1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BÀI TẬP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC RÈN LUYỆN KĨ NĂNG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG ĐÓNG VAI.

38 95 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 268,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BÀI TẬP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC DÀNH CHO SINH VIÊN KHOA MẦM NON BẢN ĐẦY ĐỦ BÀI TẬP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC RÈN LUYỆN KĨ NĂNG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG ĐÓNG VAI. Giáo dục trẻ KN bảo vệ môi trường cho trẻ mầm non là cung cấp cho trẻ những hiểu biết ban đầu về môi trường sống của bản thân nói riêng và con người nói chúng, biết những hành động tích cực, thân thiện với môi trường, nhằm đảm bảo sự phát triển lành mạnh về cơ thể, trí tuệ. Trong thực tế việc giáo dục trẻ KN bảo vệ môi trường ở các trường mầm non hiện nay là một vấn đề còn nhiều hạn chế, giáo viên mới chỉ chú ý đến dạy trẻ biết giữ gìn và bảo vệ môi trường trong một số hoạt đông: Vệ sinh, qua hoạt động ngoài trời, hoạt động góc mới chỉ mang tính hình thức, chưa có kế hoạch cụ thể cho từng thời điểm, nội dung giáo dục môi trường được lồng ghép trong các tiết học chưa được giáo viên quan tâm và chưa làm thường xuyên.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG

KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC VÀ MẦM NON

-BÀI TẬP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

RÈN LUYỆN KĨ NĂNG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI

THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG ĐÓNG VAI.

Họ và tên: …………

Lớp: ………

Phú Thọ, 2020

Trang 2

Phần I MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Bảo vệ môi trường là vấn đề cấp bách trên toàn hành tinh chúng ta Trong những năm gần đây ý thức bảo vệ môi trường của con người xuống cấp Con người hủy hoại môi trường khiến cho môi trường bị ô nhiễm Thời tiết khắc nghiệt, thiên tai đe dọa, thường xuyên ảnh hưởng lớn đến cuộc sống sinh hoạt sức khỏe con người, đặc biệt là tình trạng biến đổi khi hậu gây ảnh hưởng

nghiêm trọng đời sống của người dân

Hiểu biết về môi trường những hành vi thái độ của con người đối với môi trường, phải được xem là một trong những giá trị nhân cách trong toàn bộ hệ thống nhân cách của con người Giáo dục Mầm non là một trong những nấc thang hình thành nhân cách Vì vậy không thể không tiến hành giáo dục trẻ Kĩ năng bảo vệ môi trường cho trẻ mẫu giáo Để đảm bảo tính liên thông ngay từ lứa tuổi Mầm non, chúng ta cần phải hình thành cho những chủ nhân tương lai của đất nước những hiểu biết phù hợp với lứa tuổi về môi trường thiên nhiên xung quanh giúp trẻ có thái độ hành vi ứng xử đúng đắn Biết cách dung hòa vớithiên nhiên, sống với thiên nhiên … Thông qua đó giáo dục cái đẹp cái thiện.Giáo dục trẻ KN bảo vệ môi trường là một quá trình thông qua hoạt động đóng vai giáo viên giáo dục chính quy và không chính quy nhằm giúp trẻ có Kĩ năng trong việc bảo vệ môi trường

Giáo dục trẻ KN bảo vệ môi trường cho trẻ mầm non là cung cấp cho trẻ những hiểu biết ban đầu về môi trường sống của bản thân nói riêng và con người nói chúng, biết những hành động tích cực, thân thiện với môi trường, nhằm đảm bảo

sự phát triển lành mạnh về cơ thể, trí tuệ Trong thực tế việc giáo dục trẻ KN bảo

vệ môi trường ở các trường mầm non hiện nay là một vấn đề còn nhiều hạn chế, giáo viên mới chỉ chú ý đến dạy trẻ biết giữ gìn và bảo vệ môi trường trong một

số hoạt đông: Vệ sinh, qua hoạt động ngoài trời, hoạt động góc mới chỉ mang

Trang 3

tính hình thức, chưa có kế hoạch cụ thể cho từng thời điểm, nội dung giáo dục môi trường được lồng ghép trong các tiết học chưa được giáo viên quan tâm và chưa làm thường xuyên.

2 Mục tiêu của đề tài:

Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm thiết kế các tình huống cho trẻ 5-6 tuổi bảo vệ môi trường, giúp trẻ rèn luyện kĩ năng bảo vệ môi trường hoàn thiện

kĩ năng sống của trẻ

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

3.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài:

- Làm rõ cơ sở lí luận của rèn luyện kĩ năng bảo vệ môi trường cho trẻ 5 - 6 tuổithông qua hoạt động đóng vai

- Các yếu tố ảnh hưởng đến kĩ năng bảo vệ môi trường của trẻ 5-6 tuổi thông qua hoạt động đóng vai

3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài:

- Minh họa một số tình huống trong hoạt động đóng vainhằm rèn luyện KN bảo

vệ môi trường cho trẻ 5-6 tuổi

- Là tài liệu tham khảo cần thiết cho sinh viên ngành giáo dục mầm non và giáo viên mầm non trong việc rèn luyện kĩ năng bảo vệ môi trường của trẻ 5-6 tuổi thông qua hoạt động đóng vai

