1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế trang trại tại huyện lạc thuỷ tỉnh hoà bình

118 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 2,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

2.1.2 Khái niệm về trang trại và kinh tế trang trại • Khái niệm về trang trại Trang trại là loại hình sản xuất nông nghiệp của các hộ gia đình nông dân, hình thành và phát triển trong

Trang 1

1 Mở đầu

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Phát triển toàn diện kinh tế - xã hội nông thôn là một chủ trương mang tính chiến lược của Đảng và Nhà nước trong sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện

đại hoá đất nước Trong những năm đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đã thi hành hàng loạt các chính sách cải cách nền kinh tế, đã tạo ra một luồng sinh khí mới trên mọi mặt của đất nước và đặc biệt là tạo ra những chuyển biến hết sức căn bản trong sản xuất nông nghiệp ở nước ta

Từ sau Nghị quyết 10/NQ-TW của Bộ Chính trị (4/1988) về đổi mới

quản lý kinh tế nông nghiệp, quan hệ sản xuất trong nông nghiệp nước ta được

điều chỉnh một bước Song phải kể đến Nghị quyết VI của Ban Chấp hành

Trung ương (khoá VI - 3/1989) hộ gia đình xã viên mới được xác định là đơn

vị kinh tế tự chủ, cùng một số chính sách kinh tế mới được ban hành, kinh tế

hộ nông dân nước ta đã có những bước phát triển đáng kể Các chủ trương, chính sách của Đảng đã tạo ra khuôn khổ pháp lý và môi trường cho sự hình thành và phát triển một hình thức tổ chức sản xuất mới đó là các trang trại

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê năm 2003, cả nước ta có khoảng 52.554 trang trại các loại, đã huy động được hơn 7.589,5 tỷ đồng từ các ngân hàng và các tổ chức tín dụng, đã thu hút hơn 443 nghìn lao động tham gia vào các hoạt động sản xuất trong trang trại, khai thác và đưa vào sử dụng 298.456,4 ha đất trống, đồi núi trọc, ao hồ và đất hoang hoá vào sản xuất, hàng năm các trang trại trong cả nước đã tạo ra được khối lượng nông sản

hàng hoá có giá trị hơn 894,7 tỷ đồng (chiếm 10% giá trị tổng sản phẩm của các ngành nông, lâm, thuỷ sản), riêng giá trị hàng hoá chiếm 87% [15] Điều

đó chứng tỏ rằng hoạt động sản xuất kinh doanh của các trang trại đã và đang mang lại hiệu quả to lớn về kinh tế và xã hội cho đất nước

1

Trang 2

Với những ưu thế riêng có, kinh tế trang trại đã và đang từng bước khẳng định vai trò quan trọng của mình trong việc phát triển sản xuất hàng hoá, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, nâng cao tính cạnh tranh của nông lâm sản… trực tiếp góp phần quan trọng trong việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước Để kinh tế trang trại phát triển, đạt hiệu quả cao trên cả phương diện kinh tế và xã hội, thì cần thiết phải có những nghiên cứu để tìm lời giải đáp cho nhiều vấn đề đang đặt ra, tháo gỡ nhiều khó khăn đang gặp phải ở cả tầm

vĩ mô và vi mô liên quan đến phát triển kinh tế trang trại như các vấn đề về nhận thức, cơ chế chính sách, các giải pháp cụ thể như đất đai, vốn, lao động, khoa học công nghệ… Nhằm đảm bảo cho kinh tế trang trại thực sự trở thành loại hình kinh tế năng động, phát triển một cách mạnh mẽ, ổn định và lâu bền

Lạc Thuỷ là huyện miền núi nằm phía Đông Nam của tỉnh Hoà Bình Trong thời gian qua, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng các trang trại ở

đây đã bước đầu hình thành và phát triển Vấn đề phát triển kinh tế trang trại đang được các cấp uỷ Đảng, chính quyền, đoàn thể và các ban ngành của huyện quan tâm Trong khi đó, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống và đầy đủ về tình hình phát triển kinh tế trang trại, cũng như việc khai thác các tiềm năng của huyện để phát triển kinh tế trang trại

Vậy đặc điểm kinh tế trang trại tại huyện Lạc Thuỷ như thế nào? Thực trạng kinh tế trang trại tại đây phát triển ra sao? Những giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế trang trại tại địa phương là gì? Đó là những vấn đề đặt ra cần được nghiên cứu và giải đáp

Nhằm góp phần đánh giá thực trạng, giải quyết khó khăn, khắc phục tồn tại và thúc đẩy kinh tế trang trại phát triển, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài:

“Thực trạng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế trang trại

tại huyện Lạc Thuỷ - tỉnh Hoà Bình”

2

Trang 3

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung

Nghiên cứu thực trạng tình hình phát triển kinh tế trang trại tại huyện Lạc Thuỷ, tỉnh Hoà Bình làm cơ sở đề xuất một số giải pháp góp phần đẩy mạnh phát triển kinh tế trang trại tại địa phương

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

- Góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển kinh tế trang trại

- Phân tích, đánh giá thực trạng tình hình phát triển kinh tế trang trại tại huyện Lạc Thuỷ, nêu những thành công, tồn tại và nguyên nhân Đánh giá những tiềm năng và hạn chế đối với phát triển kinh tế trang trại tại địa phương

- Đề xuất phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế trang trại tại huyện Lạc Thuỷ, tỉnh Hoà Bình

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển kinh tế trang trại Đối tượng nghiên cứu trực tiếp là các trang trại trên địa bàn huyện Lạc Thuỷ và những yếu tố cơ bản liên quan đến phát triển kinh tế trang trại

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Nội dung nghiên cứu: Đề tài tập trung đi sâu nghiên cứu các khía cạnh

kinh tế - xã hội bao gồm các yếu tố sản xuất chủ yếu, các kết quả và hiệu quả kinh tế của các loại hình trang trại cũng như sự tác động của các yếu tố sản xuất chính Từ đó phát hiện những thuận lợi, khó khăn có liên quan đến phát triển kinh tế trang trại tại huyện Lạc Thuỷ làm cơ sở đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển kinh tế trang trại tại địa phương

- Địa điểm nghiên cứu: đề tài nghiên cứu 29 trang trại trên địa bàn

huyện Lạc Thuỷ, tỉnh Hoà Bình

- Thời gian nghiên cứu: số liệu chung của huyện từ năm 2000 đến 2002

- Số liệu điều tra trang trại: năm 2002

3

Trang 4

2 Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển

kinh tế trang trại

2.1 Cơ sở lý luận về phát triển kinh tế trang trại

2.1.1 Khái niệm phát triển kinh tế

• Phát triển

Theo từ điển tiếng Việt thì phát triển là: “Biến đổi hoặc làm cho biến đổi

từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp” [20]

Theo từ điển Larousse, phát triển là một quá trình, là “tổng hòa những hiện tượng được quan niệm như một chuỗi nhân quả kế tiếp nhau diễn tiến” [24]

Phát triển là kết quả của những thay đổi về giá trị, gắn với các thay đổi trong các hoạt động kinh tế và xã hội có liên quan đến tăng cường sản xuất và

nâng cao chất lượng cuộc sống

• Tăng trưởng và phát triển kinh tế

Tuy có những khía cạnh khác nhau trong quan niệm, nhưng nói chung,

sự tiến bộ trong một giai đoạn nào đó của một đất nước thường được đánh giá

trên hai mặt: sự gia tăng về kinh tế và sự biến đổi về mặt xã hội [18]

Trên thực tế tăng trưởng và phát triển là hai thuật ngữ được dùng để phản ánh hai mặt của sự tiến bộ đó Tăng trưởng và phát triển đôi khi được dùng thay thế lẫn nhau, nhưng giữa chúng có sự khác biệt nhau căn bản

sản lượng nền kinh tế (tính toàn bộ hay tính bình quân theo đầu người) của

thời kỳ sau so với thời kỳ trước Như vậy, tăng trưởng kinh tế được xem xét

4

Trang 5

trên hai mặt biểu hiện: đó là mức tăng tuyệt đối hay mức tăng phần trăm (%) hàng năm, hoặc bình quân trong mỗi giai đoạn

Sự tăng trưởng được so sánh theo các thời điểm liên tục trong một giai

đoạn nhất định sẽ cho ta khái niệm tốc độ tăng trưởng Đó là sự tăng thêm sản lượng nhanh hay chậm so với thời điểm gốc

- Phát triển kinh tế

Trước hết sự phát triển bao gồm cả sự tăng thêm về khối lượng của cải vật chất, dịch vụ và sự biến đổi tiến bộ về cơ cấu kinh tế và đời sống xã hội Tăng thêm qui mô sản lượng và tiến bộ về cơ cấu kinh tế - xã hội là hai mặt có mối quan hệ vừa phụ thuộc vừa độc lập tương đối của lượng và chất Sự phát triển là một quá trình tiến hoá theo thời gian do những nhân tố nội tại của bản thân nền kinh tế quyết định Có nghĩa là người dân quốc gia đó phải là những thành viên chủ yếu tác động đến sự biến đổi kinh tế của đất nước Kết quả của

sự phát triển kinh tế - xã hội là kết quả của một quá trình vận động khách quan, còn mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đề ra là thể hiện sự tiếp cận tới các kết quả đó Tăng thêm về quy mô sản lượng và tiến bộ về cơ cấu kinh tế - xã hội là hai mặt có mối quan hệ vừa phụ thuộc vừa độc lập tương đối của lượng và chất

Có thể hiểu phát triển kinh tế là quá trình lớn lên (hay tăng tiến) về mọi

mặt của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định Trong đó bao gồm cả sự tăng

thêm về quy mô sản lượng (tăng trưởng) và sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế - xã

hội Cho nên phát triển kinh tế là một khái niệm chung nhất về một sự chuyển biến của nền kinh tế từ trạng thái thấp lên trạng thái cao hơn [18]

2.1.2 Khái niệm về trang trại và kinh tế trang trại

• Khái niệm về trang trại

Trang trại là loại hình sản xuất nông nghiệp của các hộ gia đình nông dân, hình thành và phát triển trong điều kiện kinh tế thị trường từ khi phương thức sản xuất tư bản thay thế phương thức sản xuất phong kiến, khi bắt đầu

cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất ở một số nước châu Âu [4]

5

Trang 6

Theo quan điểm của một số tác giả khi nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển kinh tế trang trại gia đình trên thế giới cho rằng: các trang trại được hình thành từ cơ sở của các hộ tiểu nông sau khi phá vỡ vỏ bọc sản xuất tự cấp tự túc vươn lên sản xuất hàng hoá đáp ứng nhu cầu thị trường trong điều kiện cạnh tranh Tuy nhiên về khái niệm trang trại còn có các quan điểm khác nhau sau:

Xuất phát từ quan điểm của Lênin: “ấp trại tuy vẫn là nhỏ nếu tính theo diện tích, nhưng lại hoá thành ấp trại lớn nếu xét về quy mô sản xuất”, ở khái niệm này đã đề cập đến quy mô sản xuất và có thể hiểu là quy mô diện tích hoặc quy mô thu nhập

