1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm dân cư dân tộc huyện trạm tấu tỉnh yên bái

99 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 3,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thấy được tầm quan trọng về việc bảo tồn và phát huy nền văn hóa mang bản sắc dân tộc trong Đại hội XII của Đảng, Đảng ta đã nêu lên định hướng về văn hóa với nội hàm toàn diện và sâu sắ

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Dương Quỳnh Phương

Thái nguyên, 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Sản phẩm nghiên cứu là quá trình tích lũy tri thức, nghiên cứu khoa học, không sao chép từ bất cứ nguồn tài liệu nào Những trích dẫn tài liệu có nguồn gốc cụ thể, rõ ràng từ các tài liệu, tạp chí, công trình đã nghiên cứu, đã công bố hoặc

đã được xuất bản Thành tựu, những đóng góp Luận văn xuất phát từ những cơ

sở lý luận và nghiên cứu thực tiễn trong quá trình học tập

Học viên

Lò Văn Thủy

Trang 4

đỡ và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi được học tập và nghiên cứu tại nhà trường

Đảng ủy, UBND huyện, các phòng ban chức năng huyện Trạm Tấu Phòng Giáo dục và Đào tạo, Ban giám hiệu và các bạn bè đồng nghiệp trường PTDT Nội Trú THCS và bà con các dân tộc huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái nơi tôi đến thu thập số liệu nghiên cứu để hoàn thành Luận văn Thạc sĩ của mình

Với lòng biết ơn chân thành và sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn tới:

PGS.TS Dương Quỳnh Phương - Phó chủ nhiệm khoa Địa lí - Giảng

viên trường Đại học Sư Phạm - Đại học Thái Nguyên, người đã nhiệt tình chỉ bảo, hướng dẫn từ khi hình thành ý tưởng, lựa chọn đề tài, xây dựng đề cương, nghiên cứu tài liệu liên quan và hoàn thành Luận văn này

Đồng thời tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến bạn bè, nhất là những người thân trong gia đình đã khích lệ động viên tinh thần, tạo điều kiện thuận lợi, giúp

đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, khảo cứu để tôi hoàn thành Luận văn này Xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 04/2018

Học viên

Lò Văn Thủy

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v

DANH MỤC CÁC BẢNG vi

DANH MỤC CÁC BIỂU, HÌNH VẼ vii

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 5

4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 6

5 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu 6

6 Dự kiến đóng góp của luận văn 10

7 Cấu trúc của đề tài 10

Chương 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐẶC ĐIỂM DÂN CƯ, DÂN TỘC 11

1.1 Cơ sở lí luận 11

1.1.1 Những vấn đề chung về dân cư 11

1.1.2 Những vấn đề chung về dân tộc 20

1.2 Cơ sở thực tiễn 22

1.2.1 Đặc điểm dân cư, dân tộc vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ 22

1.2.2 Khái quát về đặc điểm dân cư, dân tộc của tỉnh Yên Bái 26

Tiểu kết chương 1 28

Chương 2 : THỰC TRẠNG VỀ ĐẶC ĐIỂM DÂN CƯ, DÂN TỘC CỦA HUYỆN TRẠM TẤU TỈNH YÊN BÁI 29

2.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến đặc điểm dân cư, dân tộc huyện Trạm Tấu tỉnh Yên Bái 29

2.1.1 Vị trí địa lí và phạm vi lãnh thổ 29

2.1.2 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 31

2.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội 35

2.2 Đặc điểm dân cư của huyện Trạm Tấu tỉnh Yên Bái 38

Trang 6

2.2.1 Quy mô dân số 38

2.2.2 Gia tăng dân số 39

2.2.3 Cơ cấu dân số 41

2.2.4 Phân bố dân cư 45

2.2.5 Đô thị hóa - xây dựng nông thôn mới 47

2.3 Đặc điểm dân tộc 50

2.3.1 Thành Phần dân tộc 50

2.3.2 Bản sắc văn hóa các dân tộc huyện Trạm Tấu 53

2.4 Đánh giá chung về đặc điểm dân cư, dân tộc trong mối quan hệ với sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện Trạm Tấu 66

Chương 3 : ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP ỔN ĐỊNH DÂN SỐ, NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG DÂN CƯ VÀ GÌN GIỮ, PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC Ở HUYỆN TRẠM TẤU 69

3.1 Quan điểm, mục tiêu và định hướng 69

3.1.1 Quan điểm 69

3.1.2 Mục tiêu phát triển 70

3.1.3 Định hướng phát triển dân số đến năm 2020 71

3.2 Một số giải pháp nhằm ổn định dân số, nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư của huyện Trạm Tấu 72

3.2.1 Thực hiện tốt chính sách DS - KHHGĐ để giảm gia tăng dân số, tiến tới ổn định quy mô dân số 72

3.2.2 Đào tạo nâng cao chất lựơng nguồn nhân lực 74

3.2.3 Giáo dục dân số - sức khỏe sinh sản cho người dân 76

3.3 Một số giải pháp về gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc 76

3.3.1 Nguyên tắc của bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống 76

3.3.2 Một số giải pháp 77

Tiểu kết chương 3 82

KẾT LUẬN 83

TÀI LIỆU THAM KHẢO 84

PHỤ LỤC 88

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ

CLCS Chất lượng cuộc sống

CNH – HĐH Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa

DS Dân số

KHHGĐ Kế hoạch hóa gia đình

KT - XH Kinh tế xã hội

KHKT Khoa học kĩ thuật

PGS TS Phó giáo sư Tiến sĩ

UBND Ủy ban nhân dân

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Quy mô và tỷ lệ dân số vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ, giai

đoạn 2009 - 2016 23

Bảng 1.2 Dân số thành thị vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ và cả nước giai đoạn 2012 - 2016 24

Bảng 1.3 Quy mô dân số tỉnh Yên Bái giai đoạn 2012 - 2016 26

Bảng 2.1 Gia tăng dân số huyện Trạm Tấu giai đoạn 2012 - 2016 39

Bảng 2.2 Tỷ suất di cư trong giai đoạn 2012 - 2016 41

Bảng 2.3 Bảng cơ cấu dân số theo giới của huyện Trạm Tấu từ 2012 - 2016 42

Bảng 2.4 Bảng Cơ cấu dân số chia theo nhóm tuổi 42

Bảng 2.5: Dân số nam nữ trung bình của huyện Trạm Tấu qua các năm 43

Bảng 2.6: Phân bố dân cư các xã huyện Trạm Tấu năm 2016 45

Trang 9

DANH MỤC CÁC BIỂU, HÌNH VẼ

Hình 2.1 Bản đồ hành chính huyện Trạm Tấu 30

Hình 2.2 Biểu đồ thể hiện tình hình phát triển dân số huyện Trạm Tấu giai đoạn 2012 - 2016 39

Hình 2.3: Biểu đồ tháp dân số huyện Trạm Tấu năm 2016 43

Hình 2.4 Bản đồ phân bố dân cư 46

Hình 2.5 Cơ cấu thành phần dân tộc ở Trạm Tấu năm 2016 51

Hình 2.6 Bản đồ phân bố dân tộc huyện Trạm Tấu 52

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Việt Nam với 54 dân tộc anh em cùng chung sống, mỗi dân tộc mang bản sắc văn hóa riêng đã tạo nên bức tranh văn hóa đa màu sắc trong thể thống nhất của nền văn hóa Việt Thấy được tầm quan trọng về việc bảo tồn và phát huy nền văn hóa mang bản sắc dân tộc trong Đại hội XII của Đảng, Đảng ta đã nêu lên định hướng về văn hóa với nội hàm toàn diện và sâu sắc: “Các cấp, các ngành phải nhận thức đầy đủ, sâu sắc tầm quan trọng của văn hóa, con người; phải thực hiện có kết quả mục tiêu xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học; xây dựng văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội; xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện”

Với quy mô dân số đông, nhiều dân tộc cùng chung sống, điều này đã tạo

ra những thuận lợi đối với sự phát triển của đất nước ta như: nguồn lao động dồi dào và thị trường tiêu thụ hàng hóa rộng lớn Cộng đồng các dân tộc mang những bản sắc văn hóa hài hòa với tự nhiên, xã hội Chính sự đa dạng và phong phú của các dân tộc đã làm động lực và đòn bẩy thúc đẩy kinh tế phát triển Bên cạnh những thuận lợi trên, Việt Nam còn có những khó khăn như: quy mô dân số đông, phân bố dân cư chưa hợp lý, mức sống giữa các vùng còn chênh lệch lớn, sinh đẻ không có kế hoạch dẫn đến tỉ lệ gia tăng dân số tự nhiên cao Nhất là ở các khu vực miền núi, nơi sinh sống của nhiều dân tộc thiểu số, nhiều

hủ tục còn tồn tại, đời sống kinh tế còn nghèo nàn lạc hậu, vấn đề giải quyết việc làm, phát triển kinh tế - xã hội gặp nhiều trở ngại Tình trạng này có thể thấy rõ ở các huyện miền núi vùng cao, vùng sâu, vùng xa mà Trạm Tấu - huyện vùng cao tỉnh Yên Bái là một ví dụ điển hình

