Trả lời những vấn đề còn tồn nghi này sẽ giúp chúng ta có thể khái quát được diện mạo và giá trị của Truyền thuyết về Vân Mẫu và Thánh Tam Giang trong môi trường văn hóa lịch sử ở Yên P
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ HỒNG THƠM
TRUYỀN THUYẾT VỀ VÂN MẪU VÀ THÁNH TAM GIANG Ở YÊN PHONG,
BẮC NINH DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
THÁI NGUYÊN - 2019
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ HỒNG THƠM
TRUYỀN THUYẾT VỀ VÂN MẪU VÀ THÁNH TAM GIANG Ở YÊN PHONG,
BẮC NINH DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA
Ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM
Mã số: 8220121
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Cán bộ hướng dẫn khoa học:PGS.TS.Nguyễn Hằng Phương
THÁI NGUYÊN - 2019
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan mọi kết quả của đề tài: “Truyền thuyết về Vân Mẫu và
Thánh Tam Giang ở Yên Phong, Bắc Ninh” là công trình nghiên cứu của cá
nhân tôi và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình khoa học nào khác cho tới thời điểm này
Thái Nguyên, ngày 28 tháng 6 năm2019
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hồng Thơm
Trang 4Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của quý phòng ban trường Đại học sư phạm Thái Nguyên đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành được đề tài Đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình, chu đáo của PGS.TS Nguyễn Hằng Phương đã giúp tôi hoàn thành đề tài
Qua đây, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành, sâu sắc đến sự giúp đỡ của PGS.TS Nguyễn Hằng Phương người trực tiếp hướng dẫn khoa học đã luôn dành nhiều thời gian, công sức cho tôi trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu và hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học sư phạm Thái Nguyên, phòng sau đại học cùng toàn thể các thầy cô giáo công tác trong trường
đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin chân thành cảm ơn sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Ninh, thư viện tỉnh Bắc Ninh, phòng Văn hóa thông tin huyện Yên Phong, Ban quản lí
di tích lịch sử văn hóa và nhân dân các địa phương ở Yên Phong đã giúp đỡ tôi trong qua trình đi điền dã, sưu tầm tư liệu
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình và tất cả bạn bè
đã giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Thái nguyên, ngày 28 thánh 6 năm 2019
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hồng Thơm
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 8
5 Phương pháp nghiên cứu 9
6 Đóng góp của luận văn 10
7 Bố cục của luận văn 10
NỘI DUNG 12
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ VÙNG ĐẤT YÊN PHONG, BẮC NINH VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 12
1.1 Tổng quan về vùng đất Yên Phong, Bắc Ninh 12
1.1.1 Vùng đất phù sa bên dòng sông Cầu giàu truyền thống lịch sử 12
1.1.2 Nơi hội tụ nhiều truyền thống văn hóa, văn học dân gian 17
1.2 Một số vấn đề lý luận về truyền thuyết và tổng quan về truyền thuyết ở Yên Phong, Bắc Ninh 21
1.2.1 Khái niệm, phân loại và đặc trưng của truyền thuyết 21
1.2.2 Tổng quan về truyền thuyết ở Yên Phong, Bắc Ninh 25
1.3 Phương pháp tiếp cận văn học dưới góc nhìn văn hóa 32
1.3.1 Khái niệm văn hóa 33
1.3.2 Phương pháp tiếp cận văn học dưới góc nhìn văn hóa 35
Chương 2: NỘI DUNG TRUYỀN THUYẾT VỀ VÂN MẪU VÀ THÁNH TAM GIANG Ở YÊN PHONG, BẮC NINH DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA 40
2.1 Truyền thuyết về Vân Mẫu và Thánh Tam Giang phản ánh truyền thống dựng nước, giữ nước 40
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
2.2 Truyền thuyết về Vân Mẫu và Thánh Tam Giang khúc xạ đời sống văn
hóa, tín ngưỡng vùng Yên Phong, Bắc Ninh 46
2.2.1 Dấu ấn đời sống văn hóa Yên Phong, Bắc Ninh 46
2.2.2 Khúc xạ đời sống tín ngưỡng vùng Yên Phong, Bắc Ninh 50
2.3 Truyền thuyết về Vân Mẫu và Thánh Tam Giang tôn vinh tưởng nhớ những người anh hùng 55
2.3.1 Khái niệm người anh hùng 55
2.3.2 Hình tượng người anh hùng trong Truyền thuyết về Vân Mẫu và Thánh Tam Giang 55
2.4 Truyền thuyết về Vân Mẫu và Thánh Tam Giang trong lễ hội vùng Yên Phong, Bắc Ninh 58
2.4.1 Mối liên hệ giữa truyền thuyết và nghi lễ, lễ hội 58
2.4.2 Lễ hội vùng Kinh Bắc, tôn vinh các danh nhân, anh hùng dân tộc 58
2.4.3 Một số lễ hội vùng Yên Phong, Bắc Ninh tôn vinh tưởng nhớ Thánh Tam Giang 60
Chương 3: NGHỆ THUẬT TRUYỀN THUYẾT VỀ VÂN MẪU VÀ THÁNH TAM GIANG Ở YÊN PHONG, BẮC NINH DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA 68
3.1 Cốt truyện “những mảnh ghép văn hóa”vùng quê Kinh Bắc 68
3.2 Hệ thống nhân vật mang dấu ấn văn hóa Kinh Bắc 80
3.3 Biểu tượng - sự kết tinh ý nghĩa từ truyền thống văn hóa Kinh Bắc 83
KẾT LUẬN 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
PHỤ LỤC
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Mỗi đất nước, quốc gia, dân tộc lại có những nét văn hóa đặc sắc riêng Nét văn hóa ấy đậm chất tinh hoa được tạo nên từ hồn cốt của cộng đồng người Từng cánh đồng, ngọn núi, dòng sông và cả tín ngưỡng thờ cúng đều có nguyên do của nó.Thế nên nghiên cứu văn học dân gian nói chung và truyền thuyết xứ Kinh Bắc, Bắc Ninh nói riêng là điều hết sức lí thú và hấp dẫn
Yên Phong, Bắc Ninh là một vùng đất cổ, cái nôi sản sinh và lưu giữ nhiều giá trị văn hóa, văn học dân gian của người Việt Mảng văn học dân gian nơi đây hết sức phong phú và đa dạng trong đó có thể loại truyền thuyết về các nhân vật anh hùng lịch sử, những vị thần bảo vệ cho vùng đất cổ này Chính bởi thế nơi đây có phong tục tập quán tín ngưỡng khác nhau, phổ biến nhất là tín ngưỡng thờ thần, Thành hoàng làng Các vị Thành hoàng làng có nguồn gốc khác nhau như: thiên thần (sơn thần, thủy thần), nhân thần, bán nhân thần Do là một vùng đất chiêm trũng, thường hay ngập úng lũ lụt vào mùa mưa, nên ở Yên Phong có
74 làng thì đến 20 làng, dọc theo sông Như Nguyệt (sông Cầu) thờ đức Thánh Tam Giang Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện nay chưa có một cuốn sách nào nghiên cứu độc lập về Vân Mẫu và Thánh Tam Giang với tư cách là những tác phẩm văn học dưới góc nhìn văn hóa Phần lớn hiện tượng văn học dân gian này mới được đề cập trong tham luận “Tục thờ Thánh Tam Giang và sinh hoạt quan họ” tại Hội thảo quốc tế “Bảo tồn và phát huy dân ca trong xã hội đương đại” và một vài luận văn khác tìm hiểu hệ thống truyền thuyết này từ góc nhìn xã hội học, dân tộc học Vậy Truyền thuyết về Vân Mẫu và Thánh Tam Giang ở Yên Phong, Bắc Ninh có diện mạo thế nào? Chúng ta thấy được những giá trị gì qua truyền thuyết từ góc nhìn văn hóa? Trả lời những vấn đề còn tồn nghi này sẽ giúp
chúng ta có thể khái quát được diện mạo và giá trị của Truyền thuyết về Vân Mẫu
và Thánh Tam Giang trong môi trường văn hóa lịch sử ở Yên Phong, Bắc Ninh
Trang 8Tiếp cận tác phẩm từ góc nhìn văn hóa không phải là cách tiếp cận quá mới
so với các cách tiếp cận khác Nghiên cứu văn học dưới góc nhìn văn hóa, suy cho cùng là tìm dấu ấn văn hóa trong tác phẩm, xem xét tác phẩm trong mối quan
hệ với môi trường văn hóa Từ đó giải mã những chi phối của văn hóa, ứng xử đến việc xây dựng tác phẩm văn học Qua cách tiếp cận này chúng ta có thể khai thác sâu hơn giá trị của tác phẩm, có cái nhìn vừa bao quát, vừa sâu sắc toàn diện hơn đối với đời sống văn hóa của cả cộng đồng dân tộc
Là một giáo viên trực tiếp tham gia giảng dạy bộ môn Ngữ văn nói chung
trong đó có văn học dân gian nói riêng, thì việc nghiên cứu Truyền thuyết về Vân
Mẫu và Thánh Tam Giang là cơ hội để người viết tích lũy kiến thức về kho tàng
truyền thuyết từ đó bồi đắp cho học sinh lòng tự hào về truyền thống quý báu của dân tộc, khơi dậy trong các em ý thức về việc gìn giữ, bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc, để truyền thống văn hóa và lịch sử của địa phương được lưu truyền một cách lâu bền, rộng khắp, không bao giờ bị mai một
Trên đây là tất cả những lý do khiến người viết lựa chọn đề tài “Truyền
thuyết về Vân Mẫu và Thánh Tam Giang ở Yên Phong, Bắc Ninh dưới góc nhìn văn hóa”
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1 Nghiên cứu về truyền thuyết
Theo sử sách ghi chép lại, “Ngay từ thời Bắc thuộc, các học giả phương Bắc
đã ghi lại truyền thuyết về thời Hùng Vương qua các sách: Giao châu ngoại vực
kí (thế kỉ IV), Việt Nam chí (thế kỉ V) Khoảng thế kỷ X đến thế kỉ XIV có các
sách ghi chép truyền thuyết như Báo cực truyện, Ngoại sử kí của Đỗ Thiện (nay
đã thất truyền)” [73] Các công trình sưu tầm, tuyển tập văn học dân gian Việt
Nam như: Việt điện u linh 越甸幽靈của Lí Tế Xuyên, Lĩnh Nam chích quái 嶺 南摭怪 của Trần Thế Pháp, Truyền kì mạn lục 傳奇漫錄 của Nguyễn Dữ, Nam
