Đối với bên tiếp nhận đầu tư, nhất là các nước đang phát triển, tham gia vào quá trình chuyển giao công nghệ còn là cơ hội đổi mới kỹ thuật, tiếp cận với công nghệ mới từ các nước công n
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Khi nói đến đầu tư quốc tế, người ta luôn nói đến công nghệ và chuyển giao công nghệ Vì khi nhà đầu tư đến một nơi nào đó để đầu tư, ngoài việc chuyển vốn đến địa điểm đầu tư, nhà đầu tư còn mang theo công nghệ để áp dụng vào công việc sản xuất kinh doanh của mình nhằm rút nhắn thời gian khởi động và duy trì nguồn cung cấp cho bạn hàng truyền thống Đối với bên tiếp nhận đầu tư, nhất là các nước đang phát triển, tham gia vào quá trình chuyển giao công nghệ còn là cơ hội đổi mới kỹ thuật, tiếp cận với công nghệ mới từ các nước công nghiệp phát triển Chuyển giao công nghệ là một trong những đặc điểm nổi bật của sự phát triển kinh tế thế giới trong những thập kỷ gần đây Kinh nghiệm phát triển kinh tế của các nước thành công nhất cho thấy, việc tiếp nhận một cách có hiệu quả công nghệ nước ngoài là một trong những yếu tố quan trọng đảm bảo phát triển kinh tế, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước thu hẹp khoảng cách với các nước phát triển đi trước.
Do yêu cầu giải phóng, bảo vệ và xây dựng đất nước, ôtô đã được sử dụng ở Việt Nam khá sớm và có nhu cầu ngày càng mạnh Những năm gần đây, Việt Nam đã tự sản xuất và cung cấp được khá nhiều loại xe sử dụng trong nước, giảm số lượng xe nhập khẩu, tiết kiệm cho Nhà nước một lượng ngoại tệ đáng kể Tuy nhiên, mục tiêu chính mà Việt Nam đặt ra không phải chỉ cung cấp một lượng xe cho thị trường hay tiết kiệm ngoại tệ cho đất nước mà là xây dựng một ngành công nghiệp ôtô độc lập Muốn thực hiện được mục tiêu này, Việt Nam cần mở cửa thị trường ôtô nội địa cho các nhà đầu tư nhằm vào các mục đích sau:
- Thu hút vốn.
- Nhận chuyển giao công nghệ
- Tiếp thu phương thức sản xuất mới
- Tạo việc làm.
Ở giai đoạn hiện nay, cả 4 mục tiêu trên đều rất quan trọng với Việt Nam, nhưng nếu xét về lâu về dài và tính toán cả lợi ích của ngành công nghiệp ôtô thì mục tiêu công nghệ có ý nghĩa hàng đầu.
Với mục đích nghiên cứu tình hình và tìm giải pháp cho hoạt động chuyên giao công nghệ trong ngành công nghiệp ôtô Việt Nam, em xin chọn đề tài: "Tình hình chuyển giao công nghệ trong ngành công nghiệp ôtô Việt Nam ".
Do năng lực của bản thân và điều kiện tìm hiểu còn nhiều hạn chế nên bài tiểu luận của em không tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong có được sự góp ý của thầy
cô giáo Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 2Tổ chức(O)
Thông tin( I )
Công nghệ( T )
Con người( H )
Hình 1: Sơ đồ mối quan hệ các thành phần của công nghệ
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1 Những vấn đề chung về công nghệ:
1.1Khái niệm :
Theo luật chuyển giao công nghệ 2006: Công nghệ là tập hợp các phươngpháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ phương tiện dùng để biến đổi cácnguồn lực thành sản phẩm
Theo tổ chức ESCAP ( Ủy ban kinh tế xã hội Châu Á- Thái Bình Dương):Công nghệ là kiến thức có hệ thống về quy trình và kỹ thuật dùng để chế biến sảnphẩm hoặc thông tin Nó bao gồm: kiến thức, khả năng, thiết bị, sáng chế, côngthức chế tạo, phương pháp và các hệ thống dùng trong việc tạo ra sản phẩm hànghóa dịch vụ
Có ý kiến cho rằng: Công nghệ là một hệ thống thông tin trọn gói và các bíquyết cần thiết để sản xuất một sản phẩm hoặc thực hiên một nhiệm vụ nào đó
Tóm lại, có thể đưa ra khái niệm chung về công nghệ như sau: Công nghệ
là tập hợp các công cụ, phương tiện hoặc hệ thống các kiến thức nhằm biến cácnguồn lực tự nhiên thành sản phẩm hàng hóa
1.2Các yếu tố cấu thành công nghệ:
Bất cứ một công nghệ nào từ đơn giản tới phức tạp đều bao gồm bốn thànhphần trang thiết bị (T), con người (H), thông tin (I), tổ chức (O) Có mối liên hệchặt chẽ tác động qua lại với nhau Điều đó được thể hiện qua sơ đồ sau
Trang 3
Phần cứng: là máy móc thiết bị, công cụ, nhà xưởng, phương tiện vậnchuyển…, những yếu tố này cho biết khả năng tái sản xuất mở rộng của doanhnghiệp, của quốc gia.
