1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng dự án bệnh viện đa khoa thị xã và dự án trung tâm huấn luyện quốc gia về phòng chống khủng bố tại thị xã quảng yên tỉnh quảng ninh

92 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 4,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • TRANG BÌA

  • MUC LỤC

  • TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

  • PHẦN 1. MỞ ĐẦU

    • 1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

    • 1.2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

    • 1.3. PHẠM VI NGHIÊN CỨU

    • 1.4. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

  • PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

    • 2.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BỒI THƯỜNG GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG KHINHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT

      • 2.1.1. Khái quát về thu hồi đất, bồi thường giải phóng mặt bằng

        • 2.1.1.1. Khái niệm cơ bản về thu hồi đất, bồi thường giải phóng mặt bằng

        • 2.1.1.2. Đặc điểm của quá trình giải phóng mặt bằng

        • 2.1.1.3. Các trường hợp thu hồi đất phải giải phóng mặt bằng

        • 2.1.1.4. Nhận xét về tầm quan trọng của tiến độ bồi thường, giải phóng mặt BẰNG

      • 2.1.2. Một số yếu tố tác động tới quá trình giải phóng mặt bằng

        • 2.1.2.1. Một số yếu tố cơ bản trong quản lý nhà nước về đất đai

        • 2.1.2.2 Yếu tố giá đất và định giá đất

        • 2.1.2.3. Yếu tố thị trường bất động sản

    • 2.2. CHÍNH SÁCH BỒI THƯỜNG GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG Ở MỘT SỐNƯỚC VÀ TỔ CHỨC TRÊN THẾ GIỚI

      • 2.2.1. Ở Trung Quốc

      • 2.2.2. Ở Thái Lan

      • 2.2.3. Ở Singapore

      • 2.2.4. Ngân hàng phát triển châu Á (ADB)

      • 2.2.5. Những kinh nghiệm cho Việt Nam

    • 2.3. CHÍNH SÁCH BỒI THƯỜNG GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG Ở VIỆTNAM CÁC THỜI KỲ

      • 2.3.1. Trước luật đất đai 1993

      • 2.3.2. Từ khi có luật đất đai 1993 đến 2003

      • 2.3.3. Từ khi có luật đất đai 2003 đến năm 2013

      • 2.3.4. Từ khi có luật đất đai 2013 đến nay

    • 2.4. CHÍNH SÁCH BỒI THƯỜNG GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG TRÊN ĐỊABÀN TỈNH QUẢNG NINH

  • PHẦN 3. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

    • 3.1. ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU

    • 3.2. THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

    • 3.3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

    • 3.4. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

    • 3.5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

      • 3.5.1. Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp

      • 3.5.2. Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp

      • 3.5.3. Phương pháp lựa chọn hộ điều tra

      • 3.5.4. Phương pháp phân tích và xử lý số

  • PHẦN 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

    • 4.1. KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI CỦA THỊXÃ QUẢNG YÊN

      • 4.1.1. Điều kiện tự nhiên

        • 4.1.1.1. Vị trí địa lý

        • 4.1.1.2. Địa hình địa mạo

        • 4.1.1.3. Khí hậu

        • 4.1.1.4. Thủy văn

      • 4.1.2. Các nguồn tài nguyên

        • 4.1.2.1. Tài nguyên đất

        • 4.1.2.2. Tài nguyên nước

        • 4.1.2.3. Tài nguyên rừng

        • 4.1.2.4. Tài nguyên biển

        • 4.1.2.5. Tài nguyên khoáng sản

        • 4.1.2.6. Tài nguyên nhân văn

      • 4.1.3. Điều kiện kinh tế - xã hội

        • 4.1.3.1. Phát triển kinh tế

        • 4.1.3.2. Về văn hóa - xã hội

        • 4.1.3.3. Dân số, lao động, việc làm

      • 4.1.4. Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội

        • 4.1.4.1. Những thuận lợi, lợi thế

        • 4.1.4.2. Những khó khăn, hạn c

    • 4.2. ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BỒI THƯỜNG GPMBKHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT Ở 02 DỰ ÁN NGHIÊN CỨU

      • 4.2.1. Tình hình thu hồi đất để thực hiện các dự án trên địa bàn thị xãQuảng Yên

      • 4.2.2. Khái quát về 2 dự án

        • 4.2.2.1. Dự án Bệnh viện đa khoa thị xã

        • 4.2.2.2. Dự án Trung tâm Huấn luyện quốc gia về phòng chống khủng bố

      • 4.2.3. Kết quả xác định đối tượng được bồi thường, hỗ trợ

      • 4.2.4. Kết quả thực hiện chính sách bồi thường hỗ trợ ở 02 dự án

        • 4.2.4.1. Bồi thường về đất

        • 4.2.4.2. Bồi thường về tài sản gắn liền với đất

        • 4.2.4.3. Kết quả thực hiện chính sách hỗ trợ ở 02 dự án

    • 4.3. ẢNH HƯỞNG CỦA CHÍNH SÁCH BỒI THƯỜNG GIẢI PHÓNGMẶT BẰNG ĐẾN NGƯỜI DÂN CÓ ĐẤT BỊ THU HỒI Ở 02 DỰ ÁNNGHIÊN CỨU

      • 4.3.1. Tình hình sử dụng kinh phí được bồi thường hỗ trợ của người dân cóđất bị thu hồi

      • 4.3.2. Ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp

      • 4.3.3. Ảnh hưởng đến lao động và việc làm của người dân có đất bị thu hồi

    • 4.4. ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP VỀ CHÍNH SÁCH BỒI THƯỜNG,HỖ TRỢ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT

      • 4.4.1. Đánh giá chung về công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư ở 2 dự án

