1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ vấn đề bảo vệ bản quyền chương trình truyền hình trên internet của đài phát thanh truyền hình

117 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 2,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --- NGUYỄN VĂN PHÚC VẤN ĐỀ BẢO VỆ BẢN QUYỀN CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH TRÊN INTERNET CỦA ĐÀI PHÁT THANH TRUYỀN HÌNH

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN VĂN PHÚC

VẤN ĐỀ BẢO VỆ BẢN QUYỀN CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH TRÊN INTERNET CỦA ĐÀI PHÁT THANH

TRUYỀN HÌNH VĨNH LONG

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ

VĨNH LONG - 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN VĂN PHÚC

VẤN ĐỀ BẢO VỆ BẢN QUYỀN CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH TRÊN

INTERNET CỦA ĐÀI PHÁT THANH

TRUYỀN HÌNH VĨNH LONG

Chuyên ngành Báo chí học định hướng ứng dụng

Mã số: 8320101.01 (UD) LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ

Chủ tịch Hội đồng chấm luận văn Người hướng dẫn khoa học

PGS TS VŨ QUANG HÀO TS TRẦN DUY

VĨNH LONG – 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS TRẦN DUY Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này trung thực và chưa từng được công bố dưới bất kỳ hình thức nào Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình

Học viên

Nguyễn Văn Phúc

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để có thể hoàn thành được Luận văn này, ngoài sự nỗ lực và nghiêm túc trong nghiên cứu của tác giả, không thể không kể đến sự giúp đỡ, hướng dẫn nhiệt tình, trách nhiệm của rất nhiều người Với sự giúp đỡ và hướng dẫn nhiệt thành đó, tác giả đã hoàn thành Luận văn đúng tiến độ Kết quả nghiên cứu của đề tài Luận văn mang tính thực tiễn cao, đóng góp giải pháp cho việc bảo vệ bản quyền chương trình truyền hình trên internet của Đài PTTH Vĩnh Long Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và trân trọng đến:

Quý Thầy, Cô Viện Đào tạo Báo chí và Truyền thông (Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐH Quốc gia Hà Nội) đã hướng dẫn, truyền đạt kiến thức bổ ích giúp tác giả nâng cao trình độ chuyên môn và lĩnh vực phụ trách tại Phòng Thông Tin Điện Tử - Đài PTTH Vĩnh Long

Đặc biệt, xin được chân thành cảm ơn Thầy Tiến sĩ Trần Duy đã rất tận tình hướng dẫn, giúp đỡ bản thân hoàn thành luận văn này!

Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn đến Quý Lãnh đạo Đài PTTH Vĩnh Long cùng các đồng nghiệp, bạn bè và người thân đã tạo điều kiện giúp đỡ, góp ý, động viên tôi trong suốt khóa học và thời gian nghiên cứu luận văn

Trong khuôn khổ một luận văn, do sự giới hạn về thời gian và kinh nghiệm nên không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của Quý Thầy, Cô giáo và các bạn!

Trang 5

1

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 4

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU 5

MỞ ĐẦU 6

1 Lý do chọn đề tài 6

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 8

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 10

3.1 Mục đích nghiên cứu 10

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 10

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11

4.1 Đối tượng nghiên cứu 11

4.2 Phạm vi nghiên cứu 11

5 Phương pháp luận nghiên cứu 11

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 12

6.1 Ý nghĩa lý luận 12

6.2 Ý nghĩa thực tiễn 12

7 Kết cấu luận văn 12

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VẤN ĐỀ BẢN QUYỀN VÀ BẢO VỆ BẢN QUYỀN CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH TRÊN INTERNET TRÊN THẾ GIỚI VÀ TẠI VIỆT NAM 14

1 1 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến nội dung nghiên cứu đề tài 14

1 2 Pháp luật về bảo vệ bản quyền chương trình truyền hình 19

1.2.1 Pháp luật về bảo vệ bản quyền chương trình truyền hình trên internet tại một số quốc gia trên thế giới 21

1.2.2 Pháp luật về bảo vệ bản quyền chương trình truyền hình trên internet tại Việt Nam 25

Trang 6

2

1 3 Khái quát về Lý thuyết cấu trúc chức năng 31

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ BẢO VỆ BẢN QUYỀN CÁC CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH TRÊN INTERNET CỦA ĐÀI PTTH VĨNH LONG 34

2 1 Quá trình hình thành và phát triển Đài PTTH Vĩnh Long 34

2.2 Tổ chức bộ máy Đài PTTH Vĩnh Long 35

2.3 Việc xây dựng hệ thống nội dung số của Đài PTTH Vĩnh Long 38

2.3.1 Trang thông tin điện tử thvl.vn 39

2.3.2 Mạng chia sẻ video Youtube 40

2.3.3 Mạng chia sẻ video Dailymotion 40

2.3.4 Truyền hình OTT - THVLi 40

2.3.5 Fanpage Facebook 40

2.3.6 Liên kết các đơn vị viễn thông khác khai thác nội dung số THVL 41

2.4 Hiện trạng việc vi phạm bản quyền chương trình truyền hình trên internet tại Việt Nam 44

2.4.1 Hiện trạng việc vi phạm bản quyền chương trình truyền hình trên internet tại Việt Nam 44

2.4.2 Các hình thức vi phạm bản quyền chương trình truyền hình trên internet chủ yếu hiện nay tại Việt Nam 46

2.5 Thực trạng của việc vi phạm bản quyền chương trình truyền hình trên internet của Đài PTTH Vĩnh Long 54

2.5.1 Công tác tổ chức hoạt động bảo vệ bản quyền chương trình truyền hình trên internet của Đài PTTH Vĩnh Long 54

2.5.2 Thực trạng của việc vi phạm bản quyền chương trình truyền hình của Đài PTTH Vĩnh Long trên internet 58

2.6 Những thành công và hạn chế trong công tác bảo vệ bản quyền chương trình truyền hình trên internet của Đài PTTH Vĩnh Long 66

Trang 7

3

2.6.1 Thành công 66

2.6.2 Hạn chế 69

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP ĐỂ BẢO VỆ BẢN QUYỀN CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH TRÊN INTERNET CỦA ĐÀI PTTH VĨNH LONG 72

3.1 Kinh nghiệm xử lý của các nước 72

3.2 Kinh nghiệm xử lý của một số Đài Truyền Hình tại Việt Nam trong việc bảo vệ bản quyền chương trình truyền hình trên internet 73

3.2.1 Kinh nghiệm xử lý của VTV 74

3.2.2 Kinh nghiệm xử lý của các kênh truyền hình khác tại Việt Nam 75

3.3 Đề xuất các giải pháp bảo vệ bản quyền chương trình truyền hình trên internet tại Việt Nam 76

