vốn, làm một nguồn vốn lớn trên thị trường bị mất đi
- Các đợt IPO và phát hành chứng khoán ra công chúng của các công ty
có số vốn chủ sở hữu lên đến hàng ngàn tỷ, rồi phát hành cổ phiếu thưởng của các công ty Những điều trên đã tạo nên một lượng cầu lớn quá mức mong đợi của nhà đầu tư
- Chính sách thắt chặt tiền tệ của Ngân hàng nhà nước (Mua 23.000 tỷ đồng tín phiếu bắt buộc và hạn chế tăng trưởng dư nợ tín dụng của các Ngân hàng thương mại không được vượt quá 30% ) để chống lạm phát, kiềm chế tăng giá và tác dụng của chỉ thị 03 làm ảnh hưởng đến dư nợ cho vay chứng khoán của các Ngân hàng thương mại
- …
Và điều hiển nhiên lúc này Vn-Index và Hastc-Index phải giảm xuống là chuyện hoàn toàn hợp lý, vì không có một thị trường nào có thể tăng trưởng liên tục theo chiều thẳng đứng được cả, nhất là dưới những sức ép như trên Nhưng thay vì để 2 sàn chứng khoán Hà Nội và Tp Hồ Chí Minh vận động theo quy luật thị trường, và các cơ quan hũu trách lúc này chỉ lên tập trung vào việc hoàn chỉnh các bộ luật, cũng như quy định liên quan đến đầu tư chứng khoán Thì trước đà suy giảm quá mạnh của thị trường, và sự kêu cứu từ “các nhà đầu tư đã trót dại”
Ủy ban chứng khoán nhà nước lại nhập cuộc bằng cách:
- Giới hạn biên độ dao động giá xuống còn 1% Nhiều người cho rằng đây
là một chính sách hợp lý và không phá vỡ các quy luật thị trường Nhưng tôi cho rằng việc tăng giảm biên độ dao động giá này là một hành động phá vỡ sự vận động bình thường của thị trường Bởi vì khi nào thì nên tăng, khi nào thì nên giảm biên độ? Chẳng lẽ lúc nào thị trường có xu hướng Bearish thì lại hạ biên độ xuống, lúc nào Bullish thì lại nới rộng biên độ dao động Cách làm này vô tình đã
tạo ra lòng tin về sự an toàn giả tạo đối với những nhà đầu tư Nhắc tới vấn đề
này bởi vì biên độ dao động ảnh hưởng rất lớn đến rủi ro của một chứng khoán trong ngắn hạn ( nội dung chính của Luận văn này) Chẳng hạn nếu biên độ dao động giá là 1% thì trong một tuần ( 5 phiên giao dịch) chứng khoán mà bạn mua
Trang 28dao động là 5% thì nếu tăng liên tục 5 phiên sẽ là (1+5%) 5 =127,6% Một sự khác biệt rất lớn
- Còn SCIC (Công ty quản lý vốn nhà nước) lại tổ chức mua lại các chứng khoán trên thị trường, nhằm cân bằng cung cầu Đây có thể hiểu như là một cách đầu tư của nhà nước để bình ổn thị trường ( Kiểu như quỹ dự trữ lúa gạo giúp bình ổn giá!) Nhưng liệu điều này có hợp lý? Nhiều người có thể lập luận rằng SCIC ra tay cứu thị trường vào lúc này là đúng đắn, vì bằng chứng là giá chứng khoán đã ổn định, và một khi giá chứng khoán đã ổn định nghĩa là xu hướng tăng giá sẽ trở lại và khi thị trường tăng trở lại, SCIC chỉ việc bán các chứng khoán đã mua ra để kiếm lợi và tiếp tục giúp bình ổn thị trường Nhưng những cái đáy mà Vn-Index và Hastc-Index chạm phải có phải là đáy thật sự không? Hay đây chỉ là những đáy giả tạo do sự nâng đỡ của SCIC khi thông tin về việc mua lại cổ phiếu trên thị trường được công bố Chúng ta không thể biết được câu trả lời vì mọi
chuyện đã diễn ra Còn hành động của SCIC có phải là hành đông phi thị
trường hay không lại phụ thuộc vào việc tổ chức này là một tổ chức hoạt động vì mục đích lợi nhuận (kiểu như một quỹ đầu tư tài chính) vận động theo các nguyên tắc thị trường, hay một tổ chức phi lợi nhuận hoạt động theo các mệnh lệnh hành chính, xuất hiện như một cứu cánh giúp bình ổn, khi thị trường gắp sự cố Trong hiện tại thì nhiều người cho rằng hành động can