Theo từ điển tiếng Việt năm 1998 của nhà xuất bản Đà Nẵng thì trang trại được hiểu một cách khái quát là: “Trại lớn sản xuất nông nghiệp” [20] Theo Nguyễn Thế Nhã “Trang trại là một loại hình tổ chức sản xuất cơ

sở trong nông, lâm, thuỷ sản, có mục đích chính là sản xuất hàng hoá, có tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của một chủ độc lập, sản xuất được tiến hành trên quy mô ruộng đất và các yếu tố sản xuất tiến bộ

và trình độ kỹ thuật cao, hoạt động tự chủ và luôn gắn với thị trường” [12]

Nguyễn Phượng Vỹ lại cho rằng: “Trang trại là một hình thức tổ chức kinh tế trong nông, lâm, ngư nghiệp phổ biến được hình thành trên cơ sở kinh

tế hộ nhưng mang tính sản xuất hàng hóa” [23]

Trong Nghị quyết TW số 06/NQ-TW ngày 10/11/1998 cũng đã xác

định: “ trang trại gia đình thực chất là kinh tế hộ sản xuất hàng hoá với quy mô lớn hơn, sử dụng lao động, tiền vốn của gia đình là chủ yếu để sản xuất kinh doanh có hiệu quả” [7]

Cần phân biệt khái niệm trang trại và kinh tế trang trại: Kinh tế trang trại là tổng thể các yếu tố sản xuất kinh doanh và các mối quan hệ kinh tế nảy sinh trong hoạt động của trang trại, còn trang trại là nơi diễn ra các hoạt động

và các quan hệ đó Nghiên cứu về kinh tế trang trại là đề cập tới các mặt kinh

tế, xã hội và môi trường của một mô hình sản xuất trong nông nghiệp, trong

6

Trang 7

đó kinh tế là mặt cơ bản chứa đựng những nội dung cốt lõi của trang trại Về mặt xã hội, trang trại là một hình thức tổ chức sản xuất cơ sở của xã hội, trong

đó có các mối quan hệ xã hội đan xen nhau Về mặt môi trường, trang trại là một không gian sinh thái, ở đây thường xuyên diễn ra các quan hệ sinh thái đa dạng Không gian sinh thái trang trại có quan hệ chặt chẽ và ảnh hưởng qua lại trực tiếp với hệ sinh thái của vùng Xét về phương diện kinh tế, khái niệm trang trại phải thể hiện được những nội dung bản chất về kinh tế, tổ chức và kĩ thuật sản xuất của trang trại trong điều kiện kinh tế thị trường

Trước hết, trang trại là một hình thức tổ chức sản xuất cơ sở trong nông, lâm, ngư nghiệp

Trang trại là hình thức tổ chức sản xuất cơ sở vì trang trại là đơn vị trực tiếp sản xuất ra những sản phẩm vật chất cần thiết cho xã hội, bao gồm nông, lâm, thuỷ sản, đồng thời quá trình kinh tế trong trang trại là quá trình khép kín với các khâu của quá trình tái sản xuất luôn kế tiếp nhau, bao gồm sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng

Trang trại là một hình thức tổ chức sản xuất cơ sở vì trong nông, lâm, ngư nghiệp ngoài trang trại ra còn có những hình thức tổ chức sản xuất khác như nông, lâm trường quốc doanh, kinh tế hộ nông dân

Là một hình thức tổ chức sản xuất, trang trại không phải là một thành phần kinh tế và theo cách phân định thành phần kinh tế như hiện nay thì các chủ thể kinh tế thuộc các thành phần kinh tế hoạt động sản xuất kinh doanh nông nghiệp đều có thể chọn hình thức tổ chức sản xuất theo kiểu trang trại nếu có đủ điều kiện

Theo quan điểm của Lê Trọng, có thể hiểu khái niệm kinh tế trang trại

như sau: “Kinh tế trang trại (hay kinh tế nông trại, lâm trại, ngư trại…) là một hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nền sản xuất xã hội, dựa trên cơ sở hiệp tác và phân công lao động xã hội, bao gồm một số người lao động nhất

định, được chủ trang trại tổ chức trang bị những tư liệu sản xuất nhất định để

7

Trang 8

tiến hành hoạt động kinh doanh phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế thị trường và được Nhà nước bảo hộ” [16]

Năm 2000 Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 03/2000 ngày 02/02/2000 về kinh tế trang trại, trong đó đã đưa ra quan điểm về kinh tế trang

trại như sau: “Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp, nông thôn, chủ yếu dựa vào hộ gia đình, nhằm mở rộng quy mô

và nâng cao hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, trồng rừng, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông, lâm, thuỷ sản” [11]

Từ những nhận thức nêu trên và trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm của thế giới cũng như thực tiễn kinh tế trang trại ở nước ta, khái niệm trang trại về mặt kinh tế có thể hiểu như sau: Trang trại là một hình thức tổ chức sản xuất cơ sở trong nông, lâm, ngư nghiệp, có mục đích chủ yếu là sản xuất hàng hoá, tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của một người chủ

độc lập, sản xuất được tiến hành trên quy mô ruộng đất và các yếu tố sản xuất

được tập trung đủ lớn với cách thức tổ chức quản lý tiến bộ và trình độ kỹ thuật cao, hoạt động tự chủ và luôn gắn với thị trường [9]

• Các đặc trưng chủ yếu của kinh tế trang trại

Theo Thông tư số 74/2003/TT-BNN, ngày 04 tháng 7 năm 2003 sửa

đổi, bổ sung mục III của Thông tư liên tịch số 69/2000/TTLT/BNN - TCTK ngày 23/6/2000 thì kinh tế trang trại có 3 đặc trưng chủ yếu sau đây [2]:

+ Mục đích sản xuất của trang trại là sản xuất nông, lâm, thuỷ sản hàng hoá với quy mô lớn

+ Mức độ tập trung hoá và chuyên môn hoá các điều kiện và yếu tố sản

xuất cao hơn hẳn (vượt trội) so với sản xuất của nông hộ, thể hiện ở quy mô sản

xuất như đất đai, đầu con gia súc, lao động, giá trị nông-lâm-thuỷ sản hàng hoá

+ Chủ trang trại có kiến thức và kinh nghiệm trực tiếp điều hành sản xuất, biết áp dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật, tiếp nhận chuyển giao công

8

Trang 9

nghệ mới vào sản xuất; sử dụng lao động gia đình và thuê lao động bên ngoài sản xuất hiệu quả cao, có thu nhập vượt trội so với kinh tế hộ

• Các tiêu chí nhận dạng trang trại [2]

Để xác định một đơn vị sản xuất kinh doanh cơ sở trong nông nghiệp có phải là trang trại hay không, thì phải có tiêu chí để nhận dạng có căn cứ khoa học Trước đây đã có những quy định khác về tiêu chí nhận dạng trang trại Hiện nay các tiêu chí nhận dạng trang trại được căn cứ theo Thông tư liên tịch

số 74/2003/TT-BNN, ngày 04 tháng 7 năm 2003 hướng dẫn tiêu chí định lượng để xác định kinh tế trang trại Theo các Thông tư đã nêu trên, một hộ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản được xác định là trang trại phải đạt một trong hai tiêu chí về giá trị sản lượng hàng hoá, dịch vụ bình quân 1 năm hoặc về quy mô sản xuất của trang trại

Đối với hộ sản xuất, kinh doanh tổng hợp có nhiều loại sản phẩm hàng hoá của ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản thì tiêu chí để xác định trang trại là giá trị sản lượng hàng hoá, dịch vụ bình quân 1 năm, cụ thể như sau:

(1)- Giá trị sản lượng hàng hoá và dịch vụ bình quân 1 năm:

- Đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên Hải miền Trung từ 40 triệu đồng trở lên;

- Đối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên từ 50 triệu đồng trở lên

(2)- Quy mô sản xuất phải tương đối lớn và vượt trội so với kinh tế nông hộ tương ứng với từng ngành sản xuất và vùng kinh tế

(a)- Đối với trang trại trồng trọt

- Trang trại trồng cây hàng năm:

+ Từ 2 ha trở lên đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên Hải miền Trung + Từ 3 ha trở lên đối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên

- Trang trại trồng cây lâu năm:

+ Từ 3 ha trở lên đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên Hải miền Trung + Từ 5 ha trở lên đối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên

9

Trang 10

+ Trang trại trồng hồ tiêu 0,5 ha trở lên

- Trang trại lâm nghiệp: Từ 10 ha trở lên đối với các vùng trong cả nước (b)- Đối với trang trại chăn nuôi

- Chăn nuôi đại gia súc: trâu, bò

+ Chăn nuôi sinh sản, lấy sữa có thường xuyên từ 10 con trở lên

+ Chăn nuôi lấy thịt có thường xuyên từ 50 con trở lên

- Chăn nuôi gia cầm: gà, vịt, ngan, ngỗng, có thường xuyên từ 2000

con trở lên (không tính số đầu con dưới 7 ngày tuổi)

(c)- Trang trại nuôi trồng thuỷ sản

Diện tích mặt nước để nuôi trồng thuỷ sản có từ 2 ha trở lên (riêng đối với nuôi tôm thịt theo kiểu công nghiệp từ 1 ha trở lên)

(d)- Đối với các loại sản phẩm nông lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản có tính chất đặc thù như trồng hoa, cây cảnh, trồng nấm, nuôi ong, giống thuỷ sản

và thuỷ đặc sản, thì tiêu chí xác định là giá trị sản lượng hàng hoá (tiêu chí 1)

2.1.3 Một số vấn đề về phát triển kinh tế trang trại

• Vai trò của kinh tế trang trại

Trang trại là hình thức tổ chức sản xuất quan trọng trong nền nông nghiệp thế giới ở nước ta, kinh tế trang trại (mà chủ yếu là trang trại gia

đình) mặc dù mới phát triển trong những năm gần đây, song vai trò tích cực và

tầm quan trọng của kinh tế trang trại đã thể hiện rõ nét cả về mặt kinh tế cũng như về mặt xã hội và môi trường

- Về mặt kinh tế: các trang trại góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế,

phát triển các loại cây trồng, vật nuôi có giá trị hàng hoá cao, khắc phục dần

10

Trang 11

tình trạng sản xuất phân tán, manh mún, tạo nên những vùng chuyên môn hoá, tập trung hàng hoá và thâm canh cao Mặt khác qua việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, trang trại góp phần thúc đẩy phát triển công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến và dịch vụ sản xuất ở nông thôn Thực tế cho thấy việc phát triển kinh tế trang trại ở những nơi có điều kiện bao giờ cũng đi liền với việc khai thác và sử dụng một cách đầy đủ và hiệu quả các nguồn lực trong nông nghiệp, nông thôn so với kinh tế nông hộ Do vậy, phát triển kinh tế trang trại góp phần tích cực thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển của nông nghiệp và

kinh tế nông thôn [9]