3.3.1 Giải pháp trước mắt 76

3.3.2 Giải pháp quản lý lâu dài 79

3.4 Các đề xuất bảo vệ bản quyền chương trình truyền hình trên internet đối với Đài PTTH Vĩnh Long 80

3.4.1 Về mặt pháp lý: 80

3.4.2 Về mặt kỹ thuật: 81

3.4.3 Về mặt nội dung: 81

3.4.4 Về mặt tổ chức: 82

KẾT LUẬN 86

TÀI LIỆU THAM KHẢO 88

Trang 8

4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

PTTH : Phát thanh và Truyền hình

VTV : Đài Truyền hình Việt Nam

HTV : Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh

Bộ VHTT &DL : Bộ Văn Hoá Thể Thao và Du Lịch

Bộ KH& CN : Bộ Khoa Học và Công Nghệ

Bộ TT và TT : Bộ Thông Tin và Truyền Thông

ISP : Internet Service Provider

DRM : Digital rights Management

Trang 9

4 Bảng 1.4 Hệ thống quản lý nhà nước về quyền tác giả và quyền liên quan

5 Bảng 1.5 Sơ đồ lí thuyết AGIL: hệ thống bốn chức năng của Parsons

6 Bảng 2.1 Phối cảnh Trụ sở Đài PTTH Vĩnh Long

7 Bảng 2.2 Sơ đồ tổ chức bộ máy hoạt động Đài PTTH Vĩnh Long

8 Bảng 2.3 Tổng hợp các hạ tầng truyền dẫn các kênh THVL1,2,3,4 HD

9 Bảng 2.4 Nội dung các CTTH chuyển tải lên nền tảng số của Đài trên internet

10 Bảng 2.5 Biểu đồ thống kê các nền tảng số của Đài trên internet

11 Bảng 2.6 Một vài số liệu cơ bản về người dùng internet tại Việt Nam

12 Bảng 2.7 Trang web phimmoizz.net với phim chiếu rạp Rogue

13 Bảng 2.8 Một dạng vi phạm điển hình các CTTH của VTV

14 Bảng 2.9 Ảnh cắt từ videoclip chương trình VTV và clip gốc

15 Bảng 2.10 Đoạn clip trên kênh Youtube và facebook Đài PTTH Long An

16 Bảng 2.11 Thống kê chi phí chi trả cho việc bảo vệ bản quyền và vi phạm bản quyền nội dung trên internet của Đài PTTH Vĩnh Long (2018-2020)

17 Bảng 2.12 Ảnh cắt từ một website vi phạm bản quyền CTTH của THVL

17 Bảng 2.13 Minh hoạ một số dạng vi phạm điển hình các CTTH của THVL

18 Bảng 2.14 Clip vi phạm CTTH của THVL trên website ở Nga

Trang 10

mà còn là phim ảnh, trò chơi điện tử, chương trình truyền hình … được số hoá

và truyền đi theo nhiều hình thức khác nhau (chủ yếu qua chia sẻ trái phép

trên internet)

Tháng 02/2020, Trung tâm Chính sách Đổi mới sáng tạo toàn cầu thuộc Phòng Thương mại Hoa Kỳ (The United States Chamber's Global Intellectual Property Center - GIPC) công bố Chỉ số sở hữu trí tuệ (SHTT) toàn cầu năm

2020 (U.S Chamber International 2020 Intellectual Property Index) Việt Nam thuộc nhóm có chỉ số SHTT quốc tế và thứ hạng thấp, xếp 42/53 quốc gia được xem xét Trong khu vực châu Á, nước ta xếp thứ 12/15 và chỉ đứng trên Thái Lan và Pakistan Về tỷ lệ thực hiện đúng theo Quyền tác giả, giới hạn quyền tác giả, sao chép…,Việt Nam và Pakistan đồng xếp ở vị trí cuối cùng với tỷ lệ chỉ là 18,29% ! [44, pg.37-51 ]

Trong lĩnh vực truyền hình, tình trạng vi phạm bản quyền các chương trình truyền hình trên internet ngày càng trầm trọng Nhiều vấn đề liên quan đến bản quyền đã nảy sinh trong môi trường số, trong khi lại thiếu cơ chế hay những văn bản pháp luật hướng dẫn giải quyết triệt để Đây là vấn đề rất đáng báo động, đặc biệt khi Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng với thế giới trên nhiều lĩnh vực, nhất là về kinh tế với nhiều Hiệp định thương mại được

ký kết mà trong đó , vấn đề SHTT luôn được ưu tiên hàng đầu

Trang 11

7

Chỉ số SHTT toàn cầu năm 2020

Thống kê tỷ lệ thực hiện Quyền tác giả, bản quyền năm 2020

Trang 12

8

Với Đài PTTH Vĩnh Long; từ cuối năm 2014, lãnh đạo Đài đã có chủ trương đưa nội dung chương trình truyền hình lên các nền tảng số; vừa mở rộng đối tượng khán giả qua internet, vừa khai thác thêm doanh thu Tuy nhiên; các chương trình truyền hình của Đài trên internet đã bị sao chép không xin phép, vi phạm bản quyền nghiêm trọng gây thiệt hại không nhỏ về

doanh thu quảng cáo Trước thực tế này, tác giả mạnh dạn chọn đề tài “Vấn

đề bảo vệ bản quyền chương trình truyền hình trên internet của Đài PTTH Vĩnh Long” làm đề tài luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Báo chí định

hướng ứng dụng của mình

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Những năm qua, vấn đề bản quyền chương trình truyền hình trên internet luôn được sự quan tâm, chú ý của giới học thuật Nhiều tài liệu khoa học với nhiều mức độ nghiên cứu: sách, bài viết qua các cuộc hội thảo, toạ đàm, luận văn … Riêng trong lĩnh vực nghiên cứu ở góc độ luận văn, có thể kể đến một

số tài liệu liên quan đến chủ đề này như:

- Luận văn Thạc sĩ Luật học Bảo hộ quyền liên quan trong môi trường kỹ

thuật số, Trần Kim Thoa (2018), Đại học Cần Thơ [46] Tác giả hệ thống

những quy định pháp luật Việt Nam về bảo hộ quyền liên quan dưới góc độ quyền của người biểu diễn; quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình và quyền của tổ chức phát sóng Tác giả cũng đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về bảo vệ quyền liên quan nói chung và bảo vệ quyền liên quan trong môi trường kỹ thuật số nói riêng, nâng cao hiệu quả áp dụng quy định về bảo vệ quyền liên quan ứng dụng vào thực tế

- Luận văn Thạc sĩ Luật học Bảo hộ quyền tác giả trong môi trường kỹ

thuật số theo pháp luật Việt Nam, Phạm Hồng Hải (2013), Đại học Luật – Đại

học quốc gia Hà Nội [47] Tác giả đã nghiên cứu lý luận và thực tiễn bảo hộ

quyền tác giả, quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số theo quy định của

Trang 13

9

pháp luật Việt Nam Từ đó, kiến nghị các giải pháp để hoàn thiện quy định về bảo hộ quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số của Việt Nam hiện nay

- Luận văn Thạc sĩ Luật học Bảo hộ quyền tác giả trước những xâm

phạm từ internet trên thế giới và Việt Nam: Phân tích dưới góc độ quyền con người, Nguyễn Anh Đức (2014), Đại học Luật – Đại học quốc gia Hà Nội

[48] Tác giả đã phân tích các quy định về bảo hộ quyền tác giả với những chuẩn mực pháp luật nhân quyền quốc tế Qua cách xử lý của một số quốc gia, tác giả đề xuất giải pháp thúc đẩy bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan trên internet tại Việt Nam

Nhiều tài liệu ở dạng sách và bài viết khoa học nghiên cứu về bản quyền,

quyền tác giả trên internet cũng đã được nghiên cứu và công bố như: Quyền

Tác Giả ở Việt Nam - Pháp Luật và Thực Thi, Trần Văn Nam (2014), Nhà

xuất bản Tư pháp , Hà Nội [20], Các quy định pháp luật Việt Nam về quyền

tác giả và quyền liên quan, Cục bản quyền tác giả - Bộ VHTT &DL (2015),

Nhà xuất bản văn hoá thông tin [8], bài viết Chia sẻ dữ liệu trong môi trường

internet và vấn đề liên quan đến quyền tác giả, Nguyễn Thị Tuyết - Tạp chí

Luật học số 1, ĐH Luật Hà Nội (2010) [49], bài viết Bảo hộ quyền tác giả

trong môi trường kỹ thuật số tại Thái Lan và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam, Nguyễn Đức Việt, Hoàng Thanh Phương – Tạp chí Dân chủ và pháp

luật , Bộ Tư pháp số 6/2018) [50]

Các tài liệu luận văn, sách nghiên cứu, bài viết nói trên chủ yếu đi sâu vào phần lý luận cũng như phân tích những khía cạnh pháp lý của vấn đề bản quyền, bảo hộ quyền tác giả; chưa có sự phân tích, đánh giá cụ thể qua hoạt động thực tiễn của việc bảo vệ bản quyền chương trình truyền hình trên internet ở một đài truyền hình cụ thể

