1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá công tác bồi thường hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất để phát triển đô thị trên địa bàn quận long biên thành phố hà nộ

107 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 1,77 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Phương pháp xử lý, phân tích, tổng hợp số liệu Sử dụng phần mềm Microsoft Excel để tổng hợp, phân tích và xử lý số liệu kết quả điều tra của người bị thu hồi đất, từ đó đánh giá kết q

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN THỊ HẢI

ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ

VÀ TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT

ĐỂ PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thanh Trà

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Hải

Trang 3

đã trực tiếp giúp đỡ em trong suốt thời gian nghiên cứu đề tài

Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu đó!

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Hải

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cam đoan ii

Mục lục iii

Danh mục bảng vii

Danh mục hình viii

Trích yếu luận văn ix

Thesis abstract xi

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục đích nghiên cứu 2

1.3 Yêu cầu của đề tài 2

Phần 2 Tổng quan tài liệu 4

2.1 Cơ sở lý luận về chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất 4

2.1.1 Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất 4

2.1.2 Hỗ trợ 4

2.1.3 Tái định cư (TĐC) 5

2.1.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư 5

2.2 Chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của một số nước trên thế giới 9

2.2.1 Trung Quốc 9

2.2.2 Hàn Quốc 11

2.2.3 Thái Lan 13

2.2.4 Một số tổ chức 13

2.2.5 Bài học kinh nghiệm về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho Việt Nam 15

2.3 Chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư ở việt nam 15

2.3.1 Thời ký trước khi có Luật Đất đai năm 1987 15

2.3.2 Thời kỳ từ khi có Luật Đất đai năm 1987 đến Luật Đất đai năm 1993 17

2.3.3 Thời kỳ từ khi có Luật Đất đai năm 1993 đến Luật Đất đai năm 2003 18

2.3.4 Những điểm mới trong Luật Đất đai năm 2013 về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư 20

2.4 Tình hình thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất tại thành phố Hà Nội 26

2.4.1 Các văn bản quy phạm pháp luật do Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội ban hành 26

2.4.2 Thực tiễn của việc bồi thường, hỗ trợ 27

Trang 5

2.5 Đánh giá, nhận xét chung và định hướng nghiên cứu 30

Phần 3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 32

3.1 Địa điểm nghiên cứu 32

3.2 Thời gian nghiên cứu 32

3.3 Đối tượng nghiên cứu 32

3.4 Nội dung nghiên cứu 32

3.4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của quận Long Biên 32

3.4.2 Đánh giá công tác quản lý sử dụng đất tại quận Long Biên 32

3.4.3 Thực trạng công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư trên địa bàn quận Long Biên 32

3.4.4 Đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư tại 02 dự án nghiên cứu 33

3.4.5 Đề xuất một số giải pháp góp phần đẩy nhanh công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất thực hiện các dự án tại quận Long Biên 33

3.5 Phương pháp nghiên cứu 33

3.5.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 33

3.5.2 Phương pháp thu thập thông tin, số liệu, tài liệu 33

3.5.3 Phương pháp xử lý, phân tích, tổng hợp số liệu 34

3.5.4 Phương pháp so sánh 35

Phần 4 Kết quả và thảo luận 36

4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội quận Long Biên 36

4.1.1 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên và cảnh quan môi trường 36

4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 39

4.1.3 Đánh giá chung điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội 40

4.2 Đánh giá công tác quản lý sử dụng đất tại quận Long Biên 42

4.2.1 Tình hình biến động đất đai trên địa bàn quận giai đoạn 2011 – 2015 42

4.2.2 Hiện trạng sử dụng đất quận Long Biên 43

4.2.3 Tình hình quản lý đất đai tại quận Long Biên 45

4.2.4 Ưu và nhược điểm trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai trên địa bàn quận Long Biên 48

4.3 Thực trạng công tác bồi thường gpmb trên địa bàn quận Long Biên 50

4.3.1 Thực trạng công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện các dự án trên địa bàn quận Long Biên 50

4.3.2 Đánh giá những thuận lợi khó khăn chung trong công tác bồi thường GPMB tại quận Long Biên 54

Trang 6

4.4 Đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư tại 02

dự án nghiên cứu 58

4.4.1 Khái quát về dự án nghiên cứu 58

4.4.2 Cơ sở pháp lý để thực hiện dự án 60

4.4.3 Xác định đối tượng và điều kiện được bồi thường, hỗ trợ 63

4.4.4 Đánh giá công tác bồi thường, hỗ trợ về đất của dự án nghiên cứu 67

4.4.5 Bồi thường tài sản trên đất: Giá bồi thường về tài sản 72

4.4.6 Đánh giá chính sách hỗ trợ ổn định đời sống, thưởng tiến độ bàn giao mặt bằng và các hỗ trợ khác theo quy định) 76

4.4.7 Về tái định cư 82

4.4.8 Những tồn tại trong công tác GPMB của dự án nghiên cứu 83

4.4.9 Đánh giá chung về công tác bồi thường, hỗ trợ trên địa bàn quận Long Biên thông qua dự án nghiên cứu 83

4.5 Đề xuất một số giải pháp trong công tác bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất 86

4.5.1 Chính sách bồi thường về đất, chi phí đầu tư vào đất còn lại khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp 86

4.5.2 Chính sách bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở 86

4.5.3 Bồi thường thiệt hại về tài sản trên đất bị thu hồi 87

4.5.4 Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất 87

4.5.5 Hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm cho hộ gia đình, cá nhân khi Nhà nước thu hồi đất 88

4.5.6 Nâng cao công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 88

Phần 5 Kết luận và kiến nghị 89

5.1 Kết luận 89

5.2 Kiến nghị 90

Tài liệu tham khảo 92

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT`

Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt

ADB Ngân hàng phát triển Châu Á BT,HT &TĐC Bồi thường, hỗ trợ và tái định cư GCNQSDĐ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất GPMB Giải phóng mặt bằng

HĐND - UBND Hội đồng nhân dân - Ủy ban nhân dân QHSDĐ Quy hoạch sử dụng đất

QSDĐ Quyền sử dụng đất SDĐ Sử dụng đất TĐC Tái định cư TNMT Tài nguyên môi trường

WB Ngân hàng thế giới XHCN Xã hội chủ nghĩa

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 4.1 Biến động sử dụng đất theo mục đích sử dụng giai đoạn 2011– 2015 42

Bảng 4.2 Hiện trạng sử dụng đất quận Long Biên, Thành phố Hà Nội tính đến ngày 31/12/2015 44

Bảng 4.3 Kết quả công tác GPMB tại quận Long Biên từ năm 2011 – 2015 50

Bảng 4.4 Xác định đối tượng được bồi thường và không được bồi thường 64

Bảng 4.5 Ý kiến của người có đất bị thu hồi trong việc xác định đối tượng và điều kiện được bồi thường 66

Bảng 4.6 Tổng hợp về bồi thường, hỗ trợ về đất 70

Bảng 4.7 Đơn giá bồi thường hỗ trợ về đất và sơ sánh với giá thực tế 70

Bảng 4.8 Ý kiến của người dân về đơn giá BTHT về đất dự án 72

Bảng 4.9 Tổng hợp kinh phí bồi thường, hỗ trợ nhà ở, công trình vật kiến trúc, cây cối hoa màu trên đất bị thu hồi tại 02 dự án 75

Bảng 4.10 Ý kiến của người có đất trong việc xác định giá bồi thường cây trồng, công trình, trên đất tại dự án 75

Bảng 4.11 Tổng hợp kinh phí bồi thường, hỗ trợ di chuyển chỗ ở, hỗ trợ thuê nhà tạm cư, thưởng bàn giao mặt bằng đúng tiên độ tại 2 dự án 81

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 4.1 Sơ đồ vị trí quận Long Biên - Thành phố Hà Nội 36

Hình 4.2 Cơ cấu kinh tế của quận Long Biên giai đoạn 2011-2015 39

Hình 4.3 Cơ cấu sử dụng đất quận Long Biên năm 2015 43

Hình 4.4 Sơ đồ vị trí Dự án ô đất ký hiệu C.7/CCTP 60

Hình 4.5 Sơ đồ vị trí Dự án Nút giao cầu Thanh Trì 60

Trang 10

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Tên tác giả: Nguyễn Thị Hải

Tên luận văn: “Đánh giá công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà

nước thu hồi đất để phát thiển đô thị trên địa bàn quận Long Biên, Thành phố Hà Nội”

Chuyên ngành: Quản lý đất đai, Mã số: 60.85.01.03

Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam

1 Mục đích nghiên cứu:

- Đánh giá công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

để phát triển đô thị trên địa bàn quận Long Biên, Thành phố Hà Nội

- Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị góp phần giải quyết những tồn tại, khó khăn góp phần nâng cao hiệu quả công tác bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng trên địa bàn nghiên cứu

2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp chọn điểm nghiên cứu

Hai dự án thực hiện công tác GPMB tại hai thời điểm khác nhau( luật đất đai 2003

và luật đất đai 2013) nhằm so sánh, đối chiếu các chính sách bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất Thông qua đó thấy được những ưu điểm, hạn chế và đề xuất một số giải pháp góp phần thực hiện tốt các chính sách GPMB tạo đồng thuận trong nhân dân

- Phương pháp thu thập thông tin, số liệu, tài liệu

Điều tra thu thập tài liệu điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội, văn bản chính sách, số liệu thông qua sách, báo, internet và tiếp cận với tổ chức thực hiện, ban QLDA, phòng TNMT, TTPT Quỹ đất chi nhánh Long Biên và các phòng ban có liên quan để trao đổi, thu thập thông tin về tình hình thực hiện công tác BTHT&TĐC Điều tra trực tiếp đối với 80 hộ gia đình bị thu hồi đất tại phường Thạch Bàn, Giang Biên, Phúc Lợi

- Phương pháp xử lý, phân tích, tổng hợp số liệu

Sử dụng phần mềm Microsoft Excel để tổng hợp, phân tích và xử lý số liệu kết quả điều tra của người bị thu hồi đất, từ đó đánh giá kết quả công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định

cư trên địa bàn nghiên cứu

- Phương pháp so sánh

Dùng để so sánh các số liệu thu thập được, từ đó thấy được sự giống và khác nhau về chính sách bồi thường, hỗ trợ qua các thời kỳ trên địa bàn quận qua 02 dự án nghiên cứu