- Về mặt xã hội: phát triển kinh tế trang trại có vai trò quan trọng trong

việc làm tăng số hộ giàu trong nông thôn, tạo thêm việc làm và tăng thu nhập cho người lao động Điều này rất có ý nghĩa trong việc giải quyết vấn đề lao

động và việc làm là một trong những vấn đề bức xúc của nông nghiệp, nông thôn nước ta hiện nay Mặt khác phát triển kinh tế trang trại còn góp phần thúc

đẩy phát triển kết cấu hạ tầng trong nông thôn và tạo tấm gương cho các hộ nông dân về cách tổ chức và quản lý sản xuất kinh doanh Do đó, phát triển kinh tế trang trại đã góp phần tích cực vào việc giải quyết các vấn đề xã hội và

đổi mới bộ mặt xã hội nông thôn nước ta

- Về mặt môi trường: do sản xuất kinh doanh tự chủ và vì lợi ích thiết

thực, lâu dài của mình mà các chủ trang trại luôn có ý thức khai thác hợp lý và quan tâm bảo vệ các yếu tố môi trường, trước hết là trong phạm vi không gian sinh thái trang trại và trong phạm vi từng vùng Các trang trại ở trung du, miền núi đã góp phần quan trọng vào việc trồng rừng, phủ xanh đất trống, đồi trọc

và sử dụng hiệu quả tài nguyên đất Những việc làm này đã góp phần tích cực cải tạo và bảo vệ môi trường sinh thái trên các vùng của đất nước

• Xu hướng phát triển của kinh tế trang trại

Các trang trại đã được hình thành và sẽ phát triển theo những xu hướng chủ yếu sau:

11

Trang 12

- Tích tụ và tập trung sản xuất

Sau khi hình thành, nhìn chung các trang trại vẫn diễn ra quá trình tích tụ

và tập trung sản xuất Tuy nhiên tính chất tích tụ và tập trung này không hoàn toàn giống như tích tụ và tập trung các yếu tố sản xuất của nông hộ để hình thành trang trại Tích tụ và tập trung trong phát triển trang trại lúc này là nhằm

mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh để đứng vững

và phát triển trong cơ chế thị trường Tích tụ và tập trung trong các trang trại chủ yếu là tích tụ vốn và ở những nơi có điều kiện bao gồm cả việc tập trung ruộng đất Tích tụ vốn thực chất là làm tăng vốn tự có của trang trại để đầu tư

mở rộng sản xuất, chủ yếu đầu tư cho chiều sâu tức là đầu tư cho thâm canh, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất

- Chuyên môn hoá sản xuất

Sản xuất ngày càng đi vào chuyên môn hoá là xu hướng tất yếu trong phát triển trang trại vì muốn sản xuất hàng hoá phải đi vào chuyên môn hoá sản xuất, nhưng do đặc điểm của sản xuất nông nghiệp mà sản xuất chuyên môn hoá trong các trang trại phải kết hợp với sản xuất đa dạng một cách hợp

lý để có thể khai thác có hiệu quả các nguồn lực đất đai, cơ sở vật chất - kỹ thuật, lao động, đồng thời hạn chế rủi ro về thiên tai và biến động của thị trường Xu hướng sản xuất chuyên môn hoá của trang trại thể hiện ở chỗ:

+ Trên cơ sở phân vùng quy hoạch của cả nước, của từng vùng và địa phương, các trang trại bố trí sản xuất một số sản phẩm hàng hoá chính có giá trị phù hợp với yêu cầu của thị trường và với điều kiện sản xuất của mình

+ Dựa vào một số sản phẩm chính mà kết hợp sản xuất một số loại sản phẩm bổ sung để hỗ trợ cho sản phẩm chính, đồng thời để sử dụng đầy đủ các

điều kiện đất đai, lao động và tư liệu sản xuất của trang trại

Phát triển theo hướng trên sẽ xuất hiện nhiều trang trại chuyên môn hoá sản xuất có hiệu quả cao như các trang trại chuyên môn hoá cà phê, cây ăn quả, chè, rau cao cấp, thuỷ sản, chăn nuôi bò sữa, gia cầm, lợn

12

Trang 13

- Nâng cao trình độ kỹ thuật và thâm canh hoá sản xuất

Xu hướng nâng cao trình độ kỹ thuật và thâm canh sản xuất trong các trang trại là xu hướng tất yếu và gắn liền với việc nâng cao năng suất lao động, năng suất cây trồng, vật nuôi Để thực hiện điều đó các trang trại phải đầu tư xây dựng và phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật cho từng trang trại phù hợp với sự phát triển khoa học của vùng dựa trên sự hỗ trợ nhất định của Nhà nước trong vấn đề xây dựng công trình nông thôn, nghiên cứu và phổ biến kỹ thuật thâm canh

- Hợp tác và cạnh tranh

Các trang trại muốn sản xuất hàng hoá phải hợp tác và liên kết với nhau

và với những đơn vị, tổ chức khác Hợp tác để giúp nhau giải quyết tốt hơn những vấn đề sản xuất kinh doanh như thuỷ nông, bảo vệ thực vật, thương mại dịch vụ Đi đôi với việc hợp tác, các trang trại phải cạnh tranh với các tổ chức

và đơn vị khác để tiêu thụ sản phẩm, tái sản xuất mở rộng [9]

• Các loại hình trang trại

Có nhiều cách phân loại trang trại khác nhau, đối với trang trại tuỳ theo tiêu thức sử dụng để phân loại và tùy vào đặc điểm, điều kiện cụ thể ở từng nước và từng vùng Sau đây có một số cách phân loại trang trại chủ yếu sau:

- Phân loại trang trại theo hình thức tổ chức quản lý [9]

+ Trang trại gia đình: Là kiểu trang trại độc lập sản xuất kinh doanh của từng gia đình có tư cách pháp nhân riêng, do chủ hộ hoặc một người có năng lực và uy tín trong gia đình đứng ra quản lý Trang trại này có thể là của một

hộ gia đình nhưng cũng có thể là của một số gia đình cùng quản lý Đây là loại trang trại phổ biến nhất trên thế giới hiện nay

+ Trang trại liên doanh: là kiểu trang trại được thành lập trên cơ sở tự nguyện hợp nhất từ một số trang trại nhỏ với tư cách pháp nhân mới nhằm tăng năng lực sản xuất và khả năng cạnh tranh trước các đối thủ để tranh thủ các chính sách ưu đãi của Chính phủ đối với các trang trại có quy mô lớn, nhưng vẫn giữ nguyên quyền tự chủ điều hành sản xuất của từng trang trại cũ

13

Trang 14

ở Mỹ loại trang trại này chiếm khoảng 10% tổng số trang trại nhưng ở châu

á thì hầu như rất ít do quy mô còn nhỏ

+ Trang trại hợp danh theo cổ phần: là kiểu trang trại được tổ chức theo nguyên tắc một công ty cổ phần, hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, chế biến, tiêu thụ nông sản ở Mỹ loại hình này chiếm 2,7% tổng số trang trại hiện nay

- Phân loại trang trại theo mức độ sở hữu tư liệu sản xuất

+ Chủ trang trại sở hữu toàn bộ tư liệu sản xuất

+ Chủ trang trại sở hữu một phần tư liệu sản xuất, một phần đi thuê + Chủ trang trại không có tư liệu sản xuất mà đi thuê ngoài toàn bộ

- Phân loại trang trại theo phương thức điều hành sản xuất

+ Chủ trang trại và gia đình ở ngay trong trang trại và trực tiếp điều hành cũng như trực tiếp lao động sản xuất Đây là loại trang trại phổ biến nhất

ở các nước và chủ trang trại hầu hết là nông dân

+ Chủ trang trại và gia đình không ở nông thôn, không ở trang trại mà ở

một nơi khác (thị trấn, thành phố) nhưng vẫn trực tiếp điều hành, quản lý

trang trại Loại hình này có chiều hướng phát triển ở một số nước công nghiệp phát triển

+ Chủ trang trại sống ở thành phố thuê người khác trực tiếp quản lý điều hành trang trại ở nông thôn

+ Chủ trang trại uỷ thác cho chủ khai thác là bà con, bạn bè quản lý sản xuất, từng công việc, toàn bộ công việc, từng vụ hay liên tục nhiều năm ở Đài Loan đến nay có khoảng 75% số chủ trang trại gia đình đã áp dụng phương

thức sản xuất uỷ thác [5]

- Phân loại trang trại theo cơ cấu sản xuất

+ Trang trại có cơ cấu sản xuất theo hướng phát triển kinh doanh tổng hợp nhiều sản phẩm trong đó có sản phẩm chủ yếu

+ Trang trại có cơ cấu sản xuất theo hướng chuyên môn hoá một loại

14

Trang 15

sản phẩm

+ Trang trại sản xuất để cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến hoặc kết hợp sản xuất với chế biến nông sản

- Phân loại trang trại theo cơ cấu thu nhập [5]

+ Trang trại thuần nông là những trang trại có nguồn thu nhập hoàn toàn hay phần lớn từ nông nghiệp Số trang trại này ở các nước phát triển đang giảm

+ Trang trại thu nhập chủ yếu ngoài nông nghiệp, ngoài trang trại

(trang trại kiêm nghiệp) Loại trang trại này có xu hướng ngày càng tăng ở các

nước trên thế giới thậm chí ở một số nước có tỷ lệ cao hơn trang trại thuần

nông Ví dụ: ở Nhật Bản năm 1985 số trang trại kiêm nghiệp chiếm 85%

trong đó 66% số trang trại có thu nhập ngoài nông nghiệp lớn hơn thu nhập từ

nông nghiệp

- Phân loại trang trại theo quy mô diện tích đất đai

Cách phân loại này thường hay áp dụng với các trang trại sản xuất trồng trọt hoặc trồng rừng, còn chăn nuôi và các ngành nghề khác không nên sử dụng nó để làm tiêu thức bởi vì chăn nuôi hoặc các ngành nghề khác có thể rất nhỏ về quy mô đất đai, nhưng lại có thể tạo ra thu nhập cao hơn so với các trang trại lớn chuyên trồng trọt hoặc trồng rừng

2.1.4 Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về vấn đề phát triển kinh tế trang trại

Sự phát triển của kinh tế trang trại trong những năm gần đây là bước đột

phá trong quá trình phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng: “hiện

đại hoá nông nghiệp, văn minh hoá nông thôn, tri thức hoá nông dân” Kinh tế

trang trại phát triển cũng góp phần tích cực thúc đẩy mạnh mẽ sản xuất nông lâm nghiệp, làm thay đổi bộ mặt kinh tế xã hội ở nông thôn nói chung và nhiều địa

phương thuộc các tỉnh miền núi trung du phía Bắc nói riêng (trong đó có tỉnh Hoà Bình), đã thực sự đem lại sự giàu có và cải thiện nâng cao đời sống cho

nhiều hộ gia đình, góp phần thực hiện thành công chương trình xoá đói giảm

15

Trang 16

nghèo Những hình thức, bước đi và sự phát triển của kinh tế trang trại phụ thuộc rất nhiều vào chủ trương, đường lối và chính sách của Đảng và Nhà nước