Trang 14

10

Xét về góc độ báo chí, cho đến nay, vẫn chưa có công trình nghiên cứu

cụ thể nào trong lĩnh vực này dù đây là một vấn đề nóng được đề cập đến tại nhiều diễn đàn, hội thảo và qua ý kiến chỉ đạo của Bộ TT và TT

Từ thực tiễn công tác, tính cấp bách với những hạn chế trong xử lý vi

phạm bản quyền chương trình truyền hình trên internet, đề tài “Vấn đề bảo

vệ bản quyền chương trình truyền hình trên internet của Đài PTTH Vĩnh Long” sẽ đi tìm lời giải cho vấn đề này

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

3.1 Mục đích nghiên cứu

- Trên cơ sở Lý thuyết cấu trúc - chức năng, Luận văn phân tích, đánh giá về thực trạng , cách xử lý, giải quyết vấn đề vi phạm bản quyền chương trình truyền hình tại một số nước trên thế giới, tại Việt Nam nói chung và Đài PTTH Vĩnh Long nói riêng Từ đó, đề xuất giải pháp nhằm bảo vệ bản quyền các chương trình truyền hình trên internet nói chung và của Đài PTTH Vĩnh Long nói riêng

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu như trên, tác giả xác định những nhiệm vụ nghiên cứu như sau:

- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về bản quyền, vấn đề vi phạm bản quyền chương trình truyền hình trên internet

- Khảo sát, phân tích đánh giá thực trạng và tác hại của vấn đề vi phạm bản quyền chương trình truyền hình trên internet tại Việt Nam nói chung và Đài PTTH Vĩnh Long nói riêng giai đoạn 2018-2020

- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc bảo vệ bản quyền các chương trình truyền hình trên internet của Đài PTTH Vĩnh Long

Trang 15

11

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Vấn đề bảo vệ bản quyền chương trình truyền hình trên internet của Đài PTTH Vĩnh Long

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Các nền tảng số có lưu trữ nội dung các chương trình truyền hình của Đài PTTH Vĩnh Long: trang TTĐT, fanpage, Zalo, các kênh Youtube,

Dailymotion, ứng dụng xem truyền hình qua internet THVLi (2018-2020)

5 Phương pháp luận nghiên cứu

Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận Chủ nghĩa Mác – Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam.Vận dụng những kiến thức về lý luận, báo chí truyền thông, luận văn là sự kết hợp của nhiều phương pháp nghiên cứu chủ yếu dựa trên nền tảng 4 phương pháp nghiên cứu chính:

- Phương pháp nghiên cứu tư liệu lịch sử: Kế thừa kết quả nghiên cứu

của các tác giả trong và ngoài nước đã nghiên cứu về những đề tài có liên quan Tổng hợp tất cả các quan điểm lý luận, thực tiễn liên quan đến đề tài từ các văn bản pháp luật, tài liệu khoa học, sách báo, tạp chí

- Phương pháp phân tích nội dung: Phân tích, đánh giá về các quy

định của việc bảo hộ bản quyền trong môi trường kỹ thuật số một số quốc gia , quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay Phân tích, đánh giá về thực trạng

và cách xử lý tình trạng vi phạm bản quyền đối với nội dung số nói chung, chương trình truyền hình nói riêng tại Việt Nam và Đài PTTH Vĩnh Long

- Phương pháp phỏng vấn sâu : Đề tài sẽ lược trích, đánh giá các cuộc

phỏng vấn về vấn đề bảo hộ bản quyền trong môi trường kỹ thuật số tại Việt Nam qua các cuộc hội thảo; tin, bài báo, phóng sự về chủ đề này thời gian gần

Trang 16

12

đây Phỏng vấn Ban Giám Đốc Đài PTTH Vĩnh Long gồm Bà Đào Thị Tuyết Vân - Phó Giám Đốc phụ trách về pháp chế, bản quyền và Ông Võ Thành Nhân - Phó Giám Đốc phụ trách về kỹ thuật để làm rõ hơn về hiện trạng và cách xử lý vấn đề vi phạm bản quyền chương trình truyền hình trên internet của Đài thời gian qua

- Phương pháp quan sát trực tiếp: Quan sát quy trình xử lý vi phạm bản

quyền chương trình truyền hình tại Việt Nam hiện nay, cách xử lý giải quyết hiện tại của Đài PTTH Vĩnh Long

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

6.1 Ý nghĩa lý luận

Luận văn trình bày, tổng hợp lý luận báo chí về bảo hộ bản quyền

(quyền tác giả) trong môi trường kỹ thuật số tại một số quốc gia trên thế giới;

quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay về vấn đề này Luận văn cũng đóng góp thêm những tư liệu lý thuyết cho những ai quan tâm đến vấn đề bảo

vệ bản quyền báo chí trên internet

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Luận văn cung cấp thêm những phân tích và dữ liệu thực tiễn về công tác bảo vệ bản quyền chương trình truyền hình trên internet của Đài PTTH Vĩnh Long Từ đó, làm thay đổi về nhận thức của lãnh đạo , phóng viên, biên tập viên Đài hiểu rõ hơn về tác hại của hành vi này để có những chủ trương, giải pháp phù hợp trong việc tuyên truyền, bảo vệ bản quyền nội dung chương trình trên internet của Đài được hiệu quả hơn

7 Kết cấu luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục , Luận văn

có kết cấu gồm 3 chương như sau:

Trang 17

13

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn đề bản quyền và bảo vệ bản quyền chương trình truyền hình trên internet trên thế giới và tại Việt Nam

Chương 2: Thực trạng của vấn đề bảo vệ bản quyền các chương trình

truyền hình trên internet tại Đài PTTH Vĩnh Long

Chương 3: Giải pháp để bảo vệ bản quyền chương trình truyền hình trên internet của Đài PTTH Vĩnh Long

Trang 18

14

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VẤN ĐỀ BẢN QUYỀN VÀ BẢO VỆ BẢN QUYỀN CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH

TRÊN INTERNET TRÊN THẾ GIỚI VÀ TẠI VIỆT NAM

1.1 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến nội dung nghiên cứu đề tài

Để hiểu bản chất của vấn đề bản quyền và bảo vệ bản quyền chương trình truyền hình trên internet; cần nắm rõ các khái niệm, đặc điểm, thuật ngữ liên quan như: sở hữu trí tuệ, bản quyền, chương trình truyền hình, bản quyền chương trình truyền hình, vi phạm bản quyền chương trình truyền hình trên internet…

“Sở hữu trí tuệ” (Intellectual Property) được biết đến từ thế kỷ 15 tại

những quốc gia có các ngành công nghiệp sáng tạo nhằm mục đích quản lý việc sao chép các sáng chế, biểu tượng định dạng và các hình thức sáng tạo khác Quyền SHTT được hiểu là quyền sở hữu kết quả sáng tạo của cá nhân trên cơ sở pháp luật, trong đó quyền của chủ thể sáng tạo được độc quyền trong thời hạn nhất định khi chiếm hữu, sử dụng, định đoạt sản phẩm trí tuệ

do mình tạo ra Các đối tượng SHTT bao gồm: quyền sở hữu công nghiệp, quyền tác giả, quyền liên quan Các quyền liên quan bao gồm: quyền biểu diễn của nghệ sĩ với tác phẩm; chủ thể sản xuất các bản ghi âm và quyền của phát thanh viên trong các chương trình vô tuyến, truyền hình [24, tr.44-50 ]

“Bản quyền”(Copyright) mang nội hàm liên quan đến quyền tác giả Cụm từ “Copyright” gồm hai thành tố “Copy” (sao chép) và “Right”

