Chỉ thị số 24/CT-TTg ngày 17/9/2012 của Thủ Tướng Chính phủ Về việc tăng cường thực hiện cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, nhấn mạnh: “Đẩy mạnh công tác thông t
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
-
NGUYỄN TRUNG HIẾU
THÔNG ĐIỆP VỀ CUỘC VẬN ĐỘNG
“NGƯỜI VIỆT NAM ƯU TIÊN DÙNG HÀNG VIỆT NAM”
TRÊN BÁO CHÍ KHU VỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
Vĩnh Long – 2020
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI &NHÂN VĂN
-
NGUYỄN TRUNG HIẾU
THÔNG ĐIỆP VỀ CUỘC VẬN ĐỘNG
“NGƯỜI VIỆT NAM ƯU TIÊN DÙNG HÀNG VIỆT NAM” TRÊN BÁO CHÍ KHU VỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Báo chí học
Mã số: 8320101.01 UD
Người hướng dẫn khoa học: TS TRẦN THỊ THU NGA
Vĩnh Long - 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, dưới sự hướng dẫn hướng dẫn khoa học của TS Trần Thị Thu Nga Các số liệu thống kê, kết quà nghiên cứu, phát hiện mới là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kì công trình nghiên cứu khoa học nào trước đây Luận văn có sử dụng, phát triển, kế thừa một số tư liệu, số liệu, kết quả nghiên cứu từ các sách, giáo trình, tài liệu,…liên quan đến nội dung đề tài
Tác giả luận văn
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian học tập và thực hiện luận văn Cao học, tôi đã nhận được rất nhiều sự chỉ dẫn nhiệt tình của Thầy/Cô Viện Đào tạo Báo chí và Truyền Thông, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn (ĐHQGHN) và Học viện Báo chí và Tuyên truyền Tôi vô cùng quý trọng, biết ơn sự chỉ bảo đó và xin chân thành gửi lời tri
ân đến toàn thể quý Thầy/Cô Đặc biệt, tôi xin gửi lời cám ơn sâu sắc nhất đến TS Trần Thị Thu Nga, Cô đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn Và hơn thế nữa, trong thời gian thực hiện luận văn, tôi đã học ở TS Trần Thị Thu Nga tinh thần trung thực, nghiêm túc trong nghiên cứu khoa học và nhiệt huyết trong công việc
Xin gửi lời cám ơn đến Ban Biên tập Nhật Báo Cần Thơ, Báo Vĩnh Long, Báo
Cà Mau; Ban Giám đốc các Đài PT-TH Cần Thơ, Vĩnh Long, Cà Mau và toàn thể các Biên tập viên, Phóng viên Nhật Báo Cần Thơ, Báo Vĩnh Long, Báo Cà Mau; Đài PT-
TH Cần Thơ, Vĩnh Long, Cà Mau đã hỗ trợ tôi trong suốt tiến trình thu thập dữ liệu
Tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, những người luôn ủng hộ, động viên, tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành luận văn
Trong quá trình thực hiện đề tài luận văn chắc chắn không tránh khỏi những hạn chế nhất định Tác giả mong nhận được sự đóng góp chân thành của Hội đồng khoa học, quý Thầy/Cô và bạn bè đồng nghiệp để luận văn hoàn thiện tốt hơn
Cần Thơ, ngày tháng năm 2020
Nguyễn Trung Hiếu
Trang 5MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 4
1 Lý do lựa chọn đề tài 4
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 5
3.Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 11
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12
5 Phương pháp nghiên cứu 12
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 13
7 Kết cấu của luận văn 14
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CUỘC VẬN ĐỘNG “NGƯỜI VIỆT NAM ƯU TIÊN DÙNG HÀNG VIỆT NAM” TRÊN BÁO CHÍ KHU VỰC ĐBSCL 15
1.1 Hệ thống các khái niệm 15
1.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” 23
1.3 Đặc trưng, ưu điểm và hạn chế của các loại hình báo chí truyền thông về cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” 27
1.4 Những yêu cầu đặt ra đối với thông điệp về cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” báo chí ĐBSCL 32
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TRUYỀN THÔNG THÔNG ĐIỆP VỀ CUỘC VẬN ĐỘNG “NGƯỜI VIỆT NAM ƯU TIÊN DÙNG HÀNG VIỆT NAM” TRÊN BÁO CHÍ KHU VỰC ĐBSCL 37
2.1 Tần suất, mật độ thông tin cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” trên các tờ báo trong diện khảo sát 37
2.2 Nội dung chính về cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” trên báo chí khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long 44
2.3 Hình thức chuyển tải thông điệp cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” trên báo chí khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long 47
2.4 Thành công, hạn chế, nguyên nhân thành công và hạn chế của báo chí Đồng bằng Sông Cửu Long trong việc truyền tải thông điệp “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” 51
Trang 62.5 Những vấn đề đặt ra đối với thực trạng truyền thông thông điệp cuộc vận động
“Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam trên báo chí ĐBSCL 55
CHƯƠNG 3: NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TRUYỀN THÔNG, THÔNG ĐIỆP CUỘC VẬN ĐỘNG “NGƯỜI VIỆT NAM ƯU TIÊN DÙNG HÀNG VIỆT” TRÊN BÁO CHÍ ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 59