• Các quan điểm và định hướng của Đảng về phát triển kinh tế trang trại

- Chỉ thị 100- CT/TW của Ban Chấp hành Trung ương khoá IV Chỉ thị

được thông qua vào tháng 12 năm 1980 đã đưa ra chủ trương cải tiến, hoàn thiện và mở rộng khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động trong nông nghiệp, đã tạo ra tiền đề cho việc xác định quyền tự chủ về sức lao

động và phát huy tính năng động sáng tạo trong lao động sản xuất của nhóm

và hộ nông dân

- Nghị quyết 10 - NQ/TW của Bộ Chính trị được ban hành tháng 4/1988

về "đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp" Nghị quyết khẳng định sự thừa nhận và bảo hộ bằng pháp luật đối với các quyền về sử dụng đất đai, quyền sở hữu và sử dụng vốn, lao động một cách năng động, các hộ và tư nhân kinh doanh trong nông, lâm ngư nghiệp còn có quyền hợp pháp trong việc tích tụ các yếu tố sản xuất vượt xa nhu cầu tái sản xuất giản đơn, vươn lên sản xuất hàng hoá, tạo tiền đề cho sự hình thành và phát triển kinh tế trang trại sau này

- Nghị quyết số 05 - NQ/HNTW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII tháng 6/ 1993 Hội nghị đã đề ra chủ trương khuyến khích xây dựng

các nông trại: “… Khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển các loại giống mới có hiệu quả kinh tế cao; khai thác đồi núi trọc, bãi bồi ven biển, nuôi trồng thuỷ sản, đánh bắt ngoài khơi; xây dựng các nông - lâm - ngư trại với quy mô thích hợp”…[1]

- Trong Nghị quyết hội nghị TW4 khoá VIII, phương hướng khuyến

khích kinh tế trang trại đã được xác định rõ thêm: “Kinh tế trang trại với các hình thức sở hữu khác nhau (Nhà nước, tập thể, tư nhân) được phát triển chủ yếu để trồng cây dài ngày, chăn nuôi đại gia súc ở những nơi có nhiều ruộng

đất; khuyến khích việc khai phá đất hoang vào mục đích này” [1]

- Nghị quyết số 6 - NQ/TW của Bộ Chính trị khoá VIII ngày 10/11/1998

16

Trang 17

về một số vấn đề “phát triển nông nghiệp và nông thôn" Hội nghị nêu ra một

số thành tựu, khuyết điểm và khẳng định vị trí rất quan trọng của nông nghiệp nông thôn nước ta Hội nghị đã khẳng định khuyến khích mọi đối tượng bỏ vốn đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, trong đó có phát triển trang trại

• Một số chính sách của Nhà nước đối với phát triển kinh tế trang trại

Các chủ trương, đường lối của Đảng về phát triển kinh tế - xã hội, trong

đó có lĩnh vực nông nghiệp nông thôn đã được thể chế hoá trong các văn bản pháp qui của Nhà nước, đã tạo ra tiền đề hết sức quan trọng trong việc hình thành và phát triển kinh tế trang trại ở nước ta Những văn bản pháp qui quan trọng đối với sự ra đời và phát triển kinh tế trang trại bao gồm:

- Luật đất đai ra đời năm 1993 và được sửa đổi năm 1998 đã qui định những căn cứ pháp lý cơ bản cho việc quản lý, sử dụng đất đai, đã tạo ra hành

lang pháp lý quan trọng nhất để hình thành kinh tế trang trại ở nước ta

- Nghị định 64 - CP ngày 27/9/1993 Ban hành văn bản qui định cụ thể của Nhà nước về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng

ổn định, lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp

- Nghị định số 01 - CP ngày 04 tháng 1 năm 1995, đã ban hành các qui

định cụ thể về vấn đề giao khoán đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp, lâm

nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản trong các doanh nghiệp Nhà nước

- Nghị định số 85/1999/NĐ-CP ngày 28 tháng 8 năm 1999 của Chính

phủ đã qui định, sửa đổi, bổ sung một số điều về giao đất nông nghiệp

Những chính sách quan trọng trên đây đã tạo ra những cơ sở pháp lý hết sức quan trọng cho việc hình thành tư liệu sản xuất cơ bản nhất của các trang trại, tạo ra pháp lý về quyền sử dụng đất đai cho các trang trại Nhờ có những chính sách này, tại các địa phương, nhân dân rất phấn khởi nhận đất, yên tâm canh tác, đầu tư vốn, công sức để phát triển sản xuất trên mảnh đất của mình Trong quá trình sản xuất đã hình thành hình thức tổ chức sản xuất mới là các trang trại Do vậy để phát triển kinh tế trang trại Nhà nước cần có những chính sách riêng về kinh tế trang trại

17

Trang 18

- Nghị quyết 03/2000 ngày 02 tháng 2 năm 2000 của Chính phủ về kinh

tế trang trại đã nêu rõ quan điểm và các chính sách của Nhà nước nhằm khuyến khích phát triển kinh tế trang trại Theo Nghị quyết này, Nhà nước khuyến khích, bảo hộ và thực hiện nhất quán chính sách khuyến khích phát triển kinh tế trang trại, đồng thời tăng cường công tác quản lý để các trang trại

phát triển lành mạnh, ổn định và bền vững

Sau Nghị quyết 03 của Chính phủ, các Bộ, Ngành Trung ương đã ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện trên các mặt sau:

- Thông tư liên tịch số 69/2000/TTLT/BNN - TCTK ngày 23 tháng 6 năm 2000 của Bộ Nông nghiệp và PTNT và Tổng cục Thống kê đã đưa ra

những tiêu chí để xác định kinh tế trang trại

- Thông tư số 61/2000/TT -BNN/KH ngày 06 tháng 6 năm 2000 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã đưa ra các hướng dẫn về việc lập kế

hoạch phát triển kinh tế trang trại

- Thông tư số 74/2003/TT-BNN, ngày 04 tháng 7 năm 2003 sửa đổi, bổ

sung mục III của Thông tư liên tịch 69/2000/TTLT/BNN-TCTK

Những chính sách này đã thổi một luồng gió mới vào lĩnh vực nông nghiệp nông thôn, đã tạo ra một trào lưu mạnh mẽ về phát triển kinh tế trang trại trên mọi miền của đất nước, đã huy động được đông đảo mọi tầng lớp dân cư đầu tư, bỏ vốn, sức lao động và trí tuệ để phát triển kinh tế trang trại

2.2 Tình hình phát triển kinh tế trang trại ở một số nước và ở Việt Nam

2.2.1 Tình hình phát triển kinh tế trang trại trên thế giới

2.2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển kinh tế trang trại trên thế giới

Các nhà nghiên cứu cho rằng, trang trại gia đình là loại hình sản xuất nông lâm nghiệp của các hộ gia đình nông dân, được hình thành và phát triển trong điều kiện của nền kinh tế thị trường “Từ khi phương thức sản xuất tư bản thay thế phương thức sản xuất phong kiến, từ khi bắt đầu cuộc cách mạng

công nghiệp lần thứ nhất ở một số nước châu Âu” [5]

Từ đó đến nay mặc dầu phải đối phó với sức ép của các thế lực cạnh

18

Trang 19

tranh trên thị trường, nhưng các trang trại gia đình ở hầu khắp các nước và các khu vực trên thế giới đều tồn tại và mở rộng sản xuất kinh doanh Thực tế hàng trăm năm qua đã chứng minh quan niệm sai lầm cho rằng: trong nền kinh tế hàng hoá, nông nghiệp cũng phải được xây dựng các xí nghiệp tập trung quy mô lớn như các xí nghiệp công nghiệp, nhằm làm phá sản các trang trại gia

đình phân tán hy vọng sẽ tạo ra nhiều nông sản với giá rẻ hơn sản xuất gia

đình Các Mác cũng đã tiên đoán cùng với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản sẽ dẫn đến sự phân hoá các hộ nông dân ra hai thái cực Nhưng đến tác phẩm cuối

cùng của mình Mác viết: “…ngay ở nước Anh với nền công nghiệp phát triển, hình thức sản xuất nông nghiệp có lợi nhất không phải là các xí nghiệp quy mô lớn mà là các trang trại gia đình không dùng lao động làm thuê” [5]

Chayanov cũng cho rằng: “nông trại nông dân rất ổn định, chỉ thay đổi

có tính chu kỳ theo chu kỳ sinh học của gia đình nông dân” [19] Trong quá

trình phát triển kinh tế trang trại gia đình ở các nước trên thế giới đã diễn ra sự biến động cả về số lượng và qui mô trang trại theo những chiều hướng không giống nhau Điều này phụ thuộc vào nhiều yếu tố: khả năng thu hút lao động

ra khỏi nông nghiệp, khả năng khai thác đất mới, khả năng thuê đất từ các chủ

đất… Quá trình này có thể sơ bộ tóm lược như sau: khi xã hội có đủ những

điều kiện để chuyển từ hình thái tự cung, tự cấp sang hàng hoá thì các trang trại bắt đầu cải tiến kỹ thuật để nâng cao năng suất lao động Giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hoá lao động vẫn tiếp tục tăng, trang trại bị giảm dần quy mô Điều này đòi hỏi các chủ trang trại phải tăng đầu tư lao động, thực hiện thêm các ngành nghề phi nông nghiệp nhằm giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập Khi đã có nền nông nghiệp phát triển đủ mạnh, sức hút lao

động vượt quá tốc độ tăng lao động ở nông thôn thì trang trại mới có điều kiện

mở rộng quy mô Việc rút lao động ra khỏi nông nghiệp cho phép và đòi hỏi các trang trại phải áp dụng các biện pháp kỹ thuật “thay thế lao động” (cơ giới hoá) Đối với các nước đông dân, đất ít, quá trình tăng quy mô trang trại

19

Trang 20

thường chậm hơn Theo kinh nghiệm của một số nước trên thế giới cho thấy,

muốn nền nông nghiệp phát triển thì quy mô trang trại phải được tăng dần lên

Vào nửa cuối thế kỷ XX, số lượng trang trại ở các nước phát triển châu

á tăng 2,5% mỗi năm, trong khi ở các nước công nghiệp phát triển ở châu Âu

giảm 2-3,5% năm [5] Hiện nay trên thế giới có trên 300 triệu trang trại gia

đình đang đóng vai trò chủ lực trong nền kinh tế sản xuất nông nghiệp của thế

giới Điều này có thể được chứng minh qua một vài số liệu sau đây: ở Nhật

Bản với 4 triệu lao động (chiếm 3,7% dân số), các trang trại gia đình đã cung

cấp đủ lương thực và thực phẩm cho 125 triệu người ở Đài Loan, Hàn Quốc

kinh tế trang trại đã cung cấp đủ thực phẩm cho tiêu dùng trong nước và xuất

khẩu Malaixia có các trang trại trồng cây công nghiệp hàng năm xuất 4 triệu

tấn dầu cọ (75% sản lượng thế giới) [7]

Bảng 2.1: Quy mô bình quân trang trại của một số nước (ha/trang trại)