Trạm Tấu là huyện thuộc Chương trình 30a của Chính phủ Đây là địa bàn cư trú của 6 dân tộc anh em Trong đó dân tộc Mông 24.464 người chiếm 78,4% dân số; Thái 3.749 người chiếm 12,0% dân số; Kinh 2.293 người chiếm

Trang 11

7,4% dân số; Tày 381 người chiếm 1,2% dân số, Khơ mú 265 người chiếm 0,8% dân số; Mường 71 người chiếm 0,2% dân số Trong thời gian qua, huyện Trạm Tấu đã thực hiện chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình nên cùng với

xu hướng chung của cả nước, tỉ lệ sinh của huyện đã giảm xuống Tuy nhiên, trong cộng đồng các dân tộc thiểu số mức sinh vẫn còn cao so với mức sinh trung bình của cả nước, tỉ lệ sinh con thứ ba trở lên còn rất nhiều, thậm chí là 5 đến 6 con Đây là một trong những trở ngại rất lớn đối với một huyện vùng cao

có nền kinh tế thấp, nghèo của cả nước

Việc nghiên cứu đặc điểm dân cư, dân tộc để đánh giá những mặt mạnh, những mặt hạn chế, từ đó đưa ra các giải pháp phù hợp nhằm ổn định, phát triển kinh tế - xã hội đi đôi với việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc

là rất cần thiết Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài

“Đặc điểm dân cư, dân tộc huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái”

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

2.1 Trên thế giới

Trên thế giới, vấn đề dân cư và dân tộc từ lâu đã thu hút nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Cách đây 200 năm giáo sư người Anh Thomas Malthus lần đầu tiên đã đề cập đến vấn đề này một cách rõ ràng và có hệ thống trong quyển “Bàn về nguyên tắc dân số” trong lúc dân số chưa đến 1 tỷ người Ông đưa ra nhiều quan điểm về mối quan hệ giữa gia tăng và sinh tồn Điều này được thể hiện qua bài luận “Luận về nguyên tắc dân số như nó tác động đến việc cải thiện xã hội” Ông cho rằng, dân số sẽ đạt được sự cân bằng thông qua tác động hủy diệt của chiến tranh, nạn đói và bệnh tật Đối lập với tư tưởng của Malthus là quan điểm của Karl Max và Engels Hai ông có lí giải nguyên nhân mất cân bằng giữa gia tăng dân số và sinh tồn là do nền kinh tế kém phát triển và từ đó rút ra việc phát triển hệ thống sản xuất tốt hơn

Bên cạnh đó, cũng có nhiều công trình nghiên cứu về các khía cạnh của dân cư, dân tộc thế giới Ví dụ như công trình nghiên cứu của Sharma R.C,

Population, Resources, Environment anhd quality of life, Dhanpat Rai  Sons

Trang 12

Delhi 1988 Leu, V, T, Dzao people living in Ba Vi national park with forest

garden modle, http://wwwtfp.org/voices/voices5, 2002

Dân số thế giới tăng nhanh, đặc biệt là ở các nước đang phát triển Vì thế, khi dân số thế giới đạt mốc 5 tỉ người (năm 1987) Ủy ban dân số của Liên Hợp Quốc đã lấy ngày 11 tháng 7 hàng năm là ngày dân số thế giới Theo bản báo cáo năm 2006 của Ủy ban dân số Liên Hợp Quốc, dân số thế giới sẽ đạt mức 9,2 tỉ người vào năm 2050, cao hơn ước tính 9,1 tỉ của năm 2004 Xu hướng tăng dân số diễn ra rất khác nhau giữa các nước Vì vậy cho đến nay, vấn đề dân cư vẫn đang tiếp tục nhận được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học và nhiều tổ chức khác nhau trên thế giới

2.2 Ở Việt Nam

Trong thời đại ngày nay khi nền kinh tế càng phát triển, các quốc gia trên thế giới ngày càng xích lại gần nhau thì bản sắc văn hóa dân tộc ngày càng trở thành trung tâm của sự chú ý Những năm gần đây văn kiện Đại hội Đảng Việt Nam đã nhiều lần khẳng định vai trò quan trọng của văn hóa trong việc bồi dưỡng và phát triển nhân tố con người, đồng thời đặt mục tiêu xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc Để góp phần thực hiện mục tiêu đó có nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa đã được tiến hành như

“Tìm hiểu về bản sắc văn hóa Việt Nam: cái nhìn hệ thống loại hình” và “Cơ sở văn hóa Việt Nam” do GS Trần Quốc Vượng chủ biên Đây được xem như những công trình nghiên cứu rất quan trọng và mang tính định hướng cho nghiên cứu về văn hóa của mỗi dân tộc cho nên ở mỗi dân tộc khác nhau sẽ có những nét văn hóa khác nhau Chính vì thế, hiện nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa của các dân tộc khác nhau trên những địa bàn khác nhau đặc biệt khu vực miền núi phía Bắc và Tây Nguyên nơi có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống Những nhà dân tộc học hàng đầu như: Nguyễn Văn Huyên, Bế Viết Đằng, Đặng Nghiêm Vạn, Lã Văn Lô,… đã dày công nghiên cứu một cách toàn diện về nhiều dân tộc thiểu số ở nước ta

Trang 13

Những công trình nghiên cứu về vấn đề dân số và dân tộc tiêu biểu khác

như: Đào Huy Khuê, Một số vấn đề về dân cư, dân số người Lô Lô ở Việt Nam Trịnh Thị Quang, Chính sách di dân lao động và phân bố dân cư miền núi Việt

Nam Dân cư, dân số Tây Nguyên trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Lê Duy Đại, Dân cư, nguồn lao động trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng duyên Hải Nam Trung Bộ, LATS Địa lý Hoàng Văn Chức, Phân tích đặc điểm phân bố dân cư và xác định mạng lưới điểm dân cư trung tâm ở nông thôn tỉnh Thừa Thiên Huế, LATS Địa lí Phạm Viết Hồng Thân Thị Kim

Chung - Luận văn thạc sĩ: “Phân tích thực trạng mức sống dân cư tỉnh Bình

Định” Có nhiều công trình nghiên cứu mối quan hệ giữa dân số và các vấn đề

xã hội như: GS.TS Tống Văn Đường, Dân số và phát triển”, NXB Hà Nội

2004 Nguyễn Đình Cử “Dân số và phát triển” do NXB Ủy ban quốc gia dân

số xuất bản, năm 2002 Có nhiều công trình nghiên cứu về dân tộc Ví dụ như

Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn, Cơ sở văn hóa Việt Nam, Trong nhiều năm qua đã có nhiều công trình nghiên cứu về dân tộc Phan Huy Lê “Quá trình

hình thành và phát triển các dân tộc Việt Nam” (1982) Sổ tay các dân tộc Việt Nam của các tác giả (1983) Đặng Nghiêm Vạn, “Cộng đồng quốc gia các dân tộc Việt Nam” (2003) Các công trình nghiên cứu này cho thấy những nét khái

quát nhất về nguồn gốc lịch sử, quá trình tộc người, nhóm ngôn ngữ, đặc điểm kinh tế văn hóa của tộc người ở miền núi phía Bắc Việt Nam…

2.3 Ở Yên Bái

Trong nhiều năm qua cũng có một số công trình nghiên cứu về dân cư, dân tộc ở Yên Bái, có thể kể đến một số công trình nghiên cứu như:

Cuốn sách “Tỉnh Yên Bái một thế kỷ (1900 - 2000)” do Tỉnh ủy, Hội

đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tỉnh Yên Bái đã thể hiện khá rõ nét và toàn diện về con người và lịch sử Yên Bái biên soạn dưới dạng thông sử đã thể hiện khá rõ nét về lịch sử và con người Yên Bái Trong đó đã giới thiệu đặc điểm dân cư, dân tộc tỉnh Yên Bái

Trang 14

“Kiến thức bản địa của dân tộc Dao trong hoạt động sản xuất nông nghiệp của tính Yên Bái” (Luận văn thạc sĩ - Dương Thị Thanh Vân) Luận văn

tập trung vào nghiên cứu những kiến thức bản địa của dân tộc Dao trong trồng trọt, chăn nuôi, trồng, bảo vệ rừng và sử dụng các cây dược liệu quý hiếm