3.1 Những vấn đề đặt ra đối với việc truyền thông điệp cuộc vận động trên báo chí Đồng bằng sông Cửu Long 59
3.2 Các giải pháp nâng cao chất lượng thông điệp về cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” trên báo chí Đồng bằng sông Cửu Long 61
3.2.1 Nhóm giải pháp về định hướng truyền thông thông thông điệp cuộc vận động trên báo chí Đồng bằng sông Cửu Long 61
3.2.2 Nhóm giải pháp về cơ chế chính sách 66
3.2.3 Nhóm giải pháp về nội dung, phương thức truyền thông thông điệp trên báo chí Đồng bằng Sông Cửu Long 68
3.2.4 Nhóm giải pháp về đội ngũ thông tin tuyên truyền, cơ sở vật chất 75
3.2.5 Nhóm giải pháp về công chúng báo chí 78
KẾT LUẬN 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Trong xu thế toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế là xu thế tất yếu của các quốc gia, trong đó có Việt Nam Nâng cao chất lượng hàng Việt, khẳng định thương hiệu hàng Việt là vấn đề cấp thiết Cuộc vận động Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam là chính sách lớn của Đảng và Nhà nước Chỉ thị số 24/CT-TTg nêu rõ, cuộc vận
động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” nhằm phát huy mạnh mẽ “lòng
yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, tự tôn dân tộc, xây dựng văn hóa tiêu dùng của người Việt Nam” [32, tr.95], người tiêu dùng hiểu rõ hơn trách nhiệm, quyền lợi của họ đối
với sản phẩm, hàng hóa sản xuất trong nước Người tiêu dùng thay đổi thái độ, hành vi
ưu tiên mua sắm, tiêu dùng, hàng hóa thương hiệu Việt Bên cạnh đó, doanh nghiệp nhận thức rõ trách nhiệm, nâng cao chất lượng sản phẩm, uy tín thương hiệu để đáp ứng tốt nhu cầu người tiêu dùng, khẳng định thương hiệu Việt trong điều kiện hội nhập kinh
tế quốc tế Báo chí giữ vai trò vô cùng quan trọng, là công cụ sắc bén của Đảng và Nhà nước, là người tuyên truyền, cổ động, tổ chức tập thể việc thực hiện Cương lĩnh đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước Báo chí là phương tiện truyền thông nhanh nhất, hiệu quả nhất Chỉ thị số 24/CT-TTg ngày 17/9/2012 của Thủ Tướng Chính
phủ Về việc tăng cường thực hiện cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng
Việt Nam”, nhấn mạnh: “Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, vận động để người tiêu dùng trong nước và nước ngoài biết, hiểu, đánh giá đúng về chất lượng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, khả năng sản xuất, kinh doanh và đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của doanh nghiệp Việt Nam; tiếp tục thực hiện các giải pháp thích hợp để khuyến khích, định hướng tiêu dùng và vận động nhân dân tích cực sử dụng hàng Việt Nam” [31,
tr.95]
Báo chí là phương tiện truyền thông nhanh nhất, hiệu quả nhất Báo chí xác định việc thông tin tuyên truyền là một trong những nhiệm vụ thường xuyên của mình Thông qua các loại hình báo chí khác nhau: báo in, báo điện tử, phát thanh, truyền hình, báo chí đã đưa thông tin nhanh nhất, hiệu quả nhất và có tính định hướng dư luận đến đông đảo quần chúng nhân dân Báo chí thực hiện nhiệm vụ bằng nhiều hình thức,
phương thức tuyên truyền khác nhau Chỉ thị số 24/CT-TTg cũng chỉ rõ: “Đa dạng hóa
các hoạt động tuyên truyền cổ động về cuộc vận động bằng các hình thức, nội dung phù hợp tại các địa điểm công cộng, trụ sở các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị xã hội”
[32, tr 96] Báo chí đã tác động tích cực đến mọi mặt đời sống xã hội, trở thành một trong những động lực quan trọng cho sự phát triển kinh tế-xã hội Cơ quan báo chí luôn không ngừng cải thiện, phát triển để hoàn thành sứ mệnh truyền tải thông tin, định
Trang 9hướng thông tin đến quần chúng nhân dân Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên
dùng hàng Việt Nam” đã được các cơ quan báo chí tuyên truyền cụ thể bằng nhiều
phương thức đưa thông tin đến mọi tầng lớp nhân dân một cách nhanh chóng và hiệu
quả nhất Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” đã tác động
tích cực đến toàn xã hội Cuộc vận động góp phần nâng cao nhận thức của nhân dân trong việc lựa chọn, tiêu dùng hàng Việt Doanh nghiệp nhận thức rõ vai trò, trách nhiệm, không ngừng cải tiến và ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới quy trình sản xuất, quản lý nhằm tạo ra sản phẩm có chất lượng, bảo đảm sức cạnh tranh sản phẩm, hàng hóa đáp ứng nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng
Báo chí cách mạng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) hiện nay không chỉ làm báo in mà phát triển thêm báo điện tử, hoặc trang tin điện tử; các đài Phát thanh – Truyền hình (PT-TH) không ngừng đổi mới, đầu tư nâng chất hiện đại, mở rộng kênh tuyên truyền Nhật Báo Cần Thơ, Đài PT-TH Cần Thơ có vị trí địa lý nằm ở trung tâm ĐBSCL Báo Vĩnh Long, đặc biệt là đài PT-TH Vĩnh Long là một trong những đài PT-
TH phát triển mạnh của cả nước; Báo Cà Mau và Đài PT-TH Cà Mau nằm ở tận cùng đất nước, hoạt động báo chí khó khăn hơn rất nhiều so với các tỉnh thành khác trong khu vực…Nhật Báo Cần Thơ, Báo Vĩnh Long, Báo Cà Mau và Đài PT-TH Cần Thơ, Vĩnh Long, Cà Mau đã xây dựng các chuyên trang, chuyên mục, chuyên đề…với nhiều
thông điệp tích cực tuyên truyền cho cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng
hàng Việt Nam” và nhận được sự hưởng ứng nhiệt tình của người dân
Tuy nhiên, trước nhu cầu hội nhập ngày càng sâu rộng, để cuộc vận động có những tác động mạnh mẽ đến người tiêu dùng trong và ngoài nước, báo chí cần nâng cao chất lượng nội dung, phương thức truyền thông về cuộc vận động Để thông điệp
truyền thông về cuộc vận động“Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” trên hệ
thống báo chí tại ĐBSCL nói chung, Nhật Báo Cần Thơ, Báo Vĩnh Long, Báo Cà Mau, Đài PT-TH Cần Thơ, Vĩnh Long, Cà Mau lan tỏa sâu rộng trong cộng đồng
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn: “Thông điệp về cuộc vận động
“Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” trên báo chí khu vực Đồng bằng sông Cửu Long” làm đề tài nghiên cứu, với mong muốn nghiên cứu tìm ra các giải pháp tối
ưu nhất phục vụ nhiệm vụ truyền thông cuộc vận động trên báo chí khu vực ĐBSCL
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
2.1 Vai trò của báo chí trong hoạt động truyền thông
E.P Prôkhôrốp (2004) trong quyển “Cơ sở lý luận của báo chí”, đã nêu một cách khái quát nhất về lý luận nghiệp vụ báo chí, những đặc thù của hoạt động báo chí với tư cách là một lĩnh vực hoạt động sáng tạo Tác giả giới thiệu quá trình xuất hiện, phát
Trang 10triển của báo chí, bản chất của thông tin đại chúng Tác giả chú trọng nhấn mạnh vị trí, vai trò và chức năng của báo chí trong xã hội và mối quan hệ với xã hội; báo chí trong không gian thông tin; báo chí với tư cách là một lĩnh vực hoạt động sáng tạo; hiệu lực
và có tính hiệu quả của báo chí E.P Prôkhôrốp (2004) nhấn mạnh: “Báo chí tác động
cả vào các lĩnh vực khác nhau trong việc quản lý điều hành nhà nước, cả vào đời sống kinh tế của xã hội, cả vào hoạt động của công dân, với tất cả sự phong phú của các hình thức hoạt động thiết chế hóa và phi thiết chế hóa của xã hội” [22, tr 14] Sứ mạng
của báo chí là thực hiện ý chí và quyền lực của nhân dân Báo chí dựa vào nhân dân và
có nhiệm vụ hoạt động phù hợp với nhu cầu và lợi ích của nhân dân Báo chí phải là vũ khí sắc bén, công cụ đắc lực của Đảng trên mặt trận tư tưởng
Các tác giả Dương Xuân Sơn, Đinh Văn Hường, Trần Quang (2011), trong quyển “Cơ sở lý luận báo chí truyền thông” trình bày các vấn đề về đặc trưng, chức năng, nguyên tắc, tính sáng tạo của lao động báo chí Các tác giả chỉ ra rằng: “vị trí của báo chí được qui định không chỉ bởi quy mô, phạm vi, tính chất, mà bởi khuynh hướng, nội dung của nó” [27, tr.2] Các phương tiện truyền thông cần khai thác, xử lý tốt các nguồn thông tin, để đáp ứng tốt nhu cầu thông tin phong phú, đa dạng và có chất lượng của xã hội Nâng cao nội dung, chất lượng thông tin để góp phần thúc đẩy phát triển đất nước Đó cũng là thước đo quan trọng cho hiệu quả hoạt động báo chí
Đỗ Văn Quân (2012) trong bài viết: “Vai trò của báo chí trong thực hiện phản biện xã hội” đã nêu rõ vai trò của báo chí là chủ thể khơi nguồn cho phản biện xã hội, phản biện xã hội là đối tượng phản ánh của báo chí, báo chí định hướng tạo ra sự lan tỏa trong xã hội, báo chí làm gia tăng sức mạnh của các kênh và các chủ thể phản biện
xã hội khác Đỗ Văn Quân (2012) nhấn mạnh: “Báo chí là một hiện tượng xã hội đặc
biệt, một loại hình truyền thông đại chúng đa chức năng” [23, tr 8] Báo chí có vai trò
định hướng và hướng dẫn dư luận, vì vậy cần cung cấp thông tin có giá trị, chính xác cho người dân Xã hội càng phát triển thì báo chí càng có vị trí, vai trò đặc biệt quan
trọng trong đời sống hàng ngày của mỗi quốc gia, dân tộc “Báo chí ở nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam là phương tiện thông tin thiết yếu đối với đời sống xã hội; là
cơ quan ngôn luận của cơ quan Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp; là diễn đàn của Nhân dân” [24, tr 45] (Luật báo chí số 103/2016/QH13) Ngày nay, báo
chí Việt Nam phát triển mạnh mẽ cả về nội dung và hình thức, từng bước đổi mới để thích ứng với xu thế phát triển của nền công nghiệp 4.0 và truyền thông hiện đại Đinh Thị Thu Hằng (2018), trong bài viết: “Vai trò của báo chí đối với quá trình hoạch định chính sách của Đảng và Nhà nước ở Việt Nam hiện nay” đã khẳng định những thành