Trang 11

3 Kết quả và kết luận

- Về xác định đối tượng bồi thường hỗ trợ: qua việc điều tra phỏng vấn trực tiếp

80 hộ dân bị thu hồi đất, kết quả có 72 hộ đồng thuận với việc xác định đối tượng bồi thường, hỗ trợ đạt 90,0% và có 08 hộ không đồng thuận đạt 10,0%

- Về đơn giá bồi thường, hỗ trợ:

+ Đối với đất nông nghiệp: Qua điều tra phỏng vấn 75 hộ dân bị thu hồi đất, kết quả có 27 hộ hài lòng với đơn bồi thường, hỗ trợ chiếm 36,0% và 48 hộ không hài lòng chiếm 64,0%

+ Đối với đất ở: Qua điều tra phỏng vấn 5 hộ dân bị thu hồi đất, kết quả có 01 hộ hài lòng với đơn bồi thường, hỗ trợ chiếm 20,0% và 13 hộ không hài lòng chiếm 80,0%

- Về bồi thường tài sản trên đất (công trình, cây cối hoa màu): Qua điều tra phỏng vấn 58 hộ dân bị thu hồi đất, kết quả có 54 hộ hài lòng với đơn giá bồi thường,

hỗ trợ chiếm 93,1% và 4 hộ không hài lòng chiếm 6,9%

- Về khoản hỗ trợ ổn định đời sống, hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp, thưởng tiến

độ bàn giao mặt bằng và các khoản hỗ trợ khác: Qua điều tra phỏng vấn các hộ có đất bị thu hồi đều hài lòng với khoản hỗ trợ trên

Qua nội dung nghiên cứu cho thấy công tác giải phóng mặt bằng tại 02dự án nghiên cứu cũng như địa bàn nghiên cứu là chưa đáp ứng với sự hài lòng của người dân,

từ đó cần có những giải pháp về cơ chế chính sách, về tổ chức thực hiện và tuyên truyền vận động cho phù hợp với công tác giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất

Trang 12

THESIS ABSTRACT

Author Name: Nguyen Thi Hai

Thesis title: Evaluation of compensation, support and resettlement when the State

recovers land for urban development in the province shortsighted Long Bien District, Hanoi

Specialization: Land Management Code 60.85.01.03

Training Facility: Vietnam National University of Agriculture

1 Purpose of the study:

- Evaluation of compensation, support and resettlement when the State recovers land for urban development in the province of Long Bien District, Hanoi City

- Proposed a number of measures and proposals contribute to solving these problems, difficulties contribute to improving the effectiveness of compensation, support clearance in the study area

2 Research Methodology:

- Research selection method

Two projects carried out clearance work at two different times (2003 land law and land law in 2013) to compare, compare compensation policies, support when the State recovers land Through which to see the advantages, limitations and propose some solutions to the implementation of good policies to create consensus clearance

in people

- Methods of collecting information, data and documents

Investigation collect material conditions of socio-economic nature, policy documents and data through books, newspapers, internet access and implementation, project management, environmental resource room, land development center in Long Bien branches and departments concerned to exchange and gather information on the implementation of the compensation, support and resettlement A direct Inventory for

80 households whose land is recovered in Thach Ban Ward, Giang Bien, Phuc Loi

- Methods for processing, analyzing and synthesizing data

Using Microsoft Excel software to synthesize, analyze and process data from a survey land acquisition, thereby evaluating the results of compensation, support and resettlement in the study area

- Comparative method

Trang 13

Used to compare the data collected, from which to see the similarities and differences in compensation policies, support through periods in the district over 02 research projects

3 Results and conclusions:

- On the subject of compensation determined support: through direct interview survey of 80 farmers whose land is recovered, the result has 72 households agreed with identifying object compensation, reaching 90.0% support and there are 08 households consensus reached 10.0%

- Regarding the compensation rate, support:

+ For agricultural land: Through the survey interviewed 75 farmers whose land

is recovered, the result has 27 households satisfied with the claim, accounting for 36.0% support and 48 households accounted for 64.0% dissatisfied

+ For residential land: Through the survey interview 5 households whose land is recovered, the result has 01 households satisfied with the claim, accounting for 20.0% support and 13 households accounted for 80.0% dissatisfied

- Regarding compensation for property on the land (buildings, trees and crops): Through the survey interviewed 58 farmers whose land is recovered, the result has 54 households satisfied with the compensation rate, accounting for 93.1 support and 4% of households accounted for 6.9% dissatisfied

- About grants stabilize life support switched careers, rewards progress and hand over other forms of assistance: Through the survey interviewed households had acquired land are satisfied with subsidies on

Content through work study showed clearance at 02du research project as well as the study area is yet to respond to the satisfaction of the people, which requires the solution of policy mechanisms, the implementation and advocacy work to fit clearance when the State recovers land

Trang 14

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Như chúng ta đã biết, Đất đai là tài sản quốc gia có giá trị lớn, có vị trí đặc biệt quan trọng đối với đời sống của từng hộ gia đình, cá nhân, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là điều kiện tối thiểu đảm bảo cho quá trình tái sản xuất giúp xã hội không ngừng phát triển ỏ Việt Nam đang trong thời kỳ thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nhiều dự án như các khu công nghiệp, nhà máy, các khu đô thị mới, khu dân cư, cơ sở hạ tầng đang được triển khai xây dựng Để xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng, phát triển các nghành kinh tế, công nghiệp, giao thông, xây dựng, thương mại dịch vụ, giáo dục, y tế, xã hội, đào tạo.v.v Nhà nước phải thu hồi đất của người sử dụng đất và bồi thường, hỗ trợ cho người có đất bị thu hồi Việc thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư có ý nghĩa quyết định trong toàn bộ quá trình thu hồi đất, giải phóng mặt bằng, đảm bảo cho sự thành công của dự án đầu tư và là một trong những nhân tố quan trọng quyết định đến hiệu quả thu hút đầu tư trong và ngoài nước nhằm đẩy mạnh tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá của đất nước

Trong những năm gần đây Nhà nước đã từng bước hoàn thiện pháp luật về đất đai và ban hành các văn bản pháp lý hướng dẫn thực hiện về công tác bồi thường, hỗ trợ GPMB và tái định cư nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định

cư khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện các dự án vì lợi ích quốc gia công cộng, kinh tế và an ninh quốc phòng

Từ thực tế triển khai đều có những bất cập gây khó khăn cả cho cơ quan nhà nước, nhà đầu tư và người đang sử dụng đất Trong biện pháp hành chính, cơ quan nhà nước phải chi phí lớn về kinh phí, nhân lực để tham gia, nhà đầu tư chịu áp lực của bộ máy hành chính và cũng chịu áp lực của người bị thu hồi đất, người đang sử dụng đất luôn không thỏa mãn với mức bồi thường, hỗ trợ, tái định cư do Nhà nước giải quyết Trong biện pháp dân sự, nhà đầu tư khó tìm được sự đồng thuận của tất cả mọi người đang sử dụng đất trong thương thảo, một số người đang sử dụng đất không muốn hợp tác với nhà đầu tư, nâng giá đất lên quá cao

Trang 15

Quận Long Biên nằm ở phía Đông Bắc của ngõ của Thành phố Hà Nội, là một trong 12 quận của Hà Nội, có ý nghĩa quan trọng về kinh tế, chính trị, an ninh quốc phòng Trên địa bàn quận có 14 phường với 64 đường phố có tên

Là một Quận nội thành từ khi thành lập (06/11/2003) cho đến nay, được

sự quan tâm của Thành phố, cơ sở hạ tầng của quận được đã được đầu tư đáng

kể, cùng với việc triển khai thực hiện các dự án xây dựng hạ tầng, các dự án nhằm mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội có sử dụng đất dẫn đến sự biến động đất đai trên địa bàn quận Chính vì thế quận Long Biên luôn đứng đầu toàn Thành Phố về công tác giải phóng mặt bằng Cũng như các địa phương khác trong cả nước, công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, giải phóng mặt bằng để thực hiện các dự án đầu tư trên địa bàn quận cũng gặp một số các khó khăn vướng mắc về chính sách, thủ tục thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cần phải tiếp tục hoàn thiện Vì vậy, việc thực hiện đề tài: “Đánh giá công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để phát triển đô

thời điểm hiện nay

1.3 YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI

- Điều tra các số liệu, tài liệu đảm bảo tính trung thực, chính xác, phản ánh đúng hiện trạng và tình hình thực tế tại một số dự án thu hồi đất để phát triển đô thị trên địa bàn quận Long Biên, Thành phố Hà Nội Từ các số liệu thu thập được, đánh giá việc thực hiện các chính sách trong công tác bồi thường GPMB tại dự án nghiên cứu

- Các giải pháp phải đáp ứng được nhu cầu bảo đảm quyền lợi của người dân bị thu hồi đất đúng chính sách, pháp luật đẩy nhanh tiến độ bồi thường GPMB ở các dự án để phát triển cơ sở, hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội đối với một quận mới thành lập như Long Biên hạn chế thấp nhất những khiếu kiện phức tạp, điểm nóng liên quan đến công tác GPMB

Trang 16

1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN

* Đóng góp mới

Đánh giá công tác bồi thường, hỗ trợ ở một số dự án tại quận Long Biên Trên cơ sở phân tích, bổ sung thêm cơ sở thực tiễn trong việc bồi thường,

hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn quận Long Biên trong giai đoạn tới

* Về khoa học: Đề tài nghiên cứu một cách khoa học, toàn diện và có hệ thống các chính sách BT, HT, TĐC khi nhà Nước thu hồi đất của dự án được chọn làm đề tài nghiên cứu

* Về thực tiễn:

+ Giúp cho các nhà quản lý, quản lý về bồi thường, giải phóng mặt bằng khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn quận Chỉ ra điểm hợp lý và chưa hợp lý của hệ thống chính sách bồi thường, hỗ trợ

+ Kết quả nghiên cứu đã giúp người dân hiểu rõ thêm về quyền lợi và nghĩa

vụ của mình trong việc bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất

Qua đề tài nghiên cứu đề xuất các nội dung nhằm khắc phục các tồn tại, hạn chế trong Chính sách bồi thường GPMB; đưa ra những giải pháp nhằm đẩy nhanh công tác GPMB, bên cạnh đó vẫn đảm bảo lợi ích chính đáng của người

bị thu hồi đất, đảm bảo lợi ích của nhà đầu tư, đảm bảo chính sách chung của

Nhà nước

Trang 17

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT

2.1.1 Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất

- Thu hồi đất:

Theo quy định tại Khoản 5, Điều 4, Luật Đất đai năm: Là việc Nhà nước ra

quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn quản lý theo quy định của Luật này” quy định tại 2003 Khoản 11, Điều 3, Luật Đất đai năm 2013: Là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai

- Bồi thường:

Theo từ điển Tiếng việt thì “Bồi thường: đền bù những tổn hại đã gây ra”

Như vậy,bồi thường là trả lại tương xứng với giá trị hoặc công lao cho một chủ thể nào đó bị thiệt hại vì hành vi của chủ thể khác mang lại (Hoàng Phê, 2000) Theo quan điểm của Luật Đất đai 2003: “ Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất” (khoản 6, Điều 4) Trong đó, giá trị quyền sử dụng đất là giá trị bằng tiền của quyền sử dụng đất đối với một diện tích đất xác định trong thời hạn sử dụng đất xác định (Quốc hội nước CHXHCNVN, 2003) Theo quan điểm của Luật Đất đai 2013: “ Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do UBND cấp tỉnh quy định tại thời điểm quyết định thu hồi đất” (khoản 2, Điều 74) Việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất phải đảm bảo dân chủ, khách quan, công bằng, công khai, kịp thời và đúng quy đinh của pháp luật (khoản 3, Điều 74) (Quốc hội nước CHXHCNVN, 2013)

2.1.2 Hỗ trợ

Theo từ điển Tiếng Việt: “ Hỗ trợ: Giúp thêm, góp thêm vào”

Theo quan điểm của Luật Đất đai 2003: “ Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước giúp đỡ người bị thu hồi đất thông qua đào tạo nghề mới, bố

Trang 18

trí việc làm mới, cấp kinh phí để di dời dến địa điểm mới” (khoản 7, Điều 4) (Quốc hội nước CHXHCNVN, 2003)

Theo quan điểm của Luật Đất đai 2013: “ Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất ngoài việc được bồi thường theo quy định của Luật này còn được Nhà nước xem xét hỗ trợ” (điểm a, khoản 1, Điều 83) Việc hỗ trợ phải đảm bảo khách quan, công bằng, kịp thời, công khai và đúng quy định của pháp luật (điểm b, khoản 1, Điều 83) (Quốc hội nước CHXHCNVN, 2013)

2.1.3 Tái định cư (TĐC)

TĐC là việc di chuyển đến một nơi khác với nơi ở trước đây để sinh sống

và làm ăn TĐC bắt buộc đó là sự di chuyển không thể tránh khỏi khi Nhà nước thu hồi hoặc trưng thu đất đai để thực hiện các dự án phát triển

TĐC được hiểu là một quá trình từ bồi thường thiệt hại về đất, tài sản; di chuyển đến nơi ở mới và các hoạt động hỗ trợ để xây dựng lại cuộc sống, thu nhập, cơ sở vật chất, tinh thần tại đó Như vậy, TĐC là hoạt động nhằm giảm nhẹ các tác động xấu về kinh tế - xã hội đối với một bộ phận dân cư đã gánh chịu vì

sự phát triển chung

Hiện nay ở nước ta, khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở thì người sử dụng đất được bố trí TĐC bằng một trong các hình thức sau:

- Bồi thường bằng nhà ở

- Bồi thường bằng giao đất ở mới

- Bồi thường bằng tiền để người dân tự lo chỗ ở (Điều 4, Nghị định 197/2004/NĐ-CP)

TĐC là một bộ phận không thể tách rời và giữ vị trí rất quan trọng trong chính sách GPMB

2.1.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định

cư khi Nhà nước thu hồi đất:

2.1.4.1 Yếu tố cơ bản trong quản lý Nhà nước về đất đai

Ở nước ta, sau khi ban hành Luật Đất đai 1993 đến nay, Chính phủ đã bốn lần trình Quốc hội Luật sửa đổi, bổ sung các quy định của Luật Đất đai (1998; 2001; 2003 và năm 2013) nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội đất nước Theo đó, chính sách bồi thường, hỗ trợ cũng luôn được Chính phủ không ngừng hoàn thiện, sửa đổi cho phù hợp với yêu cầu thực tế triển khai Với những

Trang 19

đổi mới về pháp luật Đất đai, thời gian qua công tác GPMB đã đạt được những

kết quả đáng khích lệ, đã cơ bản đáp ứng được nhu cầu về mặt bằng cho việc

phát triển các dự án đầu tư Tuy nhiên, do tính chưa ổn định, chưa thống nhất của pháp luật đất đai qua các thời kỳ mà công tác bồi thường, GPMB đã gặp khá nhiều khó khăn và cản trở Thực tiễn triển khai cho thấy việc ban hành các văn bản quy phạm về quản lý, sử dụng đất đai có ảnh hưởng rất lớn đến công tác bồi thường, hỗ trợ GPMB (Tôn Gia Huyên và Nguyễn Đình Bồng, 2006)

Bên cạnh việc ban hành các văn bản quy phạm về quản lý, sử dụng đất đai, việc tổ chức thực hiện các văn bản đó cũng có vai trò rất quan trọng Kết quả kiểm tra thi hành Luật Đất đai năm 2003 của Bộ Tài nguyên và Môi trường cho thấy: nhận thức của người dân và kể cả một bộ phận không nhỏ cán bộ quản lý đất đai ở địa phương về chính sách pháp luật nhìn chung còn hạn chế; trong khi

đó việc tuyên truyền, phổ biến của các cơ quan có trách nhiệm chưa tốt Nhận thức pháp luật chưa đến nơi đến chốn, thậm chí lệch lạc của một số cán bộ quản

lý đất đai cùng với việc áp dụng pháp luật còn thiếu dân chủ, không công khai, công bằng ở các địa phương chính là nguyên nhân làm giảm hiệu lực thi hành pháp luật, gây mất lòng tin trong nhân dân cũng như các nhà đầu tư và ảnh hưởng trực tiếp tiến độ GPMB (Bộ Tài nguyên và Môi trường 2005)

2.1.4.2.Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

Đất đai nằm trong nhóm tài nguyên hạn chế của Việt Nam nhưng lại là điều kiện không thể thiếu được trong mọi quá trình phát triển Vì vậy, việc sử dụng thật tốt nguồn tài nguyên đất không chỉ sẽ quyết định tương lai của nền kinh tế đất nước mà còn là sự đảm bảo cho mục tiêu ổn định chính trị và phát triển xã hội Quy hoạch sử dụng đất được xem là một giải pháp tổng thể định hướng cho quá trình phát triển và quyết định tương lai của nền kinh tế Thông qua quy hoạch sử dụng đất, Nhà nước can thiệp vào các quan hệ đất đai, khắc phục những nhược điểm do lịch sử để lại hay giải quyết những vấn đề mà quá trình phát triển đang đặt ra

Thông qua việc lập, xét duyệt và điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất để tổ chức việc bồi thường, GPMB thực sự trở thành sự nghiệp của cộng đồng mà Nhà nước đóng vai trò tổ chức Bất kỳ một phương án bồi thường, GPMB nào đều dựa trên một quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất nhằm đạt được các yêu cầu như

là phương án có hiệu quả kinh tế - xã hội cao nhất Quy hoạch sử dụng đất không chỉ là công cụ “tạo cung” cho thị trường mà còn là phương tiện quan trọng nhất

Trang 20

thực hiện các mục tiêu chính trị - xã hội hóa về công bằng, dân chủ, văn minh trong bồi thường, GPMB và cũng là công việc mà hoạt động quản lý nhà nước có ảnh hưởng nhiều nhất, hiệu quả nhất, đúng chức năng nhất

Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất có tác động tới chính sách bồi thường đất đai trên hai khía cạnh:

- Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một trong những căn cứ quan trọng nhất để thực hiện việc giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, mà theo quy định của Luật Đất đai năm 2003, 2013 việc giao đất, cho thuê đất chỉ được thực hiện khi có quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với người đang sử dụng đất

- Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một trong những nhân tố ảnh hưởng tới giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất; từ đó tác động tới giá đất tính bồi thường

Tuy nhiên chất lượng quy hoạch ở nước ta còn thấp, thiếu đồng bộ, chưa hợp lý, tính khả thi thấp, đặc biệt là thiếu tính bền vững Phương án quy hoạch chưa dự báo sát tình hình, quy hoạch còn mang nặng tính chủ quan duy ý chí, áp đặt, nhiều trường hợp quy hoạch theo phong trào Đây chính là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng quy hoạch”treo”, dự án “treo”, (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2007)

2.1.4.3.Công tác đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Đăng ký đất đai là một thành phần cơ bản quan trọng nhất của hệ thống quản lý đất, đó là quá trình xác lập hồ sơ về quyền sở hữu đất đai, bất động sản, sử đảm bảo và những thông tin về quyền sở hữu đất (Tôn Gia Nguyên và Nguyễn Đình Bồng, 2006) Ở nước ta, theo quy định của Luật Đất đai, người sử dụng đất phải đăng ký quyền sử dụng đất với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là chứng thư pháp lý khẳng định quyền sử dụng đất của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đối với những mảnh đất (lô đất) cụ thể, làm căn cứ cho việc thực hiện các quyền của người sử dụng đất và giải quyết các tranh chấp liên quan tới quyền sử dụng đất Trong công tác bồi thường, GPMB, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là căn cứ để xác định đối tượng được bồi thường, loại đất, diện tích đất tính bồi thường Hiện nay, công tác đăng ký đất đai ở nước ta vẫn còn yếu kém, đặc biệt là đăng ký biến động về sử dụng đất; việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vẫn chưa hoàn tất Chính vì vậy mà công tác bồi thường, GPMB đã gặp rất nhiều khó khăn Làm tốt công tác đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì công tác bồi thường, GPMB sẽ thuận lợi, tiến độ GPMB nhanh hơn

Trang 21

2.1.4.4 Giá đất

Một trong những vấn đề đang gây ách tắc cho công tác bồi thường, GPMB

hiện nay đó là giá bồi thường cho người có đất bị thu hồi

Giá đất là số tiền tính trên một đơn vị diện tích đất do Nhà nước quy định hoặc được hình thành trong giao dịch về quyền sử dụng đất Theo quy định của pháp Luật Đất đai 2003 tại Điều 55 thì giá đất được hình thành trong các trường hợp sau đây:

- Do UBND các tỉnh, thành phố Trung ương (gọi chung là UBND cấp tỉnh) quy định (căn cứ vào nguyên tắc, phương pháp xác định giá đất và khung giá đất do Chính phủ quy định) và được công bố công khai vào ngày 01 tháng 01 hàng năm