2.2.1.2 Tình hình phát triển kinh tế trang trại ở một số nước trên thế giới

Trên thế giới, kinh tế trang trại hình thành và phát triển cách đây hơn 2

thế kỷ và giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế của các quốc gia Tuy nhiên,

tuỳ theo điều kiện và đặc điểm của từng nước mà số lượng và quy mô của các

trang trại có sự khác nhau:

20

Trang 21

• Tình hình phát triển kinh tế trang trại ở Mỹ

ở Mỹ các trang trại gia đình nhờ áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất kinh doanh nên lượng nông sản làm ra của một lao động nông nghiệp đến năm 1990 đủ để nuôi được 80 người Số lượng trang trại ở Mỹ khoảng 2,2 triệu trang trại trong đó 1,54 triệu trang trại gia đình chiếm 87% Lực lượng này đã sản xuất ra hơn 50% sản lượng đậu tương và ngô của toàn thế giới, xuất khẩu 40-50 triệu tấn lúa mỳ, 50 triệu tấn ngô, đậu tương… Diện tích đất đai bình quân ở Mỹ hiện nay là 10 ha/trang trại Lao động làm thuê trong các trang trại ở Mỹ rất ít, loại trang trại nhỏ thu nhập dưới 100.000 USD/năm không thuê lao động, các trang trại loại có thu nhập từ 100.000-500.000 USD cũng chỉ thuê 1-2,5 lao động [5]

• Tình hình phát triển kinh tế trang trại ở Pháp

Số lượng trang trại ở Pháp khoảng 980.000 trang trại trong đó chủ yếu

là trang trại gia đình, các trang trại này đã sản xuất ra một lượng nông sản gấp 2,2 lần nhu cầu trong nước Tỷ suất hàng hoá về hạt ngũ cốc 95%, thịt sữa 70-80%, rau quả trên 70% Quy mô diện tích bình quân của các trang trại ở Pháp 29,2 ha, 42% thu nhập của trang trại từ ngoài nông nghiệp Năm 1990 có 70% trang trại gia đình có ruộng đất riêng, 30% trang trại phải lĩnh canh hay một phần hay toàn bộ [19]

• Tình hình phát triển kinh tế trang trại ở Hà Lan

Hà Lan có 128.000 trang trại trong đó chỉ có 1.500 trang trại chuyên trồng hoa với sản lượng sản xuất hàng năm khoảng 7 tỷ bông hoa và 600 triệu chậu hoa trong đó dành cho xuất khẩu Bình quân 1 lao động nông nghiệp của trang trại làm ra đủ số lượng nông sản để nuôi 60 người Do mức độ cơ giới hóa nông nghiệp đạt mức độ cao nên số lượng và tỷ lệ lao động làm việc ở

trong các trang trại Hà Lan giảm nhiều và chỉ còn 4,7% so với tổng xã hội [5]

Tính bình quân 1 trang trại ở Hà Lan năm 1987 có quy mô khoảng 15,7 ha với 2,2 lao động Năm 1987 số trang trại có quy mô dưới 5 ha chiếm 31,5%, từ 5-

21

Trang 22

20 ha chiếm 39,6% và trên 20 ha chiếm 28% [19]

• Tình hình phát triển kinh tế trang trại ở một số nước khu vực châu á

Các nước châu á có diện tích canh tác trên đầu người thuộc vào loại thấp (0,15 ha) Đặc biệt ở các nước Đông Nam á chỉ tiêu này thấp nhất thế giới (Đài Loan: 0,00047 ha, Hàn Quốc: 0,053 ha, Nhật Bản: 0,035 ha) Đặc

điểm này cũng có ảnh hưởng đến quy mô trang trại của các nước trong khu vực Loại trang trại nhỏ nhất châu á là 0,5 ha, lớn nhất chỉ gần 20 ha (các nước Âu, Mỹ có trang trại lên tới hàng nghìn ha) Quy mô bình quân của 1 trang trại châu á 1-3 ha trong khi ở Tây Âu 25-30 ha, đặc biệt ở Mỹ 180 ha Trong giai đoạn 1961-1965 loại trang trại có quy mô từ 3-5 ha chiếm 12% tổng số lượng và 18,4% tổng diện tích đất đai và quy mô 10 ha chiếm 3,8% số lượng và 29,5% đất đai [5]

- Tình hình phát triển kinh tế trang trại ở Thái Lan: hiện nay có khoảng

4,5 triệu trang trại với quy mô bình quân 5,6 ha Trang trại có quy mô dưới 2,5

ha chiếm 58%, loại trang trại trên 10 ha chiếm 14% Trong những năm 80, hàng năm các trang trại Thái Lan đã sản xuất ra 20 triệu tấn thóc gạo, 5 triệu tấn ngô, 25 triệu tấn mía đường… Giá trị nông sản xuất khẩu của các trang trại ở Thái Lan năm 1998: gạo 22,2 tỷ bạt, sắn 20 tỷ, gà đông lạnh 4,5 tỷ bạt Hiện nay Thái Lan đang là nước đứng đầu về xuất khẩu dứa hộp chiếm 1/3 sản

lượng dứa của thế giới [5]

- Tình hình phát triển kinh tế trang trại ở Đài Loan: năm 1952 có

679.000 trang trại, đến năm 1988 cả nước có khoảng 739.000 trang trại Quy mô bình quân trang trại chỉ dưới 1ha Phần lớn các trang trại ở Đài Loan kiêm ngành nghề chiếm 90%, số trang trại thuần nông chỉ chiếm 10% Vì vậy thu nhập chủ yếu từ hoạt động phi nông nghiệp (62%) Điều này phù hợp với đặc

điểm dân số và diện tích đất đai của Đài Loan [5]

- Tình hình phát triển kinh tế trang trại ở Nhật Bản: năm 1945 có 5,7

22

Trang 23

triệu trang trại, đến năm 1950 tăng lên đến 6,173 triệu cơ sở và từ đó đến nay

số lượng trang trại lại có xu hướng giảm mạnh Hiện nay số lượng chỉ còn 4,2 triệu trang trại Quy mô ruộng đất bình quân 1 trang trại ở Nhật năm 1990 là 1,2 ha Số lượng chuyên nông nghiệp trong giai đoạn 1960-1988 giảm trên 3 lần từ 2 triệu xuống còn 620.000 trang trại Thu nhập bình quân của 1 trang trại tăng 207.000 Yên năm 1950 lên 6 triệu Yên năm 1982

Qua nghiên cứu tình hình phát triển kinh tế trang trại một số nước trên thế giới cho thấy phần lớn kinh tế trang trại các nước trên thế giới đã và đang thực sự trở thành nhân tố tích cực thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển Tuỳ thuộc vào điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và tình hình của từng nước mà kinh tế trang trại có xu hướng biến đổi khác nhau, nhìn chung đều có xu hướng phát triển theo hướng chuyên môn hoá và đa dạng hoá ngành nghề, gắn với hợp tác hoá sâu rộng, cùng tồn tại, cùng phát triển theo hướng phù hợp giữa các trang trại với các quy mô khác nhau

2.2.2 Tình hình phát triển kinh tế trang trại ở Việt Nam

2.2.2.1 Kinh tế trang trại trước thời kỳ đổi mới

Trong thời kỳ Pháp thuộc, nhiều đồn điền được lập lên, phần lớn đồn

điền là chủ Tây Người nông dân và công nhân ở các đồn điền bị bóc lột tàn

bạo, đặc biệt là ở đồn điền cao su [8]

Các nông trường quốc doanh được hình thành trên có sở chuyển đổi từ các đồn điền do Pháp để lại và xây dựng mới Theo đánh giá, trong mấy chục năm qua ở nước ta đã xây dựng một lực lượng sản xuất nông nghiệp quốc doanh khá lớn với trên 90 nông, lâm trường và hàng trăm cơ sở quốc doanh nuôi trồng, đánh bắt thuỷ sản chưa kể trên 400 trạm, trại nông nghiệp quốc doanh [23] Lực lượng này đã góp phần đáng kể vào việc sản xuất nông- lâm - ngư nghiệp, tạo ra được nhiều sản phẩm xuất khẩu Tuy nhiên, hoạt động sản xuất đạt hiệu quả nhưng còn thấp, chưa tương xứng với tiềm năng đất đai, vốn

đầu tư, cơ sở vật chất - kỹ thuật và tiềm năng của lao động hiện có, thậm chí có

23

Trang 24

nhiều cơ sở làm ăn thua lỗ kéo dài trong nhiều năm liền, trở thành gánh nặng cho ngân sách Trung ương và địa phương

Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 187/1999/QĐ-TTg ngày 16 tháng

9 năm 1999 về đổi mới tổ chức và cơ chế quản lý lâm trường quốc doanh Mục tiêu của quyết định này nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của lâm trường, làm tốt vai trò nòng cốt trong sản xuất lâm nghiệp, làm trung tâm dịch

vụ vật tư, kỹ thuật, chế biến và tiêu thụ sản phẩm cho các tổ chức, hộ gia đình

và các cá nhân sản xuất lâm, nông nghiệp [23]

2.2.2.2 Kinh tế trang trại sau thời kỳ đổi mới

Trong những năm gần đây kinh tế trang trại ở nước ta đã thực sự có bước phát triển nhanh và đa dạng Có thể nói: “Nghị quyết 03/CP của Chính phủ đã

đặt cái mốc từ tự phát sang tự giác bởi vai trò của Nhà nước trong sự hình thành và phát triển kinh tế trang trại ở Việt Nam - như Chỉ thị 10 của khoán hộ, Nghị quyết 10, Luật đất đai của kinh tế hộ nông dân - đơn vị kinh tế tự chủ ở nông thôn trước đây” [17] Theo báo cáo của 57 Sở Nông nghiệp và Phát triển

nông thôn của các địa phương năm 2003 [15], cả nước ta có 52.554 trang trại,

số trang trại tập trung ở các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long (18.973 trang trại) chiếm 36,1%, vùng Đông Nam bộ (12.939 trang trại) chiếm 24,6%, nơi có

số lượng trang trại ít nhất là vùng đồng bằng sông Hồng (2.468 trang trại) chiếm 4,7%, vùng Duyên Hải Nam Trung bộ (3.628 trang trại) chiếm 6,9% số trang trại trong cả nước

Về cơ cấu trang trại: Theo số liệu của 51.653 trang trại cho thấy, trang

trại trồng cây lâu năm có tỷ trọng lớn nhất chiếm 30,3%, sau đó là trang trại thuỷ sản chiếm 25,2%, thấp nhất là trang trại đặc thù chiếm 0,7% và các trang trại lâm nghiệp chiếm 2,8% trong tổng số các trang trại

Về phân bố của các loại hình trang trại theo các vùng sinh thái:

Trang trại trồng cây lâu năm có 15.654 trang trại, tập trung ở vùng

Đông Nam bộ chiếm tỷ lệ 50,9%, vùng Tây Nguyên chiếm 29,0%, thấp nhất

24

Trang 25

là vùng đồng bằng sông Cửu Long chiếm 0,6%, sau đó là vùng đồng bằng sông Hồng chiếm tỷ lệ 1,8% số trang trại trồng cây lâu năm của cả nước