tựu mà báo chí đã thực hiện được: “Báo chí nước ta đã tích cực truyền thông chính
Trang 11sách, đóng góp quan trọng tạo sự đồng thuận xã hội để giải quyết các vấn đề của đời sống Báo chí cũng huy động nguồn lực trí tuệ của đông đảo người dân, góp phần không nhỏ vào việc xây dựng, hoàn thiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước” [18, tr.204]
Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới, với những nhiệm vụ cách mạng mới, báo chí cần có sự chuyển mình để thích ứng và làm tốt nhiệm vụ chính trị của mình trên lĩnh vực tư tưởng, bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng, bảo vệ chế độ
xã hội chủ nghĩa và đóng góp vào sự phát triển chung của xã hội Báo chí phải hướng vào mục tiêu giữ vững ổn định chính trị, tiếp tục sự nghiệp đổi mới, làm cho những nguyên lý cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh giữ vị trí chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội Người làm báo cần thường xuyên rèn luyện phẩm chất nghề nghiệp, trách nhiệm công dân của nhà báo và đạo đức
báo chí Luật Báo chí chỉ rõ vai trò của người làm báo: “Thông tin trung thực về tình
hình đất nước và thế giới phù hợp với lợi ích của đất nước và của Nhân dân; phản ánh
ý kiến, nguyện vọng chính đáng của Nhân dân” [24, tr 47] và những người làm báo:
“Là đội quân chủ lực trong việc định hướng dư luận xã hội, tuyên truyền, cổ vũ, động viên toàn Đảng, toàn dân, toàn quân thực hiện thắng lợi đường lối đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo” (Nguyễn Phú Trọng, 2015) Nghĩa là các nhà báo phải luôn
bám sát thực tiễn sinh động, để thông tin kịp thời, phân tích sâu sắc những diễn biến hàng ngày trên tất cả lĩnh vực, ở khắp mọi miền tổ quốc
Trong công tác tuyên truyền cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng
Việt Nam”, hệ thống báo chí cả nước đã cung cấp những thông tin cần thiết về chủ
trương, chính sách, hoạt động, các sản phẩm…đến mọi tầng lớp nhân dân Các cơ quan truyền thông với các loại hình khác nhau, báo in, báo điện tử, PT–TH, là những kênh thông tin quan trọng trong việc truyền tải thông tin đến công chúng Các cơ quan truyền thông báo chí đã xây dựng nhiều chuyên mục, chuyên trang, kênh phát thanh,
phát sóng tuyên truyền cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”
Hình thức chuyển tải thông tin với nhiều thể loại rất đa dạng: phỏng vấn, phóng sự, ghi chép, đưa thông tin đến người dân một cách chính xác và nhanh chóng Theo Luật báo
chí:“Báo in là loại hình báo chí sử dụng chữ viết, tranh, ảnh, thực hiện bằng phương
tiện in để phát hành đến bạn đọc, gồm báo in, tạp chí in” [24, tr.45] và “Báo điện tử là loại hình báo chí sử dụng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được truyền dẫn trên môi trường mạng, gồm báo điện tử và tạp chí điện tử”…[24, tr.46] Báo in đưa thông tin
đến độc giả một cách sinh động, thiết thực thông qua chữ viết, kết hợp hình ảnh; báo
điện tử được truyền dẫn trên môi trường mạng “Báo nói là loại hình báo chí sử dụng
tiếng nói, âm thanh, được truyền dẫn, phát sóng trên các hạ tầng kỹ thuật ứng dụng
Trang 12công nghệ khác nhau” [24, tr.45) Báo nói thông qua âm thanh, tiếng nói được truyền
dẫn qua các ứng dụng công nghệ để truyền tải thông tin đến độc giả “Báo hình là loại
hình báo chí sử dụng hình ảnh là chủ yếu, kết hợp tiếng nói, âm thanh, chữ viết, được truyền dẫn, phát sóng trên các hạ tầng kỹ thuật ứng dụng công nghệ khác nhau” [24,
tr.45] Báo hình sử dụng hình ảnh, kết hợp tiếng nói, âm thanh được truyền dẫn, phát sóng qua các ứng dụng công nghệ Với hình thức chuyển tải thông tin đa dạng phong phú về nội dung và hình thức, các cơ quan báo chí truyền thông nói chung và báo chí khu vực ĐBSCL nói riêng đã góp phần đưa thông điệp truyền thông về cuộc vận động
“Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” đến cộng đồng Cuộc vận động – một
chủ trương đã được Bộ Chính trị xác định rất rõ Mục đích cuộc vận động là phát huy lòng yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, tự tôn dân tộc, xây dựng văn hóa tiêu dùng của người Việt Nam và sản xuất ra nhiều hàng Việt Nam có chất lượng
Báo chí đảm nhận vai trò tham gia giám sát, phản biện, đóng góp ý kiến xây dựng các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân Báo chí góp công lớn trong việc mở rộng quan hệ đối ngoại, đưa Việt Nam đến với bạn bè thế giới; đóng góp tích cực vào việc quảng bá, giới thiệu đất nước, con người, văn hóa Việt Nam với bạn bè quốc tế, đồng thời là cầu nối quan trọng giúp bạn đọc trong nước hiểu biết nhiều hơn về tình hình khu vực và thế giới