“Phát triển kinh tế huyện Mù Căng Chải tỉnh Yên Bái” (Luận văn thạc sĩ -

Nguyễn Thị Hoa) Nội dung chính của luận văn tập trung vào nghiên cứu tiềm năng

và thực trạng phát triển kinh tế của huyện, trong đó có phân tích đến một số nét điển hình của dân tộc Mông trong việc ứng phó với tự nhiên để phát triển kinh tế

Nhìn chung cho đến nay chưa có một nghiên cứu chuyên sâu nào về đặc điểm dân cư, dân tộc ở huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái đặc biệt dưới góc độ Địa

lí học Chính vì vậy tác giả nhận thấy hướng nghiên cứu của đề tài là mới và cần thiết

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu của đề tài là vận dụng những vấn đề lí luận; phân tích, đánh giá những vấn đề thực tiễn về đặc điểm dân cư, dân tộc ở huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm ổn định cuộc sống dân

cư, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc hướng tới mục tiêu phát triển bền vững

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tổng quan có chọn lọc cơ sở lí luận, cơ sở thực tiễn của đặc điểm dân

cư dân tộc

- Phân tích đặc điểm dân cư, dân tộc huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái

- Đánh giá những thuận lợi và khó khăn của vấn đề dân cư, dân tộc ở huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái

Trang 15

- Nghiên cứu định hướng và định hướng một số giải pháp nhằm ổn định dân số và giữ gìn bản sắc văn hóa các dân tộc huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái

4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

Về nội dung: Nghiên cứu các khía cạnh về đặc điểm dân cư và các khía

cạnh liên quan đến dân tộc (tập quán sản xuất, tập quán sinh hoạt, hình thức cư trú của các dân tộc: Mông, Thái, Kinh, Tày, Khơ Mú, Mường

Về không gian: Địa bàn toàn huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái

Về thời gian nghiên cứu: Sử dụng số liệu thống kê và số liệu điều tra

trong khoảng thời gian 5 năm, từ 2012 - 2016

5 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu

5.1 Quan điểm nghiên cứu

5.1.1 Quan điểm hệ thống

Tính hệ thống làm đề tài trở nên lô gic, thông suốt và sâu sắc trong đề tài này việc nghiên cứu đặc điểm dân cư - dân tộc của huyện Trạm Tấu liên quan đến vấn đề quan trọng nhất là những biến động dân số trong quá trình sinh, tử, chuyển cư, hôn nhân cận huyết thống và vấn nạn tảo hôn đồng thời vấn đề giữ gìn bản sắc văn hóa và cấu trúc cộng đồng của đồng bào các dân tộc huyện Trạm Tấu và chịu tác động của các nhân tố tự nhiên, KT - XH, chính sách, lịch

Trang 16

5.1.3 Quan điểm lịch sử

Mỗi một hiện tượng địa lí KT - XH đều tồn tại trong một thời gian nhất định Nói cách khác các hiện tượng này có quá trình phát sinh, phát triển và suy vong Trong quá trình nghiên cứu khi xem xét hay đánh giá cần đứng trên quan điểm lịch sử Biến động về dân cư, bản sắc văn hóa dân tộc cũng vậy đều diễn

ra trong điều kiện địa lí nhất định và trong thời gian nhất định với xu hướng từ quá khứ, hiện tại tới tương lai đều có mối quan hệ nhân quả và diễn ra trong chu trình khép kín Việc quán triệt quan điểm lịch sử yêu cầu không chỉ nghiên cứu các nhân tố trình tự liên tục về không gian mà còn vạch ra xu hướng phát triển dân cư trong lịch sử và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, cấu trúc cộng đồng dân tộc Khi nghiên cứu cần tính đến những nét tiêu biểu do đặc điểm của từng giai đoạn lịch sử gây nên

5.1.4 Quan điểm sinh thái và phát triển bền vững

Nghiên cứu vấn đề dân cư, dân tộc phải dựa trên quan điểm sinh thái và phát triển bền vững Con người được coi là chủ thể trong hoạt động sản xuất và đời sống Vì thế vấn đề dân cư và bản sắc văn hóa các dân tộc cũng có những tác động nhất định đến tự nhiên một cách trực tiếp hoặc gián tiếp và ngược lại

Đồng thời bảo vệ và tái tạo TNTN, chống gây ô nhiễm môi trường, kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của con người

5.2 Phương pháp nghiên cứu

5.2.1 Phương pháp thu thập tài liệu

Đây là phương pháp thu thập tài liệu từ các nguồn khác nhau có chọn lọc

để đảm bảo tính khách quan và chính xác của thông tin Cụ thể bằng văn bản và

dữ liệu không gian (bản đồ) từ nhiều nguồn khác nhau như báo cáo tổng kết hàng năm, các văn kiện, văn bản chính thức, niên giám thống kê và có sự thống nhất về thời gian

Trang 17

5.2.2 Phương pháp chuyên gia

Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sẽ tiến hành trao đổi thông tin, tham khảo ý kiến trong lĩnh vực địa lí: Dân cư, dân tộc học, lịch sử, văn hóa, xã hội

Sử dụng phương pháp này giúp ta đưa ra được các kết luận, các kiến nghị, các quyết định và các phương án phát triển kinh tế, ổn định dân cư ở huyện Trạm Tấu một cách đúng đắn

Trang 18

5.2.3 Phương pháp thực địa

Trong quá trình làm luận văn, tác giả trực tiếp đi thực tế quan sát, khảo sát ở một số thôn, bản, xã thuộc huyện Trạm Tấu để kiểm tra lại mức độ chính xác của các số liệu đã được thu thập, bổ sung thêm kiến thức cho vấn đề cần nghiên cứu Từ đó đối chiếu lại một số nhận định kịp thời, điều chỉnh hướng nghiên cứu khi cần thiết

5.2.4 Phương pháp bản đồ, biểu đồ và sử dụng công nghệ GIS

Biểu đồ: Là phương pháp được sử dụng để phản ánh quy mô, cơ cấu, hiện

trạng và sự biến động kinh tế theo ngành, thành phần kinh tế và theo lãnh thổ

Bản đồ: Phản ánh sự phân bố không gian, các mối liên hệ của các đối

tượng địa lý kinh tế theo lãnh thổ

Sử dụng công nghệ GIS: Để số hóa và vẽ các bản đồ, biểu đồ một cách

chính xác mang tính khoa học cao

Trong luận văn tác giả đã sử dụng phương pháp này để vẽ các biểu đồ và bản đồ của huyện Trạm Tấu Cụ thể: Bản đồ hành chính huyện Trạm Tấu; bản đồ phân bố dân cư huyện Trạm Tấu; Bản đồ phân bố các dân tộc huyện Trạm Tấu

5.2.5 Phương pháp dự báo

Sử dụng phương pháp dự báo ta căn cứ vào số liệu thu thập, xử lí số liệu trong quá khứ và hiện tại từ đó xác định được xu thế vận động của dân cư, dân tộc ở huyện Trạm Tấu trong vòng 5 năm Từ đó thấy được sự biến động và xu thế phát triển của quy mô dân số, mức sinh, tử, cơ cấu dân số, phân bố dân cư,

đô thị của cộng đồng các dân tộc ở huyện Trạm Tấu trong giai đoạn 2012 -

2016 sử dụng phương pháp dự báo quy mô dân số đến năm 2020

5.2.6 Phương pháp thống kê toán học

Từ những số liệu đã thu thập tác giả sử dụng phương pháp thống kê toán học để sử lí số liệu quy mô dân số, tỉ lệ sinh, tử, mật độ dân số từ đó thấy được vai trò của dân cư, dân tộc các huyện Trạm Tấu với các huyện lân cận trong tỉnh

Trang 19

6 Những đóng góp của luận văn

Nghiên cứu tổng quan về huyện Trạm Tấu trên các mặt: Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên,… từ đó thấy được sự ảnh hưởng của các nhân tố tự nhiên và KT - XH tới đặc điểm dân cư, dân tộc huyện Trạm Tấu

Phân tích được đặc điểm dân cư của huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái trong giai đoạn 2012 - 2016

Phân tích được đặc điểm dân tộc, đặc biệt là phân tích được những nét văn hóa truyền thống của các dân tộc huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái

Đánh giá được mặt mạnh, mặt tồn tại trong vấn đề dân cư, dân tộc huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái

Đề xuất được một số giải pháp trên các phương diện: phát triển dân cư phù hợp với phát triển kinh tế, nâng cao chất lượng cuộc sống và gìn giữ, phát huy bản sắc văn hoá các dân tộc ở vùng cao Trạm Tấu

7 Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm ba chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về đặc điểm dân cư, dân tộc

Chương 2: Thực trạng đặc điểm dân cư, dân tộc của huyện Trạm Tấu,

tỉnh Yên Bái

Chương 3: Định hướng và một số giải pháp ổn định dân số và gìn giữ,

phát huy bản sắc văn hóa dân tộc huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái

Trang 20

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐẶC ĐIỂM DÂN CƯ, DÂN TỘC 1.1 Cơ sở lí luận

1.1.1 Những vấn đề chung về dân cư

1.1.1.1 Dân số và quy mô dân số

* Dân số: “Dân số là một tập hợp người sống trên một lãnh thổ được đặc trưng bởi quy mô, cơ cấu, mối quan hệ qua lại với nhau về mặt kinh tế, bởi tính chất của sự phân công lao động và cư trú theo lãnh thổ” [4]

Dân số liên tục thay đổi và tăng không ngừng trong những năm qua Do vậy các nước trên thế giới thường dựa vào DS để đánh giá tình hình DS từ đó đưa ra các biện pháp cụ thể về DS của quốc gia mình

* Quy mô dân số: “Quy mô dân số được hiểu là số lượng người sống trên một lãnh thổ (xã, huyện, tỉnh, quốc gia, vùng…) tại một thời điểm xác định Thông tin về quy mô dân số thời điểm được sử dụng để tính tốc độ tăng hay giảm dân số theo thời gian” [34]

Dân số trung bình năm được tính theo công thức:

Trong đó: P: Dân số trung bình năm (population)

P 0 : Dân số đầu năm

P 1 : Dân số cuối năm

Trong trường hợp không đủ số liệu để tính toán, người ta cũng có thể lấy

số dân vào thời điểm giữa năm (1/7) làm dân số trung bình của năm đó

1.1.1.2 Gia tăng tự nhiên (Rate of Nataral Increase- RNI)

Dân số của một lãnh thổ tăng hay giảm trước hết là kết quả của mối tương quan giữa số sinh và số tử Sự biến động này gọi là gia tăng dân số tự nhiên Tỷ suất gia tăng dân số tự nhiên có ảnh hưởng lớn đến tình hình biến động dân số và được coi là động lực phát triển dân số

Trang 21

* Tỷ suất sinh thô: được sử dụng rất rộng rãi trong dân số học Đó là tỷ

suất giữa số trẻ em được sinh ra trong năm so với số dân trung bình ở cùng thời gian ấy với đơn vị tính (‰) [13]

Tỷ suất sinh thô được tính theo công thức:

CBR = B

P x 1000

Trong đó: CBR: Tỷ suất sinh thô

B: Số trẻ em sinh ra trong năm

P: Dân số trung bình năm

* Tỷ suất tử thô: trong dân số học có nhiều loại tỷ suất tử vong Phổ

biến nhất là tỷ suất tử vong được tính bằng tỷ số giữu số người chết trong năm

so với dân số trung bình ở thời điểm đó, đơn vị tính (‰) [13]

Tỷ suất tử thô được tính theo công thức:

CDR = D

P x 1000

Trong đó: CDR: Tỷ suất tử thô

D: Số người chết trong năm P: Dân số trung bình năm

* Tỷ suất gia tăng dân số tự nhiên được xác định bằng hiệu số giữa tỷ suất sinh thô và tỷ suất tử thô trong một thời gian xác định, trên một lãnh thổ nhất định Công thức tính (Đơn vị: %) [36]

RNI = CBR - CDR

Trong đó: RNI: Tỷ suất gia tăng tự nhiên

CBR: Tỷ suất sinh thô CDR: Tỷ suất tử thô

Tỷ suất gia tăng tự nhiên còn có thể xác định bằng hiệu số giữa sinh và

số tử trong năm so với số dân trung bình cùng thời điểm, đơn vị tính bằng phần trăm (%) công thức tính như sau:

Trang 22

Trong đó: RNI: Tỷ suất gia tăng tự nhiên

B: Số trẻ em sinh ra trong năm còn sống

D: Số người chết trong năm

P : Dân số trung bình ở cùng thời điểm

1.1.1.3 Gia tăng cơ học

Theo định nghĩa của Liên Hợp Quốc, gia tăng cơ học là sự di chuyển của dân cư từ một đơn vị lãnh thổ này đến một đơn vị lãnh thổ khác nhằm tạo nên một nơi cư trú mới trong một khoảng thời gian nhất định, có 2 bộ phận cấu thành của một quá trình di dân là xuất cư và nhập cư [38]

- Tỷ suất nhập cư (Immigration Rate - IR) là tương quan giữa người nhập

cư đến một lãnh thổ trong năm so với dân số trung bình ở cùng thời điểm, đơn

vị tính (%0) cách tính: [37]

Trong đó: IR: Tỷ suất nhập cư

I : Số người nhập cư đến vùng trong năm

P : Dân số trung bình của vùng trong năm

- Tỷ suất xuất cư (Emigration Rate - ER) là tương quan giữa số người xuất cư khỏi một vùng lãnh thổ trong năm so với dân số trung bình ở cùng thời điểm, đơn vị tính bằng (%0) cách tính [36]

Trong đó: ER: Tỷ suất xuất cư

O: Số người xuất cư khỏi vùng trong năm

P : Dân số trung bình của vùng trong năm

- Tỷ suất chuyển cư thực (Net Migration Rate - NMR) còn được tính là hiệu số giữa tỷ suất nhập cư và tỷ suất xuất cư (Đơn vị: %) [34]

Trang 23

MNR= IR - OR10

Trong đó: NMR: Tỷ suất chuyển cư thực

IR: Tỷ suất nhập cư OR: Tỷ suất xuất cư

Tỷ suất gia tăng cơ học còn được tính là tương quan giữa số người nhập

cư và số người xuất cư trong năm so với dân số trung bình ở cùng thời điểm, đơn vị tính bằng phần trăm (%) cách tính [13]

NMR= I Ox100

P

Trong đó: NMR: Tỷ suất gia tăng cơ học

I: Số người nhập cư đến vùng trong năm O: Số người xuất cư khỏi vùng trong năm

P : Dân số trung bình năm

1.1.1.4 Tốc độ gia tăng dân số

Tốc độ gia tăng dân số (r) là một số tương đối biểu thị nhịp độ tăng giảm quy mô dân số trong một khoảng thời gian xác định thường là một năm Công thức tính [4]

r =

0

0 1

p

p

p

× 100

Trong đó: r là tốc độ gia tăng dân số

P 1 là số lượng dân số ở cuối kì (cuối năm)

P 0 là số dân ở đầu kì (đầu năm) 1.1.1.5 Cơ cấu dân số

“Cơ cấu dân số là một khái niệm dùng để chỉ tập hợp những bộ phận hợp thành dân số của một lãnh thổ (nhóm nước, từng nước, từng vùng…) được phân chia dựa trên những tiêu chuẩn nhất định” [34]

* Cơ cấu dân số theo tuổi: “Đây là việc phân chia tổng dân số của một lãnh thổ thành những nhóm dân số có tuổi hoặc khoảng tuổi khác nhau tại một thời điểm nào đó” [13]

Trang 24

* Cơ cấu DS theo nhóm tuổi: Là các nhóm người được sắp xếp theo những độ tuổi nhất định, thường chia ra 5 tuổi làm một nhóm nhỏ

- Cơ cấu tuổi là khoảng cách không đều nhau thông thường người ta chia

DS thành 3 nhóm tuổi lớn:

+ Dưới độ tuổi lao động từ 0 - 14 tuổi

+ Trong độ tuổi lao động từ 15 - 59 tuổi

+ Trên độ tuổi lao động > 60 tuổi

Trong độ tuổi lao động và trên độ tuổi lao động cơ cấu tuổi này có sự thay đổi theo thời gian và khác biệt giữa các khu vực và quốc gia bởi ảnh hưởng của các gia tăng tự nhiên và gia tăng cơ học Nếu một nước mà có tỷ lệ sinh cao, diễn ra trong thời gian dài thuộc cơ cấu trẻ Ngược lại nếu tỷ lệ sinh thấp trong nhiều năm thuộc cơ cấu dân số già

* Cơ cấu dân số theo thành thị và nông thôn: “Là việc chia tổng dân số của một lãnh thổ thành dân cư sinh sống ở thành thị và dân cư sinh sống ở nông thôn thì ta được cơ cấu dân số theo thành thị và nông thôn” [6]

* Cơ cấu theo lao động: “cơ cấu dân số theo lao động có liên quan đến nguồn lao động và dân số hoạt động theo khu vực kinh tế” [34]

* Cơ cấu theo giới tính: “Toàn bộ DS nếu được phân chia thành DS nam hay DS nữ sẽ hình thành nên cơ cấu DS theo giới tính, chỉ tiêu để đo lường cơ cấu DS theo giới tính là tỷ số giới tính (sex ration) là tỷ số giữa DS nam và DS

nữ trong cùng tổng thể dân tại một thời điểm nhất định” [9]