        • 4.4.1.1. Những mặt đã đạt được

        • 4.4.1.2. Những hạn chế và nguyên nhân

      • 4.4.2. Đề xuất giải pháp

        • 4.4.2.1. Giải pháp về tổ chức thực hiện

        • 4.4.2.2. Giải pháp về cơ chế bồi thường, hỗ trợ

  • PHẦN 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

    • 5.1. KẾT LUẬN

    • 5.2 KIẾN NGHỊ

  • TÀI LIỆU THAM KHẢO

Nội dung

- Kết quả nghiên cứu việc thực hiện chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng ở 2 dự án nghiên cứu: Dự án Bệnh viện đa khoa thị xã và Dự án trung tâm Huấn luyện quốc gia về phòng chống k

NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU

- Dự án Bệnh viện đa khoa thị xã nằm trong địa phận xã Tiền An, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh

- Dự án Trung tâm Huấn luyện quốc gia về phòng chống khủng bố nằm trong địa phận của 5 xã, phường: Minh Thành, Cộng Hòa, Tân An, Tiền An thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh.

THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

- Thời gian thực hiện chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng ở hai dự án nghiên cứu từ năm 2012 – 2016.

ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

- Việc thực hiện chính sách giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất của hai dự án:

+ Dự án Bệnh viện đa khoa thị xã Quảng Yên (Gọi tắt là Dự án 1)

+ Dự án Trung tâm Huấn luyện quốc gia về phòng chống khủng bố (Gọi tắt là Dự án 2)

- Những hộ dân chịu ảnh hưởng của hai dự án nghiên cứu.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

3.4.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của thị xã Quảng Yên 3.4.2 Đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng ở hai dự án nghiên cứu

3.4.3 Ý kiến của người dân có đất bị thu hồi về mức bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

3.4.4 Ảnh hưởng của chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng đến người dân có đất bị thu hồi ở 02 dự án nghiên cứu

3.4.5 Đề xuất một số giải pháp về việc thực hiện chính sách bồi thường, giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.5.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp

Phương pháp này để tìm hiểu và thu thập, hệ thống hóa và kế thừa các tài liệu đã nghiên cứu hoặc có liên quan đến đề tài, trên cơ sở đó có cái nhìn rõ nét về lĩnh vực nghiên cứu

- Thu thập văn bản pháp luật, thông tư, nghị định và các quy định địa phương liên quan đến chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng trên các trang mạng của Chính phủ, cổng thông tin điện tử tỉnh Quảng Ninh

- Thu thập các tài liệu, số liệu về điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội, số liệu về diện tích đất bị thu hồi, giá thị trường, giá đất bồi thường, các bản đồ, sơ đồ liên quan đến hai dự án nghiên cứu từ các phòng ban: Phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã Quảng Yên, Trung Tâm phát triển quỹ đất, Văn phòng đăng ký QSDĐ thị xã Quảng Yên, Phòng Kinh tế để làm cơ sở nghiên cứu

- Tham khảo các công trình đã nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu của các tác giả tham khảo trên internet và các nguồn khác

3.5.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp

Phương pháp này được tiến hành bằng việc tiếp cận các hộ gia đình, cá nhân, tổ chức có đất bị thu hồi để phỏng vấn, thu thập thông tin về công tác bồi thường giải phóng mặt bằng với số lượng phiếu điều tra 83 phiếu hộ gia đình, cá nhân thuộc các trường hợp bị thu hồi đất để thực hiện hai dự án nghiên cứu (Dự án 1: 45 hộ, dự án 2: 38 hộ) Ở dự án 1, số hộ dân bị thu hồi đất là 45 hộ, tiến hành điều tra cả 45 hộ Ở dự án 2 chọn hộ điều tra theo phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên từ các hộ dân có đất bị thu hồi: 38 hộ chiếm 31,7% tổng số hộ có đất bị thu hồi giai đoạn I

3.5.3 Phương pháp lựa chọn hộ điều tra Ở dự án 1, số hộ được điều tra phỏng vấn là tất cả hộ dân có đất bị thu hồi

Do ở dự án này, các hộ dân bị thu hồi chủ yếu là đất ở trong khu dân cư tập trung, thuận lợi cho việc điều tra phỏng vấn, nên chúng tôi thực hiện việc điều tra trên toàn bộ số hộ dân bị thu hồi Ở dự án 2, số hộ dân bị thu hồi trải rộng trên địa bàn 3 xã phường với phần diện tích bị thu hồi lớn hơn rất nhiều, chủ yếu là đất nông nghiệp, khó khăn cho công tác điều tra phỏng vấn nên chúng tôi điều tra tổng số 38 hộ tương đương 31,7% hộ dân có đất bị thu hồi ở giai đoạn I của dự án Phương pháp lựa chọn hộ điều tra như sau:

Tổng diện tích thu hồi đất của dự án giai đoạn I là 150,8 ha gồm 5 loại đất chính: Đất ở, đất trồng nuôi trồng thủy sản, đất trồng cây hàng năm còn lại, đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất (Ngoài ra còn có một phần nhỏ diện tích đất hành lang đường, đất chưa sử dụng), tổng số hộ có đất bị thu hồi là 119 hộ Cách chọn hộ điều tra là theo loại đất và số hộ có đất bị thu hồi của loại đất đó Số % hộ được chọn để phỏng vấn theo loại đất, tương đương với % số hộ có đất bị thu hồi trên tổng số hộ bị thu hồi của loại đất đó Cụ thể:

- Đất nuôi trồng thủy sản: Số hộ có đất bị thu hồi là 41 hộ tương đương 34,4% tổng số hộ có đất bị thu hồi Chọn 13 hộ để tiến hành điều tra

- Đất rừng sản xuất: Số hộ có đất bị thu hồi là 27 hộ tương đương 22,4% tổng số hộ có đất bị thu hồi Chọn 9 hộ để tiến hành điều tra

- Đất trồng cây hàng năm còn lại: Số hộ có đất bị thu hồi là 26 hộ tương đương 21,6% tổng số hộ có đất bị thu hồi Chọn 8 hộ để tiến hành điều tra