2.2 Chất lượng tuyên truyền của báo chí với thực tiễn xã hội
Luận văn: “Tìm hiểu vai trò của báo chí trong xây dựng lối sống đô thị thành phố Hồ Chí Minh” , tác giả Nguyễn Chiến Dũng, đề cập vai trò của báo chí trong công tác tuyên truyền, phản ánh thực tiễn xã hội, về việc xây dựng lối sống trong đô thị Trong đó tác giả tập trung nêu các vấn đề về lập lại trật tự đô thị, góp phần xây dựng môi trường văn minh đô thị, hoàn thiện thị hiếu thẩm mỹ về đô thị Luận văn “Vai trò của báo chí đối với công cuộc cải cách hành chính: khảo sát qua báo in thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2001 đến năm 2004” của Nguyễn Thanh Vân Tác giả đã khái quát vai trò của hệ thống báo chí của cả nước nói chung và hệ thống báo in tại Thành phố
Hồ Chí Minh thời gian qua đã tích cực tham gia tuyên truyền, phổ biến chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước trong công tác cải cách hành chính Tác giả Nguyễn
Lê Đình Thống với đề tài nghiên cứu khoa học: “Thực trạng và các giải pháp để nâng cao chất lượng và hiệu quả của hoạt động báo chí trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa đến 2010”, đã khái quát những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về đường lối chủ trương, chính sách của Đảng, về công tác quản lý báo chí…Ngoài ra, tác giả đề cập đến thực trạng chất lượng và hiệu quả của hoạt động báo chí trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa Tác giả Tạ Ngọc Tấn (2001), truyền thông đại chúng,
đã chỉ ra rằng: “Truyền thông đại chúng vừa đóng vai trò là môi trường sư phạm, người
Trang 13thầy, vừa có khả năng trở thành người bạn hay môi trường văn hóa đối với mọi người dân Nó có thể mang tới cho con người những tri thức sâu sắc, những vốn hiểu biết phong phú,…hay trở thành cầu nối các mối quan hệ giữa con người với nhau” [28,
tr.33] Hệ thống các phương tiện truyền thông đại chúng có sức mạnh và những khả năng to lớn để giải quyết các nhiệm vụ tư tưởng trên phạm vi toàn xã hội Phương tiện truyền thông đại chúng là công cụ duy nhất có thể tác động đồng thời, nhanh chóng đến từng thành viên xã hội, liên kết các thành viên xã hội Việc tác động này được thực hiện với những hình thức phong phú, sinh động, giàu sức thuyết phục và dễ tiếp nhận
2.3 Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”
Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” đã được đề cập đến trong nhiều công trình nghiên cứu, như “Để cuộc vận động người Việt Nam ưu tiên
dùng hàng Việt Nam thực sự đi vào cuộc sống”, tác giả Nguyễn Đình Dương; “Để người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” tác giả Lê Bá Trình; “Giải pháp thực hiện chương trình “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”” của Nguyễn Mạnh
Hùng; “Vai trò của nhà bán lẻ trong cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng
hàng Việt Nam”” của Đinh Thị Mỹ Loan; “Hàng Việt Nam chất lượng cao: phù hợp tâm lý người tiêu dùng” của Lê Hằng… các tác giả nhấn mạnh sự đúng đắn, cần thiết
của cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, sự tác động của
cuộc vận động đối với các nhà sản xuất, doanh nghiệp và người tiêu dùng Bài viết “Để cuộc vận động người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam thực sự đi vào cuộc sống” (Nguyễn Đình Dương, 2012) tác giả nhấn mạnh về việc tăng khả năng thanh toán và nhận thức của người tiêu dùng về hàng Việt; nâng cao chất lượng và sự hấp dẫn của hàng Việt; quan tâm xây dựng, quảng bá và bảo vệ thương hiệu hàng Việt; kiểm soát các hành vi cạnh tranh không bình đẳng và gian lận thương mại Theo Lê Bá Trình
(2014) cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” là một trong
những giải pháp quan trọng góp phần giải quyết những khó khăn trước mắt, đồng thời mang tính chiến lược lâu dài đối với sự phát triển bền vững của nền kinh tế đất nước cũng như xây dựng thói quen, văn hóa tiêu dùng của người Việt”; “Giải pháp thực hiện chương trình “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” (Nguyễn Mạnh Hùng, 2009), nhấn mạnh chương trình hành động của Bộ Công thương về cuộc vận
động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, những yêu cầu của sản xuất và
tiêu dùng, sự liên kết ba bộ: doanh nghiệp-người tiêu dùng-ngân hàng Tác giả chỉ ra rằng: “Chương trình hành động của bộ Công Thương có giá trị để các cơ quan, đơn vị trong và ngoài ngành tham khảo, bổ sung, cụ thể bằng những điểm nhấn có ấn tượng trong người tiêu dùng, và doanh nghiệp có ý thức về chất lượng sản phẩm, thái độ phục
vụ cộng đồng” [19, tr.10] Bài viết: “Vai trò của nhà bán lẻ trong cuộc vận động