Ông mộng lục 南翁夢錄 v.v là những minh chứng: truyền thuyết đã được các
tác giả văn học, học giả quan tâm nghiên cứu từ lâu Đến thế kỉ thứ XV thì truyền
Trang 9thuyết dân gian mới được ghi chép nhiều hơn Ngô Sĩ Liên có ghi chép lại các
truyền thuyết ở phần ngoại kỉ trong cuốn Đại Việt sử kí toàn thư Truyền thuyết
đã được nhà sử học sưu tầm, ghi chép, sắp xếp và hệ thống hóa lại Tuy nhiên, trong những tác phẩm vừa dẫn, truyền thuyết mới được quan tâm, sưu tầm, tuyển chọn để lưu giữ, truyền lại cho đời sau Đó chưa phải các công trình nghiên cứu truyền thuyết với tư cách là những tác phẩm văn học dân gian, gắn với môi sinh của chúng Các nhà nghiên cứu văn học Việt Nam từng tranh luận về khái niệm truyền thuyết “Một số tác giả phủ nhận sự tồn tại của truyền thuyết với tư cách
là thể loại văn học dân gian độc lập Ngược lại, Đỗ Bình Trị, Kiều Thu Hoạch và nhiều nhà nghiên cứu khác quan niệm truyền thuyết là một thể loại tự sự dân
gian” [73].Trong cuốn giáo trình Lịch sử văn học Việt Nam (Bùi Văn Nguyên
chủ biên), Đỗ Bình Trị xếp truyền thuyết bên cạnh thần thoại, và định nghĩa:
“Truyền thuyết là những truyện có dính líu đến lịch sử mà lại có sự kỳ diệu - là
lịch sử hoang đường - hoặc là những truyện tưởng tượng ít nhiều gắn với sự thực lịch sử Tính chất thể loại của truyền thuyết bắt đầu được khẳng định rõ” [57]
Cuốn sách Truyền thống anh hùng dân tộc trong loại hình tự sự dân gian Việt
Nam (1971) là công trình của nhiều tác giả, trong đó tuyển tập các bài viết nghiên
cứu về truyền thuyết đã xuất bản Các tác giả cuốn sách này đều khẳng định truyền thuyết là một thể loại văn học dân gian Đáng chú ý là tác giả Kiều Thu
Hoạch nhận định: “Truyền thuyết là một thể tài truyện kể truyền miệng nằm trong
loại hình tự sự dân gian; nội dung cốt truyện của nó là kể lại truyện tích các nhân vật lịch sử hoặc giải thích nguồn gốc các phong vật theo quan niệm nhân dân, biện pháp nghệ thuật phổ biến của nó là khoa trương phóng đại, đồng thời
nó cũng sử dụng những yếu tố hư ảo, thần kỳ như cổ tích và thần thoại…” [73]
2.2 Nghiên cứu về truyền thuyết Bắc Ninh - Kinh Bắc
Bắc Ninh là một vùng đất cổ, con người đến tụ cư lập nghiệp từ rất sớm Thế nên ngay từ thời Hùng Vương, người dân đã sáng tạo ra bao truyện cổ phản ánh đời sống tinh thần của họ Điểm qua quá trình nghiên cứu truyện cổ xứ Kinh
Trang 10Bắc - Bắc Ninh, chúng tôi thấy công trình “Truyện cổ xứ Bắc” (Bảo tàng Hà
Bắc, 1990) đã bước đầu giới thiệu những câu chuyện liên quan đến các vị thần
được lưu truyền trong dân gian ở Hà Bắc Tiếp đến cuốn “Thần tích, sắc phong
các vị thần, Thành hoàng làng tỉnh Bắc Ninh” (Lê Viết Nga chủ biên, Bảo tàng
Bắc Ninh, 2008) đã cung cấp một cách sơ lược từng vị thần, Thành hoàng, hiện trạng còn mất của các thư tịch sắc phong liên quan đến các vị thần Sau này cuốn
“Truyện cổ ca dao tục ngữ các làng Quan họ gốc” (Lê Danh Khiêm, Trung tâm
văn hóa Bắc Ninh, 2011) có giới thiệu 51 câu chuyện kể về các vị Thành hoàng làng được thờ tại các làng Quan họ gốc Tuy nhiên tác giả mới chỉ dùng lại ở việc sưu tầm, tập hợp chứ chưa phân tích khám phá nội hàm bên trong của từng câu chuyện Ngoài ra công trình “Truyền thuyết - Lễ hội và diễn xướng dân gian
ở Bắc Ninh” của Nguyễn Công Hảo, Nxb Hội nhà văn, 2017, đã giới thiệu những
kiến thức văn nghệ dân gian còn lưu truyền lại tại các làng quê thông qua một số truyền thuyết và lễ hội tiêu biểu xứ Kinh Bắc Tóm lại chưa có một công trình
nào nghiên cứu độc lập Truyền thuyết về Vân Mẫu và Thánh Tam Giang ở Yên
Phong, Bắc Ninh dưới góc nhìn văn hóa
2.3 Nghiên cứu truyền thuyết về Vân Mẫu và Thánh Tam Giang
Truyền thuyết về Vân Mẫu và Thánh Tam Giang ra đời trên nền tảng xã hội
nông nghiệp cổ truyền Vân Mẫu được thờ ở nhiều nơi và Thánh Tam Giang đã trở thành Thành hoàng của hơn 300 làng vùng sông nước Ở Việt Nam, ngay từ đầu, việc thờ Vân Mẫu và Thánh Tam Giang thể hiện sự tôn thờ trời đất, giới siêu nhiên và những vị thần có công với lịch sử Hiện tượng thờ Vân Mẫu và Thánh Tam Giang có đầy đủ các yếu tố như: đối tượng thờ, điện thờ, nghi thức thờ cúng và các trò chơi, trò diễn mang tính nghi lễ
Truyền thuyết về Vân Mẫu và Thánh Tam Giang được nhiều sách báo đề
cập Trong cuốn “Truyện cổ xứ Bắc” (Bảo tàng Hà Bắc, 1990) nội dung cuốn
Trang 11sách kể về từng vị thần có công với dân làng được lưu truyền trong dân gian ở
Hà Bắc nói chung
Tiếp đến là hai cuốn “Truyện cổ, ca dao, tục ngữ các làng quan họ” (Lê Danh Khiêm, Trung tâm văn hóa Bắc Ninh, 2008); “Địa chí Yên Phong” (nhiều tác giả, Nhà xuất bản thanh niên, năm 2002) trong mục tác phẩm văn học dân gian giới thiệu một số tác phẩm tiêu biểu cho các thể loại truyện cổ dân gian ca
dao, tục ngữ, câu đố có giới thiệu Truyền thuyết về Vân Mẫu và Thánh Tam
Giang (trang 339) Ngoài ra trên báo mạng các website cũng đã xuất hiện các bài
viết về truyền thuyết và các lễ hội có liên quan đến chủ đề trên
Trong những năm gần đây có nhiều công trình nghiên cứu về truyền thuyết này như: “Tục thờ Thánh Tam Giang ở vùng Ngã Ba Xà” (Nghiên cứu trường hợp: làng Đoài, xã Tam Giang, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh và làng Mai Thượng, xã Mai Đình, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang) Luận văn thạc sĩ Dân tộc học của tác giả Nguyễn Thị Thu Trang Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2009 Với công trình này tác giả luận văn miêu tả cụ thể cách thức tiến hành các nghi lễ thờ cúng và ý nghĩa của việc thờ cúng để khơi dậy trong mỗi cá nhân trách nhiệm gìn giữ và bảo vệ nét đẹp văn hóa ấy
“Lịch sử sưu tầm, nghiên cứu truyền thuyết và lễ hội về Thánh Tam Giang vùng đất dọc sông Cầu” luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Nhung, Đại học
sư phạm Hà Nội năm 2015 Toàn luận văn đã nghiên cứu một cách có hệ thống quá trình phát triển của lịch sử sưu tầm truyền thuyết và lễ hội về Thánh Tam Giang
Và công trình, “Việc phụng thờ Thánh Bạch Hạc Tam Giang tại đền Đuông,
xã Bồ Sao, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc” (luận văn thạc sĩ ngành Văn hóa học của tác giả Lưu Ngọc Thành, trường Đại học Văn hóa Hà Nội năm 2012) là nghiên cứu về Thánh Tam Giang nhưng ở một địa danh khác Kết quả nghiên cứu
Trang 12của tác giả Lưu Ngọc Thành đã khái quát Thánh Bạch Hạc trong không gian làng
Bồ Sao để từ đó nêu lên bản chất ý nghĩa việc thờ phụng ngài
Một số công trình đề cập đến chuỗi Truyền thuyết về Vân Mẫu và Thánh
Tam Giang, tiêu biểu có thể kể đến “Truyện cổ xứ Bắc” (Bảo tàng Hà Bắc, 1990)
Nội dung cuốn sách kể về từng vị thần có công với dân làng được lưu truyền trong dân gian ở Hà Bắc nói chung Hai cuốn “Truyện cổ, ca dao, tục ngữ các làng quan họ” (Lê Danh Khiêm, trung tâm văn hóa Bắc Ninh, 2008) và “Địa chí Yên Phong” (nhiều tác giả, Nhà xuất bản Thanh niên, năm 2002) đã giới thiệu
về Vân Mẫu và tục thờ bà trong các ngôi làng ở Yên Phong, Bắc Ninh Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu trên mới bước đầu giới thiệu về nội dung các truyền thuyết và tục thờ bà với tư cách là thân mẫu của những vị Thánh Tam Giang
Điều đáng nói là các công trình trên chỉ đề cập đến Truyền thuyết về Vân
Mẫu và thánh Tam Giang từ những góc nhìn khác, hoặc chủ yếu mang tính sưu
tầm, chưa có công trình nào nghiên cứu về hệ thống truyền thuyết này ở Yên Phong, Bắc Ninh dưới góc nhìn văn hóa
2.4 Hướng tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hóa
Những năm đầu thế kỉ XX ở nước ta, hướng tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hóa đã được nhiều học giả, các nhà nghiên cứu quan tâm tìm hiểu Từ việc đưa ra những quan điểm về mặt nhận thức, lí luận dựa theo lý thuyết phương Tây
áp dụng vào thực tiễn Việt Nam đến việc thực nghiệm trên một số tác phẩm của các tác giả tiêu biểu, giới nghiên cứu đã tạo nên một bức tranh nghiên cứu văn hóa - văn học dưới sự soi rọi của ánh sáng văn hóa Năm 1985, trong công trình
Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều, nhà văn hóa học - GS Phan
Ngọc đã sớm nhận ra và vận dụng những yếu tố văn hóa xã hội để tìm ra những
đặc trưng của phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều Năm 1994, trong cuốn sách Văn hóa Việt Nam và cách tiếp cận mới, GS Phan Ngọc cũng đã đưa ra
những quan điểm về văn hóa, cách tiếp cận văn hóa trong văn học, gợi mở nhiều hướng nghiên cứu khác nhau cho các học giả sau này Tiếp sau bước đi có tính
Trang 13chất mở đầu đó, đã có nhiều học giả mạnh dạn áp dụng phương pháp tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hóa cho các công trình nghiên cứu của mình Có thể kể