Phần mềm bao gồm:
- Con người: là tính sáng tạo, sự khôn ngoan, khả năng tạo ra công nghệmới, kỹ năng, kỹ thuật điều khiển, vận hành thiết bị, khả năng lãnh đạo,…Đây làyếu tố trung tâm của công nghệ, vì thực tế cho thấy nhiều quốc gia tuy không cótài nguyên hoặc ít tài nguyên (điển hình là Nhật Bản), nhưng có nguồn lực conngười sáng tạo ra công nghệ, biết ứng dụng công nghệ, nên tiềm lực kinh tế vẫnmạnh hơn một số nước có nguồn tài nguyên giàu có
- Thông tin: là bản vẽ, thuyết minh, thiết kế; công thức mô tả kỹ thuật,sáng chế…, cho biết khả năng tiết kiệm thời gian và chi phí sử dụng công nghệ
- Tổ chức: Bao gồm những liên hệ, bố trí sắp xếp, đào tạo đội ngũ cán bộcho các hoạt động như phân chia nguồn lực, tao mạng lưới, lập kế hoạch, kiểm trađiều hành
1.3Phân loại công nghệ:
Hiện nay số lượng loại công nghệ nhiều tới mức không thể xác định chínhxác, do đó việc phân loại chính xác, chi tiết là điều rất khó khăn Tuỳ theo mụcđích, có thể phân loại công nghệ như sau:
Theo tính chất: Công nghệ sản xuất, công nghệ thông tin, công nghệ đàotạo- giáo dục
Theo nghành nghề: Có các loại công nghệ công nghiệp: nông nghệ, côngnghệ sản xuất hàng tiêu dùng, công nghệ vật liệu
Theo sản phẩm: tuỳ thuộc loại sản phẩm có các loại công nghệ tương ứngnhư công nghệ thép, công nghệ xi măng, công nghệ ô tô
Theo đặc tính công nghệ công nghệ đơn chiếc, công nghệ hàng loạt, côngnghệ liên tục
Theo trình độ công nghệ (căn cứ mức độ phức tạp, hiện đại của các thànhphần công nghệ) có các công nghệ truyền thông, công nghệ tiên tiến, công nghệtrung gian
- Các công nghệ truyền thống thường là thủ công, có tính độc đáo, độ tinhsảo cao, song năng suất không cao và không đồng đều Các công nghệ
Trang 4truyền thống có ba đặc trưng cơ bản: tính cộng đồng, tính ổn định và tinhlưu truyền.
- Các công nghệ tiên tiến là thành quả khoa học hiện đại, nhưng côngnghệ này có năng suất cao, chất lượng tốt và đồng đều, giá thành sản phẩmcủa chúng hạ
- Công nghệ trung gian nằm giữa công nghệ truyền thống và công nghệtiên tiến xét về trình độ công nghệ
Theo mục tiêu phát triển công nghệ có công nghệ phát triển, công nghệ dẫndắt, công nghệ thúc đẩy
- Các công nghệ phát triển bao gồm các công nghệ bảo đảm Cung cấpcác nhu cầu thiết yếu cho xã hội như ăn, ở, mặc, đi lại
- Các công nghệ thúc đẩy bao gồm các công nghệ tạo lên sự tăng trưởngkinh tế trong quốc gia
- Các công nghệ dẫn dắt là các công nghệ có khả năng cạnh tranh trên thịtrường thế giới
Theo góc độ môi trường có công nghệ ô nhiễm và công nghệ sạch Côngnghệ sạch là công nghệ mà quá trình sản xuât tuân theo điều kiện giảm ảnh hưởngđến môi trường, sử dụng các nguồn nguyên liệu thô và năng lượng hợp lý
Theo đặc thù của công nghệ có thể chia thành hai loại: công nghệ cứng vàcông nghệ mềm Cách phân loại này xuất phát từ quan niệm công nghệ gồm bốnthành phần trong đó kĩ thuật là phần cứng còn ba yếu tố còn lại là phần mềm Mộtcông nghệ mà phần cứng của nó được đánh giá là vai trò chủ yếu thì công nghệ
đó được coi là công nghệ phần cứng và ngược lại Cũng có quan niệm coi côngnghệ cứng là công nghệ khó thay đổi; còn công nghệ mềm là công nghệ có chutrình sống ngắn phát triển nhanh
Theo đầu ra của công nghệ, có công nghệ sản phẩm và công nghệ quátrình: công nghệ sản phẩm liên quan thiết kế sản phẩm (thường bao gồm các phầnmềm) và việc sử dụng, bảo dưỡng sản phẩm (thường bao gồm các phần mềm sửdụng sản phẩm); trong khi công nghệ quá trình để chế tạo ra sản phẩm đã đượcthiết kế (liên quan tới bốn thành phần công nghệ)
Trang 52 Những vấn đề chung về chuyển giao công nghệ:
2.1 Khái niệm