Trang 14“Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, tác giả Đinh Thị Mỹ Loan (2012)
người tiêu dùng Việt Nam cần có nhiều thông tin hơn về hàng hóa, sản phẩm Việt Nam
và các nhà phân phối lẻ giữ vai trò khá quan trọng trong việc đưa sản phẩm trực tiếp
đến người tiêu dùng Theo Đinh Thị Mỹ Loan (2012): “Vai trò của các nhà phân phối,
bán lẻ với tư cách là những người trực tiếp giao dịch hàng ngày với người tiêu dùng là hết sức quan trọng”, [20, tr 33-34], các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, nhà bán lẻ
phải nỗ lực nhiều hơn nữa để thuyết phục người tiêu dùng tin tưởng và ủng hộ hàng Việt Tác giả Nguyễn Thị Thu Hà (2012) trong bài viết: “Công tác tuyên truyền thực
hiện cuộc vận động Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” chỉ ra những thành
công bước đầu, cuộc vận động đã có sức lan tỏa sâu rộng trong xã hội, thu hút sự quan tâm hưởng ứng của đông đảo nhân dân Công tác tuyên truyền của các cấp, các ngành, đặc biệt là các cơ quan thông tấn báo chí đã vào cuộc rất sớm, với các chuyên trang, nội
dung, hình thức tuyên truyền thiết thực, cụ thể Tác giả nhấn mạnh: “Công tác tuyên
truyền đã vào cuộc sớm, thể hiện rõ vai trò đi trước, thúc đẩy cổ vũ toàn xã hội tham gia hưởng ứng cuộc vận động” [15, tr.36] Tác giả Nguyễn Hằng (2016) trong bài viết
“Phát huy vai trò của báo chí đối với sự phát triển của đất nước” tác giả nhấn mạnh vai trò của báo chí trong công tác tuyên truyền, đưa thông tin đến quần chúng nhân dân,
trong đó: “thông tin kinh tế luôn chiếm vị trí quan trọng, mật độ cao và tỷ lệ thông tin
lớn trên các loại hình báo chí khác nhau” [16, tr 2] “Hàng Việt Nam chất lượng cao:
phù hợp tâm lý người tiêu dùng” của Lê Hằng (2011) đề cập đến vấn đề chất lượng sản
phẩm và giá trị thương hiệu, tác giả nhấn mạnh: “Để thương hiệu ấy có thể vượt trội,
đứng vững trong tâm trí người tiêu dùng, thì phần còn lại thuộc về khái niệm chất lượng mang đậm màu sắc cảm xúc của người tiêu dùng”, [17, tr.9] sự lựa chọn, ủng hộ
của người tiêu dùng đã đặt ra nhiều trách nhiệm cho doanh nghiệp
Xây dựng các chương trình truyền thông có nội dung trọng tâm và hình thức tuyên truyền thích hợp về phát triển kinh tế bền vững cho từng nhóm đối tượng trong xã hội phù hợp với thực tiễn và yêu cầu phát triển đất nước và khu vực trong từng thời kỳ
2.4 Truyền thông cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” trên báo chí
Đài Truyền hình Việt Nam với tham luận “Vai trò của truyền thông trong việc
nâng cao nhận thức của người dân đối với cuộc cuộc vận động“Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” ”, chỉ ra rằng, Đài Truyền hình Việt Nam luôn chú trọng phát
triển về số lượng, chất lượng tuyên truyền Ngoài những chuyên mục thường xuyên, Đài Truyền hình Việt Nam tập trung vào các vấn đề trọng tâm, trọng điểm theo từng giai đoạn để tuyên truyền cụ thể Thí dụ, chú trọng tuyên truyền các loại sản phẩm, hàng hóa liên quan trực tiếp đến tiêu dùng của người dân Từng nội dung, Đài Truyền
Trang 15hình Việt Nam sẽ xây dựng thành từng thông điệp truyền thông để chuyển tải đến khán giả thông qua các chương trình truyền hình, từ đó giúp người dân nâng cao ý thức sản
xuất và tiêu dùng hàng Việt Nam Theo đánh giá Ban Tuyên giáo Trung Ương “Đài
truyền hình Việt Nam vẫn là nguồn thông tin chủ yếu để người dân nắm thông tin về cuộc vận động” (chiếm 61%) [40, tr.15], với nhiều chuyên mục “Chắp cánh thương
hiệu”, “thương hiệu Việt”, bản tin tiêu dùng (VTV1), Nông nghiệp sạch (VTV1), bạn của Nhà nông (VTV2),… và được duy trì thường xuyên
Đài tiếng nói Việt Nam với tham luận “Vai trò của đài tiếng nói Việt Nam trong
việc nâng cao nhận thức của người dân đối với cuộc vận động”, cho thấy rằng, Đài
tiếng nói Việt Nam đã lựa chọn nhiều hình thức truyền thông để chuyển tải các thông điệp về cuộc vận động đến ngươi dân, như: mở nhiều chuyên mục phát vào giờ “vàng” với thời lượng nhiều hơn giúp người tiêu dùng có thông tin kịp thời về sản phẩm của doanh nghiệp trong nước sản xuất đạt tiêu chuẩn, chất lượng để ưu tiên lựa chọn dùng hàng Việt Nam Đài tiếng nói Việt Nam mời chuyên gia, nhà bình luận để thông tin về tiêu chuẩn, giá cả chất lượng các sản phẩm do các doanh nghiệp Việt Nam sản xuất, đặc biệt là các hàng hóa liên quan trực tiếp đến đời sống người dân
Viết về vai trò của các phương tiện truyền thông, về chất lượng, phương thức tuyên truyền trên báo chí, các thông điệp tuyên truyền cho cuộc vận động “Người Việt
Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” đã được đề cập đến trong một số trong công trình nghiên cứu Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có công trình cụ thể nào đi sâu vào vấn đề