Phần II NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

- Xây dựng cơ sở lí luận của quá trình rèn luyện kĩ năng bảo vệ môi trường thông qua hoạt động đóng vai

- Điều tra thực trạng và mức độ biểu hiện của việc rèn luyện kĩ năng bảo vệ môitrường thông qua hoạt động đóng vai

Trang 4

- Thiết kế tình huống và thực nghiệm sư phạm trong hoạt động bảo vệ môi trường nhằm rèn luyện kĩ năng bảo vệ môi trường cho trẻ 5-6 tuổi

2 Đối tượng nghiên cứu:

2.1 Đối tượng nghiên cứu:

Giáo dục kĩ năng bảo vệ môi trường thông qua hoạt động đóng vai cho trẻ 5-6 tuổi

4.3 Phạm vi nghiên cứu:

- Về nội dung nghiên cứu: Giáo dục kĩ năng bảo vệ môi trường cho trẻ 5 -6 tuổi

thông qua trò chơi đóng vai được nghiên cứu trong các trò chơi đóng vai theo chủ đề

- Về địa bàn nghiên cứu: Trẻ 5 - 6 tuổi ở một số trường MN như : Hùng Vương,

Phong Châu, Sao Mai - Tx Phú Thọ - Phú Thọ, trường mầm non Dậu Dương, Thượng Nông - huyện Tam Nông - tỉnh Phú Thọ

3 Phương pháp nghiên cứu

3.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận:

Nghiên cứu phân tích, hệ thống hóa, khái quát hóa các vấn đề lí luận liên quan đến đề tài nghiên cứu

3.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

3.2.1 Phương pháp quan sát:

- Dự giờ hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non Sao Mai và trường mầm non Thượng Nông - huyện Tam Nông - tỉnh Phú Thọ để đánh giá được thực trạng Kĩ năng bảo vệ môi trường của trẻ trên địa bàn hoạt động

- Quan sát và đánh giá cách rèn luyện kĩ năng bảo vệ môi trường cho trẻ 5-6 tuổi thông qua hoạt động đóng vai

Trang 5

3.2.2 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi:

- Sử dụng phiếu điều tra để tìm hiểu nhận thức của giáo viên mầm non về vấn đề rèn luyện kĩ năng bảo vệ môi trường cho trẻ 5-6 tuổi thông qua hoạt động

đóng vai.

- Nhận thức của giáo viên về tổ chức các hoạt động giáo dục kĩ năng bảo

vệ môi trường cho trẻ 5-6 tuổi thông qua hoạt đông đóng vai

- Thực trạng, mức độ rèn luyện kĩ năng bảo vệ môi trường cho trẻ 5-6 tuổithông qua hoạt động đóng vaiở các trường mầm non

3.2.3 Phương pháp đàm thoại:

- Trao đổi với giáo viên để thấy được những nguyên nhân trong nhận thứccủa giáo viên về việc rèn luyện Kĩ năng bảo vệ môi trường cho trẻ 5-6 tuổi thông qua hoạt động đóng vai

- Trò chuyện với trẻ để thấy được của trẻ qua hoạt động bảo vệ môi

trường từ đó giáo viên thấy được mức độ giải quyết vấn đề của trẻ để có phươngpháp giảng dạy phù hợp với tâm lý lứa tuổi cho trẻ

3.2.4 Phương pháp nghiên cứu bài tập tình huống:

Nghiên cứu các bài tập tình huống để phù hợp với khả năng của trẻ ở từng địaphương khác nhau

3.2.5 Phương pháp thực nghiệm sư phạm:

Tiến hành thực nghiệm Kĩ năng bảo vệ môi trường của trẻ 5-6 tuổi thông qua hoạt động đóng vai

3.3 Các phương pháp xử lý số liệu toán học:

Sử dụng công thức toán học để sử lí các số liệu đã thu được từ thực trạng và thực nghiệm

Trang 6

6 Nội dung nghiên cứu và dự kiến cấu trúc cuả đề tài

6.1 Nội dung nghiên cứu:

- Nghiên cứu các vấn đề lý luận liên quan đến qua trình hình thành và rèn luyện

kĩ năng bảo vệ môi trường cho trẻ 5-6 tuổi thông qua hoạt động hoạt động đóng vai

- Điều tra thực trạng về kĩ năng bảo vệ môi trường cho trẻ 5-6 tuổi thông qua

hoạt động hoạt động đóng vai

- Thiết kế các tình huống trong hoạt động bảo vệ môi trường nhằm rèn luyện kĩ

năng bảo vệ môi trường cho trẻ 5-6 tuổi thông qua các trò chơi đóng vai

- Thực nghiệm sư phạm tổ chức hoạt động đóng vai nhằm rèn luyện kĩ năng bảo

vệ môi trường cho trẻ 5-6 tuổi

6.2 Dự kiến cấu trúc của đề tài:

Trên cơ sở những nội dung tôi dự kiến cấu trúc của đề tài như sau:

Chương 1: Cơ sở lí luận của đề tài

Chương 2: Cơ sở thực tiễn của đề tài

Chương 3: Thiết kế tình huống và thực nghiệm sư phạm

Trang 7

Phần III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐẠT ĐƯỢC

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Các công trình nghiên cứu trên thế giới

Giáo dục môi trường là một việc làm vô cùng quan trọng và cấp thiết

trước biến đổi lớn của khí hậu và nguy cơ tàn phá thảm khốc của con người đốivới thiên nhiên Sự cạn kiệt dần của tài nguyên thiên nhiên và sự giảm sút vềchất lượng môi trường đang là những vấn đề nóng bỏng trong các hội nghị toàncầu Thế giới nói chung và từng quốc gia nói riêng ngày càng có sự quan tâm đặc biệt đến vấn đề BVMT và cải tạo môi trường

Năm 1948, tại cuộc họp Liên hợp Quốc về BVMT và tài nguyên thiên

nhiên ở Pari, thuật ngữ “Giáo dục môi trường” đã được sử dụng Tuy nhiên việcgiáo dục môi trường thực sự được quan tâm khi những hiểm họa về sự tồn vongcủa con người đã trở nên báo động Trái đất - Ngôi nhà chung của nhân loại bị ônhiễm và suy thoái nghiêm trọng do chính những hành động mà con người gây

ra Sau đó, các quốc gia trên thế giới đã lần lượt tổ chức các hội nghị, hội thảo và

đề ra được nhiều chiến lược, sách lược quan trọng về vấn

theo những hướng cơ bản sau [5]:

Thứ nhất, nghiên cứu về mục tiêu, nguyên tắc giáo dục môi trường

Vào tháng 5 năm 1958, Hội đồng cộng đồng châu âu đã họp và thống nhất đưa

ra nghị quyết về giáo dục môi trường với những mục tiêu và nguyên tắc sau:

- Mục tiêu của giáo dục môi trường là nâng cao nhận thức của nhân dân

đối với các vấn đề về môi trường cũng như các giải pháp có thể, đặt nền móngcho sự tham gia tích cực với đầy đủ kiến thức của từng cá nhân trong việc bảo

Trang 8

vệ môi trường và sử dụng một cách hợp lý, sáng suốt các tài nuyên thiên nhiên.

Để đạt được những mục tiêu trên, giáo dục môi trường cần phải tính đến

các nguyên tắc mang tính chỉ dẫn sau:

- Môi trường phải được coi là tài sản của nhân loại

- Nhiệm vụ chung đó là sự đóng góp cho việc bảo vệ sức khỏe con người

và giữ gìn cân bằng sinh thái, duy trì và BVMT

- Sự cần thiết đối với việc sử dụng hợp lí, sáng suốt các nguồn tài nguyên

thiên nhiên

- Đường lối mà mỗi cá nhân với tư cách là người tiêu dùng có thể đóng

góp cho việc BVMT bằng hành vi, thái độ của mình

Năm 1975 tại Belyrade (Nam Tư), Chương trình giáo dục môi trường quốc

tế (IEEP) ra đời Tại Hội thảo Quốc tế lần thứ nhất về giáo dục môi trường,chương trình IEEP đã đưa ra được Nghị định khung và tuyên bố về những mụctiêu, nguyên tắc hướng dẫn giáo dục môi trường Hội thảo đã công bố Hiếnchương Balyrade

- Một hệ thống nguyên tắc toàn cầu cho giáo dục mô đề bảo vệ môi trường Được tóm tắt ở những điểm cơ bản sau

- Nâng cao nhận thức và quan tâm tới mối quan hệ tương tác về kinh tế,

chính trị, xã hội, sinh thái giữa nông thôn và thành thị

- Cung cấp cho mỗi cá nhân những cơ hội tiếp thu kiến thức, những giá trị,quan niệm, trách nhiệm và các kĩ năng cần thiết nhằm bảo vệ và cải tạo môitrường

- Tạo ra những mô hình ứng xử với môi trường cho các cá nhân, các tổ chứccũng như toàn xã hội

Thứ hai, nghiên cứu tầm quan trọng của giáo dục đối với các vấn đề về môitrường

Năm 1977, tại Tbilisi (Liên Xô) UNESCO [4] đã tổ chức Hội nghị Liên

chính phủ đầu tiên về giáo dục môi trường bao gồm 66 nước tham dự Hội nghịđưa ra các ý kiến đóng góp cho việc áp dụng rộng rãi nội dung giáo dục môi

Trang 9

trường trong chương trình giáo dục chính thức và không chính thức Nội dung

về giáo dục môi trường trong văn kiện của Hội nghị có thể tóm tắt như sau:

“Nếu như muốn đạt được các mục tiêu bảo tồn thì hành vi cư xử của một xã hội đối với sinh quyển bắt buộc phải thay đổi Nhiệm vụ lâu dài của giáo dục môitrường là khuyến khích hoặc củng cố các hành vi, thái độ mang tính đạo đứcmới”