- Đất trồng cây lâu năm: Số hộ có đất bị thu hồi là 24 hộ tương đương 20,8% tổng số hộ có đất bị thu hồi Chọn 7 hộ để tiến hành điều tra

- Đất ở: Có 1 hộ dân có đất bị thu hồi chọn hộ dân này để tiến hành điều tra

3.5.4 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu

Các số liệu điều tra được tiến hành tổng hợp, phân tích và xử lý bằng phần mềm Excel

Việc thực hiện chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng sẽ được đánh giá qua 3 nội dung chính đó là: Tình hình thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư Với mỗi tiêu chí đánh giá sẽ được đánh giá bằng cách so sánh thực tế quá trình thực hiện với các quy định về pháp lý trên 3 tiêu chí chính: (1) xác định đối tượng bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; (2) cách thức tiến hành; (3) kết quả thực hiện Để đánh giá ảnh hưởng của việc thu hồi đất, nghiên cứu đã tiến hành điều tra quan điểm của người có đất bị thu hồi đối với việc thực hiện chính sách bồi thường, giải phóng mặt bằng dựa trên các tiêu chí: việc thực hiện chính sách, mức độ phù hợp của chính sách, mục đích sử dụng tiền bồi thường hỗ trợ, tình hình đời sống của người dân sau khi bị thu hồi đất từ đó rút ra được những giải pháp phù hợp với thực tế ở thị xã Quảng Yên.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI CỦA THỊ XÃ QUẢNG YÊN

Quảng Yên là một Thị xã trung du ven biển nằm ở phía Tây nam của tỉnh

Quảng Ninh, có tọa độ địa lý 20 0 45’06” đến 21 0 02’09” vĩ độ Bắc và từ

Phía Bắc giáp huyện Hoành Bồ;

Phía Tây bắc giáp thành phố Uông Bí;

Phía Tây nam giáp huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng;

Phía Đông giáp thành phố Hạ Long;

Phía Nam giáp đảo Cát Bà - thành phố Hải Phòng

Hình 4.1 Sơ đồ vị trí thị xã Quảng Yên – tỉnh Quảng Ninh

Thị xã Quảng Yên có diện tích tự nhiên 337,57 km 2 gồm 19 xã phường (trong đó có 11 xã và 8 phường)

Với những lợi thế tối ưu về vị trí địa lý nằm liền kề giữa 3 thành phố là Hải Phòng, thành phố Hạ Long và thành phố Uông Bí thông qua hệ thống giao thông đường bộ, đường thuỷ Thị xã Quảng Yên có điều kiện phát triển kinh tế đặc biệt là có tiềm năng lớn về cửa mở giao lưu thương mại trong nước cũng như Quốc tế bằng đường biển và liên kết không gian kinh tế với các thành phố Hạ Long, Hải Phòng để tạo thành trục kinh tế động lực ven biển Hải Phòng - Quảng Yên - Hạ Long của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ

Thị xã Quảng Yên nằm trong khu vực giáp ranh giữa vùng núi cánh cung Đông Triều - Móng Cái và vùng đồng bằng ven biển có nhiều sông lạch nên địa hình đa dạng, phức tạp Sông Chanh là một nhánh của sông Bạch Đằng đã chia Thị xã Quảng Yên thành 2 vùng rõ rệt a Vùng Hà Bắc

Gồm 7 phường và 4 xã nằm bên tả ngạn sông Chanh Địa hình chủ yếu là đồi núi thấp, ruộng bậc thang, xen kẽ là những khu đất rộc, mang dáng dấp của miền trung du thấp dần về phía ven biển, có một số đồi cao, núi thấp (núi Bàn Cờ

450 m, núi Na 225 m và núi Vũ Tướng 200 m)

Các xã Sông Khoai, phường Tân An và phường Hà An là vùng đất mới do khai hoang lấn biển nên địa hình bằng phẳng hơn Có 01 xã đảo là Hoàng Tân nay đã được nối với các xã bằng tuyến đường trục huyện Chợ Rộc - Hoàng Tân

Xã Hoàng Tân địa hình chủ yếu là đồi núi, phần còn lại là đất cát pha địa hình thấp chịu ảnh hưởng của biển và các cửa sông bao quanh như sông Hốt, sông Bình Hương và sông Bến Giang b Vùng Hà Nam

Gồm 4 phường và 4 xã nằm ở hữu ngạn sông Chanh được hình thành từ thế kỷ thứ XV là một hòn đảo được bao bọc bởi 34 km đê biển với cao trình 5,5 m Đây là vùng đất tạo nên do quai đê lấn biển, mở rộng các bãi bồi ven sông và bãi sú vẹt ven biển Vùng này bằng phẳng nhưng địa hình thấp so với mặt nước biển, chịu ảnh hưởng trực tiếp của biển nên đất chua mặn là chủ yếu Khu ngoài đê là vùng bãi triều đã và đang được khoanh bao để nuôi trồng thủy hải sản tạo điều kiện phát triển ngành thuỷ sản

Hình 4.2 Sông Chanh, chia thị xã Quảng Yên thành 2 phần là Hà Nam và

Thị xã Quảng Yên là Thị xã trung du ven biển chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa nên nóng ẩm mưa nhiều Theo số liệu của trạm dự báo khí tượng thuỷ văn Quảng Ninh, thị xã Quảng Yên có những đặc trưng khí hậu được thể hiện ở bảng 4.1:

Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1955 mm Năm có lượng mưa lớn nhất 2.636 mm, nhỏ nhất 916 mm Mưa ở thị xã Quảng Yên phân bố không đều trong năm, phân hoá theo mùa tạo ra hai mùa trái ngược nhau là mùa mưa nhiều và mùa mưa ít, chi phối mạnh mẽ tới nền sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp

Mùa mưa nhiều: Kéo dài trong 6 tháng từ tháng 5 đến tháng 10, mưa nhiều tập trung chiếm 88% tổng lượng mưa cả năm, tháng có lượng mưa lớn nhất là tháng 7 (466,6 mm)

Mùa mưa ít: Từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, lượng mưa rất nhỏ chỉ chiếm 12% lượng mưa cả năm, tháng có lượng mưa ít nhất là tháng 12 (19 mm)

Bảng 4.1 Một số yếu tố khí hậu của thị xã Quảng Yên giai đoạn 2005 -2015

Yếu tố ĐVT Tháng Tổng

Nhiệt độ trung bình Độ C 15,7 17,7 19,8 23,6 27,3 28,9 28,8 28,2 27,5 25,6 22,3 17,9 Nhiệt độ trung bình năm: 23,6

Số giờ nắng trung bình

Giờ 66,9 43,1 20,9 77,9 155,6 167 165,2 148,7 152,0 152,8 139,6 96,6 1386,3 Độ ẩm không khí

% 78,7 85,4 87,2 85,5 83,1 84,3 84 85,4 82,1 77,8 76,5 75 Độ ẩm trung bình năm: 82,1

Tại trạm quan trắc Bãi Cháy

Nguồn: Niên giám thống kê

- Nhiệt độ không khí: Ở vùng thấp dưới 200 m có tổng tích ôn 8.000 0 C và nhiệt độ trung bình năm là 23,6 0 C, vùng cao từ 200 m - 1.000 m có tổng tích ôn dưới 7.500 0 C, nhiệt độ trung bình năm 23 - 24 0 C

Thị xã Quảng Yên chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc nên mùa đông khá lạnh, nhiệt độ trung bình tháng 1 ở vùng ven biển dao động từ 13 - 14 0 C Nhiệt độ tối thấp tuyệt đối vào tháng 12 và tháng 1 là 3 0 C Mùa hè nhiệt độ khá cao, trị số trung bình tháng 7 ở hầu hết các nơi trong thị xã là 28,8 0 C Nhiệt độ tối cao tuyệt đối đạt tới trị số 38,9 0 C

- Nắng : Ở thị xã Quảng Yên có số giờ nắng trong một năm khá cao so với các huyện khác trong tỉnh, từ năm 2005 – 2015 số giờ nắng trung bình khoảng 1386,3 giờ Nắng tập trung từ tháng 5 đến tháng 12, tháng có số giờ nắng ít nhất là tháng 2 và tháng 3

- Độ ẩm không khí : Độ ẩm không khí tương đối trung bình hàng năm của Thị xã là 82,1%, cao nhất vào tháng 3 đạt tới trị số 87,2%, thấp nhất vào tháng 12 cũng đạt 75% Sự chênh lệch độ ẩm không khí tương đối giữa các vùng trong thị xã không lớn lắm, nó phụ thuộc vào độ cao, địa hình và sự phân hoá theo mùa, mùa mưa có độ ẩm không khí cao hơn mùa mưa ít

Thị xã Quảng Yên có 2 loại gió thổi theo mùa chính là gió đông bắc và gió đông nam:

+ Gió đông bắc: Từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau thịnh hành gió bắc và đông bắc tốc độ gió từ 2 đến 4 m/s Gió mùa đông bắc tràn về theo đợt, mỗi đợt kéo dài từ 3 đến 5 ngày, tốc độ gió trong những đợt gió mùa đông bắc đạt tới cấp

5 - 6, ngoài khơi cấp 7 - 8 Đặc biệt gió mùa đông bắc tràn về thường lạnh, giá rét ảnh hưởng đến mùa màng, gia súc và sức khoẻ con người

+ Gió đông nam: Từ tháng 5 đến tháng 9 thịnh hành gió nam và đông nam, gió thổi từ vịnh vào mang theo nhiều hơi nước Tốc độ gió trung bình 2 - 4 m/s (cấp 2 - 3) có khi tới cấp 5 - 6

ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BỒI THƯỜNG

4.2.1 Tình hình thu hồi đất để thực hiện các dự án trên địa bàn thị xã Quảng Yên

Thị xã Quảng Yên vốn là một huyện thuần nông và mới được tái lập thành thị xã từ năm 2012 Với vị trí địa lý thuận lợi cho phát triển kinh tế cộng hưởng với công cuộc hiện đại hóa, đô thị hóa của cả nước, trong những năm gần đây, thị xã Quảng Yên đã thu hút vốn đầu tư, nhiều dự án lớn đã được thực hiện trên địa bàn thị xã Trong giai đoạn 2012 – 2016, tình hình thu hồi đất để thực hiện các dự án trên địa bàn thị xã Quảng Yên được thể hiện ở bảng 4.4:

Bảng 4.4 Tình hình thu hồi đất để thực hiện các dự án trên địa bàn thị xã

Loại dự án Số lượng

Dự án chưa thực hiện xong

Dự án phát triển kinh tế 10 Trên 95% 1

Người dân không nhận tiền bồi thường do giá bồi thường về đất thấp

Dự án phát triển văn hóa xã hội 12 Trên 97% 1

Người dân không đồng ý nhận đất tái định cư, cũng không đồng ý tìm nơi ở mới Yêu cầu được TDC ô đất khác

Dự án quốc phòng an ninh 5 Trên 98% 1 Mới thực hiện xong giai đoạn 1

Nguồn: Ban quản lý dự án TX Quảng Yên Nhận xét:

- Tổng số dự án được thực hiện trên địa bàn thị xã Quảng Yên trong giai đoạn 2012 – 2016 là 27 dự án, gồm các dự án vừa và lớn, trong đó có 10 dự án phục vụ phát triển kinh tế, 12 dự án phục vụ phát triển xã hội, và 5 dự án phục vụ mục đích an ninh quốc phòng