Có rất nhiều tiêu chuẩn khác nhau để phân chia cơ cấu dân số, tùy vào mục đích nghiên cứu mà người ta phân chia dân số theo một tiêu chuẩn nhất định Việc nghiên cứu cơ cấu dân số có ý nghĩa vô cùng to lớn trong việc phân tích, đánh giá và điều chỉnh quá trình dân số theo hướng có lợi cho quá trình phát triển KT - XH lâu dài và ổn định

Trang 25

1.1.1.6 Phân bố dân cư, quần cư và đô thị hóa

* Phân bố dân cư

Phân bố dân cư là một hiện tượng xã hội có tính quy luật, do tác động tổng hợp của hàng loạt nhân tố, trong đó nguyên nhân quyết định là trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, tính chất của nền kinh tế, sau đó mới đến các nguyên nhân về điều kiện tự nhiên, lịch sử khai thác lãnh thổ, di cư

Do nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến sự phân bố dân cư không đồng đều và thay đổi theo thời gian: Các nước phát triển có nền kinh tế cao nên việc sinh con rất ít, còn những nước đang phát triển thì tỉ lệ sinh cao, như Châu Phi, Nam Á Ngoài ra do điều kiện tự nhiên không thuận lợi như: Núi cao, vùng sâu, vùng xa, hải đảo, vùng cực… Những nguyên nhân này làm cho dân cư phân bố không đồng đều trên thế giới và thay đổi theo từng năm Như vậy:

- “Phân bố dân cư là sự sắp xếp một cách tự phát hoặc tự giác trên một lãnh thổ phù hợp với điều kiện sống của họ và các yêu cầu nhất thiết của xã hội” [40]

Con người xuất hiện trên Trái Đất từ giai đoạn tân kiến tạo, đây là đỉnh cao của sự tiến hóa sinh học trong lớp vỏ địa lí Trái Đất Trên Trái Đất hiện nay, có nơi đông dân, nhưng có nơi lại ít dân Lúc đầu, chúng ta cảm thấy việc sinh sống của con người là hoàn toàn tự phát Về sau, chúng ta thấy sự phân bố dân cư là một hiện tượng xã hội mang tính quy luật Sự phân bố của con người theo lãnh thổ chủ yếu dựa vào bản năng tự nhiên Trải qua quá trình lịch sử lâu dài, con người phân bố rộng khắp trên Trái Đất như hiện nay

Trong quá trình lịch sử hình thành và phát triển của các dân tộc trên thế giới, các đợt di cư kéo dài hàng thiên niên kỉ đã làm cho bản đồ phân bố dân cư của các dân tộc vừa phân tán, vừa xen kẽ từ các vùng chân núi, thung lũng, đến núi cao Hình thức cư trú đó đã làm cho các dân tộc có sự tập trung ở một số vùng nhưng không cư trú thành những khu vực riêng biệt mà xen kẽ với các dân tộc khác trong phạm vi của một địa phương Trong mỗi vùng và mỗi địa bàn có những dân tộc là người gốc địa phương từ lâu đời và có những người

Trang 26

thuộc các dân tộc khác chuyển đến cư trú với tính xen kẽ ngày càng ảnh hưởng lẫn nhau

Chỉ tiêu đánh giá sự phân bố dân cư:

Mật độ dân số (tự nhiên hay thô) là chỉ số được sử dụng rộng nhất để đo

sự phân bố dân cư theo lãnh thổ Nó xác định mức độ trung của số dân sinh sống trên một lãnh thổ và được tính bằng tương quan giữa số dân trên một đơn

vị diện tích ứng với số dân đó Đơn vị tính là người/km2 [36]

D =

Q P

* Quần cư

Quần cư được coi là các điểm dân cư, cư trú của con người trong phạm vi lãnh thổ nhất định trong một thời điểm cụ thể nào đó Sự phân bố mạng lưới điểm dân cư phụ thuộc nhiều và các điều kiện môi trường tự nhiên, sự phân bố các nguồn TNTN (nguồn nước, đất trồng, nguồn lợi khoáng sản, rừng, thuỷ sản, và thôn, xóm, làng, bản…) có quy mô và chức năng khác nhau, đồng thời cũng có nghĩa là sự giao lưu, mở cửa với bên ngoài), các điều kiện kinh tế - xã hội, kết cấu hạ tầng, các tập quán cư trú của các dân tộc

Các điểm dân cư là nơi cộng đồng dân cư tổ chức không gian cư trú, không gian sản xuất, không gian sinh hoạt cộng đồng Các điểm dân cư được phân biệt thành các nhóm lớn như các điểm dân cư đô thị và các điểm dân cư nông thôn Các điểm dân cư đô thị thường gắn liền với các hoạt động sản xuất

Trang 27

công nghiệp, dịch vụ, dân số tập trung đông Còn các điểm dân cư nông thôn chủ yếu gắn liền với các hoạt động nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, mật

độ dân số thấp thường phân tán trong không gian Các điểm dân cư đô thị còn khác nhau do nhiều yếu tố như lịch sử phát triển và đặc điểm nền kinh tế

Thời gian gần đây Đất nước ta bước vào thời kì hội nhập quốc tế, quần

cư nước ta đã có thay đổi căn bản, nhất là ở các đô thị khi người dân có xu hướng rời bỏ làng quê lên thành phố tìm kiếm việc làm ngày càng tăng làm cho các điểm dân cư ở đô thị ngày càng mở rộng

* Đô thị hóa

Đô thị hóa là quá trình biến đổi về phân bố các lực lượng sản xuất, bố trí dân cư những vùng không phải đô thị thành đô thị Các đô thị xuất hiện ngày càng nhiều, thời gian hình thành các đô thị ngày càng ngắn lại

Quá trình đô thị hóa gắn liền với sự phát triển của xã hội, đó là yếu tố khách quan Người dân từ nông thôn tìm tới các thành phố mong muốn có một cuộc sống tốt đẹp hơn Trong khi đó ở nông thôn thiếu lao động, đặc biệt là lao động có trình độ khoa học kĩ thuật Bên cạnh đó người dân nông thôn mất đất đai sản xuất nông nghiệp ngày càng nhiều

Hiện nay ở các nước đang phát triển đô thị hóa không đi kèm quá trình công nghiệp dẫn tới nhiều hệ quả xấu tới sự phát triển DS Trong khi các nước phát triển đã làm tốt điều này

1.1.1.7 Các nhân tố ảnh hưởng đến đặc điểm dân cư, dân tộc

Điều kiện tự nhiên là nhân tố quan trọng và ảnh hưởng tới đặc điểm dân

cư, dân tộc trên Trái Đất

Khí hậu là nhân tố tự nhiên có ảnh hưởng rõ rệt tới đặc điểm dân cư, dân tộc Những nơi có khí hậu điều hòa mát mẻ là nơi thuận lợi cho con người sinh sống ngược lại những nơi khí hậu khắc nghiệt như lạnh giá, khô nóng dân cư tập trung thưa thớt Những dân tộc đa số lại là những nơi đông dân Hiện nay dân

cư trên thế giới hiện nay lại tập trung đông ở đới ôn hòa, thứ hai là đới nóng

Trang 28

Mọi hoạt động sản xuất cũng như sự phân bố dân cư đều liên quan đến nước Ở nơi đâu có nước nơi có con người sinh sống, do đó ven biển, của sông

là nơi tập trung đông dân, càng vào sâu trong nội địa, hoang mạc dân cư rất ít hoặc thưa thớt Nước là phần tất yếu của cuộc sống con người

Đất đai và địa hình cũng là nhân tố ảnh hưởng đến sự phân bố dân cư Những nơi địa hình thấp đất đai màu mỡ tập trung đông dân cư như: Đồng bằng sông Mê Công, Hoàng Hà, Trường Giang, Ấn Hằng Những nơi có địa hình cao đi lại khó khăn, đất đai khô cằn dân cư thưa thớt như Sơn nguyên Tây Tạng, dãy núi An Đet…

Có thể thấy rằng những nơi có điều kiện tự nhiên thuận lợi là nơi tập trung đông dân cư và tập trung dân tộc đa số Ngược lại những nơi có điều kiện

tự nhiên không thuận lợi lại là nơi thưa dân và là nơi tập trung của các dân tộc thiểu số

Các nhân tố KT - XH có ảnh hưởng tới đặc điểm dân cư, dân tộc trên thế giới hiện nay

Trình độ phát triển của lực lượng sản xuất có ý nghĩa rất lớn tới đặc điểm dân cư, dân tộc Những thành phố là những nơi tập trung các ngành kinh tế dân

cư đông, trong khi nhiều vùng nông thôn hiện nay dân cư giảm mật độ dân số thấp Thể hiện rõ trình độ sản xuất, phát triển ở khu đông dân cư