Sau đó vào năm 1987, nhân kỷ niệm 10 năm Hội nghị Tbilisi đầu tiên, một

loạt các vấn đề cơ bản về môi trường được đưa ra thảo luận, trong đó nhấn mạnhđặc biệt tới tầm quan trọng của giáo dục môi trường, và khẳng định sẽ không thểgiảm được mối đe dọa mang tính khu vực và quốc tế đối với môi trường trừ phi

ý thức của đại đa số quần chúng được thức tỉnh

Trong năm 1987, Ủy ban thế giới về môi trường và sự phát triển đã có báo

cáo “Tương lai chung của chúng ta” (WCED 1987) Bản báo cáo đã đưa ra

công bố “Chương trình nghị sự toàn cầu” Giáo dục được coi là trọng tâm củachương trình này: “Sự thay đổi thái độ mà chúng ta cố gắng phụ thuộc vào cácchiến dịch giáo dục lớn, các cuộc thảo luận và sự tham gia của quần chúng”.Môi trường và sự phát triển có mối quan hệ với nhau Chính sự suy thoái

về môi trường là vật cản chủ yếu đối với sự phát triển Bảo vệ môi trường là mục tiêu quan trọng nhất để đạt được tốc độ phát triển bền vững

Hội nghị Thượng đỉnh (UNCED) diễn ra tại Rio de Janeco (Brazil) [4] vào

năm 1992 có 170 nước tham dự Hội nghị thảo luận vấn đề mấu chốt là

“Chương trình Nghị sự 21” Chương trình nhằm chỉ ra cho các quốc gia biết cần phải làm

những gì để đạt được sự phát triển mang tính chất duy trì trong thế kỷ XXI Hộinghị nhất trí cao phát triển và giáo dục môi trường phải là một bộ phận thống nhất của quá trình học tập ở cả hai dạng chính thức và không chính thức Hội nghị cũng đưa ra dự kiến là mọi chính phủ phải nỗ lực phấn đấu để cập nhật hóa hoặc chuẩn bị các chiến lược nhằm mục đích kết hợp môi trường và phát triển thành vấn đề trọng tâm để đưa vào các cấp giáo dục

Trang 10

Thứ ba, nghiên cứu về trách nhiệm của con người đối với việc phát triển

môi trường một cách bền vững

Nghị định thư Kyoto năm 1997 đưa ra chỉ tiêu cắt giảm lượng khí thải gâyhiệu ứng nhà kính có tính ràng buộc pháp lý đối với các nước phát triển và cơchế đối với các nước đang phát triển nhằm đạt được sự phát triển kinh tế xã hộimột cách bền vững thông qua thực hiện “cơ chế phát triển sạch”

Hội nghị quốc tế về môi trường với chủ đề: “Các công dân trên trái đất” diễn

ra tại Pari (Pháp) năm 2007 với mục đích đưa ra các giải pháp hiệu quả để bảo

vệ an toàn trái đất trước nguy cơ biến đổi bất lợi do con người gây ra “Lời kêu gọi Pari” đã khuyến khích kêu gọi tất cả các nước, tất cả mọi người chung tay bảo vệ môi

trường, việc làm này góp phần bảo vệ tương lai của nhân loại Hội nghị cũng kêu gọi thế giới thông qua “Tuyên bố toàn cầu” về các quyền hạn, trách nhiệm đối với môi trường nhằm đánh giá một quyền mới cho con người, đó là quyền được sống trong một môi trường an toàn được bảo vệ

Như vậy, thông qua diễn biến của các hội nghị, hội thảo về vấn đề môi

trường trên thế giới trong nhiều năm qua cho thấy các quốc gia trên thế giới đềuxem giáo dục là công cụ quan trọng nhất để giáo dục môi trường, là tác nhân cóảnh hưởng mạnh mẽ đến việc thay đổi nhận thức của con người đối với các vấn

đề môi trường Tất cả các hội nghị, hội thảo đều hướng tới việc làm cho môitrường toàn cầu được cải thiện tốt đẹp hơn

1.1.2 Các công trình nghiên cứu trong nước

Trao đổi với Tạp chí Môi trường & Cuộc sống, PGS.TS Lê trọng Hùng – Vụ trưởng Vụ Khoa học Công nghệ và Môi trường - Bộ Giáo dục & Đào tạo, cho rằng Giáo dục, nâng cao ý thức bảo vệ môi trường xanh, sạch, đẹp là một trongnhững nội dung quan trọng trong công tác giáo dục tại các nhà trường từ cấp học mầm non đến đại học Hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường đã góp phần nâng cao ý thức bảo vệ môi trường đối với các em học sinh, sinh viên đồng thời tạo hiệu ứng cho toàn cộng đồng, hướng đến các mục tiêu phát triển môi