- Hầu hết các dự án có tỷ lệ thu hồi đất cao, gần như bàn giao được đất sạch cho chủ đầu tư Tỷ lệ thu hồi đất đạt 95% - 98%

- Tính đến thời điểm này, có 3 dự án chưa thực hiện xong, nguyên nhân là do đơn giá bồi thường về đất và chính sách tái định cư Đánh giá chung:

- Công tác giải phóng mặt bằng là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, quan trọng cho việc phát triển nền kinh tế - xã hội, quốc phòng- an ninh lâu dài của địa phương, đây cũng là một nhiệm vụ khó khăn, phức tạp vì ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống, sản xuất của nhiều người dân có đất bị thu hồi Hiện nay, việc khiếu kiện liên quan đến thu hồi đất và bồi thường GPMB là vấn đề nhức nhối nhất và rất nghiêm trọng, nó không những ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của công dân mà còn liên quan đến tình hình chính trị, chủ trương chính sách của Đảng và Nhà Nước

Từ những quy định chung của cả nước, của tỉnh, thị xã Quảng Yên đã áp dụng và vận dụng những chính sách về bồi thường, hỗ trợ một cách linh hoạt nhằm tạo những điều kiện thuận lợi tốt nhất cho người dân Đa số các dự án nhận được sự đồng tình, hưởng ứng của nhân dân và cũng đã hạn chế rất nhiều việc khiếu kiện của nhân dân trên địa bàn

Cùng với những thành công đã đạt được thì quá trình xây dựng phương án, tính toán giá trị bồi thường các dự án trên địa bàn thị xã đã bộc lộ những hạn chế, như:

+ Đơn giá đất chưa sát với giá chuyển nhượng thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường Vì thế không đáp ứng được cùng lúc bảy mục đích mà quy định đã đề ra, đặc biệt là vướng mắc trong việc tính toán bồi thường về đất

+ Việc xây dựng đơn giá đất thông qua lấy ý kiến từ phường, xã là những cơ quan thiếu chuyên môn là một điều không phù hơp, không thiết thực

+ Việc thu thập thông tin về giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất của cơ quan chuyên môn còn hạn chế, giá theo hồ sơ chuyển nhượng giữa các bên nộp tại các cơ quan Thuế, Tài nguyên và Môi trường không đúng thực tế, chưa có điều tra theo hướng thực tế, chỉ thu thập thông tin một chiều, không có đối chiếu là chưa đủ cơ sở

Ngoài ra, do mục đích thu hút đầu tư mà việc xây dựng đơn giá đất còn được xác định thấp hơn, vì thế sẽ gây thất thoát cho Nhà nước khi tính để thu tiền sử dụng đất, giao đất không thông qua đấu giá, cho thuê đất và đơn giá bồi thường về đất thấp là thách thức lớn nhất đối với thực hiện công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng

+ Vấn đề vướng mắc nhiều nhất sau đơn giá bồi thường về đất là việc bố trí tái định cư Đối với những người bị thu hồi đất thì việc bố trí tái định cư xem như là cơ hội để Nhà nước bù đắp cho họ những chênh lệch trong việc áp dụng đơn giá bồi thường và cũng là sự khuyến khích để họ bàn giao mặt bằng, bỏ đi những gì là thân quen, kỷ niệm để chuyển đến một nơi ở mới Nhưng ở một số dự án, đặc biệt là những dự án ở khu vực trung tâm đô thị, người bị thu hồi đất ở những vị trí kinh doanh thuận lợi thì quỹ đất để bố trí tái định cư không đáp ứng được nguyện vọng của họ và cũng chưa đáp ứng yêu cầu đề ra theo quy định về bồi thường giải phóng mặt bằng

Chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư ngày càng được Nhà nước quan tâm giải quyết thoả đáng hơn Tuy nhiên, việc thay đổi chính sách cùng với việc thiếu sự vận dụng cụ thể, linh hoạt đã dẫn tới một số dự án có mức bồi thường hỗ trợ khác nhau đã dẫn tới sự so bì và khiếu kiện kéo dài của người có đất bị thu hồi Vì vậy việc giải phóng mặt bằng để thực hiện một số dự án không bảo đảm tiến độ, thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành; chưa làm tốt công tác tuyên truyền, vận động, giải thích cho nhân dân hiểu rõ quy định của pháp luật; hoặc né tránh, thiếu cương quyết, không giải quyết dứt điểm, làm cho việc giải phóng mặt bằng bị dây dưa kéo dài nhiều năm Đội ngũ cán bộ làm công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng gồm các thành viên được trưng tập từ các ngành khác nhau, thiếu kinh nghiệm, chưa am hiểu sâu chính sách, pháp luật về đất đai, lúng túng trong việc giải thích chính sách pháp luật cho nhân dân, thậm chí làm trái quy định của pháp luật, dẫn tới khiếu nại và phải tạm dừng việc giải phóng mặt bằng

Nhiều nhà đầu tư không đủ khả năng về tài chính để bồi thường, hỗ trợ cho người có đất bị thu hồi Việc ngân hàng rút bỏ cam kết, không cho vay vốn khi thị trường nhà đất chững lại cũng ảnh hưởng đến việc huy động vốn của nhà đầu tư để triển khai dự án

- Trong nhiều trường hợp, việc thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã được giải quyết đúng pháp luật, thoả đáng nhưng người sử dụng đất hoặc do không hiểu pháp luật, cố ý trì hoãn để được bồi thường hỗ trợ thêm nên không chấp hành quyết định thu hồi đất, thậm chí liên kết khiếu nại đông người, gây áp lực với cơ quan Nhà nước Trong khi đó, cơ chế về giải quyết đơn thư khiếu nại còn nhiều bất cập đã làm cho việc giải quyết khiếu nại kéo dài, gây ách tắc việc giải phóng mặt bằng