Theo APCTT (Trung tâm chuyển giao công nghệ Châu Á-Thái BìnhDương): Chuyển giao công nghệ (CGCN) là hoạt động mua hoặc bán theo phápluật giữa các tổ chức, trong đó đối tượng mua bán là công nghệ Bản chất củachuyển giao công nghệ quốc tế là công nghệ được di chuyển qua biên giới mộtquốc gia
Theo luật quốc tế về chuyển giao công nghệ: CGCN là quá trình chuyểngiao một hệ thống kiến thức giữa bên giao và bên nhận để:
- Chuyển giao công nghệ trong nước: là chuyển giao công nghệ tronglãnh thổ VN trừ việc chuyển qua ranh giới khu chế xuất của VN
- Chuyển giao công nghệ từ nước ngoài: là chuyển giao công nghệ từnước ngòai vào VN hoặc từ khu chế xuất VN vào lãnh thổ VN
- Chuyển giao công nghệ từ VN ra nước ngoài là chuyển giao công nghệtrong biên giới ra ngòai lãnh thổ VN hoặc vào khu chế xuất VN
2.2 Đối tượng chuyển giao công nghệ:
Các đối tượng sở hữu công nghiệp (SHCN), có hoặc không kèm theo máymóc thiết bị mà pháp luật cho phép chuyển giao.( Theo Luật Sở hữu trí tuệ)
Đối tượng SHCN: sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp,nhãn hiệu, tên gọi hàng hóa
- Sáng chế: là giải pháp kĩ thuật hoàn toàn mới so với trình độ kĩ thuật
của thế giới, có trình độ sáng tạo, khả năng áp dụng trong các lĩnh vực kinh
tế xã hội, khi được áp dụng sẽ tạo ra một mẫu mã sản phẩm và mẫu mã này
Trang 6được chấp nhận sản xuất lần đầu tiên mà trước đó chưa có ai nghe hoặcnhìn thấy.
- Giải pháp hữu ích: là giải pháp mới so với trình độ kĩ thuật trên thế
giới, có khả năng áp dụng vào các lĩnh vực kinh tế- xã hội, trong nhữngđiều kiện kinh tế kỹ thuật hiện tại (không có tính sáng tạo)
- Kiểu dáng công nghiệp: là hình dáng bên ngoài của sản phẩm được thể
hiện bằng đường nét, hình khối, màu sắc hoặc sự kết hợp của các yếu tố đó,
có tính mới đối với thế giới và dùng làm mẫu để chế tạo sản phẩm côngnghiệp, thủ công nghiệp
- Nhãn hiệu hàng hóa: là những dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa
cùng loại của các cơ sở sản xuất kinh doanh khác nhau, có thể là từ ngữ,hình ảnh hoặc sự kết hợp của các yếu tố đó được thể hiện bằng một haynhiều màu sắc Nhãn hiệu hàng hóa phải được xác nhận bằng văn bản bảo
hộ do cục SHCN cấp
- Tên gọi xuất xứ hàng hóa: là tên địa lý của nước, địa phương dùng để
chỉ xuất xứ mặt hàng từ nước, địa phương đó với điều kiện những mặt hàngnày có tính chất, chất lượng đặc thù dựa trên các điều kiện địa lý độc đáo
và ưu việt bao gồm yếu tố tự nhiên, con người hoặc kết hợp của hai yếu tố
đó
Quyền sở hữu đới với SHCN có thể được xác lập theo văn bằng bảo hộ do
cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước cấp nếu Chủ sở hữu nộp đơn yêu cầu
Bí quyết kiễn thức kĩ thuật về công nghệ dưới dạng phương án công nghệ,các giải pháp kĩ thuật,quy trình công nghệ, fần mềm máy tính, tài liệu thiết kế,công thức, thông số kỹ thuật, bản vẽ, sơ đồ kỹ thuật có hoặc không kèm máy mócthiết bị
Các giải pháp hợp lý hóa sản xuất, đổi mới công nghệ
Các hình thức dịch vụ kĩ thuật hỗ trợ chuyển giao công nghệ, hỗ trợ lựachọn công nghệ, tư vấn quản lý công nghệ, tư vấn pháp lý kinh doanh, hướng dẫnthực hiện quy trình công nghệ và chuyển giao, đào tạo, huấn luyện, nâng cao trình
độ của công nhân và cán bộ quản lý, cán bộ kĩ thuật để nắm vứng công nghệ đượcchuyển giao
Trang 72.3 Phân loại chuyển giao công nghệ:
Căn cứ theo chủ thể tham gia chuyển giao công nghệ
- Chuyển giao công nghệ trong nội bộ công ty hoặc tổ chức
- Chuyển giao công nghệ trong nước
- Chuyển giao công nghệ nước ngoài
Căn cứ theo luồng chuyển giao công nghệ
- Chuyển giao dọc (thường diễn ra trong nội bộ công ty): là sự chuyểngiao các công nghệ hoàn toàn mới mẻ đòi hỏi phải có một sự đồng bộ từnghiên cứu thí nghiệm tới sản xuất thử rồi sản xuất hàng loạt để đảm bảo