- Do đấu giá quyền sử dụng đất hoặc đấu thầu dự án có sử dụng đất

- Do người sử dụng đất thỏa thuận về giá đất với những người có liên quan khi thực hiện các quyền chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất

Theo quy định tại Khoản 1, Điều 114 Luật Đất đai năm 2013: Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xây dựng và trình Hội đồng nhân dân cùng cấp thông qua bảng giá đất trước khi ban hành Bảng giá đất được xây dựng định kỳ 05 năm một lần và công

bố công khai vào ngày 01 tháng 01 của năm đầu kỳ (Quốc Hội năm 2013)

2.1.4.5 Định giá đất

Để xác định được giá đất chính xác và đúng đắn chúng ta cần phải có những hiểu biết về định giá đất Định giá đất đó là những phương pháp kinh tế nhằm tính toán lượng giá trị của đất bằng hình thái tiền tệ tại một thời điểm khi chúng tham gia trong một thị trường nhất định Hay nói cách khác, định giá đất được hiểu là sự ước tính về giá trị quyền sử dụng đất bằng hình thái tiền tệ cho một mục đích cụ thể đã được xác định tại một thời điểm xác định Khi định giá đất người định giá phải căn cứ vào mục đích sử dụng của từng loại tại thời điểm định giá để áp dụng phương pháp định giá đất cho phù hợp với thực tế Hiện nay, việc định giá đất chủ yếu sử dụng một phương pháp truyền thống như các nước trên thế giới thực hiện, đó là phương pháp so sánh trực tiếp và phương pháp thu nhập Giá đất tính bồi thường về đất là thước đo phản ánh mối quan hệ kinh tế giữa Nhà nước, người bị thu hồi đất và nhà đầu tư Theo quy định của Luật Đất đai năm 2003, nguyên tắc định giá đất là phải sát với giá thị trường trong điều

Trang 22

kiện bình thường Tuy nhiên, tình hình phổ biến hiện nay là giá đất do các địa phương quy định và công bố đều không theo đúng nguyên tắc đó, dẫn tới nhiều trường hợp ách tắc về bồi thường đất đai và phát sinh khiếu kiện (Điều 55, Luật Đất đai 2003) Hiện tại theo Luật Đất đai năm 2013 quy định “Việc xác định giá đất cụ thể phải dựa trên cơ sở điều tra, thu thập thông tin về thửa đất, giá đất thị trường và thông tin về giá đất trong cơ sở dữ liệu đất đai; áp dụng phương pháp định giá đất phù hợp Căn cứ kết quả tư vấn xác định giá đất, cơ quan quản lý đất đai cấp tỉnh trình Hội đồng thẩm định giá đất xem xét trước khi trình Ủy ban nhân dân cùng cấp quyết định (Quốc Hội năm 2013)

2.1.4.6 Thị trường bất động sản

Ngày nay thị trường Bất động sản đã trở thành một bộ phận không thể thiếu trong hệ thống các loại thị trường của nền kinh tế quốc dân, nó có nhứng đóng góp vào ổn định xã hội và thúc đẩy nền kinh tế đất nước trong thời gian qua

và trong tương lai

Luật Đất đai 1987 và pháp lệnh về nhà ở (1991) là cơ sở đầu tiên mở đường cho thị trường bất động sản hình thành và phát triển, (Tôn Gia Huyên và Nguyễn Đình Bồng, 2006) Luật Đất đai 2003 là văn bản pháp quy tập chung nhất phản ánh chính sách đất đai hiện hành trên cơ sở tổng kết hoạt động thực tiễn của 17 năm đổi mới, đã quy định chi tiết hơn về các điều kiện đẻ hình thành thị trường bất động sản và các hoạt động vè tài chính đât đai, thể hiện tập chung trong các mục “ Tài chính về đất đai và giá đất”, “Quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản”

Luật Đất đai 2013 với sự phát triển thị trường bất động sản góp phần giảm thiểu việc thu hồi đất để thực hiện các dự án đầu tư; đồng thời người bị thu hồi đất có thể tự mua hoặc cho thuê đất đai, nhà cửa mà không nhất thiết phải thông qua Nhà nước thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ Giá cả của bất động sản được hình thành trên thị trường sẽ có tác động tới giá đất tính bồi thường

2.2 CHÍNH SÁCH BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƯ CỦA MỘT

SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

2.2.1 Trung Quốc

Pháp luật đất đai của Trung Quốc có nhiều nét tương đồng với pháp luật đất đai của Việt Nam Tuy nhiên nhìn về tổng thể việc chấp hành pháp luật của người Trung Quốc rất cao Việc sử dụng đất đai tại Trung Quốc thực sự tiết

Trang 23

kiệm, Nhà nước Trung Quốc hoàn toàn cấm việc mua bán chuyển nhượng đất đai Do vậy, thị trường đất đai gần như không tồn tại mà chỉ có thị trường nhà ở

Về bồi thường thiệt hại về đất đai, do đất đai thuộc sở hữu nhà nước nên không có chính sách bồi thường thiệt hại Khi nhà nước thu hồi đất, kể cả đất nông nghiệp, tuỳ trường hợp cụ thể, nhà nước sẽ cấp đất mới cho các chủ sử dụng bị thu hồi đất

Về giá bồi thường thiệt hại, tiêu chuẩn là giá thị trường, mức giá này cũng được Nhà nước quy định cho từng khu vực và chất lượng nhà, đồng thời được điều chỉnh rất linh hoạt cho phù hợp với thực tế, vừa được coi là Nhà nước tác động điều chỉnh tại thị trường đó Đối với đất nông nghiệp việc bồi thường thiệt hại theo tính chất của đất và loại đất (tốt, xấu)

Về tái định cư, các khu tái định cư và các khu nhà ở được xây dựng đồng

bộ và kịp thời, thường xuyên đáp ứng yêu cầu nhiều loại căn hộ với các nhu cầu

sử dụng khác nhau Các chủ sử dụng phải di chuyển đều được chính quyền quan tâm đến điều kiện về việc làm, đối với các đối tượng chính sách xã hội được nhà nước chú ý và có chính sách xã hội riêng

Theo đánh giá của một số chuyên gia tái định cư, sở dĩ Trung Quốc có những thành công nhất định trong công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư là do:

- Thứ nhất, đã xây dựng các chính sách và thủ tục rất chi tiết, ràng buộc đối với các hoạt động tái định cư, đảm bảo mục tiêu tạo cơ hội phát triển cho người dân tái định cư, tạo các nguồn lực sản xuất cho những người tái định cư

- Thứ hai, năng lực thể chế của các chính quyền địa phương khá mạnh Chính quyền cấp tỉnh chịu trách nhiệm hoàn toàn trong việc thực hiện chương trình bồi thường hỗ trợ tái định cư

- Thứ ba, quyền sở hữu đất tập thể làm cho việc thực hiện bồi thường hỗ trợ tái định cư có nhiều thuận lợi, đặc biệt là ở nông thôn Tiền đền bù cho đất đai bị mất không trả cho từng hộ gia đình mà được cộng đồng sử dụng để tìm kiếm, phát triển đất mới hoặc mua của các cộng đồng sở tại hay dùng để phát triển kết cấu hạ tầng Chính quyền thôn, xã chịu trách nhiệm phân chia cho các

hộ bị ảnh hưởng

Bên cạnh những thành công, thì chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của Trung Quốc cũng bộc lộ những tồn tại nhất định mà chủ yếu là vấn đề việc làm; tốc độ tái định cư chậm, thiếu đồng bộ, thực hiện GPMB bằng trước khi xây xong nhà tái định cư

Trang 24

2.2.2 Hàn Quốc

Hàn Quốc là một nước nhỏ hẹp với 70% diện tích là đất đồi, núi cho nên đất công cộng được xem là một vấn đề hết sức quan trọng Do đó để sử dụng đất một cách hiệu quả hơn thì các quy hoạch và quy chế được coi như một hình thức pháp luật

Luật đất đai của Hàn Quốc được xác lập trên cơ sở luật quy hoạch đô thị cho từng đô thị và Luật quản lý sử dụng quốc thổ bao gồm tất cả các đô thị, Nhà nước chỉ định năm khu vực sử dụng để cân bằng sự phát triển đồng bộ

Đặc biệt, khái niệm cơ bản của Luật quản lý sử dụng quốc thổ công khai

rõ dàng về đất đai Đây có ý nghĩa là tách riêng hai phần quyền sở hữu và quyền

sử dụng đất để nhấn mạnh tầm quan trọng của đất công cộng trong xã hội Chế

độ này giúp việc sử dụng đất một cách hữu dụng bằng cách thúc đẩy quyền sử dụng đất nhiều hơn quyền sở hữu đất Với khái niệm công khai về đất đai, hạn chế sở hữu đất, hạn chế sử dụng đất, hạn chế lợi ích phát sinh, hạn chế thanh lý các quy chế công cộng được áp dụng theo luật pháp và cách tính các quy chế như thế này được xem là đặc trưng của luật liên quan đến đất đai của Hàn Quốc Luật bồi thường GPMB của Hàn Quốc được chia ra thành hai thể chế Một là ”đặc lệ” liên quan đến bồi thường GPMB cho đất công cộng đã đạt được theo thủ tục thương lượng của phát luật Hai là luật “sung công đất” theo thủ tục quy định cưỡng chế của công pháp

Để thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế thì cần rất nhiều đất công cộng trong một thời gian ngắn với mục đích cưỡng chế đất cho nên luật “sung công đất” đã được thiết lập trước vào năm 1962 Sau đó theo pháp luật ngoài mục đích thương lượng thu hồi đất công thì còn muốn thống nhất việc này trên phạm vi toàn quốc và đảm bảo quyền tài sản của công nên luật này đã được lập vào năm

1975 và dựa vào hai luật trên Hàn Quốc đã triển khai bồi thường cho đến nay Tuy nhiên dưới hai thể chế luật và trong quá trình thực hiện luật “đặc lệ” thương lượng không đạt được thỏa thuận thì “Luật sung công đất” được thực hiện bằng cách cưỡng chế, nhưng nếu cứ như vậy thì phải lặp đi lặp lại quá trình này và đôi khi trùng lặp cho nên thời gian có thể bị kéo dài hoặc chi phí cho bồi thường sẽ tăng Do đó, cho đến nay đã có nhiều thảo luận thống nhất hai thể chế này là một Thực hiện bồi thường theo luật mới của Hàn Quốc thì sẽ thực hiện theo ba giai đoạn:

Trang 25

Thứ nhất: Tiền bồi thường đất đai được giám định viên công cộng đánh giá trên tiêu chuẩn giá quy định để thu hồi đất phục vụ cho công trình công cộng Mỗi năm Hàn Quốc cho thi hành định giá trên 27 triệu địa điểm trên toàn quốc và chỉ định 470.000 địa điểm làm tiêu chuẩn và thông qua đánh giá của giám định để dựa theo đó hình thành giá quy địnhcho việc bồi thường Giá quy định không dựa vào lợi nhuận khai thác do đó có thể đảm bảo sự khách quan trong việc bồi thường

Thứ hai: Pháp luật có quy định không gây thiệt hại nhiều cho người có quyền sở hữu đất trong quá trình thương lượng chấp thuận thu hồi đất Quy trình chấp thuận theo thứ tự là công nhận mục đích, lập biên bản tài sản và đất đai, thương lượng, chấp thuận thu hồi Thứ ba: Biện pháp di rời là một đặc điểm quan trọng Nhà nước hỗ trợ tích cực về mặt chính sách đảm bảo sự sinh hoạt của con người, cung cấp đất đai cho những người bị mất nơi cư trú do thực hiện công trình công cộng cần thiết của Nhà nước Đây là công việc có hiệu quả lôi cuốn người dân tự nguyện di dời và liên quan rất nhiều tới việc GPMB Theo luật bồi thường, nếu như tòa nhà nơi dự án sẽ được thực hiện có trên 10 người sở hữu thì phải xây dựng cho các đối tượng này nơi cư trú hoặc 30% giá trị của tòa nhà đó Còn nếu như các dự án xây dựng chung cư nhà ở thì cung cấp cho các đối tượng này chung cư hoặc nhà ở thấp hơn giá thành

Đối với các đối tác kinh doanh để kiếm sống nhưng không có pháp nhân, các đối tác kinh doanh nông nghiệp, gia cầm thì có chính sách mang tính chất ân huệ ngoài biện pháp di dời còn ưu tiên cung cấp cho họ các cửa hàng hoặc khu kinh doanh

Luật bồi thường Hàn Quốc được thực hiện theo ba giai đoạn trên đối với đất đai, bất động sản và các quyền kinh doanh nông nghiệp, ngư nghiệp, khoáng sản để cung cấp tiền bồi thường và chi phí di dời

Chế độ và luật GPMB: theo luật sung công đất đai thì nếu như đã trả hoặc đặt cọc tiền bồi thường xong nhưng không chịu di dời thì được xem như gây hại cho lợi ích công cộng do đó phải thi hành cưỡng chế giải tỏa được thực hiện Quyền thi hành theo luật hành chính và quyền thi hành theo pháp lệnh cảnh cáo Thực chất biện pháp GPMB thường bị người dân hoặc các người ở thuê phản đối

và chống trả quyết liệt gây ảnh hưởng xấu đến xã hội cho nên tốt nhất là phải có

sự nghiên cứu tìm ra biện pháp cho dân tự nguyện di dời là hay hơn cả

Trang 26

2.2.3 Thái Lan

Thái Lan chưa có chính sách bồi thường TĐC quốc gia, nhưng Hiến Pháp năm 1982 quy định việc trưng dụng đất cho các mục đích xây dựng cơ sở hạ tầng, quốc phòng, phát triển nguồn tài nguyên cho đất nước, phát triển đô thị cải tạo đất đai và mục đích công cộng khác phải theo thời giá thị trường cho những người hợp pháp về tất cả thiệt hại do việc trưng dụng gây ra và quy định việc bồi thường phải khách quan cho người chủ mảnh đất và người có quyền thừa kế tài sản đó Dựa trên quy định này, các ngành có quy định chi tiết cho việc thực hiện trưng dụng đất của ngành mình

Năm 1987, Thái Lan ban hành Luật về trưng dụng bất động sản áp dụng cho việc trưng dụng đất sử dụng vào mục đích xây dựng tiện ích công cộng, quốc phòng, phát triển nguồn tài nguyên hoặc có lợi ích khác cho đất nước phát triển đô thị, nông nghiệp, công nghiệp, cải tạo đất đai vào các mục đích công cộng Luật quy định những nguyên tắc trưng dụng đất, nguyên tắc tính giá trị bồi thường các loại tài sản

bị thiệt hại Căn cứ vào đó, từng ngành đưa ra các quy định cụ thể về trình tự tiến hành bồi thuờng TĐC, nguyên tắc cụ thể xác định giá bồi thường, các bước lập và phê duyêt dự án bồi thường thủ tục thành lập các cơ quan, ủy ban tính toán bồi thường TĐC, trình tự đàm phán, nhận tiền bồi thường quyền khiếu nại, quyền khởi kiện đưa tòa án Ví dụ: Trong ngành điện năng thì cơ quan điện lực Thái Lan là nơi

có nhiều dự án bồi thường TĐC lớn nhất nước, họ đã xây dựng chính sách riêng với mục tiêu: “Đảm bảo cho những người bị ảnh hưởng và đặt một mức sống tốt hơn” thông qua việc cung cấp cơ sở hạ tầng có chất lượng và đạt mức tối đa nhu cầu, đảm bảo cho những người bị ảnh hưởng có thu nhập cao hơn và được tham gia nhiều hơn vào quá trình phát triển xã hội, vì vậy thực tế đã tỏ ra hiệu quả khi cần thu hồi đất trong nhiều dự án

2.2.4 Một số tổ chức

2.2.4.1 Ngân hàng thế giới (WB)

Hầu hết các dự án được tài trợ bởi vốn vay của WB đều có chính sách về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư do WB đưa ra Chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định của tổ chức này có nhiều khác biệt so với luật, quy định, chính sách của nhà nước Việt Nam nên có những khó khăn nhất định, nhưng bên cạnh cũng có những ảnh hưởng tích cực tới việc hoàn thiện chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cho người bị thu hồi đất của Việt Nam Trong công tác bồi thường, hỗ trợ và

Trang 27

tái định thì vấn đề tái định cư được WB quan tâm nhiều hơn, hỗ trợ những người

bị ảnh hưởng trong suốt quá trình tái định cư, từ việc tìm nơi ở mới thích hợp cho một khối lượng lớn chủ sử dụng đất phải di chuyển, tổ chức các khu tái định cư, trợ giúp chi phí vận chuyển, xây dựng nhà ở mới, đào tạo nghề nghiệp, cho vay vốn phát triển sản xuất, cung cấp các dịch vụ tại khu tái định cư (Viện Nghiên cứu Địa chính 2008)

2.2.4.2 Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB)

Khung chính sách của ADB được xây dựng với mục tiêu tránh việc tái định cư bắt buộc bất cứ khi nào có thể được hoặc giảm thiểu tái định cư nếu không thể tránh khỏi di dân; đảm bảo những người phải di chuyển được giúp đỡ

để ít nhất họ cũng đạt mức sống sung túc như họ đã có được nếu không có dự án

hoặc tốt hơn Với các nguyên tắc cơ bản là:

- Cần tránh hoặc giảm thiểu tái định cư bắt buộc và thiệt hại về đất đai, công trình, các tài sản và thu nhập bằng cách khai thác mọi phương án khả thi

- Tất cả các hộ đều được quyền bồi thường theo giá thay thế cho tài sản, thu nhập và các công việc sản xuất, kinh doanh bị ảnh hưởng, được khôi phục đủ

để cải thiện hay ít nhất cũng hồi phục được mức sống, mức thu nhập và năng lực sản xuất của họ như trước khi có dự án

- Trong trường hợp di chuyển cả một khu vực dân cư phải cố gắng tối đa

để duy trì các thể chế văn hoá và xã hội của những người phải di chuyển và của cộng đồng dân cư nơi chuyển đến

- Việc chuẩn bị các kế hoạch giải phóng mặt bằng (được coi như một phần trong công tác chuẩn bị tiểu dự án) và thực hiện các kế hoạch này sẽ được tiến hành với sự tham gia và tư vấn của những người bị ảnh hưởng

- Phải hoàn tất việc chi trả bồi thường các loại tài sản bị ảnh hưởng và kết thúc di dân tới nơi ở mới trước khi thi công tuyến tiểu dự án

- Việc bồi thường cho người dân tộc thiểu số, hộ gia đình do phụ nữ làm chủ, gia đình có người tàn tật và các hộ dễ bị ảnh hưởng khác sẽ được thực hiện với sự tôn trọng các giá trị văn hoá cũng như sự bảo vệ các nhu cầu riêng biệt của họ

Khi triển khai thực hiện công tác giải phóng mặt bằng, ADB quan tâm đến hầu hết các vấn đề liên quan đến chủ hộ như nghề nghiệp, thu nhập hàng tháng,

Trang 28

nguồn thu nhập của gia đình, số người trong độ tuổi lao động, có trong diện chính sách hay không và cả trình độ học vấn… cùng tính pháp lý của đất đai, tài sản trên đất

Về vấn đề tái định cư, mục tiêu chính sách tái định cư của ADB là giảm thiểu tối đa tái định cư và phải bảo đảm cho các hộ bị di chuyển được bồi thường

và hỗ trợ sao cho tương lai kinh tế và xã hội của họ được thuận lợi tương tự trong

trường hợp không có dự án (Ngân hàng phát triển Châu Á 2006)

2.2.5 Bài học kinh nghiệm về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho Việt Nam

- Qua nghiên cứu chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của một số nước và các tổ chức ngân hàng quốc tế, Việt Nam chúng ta cần học hỏi kinh nghiệm, để tiếp tục hoàn thiện chính sách bồi thường, hỗ trợ ở một số điểm sau:

- Hoàn thiện các quy định về công tác định giá đất nói chung và định giá đất bồi thường, hỗ trợ GPMB và tái định cư nói riêng bằng cách thành lập các đơn vị

tư vấn trong việc điều tra, nghiên cứu và xây dựng giá đất ở các tỉnh, thành phố

cả nước để giúp nhà nước xây dựng được một khung giá phù hợp sao cho hài hòa giữa lợi ích của người và lợi ích quốc gia

- Công khai hóa đầy đủ thông tin liên quan đến dự án cũng như chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, cho các hộ dân bị thu hồi được biết, được bàn và được kiểm tra