Tính chất của nền kinh tế có ảnh hưởng tới đặc điểm dân cư, dân tộc trên thế giới Ở những nơi phát triển ngành công nghiệp dịch vụ dân cư đông, chất lượng dân cư cao Ngược lại ở những nơi có ngành nông nghiệp dân cư hiện nay giảm dần Do đó có thể thấy rằng nền kinh tế càng phát triển càng tập trung đông dân cư và dân tộc đa số

Trong lịch sử phát triển của con người những nơi con người cư trú từ lâu đời thường là các dân tộc đa số Còn các dân tộc thiểu số thường có tính chất di

cư, chuyển đi nơi này và nơi khác trên thế giới Do vậy lịch sử khai thác lãnh thổ có ảnh tới đặc điểm dân cư, dân tộc

Trang 29

1.1.2 Những vấn đề chung về dân tộc

Thuật ngữ dân tộc có nguồn gốc từ tiếng Hi Lạp cổ "ethnos", khái niệm dân tộc thực chất phải được hiểu là tộc người (ethnic) Tộc người là nguyện của con người mà là trong kết quả của quá trình tự nhiên - lịch sử Điểm đặc trưng của các tộc người là ở chỗ nó có tính bền vững, giống như là những quy tắc, các tộc người tồn tại hàng nghìn năm [13]

1.1.2.1 Dân tộc đa số và thiểu số

Trong cộng đồng các dân tộc ở Việt Nam có 54 dân tộc anh em cùng chung sống Do vậy có thể nói nước ta là quốc gia đa dân tộc Theo điều 4 Nghị định 05/2011 của Chính phủ có quy định rõ: “Dân tộc đa số là dân tộc có số dân chiếm trên 50% tổng dân số của cả nước, theo điều tra dân số quốc gia Dân tộc thiểu số là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên

phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” Do vậy căn cứ

như trên có thể thấy nước ta có dân tộc Kinh là chiếm đa số Các dân tộc còn lại trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam là thiểu số

Các dân tộc đa số thường có số lượng đông đảo nhất trong xã hội, và là lực lượng chính trong hoạt động kinh tế của một nước Địa bàn cư trú cũng phân bố rộng hơn Các dân tộc thiểu số thường có số lượng ít, hoạt động kinh tế và cư trú thường bó hẹp hơn trong một đơn vị lãnh thổ nhất định

1.1.2.2 Bản sắc văn hóa dân tộc

Thuật ngữ “Bản sắc” chỉ tính màu sắc riêng tạo thành phẩm chất đặc biệt của một sự vật hay hiện tượng Thuật ngữ “Bản sắc” nhấn mạnh cái riêng, tài năng, các đặc trưng mà không phải nơi nào cũng có được

Khái niệm “Văn hóa” theo Từ Điển Tiếng Việt có các nghĩa:

- Toàn thể những thành tựu của loài người trong sản xuất, xã hội và tinh thần

- Sự hiểu biết về sự vật hay về cách xử thể tích lũy bằng việc học tập có hệ thống hoặc thấm nhuần đạo đức và phép tắc lịch sự được lưu truyền qua các thế hệ

“Bản sắc văn hóa” là những đặc điểm riêng biệt có giá trị cao, gồm những giá trị

Trang 30

vật chất và tinh thần được tích lũy và phát triển trong tiến trình đi lên của một dân tộc, nó quy định vị trí riêng biệt về mặt xã hội của một dân tộc [27]

Việc nghiên cứu bản sắc văn hóa dân tộc nhằm mục đích tìm đến cái nét riêng biểu hiện ở các mặt: nhận thức, thái độ, hành vi của nhân cách Đồng thời bản sắc văn hóa dân tộc còn được xem xét từ các góc độ: cái đúng, cái hay, cái tốt (chân, thiện, mỹ) có ở mỗi dân tộc xong nó được thể hiện ở dân tộc nào đậm nét, sâu sắc sẽ trở thành cái riêng của dân tộc ấy Ở góc độ giá trị tinh thần, xã hội bản sắc văn hóa dân tộc thể hiện ở lối sống cách ứng xử nếp sinh hoạt ngôn ngữ, giao tiếp một cách đặc biệt, khó có thể trộn lẫn với dân tộc khác; xét trên

cơ sở xã hội, đó là các giá trị được biểu lộ vững bền mà không phụ thuộc vào biến đổi lịch sử PGS.TS Phạm Hồng Quang khi nghiên cứu về vấn đề này đã đưa ra cách hiểu về bản sắc văn hóa dân tộc như sau “Bản sắc văn hóa dân tộc

là hệ thống giá trị bền vững mang tính truyền thống và hiện đại, gồm các giá trị tinh hoa của dân tộc, được vun đắp qua hàng nghìn năm đấu tranh dựng nước

và giữ nước Là quá trình tiếp nhận, bổ sung hoàn thiện những giá trị mới đồng thời gạt bỏ những giá trị lạc hậu, lỗi thời, để giá trị bền vững luôn sống động với thực tiễn xã hội” [27]

Bản sắc văn hóa là một phần của nhận thức liên quan nhiều đến văn hóa nhận thức của con người Trong các nhóm cộng đồng dân tộc nào đó tạo ra những nét riêng biệt và được lưu giữ lại qua nhiều thế hệ với nhau

1.1.2.3 Văn hóa truyền thống dân tộc

Theo giáo sư Trần Văn Giầu: “Giá trị truyền thống được hiểu là những cái tốt, bởi vì những cái tốt mới được gọi là giá trị Thậm chí không phải bất cứ cái gì tốt đều được gọi là giá trị, mà phải lài cái tốt cơ bản, phổ biến, có nhiều tác dụng tích cực cho đạo đức, cho sự hướng dẫn nhận định, đánh giá và dẫn dắt hành động của một dân tộc thì mới mang đầy đủ ý nghĩa của khái niệm “giá trị truyền thống” GS.TSKH Trần Ngọc Thêm cho rằng: “Truyền thống văn hóa là những giá trị tương đối ổn định (những kinh nghiệm tập thể) thể hiện dưới những khuân mẫu xã hội được tích lũy và tái tạo trong cộng đồng người

Trang 31

qua không gian và được cố định hóa dưới dạng những phong tục tập quán, nghi

lễ, luật pháp, dư luận…” Cũng như văn hóa nói chung văn hóa truyền thống mang tính giá trị Văn hóa truyền thống là một bộ phận thiết yếu của cuộc sống

và góp phần phát triển cuộc sống Văn hóa truyền thống mang tính giá trị bởi vì

nó là chuẩn mực, là thước đo hành vi đạo đức, cho những quan hệ ứng xử giữa người và người trong một cộng đồng, một giai cấp, một quốc gia, một dân tộc nhất định Giá trị văn hóa truyền thống của một dân tộc là những nguyên lí đạo đức lớn mà con người trong một nước thuộc các thời đại, các giai đoạn lịch sử đều dựa vào để phân biệt phải, trái, đúng, sai để định hướng hoạt động vì mục đích xây dựng vì cuộc sống tự do và tiến bộ của dân tộc đó Văn hóa ra đời trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc Những giá trị của nó được chuyển giao tiếp nối, qua nhiều thế hệ và giá trị văn hóa truyền thống đó được giữ gìn phát huy lên một tầm cao mới Qua hàng nghìn năm lịch sử, các giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam như chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa nhân văn, ý thức cộng đồng được lưu truyền phát triển thành một hệ giá trị mới của dân tộc Việt Nam Những giá trị của văn hóa truyền thống được gạn lọc, khẳng định qua nhiều thế hệ, nó trở thành cái chân, cái thiện, cái mĩ được lịch sử thừa nhận Nó

là một trong những hệ giá trị văn hóa của một dân tộc, một thành tố ổn định của

ý thức xã hội Văn hóa truyền thống trở thành những khuân mẫu được cố định hóa dưới dạng nghệ thuật, phong tục tập quán, nghi lễ, dư luận xã hội, pháp luật

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Đặc điểm dân cư, dân tộc vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ

1.2.1.1 Đặc điểm dân cư

Quy mô DS vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ xếp vào loại trung bình của cả nước Theo kết quả Tổng điều tra DS và nhà ở năm 2009, số dân của vùng Đông Bắc là 11.064.449 người, chiếm 12,9% DS cả nước Với quy mô như vậy, vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ có số dân đứng thứ 5/7 vùng kinh tế trong cả nước, nhiều hơn cả vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên Phân bố quy mô DS giữa các tỉnh không đồng đều những tỉnh có DS trên 1

Trang 32

triệu người như: Bắc Giang, Thái Nguyên, Phú Thọ Tỉnh Bắc Kạn có DS thấp nhất (295.3 nghìn người)

Bảng 1.1 Quy mô và tỷ lệ dân số vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ, giai

Nguồn: Niên giám thống kê

Gia tăng DS: trong thời gian qua, tỷ lệ gia tăng DS tự nhiên vùng đã giảm nhiều, từ 1,32% (2009) xuống còn 1,24% (2016), song so với cả nước vẫn