thiệp của SCIC không phải là một giải pháp tối ưu nhất đối với thị trường
Nhắc tới các vấn đề trên đây để thấy rằng cách điều hành của các cơ quan
có thẩm quyền đối với thị trường chứng khoán là có vấn đề Bởi vì cách điều hành này hết sức cảm tính và không để thị trường vận động theo các quy luật riêng của nó, không những không giúp làm giảm rủi ro khi đầu tư, mà việc can thiệp bằng cách tăng giảm biên độ dao động, hay mua lại các chứng khoán trên thị trường vô tình đã tạo nên những tiền lệ xấu đối với sự vận động của thị trường Bởi vì chúng ta đều biết rằng giá cả thì tất yếu phải phụ thuộc vào quan
hệ cung cầu, Vn-Index và Hastc-Index dù có giảm như vậy hay giảm hơn thế nữa thì cũng không nên can thiệp Bởi vì trong chúng ta ai có thể xác đinh được giá trị thực của các công ty niêm yết trên sàn là bao nhiêu? Hành vi “cứu thị trường” này đã làm ảnh hưởng đến những nhà đầu tư nắm bắt được quy luật của cuộc
Trang 29Giá cổ phiếu của các công ty khi suy giảm đến một mức nào đó đương nhiên sẽ có người mua vào Vì họ xác định được đấy mới chính là giá trị thực của các cổ phiếu đó, hành động can thiệp của Ủy ban chứng khoán nhà nước hay các
cơ quan hữu trách khác vô tình lại tạo nên những thước đo sai lệch đối với giá trị công ty Còn những người đa mua phải cổ phiếu với giá cao đương nhiên phải chịu lỗ, bởi vì họ đã không nắm bắt xu hướng của số đông và xu thế của thị trường Thị trường chứng khoán vốn đã là một canh bạc lớn và có kẻ thắng tất yếu phải có người thua
Kết luận: Từ những luận điểm trên có thể thấy rằng thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn hiện nay là hết sức rủi ro Rủi ro xuất phát từ
chính bản thân các nhà đầu tư nghiệp dư thiếu bản lĩnh nhưng lại thừa thông tin trên thị trường, rủi ro từ sự thiếu những quy định chặt chẽ, rủi ro từ cách thức điều hành của các cơ quan hữu trách…Do vậy trước khi thị trường đi vào hoạt động ổn định, có một cơ chế pháp lý hoàn chỉnh, có những quy định cụ thể về rõ ràng từ các cơ quan chức năng về cách thức điều hành thị trường, quy định về
bảo vệ quyền của các nhà đầu tư nhỏ, quy định về công bố thông tin Hãy đầu
tư vào thị trường (thay vì đầu cơ) một cách cẩn trong và tự bảo hiểm cho mình bằng các phương cách có thể; Chẳng hạn như đa dạng hóa danh mục đầu
tư!
Trang 30Biểu đồ 4.1: Diễn biến của Hastc-Index từ 01/01/2007 đến 31/03/2008
Biểu đồ 4.2: Diễn biễn của VN-Index từ 01/01/2007 đến 31/03/2008
Trang 31Hai biểu đồ trên cho ta một cái nhìn tổng quan về diễn biến của Trung tâm
giao dịch chứng khoán Hà Nội và Sở giao dịch chứng khoán Tp Hồ Chí Minh trong thời gian từ 01/01/2007 đến 31/03.2008 Nhận xét đầu tiên mà chúng ta có được là diễn biến của chỉ số chứng khoán ở 2 sàn là khá tương đồng nhau Chẳng hạn như ở T1, khi Vn-Index tăng từ 780 lên gần 1200 thì ở sàn Hà Nội Hastc-Index cũng tăng từ 250 lên 460 Ngoại trừ ở T2 khi xu hướng giảm của Hastc-Index là khá rõ rệt và Vn-Index là giằng co, thì ở các giai đoạn còn lại T3, T4, T5 hầu như không có sự khác biệt trong xu hướng tăng giảm giữa hai sàn
4.1.2 Phân tích ảnh hưởng của việc gia tăng kích cỡ danh mục đến rủi ro
ở các giai đoạn khác nhau:
Đầu tiên, chúng ta sẽ tiến hành chia dữ liệu trên thành 5 giai đoạn để tiến hành so sánh với nhau Mục tiêu là tìm ra được độ lệch chuẩn của các danh mục,
và so sánh độ lệch chuẩn giữa các thời kỳ khác nhau để đi đến kết luận về sự suy giảm rủi ro, nhờ đa dạng hóa
Sau đây là bảng kết quả về sự phân bố của độ lệch chuẩn trung bình của tỉ suất lợi nhuận giữa các kích cỡ danh mục khác nhau và giữa các giai đoạn với nhau, điều này tạo điều kiện dễ dàng cho chúng ta có thể so sánh các kết quả đạt được về lợi ích của việc đa dạng hóa ở các khoảng thời gian khác nhau
Bảng 4.1: Phân bố trung bình rủi ro tổng thể trong 5 giai đoạn
So sánh các giai đoạn với nhau ta thấy rằng, ở giai đoạn 1 rủi ro của danh
mục 1 chứng khoán là cao nhất và nó gần bằng 2,5 lần danh mục thị trường, trong khi đó danh mục 1 chứng khoán ở các giai đoạn T2, T3 ,T4 ,T5 thì rủi ro
Trang 32rằng rủi ro suy giảm đáng kể khi kích cỡ danh mục tăng lên nhưng sự suy giảm này lại có sự khác nhau ở các thời kì khác nhau Ở giai đoạn 1 với việc đưa thêm
3 loại chứng khoán vào trong danh mục 1 chứng khoán ta đã có thể làm rủi ro giảm đi 0,11 xuống còn 0,19 chiếm tới 36% trong tổng rủi ro Trong khi đó ở giai đoạn 5 cũng với 3 loại chứng khoán được thêm vào danh mục 1 chứng khoán, rủi ro chỉ suy giảm được 6,5%
Bảng 4.2: Tỉ lệ độ lệch chuẩn của các loại danh mục
so với danh mục thị trường
Điều này cũng phù hợp với những lý thuyết mà chúng ta có được, vì chúng
ta đều biết rằng rủi ro của danh mục toàn thị trường thì đại diện cho phần rủi ro
hệ thống không thể đa dạng hóa, nên cũng dễ hiểu vì sao ở T1 chỉ với 3 chứng khoán thêm vào danh mục 1 chứng khoán mà đã có thể hạ rủi ro xuống còn 63,36% Còn ở thời kì thứ 5 rủi ro phi hệ thống chỉ là 9,26%, đương nhiên kéo theo việc chúng ta chỉ có thể hạ được rủi ro trong 9,26% này Nên cho dù với danh mục 32 chứng khoán hay một danh mục có kích cỡ lớn hơn nữa thì chúng ta cũng không thể nào hạ thấp được rủi ro xuống quá 0,1540 rủi ro hệ thống
Bảng 4.3: Tỉ lệ rủi ro của các danh mục
so với danh mục toàn thị trường (Tính theo tháng)
Trang 33Như vậy kết luận đầu tiên mà chúng ta có được là rủi ro ở các thời kì khác nhau thì không giống nhau và sự suy giảm của nó phụ thuộc vào rủi ro phi hệ thống có chiếm tỉ trọng lớn trong tổng rủi ro hay không Danh mục mà rủi ro phi
hệ thống chiếm tỷ trọng càng lớn thì tác dụng đa dạng hóa càng thể hiện rõ rệt và càng hiệu quả
Nhưng có một điểm chung là những chứng khoán đầu tiên thêm vào danh mục bao giờ cũng là những chứng khoán làm rủi ro suy giảm nhiều nhất, chẳng hạn như với danh mục 1 chứng khoán ở thời kỳ 1 với 3 chứng khoán thêm vào để tạo thành danh mục 4 chứng khoán thì mỗi chứng khoán làm rủi ro giảm xuống 12,213% Trong khi đó nếu chúng ta tiếp tục thêm 4 chứng khoán vào danh mục
4 chứng khoán đó, để tạo thành danh mục 8 chứng khoán, thì với mỗi chứng khoán thêm vào rủi ro chỉ giảm được có 2,54% Cứ như vậy mức độ suy giảm của rủi ro trên mỗi chứng khoán được thêm vào danh mục sẽ giảm dần Điều này gợi ý cho chúng ta là không nên đa dang hóa quá mức Vì việc này không những không hiệu quả, do việc suy giảm rủi ro trên mỗi chứng khoán sẽ rất thấp khi kích cỡ danh mục đã lớn mà còn kéo theo chi phí quản trị danh mục, chi phí tìm kiếm thông tin gia tăng …
Bảng 4.4: Tỉ lệ suy giảm của rủi ro trên mỗi chứng khoán