(quyền) mang nghĩa quyền sao chép Tuy nhiên, dưới góc độ nghiên cứu, vẫn chưa có thuật ngữ nào nhắc tới thuật ngữ tác giả (author) Điều này phần nào

lý giải cho việc trong hệ thống pháp luật của các nước theo Luật Anh - Mỹ

(Common Law); khi bảo hộ tài sản trí tuệ vẫn chưa chú trọng đến nhân thân

tác giả mà quan tâm nhiều đến quyền sao chép, nghĩa là các quyền kinh tế của

Trang 19

15

tác giả Vì vậy, Luật về quyền tác giả của các nước theo Luật Anh - Mỹ được

gọi là “bản quyền” cho phù hợp với thuật ngữ “Copyright”

Tại Việt Nam, Quyền tác giả (bản quyền) là một khái niệm đã được quy định rõ trong Bộ Luật Dân sự 2005, Luật Sở hữu trí tuệ và Nghị Định 100/NĐ-CP/2006 của Chính phủ Đây là quyền hợp pháp của một tác giả (có thể là một cá nhân hoặc pháp nhân) đối với tác phẩm mà mình sáng tạo ra Nói cách khác, bản quyền là quyền hợp pháp nhằm bảo vệ một loạt thể loại tác phẩm gốc, bao gồm sách, chương trình truyền hình, bài hát, ảnh chụp, tranh vẽ và nhiều tác phẩm khác Mỗi nước có cách bảo vệ bản quyền dựa vào luật pháp khác nhau; có nước định rõ vấn đề này trong Luật bản quyền nhưng cũng có nước lồng ghép cùng với các lĩnh vực khác, như Luật SHTT ở Việt Nam

Chương trình truyền hình:

Theo cách hiểu đơn giản thì chương trình truyền hình là một phân đoạn của nội dung dự định để phát sóng trên truyền hình, chương trình truyền hình không phải là một đoạn quảng cáo cho một lĩnh vực nhất định Chương trình truyền hình có thể là một bản sản xuất duy nhất hoặc phổ biến hơn, một loạt các phần liên quan cũng được gọi là một phim bộ truyền hình

Căn cứ theo quy định tại Mục 1 Phần 1 Thông tư 03/2018/TT-BTTTT ngày 20/04/18 về Định mức kinh tế - kỹ thuật về sản xuất chương trình truyền hình do Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành, có quy định:

Chương trình truyền hình là tập hợp các tin, bài trên báo hình theo một chủ đề trong thời lượng nhất định, có dấu hiệu nhận biết mở đầu và kết thúc Theo đó, tư liệu khai thác bao gồm:

Các chương trình truyền hình đã phát sóng được khai thác, sử dụng lại một phần trong sản xuất chương trình mới

Trang 20

16

Các tư liệu hình ảnh, âm thanh do đơn vị sản xuất hoặc của các đơn vị khác sản xuất được sử dụng cho việc sản xuất chương trình truyền hình mới

Theo tác giả Dương Xuân Sơn trong quyển Cơ sở lý luận báo chí truyền

thông, chương trình truyền hình được hiểu như là nội dung thông tin được tổ

chức ổn định theo chu kỳ thời gian Chương trình truyền hình là khái niệm mang tính tương đối có thể hiểu trên 2 phương diện:

Chương trình tổng thể: là toàn bộ nội dung phát sóng của một đài truyền

hình, một kênh truyền hình phát sóng trong một ngày, một tuần…

Chương trình bộ phận: là các chương trình riêng được sản xuất „tương

đối” độc lập để đưa vào khung chương trình phát sóng chung của một đài truyền hình Ví dụ, “Chương trình thời sự”, chương trình “Chào buổi sáng”, chương trình “Gõ cửa ngày mới”… [22,tr.190-191]

Bản quyền chương trình truyền hình

Theo Luật Sở Hữu Trí Tuệ được Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều

có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 11 năm 2019, các Đài PTTH hay tổ chức phát sóng là tổ chức thực hiện việc truyền âm thanh hoặc hình ảnh hoặc cả âm thanh và hình ảnh của tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng đến công chúng bằng phương tiện vô tuyến hoặc hữu tuyến, bao gồm cả truyền qua vệ tinh để công chúng có thể tiếp nhận được

Như vậy với các chương trình truyền hình được phát sóng trên nhiều hạ tầng: sóng truyền hình, internet …các Đài PTTH là chủ thể tổ chức sản xuất, phát sóng chương trình đó, là đơn vị nắm bản quyền chương trình truyền hình được phát sóng Cũng theo quy định của Luật ; tác giả, chủ sở hữu quyền đối với chương trình truyền hình đều có thể trực tiếp nộp đơn hoặc ủy quyền cho

tổ chức đại diện tiến hành thủ tục nộp đơn đăng ký bản quyền chương trình truyền hình tới cơ quan chức năng

Ở nước ta hiện nay, Cục Bản quyền tác giả là cơ quan của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch có chức năng quản lý nhà nước về bảo hộ quyền tác giả,

Trang 21

Luật Sở hữu trí tuệ cũng đã quy định, tác phẩm điện ảnh, tác phẩm báo chí… là đối tượng bảo hộ về bản quyền tác giả Do đó, hành vi sử dụng tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả, không trả tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất khác theo quy định của pháp luật; truyền đạt tác phẩm đến công chúng qua mạng truyền thông và các phương tiện kỹ thuật số mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả… là hành

vi xâm phạm quyền tác giả và được xem là vi phạm bản quyền trên internet nếu nội dung đó được sao chép, đăng tải trái phép trên các nền tảng số trên internet mà chưa được phép của các chủ thể phát sóng

Sự khác biệt và giống nhau giữa bảo vệ bản quyền chương trình truyền hình trên internet và bảo vệ bản quyền trên các phương tiện, loại hình truyền thông khác

Hiện nay, Việt Nam đã có hệ thống các quy định pháp luật về bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan, tuy nhiên tình trạng vi phạm bản quyền các tác phẩm báo chí vẫn diễn ra khá phổ biến Bảo vệ bản quyền chương trình

Trang 22

18

truyền hình trên internet là một trong những loại hình của vấn đề bảo vệ bản quyền tác phẩm báo chí Cùng với việc bảo vệ bản quyền các tác phẩm báo chí khác như báo in, báo điện tử trên các phương tiện, loại hình truyền thông khác, việc bảo vệ bản quyền chương trình truyền hình trên internet có những điểm giống nhau, những thuận lợi và khó khăn

Điểm chung rõ ràng nhất là việc vi phạm bản quyền tác phẩm báo chí trên internet thường xuyên xảy ra trên các nền tảng mạng xã hội nước ngoài nhưng rất phổ biến tại Việt Nam như Youtube, Facebook hoặc các trang web

có máy chủ đặt ở nước ngoài Nếu như ở các tờ báo in lớn vừa có phiên bản báo điện tử thu hút lượng lớn độc giả như: Tuổi Trẻ, Thanh Niên, Pháp Luật Tp.Hồ Chí Minh, vi phạm bản quyền có thể đến từ những trang web có địa chỉ rõ ràng dễ dàng phát hiện và xử lý bởi các cơ quan quản lý nhà nước Trong khi đó việc xử lý vi phạm bản quyền chương trình truyền hình của các videoclip vi phạm trên của các nền tảng này lại áp dụng theo chính sách riêng của Youtube, Facebook dẫn đến việc nhiều videoclip dù có nội dung vi phạm

rõ ràng nhưng chỉ cần thay đổi định dạng, chỉnh sửa âm thanh cũng có thể lách được các công cụ rà soát tự động của nền tảng này và tồn tại Mặc khác,

vi phạm bản quyền chương trình truyền hình trên internet có thể đến từ những trang web không rõ nguồn gốc, không rõ cơ quan chủ quản, máy chủ đặt ở nước ngoài; rất khó khăn trong xử lý vi phạm vì không biết phải liên hệ với ai để xử lý vấn đề bản quyền