Trang 11

Theo đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chỉ đạo các cơ sở giáo dục trong cả nước

tổ chức triển khai các nhiệm vụ về giáo dục bảo vệ môi trường, đưa nội dung giáo dục môi trường vào trường học Từ đó, hướng dẫn xây dựng chương trình,tài liệu giảng dạy, học tập và tài liệu tham khảo về Giáo dục bảo vệ môi trường(GDBVMT) của các cấp học, trình độ đào tạo làm cơ sở cho việc thực hiện thống nhất mục tiêu, nội dung và phương pháp GDBVMT trong các cơ sở giáo dục, đào tạo; tổ chức tập huấn cho giáo viên cốt cán các cấp học từ mầm non đến trung học phổ thông về các phương pháp tích hợp/lồng ghép nội dung giáo dục môi trường vào các môn liên quan trực tiếp đến môi trường như sinh học, địa lý, giáo dục công dân , qua đó đã xây dựng được mạng lưới đội ngũ giáo viên cốt cán triển khai nhiệm vụ tập huấn, tuyên truyền về giáo dục bảo vệ môi trường tại cơ sở Đội ngũ giáo viên cốt cán này đã phát huy hiệu quả vai trò củamình trong việc triển khai nhiệm vụ GDBVMT tại địa phương

Cùng với đó là việc xây dựng được hệ thống các trường xanh sạch đẹp góp phần mở rộng các trường chuẩn quốc gia, đồng thời gắn với các hoạt động thông tin, tuyên truyền đa dạng và phong phú, từng bước nâng cao nhận thức giáo dục về BVMT trong hệ thống giáo dục quốc dân nói riêng và cho cả cộng đồng nói chung

Với sự chỉ đạo mạnh mẽ của Bộ, ngành, các giải pháp tích cực, cụ thể, thời gian qua các hoạt động giáo dục trong nhà trường, ý thức về bảo vệ môi trườngcủa đội ngũ cán bộ, học sinh và sinh viên được nâng lên rõ rệt Nhiều mô hình tốt về bảo vệ môi trường được xây dựng, nhiều nhà trường trở thành trường xanh-sạch-đẹp Có thể khẳng định giáo dục bảo vệ môi trường trong trường

Trang 12

học đã đạt nhiều thành công, góp phần không nhỏ cho sự nghiệp bảo vệ môi trường của toàn dân.

Giáo dục kĩ năng bảo vệ môi trường là một quá trình lâu dài, đòi hỏi nhiều công sức, tâm huyết của nhà trường và tập thể đội ngũ cán bộ và giáo viên Đặcbiệt, đội ngũ cán bộ quản lý trong nhà trường phải thấy được trách nhiệm đối với việc bảo vệ môi trường, có những biện pháp giáo dục học sinh thường xuyên, tổ chức các hoạt động mang tính giáo dục cao và có sức thu hút học sinh, sinh viên tham gia một cách tự nguyện, thích thú

1.2 Một số vấn đề lý luận về Kĩ năng bảo vệ môi trường của trẻ 5-6 tuổi

1.2.1 Kĩ năng

a Khái niệm kĩ năng

Theo L Đ.Lêvitôv nhà tâm lý học Liên Xô cho rằng: “Kĩ năng là sự thực hiện có kết quả một động tác nào đó hay một hoạt động phức tạp hơn bằng cách lựa chọn và áp dụng những cách thức đúng đắn, có tính đến những điều kiện nhất định”

Theo tác giả Vũ Dũng thì: “Kĩ năng là năng lực vận dụng có kết quả tri thức

về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm

vụ tương ứng”

Theo tác giả Thái Duy Tuyên, “Kĩ năng là sự ứng dụng kiến thức trong hoạt động” Mỗi Kĩ năng bao gồm một hệ thống thao tác trí tuệ và thực hành, thực hiện trọn vẹn hệ thống thao tác này sẽ đảm bảo đạt được mục đích đặt ra cho hoạt động Điều đáng chú ý là sự thực hiện một Kĩ năng luôn luôn được kiểm trabằng ý thức, nghĩa là khi thực hiện bất kỳ một Kĩ năng nào đều nhằm vào một mục đích nhất định

Từ sự phân tích trên ta có thể hiểu Kĩ năng một cách chung nhất: “Kĩ năng là năng lực thực hiện một hành động hay một hoạt động nào đó bằng cách lựa chọn

và vận dụng những tri thức, cách thức hành động đúng đắn để đạt được mục đích đề ra

Trang 13

b Đặc điểm kĩ năng

Kỹ năng không phải là yếu tố thuộc về bẩm sinh

Kỹ năng không chỉ là biểu hiện của Trí tuệ cảm xúc

Kỹ năng được hình thành bằng con đường trải nghiệm chứ không phải là sự

"nạp" kiến thức đơn thuần

Kỹ năng góp phần hỗ trợ cho kiến thức và kỹ năng chuyên môn, mà đặc biệt là

"Kỹ năng cứng"

Kỹ năng không thể "cố định" với những ngành nghề khác nhau

c Giai đoạn hình thành kĩ năng

Quá trình hình thành kĩ năng như thế nào?