ra đây một số công trình nghiên cứu thành công trong việc tiếp cận văn học từ
góc nhìn văn hóa như: Văn học trung đại Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa, PGS.TS Trần Nho Thìn (Nhà xuất bản Giáo dục, 2003); Bản sắc Việt Nam qua
giao lưu văn học, PGS.TS Nguyễn Bá Thành (Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội,
2004); Thơ Mới từ góc độ văn hóa - văn học, Luận án Tiến sĩ, HoàngThị Huế (Học viện Khoa học Xã hội, 2007); Tiếp cận Truyện Kiều từ góc nhìn văn hóa,
PGS.TS Lê Nguyên Cẩn (Nxb Thông tin và Truyền thông, 2011) …
Cũng đã có một số đề tài, luận văn thực hiện ở các trường Đại học tìm hiểu các thể loại văn học dân gian dưới góc nhìn văn hóa Tuy nhiên, chưa có công
trình nào nghiên cứu Truyền thuyết về Vân Mẫu và Thánh Tam Giang ở Yên
Phong, Bắc Ninh từ góc độ lý thuyết này
Như vậy, Truyền thuyết về Vân Mẫu và Thánh Tam Giang đã được giới
khoa học nghiên cứu Tuy nhiên, tìm hiểu chuỗi truyền thuyết này dưới góc nhìn
văn hóa học chưa được đề cập đến Bởi vậy, chúng tôi chọn “Truyền thuyết về
Vân Mẫu và Thánh Tam Giang ở Yên Phong, Bắc Ninh dưới góc nhìn văn hóa”
làm đề tài cho công trình nghiên cứu của mình Hy vọng, những tìm hiểu bước đầu của luận văn sẽ có những đóng góp nhất định cho việc tìm hiểu về văn hóa, văn học ở vùng đất địa linh nhân kiệt - Yên Phong, Bắc Ninh
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là: Truyền thuyết về Vân Mẫu
và Thánh Tam Giang ở Yên Phong, Bắc Ninh
- Những yếu tố văn hóa có mối quan hệ ảnh hưởng đến hệ thống Truyền
thuyết về Vân Mẫu và Thánh Tam Giang
Trang 143.2 Phạm vi nghiên cứu
3.2.1 Phạm vi tư liệu nghiên cứu
Hệ thống các Truyền thuyết về Vân Mẫu và Thánh Tam Giang đã được lưu
truyền ở Bắc Ninh và khu vực đồng bằng Bắc Bộ từ bao đời nay; một bộ phận được ghi chép cố định trong các bản thần tích, hoặc thư tịch, sắc phong; một bộ phận được lưu truyền nơi cửa miệng dân gian Với thời gian và điều kiện hạn chế chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài một mặt căn cứ vào các văn bản có sẵn, một mặt căn cứ vào các văn bản tác phẩm đang lưu truyền trong đời sống dân gian ở Bắc Ninh Cụ thể, qua khảo sát ở các điểm thờ Vân Mẫu và Thánh Tam Giang thuộc huyện Yên Phong, Bắc Ninh, chúng tôi sưu tầm được một số bản truyền thuyết được ghi lại trong Lý lịch của các di tích thờ Vân Mẫu và Thánh Tam Giang, một số bản ghi chép từ lời kể của nhân dân (Phụ lục)
3.2.2 Phạm vi vấn đề nghiên cứu
Trong giới hạn của một luận văn thạc sĩ, chúng tôi chủ yếu tìm hiểu Truyền
thuyết về Vân Mẫu và Thánh Tam Giang trên một số phương diện của hướng tiếp
cận từ góc nhìn văn hóa
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
- Sưu tầm, tập hợp, khảo cứu hệ thống Truyền thuyết về Vân Mẫu và Thánh
Tam Giang ở vùng Yên Phong, Bắc Ninh Qua đó khái quát tìm ra được đặc điểm
tín ngưỡng tâm linh của người Việt
- Tìm hiểu mối quan hệ phức hợp đa chiều giữa Truyền thuyết về Vân Mẫu
và Thánh Tam Giang với các yếu tố văn hóa, trong môi trường lịch sử văn hóa ở
Yên Phong, Bắc Ninh
- Góp phần bồi dưỡng ý thức trân trọng giá trị văn học, văn hóa cổ truyền, bồi dưỡng lòng tự hào về mảnh đất, con người Bắc Ninh, từ đó có ý thức gìn giữ
và phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc
Trang 154.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Truyền thuyết về Vân Mẫu và Thánh Tam Giang ở Yên Phong, Bắc Ninh dưới góc nhìn văn hóa tập trung giải quyết một số vấn đề sau:
- Nghiên cứu những vấn đề về cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn của đề tài như: điều kiện tự nhiên, đặc điểm lịch sử, đời sống văn hóa; một số vấn đề lý luận về truyền thuyết và tổng quan về truyền thuyết ở Yên Phong, Bắc Ninh; phương pháp tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hóa
- Tập hợp, sưu tầm, khảo cứu các Truyền thuyết về Vân Mẫu và Thánh Tam
Giang từ góc nhìn văn hóa
- Tìm hiểu thêm mối quan hệ giữa Truyền thuyết về Vân Mẫu và Thánh Tam
Giang với việc thờ phụng và tổ chức lễ hội trong đời sống tâm linh của người
dân Bắc Ninh
5 Phương pháp nghiên cứu
Để tiến hành nghiên cứu, thực hiện đề tài Truyền thuyết về Vân Mẫu và
Thánh Tam Giang ở Yên Phong, Bắc Ninh dưới góc nhìn văn hóa, chúng tôi phối
hợp vận dụng các phương pháp nghiên cứu như:
- Phương pháp điền dã: phương pháp này được sử dụng trong suốt quá trình
sưu tầm hệ thống Truyền thuyết về Vân Mẫu và Thánh Tam Giang ở các địa
phương trên địa bàn huyện Yên Phong, Bắc Ninh
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Nhằm phân tích các tài liệu lý luận
về truyền thuyết, phân tích giá trị của truyền thuyết từ góc độ văn hóa và mối quan hệ giữa truyền thuyết với đời sống tâm linh về thờ Mẫu, thờ Thành hoàng làng của cư dân địa phương Từ đó tổng hợp các vấn đề nghiên cứu để đưa ra đánh giá, kết luận về đối tượng nghiên cứu
Trang 16- Phương pháp so sánh: phương pháp này chúng tôi sử dụng khi khảo cứu
đặc điểm Truyền thuyết về Vân Mẫu và Thánh Tam Giang ở vùng Yên Phong,
Bắc Ninh với các truyền thuyết khác trong huyện
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Để có thể đạt được mục đích nghiên cứu của đề tài chúng tôi đã sử dụng thêm phương pháp nghiên cứu của nhiều ngành khoa học như: phương pháp nghiên cứu văn hóa, phương pháp nghiên cứu lịch sử, phương pháp nghiên cứu địa lí
6 Đóng góp của luận văn
- Nghiên cứu một cách hệ thống Truyền thuyết về Vân Mẫu và Thánh Tam
Giang ở Yên Phong, Bắc Ninh dưới góc nhìn văn hóa; góp phần bổ sung, hoàn
thiện tri thức về truyền thuyết ở Bắc Ninh và khu vực
- Luận văn còn góp tiếng nói để bảo tồn và phát huy những giá trị của Truyền
thuyết về Vân Mẫu và Thánh Tam Giang cùng tín ngưỡng thờ Mẫu, thờ người
anh hùng và thờ thần nước ở Bắc Ninh
- Kết quả của luận văn sẽ trở thành nguồn tư liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy, học tập về văn học, cũng như nét tín ngưỡng thờ Vân Mẫu và Thánh Tam Giang; đồng thời bước đầu góp phần cung cấp những cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách, chủ trương của chính quyền địa phương về công tác bảo tồn và phát triển văn hóa của tỉnh Bắc Ninh trong giai đoạn hiện nay
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, Nội dung chính của luận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1 Tổng quan về vùng đất Yên Phong, Bắc Ninh và một số vấn đề
lý luận
Chương 2 Nội dung Truyền thuyết về Vân Mẫu và Thánh Tam Giang ở
Yên Phong, Bắc Ninh dưới góc nhìn văn hóa
Chương 3.Nghê thuật Truyền thuyết về Vân Mẫu và Thánh Tam Giang ở
Yên Phong, Bắc Ninh dưới góc nhìn văn hóa
Trang 18NỘI DUNG Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VÙNG ĐẤT YÊN PHONG, BẮC NINH VÀ MỘT SỐ
VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
Cộng đồng người trên dải đất Việt Nam, bên cạnh những nét văn hóa tương đồng còn có nét đặc trưng riêng biệt thể hiện rõ sự khác nhau giữa các vùng miền Nét khác biệt ấy được chi phối bởi vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên, hoàn cảnh lịch
sử, phong tục tập quán, đời sống văn hóa… Chính những yếu tố trên đã là nguồn cội tạo nên giá trị văn hóa mang đặc trưng của con người nơi đó Nghiên cứu
Truyền thuyết về Vân Mẫu và Thánh Tam Giang ngoài việc xem xét những yếu
tố địa văn hóa, địa lịch sử còn cần tìm hiểu những kiến thức và định hướng lý luận làm cơ sở triển khai đề tài nghiên cứu
1.1 Tổng quan về vùng đất Yên Phong, Bắc Ninh
1.1.1 Vùng đất phù sa bên dòng sông Cầu giàu truyền thống lịch sử
Yên Phong là một huyện nằm ở phía Tây tỉnh Bắc Ninh, thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ châu thổ sông Hồng Tọa độ địa lý khoảng vĩ độ từ (21°8’45”) đến (21°14;30”) độ vĩ Bắc; và khoảng kinh độ từ (105°54;30”) đến (106°4;15”) độ kinh Đông Phía Bắc giáp với hai huyện Việt Yên và Hiệp Hòa tỉnh Bắc Giang Phía Nam tiếp giáp với huyện Từ Sơn Phía Đông giáp với huyện Tiên Du và thành phố Bắc Ninh Phía Tây giáp với huyện Đông Anh, huyện Sóc Sơn thành phố Hà Nội
Yên Phong có diện tích tự nhiên 9.868,11 ha Năm 2015, dân số Yên Phong
là 162.592 người, mật độ dân số 1.277 người / km2 Địa hình chủ yếu là đồng bằng, cao độ trung bình so với mặt nước biển 4,5 m đất đai được hình thành chủ yếu do quá trình bồi tụ phù sa của hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình trực tiếp là ba con sông (sông Cầu, sông Ngũ Huyện Khê và sông Cà Lồ)
Khí hậu nhiệt độ trung bình cả năm là 23,40c nhiệt độ trung bình mùa nóng
từ 240c đến 290c có ba tháng dưới 200c (tháng 12 đến tháng 2), tháng 7 cao nhất
Trang 19là 29,20c, nhiệt độ mùa đông từ 160 đến 210 Lượng mưa trung bình 1.512 mm,
có 5 tháng khô, độ ẩm trung bình 82,5%