Điểm chung thứ hai của vấn đề bảo vệ bản quyền chương trình truyền hình trên internet và bảo vệ bản quyền các loại hình truyền thông khác là việc rất khó khăn để truy tìm bằng chứng vi phạm bản quyền Trên môi trường internet và chỉ với vài thao tác đơn giản, một videoclip vi phạm bản quyền, một bài viết đăng tải trên trang web hay mạng xã hội có nội dung sao chép từ một đơn vị truyền thông khác dễ dàng được gỡ bỏ

Trang 23

19

1 2 Pháp luật về bảo vệ bản quyền chương trình truyền hình

Tội phạm sở hữu công nghiệp nói chung, trong đó có lĩnh vực vi phạm bản quyền chương trình truyền hình trên internet là loại tội phạm xâm hại giá trị tài sản lên tới trăm hàng tỷ đô la Mỹ trên toàn cầu và hiện đã với tới gần như tất cả các loại sản phẩm trên toàn thế giới Ảnh hưởng của loại tội phạm này dẫn đến hàng loạt các phản ứng dây chuyền tác động vào người dân, doanh nghiệp và chính phủ các nước Loại tội phạm này cũng hạn chế cơ hội tái đầu tư, nghiên cứu và phát triển của các doanh nghiệp và ngành công nghiệp mà sự phát triển phụ thuộc chính vào tài sản trí tuệ

Theo MUSO (công ty trụ sở tại Anh cung cấp thông tin về thị trường

nội dung số), xu hướng xem phim và các chương trình truyền hình trên

internet ngày càng tăng; đặc biệt, việc xem phim vi phạm bản quyền trực

tuyến chiếm hơn 76,5% của toàn bộ các loại hình vi phạm phim và chương trình truyền hình [42, pg 31-45] Cuộc khảo sát gần đây được

MUSO thực hiện tại 28 quốc gia thuộc Cộng đồng châu Âu; hơn 80% trong

số 8.000 người cho rằng chi phí xem nội dung trên nhiều dịch vụ phát trực tuyến quá đắt Quá nửa trong số họ cho biết sẽ tìm đến các trang web chứa nội dung không bản quyền Cũng theo MUSO, năm 2018, đã có đến 189 tỷ lượt truy cập vào các trang web có nội dung không bản quyền - nói cách khác, cứ mỗi người dùng internet thì họ sẽ có trung bình 56,4 lần truy cập vào các

trang “web lậu" [42, pg.37-51] Trong đợt 1 đại dịch viêm đường hô hấp cấp

(COVID-19), nhiều quốc gia thực hiện việc giãn cách xã hội, người dân tự cách ly tại nhà đã làm gia tăng đột biến lượng người truy cập vào các nền tảng giải trí trực tuyến hay xem truyền hình Từ nửa cuối tháng 2/2020 đến nửa đầu tháng 3/2020, tỉ lệ người truy cập đã tăng lên tới 33% so nửa cuối tháng 1/2020 đến nửa cuối tháng 02/2020 [41, pg.1-3 ]

Trang 24

Bảng 1.1 Thống kê tỷ lệ người xem phim qua nền tảng số và TV trong mùa

dịch COVID -19 ở một số quốc gia châu Âu

Bảng 1.2 Bản đồ minh hoạ của MUSO về tỷ lệ người xem phim qua nền tảng

số và TV trong mùa dịch COVID -19 ở một số quốc gia châu Âu

Theo số liệu thống kê từ trang https://wearesocial.com/; tính đến tháng 7/2020, do ảnh hưởng qua 2 đợt tái bùng phát dịch bệnh COVID -19; số lượng người dùng internet cho hoạt động xem phim và các chương trình giải trí, gameshow đều tăng trong thời gian thực hiện giãn cách xã hội Chính vì vậy, vấn đề bảo vệ bản quyền nội dung số nói chung và bản quyền chương

Trang 25

21

trình truyền hình nói riêng trên internet luôn được các quốc gia trên thế giới chú trọng và quy định bằng những bộ luật cụ thể

Bảng 1.3 Gia tăng người xem phim và chương trình giải trí qua đại dịch

COVID-19 theo thống kê của https://wearesocial.com/

1.2.1 Pháp luật về bảo vệ bản quyền chương trình truyền hình trên internet tại một số quốc gia trên thế giới

* Úc: Luật bản quyền thông qua năm 2015 cho phép chủ sở hữu bản

quyền đề nghị Toà liên bang yêu cầu nhà cung cấp dịch vụ internet (ISP) ngăn chặn truy cập đến các trang trực tuyến bên ngoài lãnh thổ liên bang Úc vi phạm bản quyền Các nhà làm luật nước này đang nghiên cứu cơ chế cảnh báo người sử dụng vi phạm bản quyền bằng cách ISP bật cảnh báo khách hàng vi phạm Nếu 3 lần vi phạm nhận cảnh báo trong 1 năm, chủ sở hữu bản quyền chương trình truyền hình yêu cầu xác định người vi phạm để khởi kiện

Úc cũng thành lập một tổ chức phi lợi nhuận là Hội đồng bản quyền (Australia Copyright Council - https://www.copyright.org.au/) để bảo vệ quyền lợi của những cá nhân, tổ chức thành viên tham gia bị vi phạm bản quyền tác phẩm của mình; kiến nghị với chính phủ về những vấn đề pháp lý

Trang 26

22

liên quan đến bản quyền … [38, pg.1-5 ] (Xem thêm phần Tài liệu tham

khảo về Các vụ việc điển hình về tác hại của vi phạm bản quyền truyền hình tại Úc)

* New Zealand: Luật bản quyền năm 1994 sửa đổi năm 2011 của New

Zealand cho phép cơ chế phát hiện việc vi phạm bản quyền trên internet, yêu cầu các ISP cảnh báo Sau 3 lần cảnh báo trong 9 tháng có thể yêu cầu toà xử

lý.[39, pg.1-2 ] (Xem thêm phần Tài liệu tham khảo về Các vụ việc điển

hình về tác hại của vi phạm bản quyền truyền hình tại New Zealand )

* Nhật Bản: Luật bản quyền Nhật Bản với 8 chương 124 điều chính

thức có hiệu lực 1/1/1971 và nhiều lần được bổ sung, sửa đổi , quy định rất rõ các hành vi vi phạm bản quyền với mức phạt tiền và phạt tù cụ thể Vấn đề này cũng được quy định trong Luật hình sự với hình thức xử phạt tiền rất nặng, có thể khởi tố, phạt tù Năm 2005, Nhật Bản lập ra Toà sở hữu trí tuệ (https://www.ip.courts.go.jp) chuyên xử các vụ án liên quan đến SHTT; trong

đó, có các cụ án liên quan đến bản quyền chương trình truyền hình trên

internet [36, pg.1-3 ]

Một số cơ quan chuyên xử lý các vấn đề về bản quyền tại Nhật Bản là:

- Trung tâm thông tin và nghiên cứu bản quyền – CRIC: Copyright Research and Information Center (https://www.cric.or.jp) thành lập năm

1959 trực thuộc chính phủ thực thi các hoạt động và chương trình bảo vệ bản quyền và quyền liên quan Viện nghiên cứu bản quyền CRIC thành lập năm

1999 là cơ quan nghiên cứu chuyên về bản quyền [42, pg.4-9 ]

- Viện Sở hữu trí tuệ ( The Institute of Intellectual Property - IIP) thành lập năm 1989 chuyên nghiên cứu các vấn đề về SHTT (trong đó có bản quyền); đề xuất những thay đổi, điều chỉnh của hệ thống pháp lý về SHTT

cho phù hợp với điều kiện thực tế [40, pg.3-7 ] (Xem thêm phần Tài liệu

Trang 27

23

tham khảo về vụ việc điển hình về tác hại của vi phạm bản quyền truyền hình tại Nhật Bản )