Việc thực hiện nghiên cứu đề tài này mong muốn sẽ đề xuất được một số giải pháp góp phần hoàn thiện hơn chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng trên địa bàn thị xã Quảng Yên

4.2.2 Khái quát về 2 dự án

4.2.2.1 Dự án Bệnh viện đa khoa thị xã

- Được thành lập từ việc sát nhập Trung tâm y tế thị xã Quảng Yên và Bệnh viện đa khoa thị xã theo Quyết định số 1328/QĐ-UBND ngày 29/4/2016 của UBND tỉnh Quảng Ninh

Hình 4.4 Trung tâm y tế thị xã Quảng Yên trực thuộc Sở y tế tỉnh Quảng Ninh

ẢNH HƯỞNG CỦA CHÍNH SÁCH BỒI THƯỜNG GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG ĐẾN NGƯỜI DÂN CÓ ĐẤT BỊ THU HỒI Ở 02 DỰ ÁN NGHIÊN CỨU

4.3.1 Tình hình sử dụng kinh phí được bồi thường hỗ trợ của người dân có đất bị thu hồi

Qua điều tra cho thấy, sau khi nhận tiền bồi thường, hỗ trợ, các hộ dân có đất bị thu hồi ở 02 dự án nghiên cứu sử dụng tiền vào 6 mục đích đó là: Đầu tư sản xuất kinh doanh, dịch vụ, xây dựng, sửa chữa nhà cửa, mua sắm, tiết kiệm, đầu tư học hành, mục đích khác Qua tổng hợp phiếu điều tra có bảng 4.14

Từ bảng 4.14 ta thấy người dân có đất bị thu hồi:

+ Dùng tiền đầu tư vào sản xuất kinh doanh dịch vụ: Ở dự án 1 có 5 hộ (11,1%), ở dự án 2 có 9 hộ (23,7%)

+ Dùng tiền để xây dựng, sửa chữa nhà: Ở dự án 1 có 12 hộ (26,7%), ở dự án 2 có 15 hộ (39,5%)

+ Dùng tiền mua sắm: Ở dự án 1 có 5 hộ (11,1 %), ở dự án 2 có 7 hộ (18,4 %)

Bảng 4.14 Phương thức sử dụng tiền bồi thường, hỗ trợ của người dân có đất bị thu hồi ở 02 dự án nghiên cứu

Nội dung Dự án 1 Dự án 2

1.Đầu tư sản xuất kinh doanh, dịch vụ 5 11,1 9 23,7

2.Xây dựng, sửa chữa nhà cửa 12 26,7 15 39,5

+ Dùng tiền để tiết kiệm: Ở dự án 1 có 22 hộ (48,9%), ở dự án 2 có 32 hộ (84,2%)

+ Dùng tiền đầu tư học hành: Ở dự án 1 có 5 hộ (11,1%), ở dự án 2 có 5 hộ (13,16%)

+ Dùng tiền vào mục đích khác: ở dự án 1 có 33 hộ (73,3%), ở dự án 2 có

15 hộ (39,5%) như trả nợ, chia cho con cái, đóng góp

- Các hộ dân có đất bị thu hồi không dùng tiền bồi thường, hỗ trợ vào một mục đích nhất định, họ chia nhỏ khoản tiền ra và sử dụng vào các mục đích khác nhau

- Những hộ dân dùng tiền để đầu tư vào sản xuất kinh doanh dịch vụ ở dự án 1 chiếm tỉ lệ thấp hơn dự án 2 Bởi vì việc thu hồi đất ở dự án 1 ít ảnh hưởng tới việc làm của người dân hơn là dự án 2 Ở dự án 2, số hộ dùng tiền để đầu tư vào sản xuất kinh doanh chủ yếu là những người dưới 35 tuổi, là hộ trực tiếp sản xuất nông nghiệp bị thu hồi đất nuôi trồng thủy sản hoặc đất rừng sản xuất Họ dùng tiền bồi thường hỗ trợ để chuyển sang một công việc mới

- Đa phần các hộ dân dùng tiền bồi thường, hỗ trợ vào mục đích gửi tiết kiệm Những hộ này là những người đã quá già hoặc sắp qua độ tuổi lao động, con cái đã thành gia lập thất, có một khoản tiền lớn không biết sử dụng vào mục đích gì nên đem gửi tiết kiệm

- Rất ít hộ dân sử dụng tiền để đầu tư học hành, cho thấy rằng trình độ dân trí còn thấp, họ không quan tâm tới việc cho con em mình có môi trường học tập tốt nhất

4.3.2 Ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp

Sự ảnh hưởng này chủ yếu là ở dự án 2, vì ở dự án này diện tích đất thu hồi chính là đất nông nghiệp

- Đất đai vừa là công cụ sản xuất, vừa là tư liệu sản xuất của con người, đặc biệt không thể thay thế trong ngành nông nghiệp Việc thu hồi đất đã làm giảm diện tích đất nông nghiệp Cụ thể, giai đoạn 1 của dự án đã làm giảm 150,8 ha đất nông nghiệp trong đó có đất nuôi trồng thủy sản, đất rừng sản xuất, đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm

- Quỹ đất nông nghiệp thì không thể mở rộng, còn dân số thì ngày càng tăng Khi diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp, sẽ không còn đất để người dân sản xuất nông nghiệp, đồng nghĩa với việc họ sẽ chuyển sang những ngành nghề khác để lao động, những kinh nghiệm trong sản xuất nông nghiệp sẽ mai một dần, đặc biệt trong nuôi trồng thủy sản và trồng rừng Còn đối với những người dân bị thu hồi một phần diện tích đất nông nghiệp, khi diện tích đất bị thu hẹp, họ buộc phải thay đổi mô hình sản xuất để phù hợp với diện tích đất còn lại