Do nằm ở thế lòng chảo bởi ba con sông bao bọc là sông Cầu, sông Ngũ Huyện Khê và sông Cà Lồ nên Yên Phong có những thuận lợi cho việc phát triển sản xuất cây trồng Địa dạng hành chính ổn định, bền vững ít bị chia cắt song người dân nơi đây cũng phải liên tục đương đầu gánh chịu rất nhiều khó khăn do hậu quả của lụ lụt gây ra Điều kiện tự nhiên ấy tạo nên sực mạnh đoàn kết, ý chí kiên cường bất khuất của người dân phải trường kì trong đấu tranh lao động sản xuất
Theo địa giới hành chính hiện nay, Yên Phong có 14 đơn vị hành chính bao gồm 01 thị trấn Chờ và 13 xã là: Hòa Tiến, Yên Phụ, Văn Môn, Tam Giang, Đông Tiến, Đông Thọ, Trung Nghĩa, Long Châu, Yên Trung, Đông Phong, Thụy Hòa, Dũng Liệt, Tam Đa Với 74 thôn làng, khu phố Yên Phong có trung tâm huyện là thị trấn Chờ cách thành phố Bắc Ninh 15 km về phía Đông; cách thủ đô
Hà Nội 29 km về phía Tây Nam, cách quốc lộ 1A 8 km về phía Nam, có quốc lộ
18 chạy qua, cách sân bay quốc tế Nội Bài 15 km về phía Tây, cách cảng Hải Phòng 114 km về phía Nam Hệ thống giao thông khá thuận tiện cho việc giao thương, tiếp xúc kinh tế, văn hóa với các nơi trong ngoài nước và khu vực Phía Bắc huyện lỵ có đường quốc lộ 18 chạy dọc theo hướng Đông - Tây dài 9 km đi
từ Quảng Ninh về Hà Nội, qua địa bàn các xã trong huyện là: Hòa Tiến, thị trấn Chờ, Đông Tiến, Yên Trung, Long Châu, Đông Phong Phía Tây có đường quốc
lộ 3 theo hướng Bắc Nam dài khoảng 5 km nối liền Hà Nội - Thái Nguyên chạy qua các xã Văn Môn, Đông Thọ, Hòa Tiến, Tam Giang Huyện có tổng chiều dài
10 km, nằm trên 3 nút giao thông quốc lộ 18 và quốc lộ 3 là điểm của thị trấn Chờ, Đông Phong, Hòa Tiến Song song với quốc lộ 18 còn có đường tỉnh lộ
286, theo hướng (Đông - Tây) Bắc Ninh nối với Đa Phúc, Phủ Lỗ dài 10 km đi qua các xã Hòa Tiến, Yên Phụ, thị trấn Chờ, Trung Nghĩa, Long Châu, Đông Phong Theo hướng (Bắc - Nam) có đường tỉnh lộ (295) ngược đường phía Bắc
Trang 20có thể đi phố Thắng, Hiệp Hòa, xuôi đường phía Nam đi Từ Sơn - Hà Nội dài 8
km qua các xã Đông Tiến, thị trấn Chờ, Đông Thọ; theo hướng Bắc và Tây Nam
có đường tỉnh lộ 271 từ bến Như Nguyệt đi cầu Tó dài 9 km qua các xã: Tam Giang, thị trấn Chờ, Văn Môn Đường thủy có sông Cầu bao phía Bắc; Sông Cà
Lồ bao phía Tây, có tổng chiều dài 26 km, chạy qua các xã: Hòa Tiến, Tam Giang, Đông Tiến, Yên Trung, Dũng Liệt, Tam Đa Sông Ngũ Huyện Khê bao phía Nam và Đông Nam hợp lưu với sông Cầu chảy qua các xã: Đông Phong, Long Châu, Trung Nghĩa, Đông Thọ, Văn Môn Cùng với tổng số 56 km đường huyện, 64,5 km đường liên xã, 220 km đường bê tông thôn xóm, rất thuận lợi cho việc sản xuất, lưu thông hàng hóa và sinh hoạt văn hóa cộng đồng
Kể từ khi được khai danh thành lập huyện, trải qua hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, vốn là vùng đất cổ xinh đẹp giàu có tiềm năng, người dân trung hậu, chất phác, làng xã Yên Phong không ngừng được củng cố, liên kết chặt chẽ bền vững, đã trở thành pháo đài đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược, bảo vệ giữ làng, tạo nên sức mạnh cộng đồng dân tộc, xây dựng quê hương ngày càng giàu mạnh về vật chất, tiên tiến đậm đà về bản sắc văn hóa dân tộc của địa phương
Yên Phong là miền quê vốn có truyền thống thượng võ và lòng yêu nước nồng nàn, các thế hệ người dân Yên Phong luôn có tinh thần đoàn kết, tích cực tham gia đóng góp vào công cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc
Thời kỳ đầu Công nguyên, nhà Hán xâm lược cai trị nước ta, vùng Yên Phong thuộc quận Long Biên (quận Giao Chỉ) Năm 43 nhân dân trong vùng đã nổi dậy hưởng ứng cuộc khởi nghĩa của hai Bà Trưng, đánh đuổi giặc Tô Định, giải phóng Long Biên
Mùa xuân 542, nhân dân Yên Phong hưởng ứng cuộc khởi nghĩa của Lý Bí đánh đuổi giặc Lương, Lý Bí lên ngôi hoàng đế, đặt quốc hiệu là Vạn Xuân, đóng
ở Long Biên, câu chuyện còn được lưu truyền qua hình ảnh người con gái quê hương Hứa Trịnh Hòa, đã từng theo giúp Lý Bí đánh giặc dựng nước.Thế kỷ thứ
Trang 21XI nơi đây đã trở thành trung tâm diễn ra cuộc kháng chiến chống Tống, dưới sự chỉ huy của người anh hùng dân tộc Lý Thường Kiệt, nhân dân Yên Phong đã đóng góp lực lượng dân binh lớn tham gia cuộc kháng chiến, cùng nhân dân cả nước đánh tan 30 vạn quân xâm lược nhà Tống, xây dựng một quốc gia Đại Việt độc lập tự cường, đất nước bước vào một thời kỳ phát triển thịnh vượng về kinh
tế, xã hội, thương mại Năm 1285, giặc Nguyên hung hãn mở cuộc xâm lược nước ta lần thứ hai Với lá cờ thêu 6 chữ vàng, “Phá cường địch, báo hoàng ân” dưới sự chỉ huy của Trần Quốc Toản trong hào khí “Sát Thát” (giết giặc Nguyên) khắp vùng quê Yên Phong, nhân dân hưởng ứng góp công, sức cùng quân đội nhà Trần đánh giặc Phạm Ngộ từng làm Tham tán quân vụ, có công giúp Hưng Đạo Vương đánh giặc Nguyên, được vua thưởng nhiều ruộng đất cho cả một vùng Đông Lâu
Thời Pháp thuộc Yên Phong là địa bàn hoạt động của nghĩa quân Yên Thế, nhiều thanh niên các xã Đông Tiến, Tam Giang, Hàm Sơn (nay là thị trấn Chờ), Trung Nghĩa, Yên Phụ, Dũng Liệt,…tham gia nghĩa quân, trực tiếp cầm gươm, súng giết giặc Rừng Đông Xuyên có địa thế hiểm yếu là nơi cất dấu quân của nghĩa quân
Trong cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm, dưới sự lãnh đạo của Đảng Yên Phong là địa bàn sớm có tổ chức tiền thân của Đảng và phong trào quần chúng phát triển mạnh mẽ, từ những năm 1928, chi hội Việt Nam thanh niên cách mạng đã được thành lập và có nhiều hoạt động như: hình thức rải truyền đơn, kêu gọi bãi khóa, bãi thị, đòi giảm giờ làm (ngày làm việc 8 tiếng), ủng hộ nước Nga
Trong phong trào cách mạng tháng Tám năm 1945, Đội thanh niên cứu quốc được thành lập, dưới sự lãnh đạo của Đảng đã tham gia tích cực vào cuộc khởi nghĩa giành chính quyền của huyện Yên Phong ngày 18/8/1945, cướp đồn điền
Vũ Văn An ngày 19/8/1945, giành chính quyền tỉnh Bắc Ninh ngày 20/08/1945.Trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, nhân dân Yên
Trang 22Phong không quản ngại hi sinh gian khổ, đóng góp sức người, sức của hưởng ứng các phong trào thi đua yêu nước như “Tuần lễ ủng hộ kháng chiến”, “Mùa đông binh sĩ”, “Hũ gạo kháng chiến”… hàng ngàn người được huy động tham gia thanh niên xung phong dân công hỏa tuyến phục vụ chiến dịch, đào 5.050m2
đất hào, đắp 4.600m3 đất ụ để ngăn cản bước tiến của xe địch Tổng kết cuộc kháng chiến có 901 thanh niên tham gia nhập ngũ; 214 liệt sĩ; bộ đội, du kích, huyện đã đánh 237 trận, phá 13 ban tề phản động, đánh bại hàng trăm cuộc càn quét lớn nhỏ của địch; diệt 685 tên địch, làm bị thương 204 tên, bắt sống 61 tên, bức hàng 146 tên, thu 189 súng trường, 46 tiểu liên, 50 trung liên và đại liên, 02 đại bác và hàng trăm tấn quân trang, quân dụng; được Chính phủ tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng nhì
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, toàn huyện có 6.697 người tham gia nhập ngũ, 1013 liệt sĩ, 384 thương bệnh binh, 1.539 gia đình được cấp bằng danh dự có công với nước, 7945 người được tặng thưởng Huân, Huy chương cứu nước, 10 Huân chương Lao động kháng chiến các hạng, 784 Huân chương chiến công Giải phóng, 6 Huân chương Chiến công, 34 mẹ Việt Nam Anh hùng, 1 Anh hùng lực lượng vũ trang Đào Xuân Tiến
Tổng kết 02 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, một chặng đường đầy khó khăn, gian khổ, mất mát hi sinh, nhân dân Yên Phong luôn tin tưởng vào đường lối lãnh đạo của Đảng, vượt qua mọi thử thách đóng góp sức người, sức của cùng nhân dân cả nước mở ra một trang sử mới huy hoàng của dân tộc, cả nước đi lên CNXH, Yên Phong được đón nhận danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang
Vốn sinh ra từ vùng đất sông nước bao quanh, người dân Yên Phong luôn quan tâm đến việc phát triển kinh tế, lấy nông nghiệp làm nghề sản xuất chính, ngoài việc chăn nuôi, trồng trọt còn nghề phụ khác như: trồng dâu nuôi tằm, dệt vải ra đời từ rất sớm và phát triển rộng rãi ở Vọng Nguyệt (Tam Giang), Chân Lạc (Dũng Liệt)… nghề tre đan ở Đông Xuyên, Đông Thái; nghề cày bừa ở Đông
Trang 23Xuất, đúc mũi cày ở Phú Mẫn, dệt vải trắng ở Yên Phụ, nấu rượu ở Quan Đình, Đại Lâm, ép dầu ở Phương La, mì gạo ở Đại Lâm (Tam Đa), Cầu Gạo (Yên Phụ)…
Năm 2017 tình hình kinh tế - xã hội của huyện tiếp tục phát triển ổn định, với những kết quả đáng khích lệ: Tổng sản phẩm GRDP địa phương ước đạt trên 4.000 tỷ đồng Khu vực nông nghiệp 685 tỷ đồng, khu vực công nghiệp, xây dựng 1.700 tỷ đồng; khu vực dịch vụ 1.600 tỷ đồng, thu nhập bình quân đầu người đạt