* Malaysia: Luật Bản quyền đầu tiên của Malaysia có hiệu lực từ

1/12/1987 và được điều chỉnh, bổ sung, sửa đổi vào các năm 1990, 1999,

2000, 2003 và 2012 Theo đó, các chương trình truyền hình hay phim cho dù được phát sóng, phát từ DVD hay đăng tải trên internet đều phải được cấp phép Nếu phát hiện vi phạm bản quyền; Luật quy định buộc gỡ bỏ nội dung

vi phạm trong 48 giờ; riêng với ISP phải ngăn chặn truy cập, kể cả website

nước ngoài [43, pg.1-12 ]

* Thái Lan: Trước năm 2015, Thái Lan không có luật riêng để xử lý

các vi phạm quyền tác giả trên internet Năm 2015, Thái Lan đã sửa đổi Luật Quyền tác giả năm 1994 Luật Quyền tác giả năm 2015 đã bổ sung quy định

về trách nhiệm của các ISP Khi tác giả bị thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả trên internet, các biện pháp sau đây có thể được thực hiện:

- Truy cứu trách nhiệm hình sự thông qua Cục xử lý tội phạm công nghệ , Cục xử lý tội phạm kinh tế của Cảnh sát Vương quốc Thái Lan

- Yêu cầu ISP xoá bỏ trang thông tin có nội dung xâm phạm quyền tác giả thông qua các tổ chức tư nhân như : Hiệp hội các nhà sản xuất phim ảnh Thái Lan

- Tác giả tự yêu cầu ISP xoá bỏ thông tin xâm phạm quyền của mình

- Khởi kiện dân sự tại Toà án SHTT và thương mại quốc tế

Thái Lan còn thành lập Hiệp hội các nhà sản xuất phim ảnh Thái Lan (TECA), Liên minh kinh doanh phần mềm (BSA)… hỗ trợ, bảo vệ chủ sở hữu bản quyền nội dung trên internet [26, tr 59-64]

* Trung Quốc: Luật Bản quyền Trung Quốc có 6 chương với 60 điều,

ghi rõ: “Luật Bản quyền là để nhằm mục đích bảo vệ quyền tác giả đối với

các phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học và các quyền và lợi ích liên quan

Trang 28

24

đến quyền tác giả, khuyến khích sự sáng tạo và phổ biến các tác phẩm để đóng góp nhằm xây dựng xã hội văn minh, thúc đẩy sự phát triển và sự thành

công của văn hóa, xã hội và khoa học”

Theo Quyết định của Ủy ban thường vụ Quốc hội Trung Quốc về xử lý hình sự các trường hợp xâm phạm bản quyền, từ ngày 01/01/1995, các Tòa án Trung Quốc đã bắt đầu xử lý hình sự đối với hành vi xâm phạm bản quyền Ngày 14/3/1997, tại kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa 8 của Trung Quốc đã thông qua Luật Hình sự và trong đó tội phạm về sở hữu trí tuệ được quy định thành

một phần riêng [20, tr 154-171] (Xem thêm phần Tài liệu tham khảo Diễn

giải bổ sung về Luật bản quyền Trung Quốc)

* Quy định về bảo hộ bản quyền tại một số quốc gia khác [43, tr 1-12]

- Indonesia: Tháng 10/2014 Indonesia thông qua Luật Bản quyền, có

hiệu lực từ tháng 07/2015 Theo đó, cho phép ngăn chặn website, có cơ chế cho cộng đồng phát hiện và báo cáo về vi phạm bản quyền Các website chỉ bị

chặn từ 8 đến 12 ngày, sau đó cần báo cáo toà trong vòng 14 ngày

- Singapore: Luật bản quyền có hiệu lực từ tháng 12/2014 cho phép

chặn các website vi phạm bản quyền nội dung truyền hình trên internet

- Ấn Độ:Luật bản quyền cho phép ngăn chặn website vi phạm Năm

2014, toà yêu cầu các nhà cung cấp dịch vụ internet (ISP) ngăn chặn trên 400

website

- Hàn Quốc: Luật Bản quyền năm 2009 cho phép chặn truy cập trực

tuyến, chặn cả website nước ngoài

- Anh: Toà có thể yêu cầu các nhà cung cấp dịch vụ internet (ISP) chặn

website Có cơ chế cảnh báo người dùng thông qua Tổ chức Creaative Content United Kingdom Có đơn vị cảnh sát sở hữu trí tuệ triển khai biện pháp làm giảm nguồn thu của các website vi phạm Các bên không hợp tác

với cảnh sát sẽ bị ngăn chặn

Trang 29

25

Tóm lại: Hiện nay, tại nhiều nước trên thế giới, hoạt động quản lý bản

quyền truyền hình trên internet chủ yếu áp dụng biện pháp ngăn chặn mang tính chất kỹ thuật; ở một số nước thực hiện việc này phải có lệnh toà án Rất ít nước có thể làm mạnh như Nhật Bản khi áp dụng hình sự hoá hành vi vi phạm bản quyền Với Vương quốc Anh, có một tổ chức độc lập như Creaative

Content United Kingdom (CCUK) và cả cảnh sát SHTT hoạt động hiệu quả

1.2.2 Pháp luật về bảo vệ bản quyền chương trình truyền hình trên internet tại Việt Nam

Kể từ khi nước ta mở cửa theo tinh thần Nghị quyết Đại Hội Đảng toàn quốc lần 6, Việt Nam đã không ngừng phát triển và ngày càng đạt được những thành tựu đáng kể Trong xu thế hội nhập quốc tế sâu rộng, nước ta đã

và đang tham gia nhiều Điều ước quốc tế song phương về SHTT Cụ thể như:

- Hiệp định giữa Việt Nam và Hoa Kỳ về thiết lập quan hệ quyền tác giả,

- Hiệp định khung về thương mại và đầu tư Việt Nam – Hoa Kỳ (TIFA),

ký ngày 21/6/2007, Cục Bản quyền tác giả được yêu cầu cử người tham gia đàm phán;

- Hiệp định hợp tác kinh tế toàn diện ASEAN – Nhật Bản, ký ngày 8/10/2003;

Trang 30

- Hiệp định khung ASEAN về hợp tác sở hữu trí tuệ, ký ngày 15/12/1995;

- Hiệp định thương mại tự do ASEAN – Trung Quốc (AKFTA), có hiệu lực ngày 1/7/2005;

- Hiệp định thương mại tự do ASEAN – Hàn Quốc (ACFTA), ký ngày 16/5/2006;

- Hiệp định thương mại tự do ASEAN – Australia – New Zealand (AANFTA), ký ngày 27/2/2009;

- Hiệp định thương mại tự do ASEAN – Ấn Độ (AIFTA), ký ngày 13/8/2009;

- Hiệp định giữa Việt Nam và Nga về hợp tác trong lĩnh vực bảo hộ quyền SHTT, có hiệu lực từ 22/2/2010;

- Các cam kết của Việt Nam khi tham gia Tổ chức thương mại thế giới WTO;

- Cam kết của các nhà lãnh đạo tại các Hội nghị của APEC…

Qua phân tích trên cho thấy, vấn đề SHTT nói chung và thực thi bản quyền, quyền tác giả nói riêng trong nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội …luôn được Đảng và nhà nước ta quan tâm, chú trọng; xem như

là một trong những yếu tố then chốt để Việt Nam hội nhập toàn diện, sâu rộng trong bối cảnh toàn cầu hoá

Cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan tham gia thực thi về SHTT

- Cơ quan quản lý nhà nước

Trang 31

27

Theo Luật SHTT, Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về SHTT , để thực hiện thẩm quyền của mình, Chính phủ giao 3 cơ quan tham gia công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực này là:

+ Bộ KH và CN chịu trách nhiệm trước Chính phủ chủ trì, phối hợp với

Bộ VH, TT và DL, Bộ NN và PTNT thực hiện quản lý nhà nước về SHTT và thực hiện quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp

+ Bộ VH, TT và DL trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản lý nhà nước về quyền tác giả và quyền liên quan

+ Bộ NN và PTNT trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản lý nhà nước về quyền đối với giống cây trồng