ở mức cao Sự gia tăng DS của vùng còn liên quan đến gia tăng cơ học Những tỉnh có dân nhập cư lớn của vùng là: Lạng Sơn, Quảng Ninh, Thái Nguyên do đây là các tỉnh có sức hút lớn của phát triển công nghiệp, dịch vụ, du lịch, kinh tế của khẩu Những tỉnh có dân chuyển cư lớn là: Hà Giang, Cao Bằng, Lào Cai, Điện Biên do nhu cầu học tập, tìm kiếm việc làm mong muốn có cuộc sống tốt đẹp hơn

Về Cơ cấu dân số:

+ Theo độ tuổi: Vùng Đông Bắc cơ cấu DS trẻ Năm 2009, tỷ lệ DS theo nhóm tuổi của vùng là: dưới độ tuổi lao động 26,2%; trong tuổi lao động 66,1%; trên tuổi lao động là 7,7% Nguyên nhân do tỷ lệ sinh trong vùng còn khá cao và do dân nhập cư đến chủ yếu trong tuổi lao động Cơ cấu dân số trẻ tạo ra nguồn lao động rất lớn song cũng gây sức ép cho phát triển kinh tế, giải quyết các vấn đề việc làm của vùng

+ Theo giới tính: cơ cấu giới tính tương đối cân bằng, năm 2009, tỷ lệ nam và nữ trong tổng DS tương ứng là 50,0% và 50,0% Trong vùng, các tỉnh xuất cư sẽ có tỷ lệ nữ giới cao, còn các tỉnh nhập cư sẽ có tỷ lệ nam cao Do vậy vấn đề giải quyết lao động giữa nam và nữ có sự khác nhau

Trang 33

- Phân bố dân cư: Dân cư phân bố không đồng đều giữa các tỉnh Các tỉnh có mật độ DS cao là Bắc Giang (408 người/km2), Thái Nguyên (320 người/km2), Phú Thọ (372 người/km2), các tỉnh thưa dân là Bắc Kạn (61 người/km2), Điện Biên (55 người/km2), Lai Châu (45 người/km2) Nguyên nhân phân bố không đều là do sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế xã hội, đặc điểm tự nhiên của mỗi tỉnh

Bảng 1.2 Dân số thành thị vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ và cả nước

giai đoạn 2012 - 2016

Năm 2012 2013 2014 2015 2016 Trung du

và miền

núi Bắc Bộ

Nghìn người 1.905,0 1.958,6 2.159,5 2.372,7 2.809,6

Tỉ lệ (%) 6,73 6,79 7,18 7,63 8,78

Cả nước

Nghìn người 28.269,2 28.874,9 30.035,4 31.067,5 31.986,0

Tỉ lệ (%) 31,8 32,17 33,1 33,9 34,5

Nguồn: Xử lý từ NGTK năm 2012 và 2016 NXB Thống kê

Đa số DS trong vùng sống ở nông thôn Tỷ lệ dân thành thị thấp, phản ánh rõ nét tính chất của nền kinh tế các tỉnh vùng Trung du và miền núi Bắc

Bộ, nhiều tỉnh còn nghèo, kinh tế chủ yếu dựa vào nông - lâm nghiệp là chính Trong những năm gần đây tỷ lệ dân có tăng lên cùng với quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa song vẫn còn chậm, dao động trong khoảng 19 - 20%, thấp hơn mức bình quân của cả nước (trừ tỉnh Quảng Ninh >50%)

1.2.1.2 Đặc điểm dân tộc

Trung du – miền núi Bắc Bộ được cả nước biết đến như một vùng địa lí dân tộc học độc đáo với nhiều dân tộc thuộc các nhóm ngôn ngữ khác nhau Hán – Hoa, Tạng – Miến, Môn – Khơme, Tày – Thái, Ka Đai

Đây là vùng có số lượng các dân tộc nhiều nhất nước ta, với khoảng trên

40 dân tộc trong tổng số 54 dân tộc anh em của cả nước Số dân trong vùng vào năm 2009 thì người Kinh chiếm đa số (56,9%) các dân tộc khác như Tày (15,2%), Thái (8,1%), Nùng (7,6%), Mông (6,5%)…

Trang 34

Sự đa dạng của các dân tộc đồng nghĩa với sự đa dạng về ngôn ngữ, văn hóa, trang phục, lối sống, ngành nghề thủ công… Các dân tộc có tiếng nói riêng thậm chí cả chữ viết riêng Nhiều loại hình văn hóa tạo nên bức tranh đa dạng

về con người ở Trung du và miền núi Bắc bộ

Trong khoảng 30 dân tộc thiểu số cư trú xen kẽ từ lâu đời nơi đây, một

số dân tộc có số dân đông ở tiểu vùng Đông Bắc là Tày, Nùng Ở Tây Bắc là Thái, Mường Các dân tộc Mông, Dao cư trú trên rẻo cao ở cả Đông Bắc và Tây Bắc, nhưng tập trung khá đông ở các vùng cao biên giới Việt – Trung, nhất

là ở các tỉnh Hà Giang, Cao Bằng, Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên Các dân tộc ít người tuy có số dân và trình độ phát triển khác nhau, nhưng nhìn chung mỗi dân tộc đều có kinh nghiệm trong một số lĩnh vực như trồng cây công nghiệp (bông, chè), cây ăn quả, chăn nuôi, làm nghề thủ công Các hoạt động công nghiệp, dịch vụ, văn hóa, khoa học kĩ thuật đều có sự tham gia của các dân tộc

ít người

Văn hóa của cộng đồng các dân tộc miền núi phía bắc được chia thành 3 vùng Vùng văn hóa Tây Bắc là một miền núi cao hiểm trở chia cắt sâu sắc bởi dãy Hoàng Liên Sơn với đỉnh cao nhất là Phanxipang Là địa bàn cư trú của các dân tộc Thái, Mông, Dao, Mường, Khơ Mú Người Thái với trình độ cao hơn, đã

đi đến vùng đất này tạo nên sắc thái vùng văn hóa Tây Bắc thông qua văn hóa Thái là chủ thể Các dân tộc trong vùng đều có tín ngưỡng, mọi vật đều có linh hồn Xòe là đặc sản nghệ thuật múa và trở thành biểu tượng văn hóa Tây Bắc Nét chung trong văn hóa Tây Bắc là sở thích trang trí trang phục, đồ dùng với các màu như đỏ, vàng, xanh da trời Vùng văn hóa Việt Bắc cư dân chủ yếu là người Tày, người Nùng, Ngái, ngoài ra còn một số dân tộc như Mông, Dao, Lô

lô, Sán Chay Việt Bắc là một vùng văn hóa có nhiều đặc thù Tộc người chủ thể Tày – Nùng với lịch sử và văn hóa của họ tạo nên nét đặc thù góp phần thống nhất trong đa dạng văn hóa vùng và cả nước Hát lượn của người Tày Múa khèn của người Mông Lễ hội Lồng Tồng…Vùng văn hóa châu thổ Bắc Bộ bao gồm lưu vực sông Hồng, sông Thái Bình, sông Mã có nhiều nét độc đáo và đặc sắc Bắc Bộ là cái nôi hình thành dân tộc Việt nơi sinh ra nền văn hóa lớn

Trang 35

1.2.2 Khái quát về đặc điểm dân cư, dân tộc của tỉnh Yên Bái

1.2.2.1 Đặc điểm dân cư

Theo kết quả số liệu thống kê của Tổng cục thống kê 2014, dân số của tỉnh Yên Bái 783,5 nghìn người, xếp thứ 50/63 tỉnh, thành phố cả nước, đứng thứ 7/15 tỉnh vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ, sau Bắc Giang, Phú Thọ, Quảng Ninh, Thái nguyên, Sơn La, Hà Giang, Hòa Bình Kết quả điều tra cho thấy, sau 5 năm DS của tỉnh tăng thêm 42,6 nghìn người, bình quân mỗi năm tăng thêm 8520 người Dẫu vậy, tình hình phát triển DS của tỉnh Yên Bái có sự khác biệt giữa các huyện thị và thành phố Thể hiện rõ qua bảng 1.3

Huyện Văn Chấn luôn có quy mô DS lớn nhất, tiếp đến là huyện Văn Yên, thị xã Nghĩa Lộ có quy mô DS nhỏ nhất Thành Phố Yên Bái do quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa diễn ra nên tốc độ tăng DS cao Sau 4 năm DS thành phố Yên bái tăng thêm hơn 5000 người, mỗi năm tăng 1,3%; (chủ yếu do gia tăng cơ học) Trong khi đó, các huyện như Mù Cang Chải, Trạm Tấu lại có quy mô DS thấp hơn so với 4 năm trước khoảng trên dưới 2000 người, nguyên nhân chủ yếu do nhu cầu học tập và làm việc nên tỷ lệ xuất cư cao hơn mức gia tăng tự nhiên