độ tin cậy về kinh tế và kĩ thuật
- Chuyển giao ngang (thường được sử dụng rộng rãi, phổ biến hơnchuyển giao công nghệ theo chiều dọc): là sự chuyển giao công nghệ đãhoàn thiện từ doanh nghiệp này tới doanh nghiệp khác, từ nước này sangnước khác So với chuyển giao dọc chuyển giao ngang ít rủi ro hơn songphải tiếp cận công nghệ dưới tầm người khác không hoàn toàn mới mẻ.Căn cứ theo quyền lợi và trách nhiệm của người mua và người bán Phân loạitheo kiểu này đánh giá mức độ tiên tiến và giá cả của công nghệ
- Chuyển giao đơn giản: là hình thức người chủ công nghệ chuyển giaocho người mua quyền sử dụng công nghệ, thời gian và phạm vi hạn chế
- Chuyển giao đặc quyền: người bán trao quyền sử dụng cho người muatrong một phạm vi lãnh thổ
- Chuyển giao độc quyền: là hình thức người bán trao toàn quyền sở hữucông nghệ cho người mua trong suốt thời gian có hiệu lực của hợp đồng.Căn cứ theo kiểu chuyển giao hay chiều sâu của chuyển giao công nghệ
- Trao kiến thức: việc chuyển giao chỉ dừng lại ở mức độ truyền đạt kiếnthức bằng cách đưa công thức, hướng dẫn, tư vấn về kĩ thuật
- Chuyển giao công nghệ dưới dạng chìa khoá trao tay: Người bán phảithực hiện các công việc như lắp đặt máy móc, hướng dẫn chương trìnhhoàn tất toàn bộ quá trình sản xuất
- Trao sản phẩm: người bán không những có trách nhiệm hoàn tất toàn bộdây chuyền sản xuất thành công toàn bộ công nghệ chuyển giao
Trang 8- Trao thị trường: ngoài trách nhiệm như ở góc độ “trao sản phẩm” ngườibán còn phải trao một phần thị trường đã xâm nhập thành công cho bênmua công nghệ.
2.4 Những nguyên nhân khách quan dẫn đến chuyển giao công nghệ:
Các thành tựu khoa học công nghệ hiện đại làm rút ngắn tuổi thọ của cáccông nghệ, khiến nhu cầu đổi mới công nghệ ngày càng tăng Trong lĩnh vựccông nghệ phát triển nhanh, chu trình sống của công nghệ rất ngắn, những người
đi sau trong công nghệ này muốn có công nghệ đã xuất hiện trên thị trườngthường thông qua chuyển giao
Hoạt động đầu tư quốc tế phát triển Xu thế mở rộng hợp tác, khuyến khíchthương mại tạo điều kiện cho mua, bán kể cả mua bán công nghệ
Không quốc gia nào trên thế giới có đủ mọi nguồn lực để làm ra tất cả cáccông nghệ cần thiết một cách kinh tế, do nhiều nước muốn có một công nghệthường cân nhắc về phương diện kinh tế giữa mua và làm
Sự phát triển không đồng đều giữa các quốc gia trên thế giới về côngnghệ (85% các sáng chế công nghệ nằm trong tay sáu nước), nhiều nướckhông có khả năng tạo ra công nghệ mà mình cần, buộc phải mua để đáp ứngcác nhu cầu cấp thiết
2.5 Vai trò của chuyển giao công nghệ:
Chuyển giao công nghệ có vai trò to lớn đối với nền kinh tế thế giới nóichung và nền kinh tế của mỗi nước nói riêng Chuyển giao công nghệ có lợi cho
cả hai bên bên giao và bên nhận Ngày nay trong xu thế quốc tế hoá nền kinh tếthế giới cùng với trình độ phân công lao động, chuyên môn hoá ở tầm chuyên sâuđến từng chi tiết sản phẩm Hoạt động chuyển giao công nghệ góp phần thúc đẩythương mại quốc tế phát triển cho phép khai thác lợi thế so sánh giữa các quốcgia Mặt khác nó còn làm thay đổi cơ cấu nền kinh tế thế giới theo hướng gia tăng
tỷ trọng dịch vụ và công nghiệp Công nghệ tạo năng xuất lao động cao hơn cùng
sự phong phú về chủng loại sản phẩm phục vụ cho nhu cầu ngày càng cao của thịtrường nó là vũ khí cạnh tranh của các doanh nghiệp, các nền kinh tế, có vai trò
to lớn đối với vấn đề môi trường trong quá trình khai thác nguồn tài nguyên thiênnhiên và quá trình chế tác, sử dụng
Trang 92.5.1 Đối với bên chuyển giao công nghệ:
Nhà cung cấp công nghệ thường ở những nước phát triển