Ngoài ra, các bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong phạm

vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ KH và CN,

Bộ VH, TT và DL, Bộ NN và PTNT , UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong việc quản lý nhà nước về SHTT UBND các cấp thực hiện quản lý nhà nước về SHTT tại địa phương theo thẩm quyền

Một điều bất hợp lý dễ nhận thấy là các hành vi vi phạm SHTT xảy ra chủ yếu ở môi trường báo chí, xuất bản, viễn thông, internet là lĩnh vực thuộc quyền quản lý nhà nước của Bộ TT và TT, nhưng Bộ TT và TT lại không được giao thẩm quyền quản lý nhà nước về SHTT

- Cơ quan thực thi

Trang 32

28

Bảng 1.4 Hệ thống quản lý nhà nước về quyền tác giả và quyền liên quan

Ở nước ta, các quy định pháp luật về SHTT nói chung và bản quyền, quyền tác giả đối với chương trình truyền hình trên internet nói riêng được quy định trong Bộ luật Dân sự từ năm 1995, sau đó được thể hiện trong Luật SHTT và nhiều văn bản dưới luật Cụ thể là:

- Nghị định số 100/2006/NĐ-CP của Chính phủ hướng dẫn Bộ luật Dân

sự, Luật SHTT về quyền tác giả và quyền liên quan;

- Nghị định số 105/2006/NĐ-CP của Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật SHTT về bảo vệ quyền SHTT và quản lý nhà nước về SHTT;

- Nghị định số 119/2010/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 105/2006/NĐ-CP;

- Nghị định số 85/2011/NĐ-CP ngày 20/9/2011 Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 100/2006/NĐ-CP ngày 21 tháng 9 năm 2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Dân sự, Luật SHTT về quyền tác giả và quyền liên quan;

Trang 33

29

Về hệ thống chế tài, liên quan đến SHTT, Việt Nam hiện có 3 cơ chế:

- Dân sự: Bản chất vấn đề SHTT là dân sự, ở các nước giải quyết tranh

chấp về SHTT thường sử dụng cơ chế này Nhưng ở Việt Nam, cơ chế này ít được quan tâm, lựa chọn do có nhiều bất cập như: mất nhiều thời gian, hiệu quả không cao, nhiều thủ tục Trên thực tế chỉ có một số vụ việc giải quyết bằng cơ chế này

- Hình sự: Giống cơ chế dân sự, cơ chế hình sự hầu như không được áp

dụng, một trong những nguyên nhân của vấn đề này là quy định chưa rõ ràng, khó áp dụng

Điều 225 Bộ luật hình sự 2015 quy định rõ về các mức phạt cho hành vi

vi phạm bản quyền Đáng chú ý là theo khoản 1 Điều 225, hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan của người vi phạm có thể bị xem là cấu thành tội này và phải chịu hình phạt tiền (hình phạt chính) từ 50.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng, hoặc bị cải tạo không giam giữ đến 3 năm, hoặc bị phạt

tù từ 6 tháng đến 3 năm (Xem cụ thể ở Tài liệu tham khảo):

- Hành chính: đây là cơ chế được sử dụng nhiều nhất, các tổ chức, cá nhân

bị xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan thường chọn cơ chế này do thủ tục đơn giản, nhanh gọn, hiệu quả

Chế tài hành chính hiện nay quy định tại Nghị định số 131/2013/NĐ-CP ngày 16 tháng 10 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan (Xem cụ thể ở Tài liệu tham khảo)

Có thể nói, vấn đề sở hữu trí tuệ, trong đó có vấn đề bản quyền nói chung

và bản quyền chương trình truyền hình trên internet nói riêng được Đảng và nhà nước ta rất quan tâm từ việc xây dựng hệ thống pháp luật chuyên ngành đến công tác chỉ đạo, điều hành và triển khai thực hiện Về cơ bản, các vấn đề liên quan đến sở hữu trí tuệ đã được pháp luật điều chỉnh ở văn bản luật có giá trị pháp lý cao (Bộ luật dân sự, Luật sở hữu trí tuệ ) Tuy vậy, thực tiễn

Trang 34

vụ trung gian (cho thuê máy chủ) chưa gắn được trách nhiệm của họ trong

việc chủ động ngăn chặn hành vi vi phạm, họ cung cấp dịch vụ và thu tiền, hầu như không phải chịu chế tài gì khi người khác sử dụng dịch vụ của họ để kinh doanh thu lợi trái pháp luật [20, tr 177-182]

Những bất cập này đã được nhận rõ và được Quốc Hội khoá 14 đưa vào chương trình xây dựng, sửa đổi pháp luật năm 2021 của Quốc hội Theo đó, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 106/2020/QH14 về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2021, điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2020 Tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa 14 (tháng 10/2021),

6 dự án trình Quốc hội cho ý kiến gồm: Luật Cảnh sát cơ động; Luật Điện ảnh (sửa đổi); Luật Kinh doanh bảo hiểm (sửa đổi); Luật Thanh tra (sửa đổi); Luật Thi đua, khen thưởng (sửa đổi); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ

Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban hành Quyết định số 999/QĐ-TTg ngày 11/7/2020 về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2021, theo đó Bộ Khoa học và Công nghệ được giao chủ trì, phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và các đơn vị có liên quan xây dựng Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ (Dự án Luật) Dự thảo Tờ trình và Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ đang được đăng tải lấy ý kiến trên Cổng thông tin

Trang 35

31

điện tử Chính phủ, Cổng thông tin điện tử Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Cổng thông tin điện tử Bộ Khoa học và Công nghệ,… từ ngày 17/11/2020 đến ngày 17/12/2020

Thực tiễn qua hơn 15 năm thi hành, cùng với việc hội nhập quốc tế sâu rộng của Việt Nam trong thời gian qua cho thấy Luật Sở hữu trí tuệ còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập nhất định Để thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về hoàn thiện thể chế về sở hữu trí tuệ; đảm bảo phù hợp với các văn bản trong hệ thống pháp luật, đặc biệt là các quy định của

Bộ luật Dân sự, pháp luật chuyên ngành; đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, yêu cầu của công cuộc cải cách thủ tục hành chính cũng như để bảo đảm thi hành các cam kết về sở hữu trí tuệ trong các Hiệp định thương mại tự

do (Free Trade Agreement – FTA) mà Việt Nam đã và đang đàm phán hoặc

đã ký kết, phê chuẩn, cần thiết phải sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật

Sở hữu trí tuệ trên cơ sở phát huy ưu điểm và khắc phục các hạn chế của Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành

1 3 Khái quát về Lý thuyết cấu trúc chức năng

Lý thuyết cấu trúc chức năng là lý thuyết mô tả các cấu trúc xã hội và các chức năng tương ứng với mỗi loại hình cấu trúc đó Lý thuyết cấu trúc chức năng đầu tiên chính là lý thuyết phân tầng xã hội Vào những năm 1940

và 1950 của thế kỷ 20, thuyết cấu trúc chức năng đạt được đỉnh cao phát triển trong nghiên cứu xã hội học với nhiều nhà xã hội học đầu tư, nghiên cứu, xây dựng nền tảng cho lý thuyết này Nổi bật là Talcott Parsons (1902-1979), Robert Merton (1910-2003) và Peter Blau (1918-2002) Theo Parsons, hệ thống xã hội được cấu thành từ bốn tiểu hệ thống, tương ứng với bốn loại nhu cầu, chức năng cơ bản của hệ thống xã hội được thể hiện qua sơ đồ AGIL:

- A(Adaptation) Thích ứng với môi trường tự nhiên vật lý xung quanh

Trang 36

32

- G (Goal Attainment): Hướng đích- huy động các nguồn lực nhằm

vào các mục đích đã xác định

- I (Integration): Liên kết - phối hợp các hoạt động, điều hoà và giải

quyết những khác biệt, mâu thuẫn

- L (Latent-Pattern Maintenance): Duy trì khuôn mẫu lặn - tạo ra sự

ổn định, trật tự

Bảng 1.5 Sơ đồ lí thuyết AGIL: hệ thống bốn chức năng của Parsons

Thuyết cấu trúc chức năng nhấn mạnh sự đồng thuận và trật tự đang tồn tại trong xã hội, tập trung vào ổn định xã hội và các giá trị cộng đồng chia sẻ

Từ quan điểm này, việc vô tổ chức trong hệ thống, chẳng hạn như hành vi lệch lạc , dẫn đến thay đổi vì các thành phần xã hội phải điều chỉnh để đạt được sự ổn định Khi một phần của hệ thống là không làm việc hoặc là rối loạn chức năng, nó ảnh hưởng đến tất cả các bộ phận khác và tạo ra các vấn

đề xã hội, dẫn đến sự thay đổi xã hội

Với vấn đề bảo vệ bản quyền chương trình truyền hình trên internet của Đài PTTH Vĩnh Long, hành vi vi phạm bản quyền được xem như vi phạm pháp luật, cần phải được thay đổi, điều chỉnh để đạt đúng theo những khuôn mẫu, qui định đã được pháp luật qui định Đây cũng là khung lý thuyết cơ bản

mà tác giả đã áp dụng để thực hiện Luận văn của mình

Trang 37

33

Tiểu kết Chương I

Chương 1 của Luận văn đã làm rõ các khái niệm và thuật ngữ có liên quan tới đề tài: sở hữu trí tuệ, bản quyền, chương trình truyền hình, bản quyền chương trình truyền hình, vi phạm bản quyền chương trình truyền hình trên internet, điểm giống nhau và khác biệt cơ bản của bảo vệ bản quyền chương trình truyền hình trên internet so với bảo vệ bản quyền trên các phương tiện, loại hình truyền thông khác

Chương này cũng đi sâu phân tích những khía cạnh pháp lý trong việc bảo vệ bản quyền chương trình truyền hình trên internet tại một số quốc gia trên thế giới như Úc, NewZealand, Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia, Malaysia …

Chương 1 cũng tập trung đi sâu nghiên cứu những cơ sở pháp lý, văn bản pháp luật liên quan đến vấn đề này tại Việt Nam hiện nay; cụ thể hoá các hành vi vi phạm cùng với mức xử phạt cụ thể…

Từ những phân tích, nghiên cứu trên, bản thân rút ra hai luận điểm sau: (1) Tất cả các quốc gia trên thế giới đều có sự quan tâm nhất định và luật hoá hành vi vi phạm bản quyền chương trình truyền hình trên internet Có quốc gia cụ thể hoá bằng Luật bản quyền hẳn hoi với mức xử phạt vi phạm rất cao Nhiều sự vụ, sự việc được xét xử tại Toà bản quyền hẳn hoi tuy nhiên, mức độ thành công của chủ khởi kiện cũng rất ít

(2) Vi phạm bản quyền chương trình truyền hình trên internet thật sự là một vấn đề nghiêm trọng hiện nay tại nhiều quốc gia trên thế giới vì nó tước

bỏ đi sự công bằng của các cá nhân, chủ thể sáng tạo nên tác phẩm truyền hình Vi phạm bản quyền chương trình truyền hình trên internet cũng là yếu

tố gây thiệt hại đáng kể về mặt kinh tế cho các cá nhân, chủ thể có tác phẩm truyền hình bị vi phạm bản quyền trên internet Vấn đề này sẽ được phân tích

rõ ràng hơn qua thực trạng tại Đài PTTH Vĩnh Long ở chương 2

Trang 38

34

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ BẢO VỆ BẢN QUYỀN CÁC CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH TRÊN INTERNET CỦA ĐÀI

PTTH VĨNH LONG

2 1 Quá trình hình thành và phát triển Đài PTTH Vĩnh Long

- Đài PTTH Cửu Long chịu sự quản lý của UBND tỉnh Cửu Long được thành lập vào ngày 22 tháng 12 năm 1977 Cuối năm 1992, do yêu cầu phân chia lại địa giới hành chính, tỉnh Cửu Long được tách thành 2 tỉnh Vĩnh Long

và Trà Vinh Cũng như nhiều Sở, ngành khác, hai Đài PTTH Vĩnh Long và Đài PTTH Trà Vinh được thành lập Cũng trong năm 1992, Đài PTTH Vĩnh Long chính thức phát sóng truyền hình vào ngày 22 tháng 12 và là địa phương sớm có kênh truyền hình ở khu vực ĐBSCL

- Từ năm 2002 đến nay, Đài PTTH Vĩnh Long được UBND tỉnh Vĩnh Long giao quyền tự chủ về tài chính, thực hiện tự cân đối thu chi, bảo đảm hoạt động của mình Không những tự chủ trong hoạt động, Đài còn làm tốt nghĩa vụ nộp thuế cho ngân sách địa phương, mỗi năm mỗi tăng Một số cột mốc đáng chú ý là:

+ Năm 2002 nhận Huân chương lao động hạng 2 Thực hiện tự cân đối 100%

+ Năm 2007, Nhận Huân chương lao động hạng 1

+ Năm 2008, Đài đẩy mạnh sản xuất phim Việt với 350 – 450 tập/năm mạng truyền hình cáp THVLc đưa vào phục vụ với 80 kênh

+ Năm 2010, hoàn chỉnh hạ tầng mạng máy tính và lưu trữ trong sản xuất chương trình phát thanh và truyền hình và phát sóng truyền hình tự động Kênh THVL1 phát sóng trên vệ tinh VINASAT-1 và nhiều mạng truyền hình cáp trong nước

+ Năm 2012, nhận Huân chương độc lập hạng 3

Trang 39

35

Bảng 2.1 Phối cảnh Trụ sở Đài PTTH Vĩnh Long

+ Năm 2016, ngưng phát sóng truyền hình tương tự analog để chyển sang phát sóng truyền hình kỹ thuật số mặt đất theo lộ trình số hóa của Chính phủ

+ Năm 2017, kỷ niệm 40 năm thành lập Đài và 25 năm phát sóng truyền hình Khởi công xây dựng Nhà hát truyền hình và Khu nhà làm việc mới, Công viên truyền hình, Khu ghi hình phim trường ngoài trời Triển khai đề án

số hóa , phủ sóng DVB T2 kênh 34 các tỉnh ĐBSCL và miền Đông Nam Bộ + Năm 2020, Đài vinh dự đón nhận danh hiệu Anh hùng lao động thời

kỳ đổi mới ; hoàn thiện và đưa các công trình đầu tư cơ sở vật chất lớn của Đài vào hoạt động

2.2 Tổ chức bộ máy Đài PTTH Vĩnh Long

- Vị trí chức năng

Đài PTTH Vĩnh Long là đơn vị sự nghiệp trực thuộc UBND tỉnh Vĩnh Long, thực hiện chức năng báo chí là cơ quan ngôn luận của Đảng bộ, chính

Trang 40

+ Tổ chức hoạt động quảng cáo, kinh doanh, dịch vụ, tiếp nhận sự tài trợ, ủng hộ của các cá nhân trong và ngoài nước

+ Quản lý bộ máy, biên chế, tài chính theo quy định của pháp luật

+ Thực hiện chế độ chính sách lương thưởng, tuyển dụng, đãi ngộ, khen thưởng, kỷ luật, công tác đào tạo, bồi dưỡng về nghiệp vụ cho cán bộ, viên chức,…

- Cơ cấu tổ chức bộ máy

+ Tổng số cán bộ, viên chức của Đài PTTH Vĩnh Long hiện nay gần 500 người hoạt động ở 12 phòng chức năng và 02 đơn vị trực thuộc

Bảng 2.2 Sơ đồ tổ chức bộ máy hoạt động Đài PTTH Vĩnh Long

Ngày đăng: 14/06/2021, 10:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w