được thêm vào danh mục
Trang 34Bảng 4.5: Lợi ích biên của sự suy giảm độ lệch chuẩn
Bảng 4.5 còn cho ta thấy một điều là ở thời kì T5 không như ta đã nghĩ là
có mức độ suy giảm của rủi ro thấp, khi 3 chứng khoán được thêm vào để tạo thành danh mục 1 chứng khoán để tạo thành danh mục 4 chứng khoán, mà thậm chí nó còn có mức độ loại bỏ rủi ro phi hệ thống cao nhất trong các thời kì và đạt 76,78% Trong khi đó thời kì T1, với mức độ làm suy giảm rủi ro được đánh giá cao nhất nhưng cũng chỉ đạt 64% với 3 chứng khoán được thêm vào danh mục 1 chứng khoán
4.1.3 Ảnh hưởng của việc gia tăng kích cỡ danh mục đến lợi nhuận:
Việc tiếp theo là chúng ta sẽ đánh giá xem lợi nhuận bị ảnh hưởng ra sao khi gia tăng kích cỡ danh mục, chúng ta sẽ xem xét đồng thời trên 2 khía cạnh là
tỉ suất lợi nhuận và hệ số nhân lợi nhuận REA Điều này là rất quan trọng vì nếu chúng ta chỉ đơn thuần muốn đạt được mục đích của việc đa dạng hóa là suy giảm rủi ro mà không chú ý tới lợi nhuận thì mua trái phiếu chính phủ với lãi suất phi rủi ro có lẽ còn tốt hơn
Trang 35Như ta đã biết các kết quả mà chúng ta trình bày từ đầu chương 4 tới giờ, tất cả đều là kết quả trung bình và tỉ lệ giữa các chứng khoán là bằng nhau Do vậy khi trình bày tỉ suất lợi nhuận của các kích cỡ danh mục khác nhau chúng ta gặp phải một khó khăn do việc sử dụng kĩ thuật trung bình này Ở đây tôi sẽ chỉ
rõ khó khăn này qua một ví dụ minh họa:
Chẳng hạn như chúng ta có 4 chứng khoán A,B,C,D với các mức tỉ suất lợi nhuận lần lượt A=1,2 B=1,4 C=1,5 D=1 Như vậy chúng ta sẽ có tỉ suất lợi nhuận trung bình của danh mục 1 chứng khoán là (1,2+1,4+1,5+1)/4=1,275 Với 4 chứng khoán này ta có thể tạo được 2 danh mục 2 chứng khoán chẳng hạn như A
và B thì sẽ có tỉ suất lợi nhuận là (1,2+1,4)/2=1,3, và danh mục 2 chứng khoán C,D sẽ có tie suất lợi nhuận là (1,5+1)/2=1,25 Lúc này khi trình bày kết quả chúng ta sẽ sử dụng số trung bình làm đại diện, kết quả là tỉ suất trung bình của 2 danh mục 2 chứng khoán sẽ là (1,25+1,3)/2=1,275 Do vậy chúng ta sẽ không phân biệt được sự khác nhau của tỉ suất lợi nhuận ở các kích cỡ danh mục khác nhau
Bảng 4.6: Tỉ suất lợi nhuận bình quân trong 5 giai đoạn
LOẠI DANH MỤC T1 T2 T3 T4 T5 TRUNG BÌNH
Tỉ suất lợi nhuận 1.2539 0.9756 0.9841 1.1264 0.8789 1.0438
Để giải quyết vấn đề trên chúng ta sẽ trình bày tỉ suất lợi nhuận của các kích cỡ danh mục khác nhau bằng đồ thị Đầu tiên tôi sẽ vẽ đồ thị tỉ suất lợi nhuận của các danh mục 1 chứng khoán trong các giai đoạn từ T1 tới T5, việc này cũng được thực hiện cho các danh mục có kích cỡ khác Sau đó tôi sẽ sử dụng số liệu của 15 tháng, rồi gộp chung các kích cỡ danh mục này vào một đồ thị để tiện cho việc xem xét
Biểu đồ 4.3 cho thấy sự phân tán không đều của tỉ suất lợi nhuận danh mục
so với độ lệch chuẩn, nhưng nhìn chung với danh mục 1 chứng khoán có thể thấy một điều là tỉ suất lợi nhuận và độ lệch chuẩn ở giai đoạn 2, 3, 5 là khá tương đồng nhau, nên mức độ tập trung của chúng khá lớn với tỉ suất lợi nhuận dao động trong khoảng từ 0,75 đến 1,27 và rủi ro dao động từ sấp xỉ 0 đến 0,4
Trang 36
Biểu đồ 4.3: Sự phân bố của độ lệch chuẩn và tỉ suất lợi nhuận
của danh mục 1 chứng khoán
Biểu đồ 4.4: Sự phân bố của độ lệch chuẩn và tỉ suất lợi nhuận
của danh mục 4 chứng khoán