- Có điều kiện đổi mới công nghệ nhờ thu hồi vốn từ chuyển giao côngnghệ
- Phát triển thị trường mới với chi phí và rủi ro thấp, hoặc thông qua bêntiếp nhận để tiếp cận với những thị trường có tính bảo hộ cao
- Buộc bên tiếp nhận phụ thuộc vào mình do cung cấp những sản phẩmkèm theo hoặc dịch vụ hỗ trợ
- Tăng thu nhập từ việc bán công nghệ
Rủi ro có thể gặp phải: hình thành một đối thủ cạnh tranh mới và có thể uytín bị tổn thương
2.5.2 Đối với bên nhận công nghệ :
Bên nhận bao gồm nước nhận công nghệ và công ty nhận công nghệ Haiđối tượng này có những mục tiêu khác nhau
Đối với Chính phủ nước nhận công nghệ:
- Tạo ra việc làm có chất lượng cao, tăng thêm nguồn thu từ thuế
- Khắc phục tình trạng lạc hậu về công nghệ, nâng cao chất lượng sảnphẩm, nâng cao khả năng cạnh tranh
- Mở rộng sản xuất do tận dụng nguồn nguyên liệu địa phương
- Cải thiện trình độ của lao động địa phương từ đó tạo môi trường tốt chođầu tư nước ngoài
- Thông qua chuyển giao công nghệ thu hút vốn đầu tư nước ngoài, tạođiều kiện đẩy nhanh phát triển kinh tế
- Nếu thành công có cơ hội đẩy nhanh quá trình CNH-HĐH
Đối với công ty nhận công nghệ:
- Tăng thêm lợi nhuận từ việc cải thiện chất lượng sản phẩm do sản xuấtbằng công nghệ mới
- Không tốn kém thời gian, chi phí và rủi ro trong nghiên cứu, chế tạocông nghệ mới
- Có điều kiện nhanh chóng nâng cao trình độ công nghệ, học tập cácphương pháp quản lý tiên tiến
Trang 10- Tiếp thu công nghệ mới và kỹ năng phức tạp nhằm nâng cao chất lượngcủa đội ngũ lao động.
- Tiếp thu công nghệ mới có thể tạo ra loại sản phẩm hoàn toàn mới
- Nếu thành công có cơ hội rút năng thời gian công nghiệp hóa đồng thời
đi tắt vào các công nghệ hiện đại nhất
- Thiết lập quan hệ với đối tác nước ngoài và thị trường nước ngoài
Tuy nhiên công ty có thể gặp phải một số rủi ro trong quá trình chuyển giaocông nghệ
Bảng 1: Những rủi ro trong CGCN đối với bên nhận CN và cách đề phòng
Những rủi ro Chiến lược đề phòng
1 Không nắm được công nghệ Chú ý đến chất lượng của đội ngũ lao động
2 Phụ thuộc và công nghệ nhập
khẩu
Trong hợp đồng CGCN phải có nhữngđiều khoản ràng buộc bên giao phảichuyển giao công nghệ trọn gói trước khihết thời hạn hợp đồng
3 Bên giao không có đủ năng lực
CGCN (các đối tượng được
chuyển giao không đồng bộ)
Tìm hiểu kỹ về đối tác và công nghệ trướckhi ký kết hợp đồng Tham khảo thêm ýkiến những khách hàng trước đây của đốitác
4 Sự thất bại của công nghệ
(không phù hợp với điều kiện
hiện tại của bên nhận công
nghệ)
Nghiên cứu kỹ điều kiện vận hành củacông nghệ và khả năng thích ứng của bênnhận trước khi đàm phán về công nghệ
2.6 Những yêu cầu đối với hoạt động chuyển giao công nghệ:
- Công nghệ phải đáp ứng yêu cầu của Pháp luật VN về an toàn lao động,
vệ sinh, sức khỏe con người và bảo vệ môi trường
- Công nghệ không gây ảnh hưởng xấu đến văn hóa, quốc phòng, an ninh
- Công nghệ phải tạo ra sản phẩm có tính mới, tính cạnh tranh cao
- Công nghệ phải mới hơn công nghệ đang có ở VN
2.7 Giá cả của công nghệ:
Trang 11Chi phí công nghệ chiếm một tỉ trọng lớn trong dự án, vì vậy cần xem xét kỹ cácyếu tố cấu thành Chi phí công nghệ trong dự án được xác định như sau:
3 Vai trò của ngành công nghiệp ôtô trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng:
Công nghiệp ô tô là một ngành công nghiệp khổng lồ mang tính toàn cầu.Hàng năm, khu vực công nghiệp này chế tạo khoảng 50 triệu xe với giá trịkhoảng 600 tỷ USD Mỹ, Nhật và Tây Âu là các trung tâm lớn chế tạo và tiêu thụôtô nhiều nhất