52 triệu đồng/người/năm Công tác đầu tư xây dựng cơ bản tiếp tục được quan tâm Lĩnh vực văn hoá - xã hội có nhiều chuyển biến tích cực; công tác quốc phòng - an ninh được giữ vững, quan hệ đối ngoại tiếp tục được củng cố và tăng cường Công tác xây dựng tổ chức cơ sở Đảng tiếp tục được coi trọng Công tác giải quyết thủ tục hành chính nhanh gọn, kịp thời, hiện đã thành lập và đưa Trung tâm Hành chính công vào hoạt động bước đầu phát huy hiệu quả
Kể từ khi được khai danh thành lập huyện, trải qua hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, vốn là vùng đất cổ xinh đẹp giàu có tiềm năng, người dân trung hậu và chất phác, làng xã Yên Phong không ngừng được củng cố, liên kết chặt chẽ bền vững, đã trở thành pháo đài đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược, bảo vệ giữ làng, tạo nên sức mạnh cộng đồng dân tộc, xây dựng quê hương ngày càng giàu mạnh về vật chất, tiên tiến đậm đà về bản sắc văn hóa dân tộc của địa phương
1.1.2 Nơi hội tụ nhiều truyền thống văn hóa, văn học dân gian
Không chỉ thịnh vượng phồn vinh mà Yên Phong còn là một miền quê sản sinh, lưu giữ nền văn hóa văn học dân gian gồm nhiều loại hình nghệ thuật khác nhau với 73 di tích lịch sử, văn hóa và những sự tích, truyền thuyết dân gian khá đặc sắc, hấp dẫn
Truyền thuyết phản ánh những nét đẹp trong lao động sản xuất có sự tích
Bà Chúa Chóa, Bà Chúa Sành dạy dân trồng dâu nuôi tằm, dệt vải, làm đồ gốm;
Sự tích về nàng Nhũ Hương, đức tài nhân (ở Phong Xá), bà Thí Thóc (ở Vọng
Trang 24Nguyệt) với đức tính cần cù, nhân hậu để tiếng thơm cho đời Sự tích miêu tả những nỗ lực của nhân dân ta trong cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước, chống thiên tai như: Truyền thuyết về Quý Minh đại vương (ở Hàm Sơn), ba vị tướng người Đại Lâm giúp vua Hùng đánh giặc, truyện An Dương Vương đắp thành
Cổ Loa và Bạch Kê Tinh ở Yên Phụ, truyện Đức Thánh Tam Giang hiển linh với bài thơ “Nam quốc sơn hà” đánh Tống ở Đền Xà, truyện Nguyễn Hữu Nghiêm (Thọ Khê) vâng lệnh vua cầu đảo ở đền Hàm Sơn (nay là thị trấn Chờ)… cùng nhiều sự tích về địa danh như: “Chợ Chờ”, “Đò Lo”, “Bến Gầm”, “Làng Lẫm”,
“Đồng Xác”, “Thất Diệu Sơn”, “Sông Thiếp”
Hiện nay, Yên Phong còn có 72 ngôi đình, 72 ngôi chùa, 17 từ đường, 4 miếu, 1 điếm, 73 di tích đã được Nhà nước xếp hạng Trong đó: di tích cấp quốc gia có 37, di tích cấp tỉnh có 36, trong 73 di tích có 34 di tích lịch sử, 39 di tích văn hóa nghệ thuật Cùng với việc điều tra khảo sát của Viện Hán Nôm năm
1991, Yên Phong còn phát hiện 303 tư liệu văn bia, 22 quả chuông, 241 câu đối,
317 bức hoành phi và nhiều tư liệu chép tay bằng chữ Hán, chữ Nôm Đây là mảng tư liệu khá phong phú giúp cho việc khảo cứu đầy đủ hơn về các mặt đời sống văn hóa xã hội của huyện Nhiều làng xã còn lưu giữ những ngôi đình khá đặc sắc như: đình Diềm, đình Ngô Nội, đình Quan Đình là những công trình kiến trúc độc đáo với những chạm khắc có giá trị nghệ thuật cao Chùa Khai Nghiêm Vọng Nguyệt do công chúa Nguyệt Sinh nhà Lý xây dựng năm 1333, đời Trần Hiến Tông, có sông núi bao quanh là nơi thắng cảnh nổi tiếng xưa Được Hàn lâm học sĩ Trương Hán Siêu có bài văn bia “Khai nghiên tự” Đền Tam Giang thờ Uy địch đại vương, Vương Húy Hát em trai Trương Hống, nằm bên ngã ba sông Như Nguyệt là nơi đền thiêng bậc nhất
Mỗi độ tết đến xuân về, Yên Phong còn là miền quê của lễ hội với 65 lễ hội hiện có, trong đó có 64 lễ hội truyền thống và 1 lễ hội lịch sử Lễ hội dân gian thường được tổ chức diễn ra xuân thu nhị kỳ mỗi năm một lần có nơi 3 năm một
Trang 25lần, có rước sắc, văn tế thần và các trò chơi dân gian như: vật, chọi gà, cờ người, bơi chải trên sông Cầu Lệ hội lịch sử chiến thắng Như Nguyệt được tạo dựng lại sau kỉ niệm 920 năm chiến thắng quân xâm lược nhà Tống (1077) thời gian lấy ngày 18/2 âm lịch là ngày lễ chính, 5 năm tổ chức một lần có mô phỏng hình tượng Lý Thường Kiệt đánh Tống và hội bơi chải trên sông Cầu Cũng như nhiều làng quê khác ở Yên Phong vào tháng giêng và tháng hai, dường như các ngày hội quan họ diễn ra liên tiếp: Chắp (ngày 4), Đống Cao (ngày 7), Chọi, Nguyễn (ngày 9), Sói (ngày 12), Yên Từ (ngày 13), Mành (ngày 14), Trà, Đông Mai, Tam Đảo, Diềm (ngày 15), Bùi (ngày 28) Sang tháng 2, hội cũng vẫn còn: Đặng Xá (ngày 2), Tiên Thượng (ngày 6), Tiêu Long (ngày 7), Điều (ngày 15), Yên Xá, Thọ Ninh (ngày 19) Bên cạnh ngày hội của quan họ, Yên Phong còn nhiều hội khác Nếu Đông Yên có Hội thi nói quá thì làng Vọng Nguyệt vào ngày 4 tháng giêng, lại tổ chức đốt pháo nổ, diễn tả lại cảnh công chúa Nguyệt Sinh lấy bác phó rèn Trò Bách công: sĩ, nông, công, thương là hoạt động không thể thiếu ở làng Như Nguyệt được tổ chức vào ngày 7 tháng giêng Còn ở làng Yên Vĩ, tổ chức cho trẻ em chạy giành bình nước thật vui nhộn và khỏe khoắn
Khoa cử thời cổ Yên Phong có nhiều nhân tài, góp phần làm rạng rỡ nền văn hóa nước nhà từ khóa thi Quý Sửu (1433) đến khoa thi Kỷ Dậu (1849) có
136 khoa thi: tiến sĩ Yên Phong có 41 người đỗ đạt Nhà sử học Phan Huy Chú viết “Làng Vọng Nguyệt ở Yên Phong có họ Ngô Ngọc đỗ chính bảng thờ Hồng Đức rồi 5 đời đỗ liên tiếp, thực là xưa nay ít có” Trong nhiều thời kì dưới thời phong kiến, hàng trăm nho sinh trong huyện đã đỗ tiến sĩ, cử nhân Đặc biệt khoa thi năm Mậu Thìn (1580) có 5 người đỗ tiến sĩ trong đó có 2 người chiếm bảng tam khôi Ngày nay: có 02 Giáo sư, 19 phó giáo sư, 101 tiến sĩ, 296 thạc sĩ và
5533 người đạt trình độ đại học
Không chỉ tự hào về khoa bảng mà dân ca quan họ cũng là niềm tự hào của quê hương Yên Phong Bởi lẽ khi xét quan họ là di sản văn hóa phi vật thể, Yên
Trang 26Phong có 16 làng quan họ trong tổng số 49 làng quan họ gốc của quê hương Kinh Bắc như: Diềm, Chắp, Đẩu, Sói, Xuân Đồng, Xuân Viên, Lẫm, Thụ Ninh, Đặng, Chọi, Trà Xuyên, Châm Khê, Điều Thôn, Đống Cao, Đông Mai, Đông Yên Vinh
dự hơn được huyền thoại chỉ ra vùng đất này vốn là một nơi được tiếp biến nền dân ca ấy Vua bà quan họ là ai hiện nay vẫn còn nhiều tồn nghi, nhưng đôi câu đối hiện còn ở cửa nghè làng Viêm Xá là một căn cứ hiểu về nguồn cội nền dân
ca ấy:
“Oanh liệt hiển Hồi hương, vạn cổ cương thường hoành vũ trụ
Thần linh hưng Viêm ấp, lũy triều phong tặng đối càn khôn
(Oanh liệt rạng Hồi trang, muôn thuở cương thường ngang vũ trụ
Thần linh xây Viêm ấp, các triều phong tặng sánh càn khôn)” [74]
Là một vùng đất cổ, con người đến ngụ cư và lập nghiệp từ rất sớm chính
vì thế truyện cổ dân gian ở Yên Phong xuất hiện rất sớm, ngay từ thời đại các vua Hùng, trải qua mấy nghìn năm lịch sử con người nơi đây đã sáng tạo ra truyện
cổ để phản ánh cuộc sống muôn màu muôn vẻ của mình Truyện cổ Yên Phong
có khối lượng lớn nội dung phong phú đa dạng, có nhiều loại hình tương ứng với từng thời kì lịch sử và từng đối tượng phản ánh bao gồm: thần thoại, truyện cổ tích, truyện cười Về đề tài cũng rất phong phú nhưng nổi bật lên là hai mảng đề tài lớn là: thứ nhất truyện về các vị thần Thành hoàng được thờ ở các đình làng, thủy tổ các dòng họ, các ngành nghề, thứ hai là truyện về các sự tích địa danh giải thích chính gốc tên sông, tên suối, tên xóm, tên cánh đồng Về địa bàn phân
bố tập trung ở ba vùng trung tâm chính là: vùng núi Yên phụ (Thất Diệu Sơn), vùng xung quanh núi Quả Cảm và vùng dọc theo sông Cầu Thể loại truyện cười
ở Yên phong có đặc điểm hình thành các “làng cười” hay làng “nói khoác” đó là làng Đông Yên (Đông Phong) và làng Yên Từ (Trung Nghĩa) Ở làng Đông Yên người ta còn mở cả “Hội thi nói khoác”
Trang 271.2 Một số vấn đề lý luận về truyền thuyết và tổng quan về truyền thuyết ở Yên Phong, Bắc Ninh
1.2.1 Khái niệm, phân loại và đặc trưng của truyền thuyết
1.2.1.1 Khái niệm truyền thuyết
Truyền thuyết là một thể loại của văn học dân gian ra đời khá sớm, chỉ sau thần thoại Thế nên thể loại này đã được các nhà nghiên cứu quan tâm từ lâu
Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia định nghĩa “Truyền thuyết là một thể
loại văn học dân gian, ra đời sau truyện thần thoại, thường có yếu tố tưởng tượng kì ảo, các nhân vật, sự kiện đều liên quan đến lịch sử, là những truyện truyền miệng kể lại truyện tích các nhân vật lịch sử hoặc giải thích nguồn gốc các phong cảnh địa phương theo quan niệm của nhân dân, biện pháp nghệ thuật phổ biến của nó là khoa trương, phóng đại, đồng thời nó cũng sử dụng yếu tố hư ảo, thần
kỳ như cổ tích và thần thoại” [63]
Trong cuốn giáo trình “Lịch sử văn học Việt Nam” (Bùi Văn Nguyên chủ
biên), Đỗ Bình Trị xếp truyền thuyết bên cạnh thần thoại, và định nghĩa: “Truyền
thuyết là những truyện có dính líu đến lịch sử mà lại có sự kỳ diệu - là lịch sử hoang đường - hoặc là những truyện tưởng tượng ít nhiều gắn với sự thực lịch sử Tính chất thể loại của truyền thuyết bắt đầu được khẳng định rõ” [57]
Cuốn sách “Truyền thống anh hùng dân tộc trong loại hình tự sự dân gian