- Quan tâm hơn nữa đối với việc lập quy hoạch và xây dựng các khu tái định cư, các chế độ chính sách của người bị thu hồi đất; giá cả đền bù phải sát với giá thị trường; xử lý hài hòa lợi ích và quyền lợi của người bị thu hồi đất, Chủ đầu tư với Nhà nước

- Ngoài khoản tiền bồi thường, hỗ trợ theo quy định cần nghiên cứu chính sách hỗ trợ trong việc chuyển đồi nghề nghiệp và tạo công ăn việc làm sau khi bị thu hồi đất

2.3 CHÍNH SÁCH BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƯ Ở VIỆT NAM 2.3.1 Thời ký trước khi có Luật Đất đai năm 1987

Ngay khi hòa bình được lập lại ở miền Bắc (1954), Đảng và Nhà nước đã khẳng định con đường tất yếu của Cách Mạng Việt Nam là xây dựng chủ nghĩa

xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam Để đáp ứng nhiệm vụ đất nước trong giai đoạn cách mạng mới năm 1953, Nhà nước ta thực hiện cải cách

Trang 29

ruộng đất nhằm phân phối lại ruộng đất cho nhân dân với khẩu hiệu: “Người cày

có ruộng” và từ đó luật cải cách ruộng đất được ban hành Đồng thời Nhà nước ta cũng khẳng định đất đai được tồn tại dưới 3 hình thức đó là: sở hữu Nhà nước, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân

Hiến pháp năm 1959, Nhà nước thừa nhận tồn tại ba hình thức sở hữu đất đai ở nước ta, gồm có sở hữu Nhà nước, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân Thời

kỳ này quan hệ đất đai trong bồi thường chủ yếu là thoả thuận, sau đó thống nhất giá trị bồi thường mà không cần cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt phương án bồi thường hay ban hành giá bồi thường

Nghị định 151/TTg ngày 14/4/1959 của Thủ tướng Chính phủ “Quy định thể lệ tạm thời về trưng dụng ruộng đất”, là văn bản pháp quy đầu tiên liên quan đến việc bồi thường và tái định cư ở Việt Nam Nghị định này quy định những nguyên tắc cơ bản trong việc trưng dụng ruộng đất của nhân dân trong việc xây dựng các công trình do Nhà nước quản lý đó là: “đảm bảo kịp thời và đủ tiện ích cần thiết cho xây dựng công trình, đồng thời chiếu cố đúng mức quyền lợi và đời sống của người có ruộng đất Những người có ruộng đất được trưng dụng được bồi thường và trong những trường hợp cần thiết được giúp giải quyết công ăn việc làm, hết sức tiết kiệm ruộng đất cày cấy, trồng trọt, tận dụng đất hoang để không phải trưng dụng hoặc chỉ trưng dụng ít ruộng đất của nhân dân Hết sức tránh những nơi dân cư đông đúc, nghĩa trang liệt sĩ, nhà thờ, đền chùa, trường hợp đặc biệt phải bàn kỹ với nhân dân địa phương”

Về mức và cách tính bồi thường, Nghị định 151/TTg có quy định:

- Đối với ruộng đất nếu không thể đổi bằng đất thì sẽ bồi thường bằng một

số tiền bằng từ 1 đến 4 năm sản lượng thường niên của đất bị trưng dụng

- Đối với nhà cửa và kiến trúc thì được giúp đỡ xây dựng cái khác

- Đối với hoa màu đã trồng mà chưa thu hoạch phải bồi thường thiệt hại đúng mức

- Đối với mồ mả căn cứ và tình hình cụ thể, phong tục tập quán của địa phương mà giúp cho họ số tiền thích đáng làm phí tổn di chuyển

Có thể nói, những nguyên tắc cơ bản của việc bồi thường thiệt hại trong Nghị định 151/TTg là rất đúng đắn, đáp ứng nhu cầu trưng dụng đất đai trong những năm 1960 Tuy nhiên, Nghị định chưa quy định cụ thể mức bồi thường thiệt hại mà chỉ quan tâm đến sự thoả thuận của các bên Tiếp đó là Thông tư số

Trang 30

1792/TTg ngày 11-01-1970 của Thủ tướng Chính phủ quy định một số điểm tạm thời “Về bồi thường nhà cửa, đất đai, cây lưu niên, các hoa mầu cho nhân dân ở

những vùng xây dựng kinh tế, mở rộng thành phố” trên nguyên tắc: “Phải đảm

bảo thoả đáng quyền lợi hợp pháp của Hợp tác xã và của nhân dân” Tuy nhiên

Thông tư này mới chỉ dừng lại ở việc quy định bồi thường về tài sản trên đất mà chưa đề cập cụ thể đến chính sách bồi thường về đất đai

Hiến pháp năm 1980 quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý, ngày 01 tháng 07 năm 1980 Hội đồng Chính phủ ra Quyết

định số 201/CP quy định về việc “Không được phát canh, thu tô, cho thuê, cầm

cố hoặc bán nhượng đất dưới bất cứ hình thức nào ,không được dùng để thu những khoản lợi không do thu nhập mà có, trừ trường hợp do Nhà nước quy định” Quan hệ đất đai thời kỳ này đơn thuần chỉ là quan hệ “giao – thu” giữa

Nhà nước với người sử dụng đất

2.3.2 Thời kỳ từ khi có Luật Đất đai năm 1987 đến Luật Đất đai năm 1993

Luật Đất đai năm 1987 không nêu cụ thể việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất mà chỉ nêu tại phần nghĩa vụ của người sử dụng đất (Điều 48): “Bồi thường thiệt hại cho người sử dụng đất để giao cho mình, bồi hoàn thành quả lao động và kết quả đầu tư đã làm tăng giá trị của đất đó theo quy định của pháp luật”

Thực tế các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Đất đai 1987 không hướng dẫn nội dung về bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất mà chỉ tập trung vào việc bồi thường thiệt hại đất nông nghiệp, đất có rừng khi chuyển sang mục đích khác Thực chất đây lại là quy định việc thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước khi được giao đất (mà sau này khi thực hiện Luật Đất đai năm 1993 được coi là tiền sử dụng đất), trong đó phần nhỏ được phân bổ cho người bị thu hồi đất Nghị định số 186/HĐBT ngày 31 tháng 05 năm 1990 của Hội đồng Bộ trưởng quy định về việc bồi thường đất nông nghiệp, đất có rừng khi chuyển sang mục đích khác Tại Điều 1 của Nghị định này nêu rõ: Mọi tổ chức, cá nhân được giao đất nông nghiệp, đất có rừng để sử dụng vào mục đích khác phải đền bù về đất nông nghiệp, đất có rừng cho Nhà nước Tiền bồi thường tài sản trên mặt đất

và tài sản trong lòng đất cho chủ sử dụng hợp pháp không thuộc các khoản tiền thiệt hại về đất Khung mức giá bồi thường để UBND tỉnh, thành phố, đặc khu kinh tế thuộc Trung ương quy định cụ thể, mức bồi thường đối với từng quận, huyện, thành phố thuộc tỉnh sát với giá đất ở địa phương nhưng không được thấp hơn hoặc cao hơn khung định mức bồi thường của Chính phủ

Trang 31

Hiến pháp năm 1992 đã công nhận và bảo vệ quyền sử dụng đất của các tổ chức, cá nhân và quyền sở hữu cá nhân về tài sản và sản xuất cụ thể:

- Tại Điều 17 Hiến pháp quy định về quyền sở hữu đối với đất đai: “Đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển thềm lục địa và vùng trời đều thuộc sở hữu toàn dân”

- Tại Điều 18 Hiến pháp quy định về quyền quản lý của Nhà nước đối với đất đai theo quy hoạch và pháp luật, bảo đảm việc sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả; đồng thời quy định việc giao đất cho các tổ chức, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài và có trách nhiệm, nghĩa vụ của người được Nhà nước giao cho sử dụng đất (tổ chức và cá nhân có trách nhiệm bảo vệ, bồi thường khai thác hợp lý,

sử dụng tiết kiệm đất, được chuyển quyền sử dụng đất do Nhà nước giao theo các quy định của pháp luật)

- Tại Điều 23 Hiến pháp năm 1992 quy định: “Tài sản hợp pháp của cá

nhân, tổ chức không bị quốc hữu hoá, trong trường hợp thật cần thiết vì lý do An ninh Quốc phòng, lợi ích quốc gia mà Nhà nước trưng mua hay trưng dụng, có bồi thường tài sản của cá nhân hay tổ chức theo thời giá của thị trường”

Hiến pháp năm 1992 đã đặt nền móng cho việc xây dựng chính sách bồi thường GPMB qua những điều 17, 18, 23

Trên cơ sở Hiến pháp 1992, Luật đất đai 1993 được Quốc hội thông qua

và có hiệu lực từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 với quy định “ đất có giá” và người

sử dụng đất có các quyền và nghĩa vụ Đây là sự đổi mới có ý nghĩa rất quan trọng đối với công tác bồi thường GPMB

2.3.3 Thời kỳ từ khi có Luật Đất đai năm 1993 đến Luật Đất đai năm 2003

Những quy định về bồi thường GPMB của Luật Đất đai năm 1993 đã thu được những thành tựu quan trọng trong giai đoạn đầu thực hiện, nhưng càng về sau, do sự chuyển biến mau lẹ của tình hình kinh tế – xã hội nó đã dần mất đi vai trò làm động lực thúc đẩy phát triển Để tạo điều kiện đẩy nhanh tốc độ GPMB đẩy nhanh tiến độ thi công công trình đồng thời đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người sử dụng đất, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Đất đai đã được thông qua ngày 29 tháng 6 năm 2001

Để cụ thể hóa các quy định của Luật Đất đai năm 1993 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 2001, nhiều văn bản quy định về chính sách bồi thường, hỗ trợ đã được ban hành, bao gồm:

Trang 32

- Nghị đinh 90/CP ngày 17/8/1994 của Chính phủ quy định về việc bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích an ninh, quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng Xét về tính chất và nội dung, Nghị định 90/CP đã đáp ứng được một số yêu cầu nhất định so với các văn bản trước Nghị định này là văn bản pháp lý mang tính toàn diện cao và cụ thể hóa việc thực hiện chính sách bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, việc đền bù bằng đất cùng mục đích sử dụng, cùng hạng đất…Tuy nhiên trên thực tế, trong quá trình thực hiện lại cho thấy một số điểm bất cập như việc người bị ảnh hưởng thu hồi gặp rất nhiều khó khăn