Công nghiệp ôtô là ngành công nghiệp tổng hợp mà việc xây dựng và pháttriển ngành này không chỉ nhằm thoả mãn nhu cầu thị trường trong nước vềphương tiện giao thông vận tải mà còn tạo ra một ngành công nghiệp then chốtcủa nền kinh tế quốc dân, thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ: cứ 1đồng vốn bỏ vào công nghiệp ôtô thì phải đầu tư 8 đồng vốn cho các ngành côngnghiệp phụ cận Một xe du lịch hiện đại thì có trên 13.000 chi tiết Các thống kêcho thấy ngành công nghiệp ôtô tiêu thụ 77% cao su thiên nhiên, 50% cao su tổnghợp, 67% thì <40% máy công cụ, 25% thủy tinh, 64% gang rèn và 20% các vậtliệu bán dẫn (các linh kiện điện tử trong ô tô con đã chiếm giá trị tới 900 USD,cao hơn giá trị của thép ôtô), các vật liệu nhẹ sử dụng trong công nghiệp ôtô ngàycàng tăng do con người ngày càng yêu cầu cao đối với độ bền đẹp, hiện đại vàtiện nghi của ôtô Hàng năm, ở Nhật có 4,5 - 5 triệu ôtô bị thải loại không sử dụngđược, trong đó 75% phế liệu là có thể tái chế
Ôtô là sản phẩm hàng tiêu dùng, vừa là phương tiện sản xuất, có giá trị caonhất trong đời sống xã hội của con người (chỉ sau các bất động sản) và được sảnxuất với số lượng lớn Trong tương lai, khi nhu cầu sản lượng tới vài trăm ngàn
xe ôtô một năm thì ngành công nghiệp ôtô cùng các ngành sản xuất phụ tùng sẽđóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế đất nước Chính vì vậy, công nghiệp ôtô
Trang 12tuy chỉ là ngành sản xuất phương tiện giao thông, nhưng sự phát triển của nó lạithúc đẩy sự phát triển của nhiều ngành khác, nên công nghiệp ôtô sẽ cung cấpviệc làm trên diện rộng và sự tăng trưởng cao cho cấu trúc công nghiệp, góp phầnlàm thay đổi cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước,một chương trình do đại hội VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra nhằm đưanước ta từ nước kinh tế nông nghiệp là chính chuyển sang nước có nền côngnghiệp hiện đại trong vòng 20 năm tới.
Đất nước Việt Nam với diện tích 331211,6 và dân số hiện nay là hơn 86
triệu người, có tỷ lệ tăng dân số gần 2% Nếu chúng ta giảm được tỷ lệ tăng dân
số xuống còn 1,5% thì sau 20 năm nữa, dân số Việt Nam sẽ là khoảng 95 triệungười Còn với mức tăng dân số như hiện nay, sau 20 năm nữa, dân số Việt Nam
sẽ là khoảng trên 100 triệu người Một quốc gia công nghiệp với dân số trên 100triệu người thì không thể không có công nghiệp ôtô riêng của mình Công nghiệpôtô vốn được coi là xương sống của ngành công nghiệp Bởi công nghiệp ôtô hàmchứa rất nhiều những công nghệ cơ bản như chế tạo máy, luyện kim, đúc, khuônmẫu, vật liệu và điện tử Những công nghệ này hoàn toàn có thể áp dụng sangcác lĩnh vực sản xuất khác và công nghiệp ôtô phát triển sẽ thúc đẩy những ngànhcông nghiệp như điện tử, luyện kim, hoá chất, nhựa cùng phát triển theo
Bên cạnh đó, ngành công nghiệp ôtô phát triển sẽ tạo ra hàng triệu việc làmvới sự tham gia của nhiều doanh nghiệp Theo tính toán với quy mô thị trườngkhoảng 500.000 xe/năm thì công nghiệp ôtô sẽ tạo ra khoảng hơn 1 triệu việc làmvới sự tham gia của hàng nghìn doanh nghiệp
Điều quan trọng nữa khi sản xuất đáp ứng được nhu cầu trong nước, thậmchí là xuất khẩu sẽ làm thay đổi cán cân thương mại Theo tính toán của cácchuyên gia Nhật Bản thuộc Viện Nghiên cứu chính sách quốc gia Nhật Bản, vớinhu cầu về ôtô tăng mạnh, nếu Việt Nam không có một ngành công nghiệp ôtô thìvào năm 2020 mỗi năm sẽ phải chi khoảng 3 tỷ USD để nhập xe Như vậy có thểnói không riêng gì chúng ta mà nhiều quốc gia trên thế giới mong muốn có mộtngành công nghiệp ôtô mạnh
Bởi vậy, để tránh tụt hậu thì Việt Nam cũng sẽ phải xây dựng và phát triểncông nghiệp ôtô của mình thành một ngành công nghiệp trọng yếu, góp phần thúc
Trang 13đẩy sự phát triển chung của nền kinh tế đất nước và nhanh chóng hội nhập vớikhu vực và thế giới.