Việt Nam” năm 1971 là công trình của nhiều tác giả, có tới ba bài viết khẳng
định truyền thuyết là một thể loại văn học dân gian Tác giả Kiều Thu Hoạch
nhận định: “Truyền thuyết là một thể tài truyện kể truyền miệng nằm trong loại
hình tự sự dân gian; nội dung cốt truyện của nó là kể lại truyện tích các nhân vật lịch sử hoặc giải thích nguồn gốc các phong vật theo quan niệm nhân dân, biện pháp nghệ thuật phổ biến của nó là khoa trương phóng đại, đồng thời nó cũng sử dụng những yếu tố hư ảo, thần kỳ như cổ tích và thần thoại…” [19]
Trong Từ điển văn học, Chu Xuân Diên chấp bút thì “truyền thuyết được khẳng
định là một trong những thể loại tự sự dân gian, có quan hệ gần gũi với các thể
Trang 28loại tự sự dân gian khác như thần thoại và truyện cổ tích” Còn trong cuốn Văn
học dân gian Việt Nam - NXB Đại học Quốc gia HN - H.1998 do Lê Chí Quế
chủ biên thì định nghĩa “Truyền thuyết là một thể loại trong loại hình tự sự dân
gian phản ánh những sự kiện, nhân vật lịch sử hay di tích cảnh vật địa phương thông qua sự hư cấu nghệ thuật thần kỳ”
1.2.1.2 Phân loại truyền thuyết
Tác giả Lê Chí Quế đã chia truyền thuyết thành bốn loại: Truyền thuyết lịch
sử; truyền thuyết anh hùng; truyền thuyết về các danh nhân văn hóa; truyền thuyết về các nhân vật tôn giáo [44] Khác quan điểm của Lê Chí Quế, Đỗ Bình
Trị đưa ra hai cách phân loại về truyền thuyết “Cách thứ nhất vừa căn cứ vào
lịch sử, vừa căn cứ vào “phạm vi những sự kiện và nhân vật lịch sử được nhân dân quan tâm”, khi đó tác giả chia làm hai bộ phận lớn: “những truyền thuyết về thời các vua Hùng; những truyền thuyết về thời sau các vua Hùng” Cách thứ
hai không căn cứ vào lịch sử mà căn cứ vào đặc trưng chung của cả thể loại và
sự khác biệt của đối tượng được kể đến, truyền thuyết được chia làm ba loại:
“Truyền thuyết địa danh; truyền thuyết phổ hệ; truyền thuyết về nhân vật và sự kiện lịch sử” [57]
Theo thư viện học liệu mở việt nam (https://voer.edu.vn/) nguồn từ đại học
sư phạm Hà Nội thì truyền thuyết có thể phân loại như sau:
+ Phân loại căn cứ vào nội dung của thời kì lịch sử được truyền thuyết phản ánh
“1 Truyền thuyết về Họ Hồng Bàng và thời kì Văn Lang - Âu Lạc
2 Truyền thuyết về thời Bắc thuộc
3 Truyền thuyết thời phong kiến tự chủ
4 Truyền thuyết thời kì cận hiện đại” [73]
+ Phân loại truyền thuyết theo tiêu chí những chủ đề nội dung phản ánh, nhân vật, kết cấu…, có cách phân loại sau:
“1 Truyền thuyết địa danh (về tên gọi của các địa danh)
2 Truyền thuyết lịch sử (về nhân vật lịch sử và sự kiện lịch sử)
Trang 293 Truyền thuyết phổ hệ (về nguồn gốc lịch sử của các dòng họ, các ngành nghề, các tôn giáo…)” [73]
Cụ thể hơn truyền thuyết còn chia thành:
“1.Truyền thuyết về sự hình thành dân tộc
2.Truyền thuyết về các vị anh hùng trong chiến đấu
3 Truyền thuyết về những vị anh hùng trong lao động và sáng tạo văn hoá 4.Truyền thuyết về địa danh và đền chùa” [73]
Tiếp thu các cách phân loại trên, dựa vào thực tế khảo sát văn bản truyền thuyết ở vùng Yên Phong, Bắc Ninh, chúng tôi phân tích nghiên cứu trên hai mảng đề tài lớn là: truyện về các vị thần thành hoàng được thờ ở các đình làng, thủy tổ các dòng họ, các ngành nghề và truyện về các sự tích địa danh giải thích chính gốc tên sông, tên suối, tên xóm, tên cánh đồng Chúng tôi cũng quan niệm rằng văn học dân gian, truyện kể dân gian và nhất là với truyền thuyết mọi sự phân loại chỉ mang tính tương đối Bởi lẽ sự phản ánh xen kẽ lồng ghép vào nhau
là hiện tượng rất phổ biến, nghĩa là trong các truyện kể về các nhân vật anh hùng văn hóa hay nhân vật lịch sử ta thấy cả nội dung giải thích địa danh và ngược lại trong truyền thuyết về địa danh ít nhiều các nhân vật lịch sử cũng được phản ánh
1.2.1.3 Những đặc trưng của truyền thuyết
Mỗi một loại hình văn học lại có những đặc trưng riêng Theo thư viện học liệu mở việt nam (https://voer.edu.vn/) nguồn từ đại học sư phạm Hà Nội thì
truyền thuyết có các đặc trưng sau đây:
Truyền thuyết phản ánh lịch sử một cách độc đáo
Truyền thuyết gắn liền với lịch sử “phản ánh những sự kiện trọng đại của dân tộc, nhiều nhân vật trong truyền thuyết cũng là nhân vật trong chính sử” [73] Tuy nhiên “Trong truyền thuyết có những sự kiện lịch sử nhưng chúng không phải những sự kiện lịch sử đích thực mà chỉ là những ánh hào quang, những tia khúc xạ của lịch sử” [73] Mặt khác “Truyền thuyết không chú ý đến việc đảm bảo tính đầy đủ và tuần tự theo thời gian của các sự kiện lịch sử” [73] và “Truyền
Trang 30thuyết cũng không đảm bảo tính chính xác tuyệt đối về mặt thời gian, không gian, diễn biến, nguyên nhân và kết quả của các sự kiện lịch sử” [73] Về nhân vật thì
“Truyền thuyết thường chú ý nhiều hơn đến những nhân vật có xuất thân nông dân hoặc gần dân Truyền thuyết dân gian thường kể về người anh hùng trong mối quan hệ với dân, trong đó nhân dân vừa là người tham gia, vừa là chỗ dựa tin cậy để người anh hùng làm nên chiến thắng” [73] Về nghệ thuật “Truyền thuyết thể hiện tất cả những điều đó nhờ yếu tố tưởng tượng, hư cấu Yếu tố tưởng tượng, hư cấu trong truyền thuyết làm cho hành trạng của mỗi nhân vật anh hùng trở nên kỳ vĩ, nhân vật được sánh ngang tầm thần thánh, tạo nên một cốt truyện truyền cảm, sinh động, vừa chân thực vừa hấp dẫn” [73]
Truyền thuyết và nghi lễ, lễ hội
Truyền thuyết và lễ hội có quan hệ qua lại, bổ sung lẫn nhau: “Truyền thuyết
là cốt lõi của lễ hội, khiến cho lễ hội có nội dung thiêng liêng, còn lễ hội làm cho việc diễn xướng truyền thuyết được sinh động, thu hút sự gắn bó và cộng cảm của tập thể”… [73] “Lễ hội là hình thức kể chuyện, là sự bảo lưu các cốt truyện, bởi đối với lễ hội, truyền thuyết đóng vai trò là xương sống, là cốt truyện dẫn dắt tiến trình lễ hội, là sự minh giải cho lễ hội: mở hội vào ngày nào, sau bao nhiêu năm mở lại một lần, tại sao kéo dài từng ấy ngày, rước từ đâu đến đâu, lễ vật dâng cúng gồm những gì, phải kiêng kị những gì…” [73]
Truyền thuyết có tính dân tộc và tính địa phương sâu sắc
Tính địa phương được thể hiện “Một nhân vật truyền thuyết nổi tiếng được rất nhiều người biết đến nhưng hành trạng, sự nghiệp của nhân vật đó bao giờ cũng gắn với những địa phương cụ thể, những nơi mà nhân vật đã đi qua Do đó, vẫn luôn tồn tại những truyền thuyết của từng địa phương mang tính địa phương
rõ nét” [73] “Hơn nữa, nhân dân lại có xu hướng, nhu cầu kéo các vị anh hùng lại gần cuộc sống của mình, gắn với địa phương mình Trong quá trình lưu truyền, truyền thuyết đi đến mỗi địa phương luôn được kết nạp những yếu tố mới sao cho phù hợp với đặc điểm, phong tục tập quán của từng địa phương Đó chính là
Trang 31hình thức địa phương hoá các truyền thuyết dân gian” [73] Tính dân tộc thể hiện
ở chỗ “Có một xu hướng ngược lại …xu hướng toàn quốc hoá các nhân vật lịch
sử ở một địa phương cụ thể nào đó Đây là cách để người dân địa phương gắn bó mình với toàn dân tộc, nó thể hiện nhu cầu muốn gắn bó làng xã với quốc gia, với triều đình” [73]
1.2.2 Tổng quan về truyền thuyết ở Yên Phong, Bắc Ninh
Yên Phong là một vùng đất cổ, con người đến tụ cư và lập nghiệp rất sớm Chính vì thế truyền cổ dân gian ở Yên Phong Bắc Ninh xuất hiện ngay từ thời các vua Hùng Trải qua mấy nghìn năm lịch sử, con người nơi đây luôn sáng tạo truyện cổ để phản ánh lịch sử và cuộc sống muôn màu muôn vẻ của quê hương mình Do đó truyện cổ nơi đây có khối lượng lớn với nhiều thể loại, đề tài, đối tượng khác nhau Trước tiên truyện về các vị thần Thành hoàng được thờ ở các
đình làng và thủy tổ các dòng họ, các ngành nghề Truyện Dương Mai công chúa
kể về người con gái xinh đẹp, tài giỏi được vua Lý Nam Đế mến yêu mời về kinh
đô cùng bàn việc chính sự Khi đất nước có giặc ngoại xâm, Hứa Trịnh Hòa được giao binh quyền, mỗi khi giáp trận nàng đều là tướng tiên phong Trong cuộc chiến chống lại quân Lương ở hồ Điển Triệt, Hứa Trịnh Hòa được vua giao cho đích thân chỉ huy cửa Lam Trung Lúc chiến đấu không may thuyền của nàng bị đắm, nàng đã anh dũng hy sinh, nhà vua vô cùng thương xót Lý nam Đế không
đủ sức khỏe, ủy thác cho tả tướng Triệu Quang Phục chống lại Trần Bá Tiên Sau khi đánh tan giặc Lương, Triệu Quang Phục sai sứ về làng Đông Mai cắm hướng làm đình và truy phong nàng là Dương Mai công chúa Cũng từ đó tên làng Đông Mai đổi thành Đông Mơi Trong tâm thức người dân Yên Phong, đặc biệt là người làng Thụ Ninh, câu chuyện về người con gái xinh đẹp tài giỏi võ nghệ cùng chồng được vua giao cho đi đánh giặc Chiêm Thành, mang lại cuộc sống
ấm êm cho muôn dân mãi còn khắc ghi và được vua cho nhân dân thờ làm Thành hoàng làng Không chỉ ngợi ca chiến công của các anh hùng hào kiệt chống xâm lăng, truyện cổ Yên Phong còn tôn sùng những người trần mắt thịt luôn làm việc