- Những kĩ năng hình thành trước đó làm nền tảng để hình thành kĩ năng mới

- Kĩ năng được hình thành thông qua việc kết hợp giữa hành động, sự nhận thức

về mục tiêu hành động và giữa mức độ thực hiện hành động

1.2.2 Kĩ năng bảo vệ môi trường

a Khái niệm bảo vệ môi trường

Trong các lĩnh vực địa lí, lí học, sinh học, y học , bảo vệ môi trường được hiểu

là tập hợp các biện pháp giữ gìn, sử dụng hoặc phục hồi một cách hợp lí sinh giới (vi sinh vật, thực vật, động vật) và môi sinh (đất, nước, không khí, lòng đất, khí hậu ), nghiên cứu thử nghiệm thiết bị sử dụng tài nguyên thiên nhiên, áp dụng công nghệ không có hoặc ít có phế liệu nhằm tạo ra một không gian tối

ưu cho con người

Với tư cách là thuật ngữ pháp lí, bảo vệ môi trường được hình thành vào giữa thế kỉ XX, ở các nước có nền công nghiệp phát triển Thời gian đầu, bảo vệ môi trường chỉ được hiểu đồng nghĩa với bảo

tồn, sau đó nội dung được mở rộng bao gồm cả việc khai thác, sử dụng hợp lí các nguồn tài nguyên và cải thiện môi trường sống của con người và hệ sinh vật.Ngày nay, các nhà khoa học còn cho rằng, môi trường không chỉ được hiểu là môi trường tự nhiên mà còn bao gồm cả môi trường xã hội - là các điều kiện về

Trang 14

tinh thần và văn hoá phục vụ cho Cuộc sống con người được thoải mái Tuy nhiên, pháp luật môi trường hiện hành chỉ điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực bảo vệ môi trường tự nhiên, bao gồm: các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại và phát triển của con người và thiên nhiên.Tại Luật bảo vệ môi trường năm 2005, hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động nhằm làm cho môi trường trong lành, sạch đẹp; phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường, ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái; phục hồi và cải thiện môi trường; khai thác, sử dụng hợp lí và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ đa dạng sinh học Như vậy, bảo vệ môi trường vừa được hiểu là bảo vệ chất lượng môi trường nói chung, vừa bảo vệ chất lượng của từng thành phần môi trường như bảo vệ đất, bảo vệ rừng, bảo vệ nguồn nước, bảo vệ nguồn lợi thủy sản, bảo vệ đa dạng sinh học

Bảo vệ môi trường là trách nhiệm chung của tất cả mọi người và của mọi quốc gia, không phân biệt hình thức chính thể, chế độ chính trị và trình độ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước

Bảo vệ môi trường được thực hiện bằng việc áp dụng tổng hợp các biện pháp khác nhau như biện pháp tổ chức - chính trị, biện pháp kinh tế, biện pháp khoa học - công nghệ, biện pháp tuyên truyền, giáo dục, biện pháp pháp lÍ

Bảo vệ môi trường có thể tiến hành theo nhiều cấp độ khác nhau, gồm: cấp cá nhân, cấp cộng đồng, cấp địa phương, vùng, cấp quốc gia, cấp tiểu khu vực, khu vực và toàn cầu

b Khái niệm kĩ năng bảo vệ môi trường

Kỹ năng bảo vệ môi trường là tập hợp các hành vi tích cực của mỗi cá nhân đối với môi trường nhằm thực hiện hiệu quả các nhu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày Kỹ năng bảo vệ môi trường có chức năng đem lại những lợi ích tích cực và hỗ trợ các cá nhân trở thành người tích cực và có ích, có những hành động có lợi cho môi trường

c Bản chất của kĩ năng bảo vệ môi trường

Trang 15

Kỹ năng sống bảo vệ là khả năng con người dám đương đầu với những tình huống xảy ra hàng ngày liên quan đến môi trường và biết cách vượt qua.– Kỹ năng bảo vệ môi trường là con người biết quản lý bản thân mình và tương tác tích cực với môi trường sống.

1.3 Hoạt động bảo vệ môi trường của trẻ 5-6 tuổi tại trường mầm non

1.3.1 Khái niệm bảo vệ môi trường của trẻ mầm non

"Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất,

sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên." (Theo Điều 1, Luật Bảo vệ

Môi trường của Việt Nam)

Bảo vệ môi trường của trẻ mầm non là những hoạt động giữ cho môi trường xung quanh trẻ trong lành, sạch đẹp, cải thiện môi trường, đảm bảo cân bằng sinh thái, ngăn chặn, khắc phục các hậu quả xấu do con người và thiên nhiên gây ra cho môi trường, khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên

1.3.2 Nội dung giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ 5-6 tuổi

Giúp trẻ có thể

+ Nhận biết môi trường: phòng/nhóm/lớp học/gia đình, làng xóm là môi trường xung quanh trẻ

+ Phân biệt môi trường sạch môi trường bẩn

+ Một số nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường

+ Một số cách tránh tác hại môi trường ô nhiễm

Từ đó trẻ có được các kĩ năng bảo vệ môi trường như

+ Tiết kiệm trong sinh hoạt: tiết kiệm điện, nước; giữ gìn đồ chơi đồ dùng + Tham gia vệ sinh môi trường: không vứt rác bừa bãi, tham gia vệ sinh, lau chùi, sắp xếp đồ dùng đồ chơi

+ Yêu quý thiên nhiên: Không bẻ cây, không bắt động vật, biết CS cây cối và con vật, không nói to nơi công cộng

Trang 16

1.3.3 Hình thức tổ chức hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ 5-6 tuổi tại trường mầm non

Có nhiều hình thức GDKN BVMT cho trẻ tại trường mầm non như:

+ Thông qua các tiết học có chủ đích trên lớp

+Thông qua hoạt động vui chơi đặc biệt là hoạt động đóng vai.