- Nghị định 87/CP ngày 17/8/1994 ban hành khung giá các loại đất

- Nghị định 22/1998/NĐ - CP ngày 24/4/1998 của Chính phủ về việc bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng,

an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng Nghị định này quy định chi tiết, hoàn chỉnh, toàn diện, tiến bộ và hợp lý hơn Nghị định 90/CP Chi tiết hơn vì phạm vi

áp dụng quy định thêm một số chính sách hỗ trợ mới về TĐC, giá đất để tính đền

bù thiệt hại được xác định trên cơ sở giá đất của địa phương ban hành theo quy định của Chính phủ nhân với hệ số K

Tuy nhiên trong quá trình triển khai Nghị định 22/1998/NĐ – CP còn có những hạn chế nhất định Nó chưa đáp ứng được các yêu cầu của thực tế, chưa phù hợp với thực tiễn và gây ra phát sinh nhiều khiếu kiện cho Nhà nước… Đặc biệt chưa giải quyết được những tồn tại do yếu tố lịch sử để lại khi thực hiện chính sách đền bù thiệt hại cho chủ sử dụng đất có tài sản, nhà cửa nằm trên đất không đủ điều kiện được bồi thường…

Tại kỳ họp thứ tư Quốc hội khóa XI đã thông qua Luật đất đai năm 2003, Luật này có hiêụ lực từ ngày 01/7/2004

Luật Đất đai năm 2003 có rất nhiều nội dung mới trong đó có vấn đề bồi thường, hỗ trợ, và tái định cư: khắc phục cơ bản những bất cập trong chính sách pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế thông qua cơ chế giá đất bồi thường, chính sách tái định cư và hạn chế phạm vi

dự án phải thu hồi

Sau khi Luật đất đai 2003 được ban hành, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản dưới luật như Nghị định, Thông tư cụ thể hoá các điều luật về giá đất,

Trang 33

bồi thường, hỗ trợ thu hồi đất; thì chính sách đền bù, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất đi vào bước hoàn thiện, có tác dụng trong việc đảm bảo cân đối

và ổn định cho phát triển, khuyến khích được nhà đầu tư và tương đối giữ được nguyên tắc công bằng, người bị thu hồi đất được đặt vào vị trí trung tâm để giải quyết mọi xung đột, các lợi ích phi vật thể bắt đầu được quan tâm, các hiệu quả

xã hội - môi trường do việc thu hồi đất mang lại được chú ý khi đánh giá các dự

án xây dựng có thu hồi đất và đền bù, hỗ trợ, tái định cư

2.3.4 Những điểm mới trong Luật Đất đai năm 2013 về bồi thường, hỗ trợ

và tái định cư

Ngày 29/11/2013, Quốc hội đã thông qua Luật Đất đai năm 2013, Luật này sẽ có hiệu lực kể từ 01/7/2014 So với Luật Đất đai năm 2003, Luật Đất đai năm 2013 có 14 chương với 212 điều, tăng 7 chương và 66 điều, đã khắc phục, giải quyết được những tồn tại, hạn chế phát sinh trong quá trình thi hành Luật đất đai năm 2003 Đây là đạo luật quan trọng, có tác động sâu rộng đến chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước, thu hút được sự quan tâm rộng rãi của nhân dân Luật Đất đai năm 2013 vừa tiếp tục kế thừa, luật hóa những quy định còn phù hợp đã và đang đi vào cuộc sống của Luật Đất đai năm 2003, nhưng đồng thời đã sửa đổi, bổ sung một số quy định định mới nhằm tháo gỡ những hạn chế, bất cập của Luật Đất đai năm 2003 Nhằm đảm bảo tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị thu hồi đất, giảm thiểu khiếu kiện trong bồi thường, giải phóng mặt bằng, Luật Đất đai 2013 tiếp tục kế thừa những quy định còn phù hợp của Luật đất đai 2003 đồng thời đã sửa đổi, bổ sung một số quy định mới nhằm đưa chính sách về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư trong Nghị quyết 19/NQ-TW

đi vào cuộc sống Theo đó, Luật Đất đai năm 2013 có một cơ bản, trong đó có liên quan đến công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ như sau:

Một là: Luật Đất đai năm 2013 có sửa đổi thẩm quyền thu hồi đất so với

quy định hiện hành để cải cách hành chính khi thực hiện các dự án, trong đó quy định Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thu hồi đất hoặc ủy quyền cho UBND cấp huyện thu hồi đối với trường hợp khu đất thu hồi có cả tổ chức và hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất Đây là lần đầu tiên trong Luật Đất đai có quy định UBND cấp tỉnh được ủy quyền cho UBND cấp huyện thực hiện thu hồi đất Luật đã quy định trách nhiệm của Nhà nước trong việc thông báo thu hồi đất: Trước khi có quyết định thu hồi đất, chậm nhất là 90 ngày đối với đất nông nghiệp và 180 ngày đối với đất phi nông nghiệp, cơ quan nhà nước có thẩm

Trang 34

quyền phải thông báo thu hồi đất cho người có đất thu hồi biết Nội dung thông báo thu hồi đất gồm kế hoạch thu hồi đất, điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm Trường hợp người sử dụng đất trong khu vực thu hồi đất đồng ý để cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi đất trước thời hạn thì Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền quyết định thu hồi đất mà không phải chờ đến hết thời hạn thông báo thu hồi đất

Đồng thời, Luật cũng quy định: Người có đất thu hồi có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng trong quá trình điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm, xây dựng phương án bồi thường,

hỗ trợ, tái định cư; khi quyết định thu hồi đất có hiệu lực thi hành và phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt được công bố công khai, người có đất thu hồi phải chấp hành quyết định thu hồi đất

Đặc biệt, Luật Đất đai năm 2013 cũng quy định chế tài mạnh để xử lý đối với trường hợp không đưa đất đã được giao, cho thuê vào sử dụng hoặc chậm đưa đất vào sử dụng; quy định đầy đủ, rõ ràng về những trường hợp thật cần thiết

mà Nhà nước phải thu hồi; quy định giá đất bồi thường không áp dụng theo bảng giá đất mà áp dụng giá đất cụ thể do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất

-Về trình tự, thủ tục thu hồi đất

Đây là nội dung rất quan trọng nhằm bảo đảm tính công khai, minh bạch, dân chủ trong thực hiện thu hồi đất Tại Điều 69 của Luật Đất đai đã quy định cụ thể các bước công việc như: Xây dựng và thực hiện kế hoạch thu hồi đất, điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm; lập, thẩm định phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; việc quyết định thu hồi đất, phê duyệt và tổ chức thực hiện phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

Trong các bước công việc này, người sử dụng đất được tiếp cận thông tin bằng nhiều hình thức (gửi đến từng người có đất thu hồi, họp trực tiếp, niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư ) về thông báo thu hồi đất, kế hoạch thu hồi đất; tham gia góp ý kiến cụ thể về phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

Luật Đất đai năm 2003 đã có những bước tiến trong việc bảo đảm tốt hơn quyền lợi cho người có đất thu hồi Tuy nhiên, đây vẫn là một trong những vấn

Trang 35

đề nổi cộm, làm chậm tiến độ bồi thường giải phóng mặt bằng, ảnh hưởng đến môi trường và hiệu quả đầu tư, gây khiếu kiện kéo dài trong thời gian qua

Để khắc phục những bất cập trên, Luật Đất đai năm 2013 đã có những điểm đổi mới rất quan trọng từ nguyên tắc bồi thường về đất, cho đến việc chi trả bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất Cụ thể:

- Quy định nguyên tắc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất

Các chế định bồi thường về đất, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trong Luật Đất đai năm 2003 trên thực tế đã không thể thể chế, truyền tải hết các quy định mang tính nguyên tắc để thực hiện thống nhất khi xử lý những vấn đề phức tạp phát sinh trong thực tiễn thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư tại các địa phương, các bộ, ngành Khắc phục hạn chế này, Luật Đất đai năm 2013 đã tách nguyên tắc bồi thường về đất và nguyên tắc bồi thường thiệt hại về tài sản, ngừng sản xuất, kinh doanh khi Nhà nước thu hồi đất thành 02 điều riêng biệt Trong đó, quy định cụ thể các nguyên tắc bồi thường về đất và các nguyên tắc bồi thường thiệt hại về tài sản gắn liền với đất khi Nhà nước thu hồi đất để các bộ, ngành, địa phương và người thu hồi đất căn cứ vào đó thống nhất thực hiện

Trong đó, Luật bổ sung thêm 02 trường hợp được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất quy định tại Điều 75, cụ thể: (i) Bồi thường đối với các trường hợp sử dụng đất thuê trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê; (ii) trường hợp cơ sở tôn giáo, cộng đồng dân cư đang sử dụng đất mà không phải là đất do Nhà nước giao, cho thuê và có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất

Thể chế hóa cơ chế, chính sách bồi thường về đất, chi phí đầu tư vào đất còn lại thông qua các quy định chi tiết đối với từng loại đất, gồm: Đất nông nghiệp, đất ở, đất phi nông nghiệp không phải đất ở và theo từng loại đối tượng

sử dụng đất

Trong đó, theo quy định của Luật Đất đai năm 2013 việc xác định mức bồi thường cho người có đất thu hồi đối với đất sử dụng có thời hạn không chỉ căn cứ loại đất, đối tượng sử dụng đất mà còn phải căn cứ thời hạn sử dụng đất còn lại của người sử dụng đất đối với đất đó, trừ trường hợp đất nông nghiệp có nguồn gốc do Nhà nước giao đất đối với hộ gia đình, cá nhân

Trang 36

Quy định cụ thể về bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại, cho một

số trường hợp không được bồi thường về đất

Những trường hợp được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại khi Nhà nước thu hồi đất, bao gồm:

Đất được Nhà nước giao không thu tiền sử dụng đất, trừ trường hợp đất nông nghiệp được Nhà nước giao cho hộ gia đình, cá nhân quy định tại khoản 1 Điều 54;

Đất được Nhà nước giao cho tổ chức thuộc trường hợp có thu tiền sử dụng đất nhưng được miễn tiền sử dụng đất;

Đất được Nhà nước cho thuê trả tiền thuê đất hàng năm; đất thuê trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê nhưng được miễn tiền thuê đất, trừ trường hợp hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất thuê do thực hiện chính sách đối với người

có công với cách mạng;

Đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn;