Trang 32thiện giúp đỡ dân làng Truyện Bạo ngược Đại vương là một câu chuyện điển
hình kề rằng xưa kia ở huyện Yên Mộ, có hai vợ chồng ông bà Phạm Duy Hải, Nguyễn Thị Xuyến sống bằng nghề bốc thuốc chữa bệnh Ông bà nổi tiếng là nhân từ, thường hay giúp đỡ mọi người, nhưng trời không thương, lúc bà sinh con chẳng may cả hai mẹ con đều qua đời Chán ngán trước cảnh vợ con xấu số, ông bỏ đi tới huyện An Phong, sau tới làng Đại Lâm Một đêm nằm ngủ trong đền, chợt có một người hình rong phương phi lẫm liệt đi vào tự xin là thần ngôi đền và khuyên ông hãy tiếp tục làm việc thiện sau này sẽ được đông con nhiều cái Trong một lần ra tay cứu giúp cô gái bị bệnh, để trả ơn, Tố Nương xin được nâng khăn sửa túi cho ông Đúng như lời của vị thần báo mộng, một thời gian sau Tố nương sinh tam nam, nàng lần lượt đặt tên con là: Lương Công, Minh Công, Trị Công Cả ba anh em đều cao to lực lưỡng, riêng Lương Công có sức mạnh khôn địch, nhưng tính khí ngang tàng, coi trời bằng vung Bấy giờ, thời Hùng Vương, giặc Ân sang cướp nước ta, Lương Công cùng hai em huy động dân làng luyện tập võ nghệ rồi hợp với quân Thánh Gióng đánh tan giặc Ân Dẹp xong giặc, Lương Công lại về Thọ Đức, Đại Lâm sinh sống Vốn tính ngang tàng, bướng bỉnh, vào những năm nước sông lớn làm ngập ruộng đồng gây cảnh ngập lụt, mất mùa, ông luôn mồm chửi trời đất ác nghiệt chẳng làm mưa thuận gió hòa Ngọc Hoàng sai Thiên Lôi xuống trị tội Do không đỡ được nhát búa của Thiên Lôi, Lương Công thiêm thiếp về trời Nhớ ơn ông dân làng Thiểm Xuyên, Thọ Đức lập đề thờ Từ đó người dân nơi đây quen gọi Lương Công là Bạo Ngược Đại vương Câu chuyện về một người con gái có tên Phùng Thị Từ Nhan, quê ở làng Vân Mẫu, huyện Võ Giàng, tỉnh Bắc Ninh Theo Thần phả năm canh Thìn, khi đó bà 18 tuổi nằm chiêm bao đi tắm ở sông Lục Đầu giang có ánh hào quang và thần long quấn quanh mình, tỉnh dậy nhiễm cảm từ đó mang thai đến ngày mùng 5 tháng giêng năm Nhâm Ngọ (502) bà lên chùa lễ phật về đến
xứ đồng Cửa Cữu thì sinh ra một bọc bốn trai một gái Lớn lên các con của bà là những vị anh hùng có công rất lớn trong việc đánh đuổi giặc ngoại xâm
Trang 33Bên cạnh các câu chuyện truyền thuyết ngợi ca những người anh hùng có công dựng xây xóm làng còn có truyện giải thích nguồn gốc tên gọi địa danh gắn
với một sự kiện trọng đại của quốc gia, dân tộc Câu chuyện Sự tích núi Yên Phụ
giải thích tại sao lại có tên gọi “Thất Diệu Sơn” là bắt nguồn từ một cốt truyện liên quan đến An Dương Vương xây thành Cổ Loa để đóng đô đồng thời làm căn
cứ chiến lược chặn quân giặc từ phương Bắc tràn xuống Thế nhưng thành xây ban ngày thì ban đêm bị phá Biết chuyện không may đó, Ngọc Hoàng động lòng trắc ẩn bèn sai các nàng tiên tối đến xuống gánh đất từ Sóc Sơn đến Bấy giờ ở Yên Phụ, có một con gà sống lâu đã thành tinh Do việc xây thành ảnh hưởng đến vùng sinh sống của mình nên Kê Tinh làm hại bằng cách chưa đến sáng nhưng Kê Tinh đã cất tiếng gáy, khiến các nàng tưởng là trời đã sáng đành vội vàng về trời, một nàng tiên vội quá không may bị vấp, đất từ sảo vung vãi xuống dưới làm thành những khối to như quả núi người ta gọi là núi Yên Phụ Vào thế
kỷ XI, các nhà chiêm tinh học du hành qua đấy thấy tự nhiên giữa một vùng đồng nước mênh mông lại nổi lên bảy quả núi và được nghe câu chuyện của người dân nơi đây nên tên gọi “Thất Diệu Tinh”có từ ngày ấy
Ở Bắc Ninh nói chung và Yên Phong nói riêng có rất nhiều lễ hội và đình đám Lễ hội nơi đây là một phần không thể thiếu để gìn giữ bảo tồn những giá trị văn hóa mà cha ông đã gìn giữ từ ngàn đời nay Nếu nói không quá, chắc không có một lễ hội nào ở Bắc Ninh lại vắng bóng các liền anh, liền chị tình tứ duyên dáng đắm mình trong những câu hát “Người ơi người ở đừng về” líu chân
du khách mỗi khi về trảy hội Và thủy tổ quan họ là ai vẫn còn là một câu hỏi
còn bỏ ngỏ Tuy nhiên trong cuốn Địa chí Yên Phong có truyện Sự tích thủy tổ
quan họ được nhân dân kể rằng: Vào thời vua Lê, chúa Trịnh ở làng Diềm có
một người con gái xinh đẹp, thông minh và có giọng hát rất mượt mà sâu lắng Mỗi khi nàng cất tiếng hát, chim cũng ngẩn ngơ, cá phải lờ đờ lặn để lắng nghe Trong một lần kinh lí dọc sông Nguyệt Đức, đang mải ngắm cảnh đẹp, chợt có tiếng hát cất lên:
Trang 34“Tay cầm bán nguyệt xênh xang
Bao nhiêu cây cỏ lai hàng tay ta”
vọng đến từ bãi dâu Chúa Trịnh để ý thấy cô gái đi đến đâu có đám mây vàng che chở cho đến đấy Cảm mến vì sắc đẹp và giọng hát chúa Trịnh mời nàng về kinh đô làm vợ Sống ở kinh đô chẳng bao lâu, chán cảnh đô thị phù phiếm lại chạnh nhớ thôn quê thế rồi bà xin được trở về làng Diềm Ở đây bà tụ tập các trai thanh gái lịch để dạy hát Những bài do bà nghĩ ra tuy hay nhưng rất khó hát lại thêm lối, hát đôi, hát đối nên phải tụ tập từng bọn để dạy tập trung Cũng bởi sự tích này mà tiếng “bọn”, “ngủ bọn” ra đời Để tránh điều ong tiếng
ve khi nam thanh từ chỗ “ngủ bọn” của mình sang chỗ “ngủ bọn” của nữ tú hát các anh phải chùm khăn hoặc áo lên đầu che kín mặt đứng ngoài hàng rào hát với vào Các nữ tú từ trong nhà trùm chăn, khăn ra đứng bên hè hát đối lại, bởi vậy xuất hiện tục “Hát quan họ trùm đầu” Sau khi bà mất, dân làng lập bà làm Thủy tổ Quan họ Đó chính là đền Vua Bà ở làng Diềm (ngày nay làng Diềm thuộc xã Hòa Long, thành phố Bắc Ninh)
Như vậy có thể nói số lượng truyền thuyết ở huyện Yên Phong tỉnh Bắc
Ninh khá phong phú Trong chuỗi truyền thuyết ấy, nhiều nhất vẫn là Truyền
thuyết về Vân Mẫu và Thánh Tam Giang, bởi lẽ ở Yên Phong có đến 20 làng, xã
thờ Thánh Tam Giang, bao gồm các làng sau: Đào Xá, Phương La Đoài, Trần
Xá, Yên Tân, Vọng Đông, Nghiêm Xá, Diên Lộc, Chính Trung, Xuân Phương, Như Nguyệt, Phương La Đông, Nội Trà, Đông Xuyên, Yên Phụ, Phù Cầm, Thọ Đức, Phù Lưu, Dũng Liệt, Yên Phụ Hậu, Đại Lâm Và trong quá trình đi điền dã của chúng tôi chỉ thấy duy nhất có làng Chính Trung, xã Yên Trung là mất bản thần tích do trong kháng chiến chống Pháp đình đã bị phá nên thất lạc thần tích, còn nào làng thờ Thánh Tam Giang cũng đều có bản thần tích Giữa các bản thần tích tuy có chút ít khác biệt ở một vài chi tiết nhỏ nhưng cơ bản các thần tích được kể với nội dung sau:
Trang 35Phùng Thị Từ Nhan là một người con gái xinh đẹp, quê ở làng Vân Mẫu huyện Võ Giàng tỉnh Bắc Ninh Một đêm bà nằm mơ đi tắm ở sông Lục Đầu, bị giao long quấn quanh người, về nhà cảm động rồi mang thai Mười bốn tháng sau, khi lễ chùa về đến đồng Cửa Cữu, bà trở dạ sinh ra cái bọc trứng, nở ra năm người con, bốn người con trai và một người con gái Bà lần lượt đặt tên các con là: Trương Hống, Trương Hát, Trương Lừng, Trương Lẫy và Trương Đạm Nương Thấy các con khỏe mạnh thông minh hơn người, bà cho con theo học thầy Lã tiên sinh Khi anh em họ Trương mười tám tuổi, người mẹ mất, theo lời thần mách bảo, năm anh em mai táng mẹ ở gò đất gần làng Một đêm đi viếng mộ mẹ, Trương Hống, Trương Hát, đánh thắng bọn quỷ, cảm phục trước tài năng của hai anh em chúng liền tặng mỗi người một bộ áo tàng hình
Năm 545 đời vua Đại Đồng năm thứ bảy, nhà Lương sai tướng Dương Phiêu và Trần Bá Tiên đem quân sang xâm lược Vạn Xuân Vua Lý Nam Đế cùng thái phó Triệu Túc, Văn Ban Phạm Tu Tư đem quân ra ứng đánh Quân Lương thế mạnh, ta chống cự không nổi phải rút chạy Do già yếu Lý Nam Đế giao binh quyền cho Triệu Quang Phục, rồi cùng các con và hoàng thân về động Khuất Lão (Ninh Bình ngày nay) Khi Lý Nam Đế băng hà đã truyền ngôi cho Triệu Quang Phục, Triệu Quang Phục lấy hiệu là Triệu Việt Vương Khi giặc đánh Long Biên, Triệu Quang Phục rút quân về đầm Dạ Trạch (Hưng Yên), rồi truyền hịch tìm người tài giúp nước Anh em họ Trương xin thầy được đi lập thân giúp quốc Đến vùng Tiên Tảo, thấy địa thế nơi đây có thể lập đồn hạ trại, anh em họ Trương truyền hịch chiêu mộ quân sĩ, người dân trong vùng hưởng ứng xin theo làm quân sĩ rất đông Số lượng quân sĩ đã nhiều, Trương Hống, Trương Hát sai người đưa tin về đầm Dạ Trạch báo cho Triệu Quang Phục biết Triệu Quang Phục được tin liền sai sứ đến phong cho Trương Hống làm chánh tướng, Trương Hát làm phó tướng, Lã tiên sinh làm quân sư, Trương Lừng, Trương Lẫy đều làm tỳ tướng và Đạm Nương làm hậu binh lương Đúng kì hẹn ước, hai phía cùng truyền lệnh quân cơ, khởi binh tiếp trận Quân của Triệu
Trang 36Quang Phục ở Dạ Trạch tiến lên, quân của Hống, Hát ở Tam Lư kéo xuống, thủy