+Thông qua hoạt động trải nghiệm

+ Thông qua hoạt động thăm quan, vệ sinh, ăn, ngủ…

1.4 Ý nghĩa hoạt động dạy kĩ năng bảo vệ môi trường cho trẻ 5-6 tuổi

Bảo vệ môi trường là những hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp, đảm bảo cân bằng sinh thái, ngăn chặn, khắc phục các hậu quả xấu do con người và thiên nhiên gây ra cho môi trường, khai thác và sử dụng hợp lý cáctài nguyên thiên nhiên Bảo vệ môi trường là nhiệm vụ của tất cả mọi người và phải có họach định chính sách cụ thể cho cá nhân, gia đình, địa phương, trường học, doanh nghiệp…

Việc giáo dục bảo vệ môi trường không những chỉ “Cho hôm nay và cho cả ngày mai” mà còn nhằm xây dựng một trường học “Xanh- sạch- đẹp- an toàn” cho trẻ và một xã hội trong lành

Giáo dục bảo vệ môi trường nhằm giúp cho giáo viên có kiến thức về môi

trường, ô nhiễm môi trường Có ý thức làm gương trước trẻ, kiên trì rèn những

nề nếp, thói quen tốt cho trẻ trong việc bảo vệ môi trường, giáo dục cho trẻ biết yêu quí, gần gũi với môi trường, mỗi giáo viên còn phải là một tuyên truyền viên về giáo dục bảo vệ môi trường trong nhà trường, các bậc phụ huynh và cộng đồng

Việc đưa các nội dung giáo dục bảo vệ môi trường vào chương trình giáo dục mầm non nhằm hình thành cho trẻ kỹ năng thói quen tốt như; Sắp xếp đồ dùng

đồ chơi ngăn nắp gọn gàng, biết bỏ rác đúng nơi qui định, biết chăm sóc bảo vệ cây cối, vật nuôi…Giúp cho trẻ yêu thích, gần gũi với thiên nhiên, có ý thức bảo

Trang 17

vệ môi trường, có phản ứng đối với các hành vi ảnh hưởng xấu đến môi trường như vứt rác, dẫm đạp lên cỏ cây, hái hoa, khạc nhổ bừa bãi nơi công cộng…Giáo dục bảo vệ môi trường trong trường trong trường mầm non còn giúp cho các bậc cha mẹ và cộng đồng có hiểu biết cơ bản về môi trường, về bảo vệ môi trường, tích cực tham gia các hoạt động xây dựng môi trường “Xanh- sạch- đẹp,

an toàn’ cho trẻ ở mọi nơi, làm gương cho trẻ, cùng với giáo viên rèn nề nếp tốt cho trẻ, giáo dục trẻ bảo vệ môi trường

- Về kiến thức

+ Trẻ có hiểu biết ban đầu về môi trường sống của con người

+ Trẻ có những kiến thức cơ bản về cơ thể, cách chăm sóc giữ gìn sức khoẻ của bản thân

+ Trẻ có những kiến thức ban đầu về mối quan hệ của động vật, thực vật và con người với môi trường sống để trẻ biết giao tiếp, yêu thương những người gần gũi quanh mình, biết cách chăm sóc bảo vệ cây cối, bảo vệ con vật quanh nơi mình ở.+ Trẻ có một số kiến thức đơn giản về nghành nghề, văn hoá, phong tục tập quán của địa phương

Trang 18

+ Có phản ứng với hành vi của con người làm bẩn môi trường và phá hoại môi trường như: Vứt rác bừa bãi, chặt cây, hái hoa, giẫm lên cỏ, bắn giết động vật, làm ồn…

- Về thái độ, tình cảm

+ Yêu thích và gần gũi với thiên nhiên

+ Tự hào và có ý thức giữ gìn, bảo vệ những phong cảnh, địa danh nổi tiếng của quê hương

+ Quan tâm đến những vấn đề về môi trường của trường/ lớp học, gia đình; tích cực tham gia vào các hoạt động bảo vệ môi trường như: Vệ sinh thân thể, sắp xếp đồ dùng, đồ chơi, giữ gìn lớp học sạch sẽ, chăm sóc vật nuôi, cây trồng, thu gom lá, rác thải ở sân trường…

- Con người và môi trường xung quanh

+ Hiểu biết về môi trường xung quanh

Hiểu biết về môi trường xung quanh của bé (trường/ lớp học, gia đình, bản làng, khu phố…); Phân biệt môi trường sạch- môi trường bẩn; Nguyên nhân làm cho môi trường sạch- môi trường bẩn

+ Biết quan tâm bảo vệ môi trường xung quanh

Biết tiết kiệm trong sinh hoạt (Tiết kiệm điện, nước, giữ gìn đồ chơi, đồ

dùng…); Tham gia vệ sinh môi trường (Không vứt rác bừa bãi, tham gia vệ sinh, lau chùi, sắp xếp đồ dùng, đồ chơi…); Yêu quí thiên nhiên (Không bẻ cây, không bắt động vật, biết tác hại của chặt cây, phá rừng, giết các loài thú quí hiếm…)

- Con người với động vật, thực vật

+ Biết mối quan hệ giữa động vật, thực vật với con người và môi trường sống

Trang 19

+ Chăm sóc, bảo vệ cây cối và các con vật, tham gia trồng cây, tưới cây, bắt sâu,cho vật nuôi ăn.