4.3.3 Ảnh hưởng đến lao động và việc làm của người dân có đất bị thu hồi Lao động và việc làm là hai yếu tố quyết định tới thu nhập và là nguyên nhân của sự phân hóa giàu nghèo Do không còn quỹ đất canh tác dự trữ để bồi thường, nên khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp để thực hiện các dự án, cũng như các địa phương khác, thị xã Quảng Yên thực hiện bồi thường, hỗ trợ bằng tiền Cùng với quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp sang mục đích công nghiệp, đô thị, việc thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ cho người có đất thu hồi bị thu hồi đã có những tác động rõ rệt đến vấn đề lao động, việc làm của người dân Ta có bảng 4.15

Bảng 4.15 Cơ cấu việc làm theo lĩnh vực trước và sau khi thu hồi đất

Công việc Dự án 1 Dự án 2

Nguồn: Tổng hợp phiếu điều tra Ở dự án 1: Diện tích thu hồi đất chủ yếu là đất ở và đất vườn trong cùng thửa đất có nhà ở, có 2 hộ dân bị thu hồi đất rừng sản xuất, tuy nhiên 2 hộ này không bị thu hồi hết diện tích, phần diện tích đất rừng sản xuất còn lại vẫn đủ để họ tiếp tục sản xuất Do vậy, việc thu hồi đất ở dự án 1 không tác động tới cơ cấu lao động theo lĩnh vực Ở dự 2: Diện tích thu hồi đất chủ yếu là đất nông nghiệp, với diện tích lớn nên việc thu hồi đất, cụ thể:

- Lao động trong lĩnh vực nông nghiệp: Lao động trong lĩnh vực này giảm từ 56 người xuống còn 34 người Nguyên nhân giảm là do khi bị thu hồi đất nông nghiệp, những người này bị mất việc làm, trở nên thất nghiệp, một số khác chuyển sang các lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ, và các lĩnh vực khác

- Lao động trong lĩnh vực nông nghiệp giảm sẽ đồng nghĩa với việc lao động trong lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ tăng Cụ thể: trong lĩnh vực công nghiệp, lao động tăng từ 57 người lên 61 người, trong lĩnh vực dịch vụ, lao động tăng từ 8 người lên 15 người

- Những lao động chuyển sang ngành công nghiệp và dịch vụ là những người có độ tuổi lao động dưới 35 tuổi, là những người còn khả năng học tập, có ý tưởng kinh doanh

- Ở dự án này: lao động ở lĩnh vực nông nghiệp sau khi thu hồi giảm 22 người, nhưng lao động tăng ở các lĩnh vực khác chỉ là 11 người, vậy có 11 người trong những hộ được điều tra phỏng vấn trước khi thu hồi đất họ làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp, tuy nhiên sau thu hồi, họ trở nên thất nghiệp, đều là những người trên 35 tuổi, họ ngại tiếp thu cái mới, lâu ngày không tiếp xúc với học hành, khả năng cao không thể thích nghi với môi trường lao động mới, nên không dễ dàng tìm được công việc ngay sau khi bị thu hồi đất

- Những người trên 35 tuổi rất cần được sự quan tâm vì sau khi thu hồi hết đất sản xuất, họ rất dễ bị dẫn đến thất nghiệp do ở độ tuổi này khó tìm được việc làm ổn định trong các doanh nghiệp Đây là những đối tượng cần được Nhà nước quan tâm, hỗ trợ để họ có thể kiếm được việc làm, kiếm thêm thu nhập tránh trở thành gánh nặng cho gia đình.

ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP VỀ CHÍNH SÁCH BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT

HỖ TRỢ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT

4.4.1 Đánh giá chung về công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư ở 2 dự án 4.4.1.1 Những mặt đã đạt được

- Chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trong thời gian qua đã có nhiều thay đổi (từ Nghị định số 197/2004/NĐ-CP đến Nghị định số 84/2007/NĐ-CP, Nghị định số 69/2009/NĐ-CP và hiện nay là các Nghị định số 43,44,45,46,47 năm 2014 của Chính phủ) theo hướng có lợi cho người dân bị thu hồi đất, thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước tới người dân bị thu hồi đất Lợi ích giữa các bên liên quan là Nhà nước – Người dân - Nhà đầu tư đã được giải quyết hài hòa hơn Ngoài việc bồi thường, các chính sách hỗ trợ để nhân dân ổn định cuộc sống đã được chú trọng hơn

- Việc thực hiện chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng đã theo đúng quy định của pháp luật, đảm bảo tính công bằng, dân chủ, công khai

- Dự án 1 đã hoàn thành việc bồi thường, giải phóng mặt bằng đúng tiến độ, góp phần không nhỏ để hoàn thành dự án nhanh, đúng thời gian quy định Tuy diện tích thu hồi chủ yếu là đất ở Còn ở dự án 2 đã hoàn thành giai đoạn 1 của dự án Diện tích thu hồi là đất nông nghiệp nên công tác bồi thường, hỗ trợ không gặp nhiều khó khăn

- Hội đồng GPMB, Trung tâm phát triển quỹ đất và cá cơ quan chức năng có liên quan đến việc thực hiện chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng đã áp dụng rất tốt Luật đất đai, các nghị định hướng dẫn thi hành luật, các thông tư, quyết định của UBND cấp tỉnh, UBND cấp huyện vào thực tế

- Công tác tuyên truyền, vận động người dân hiểu được tầm quan trọng và sự cần thiết của 2 dự án và tuân thủ theo pháp luật rất có hiệu quả

- Đời sống của người dân bị thu hồi đất được nâng lên rõ rệt, người dân được tiếp cận với cơ hội việc làm nhiều hơn với thu nhập cao hơn, cuộc sống gia đình dễ chịu hơn, người dân đã quan tâm đầu tư cho con cái học hành, tài sản đồ dùng sinh hoạt đầy đủ, tiện nghi hơn thể hiện mức sống tốt hơn Kinh tế các hộ gia đình có tăng trưởng, người nông dân thường có đặc trưng là đất đai rộng, có sân, có vườn, ao để trồng trọt và chăn nuôi Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội của thị xã, thị trường bất động sản ngày càng phát triển, nguồn tiền đầu tư vào bất động sản ở Quảng Yên không phải chỉ có ở Quảng Ninh mà còn ở nhiều tỉnh thành khác trong nước Giá đất tăng, nhiều người nông dân trở thành giàu có