CHƯƠNG II: TÌNH HÌNH CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ TRONG
NGÀNH CÔNG NGHIỆP ÔTÔ VIỆT NAM
Trang 141 Tình hình phát triển ngành công nghiệp ôtô Việt Nam:
1.1 Thực trạng phát triển :
Ngành công nghiệp ôtô Việt Nam là ngành sinh sau đẻ muộn, ra đời saucác nước trong khu vực từ 40-50 năm Tuy nhiên, Nhà nước Việt Nam, với mụcđích thu hút đầu tư và xây dựng một ngành công nghiệp ôtô để theo kịp các nướctrong khu vực, cho nên hơn 15 năm qua, kể từ khi ra đời vào năm 1992 đến nay,ngành công nghiệp ôtô của Việt Nam được coi là ngành trọng điểm và là ngànhluôn luôn được ưu đãi nhất trong số các ngành công nghiệp
Trước thập kỷ 90, có thể nói Việt Nam chưa có một ngành công nghiệpôtô Gần 15 năm hình thành và phát triển, đến nay chúng ta đã có 11 liên doanh
và trên 160 doanh nghiệp lắp ráp và sửa chữa xe ô tô ra đời, với hơn 20 hợp đồngchuyển giao công nghệ đã được thực hiện kèm với các dự án đầu tư Trung bìnhnỗi năm, 11 liên doanh đã lắp ráp dạng CKD 2 cung cấp cho thị trường nội địa80.000 xe/năm Hiện, hơn 40 DN lắp ráp được khoảng 8 vạn xe/năm, làm giảmnhập khẩu, tiết kiệm nhiều tỉ USD, giải quyết việc làm cho hàng chục vạn laođộng trong ngành này và các ngành CN phụ trợ Dự kiến năm 2010 có thể sẽ cóhơn 1,2 triệu ô tô và năm 2020 có hơn 3 triệu ô tô hoạt động Đặc biệt là các hãng
đã tìm tòi và xuất xưởng các xe có chủng loại khá đa dạng theo tiêu chuẩn củanhà sản xuất ôtô gốc Cụ thể là đến nay, các xe sản xuất lắp ráp nội địa được tung
ra thị trường Việt Nam gồm 50 kiểu xe các loại, các cỡ, thuộc 15 nhãn mác xe têntuổi trên thế giới, trong đó có 18 kiểu xe chở người loại 4-5 chỗ ngồi và 32 kiểu
xe thương dụng
Nền tảng của các doanh nghiệp ôtô trong nước là những doanh nghiệp cơkhí lớn trước kia làm công việc sửa chữa đại tu xe, nay được bổ sung, nâng caonăng lực sản xuất Các doanh nghiệp này hầu hết được tổ chức theo hướngchuyên môn hoá một số chủng loại xe (xe tải, xe khách, xe chuyên dùng) với dâychuyền sản xuất đơn giản là gò, hàn, sơn, lắp ráp thiếu sự hợp tác lẫn nhau.Trang thiết bị phần lớn lạc hậu Trừ một vài doanh nghiệp có đầu tư lớn nhưXuân Kiên, Trường Hải còn lại tổng giá trị tài sản mỗi doanh nghiệp khôngvượt quá 20 tỷ đồng
Với các doanh nghiệp FDI ôtô, trừ Công ty Hino sản xuất xe tải nặng, cònlại đều có thể tổ chức sản xuất bất kỳ sản phẩm nào Các doanh nghiệp này đại
Trang 15diện cho những nhà sản xuất lớn với bí quyết công nghệ khác nhau nên hầu như ítphối hợp, mà cạnh tranh lộn xộn.