Bảng 1.3 Quy mô dân số tỉnh Yên Bái giai đoạn 2012 - 2016

Năm 2012 2016

Chênh lệch (người)

Mức tăng DS trung bình năm giai đoạn

2012 - 2016 Toàn tỉnh 765.688 799.824 34.136 0,5

Trang 36

- Gia tăng tự nhiên: Gia tăng tự nhiên của DS tỉnh Yên Bái không lớn và

có xu hướng giảm chậm trong vòng 4 năm qua Năm 2015 gia tăng tự nhiên là 1,3% còn năm 2009 là 1,45%

- Phân bố dân cư: Mật độ DS trên địa bàn tỉnh năm 2009 là 112 người/km2, thấp hơn nhiều so với bình quân chung cả nước là 260 người/km2, thấp hơn so với bình quân vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ là 121 người/km2 Trong số 15 tỉnh trong vùng, mật độ DS của Yên Bái đứng thứ 7, sau Bắc Giang (406 người/km2) và Phú Thọ (372 người/km2), Thái Nguyên (327 người/km2), Quảng Ninh (194 người/km2), Hòa Bình (175 người/km2), Tuyên Quang (127 người/km2)

1.2.2.2 Đặc điểm dân tộc

Là một tỉnh Trung du và miền núi Bắc Bộ, Yên Bái có 12 dân tộc sinh sống chính đó là: Kinh, Tày, Dao, Mông, Thái, Mường, Nùng, Sán Chay, Khơ

Mú, Hoa, Phù Lá và một số dân tộc thiểu số khác

Mỗi dân tộc có phong tục, tập quán, hoạt động sản xuất, sinh hoạt cũng như đặc sắc trong văn hóa tạo nên sự đa dạng của người dân Yên Bái Người Kinh chiếm tỷ lệ cao nhất trong cơ cấu dân tộc của tỉnh, chiếm 46,3% DS năm

2012, cư trú trên khắp các huyện thị của tỉnh nhưng chủ yếu tập trung ở những nơi phát triển như thành phố Yên Bái, thị xã Nghĩa Lộ, và các huyện Yên Bình, Trấn Yên, Văn Chấn Trước đây người Kinh cư trú ở các vùng đất thấp, trung

du quen với công việc canh tác lúa nước, hoạt động nông nghiệp kết hợp chặt chẽ với hoạt động thủ công truyền thống, nuôi trồng thủy sản Họ không chỉ giàu kinh nghiệm trong sản xuất mà còn có khả năng tiếp thu nhanh các tiến bộ

KH - KT Vốn văn hóa truyền thống của người kinh phong phú và đặc sắc luôn được bảo tồn, duy trì và phát huy Hiện nay, người Kinh đóng vai trò quan trọng, chủ yếu trong sự phát triển mọi mặt kinh tế - xã hội của tỉnh

Người Tày, xếp thứ 2 sau người Kinh, chiếm 18,3% DS, thường sinh sống ở các huyện vùng thấp, đông nhất là ở huyện Văn Chấn và Lục Yên, người Tày sống ven các thung lũng trên đồi thấp, họ có nền nông nghiệp phát

Trang 37

triển, ngoài trồng lúa, người dân còn trồng ngô và khoai các cây ăn quả Người Tày cũng có những đóng góp quan trọng cho phát triển KT - XH của tỉnh

Người Dao chiếm 11,3 % DS, sinh sống chủ yếu ở huyện Văn Yên các huyện khác rất ít Người Mông chiếm 11,1 % DS, sinh sống chủ yếu ở huyện

Mù Cang Chải và Trạm Tấu, Người Thái chiếm 7,2 % DS, sinh sống chủ yếu ở thị xã Nghĩa Lộ và huyện Văn Chấn

Ngoài ra, còn các dân tộc khác như Mường, Nùng, Sán Chay, Khơ Mú, Hoa, Phù Lá… sống rải rác ở Lục Yên, Văn Chấn, Trấn Yến, Yên Bình, Văn Yên

Trong cộng đồng các dân tộc ở tỉnh Yên Bái có dân tộc vốn là dân bản địa sinh sống từ lâu đời, có dân tộc mới đến đây nhập cư hơn 100 năm Song tất

cả đều sinh sống hòa hợp xen kẽ trên một lãnh thổ Tuy nhiên, sự đa dạng về dân tộc cũng tạo ra sự phân hóa về phát triển DS và nguồn lao động Các dân tộc ít người cư trú ở địa bàn vùng núi, vùng sâu vùng xa, điều kiện kinh tế khó khăn, trình độ dân trí thấp và chăm sóc sức khỏe chưa bảo đảm sẽ làm ảnh hưởng đến sự phát triển về DS cả về số lượng và chất lượng Dân tộc Kinh, là dân tộc chiếm chủ yếu các vùng đồng bằng và vùng thấp, với các điều kiện thuận lợi, đầu tư về giáo dục, y tế và có mức sống cao hơn

Trang 38

Chương 2 THỰC TRẠNG VỀ ĐẶC ĐIỂM DÂN CƯ, DÂN TỘC

CỦA HUYỆN TRẠM TẤU TỈNH YÊN BÁI 2.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến đặc điểm dân cư, dân tộc huyện Trạm Tấu tỉnh Yên Bái

2.1.1 Vị trí địa lí và phạm vi lãnh thổ

Trạm Tấu là huyện vùng cao nằm ở Tây Nam của tỉnh Yên Bái Trạm Tấu có tọa độ địa lý 21°21’ đến 21°40’ vĩ độ Bắc và 104°18’ - 104°40’ kinh độ Đông Có ranh giới giáp với các huyện: Phía Bắc Trạm Tấu giáp huyện Văn Chấn và thị xã Nghĩa Lộ, phía Tây giáp huyện Mù Cang Chải và huyện Mường

La (Sơn La), phía Đông và Đông Nam giáp hai huyện Văn Chấn và Phù Yên (Sơn La), phía Nam giáp huyện Bắc Yên (Sơn La) Trạm Tấu cách trung tâm thành phố Yên Bái khoảng 114km về phía Tây Nam Với vị trí giáp thị xã Nghĩa Lộ và huyện văn Chấn đã tạo điều kiện thuận lợi cho huyện tham gia phát triển kinh tế với các huyện thị bạn Diện tích tự nhiên của huyện Trạm Tấu 743,24 km2 Hiện nay, huyện Trạm Tấu có 12 đơn vị hành chính cấp xã (gồm 1 thị trấn và 11 xã): Thị Trấn Trạm Tấu, xã Bản Mù, xã Bản Công, xã Tà Xi Láng, xã Phình Hồ, xã Làng Nhì, xã Trạm Tấu, xã Túc Đán, xã Pá Lau, xã Pá

Hu, xã Xà Hồ, xã Hát Lừu

Trang 39

Hình 2.1 Bản đồ hành chính huyện Trạm Tấu tỉnh Yên Bái

Trang 40

2.1.2 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên

Toàn huyện có độ cao trung bình so với mặt nước biển từ 600 - 1200m, đất sản xuất nông nghiệp phân bố ở độ cao 600 - 800m Nhìn chung những vùng đất đồng bằng thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ lệ nhỏ, tập trung chủ yếu theo các khe suối, dọc các triền và thung lũng của dòng suối Nậm Hát Căn cứ vào điều kiện tự nhiên, các xã được chia thành 3 tiểu khu như sau:

Các xã khu I: Bao gồm các xã, thị trấn: Thị trấn Trạm Tấu, các xã Bản

Mù, Bản Công, Hát Lừu và Xà Hồ Đây là vùng trung tâm của huyện, có địa hình tương đối dốc, tạo nên bởi các thung lũng hẹp chạy dọc theo tỉnh lộ 174 đi sang tỉnh Sơn La, xung quanh là các dãy núi cao có độ dốc lớn Vùng này, thuận lợi cho phát triển lâm nghiệp, chăn nuôi đại gia súc và phát triển du lịch

Các xã khu II: Bao gồm xã Trạm Tấu, Pá Lau, Pá Hu và Túc Đán Địa hình bị chia cắt, độ dốc lớn Giao thông đi lại khó khăn nhất vào thời kì mùa mưa bão Tuy nhiên các xã này vẫn có nhiều điều kiện để phát triển kinh tế như nông, lâm nghiệp, thủy điện

Các xã khu III: Gồm 3 xã: Tà Xi Láng, Phình Hồ và Làng Nhì, địa hình dốc, nhiều đèo cao, vực sâu Khí hậu rất lạnh vào mùa đông Tuy vậy, vùng này thuận lợi hơn cho việc phát triển chăn nuôi đại gia súc, lâm nghiệp, cây công

Ngày đăng: 14/06/2021, 11:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w