“Thông điệp về cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” trên
báo chí khu vực Đồng bằng sông Cửu Long” Vì vậy khi thực hiện đề tài này, chúng
tôi có kế thừa từ các công trình nghiên cứu trước Từ đó, giúp chúng tôi có những định
hướng tìm hiểu, khảo sát thông điệp về cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng
hàng Việt Nam” trên chí khu vực ĐBSCL Nghiên cứu thông điệp về cuộc vận động
“Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” trên trên báo chí khu vực ĐBSCL, giúp chúng tôi có cái nhìn toàn diện, khách quan về thông điệp cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” trên trên báo chí khu vực ĐBSCL Từ những thực trạng này, chúng tôi đề xuất các giải pháp góp phần nâng cao thông điệp cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” trên báo chí khu vực ĐBSCL
3.Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng tuyên truyền của báo chí đối với cuộc vận động Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam
- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng về thông điệp cuộc vận động Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam trên Nhật báo Cần Thơ, Báo Vĩnh Long, Báo Cà Mau, PT-TH Cần Thơ, Vĩnh Long và Cà Mau
Trang 16- Đề xuất các giải pháp để nâng cao thông điệp về cuộc vận động Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam trên Nhật báo Cần Thơ, Báo Vĩnh Long, Báo Cà Mau, PT-TH Cần Thơ, Vĩnh Long và Cà Mau và báo chí truyền thông ĐBSCL
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Thông điệp về cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”
trên báo chí khu vực Đồng bằng sông Cửu Long”
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Khảo sát thông điệp truyền thông của Nhật Báo Cần Thơ, Báo Vĩnh Long, Báo
Cà Mau, PT-TH Cần Thơ, Vĩnh Long và Cà Mau đối với cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”
- Địa bàn, đối tượng bạn đọc khảo sát:
Bạn đọc Nhật Báo Cần Thơ, PT – TH Cần Thơ Bạn đọc Báo Vĩnh Long, PT-TH Vĩnh Long Bạn đọc Báo Cà Mau, PT- TH Cà Mau
- Khảo sát hoạt động báo chí của Nhật báo Cần Thơ, Báo Vĩnh Long, Báo Cà Mau, PT-TH Cần Thơ, Vĩnh Long và Cà Mau
5 Phương pháp nghiên cứu
Chúng tôi đã tiến hành khảo sát từ tháng 9/ 2019 đến tháng 12/2019 trên ba địa bàn Tp.Cần Thơ, tỉnh Vĩnh Long và Cà Mau Nghiên cứu này được thực hiện theo phương pháp hỗn hợp Đó là kết hợp dữ liệu định lượng có được từ bảng khảo sát và dữ liệu định tính có từ các câu hỏi mở và kết quả phỏng vấn nhà báo và độc giả Nhật báo Cần Thơ, Báo Vĩnh Long, Báo Cà Mau, PT-TH Cần Thơ, Vĩnh Long và Cà Mau Các bước thực hiện cụ thể:
Bước 1: Nhóm nghiên cứu tiến hành phát phiếu khảo sát trực tiếp ngẫu nhiên với
246 độc giả, cụ thể: độc giả Nhật Báo Cần Thơ, PT – TH Cần Thơ thông qua bảng hỏi
113 độc giả; Báo Vĩnh Long, PT-TH Vĩnh Long là 70 độc giả; Báo Cà Mau, PT- TH
Cà Mau là 63 độc giả Nội dung khảo sát tìm hiểu về thông điệp của báo chí trong cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” Phiếu khảo sát độc giả gồm
17 câu hỏi (CH) trắc nghiệm
Bước 2: Nhóm nghiên cứu tiến hành phát phiếu khảo sát 115 biên tập viên, phóng viên đang công tác tại Nhật Báo Cần Thơ, Vĩnh Long, Cà Mau; PT – TH Cần Thơ; Báo Vĩnh Long, PT-TH Vĩnh Long; Báo Cà Mau, PT- TH Cà Mau Nội dung khảo sát nhận thức như thế nào về vai trò của báo chí với thông điệp cuộc vận động
“Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” trên báo, PT-TH ở vùng ĐBSCL Phiếu khảo sát biên tập viên, phóng viên gồm 12 câu hỏi (CH) trắc nghiệm
Trang 17Theo Krejcie và Morgan (1970) về xác định số lượng mẫu trong nghiên cứu và dựa trên số liệu thống kê, Nhật Báo Cần Thơ và PT- TH Cần Thơ trung bình có khoảng
160 lượt tuyên truyền/ tháng thì số lượng mẫu là 113; Báo Vĩnh Long, PT-TH Vĩnh Long trung bình có khoảng 85 lượt tuyên truyền/ tháng thì số lượng mẫu là 70; Báo Cà Mau, PT- TH Cà Mau bình có khoảng 75 lượt tuyên truyền/ tháng thì số lượng mẫu là
63
Bước 3: Phỏng vấn 12 biên tập viên, phóng viên trực tiếp thực hiện chuyên mục
“Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” Nhật Báo Cần Thơ, PT – TH Cần Thơ;
Báo Vĩnh Long, PT-TH Vĩnh Long; Báo Cà Mau, PT- TH Cà Mau và 9 độc giả Nhật Báo Cần Thơ, PT – TH Cần Thơ; Báo Vĩnh Long, PT-TH Vĩnh Long; Báo Cà Mau, PT- TH Cà Mau Nội dung phỏng vấn phóng viên là họ đánh giá như thế nào về thông
điệp truyền thông về cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”
trên báo chí ĐBSCL Nội dung phỏng vấn độc giả Nhật Báo Cần Thơ, PT – TH Cần Thơ; Báo Vĩnh Long, PT-TH Vĩnh Long; Báo Cà Mau, PT- TH Cà Mau nhận thức về