Trang trại trồng cây hàng năm có 14.300 trang trại, trong đó chủ yếu ở

vùng đồng bằng sông Cửu Long chiếm tỷ lệ 67,4%, vùng Đông Nam bộ chiếm 12,2%, thấp nhất là vùng miền núi phía Bắc chiếm 1,8%, sau đó là vùng đồng bằng sông Hồng chiếm 2,3% số trang trại trồng cây hàng năm của cả nước

Trang trại thuỷ sản có 13.039 trang trại, tập trung ở đồng bằng sông

Cửu Long chiếm tỷ lệ 64,0%, vùng Duyên Hải Nam Trung bộ chiếm 11,1%, thấp nhất là vùng Tây Nguyên và vùng miền núi phía Bắc chiếm tỷ lệ 0,2% và 4,8% số trang trại thuỷ sản của cả nước

Trang trại tổng hợp có 4.788 trang trại, tập trung ở vùng miền núi phía

Bắc chiếm 32,3%, vùng Tây Nguyên chiếm 17,6%, thấp nhất là vùng đồng bằng sông Hồng và vùng Duyên Hải Nam Trung bộ chiếm tỷ lệ 5,4% và 8,0%

số trang trại tổng hợp của cả nước

Trang trại chăn nuôi có 2.069 trang trại, trang trại chăn nuôi tập trung ở

miền Đông Nam bộ chiếm 56,6%, thấp nhất là vùng núi phía Bắc và vùng Bắc Trung bộ chiếm 1,6% và 3,1% số trang trại chăn nuôi của cả nước

Trang trại lâm nghiệp có 1.1449 trang trại, phân bố ở vùng miền núi

phía Bắc chiếm tỷ lệ 38,6%, vùng Bắc Trung bộ chiếm 26,2%, thấp nhất là vùng đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long chiếm 0,9% và 4,7% số trang trại lâm nghiệp trong cả nước

Trang trại đặc thù có 354 trang trại, loại hình trang trại này có nhiều ở

vùng đồng bằng sông Cửu Long 156 trang trại, vùng Đông Nam bộ có 128 trang trại

Quy mô về diện tích đất của các trang trại không lớn, theo số liệu của

42.962 trang trại thì tổng diện tích đất các trang trại đang quản lý và sản xuất

là 259.137 ha, bình quân mỗi trang trại có diện tích là 6,0 ha, nơi có diện tích bình quân của một trang trại cao là vùng đồng bằng sông Hồng 11,3 ha/trang

25

Trang 26

trại, nơi có diện tích bình quân một trang trại thấp là vùng Duyên Hải Nam Trung bộ 4,4 ha/trang trại Trong các loại hình trang trại thì trang trại lâm nghiệp có diện tích bình quân lớn nhất 26,7 ha/trang trại, diện tích bình quân thấp là trang trại chăn nuôi 1,9 ha/trang trại, đặc biệt ở trang trại đặc thù diện tích bình quân chỉ có dưới 0,8 ha/trang trại

Về lao động theo số liệu của 50.545 trang trại hiện nay có 443.723 lao

động, bình quân mỗi trang trại sử dụng 8,8 lao động, nơi trang trại sử dụng nhiều lao động là vùng Đông Nam bộ 18,6 lao động/trang trại, nơi trang trại

sử dụng lao động ít là vùng miền núi phía Bắc 4,4 lao động/trang trại Trong tổng số lao động của trang trại thì lao động của hộ chủ trang trại chiếm 70,6% còn lại là lao động làm thuê chiếm 29,4%

Về vốn sản xuất của trang trại không nhiều Tổng vốn sản xuất của

50.545 trang trại hiện nay là 7.589.515,6 triệu đồng, bình quân mỗi trang trại

có 150,2 triệu đồng vốn sản xuất, vùng có vốn bình quân một trang trại khá là vùng Duyên Hải Nam Trung bộ 380,6 triệu đồng, vùng Đông Nam bộ 248,0 triệu đồng, vùng Tây nguyên 177,2 triệu đồng, vùng có vốn bình quân một trang trại thấp là vùng đồng bằng sông Cửu Long và vùng miền núi phía Bắc

là 65,3 triệu đồng và 65,8 triệu đồng/trang trại Trong tổng số vốn sản xuất của trang trại thì vốn tự có của chủ trang trại là chủ yếu, chiếm tới 83,4% tổng

số vốn, nguồn vốn vay chỉ chiếm 13,6% còn lại là từ các nguồn khác

Thu nhập hàng năm của trang trại chưa cao, tổng thu nhập một năm của

25.435 trang trại là 894.774 triệu đồng, bình quân thu nhập của một trang trại là 35,2 triệu đồng/trang trại, nơi có thu nhập bình quân cao nhất là vùng Duyên Hải Nam Trung bộ 57,3 triệu đồng, vùng đồng bằng sông Cửu Long và vùng

Đông Nam bộ trên 38 triệu đồng, nơi có thu nhập bình quân thấp là vùng Bắc Trung bộ 25,0 triệu đồng, vùng đồng bằng sông Hồng 27,1 triệu đồng/trang trại/năm

26

Trang 27

2.3 Các vấn đề liên quan đã nghiên cứu

2.3.1 Nghiên cứu trong nước

Cho đến nay đã có nhiều công trình của nhiều tác giả, nhiều tổ chức trong nước nghiên cứu về kinh tế trang trại:

Trần Đức đã nghiên cứu kinh tế trang trại trên thế giới và ở Việt Nam trong những năm gần đây Theo tác giả, muốn trở thành trang trại có nhất thiết phải tập trung nhiều ruộng đất và phải thuê mướn lao động hay không? Xuất phát từ quan điểm của Lê Nin: “ấp trại nhỏ tuy vẫn là nhỏ nếu tính theo diện tích, nhưng hoá thành ấp trại lớn nếu xét quy mô sản xuất” Tác giả cũng đưa

ra ý kiến cho rằng: lượng hoá thu nhập là một hướng đi đúng trong việc phân loại các trang trại, nhưng vấn đề đặt ra là thu nhập phải lớn hơn mức bình quân chung của địa phương là bao nhiêu?

Trần Ngọc Bút đã nghiên cứu về quá trình hình thành và xu hướng phát triển trang trại gia đình ở Việt Nam, đồng thời cũng đưa ra ý kiến đề cập đến 5 tiêu chí để xem xét một nông hộ có phải là trang trại hay không: đó là quy mô

sử dụng đất đai, lao động, tiền vốn, mức độ ứng dụng khoa học kỹ thuật và tỷ suất hàng hoá Các tác giả Nguyễn Điền, Trần Đức và Trần Huy Năng đã công

bố công trình nghiên cứu về kinh tế trang trại gia đình trên thế giới và ở một

số nước và khu vực lãnh thổ châu á như Nhật Bản, Đài Loan, Thái Lan, Malaixia, ấn Độ và Trung Quốc

Các tác giả Lê Trọng, Nguyễn Huy Oánh, Trần Trác… đã đề cập đến một số vấn đề cơ bản trong quản lý trang trại trong cơ chế thị trường để từ đó

đưa ra kết luận: Việt Nam muốn trở thành một nước nông nghiệp có tỷ suất hàng hoá cao thì phải phát triển mạnh loại hình kinh tế trang trại và từng bước tăng cường tác động của Nhà nước vào loại hình kinh tế này, xây dựng một chiến lược thị trường nông thôn đồng bộ, thông thoáng và hoàn chỉnh bao gồm: thị trường đất đai, lao động, vốn, dịch vụ kỹ thuật… nhằm phát huy những yếu tố nội sinh của loại hình kinh tế trang trại ở Việt Nam

27

Trang 28

Trên cơ sở đánh giá thực trạng và xu hướng phát triển của thị trường đất

đai trong nông nghiệp và các nhân tố tác động đến quá trình chuyển nhượng

đất, tác giả Đỗ Kim Chung đã khẳng định: “quá trình tích tụ ruộng đất là quá trình kinh tế trang trại sản xuất hàng hoá quy mô lớn và là sự điều chỉnh một bước rất cơ bản và quan trọng về quan hệ sở hữu trong nông nghiệp và kinh tế nông thôn Sự hình thành các trang trại quy mô lớn cho phép nông dân sản xuất hàng hoá với hiệu quả đầu tư cao, thu hút lao động nhàn rỗi của nông thôn Vấn đề đặt ra là hiện nay quá 55% số trang trại vượt mức hạn điền vì thế chính sách hạn điền cần được xem xét phù hợp với điều kiện ruộng đất ở mỗi vùng khác nhau, không cản trở bước tiến ban đầu sang nông nghiệp sản xuất

lớn” [3]

Tập thể tác giả trường Đại học Kinh tế Quốc dân đã nghiên cứu thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế trang trại trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam, đã điều tra được 3.044 trang trại và phỏng vấn 3.044 chủ trang trại, 756 cán bộ cấp xã ở 15 tỉnh thành, đại diện cho 7 vùng kinh tế sinh thái trong cả nước Các tác giả đã đánh giá thực trạng kinh tế trang trại nước ta hiện nay như các yếu tố sản xuất, tổ chức hoạt động sản xuất, kết quả

và hiệu quả sản xuất của trang trại và đề xuất các giải pháp cơ bản nhằm phát triển trang trại trong thời kỳ công nghiệp hoá

Công trình nghiên cứu kinh tế hộ nông dân và vấn đề phát triển trang trại ở Việt Nam của tác giả Tô Dũng Tiến đưa ra một số vấn đề liên quan đến

đào tạo bồi dưỡng đội ngũ chủ trang trại và các giải pháp thị trường

Nghiên cứu về các mô hình trang trại ở các địa phương thường mới chỉ

có tính khảo sát và công bố những thông tin ban đầu còn mang tính báo cáo, tuy nhiên cũng đã nêu bật được những khó khăn nổi cộm trong quá trình hình thành và phát triển kinh tế trang trại

Các nghiên cứu tổng quan của các tác giả đã có những đóng góp rất lớn vào lý luận và thực tiễn, nhưng nhìn chung vẫn còn nhiều vấn đề chưa được

28

Trang 29

thống nhất và chưa được làm rõ, nhất là việc nhận dạng, nhìn nhận những điều kiện hình thành, phát triển trang trại và đặc biệt là đánh giá một cách sâu sắc

về kết quả và hiệu quả các loại hình trang trại

2.3.2 Nghiên cứu tại vùng

Tỉnh Hoà Bình nói chung và huyện Lạc Thuỷ nói riêng có nhiều tiềm năng và điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế trang trại Sau hơn 10 năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng kinh tế trang trại ở Lạc Thuỷ phát triển khá mạnh cả về số lượng và chất lượng Cho tới nay chưa có một công trình nào nghiên cứu thật cụ thể về thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế trang trại trong huyện Tuy nhiên đã có một số ban ngành của huyện như phòng Kinh tế, phòng Thống kê, phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn

và Hội nông dân của huyện tiến hành điều tra nhanh nhằm tìm hiểu về kinh tế trang trại ở địa phương Qua tìm hiểu chúng tôi thấy, kết quả tìm hiểu của các cơ quan nói trên mới chỉ mang tính thống kê, khảo sát về số lượng, diện tích trang trại nhằm mục đích để báo cáo, tuy nhiên nhiều vấn đề có tính thống nhất chưa cao