4.4.1.2 Những hạn chế và nguyên nhân a Hạn chế Ở dự án 1 kết quả giải phóng mặt bằng đạt hơn 99% và ở dự án 2 đã hoàn thành giai đoạn I của việc thu hồi đất, tuy nhiên 2 dự án này là một trong những dự án đầu tiên mà việc giải phóng mặt bằng được thực hiện theo luật đất đai

2013, nên trong quá trình thực hiện còn nhiều hạn chế như:

- Người dân chưa được tiếp cận một cách chi tiết các chính sách bồi thường, hỗ trợ khi bị thu hồi đất, các chính sách này còn khó hiểu, dẫn chiếu ở rất nhiều văn bản dẫn đến khó khăn, lúng túng đối với cả cơ quan thực hiện bồi thường và đối với cả người dân Và do không hiểu biết nên khi bỗng nhiên bị thu hồi đất, mất nơi ở và nơi lao động, ảnh hưởng tới đời sống, người dân dễ bị kích động dẫn đến khiếu kiện và không chấp hành các quyết định thu hồi đất Khi xảy ra khiếu kiện, khiếu nại, thời gian giải quyết thời kéo dài, rườm ra, ảnh hưởng tới tiến độ giải phóng mặt bằng

- Giá đất bồi thường thấp

+ Thể hiện ở dự án 1 là giá bồi thường về đất vườn trong cùng thửa đất có nhà ở Thực tế đã có trường hợp như sau: Hai hộ dân liền kề nhau, cùng có diện tích đất vườn trong cùng thửa đất có nhà ở được bồi thường Một hộ chuyển mục đích sử dụng đất từ đất vườn trong cùng thửa đất có nhà ở sang đất ở, theo quy định của pháp luật quy định tại Nghị định 45/QĐ- UBND ngày 15/5/2014 của Chính Phủ quy định về thu tiền sử dụng đất, hộ dân này sẽ phải nộp 50% tiền sử dụng đất chênh lệch tiền sử dụng đất theo giá nhà nước của đất ở và đất trồng cây lâu năm, đến khi được bồi thường sẽ được bồi thường 100% theo giá bồi thường đất ở (cao hơn giá nhà nước) Các hộ lân cận sẽ có sự so sánh và dẫn đến khiếu kiện, khiếu nại

+ Thể hiện ở dự án 2 đó là giá bồi thường về đất nông nghiệp Giá bồi thường có sự chênh lệch so với giá thị trường, tuy không lớn nhưng cũng ảnh hưởng tới những hộ dân có đất bị thu hồi

- Trình độ của người nông dân còn rất hạn chế, đa số chưa qua đào tạo, khi bị thu hồi đất khiến công việc đang làm không thể làm được nữa thì trước mắt họ đã tìm cho mình được những công việc phù hợp với khả năng, chủ yếu là lao động thủ công, làm công ăn lương Nhưng đây là những công việc không ổn định, bấp bênh, phụ thuộc nhiều vào sức khỏe Về phía chính quyền và nhà đầu tư, việc hỗ trợ chuyển đổi nghề chủ yếu bằng tiền, mục đích chính là giải phóng mặt bằng, không quan tâm tới cuộc sống sau thu hồi của người dân diễn ra như thế nào Việc đào tạo để chuyển đổi nghề nghiệp cho nhân dân chưa được quan tâm thích đáng

- Chính sách tái định cư chưa hợp lý Quỹ đất địa phương hạn chế, việc quy hoạch khu tái định cư chưa chủ động Nếu có thì các ô đất tái định cư thường không phải là những ô đất ở vị trí thuận lợi cho đời sống sản xuất và sinh hoạt, nên các hộ dân thường chọn giải pháp nhận tiền và tự đi tìm nơi ở tái định cư mới b Nguyên nhân

- Công tác tuyên truyền cho nhân dân về các chính sách bồi thường, hỗ trợ chưa thực hiện tốt, khiến người dân không hiểu, khiến họ chỉ quan tâm tới lợi ích của bản thân, được hay không được và được cao hay thấp, dẫn tới dễ bị kích động, không tuân thủ quyết định thu hồi đất

- Việc phổ biến, giới thiệu và học tập các văn bản luật mới đối với các cán bộ công chức, viên chức làm ở các đơn vị, cơ quan liên quan tới việc bồi thường giải phóng mặt bằng chưa tốt, khiến các đồng chí khi tiếp cận và áp dụng vào thực tế gặp nhiều lung túng

- Công tác lập hồ sơ địa chính và việc thực hiện chỉnh lý biến động đất đai ở các địa phương chưa thực hiện đầy đủ trong khi đó, công tác quản lý đất đai ở các địa phương còn lỏng lẻo, việc thực hiện pháp luật đất đai trước đây không đồng bộ, khó có căn cứ tính hợp lệ, hợp pháp, nguồn gốc quyền sử dụng đất khiến cho việc trả lời các vướng mắc, khiệu nại, đơn thư của người dân bị chậm trễ, gây bức xúc cho người dân, ảnh hưởng tới tiến độ thu hồi đất

- Việc nghiên cứu và xây dựng giá bồi thường chưa sát với thực tế Việc xâu dựng giá bồi thường còn hời hợt, thiếu kinh nghiệm dẫn tới việc áp dụng sai phương pháp xác định giá đất đối với phần diện tích đất vườn trong cùng thửa đất có nhà ở, khiến giá bồi thường thấp, gây bức xúc cho người có đất bị thu hồi

Ngày đăng: 14/06/2021, 12:26

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w