Hầu hết các liên doanh chỉ mới thực hiện phương thức lắp ráp với dâychuyền công nghệ gần giống nhau như hàn lắp khung xe, tẩy rửa sơn Tỷ lệ nộiđịa hoá của các liên doanh cao nhất không quá 25% (Toyota Việt Nam cho biếtchiếc xe Vios mới ra mắt cuối tháng 9/2007 có tỷ lệ nội địa hoá đạt 25%), thấpnhất là 2% Việc đào tạo nhân lực và chuyển giao công nghệ cũng mới chỉ đápứng cho công đoạn lắp ráp ôtô
Theo các chuyên gia, có 3 điều kiện để có được ngành công nghiệp ôtô làthị trường, con người và kỹ thuật Trong 3 điều kiện đó Việt Nam có 2 là thịtrường và con người Theo tính toán thị trường ôtô rất tiềm năng với mức tiêu thụ
có thể đạt 1 triệu xe/năm Con người người Việt Nam được cho là khéo tay cóđầu óc sáng tạo Chúng ta thiếu vấn đề kỹ thuật, nếu có chính sách đúng vềkhuyến khích đầu tư, chuyển giao công nghệ thì sẽ thành công
Nhưng trong hơn 15 năm qua có rất ít các nhà đầu tư nước ngoài đầu tưvào lĩnh vực sản xuất linh kiện cũng như chuyển giao công nghệ ôtô vào ViệtNam.Tập đoàn Ford trong năm 2004 đã tìm địa điểm để đầu tư 1 nhà máy sảnxuất động cơ ôtô tại khu vực Đông Nam Á với số vốn là 400 triệu USD họ đãkhảo sát tại nhiều nước trong đó có Việt Nam nhưng sau đó lại quyết định đầu tưtại Philipines Mới đây cũng tập đoàn này đã đầu tư 500 triệu USD để sản xuất xe
cỡ nhỏ tại Thái Lan chứ không phải là Việt Nam Tại Việt Nam họ chỉ có 1 dâychuyền lắp ráp công suất khoảng 10.000 xe/năm, đến nay có lẽ đã khấu hao hết
Họ không chọn Việt Nam là vì không hội đủ những điều kiện cần thiết
Một trong những đặc điểm của ngành công nghiệp ôtô Việt Nam hiện nay
là tỉ lệ nội địa hóa quá thấp Theo quy định, khi xin cấp giấy đầu tư sản xuất lắp
ráp ô tô tại Việt Nam, các DN phải cam kết đạt tỷ lệ nội địa hóa 20-40% sau thờigian 5-10 năm Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện nay, không DN nào thực hiệnđúng cam kết đó Kết quả thanh tra tại sáu công ty sản xuất, lắp ráp ôtô (chủ yếu
là các doanh nghiệp liên doanh, có vốn đầu tư nước ngoài) của đoàn thanh tra BộTài chính cho thấy tính đến năm 2008, các công ty đều có dây chuyền sản xuất,lắp ráp ôtô lạc hậu (chủ yếu lắp ráp thủ công) Đặc biệt, hiện đã gần hết thời hạn
ưu đãi đầu tư nhưng việc đầu tư cho sản xuất linh kiện, phụ tùng trong nước của
Trang 16các doanh nghiệp này là không đáng kể Các công ty liên doanh chủ yếu nhậpkhẩu linh kiện, phụ tùng về lắp ráp, còn phần mua thiết bị sản xuất trong nước làrất nhỏ Tại Công ty Toyota VN, tỉ lệ nội địa hóa bình quân là 7% giá trị xe, trongkhi theo giấy phép đầu tư cấp lần đầu thì tỉ lệ nội địa hóa của công ty này phải đạt
ít nhất 30% sau 10 năm, kể từ năm 1996 Tại Công ty TNHH VN Suzuki tỉ lệ nàycòn thấp hơn: chỉ 3% vào thời điểm thanh tra, trong khi yêu cầu trong giấy phépđầu tư là phải đạt 38,2% vào năm 2006 Công ty TNHH Ford VN chỉ đạt 2%, một
Tỉ lệ nội địa hóa của một số công ty ôtô tại
Việt Nam năm 2006
Tỉ lệ nội địa hóa thực tế
Tỉ lệ nội địa hóa theo quy định năm 2006
Trong khi đó chương trình nội địa hóa theo chiến lược phát triển ngànhcông nghiệp ôtô VN đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020, tỉ lệ sản xuất trongnước các loại xe thông dụng (xe tải, xe khách, xe con), xe chuyên dùng phải đạt40% vào năm 2005 và 60% vào năm 2010 Tỉ lệ nội địa hóa các loại xe du lịchcao cấp phải đạt 20-25% vào năm 2005 và 40-45% năm 2010
Một đặc điểm nữa là ngành công nghiệp ôtô mới đi được “phần ngọn”.
Viện trưởng Viện Nghiên cứu chiến lược và chính sách công nghiệp (Bộ Côngthương) Phó giáo sư - tiến sĩ Phan Đăng Tuất từng ví von ngành công nghiệp ôtônhư một quả núi thì các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp là phần ngọn, còn phầnquan trọng nhất là chân núi chính là công nghiệp phụ trợ Theo ông Tuất, số