Trên cơ sở kế thừa và phát triển cùng với kết quả nghiên cứu của mình, chúng tôi trình bày một số ý kiến và quan điểm để đóng góp về vấn đề phát triển kinh tế trang trại ở địa phương

29

Trang 30

3 Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu

3.1 Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của huyện Lạc Thuỷ

3.1.1 Điều kiện tự nhiên

• Vị trí địa lý

Lạc Thuỷ là huyện thuộc vùng núi thấp nằm phía Đông Nam của tỉnh Hoà Bình, có vị trí tiếp giáp như sau:

- Phía Bắc của huyện giáp tỉnh Hà Tây

- Phía Nam giáp tỉnh Ninh Bình

- Phía Đông giáp tỉnh Hà Nam

- Phía Tây giáp huyện Yên Thuỷ và Kim Bôi

Trung tâm huyện đặt tại thị trấn Chi Nê, cách thị xã Hoà Bình 75 km về phía Đông - Nam theo đường quốc lộ 12A; là điểm giao lưu kinh tế - xã hội khá thuận lợi với thị xã Phủ Lý của tỉnh Hà Nam và thị xã Nho Quan của tỉnh Ninh Bình

Toàn huyện có 12 xã (Phú Lão, Phú Thành, Cố Nghĩa, Hưng Thi, Lạc Long, Liên Hoà, Khoan Dụ, Đồng Môn, Đồng Tâm, Yên Bồng, An Lạc, An Bình) và thị trấn (Chi Nê), với tổng diện tích tự nhiên là 29.341 ha; chiếm

6,3% diện tích của tỉnh Hoà Bình

• Địa hình, địa thế

Huyện Lạc Thuỷ mang đặc trưng của địa hình trung du - miền núi, thấp dần từ Đông - Bắc xuống Tây - Nam Độ dốc bình quân toàn huyện từ 200 -

300, độ cao tuyệt đối trung bình 110 m, cao nhất 480 m và thấp nhất là 30 m

Lạc Thuỷ có mạng lưới giao thông khá thuận lợi, đây là cửa ngõ giao lưu giữa thị xã Hoà Bình với các tỉnh đồng bằng sông Hồng và các tỉnh phía Nam nên có điều kiện thuận lợi cho việc lưu thông hàng hoá của huyện với các huyện trong tỉnh và các tỉnh giáp kề trước hết là với thị xã Phủ Lý và thị

30

Trang 31

xã Đồng Giao là những trung tâm kinh tế quan trọng nằm trên Quốc lộ 1

Đặc trưng địa hình của huyện có nhiều đồi và núi đá vôi xen với các đồi

đất thấp tạo nên những bãi bằng và những cánh đồng, đặc biệt là con sông Bôi

đã chia cắt địa hình huyện thành 2 vùng khác nhau cơ bản về địa hình và điều kiện sản xuất lâm, nông nghiệp

- Vùng núi cao phía Tây: Thuộc vùng này gồm các xã nằm hữu ngạn

sông Bôi là Hưng Thi, Đồng Môn, An Lạc và An Bình có diện tích tự nhiên 85

km2, chiếm 30% diện tích tự nhiên toàn huyện, dân số có khoảng 12.000 người chiếm 25% dân số toàn huyện Đây là các xã kinh tế còn nhiều khó khăn và ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố khắc nghiệt đến sản xuất

- Vùng thấp phía Đông: Vùng này tiếp cận đồng bằng gồm các xã còn

lại trong huyện là: xã Phú Thành, Phú Lão, Cố Nghĩa, Liên Hoà, Lạc Long, Khoan Dụ, Yên Bồng Đồng Tâm và thị trấn Chi Nê Điều kiện tự nhiên của vùng thấp phía Đông thích hợp với phát triển cây lương thực, các loại cây ăn quả và cây công nghiệp

• Đặc điểm khí hậu, thời tiết

Lạc Thuỷ mang nét đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, một năm thường có 2 mùa rõ rệt:

- Mùa mưa: Từ tháng 4 đến tháng 10, lượng mưa bình quân từ 1750 mm

đến 1850 mm, chiếm khoảng 90% tổng lượng mưa cả năm, lượng mưa nhiều nhất vào tháng 6 và tháng 7 Vào mùa mưa do sự chia cắt của địa hình thành những dải hẹp nên dễ gây lụt lội, lũ quét ảnh hưởng đến giao thông nhất là các xã dọc sông Bôi như Lạc Long, Cố Nghĩa, Khoan Dụ, Yên Bồng và thị trấn Chi Nê

- Mùa khô hanh: Từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau chiếm khoảng 10%

lượng mưa cả năm, lượng mưa trung bình từ 200 - 250 mm

Nhiệt độ bình quân năm là 22,50C, cao nhất là 370C vào tháng 6 và 7, nhiệt độ thấp nhất khoảng 100C

Độ ẩm trung bình từ 75 đến 86%, độ ẩm cao nhất vào tháng 7 và tháng

31

Trang 32

8, trong những tháng này độ ẩm có khi lên tới 90%, tháng có độ ẩm thấp nhất

là tháng 4 và tháng 11, các tháng này độ ẩm khoảng 65 đến 70%

Nhìn chung các yếu tố khí hậu, thời tiết, nhiệt độ, độ ẩm và lượng mưa của huyện thích hợp với quá trình sinh trưởng và phát triển của nhiều loại cây trồng, vật nuôi, cho phép gieo trồng nhiều vụ trong một năm, là cơ sở thuận lợi

để chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hoá Bên cạnh những yếu tố thuận lợi đó còn có những mặt không thuận lợi ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình phát triển nông lâm nghiệp như do lượng mưa phân bố không đều giữa các tháng trong năm nên thường xuyên gây ra hiện tượng hạn hán trong mùa khô (vụ Đông xuân) và vụ hè (vụ hè thu), hai vụ hạn này làm nguồn nước ngầm và sông ngòi bị cạn kiệt ảnh hưởng đến sản xuất lúa Nhưng lại hay có úng lụt vào tháng 7 và tháng 8 làm cho diện tích ngập lụt hàng năm chiếm tới 20 - 30%, thậm chí có vùng mất trắng, nhất là các xã ven sông Bôi

Có năm nhiệt độ xuống thấp và kèm theo sương muối gây ảnh hưởng, thiệt hại

đến sản xuất, dẫn đến chi phí cao, năg suất cây trồng thấp

Huyện Lạc Thuỷ có một số nhóm đất chính như nhóm đất Feralit đỏ nâu phát triển trên đá vôi (FV), có hạt mịn độ dày tầng đất > 80 cm, nhóm đất Feralit nâu đỏ phát triển trên đá phiến thạch sét (FS), có hạt mịn, độ dày tầng

32

Trang 33

đất > 70 cm, nhóm đất Feralit nâu vàng phát triển trên đất phù sa cổ (Fb), tầng

đất dày Các nhóm đất này rất phù hợp với nhiều loài cây trồng nông nghiệp,

lâm nghiệp, cây ăn quả và cây công nghiệp

Bảng 3.1: Cơ cấu đất đai của huyện Lạc Thuỷ năm 2002

Chỉ tiêu Diện tích (ha) Cơ cấu (%)

Tổng diện tích đất tự nhiên

1- Đất nông nghiệp

Trong đó:- Đất trồng cây hàng năm

- Đất trồng cây lâu năm

948 1.248 12.766

5.865 6.901 1.664

429 9.027

100 18,59

10 3,23 4,25 43,51

20 23,51 5,67 1,46 30,77

Nguồn: Phòng Thống kê huyện Lạc Thuỷ [13]

3.1.2 Tình hình phát triển kinh tế - x∙ hội

• Dân số và nguồn lực lao động

Tình hình dân số và nguồn lực lao động của huyện được thể hiện qua

bảng 3.2 Qua bảng cho thấy năm 2002 huyện Lạc Thuỷ có 43.924 người

Trong huyện có hai dân tộc chủ yếu là người Kinh và người Mường, người Mường chiếm 34% dân số Mật độ dân số bình quân của toàn huyện là 169 người/km2 nhưng dân số phân bố không đồng đều, vùng đông như thị trấn Chi

Nê có mật độ dân số gần 1.000 người/km2, những xã vùng sâu, vùng xa của

33

Trang 34

Bảng 3.2: Tình hình dân số và lao động huyện Lạc Thuỷ

II Một số chỉ tiêu bình quân

Trang 35

huyện như xã Đồng Môn mật độ dân số chỉ có trên 60 người/km2 Đây có thể coi là một trở ngại trong việc đồng đều hoá mức sống giữa các khu vực trong huyện

Lao động trong độ tuổi của toàn huyện có 23.782 người chiếm 54,14%

dân số Trong cơ cấu lao động, lao động khối nông nghiệp là 21.182 người chiếm 89,07%, lao động lâm nghiệp là 202 người chiếm 0,46%, lao động thủy sản 131 người chiếm 0,55%, lao động những lĩnh vực khác có 2.371 người, chiếm 9,97% Qua đó cho thấy lao động trong độ tuổi ở Lạc Thuỷ chủ yếu là lao động nông nghiệp với số lao động bình quân/hộ nông nghiệp là 2,43 người cao hơn số lao động bình quân/hộ ở huyện Qua tìm hiểu thấy tỷ lệ lao động qua đào tạo ở huyện chỉ chiếm khoảng 11%, số lao động có việc làm chiếm khoảng 74% và mỗi năm huyện phải giải quyết cho khoảng 1.000 lao động chưa có việc làm

Về thu nhập và đời sống dân cư trong huyện còn rất khó khăn, huyện còn 5 xã thuộc diện đặc biệt khó khăn là xã Hưng Thi, An Bình, An Lạc,

Đồng Môn và Liên Hoà Tại các xã này cơ sở hạ tầng chưa phát triển, đặc biệt

là đường sá vào xã còn rất khó khăn vào mùa mưa

• Tình hình phát triển kinh tế

Cùng với sự phát triển kinh tế chung của cả nứơc trong thời kỳ đổi mới, những năm qua nền kinh tế của huyện Lạc Thuỷ đã có sự tăng trưởng đáng kể Nhịp độ tăng trưởng kinh tế của huyện trong giai đoạn 1996-2000 đạt bình quân khoảng 9% năm, nếu so với giai đoạn 1991-1995 tuy tăng trưởng chỉ đạt 9% nhưng giá trị thu nhập đưa lại từ sản xuất nhiều hơn, cơ cấu kinh tế đã thay đổi theo hướng tiến bộ

Thu nhập bình quân đầu người năm 1995 là 1.515 nghìn đồng, năm

2000 tăng lên 1.870 nghìn đồng, năm 2001 đạt 2.223 nghìn đồng, tăng 1,2 lần

so với năm 1996 và đạt 2.480 nghìn đồng năm 2002

35

Trang 36

Đồ thị 3.1: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Lạc Thuỷ 1996-2001