Đất nhận khoán để sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối

Đối với người dân mất đất nông nghiệp, đất ở kết hợp kinh doanh dịch vụ, UBND cấp tỉnh phải có phương án đào tạo, chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm cho người dân Với những người dân bị thu hồi đất, mục tiêu an sinh phải đặt lên cao nhất Việc bồi thường bằng tiền được xác định theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do UBND câp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi

-Về hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất

Một số quy định được bổ sung trong Luật Đất đai năm 2013 so với Luật Đất đai năm 2003 như sau:

Quy định về nguyên tắc hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất (khoản 1 Điều 83 Luật Đất đai năm 2013): (i) Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất ngoài việc được bồi thường theo quy định còn được Nhà nước xem xét hỗ trợ; (ii) Việc

hỗ trợ phải bảo đảm khách quan, công bằng, kịp thời, công khai và đúng quy định của pháp luật

Quy định về hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm cho hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp mà không có đất nông nghiệp để bồi thường

Trang 37

+ Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp, khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp mà không có đất nông nghiệp để bồi thường thì ngoài việc được bồi thường bằng tiền còn được hỗ trợ đào tạo,chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm

+ Trường hợp người được hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm trong độ tuổi lao động có nhu cầu được đào tạo nghề thì được nhận vào các

cơ sở đào tạo nghề; được tư vấn hỗ trợ tìm kiếm việc làm, vay vốn tín dụng ưu đãi để phát triển sản xuất, kinh doanh

Quy định về hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất ở kết hợp kinh doanh dịch vụ mà nguồn thu nhập chính từ hoạt động kinh doanh, dịch vụ khi Nhà nước thu hồi đất ở mà phải di chuyển chỗ ở như sau: Đối với hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất ở kết hợp kinh doanh dịch vụ mà nguồn thu nhập chính là từ hoạt động kinh doanh dịch vụ, khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở thì được vay vốn tín dụng ưu đãi

để phát triển sản xuất, kinh doanh; trường hợp người có đất thu hồi còn trong độ tuổi lao động thì được hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm

-Về tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

Nhằm khắc phục tình trạng một số khu tái định cư chất lượng còn thấp, không đồng bộ về hạ tầng, chưa đảm bảo có điều kiện phát triển bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ, Luật Đất đai năm 2013 đã có những quy định mới như sau: + Bổ sung quy định cụ thể về lập và thực hiện dự án tái định cư theo hướng: Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm tổ chức lập và thực hiện dự án tái định cư trước khi thu hồi đất Quy định khu tái định cư tập trung phải xây dựng cơ sở hạ tầng đồng bộ, bảo đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn xây dựng, phù hợp với điều kiện, phong tục, tập quán của từng vùng, miền Quy định việc thu hồi đất ở chỉ được thực hiện sau khi hoàn thành xây dựng nhà ở hoặc cơ sở hạ tầng của khu tái định cư

+ Sửa đổi và bổ sung quy định về bố trí tái định cư cho người bị thu hồi đất

ở mà phải di chuyển chỗ ở

+ Người có đất thu hồi được bố trí tái định cư tại chỗ nếu tại khu vực thu hồi đất có dự án tái định cư hoặc có điều kiện bố trí tái định cư Ưu tiên vị trí thuận lợi cho người có đất thu hồi sớm bàn giao mặt bằng, người có đất thu hồi là người có công với cách mạng

Trang 38

+ Giá đất cụ thể tính thu tiền sử dụng đất tại nơi tái định cư, giá bán nhà ở tái định cư do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định

+ Quy định trường hợp người có đất thu hồi được bố trí tái định cư mà tiền bồi thường, hỗ trợ không đủ để mua một suất tái định cư tối thiểu thì được Nhà nước hỗ trợ tiền đủ để mua một suất tái định cư tối thiểu Chính phủ quy định cụ thể suất tái định cư tối thiểu phù hợp với điều kiện từng vùng, miền và địa phương

-Về việc chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ và tái định cư

Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày quyết định thu hồi đất, cơ quan, tổ chức

có trách nhiệm bồi thường phải chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ cho người có đất thu hồi Trường hợp cơ quan, tổ chức có trách nhiệm bồi thường chậm chi trả thì khi thanh toán tiền bồi thường, hỗ trợ cho người có đất thu hồi, ngoài tiền bồi thường, hỗ trợ theo phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được cấp có thẩm quyền phê duyệt thì người có đất thu hồi còn được thanh toán thêm một khoản tiền bằng mức tiền chậm nộp theo quy định của Luật Quản lý thuế tính trên số tiền chậm trả và thời gian chậm trả Trường hợp người có đất thu hồi không nhận tiền bồi thường, hỗ trợ thì tiền bồi thường, hỗ trợ được gửi vào tài khoản tạm giữ của Kho bạc nhà nước

Hai là, Luật Đất đai năm 2013 quy định rõ nguyên tắc định giá đất phải

theo mục đích sử dụng đất hợp pháp tại thời điểm định giá, theo thời hạn sử dụng đất; bổ sung quy định về cơ quan xây dựng, cơ quan thẩm định giá đất, vị trí của

tư vấn giá đất trong việc xác định giá đất, thẩm định giá đất và việc thuê tư vấn

để xác định giá đất cụ thể Luật quy định khung giá đất do Chính phủ ban hành, định kỳ 05 năm một lần đối với từng loại đất, theo từng vùng; bỏ quy định việc công bố bảng giá đất vào ngày 01/01 hàng năm, thay vào đó, bảng giá đất được xây dựng định kỳ 5 năm một lần và công bố công khai vào ngày 01/01 của năm đầu kỳ Bảng giá đất chỉ áp dụng đối với một số trường hợp thay cho việc áp dụng cho tất cả các mục đích như quy định hiện hành

Luật đã tiếp cận và thể hiện đầy đủ về vấn đề tài chính đất đai theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước, đồng thời đảm bảo quyền lợi của người sử dụng đất, quyền lợi của Nhà nước, chủ đầu tư và đảm bảo ổn định xã hội; phù hợp với quá trình thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Trang 39

Trên đây là những quy định mới về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định

cư khi Nhà nước thu hồi đất theo quy định của Luật Đất đai năm 2013 Những nội dung này được hướng dẫn cụ thể tại Thông tư số 37/2014/TT-BTNMT của

Bộ Tài nguyên và Môi trường ngày 30/6/2014 về quy định chi tiết bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất Với những quy định bổ sung trình tự, thủ tục, phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, Luật Đất đai năm 2013 đã bảo

vệ quyền lợi của người có đất thu hồi; tăng cường hơn sự tham gia trực tiếp của nhân dân; trách nhiệm đối thoại và giải trình của cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi người dân chưa có ý kiến đồng thuận trong việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư Đây là một trong những bước đột phá của Luật Đất đai năm 2013

2.4 TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÔNG TÁC BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI 2.4.1 Các văn bản quy phạm pháp luật do Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội ban hành

Căn cứ vào thẩm quyền và các quy định của pháp luật, Ủy ban nhân thành phố Hà Nội có ban hành một số Quyết định về công tác bồi thường, hỗ trợ

và TĐC Khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hà Nội như sau:

- Theo Luật Đất đai năm 2003:

+ Quyết định số 108/2009/QĐ-UBND, ngày 29 tháng 9 năm 2009, của UBND Thành phố Hà Nội, quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hà Nội

+ Quyết định số 02/2013/QĐ-UBND, ngày 07 tháng 1 năm 2013, của UBND Thành phố Hà Nội Về việc sửa đổi bổ sung một số điều của Quy định ban hành kèm theo Quyết định số 108/2009/QĐ-UBND, ngày 29 tháng 9 năm 2009, của UBND Thành phố Hà Nội

+ Quyết định số 02/2010/QĐ-UBND ngày 18/01/2010 của UBND thành phố Hà Nội về thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất

để thực hiện dự án đầu tư và làm nhà ở nông thôn tại điểm dân cư nông thôn trên địa bàn thành phố Hà Nội

+ Quyết định số 48/2011/QĐ-UBND ngày 26/12/2011 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định ban hành kèm theo Quyết định số 02/2010/QĐ-UBND ngày 18/01/2010 của UBND Thành phố Hà Nội

Trang 40

+ Các quyết định ban hành quy định về giá đất, giá các loại tài sản trên đất để làm cơ sở tính bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho từng năm hoặc cho từng dự án đặc thù

+ Và một số Văn bản đặc thù khắc,

- Theo Luật Đất đai năm 2013:

+ Quyết định số 21/2014/QĐ-UBND ngày 20/6/2014 của UBND Thành phố Hà Nội “Ban hành quy định các nội dung thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội do Luật Đất đai 2013 và các Nghị định của Chính phủ giao cho về thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất

để thực hiện dự án đầu tư trên địa bàn Thành phố Hà Nội”;

+ Quyết định số 23/2014/QĐ-UBND ngày 20/6/2014 của UBND Thành phố “Ban hành quy định các nội dung thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân thành phố do Luật Đất đai 2013 và các Nghị định của Chính phủ giao cho về bồi thường hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn Thành phố

2.4.2 Thực tiễn của việc bồi thường, hỗ trợ

Trong những năm gần đây công tác GPMB của thành phố Hà Nội luôn có

xu hướng năm sau nhiều hơn năm trước Theo tổng kết công tác GPMB Thành phố thì năm 2015, trên địa bàn Thành phố sẽ có 886 dự án thu hồi đất, với diện tích 2.112,9ha (gồm 199 dự án nằm trong danh mục thu hồi đất năm 2015 chuyển tiếp sang năm 2016) và 574 dự án chuyển mục đích đất trồng lúa, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, với diện tích là 1.216,3ha, trong đó, bao gồm 118 dự án nằm trong danh mục năm 2015 chuyển tiếp sang năm 2016

Trung bình hàng năm Hà Nội có khoảng gần 200 dự án triển khai có liên quan đến công tác GPMB và hoàn thành và bàn giao trung bình từ 700 đến 1.200ha đất bàn giao cho chủ đầu tư thi công dự án Tuy nhiên cùng với các mặt đạt được qua các năm, bên cạnh đó cũng đặt ra cho Hà Nội những yêu cầu ngày càng phải đẩy nhanh trong công tác chỉ đạo cũng như hoàn thiện các thủ tục hành chính liên quan đến công tác GPMB Đây là nhiệm vụ đặt ra rất lớn đối với công tác GPMB của Thành phố Để hoàn thành tốt nhiệm vụ trên, đòi hỏi sự quyết

Ngày đăng: 14/06/2021, 12:21

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w