bộ bốn mặt giáp công, xung đột tung hoành, đánh rất dữ dội Quân Lương không sao chống cự nổi, rã rời đại bại Chánh tướng Trần Bá Tiên tử trận, phó tướng Dương Phiêu thoát chết thu nhặt tàn quân rút về Bắc quốc, đó là vào năm canh Ngọ (550) Dẹp xong giặc rồi, khải hoàn tấu tiệp, Triệu Việt Vương kéo quân về Long Biên sang sửa đô thành Nước nhà độc lập, Triệu Quang Phục lên ngôi vua, phong thưởng cho các tướng có công đánh giặc Vua Triệu phong thực ấp cho hai anh em họ Trương ở Kinh Bắc: Trương Hống ở làng Tiên Tảo, huyện Kim Anh (nay là thôn Tiên Tảo, xã Việt Long, huyện Sóc Sơn), Trương Hát ở làng Tam Lư, huyện Đông Ngàn (nay là thôn Tam Lư, Từ Sơn, Bắc Ninh) là nơi dấy binh cũ
Lý Phật Tử (người họ Lý Nam Đế) đã nhiều lần đem quân đánh Triệu Quang Phục nhưng lần nào cũng thất bại, bèn dùng kế Mỵ Châu Trọng Thủy, cho con là Nhã Lang lấy Cảo Nương, con gái Triệu Việt Vương Biết giã tâm của Lý Phật Tử, Trương Hống và Trương Hát hết lời khuyên can nhưng Triệu Việt Vương không nghe, cuối cùng đã bị Lý Phật Tử đánh úp Lý Phật Tử lên ngôi vua, biết anh em họ Trương là những tướng tài giỏi bèn cho người vời ra làm quan Song các ông nhất lòng trung quân không theo, hai ông cho rằng: Tôi trung chẳng thờ hai vua, gái trinh chẳng lấy hai chồng Không thể khuất phục được, Lý Phật Tử lệnh truy bắt các ông khắp nơi Các ông trốn vào ở núi Phù Long; Lý Phật Tử nhiều lần cho người đến truy nã không được, mới treo ngàn vàng cầu người bắt các ông Anh em họ Trương bàn nhau cùng đem gia quyến xuôi dòng sông Cầu, đến Ngã Ba Xà thấy cảnh trí tươi đẹp liền đục thủng thuyền tuẫn tiết giữ trọn tấm lòng trung với vua Ngọc Hoàng Thượng đế phong Trương Hống, Trương Hát làm thần sông Nhân dân dọc theo sông Cầu và những nơi các ông từng đóng quân đánh giặc đã vô cùng khâm phục, thương tiếc, lập đền thờ làm Thần
Trang 37“Có 372 làng tôn thờ đức Thánh Tam Giang ở 16 huyện thị thuộc 5 tỉnh ven các triền sông Cầu từ Đu Đuổm (Thái Nguyên), qua Ngã Ba Xà (Tam Giang - Yên Phong), rồi tới Lục Đầu Giang” [63] Vì thế mà dân gian lưu truyền
phương ngôn “Thượng Đu Đuổm, hạ chí Lục Đầu giang” để nhắc đến việc tôn
thờ Thánh Tam Giang ở các làng ven sông Cầu
Năm thứ nhất vua Trần Nhân Tông sắc phong cho Trương Hống, Trương Hát là “Như Nguyệt Khước Địch Đại Vương”, năm thứ tư lại gia phong “Thiện Hựu Dũng Cảm” Về sau các triều vua Trần, Lê đem quân đánh giặc phương Bắc trên dòng sông Cầu đều được các thần âm phù Sau chiến thắng vua lại ban sắc phong Hiện sắc phong cao nhất là "Tam Giang Thượng Đẳng Thần"
Tam Giang là bậc tướng, trí dũng song toàn, "sinh vi dũng tướng, tử vi minh thần" “Trong tín ngưỡng dân gian của người Việt cổ vùng trung du thì việc thờ Thánh Tam Giang, Trương Hống, Trương Hát rất phổ biến, đặc biệt tập trung dày đặc ở các làng quan họ cổ đất Kinh Bắc” [69] Theo tác giả Thanh Huyền trên trang của Sở Văn hóa - Thể thao - Du lịch Bắc Giang thì: "Thánh Tam Giang
là nhân vật huyền thoại được xây dựng có lý lịch trần gian trong bối cảnh lịch sử
cụ thể Các bản thần tích cho thấy đức Thánh Tam Giang là các vị Thần sông được nhân Thần hoá vào thế kỷ X và được phong Thần thờ ở sông Cầu từ thế kỷ
có phải là kẻ xấu không? Rồi qua vài lời trò chuyện, biết không phải là kẻ xấu
họ lại ngại nhỡ nói không đúng ” Qua kết quả điều tra (phụ lục 4), chúng tôi nhận thấy rằng đại bộ phận những người đàn ông đều biết đình làng mình có thờ
Trang 38ai Bởi lẽ đình là nơi dành cho các cụ ông cho nên dù không biết nhiều họ cũng nắm được đôi chút về vị Thành hoàng ở làng mình Và có lẽ người biết nhiều hơn cả là những người nằm trong Ban quản lí Tuy nhiên có cụ lúc kể còn sai chi tiết như cụ Nguyễn Hữu Mi còn cho rằng Triệu Quang Phục đánh giặc Tống So với các cụ ông, cụ bà và những người đàn ông trung tuổi, hay các em nhỏ do ít
ra đình, hơn nữa lại bận làm ăn, học tập nên không để ý đã vậy ít được nghe kể nên không biết một chút gì về Thánh Tam Giang, thậm chí hỏi đình làng thờ ai cũng không biết Khi chúng tôi đặt câu hỏi “Trong ngày hội em có tham dự không? Và nếu tham dự em sẽ có những hoạt động nào?” Trước câu hỏi đó, các
em chỉ cười hiền và bảo: “Chúng em có tham dự Trong ngày hội chúng em xem bóng truyền, đấu vật chọi gà, rước kiệu ”
Khi đi điền dã chúng tôi có tâm trạng buồn vui lẫn lộn Vui vì được tiếp xúc với nhiều tài liệu quý mà theo như các cụ nó là báu vật của làng, vui vì được
mở mang tầm hiểu biết và trào dâng nỗi niềm tự hào vì quê hương mình nhiều bậc kì tài xả thân vì nước Trái ngược với những niềm vui trên là nỗi buồn vì
Truyền thuyết về Vân Mẫu và Thánh Tam Giang đang dần mất đi bởi lẽ đối tượng
biết về truyền thuyết này ngày càng ít Tôi tự hỏi lòng không biết liệu có ngày
mà không ai biết làng mình thờ ai không nhỉ? Như thế có phải tôi lo xa quá không?
Chúng tôi mong muốn thế hệ sau không quên công ơn của cha ông, thế hệ
đi trước; thiết nghĩ ở đình mỗi làng cần làm một tấm bảng giới thiệu về nguồn gốc lai lịch đình làng, đọc Lí lịch đình làng vào ngày hội, tặng, biếu, kỉ niệm Lí lịch của đình cho khách thập phương… cũng là một hình thức giúp tín ngưỡng lan tỏa ăn sâu bám rễ vào đời sống của người dân Như vậy, thế hệ sau hiểu rõ hơn về nguồn cội văn hóa làng mình Từ đó có trách nhiệm gìn giữ, bảo vệ và phát huy
1.3 Phương pháp tiếp cận văn học dưới góc nhìn văn hóa
Trang 391.3.1 Khái niệm văn hóa
Khái niệm văn hóa đã có từ lâu đời và mang nội hàm rất rộng Theo các
nhà nghiên cứu, hiện nay trên thế giới có khoảng hơn 400 định nghĩa về văn hóa Sở dĩ số lượng định nghĩa văn hóa phong phú như vậy vì một phần văn hóa là một phạm trù hết sức rộng Phần khác, mỗi nhà nghiên cứu xuất phát
từ mục đích và phương pháp của mình đều có quyền đưa ra một định nghĩa thích hợp Sau đây, tôi xin điểm qua một số định nghĩa về văn hóa tiêu biểu,
cụ thể như:
Theo Từ điển tiếng Việt, Hoàng Phê (chủ biên) định nghĩa:
“1 Văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con
người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử (Kho tàng văn hóa dân tộc Văn hóa Phương Đông Nền văn hóa cổ)
2 Những hoạt động của con người nhằm thỏa mãn nhu cầu của đời sống tinh thần (Phát triển văn hóa Công tác văn hóa)
3 Tri thức, kiến thức khoa học (Học văn hóa Trình độ văn hóa)
4 Trình độ cao trong sinh hoạt xã hội, biểu hiện của văn minh: (Sống có văn hóa Ăn nói thiếu văn hóa)
5 Nền văn hóa của một thời kì lịch sử cổ xưa, được xác định trên cơ sở một tổng thể những di vật tìm thấy được có những đặc điểm giống nhau (Văn hóa rìu hai vai Văn hóa Đông Sơn)” [43]
Trong cuốn Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb TP HCM, 1997, Trần Ngọc Thêm đã định nghĩa “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất
và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình”
[51]
Định nghĩa về văn hóa có tính chất cấu trúc luận, tác giả Phan Ngọc cho
rằng: "Văn hóa là quan hệ Nó là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng và thế
giới thực tại Quan hệ ấy biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của một tộc
Trang 40người, một cá nhân so với một tộc người khác, một cá nhân khác Nét khác biệt giữa các kiểu lựa chọn làm cho chúng khác nhau, tạo thành những nền văn hóa khác nhau là độ khúc xạ" [48]
UNESCO - Tổ chức khoa học và giáo dục Liên hợp quốc đã đưa ra 200 định
nghĩa về văn hóa và rồi đi đến một thống nhất chung như sau: “Trong ý nghĩa
rộng nhất, văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần
và vật chất, trí tuệ và xúc cảm, quyết định tính cách của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội Văn hóa bao gồm cả nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng Văn hóa đem lại cho con người khả năng soi xét về bản thân Chính văn hóa đã làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lý Chính nhờ văn hóa
mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tìm tòi không biết mệt những giá trị văn hóa mới mẻ và sáng tạo ra những công trình vượt trội lên bản thân’’[48]
Theo quan điểm chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam thì: "Văn hóa là nền
tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội; Nền văn hóa mà chúng ta xây dựng là nền văn hóa tiên tiến, đậm
đà bản sắc dân tộc; Nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam; Xây dựng và phát triển văn hóa là
sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, trong đó đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng; Văn hóa là một mặt trận; Xây dựng và phát triển văn hóa là một sự nghiệp cách mạng lâu dài, đòi hỏi phải có ý chí cách mạng và sự kiên trì, thận trọng” [48]
Tóm lại, dù có nhiều khái niệm khác nhau về văn hóa, nhưng tựu chung lại, văn hóa có những đặc điểm cơ bản sau: “Văn hóa là một hoạt động sáng tạo, mang tính lịch sử chỉ riêng con người mới có Hoạt động sáng tạo đó bao gồm mọi ứng
xử của con người với nhau và con người với tự nhiên - xã hội, thể hiện trong mọi