Nông-lâm nghiệp Công nghiệp-Xây dựng Dịch vụ-thương mại

Qua đồ thị 3.1 có thể thấy cơ cấu giá trị sản xuất của các khối ngành trong giai đoạn 1996 đến 2001 có sự biến đổi Giá trị sản xuất ngành nông-lâm nghiệp năm 2000 chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu giá trị sản xuất của huyện, năm 2001 giá trị sản xuất ngành này lại giảm 8% so với năm 2000 nhưng lại tăng 5,5% so với năm 1996 Cũng trong giai đoạn này ngành công nghiệp-xây dựng và ngành dịch vụ- thương mại có giá trị sản xuất tăng giảm không đều giữa các năm, cho đến năm 2001 giá trị sản xuất của ngành công nghiệp - xây dựng giảm 3% và ngành dịch vụ - thương mại giảm đáng kể (2,5%) so với năm 1996

3.1.3 Kết quả hoạt động một số ngành và lĩnh vực sản xuất

• Ngành nông nghiệp

Ngành nông nghiệp là ngành sản xuất chủ yếu chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế của huyện sản phẩm chủ yếu tiêu dùng tại chỗ, nông sản hàng hoá chưa nhiều Trong 5 năm, giá trị sản xuất toàn ngành đã có sự tăng trưởng

đáng kể: từ 47,47 tỷ đồng năm 1996 lên tới 67,0 tỷ đồng năm 2000

36

Trang 37

Tốc độ tăng trưởng của ngành nông nghiệp trong những năm gần đây tương đối ổn định và có chiều hướng gia tăng Nếu năm 1990 nông nghiệp chỉ tăng 3,0% so với năm 1989, thì năm 1995 đã tăng 4,1% so với năm 1994 và năm 1997 tăng 5,2% so với năm 1996 Mức tăng trưởng của ngành nông nghiệp trong những năm gần đây đạt thấp do ảnh hưởng của điều kiện thời tiết (khoảng 4,1%/năm)

Tuy nhiên hiệu quả thu được trên 1 ha đất trồng cây hàng năm còn rất thấp chỉ đạt 4,5 đến 5 triệu đồng/ha/năm), thu nhập bình quân một lao động nông nghiệp chỉ đạt 1,82 triệu đồng/năm Kết quả trên thể hiện việc sử dụng đất

nông nghiệp chưa đạt hiệu quả cao, chưa tương xứng với tiềm năng đất đai

- Trồng trọt: Giá trị sản xuất ngành trồng trọt tăng từ 28,94 tỷ đồng năm

1996 lên 39,38 tỷ đồng năm 2000, đạt mức tăng trưởng xấp xỉ 7%/năm Gồm

có các loại cây trồng sau:

+ Cây công nghiệp ngắn ngày: chủ yếu là cây lạc và cây đậu tương ngoài ra còn trồng mía đường, vừng

+ Cây công nghiệp dài ngày: chủ yếu là cây chè với diện tích trồng hiện nay là 296 ha, hàng năm cho sản lượng chè búp tươi khoảng 624 tấn

+ Cây ăn quả: các loại cây ăn quả đem lại lợi nhuận cao trong huyện hiện nay là nhãn, vải, cam, quýt, mơ, mận

- Chăn nuôi: Huyện Lạc Thuỷ thuận lợi cho việc phát triển đàn lợn,

trâu, bò, dê và chăn thả gia cầm

- Thuỷ sản: Lạc thuỷ ít có điều kiện phát triển kinh tế thuỷ sản hàng hoá

nhưng lại có điều kiện thuận lợi cho việc phát triển thuỷ sản gia đình dưới nhiều hình thức để tiêu dùng tại chỗ Trong thời gian qua huyện đã khuyến khích sản xuất thuỷ sản theo mô hình “nghề cá nhân dân” Nhờ đó nuôi cá

được phát triển với nhiều mô hình kết hợp như nuôi cá với trồng lúa, nuôi cá

ao hồ nhỏ, nuôi cá lồng trên sông suối, nuôi cá nước chảy và nuôi cá mặt nước lớn dạng hồ chứa

37

Trang 38

• Ngành lâm nghiệp

Sản xuất lâm nghiệp là ngành kinh tế quan trọng của huyện, chiếm tỷ trọng lớn về diện tích đất đai và lao động, đây có thể coi là một trong những thế mạnh của huyện Giá trị sản xuất ngành lâm nghiệp của huyện tăng chậm

và không ổn định, bình quân chiếm khoảng 6-7% tổng giá trị sản xuất của toàn huyện Năm 1996 giá trị sản xuất của ngành lâm nghiệp là 8,1 tỷ đồng đã tăng lên 8,4 tỷ đồng vào năm 1999 và có sự tăng đột biến vào năm 2000 với giá trị lên tới 14,68 tỷ đồng trong đó trồng rừng mới và chăm sóc bảo vệ rừng

đạt 2.246 triệu đồng, chiếm 15,3%; khai thác rừng là bộ phận chủ chốt đạt 11.919 triệu đồng, chiếm tới 81,4% Tuy nhiên đến năm 2001, giá trị sản xuất của ngành lâm nghiệp chỉ còn 6,74 tỷ đồng do việc đầu tư vào lâm nghiệp chưa gắn trồng rừng với khai thác và bảo vệ rừng

Sản phẩm chủ yếu của ngành lâm nghiệp bao gồm rừng trồng (khoảng 100- 200 ha/năm) và rừng chăm sóc (trên 6000 ha/năm) Sản phẩm khai thác chủ yếu là gỗ tròn: năm 1996 khai thác 4.800 m3, đến năm 1999 khai thác 5.000 m3 và năm 2001 khai thác được khoảng hơn 4.000 m3, ngoài gỗ tròn còn

có củi, tre, luồng, nứa

Công tác giao đất, giao rừng, thực hiện rừng có chủ ở Lạc Thuỷ được thực hiện tốt, đến nay toàn huyện đã giao được 14.200 ha đất lâm nghiệp cho trên 4.360 hộ và các doanh nghiệp cũng như các đơn vị vũ trang quản lý

3.1.4 Những điều kiện thuận lợi và khó khăn cho việc phát triển kinh tế trang trại

• Những lợi thế

Lạc Thủy tuy là huyện miền núi nhưng có điều kiện thuận lợi theo hướng vươn ra đồng bằng qua thị xã Phủ Lý thuộc tỉnh Hà nam và tiếp cận với các tỉnh phía Nam qua thị xã Nho Quan của tỉnh Ninh Bình bằng đường bộ và

đường thuỷ Lạc Thuỷ cũng có thể coi là điểm trung chuyển hàng hoá giữa vùng Tây Bắc với đồng bằng sông Hồng và các tỉnh phía Nam Đây là một

38

Trang 39

trong những điều kiện thuận lợi của huyện để phát triển kinh tế theo hướng sản xuất hàng hoá và là một trong những yếu tố có bản để kinh tế trang trại nơi đây phát triển

Lạc Thuỷ có nguồn tài nguyên đất rộng lớn và đa dạng nên phù hợp với việc trồng cây lâm, nông nghiệp, trồng cây công nghiệp và các ngành nghề khác

• Những mặt hạn chế

Mặt hạn chế lớn nhất của Lạc Thuỷ đó là chất lượng nguồn nhân lực thấp nên việc tiếp thu khoa học công nghệ tiên tiến gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là việc cập nhật những công nghệ thông tin mới mang tính chất đột phá trong phát triển kinh tế

Là huyện có nguồn tài nguyên đa dạng, đặc biệt là tài nguyên rừng và

đất rừng tuy nhiên việc sử dụng và khai thác nguồn tài nguyên này chưa có hiệu quả Nguyên nhân là do chất lượng lao động còn thấp nên gặp khó khăn trong việc tiếp cận tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất

Lạc Thuỷ có địa hình đồi núi phức tạp, có nhiều núi đá vôi xen lẫn với

đồi đất thấp tạo nên địa hình hiểm trở, mặt khác khí hậu thời tiết tương đối khắc nghiệt làm cho mọi hoạt động đều gặp khó khăn nhất là hoạt động sản xuất lâm, nông nghiệp

ở huyện chưa có các nhà máy chế biến nông sản thực phẩm nên việc tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp rất khó khăn nhất là vào thời kỳ chính vụ, có

nhiều sản phẩm mà không tiêu thụ được

3.2 Phương pháp nghiên cứu

3.2.1- Phương pháp thu thập tài liệu và số liệu

a Đối với các thông tin đã được công bố

Một số văn kiện, chính sách của Đảng và Nhà nước; một số tài liệu, giáo trình, bài giảng và các công trình nghiên cứu đã được công bố của các tác giả

có liên quan đến vấn đề nghiên cứu, về kinh tế hộ và kinh tế trang trại

39

Trang 40

Tài liệu được thu thập từ các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội về đặc

điểm tự nhiên, kinh tế xã hội, các công trình đã công bố, các báo cáo của các cơ quan chức năng về mặt dân số, lao động, đất đai, vốn, kết quả sản xuất kinh doanh Những số liệu này được thu thập chủ yếu ở Cục Thống kê tỉnh Hoà Bình, phòng Thống kê huyện Lạc Thuỷ, phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Lạc Thuỷ và các cơ quan, ban ngành có liên quan của huyện

b Đối với các thông tin mới

Thu thập bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp theo phiếu điều tra trang trại đã được chuẩn bị trước về các vấn đề:

- Về tình hình cơ bản của trang trại: họ và tên chủ trang trại, tuổi, giới

tính, thành phần xuất thân, trình độ văn hoá, thời gian thành lập trang trại, hình thức thành lập, diện tích đất đai, cơ cấu tổ chức sản xuất của trang trại, số nhân khẩu của hộ, số lao động, vốn sản xuất của hộ

- Về tình hình hoạt động sản xuất của trang trại: các khoản chi phí đầu

vào của sản xuất, kết quả sản xuất trong năm 2002 của các trang trại (gồm cả chỉ tiêu hiện vật và chỉ tiêu giá trị), tình hình sản xuất hàng hoá trong trang trại, tình hình tham gia thị trường (cả đầu vào và đầu ra) của trang trại

- Về các vấn đề khác có liên quan: ý kiến của chủ trang trại, những dự

định, nguyện vọng, nhu cầu, những thuận lợi, khó khăn trong quá trình phát triển kinh tế trang trại như về lao động, vốn, đất đai

c- Phương pháp điều tra

- Qua các tài liệu và qua khảo sát sơ bộ ở huyện Lạc Thuỷ có 11 xã trong tổng số 13 xã và thị trấn có trang trại và được phân bố trên 2 vùng sinh thái khác nhau là vùng núi cao phía Tây và vùng thấp phía Đông Vùng núi cao phía Tây có 2 loại hình trang trại là trang trại trồng cây lâm nghiệp và trang trại nuôi trồng thuỷ sản Vùng thấp phía Đông có trang trại trồng cây lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, trồng cây lâu năm, trang trại chăn nuôi và trang trại hỗn hợp

40

Ngày đăng: 14/06/2021, 12:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w