- Con người với thiên nhiên

+ Hiểu biết về gió: Lợi ích và tác hại của gió, biện pháp tránh gió

+ Hiểu biết về nắng và mặt trời: Lợi ích và tác hại của nắng, biện pháp tránh nắng.+ Hiểu biết về mưa: Nhận biết và đoán được khi trời sắp mưa, lợi ích và tác hại của mưa, biện pháp tránh mưa

+ Hiểu biết về bão lũ: Hiện tượng, nguyên nhân và tác hại của bão lũ

- Con người và tài nguyên

+ Một số nguyên nhân làm cho đất bị ô nhiễm và biện pháp bảo vệ đất

+ Một số nguyên nhân làm nước bị ô nhiễm và biện pháp bảo vệ nguồn nước.+ Một số nguyên nhân làm cho không khí bị ô nhiễm và biện pháp bảo vệ

+ Biện pháp bảo vệ danh lam thắng cảnh của quê hương

* Hình thức và phương pháp giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ mầm non.Giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ mầm non có thể được sử dụng tất cả các hình thức, phương pháp đã nêu trong chương trình Giáo dục mầm non

1.5 Biểu hiện của rèn luyện kĩ năng bảo vệ môi trường cho trẻ 5-6 tuổi thông qua hoạt động đóng vai.

1.5.1 Nhận diện tình huống

Trong trường mầm non việc giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường cho học sinh được thể hiện trên nhiều mặt của hoạt động đóng vai

Ngày đăng: 14/06/2021, 12:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Giáo dục và đào tạo (2003), Khoa học môi trường và giáo dục môi trường ,Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học môi trường và giáo dục môi trường
Tác giả: Bộ Giáo dục và đào tạo
Năm: 2003
2. Các hướng dẫn chung giành cho người đào tạo giáo viên và các văn bản pháp luật liên quan đến bảo vệ môi trường (1993), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các hướng dẫn chung giành cho người đào tạo giáo viên và các văn bản pháp luật liên quan đến bảo vệ môi trường
Tác giả: Các hướng dẫn chung giành cho người đào tạo giáo viên và các văn bản pháp luật liên quan đến bảo vệ môi trường
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1993
3. Các công ước quốc tế về bảo vệ môi trường (1995), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các công ước quốc tế về bảo vệ môi trường
Tác giả: Các công ước quốc tế về bảo vệ môi trường
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1995
4. Đào Thanh Âm, Trịnh Dân, Nguyễn Thị Hoà (2005), Giáo dục học mầm non -Tập 2, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học mầm non -Tập 2
Tác giả: Đào Thanh Âm, Trịnh Dân, Nguyễn Thị Hoà
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Sư phạm
Năm: 2005
5. Hoàng Chúng (1982), Phương pháp thống kê toán học trong khoa học giáo dục, Nhà xuất bản giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp thống kê toán học trong khoa học giáo dục
Tác giả: Hoàng Chúng
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục
Năm: 1982
6. Đặng Thành Hưng (1998), Tích cực hóa quá trình nhận thức của học sinh, Tài liệu dùng cho học viên Cao học Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Tích cực hóa quá trình nhận thức của học sinh
Tác giả: Đặng Thành Hưng
Năm: 1998
7. Lê Văn Khoa (1995), Môi trường và ôi nhiễm, Nxb Giáo dục ,Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Môi trường và ôi nhiễm
Tác giả: Lê Văn Khoa
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1995
8. Đỗ Minh Liên (2010), Bài giảng chuyên đề: Phát huy tính tích cực trong hoạt động nhận thức, Lớp cao học K20 – ĐTRẺP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng chuyên đề: Phát huy tính tích cực trong hoạt động nhận thức
Tác giả: Đỗ Minh Liên
Năm: 2010
9. Hoàng Đức Nhuận (1998), Tài liệu hướng dẫn về giáo dục môi trường ở mẫu giáo ,Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu hướng dẫn về giáo dục môi trường ở mẫu giáo
Tác giả: Hoàng Đức Nhuận
Năm: 1998
10.Hoàng Thị Phương (2005),Giáo dục môi trường ở trường mầm non.Tài liệu bồi dưỡng giáo viên mầm non (theo Dự án VIE/98/019, năm 2003) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục môi trường ở trường mầm non
Tác giả: Hoàng Thị Phương
Năm: 2005
11. Hoàng Thị Phương (2008), Khai thác nội dung giáo dục bảo vệ môi trường trong chương trình giáo dục ttrẻ mầm non, Tạp chí Giáo dục ,số 198, tr.56-58 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khai thác nội dung giáo dục bảo vệ môi trường trong chương trình giáo dục ttrẻ mầm non
Tác giả: Hoàng Thị Phương
Năm: 2008

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w