thông điệp truyền thông về cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt
Nam” trên báo chí ĐBSCL
Bước 4: Phương pháp phân tích trong nghiên cứu này là thống kê mô tả các dữ liệu thu thập câu hỏi điều tra độc giả Nhật Báo Cần Thơ, PT – TH Cần Thơ; Báo Vĩnh Long, PT-TH Vĩnh Long; Báo Cà Mau, PT- TH Cà Mau, kết quả ý kiến độc giả Nhật Báo Cần Thơ, PT – TH Cần Thơ; Báo Vĩnh Long, PT-TH Vĩnh Long; Báo Cà Mau, PT- TH Cà Mau được mã hóa và xử lý với phần mềm IBM SPSS 20.0
- So sánh, phân tích qua nghiên cứu Nhật Báo Cần Thơ, PT – TH Cần Thơ; Báo Vĩnh Long, PT-TH Vĩnh Long; Báo Cà Mau, PT- TH Cà Mau
Chúng tôi tổng hợp hệ thống các văn bản, chỉ thị, chủ trương của Đảng, Nhà nước về tuyên truyền cuộc vận động Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam Các
báo cáo tổng kết phong trào Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam… hệ thống
văn bản này là cơ sở lý luận, định hướng cho việc nghiên cứu đề tài
Tìm hiểu các cơ sở lý luận về báo chí, luật báo chí, vai trò của báo chí trong
công tác tuyên truyền cuộc vận động Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam Hệ
thống văn bản này giúp chúng tôi có cái nhìn toàn diện về cuộc vận động người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam những điều đạt được và chưa được của báo chí trong
công tác tuyên truyền, phổ biến thông tin đến bạn đọc
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Thông điệp theo Dương Xuân Sơn, Đinh Văn Hường, Trần Quang (2011), trong
quyển “Cơ sở lý luận báo chí truyền thông” là: “Thông điệp có thể bằng tín hiệu, kí
hiệu, mã số, bằng mực trên giấy, song trên không trung hoặc bằng bất cứ tín hiệu nào
Trang 18mà người ta có thể hiểu được và được trình bày ra một cách có ý nghĩa” [27, tr.14]
Thông điệp được diễn đạt bằng ngôn ngữ mà người cung cấp và người tiếp nhận đều hiểu Thông điệp một trong bốn yếu tố trong quá trình truyền thông Trong truyền thông, các thông điệp được truyền tải qua lại giữa các thành viên tham gia tạo ra sự liên tục và tác động qua lại của quá trình truyền thông Từ các cơ sở lý luận về thông điệp,
về truyền thông, chúng tôi tiến hành khảo sát độc giả và phóng viên Nhật Báo Cần Thơ,
PT – TH Cần Thơ; Báo Vĩnh Long, PT-TH Vĩnh Long; Báo Cà Mau, PT- TH Cà Mau
để làm rõ thông điệp truyền thông cuộc vận động Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam trên báo chí ĐBSCL
Từ các cơ sở lý luận, kết quả khảo sát thực tế về thông điệp truyền thông về cuộc vận động, chúng tôi đề xuất giải pháp để nâng cao chất lượng và phương thức truyền thông thông điệp về cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” trên báo chí khu vực ĐBSCL Mức độ cao nhất của hiệu quả xã hội của truyền thông
đại chúng là hiệu quả thực tế “Hiệu quả thực tế của truyền thông đại chúng là những
thay đổi, vận động thực tế của đời sống xã hội dưới tác động của truyền thông đại chúng” (Tạ Ngọc Tấn (2001) [28, tr.31]
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài mục lục, bảng quy ước viết tắt, mở đầu, kết luận, phụ lục, luận văn gồm các chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” trên báo chí Đồng bằng Sông Cửu Long
Chương 2: Thực trạng truyền thông thông điệp về cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” trên trên báo chí Đồng bằng Sông Cửu Long
Chương 3: Những giải pháp nâng cao chất lượng thông điệp về cuộc vận động
“Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” trên báo chí Đồng bằng Sông Cửu Long
Trang 191.1.1 Truyền thông và truyền thông đại chúng
Trong sự phát triển như vũ bão của xã hội thông tin như ngày nay, nhu cầu tiếp cận các nguồn thông tin chính thống, đáng tin cậy từ các cơ quan truyền thông là vô cùng quan trọng Báo chí (truyền thông) là kênh tương tác giữa Nhà nước và nhân dân Báo chí với chức năng giáo dục tư tưởng, tuyên truyền, cổ động, quản lý, giám sát xã hội thông qua các phương tiện truyền thông để cung cấp thông tin kịp thời, nhanh chóng, chính xác đến công chúng Truyền thông góp phần lan tỏa thông tin, truyền tải thông điệp, kết nối cộng đồng, định hướng dư luận, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.Có nhiều quan niệm, định nghĩa khác nhau về truyền thông, tùy theo góc nhìn
truyền thông Theo John (1954): “Truyền thông là quá trình trao đổi tư duy hoặc ý
tưởng bằng lời” [9, tr.11] (Dẫn theo Nguyễn Văn Dững (2012) Truyền thông thường
được mô tả như là việc truyền ý nghĩ, thông tin, ý tưởng, ý kiến hoặc kiến thức từ một người/một nhóm người sang một người/nhóm người khác bằng lời nói, văn bản, hình
ảnh, hoặc tín hiệu Lê Thanh Bình (2008) cho rằng: “Truyền thông là quá trình trao đổi
thông điệp giữa các thành viên hay nhóm người trong xã hội nhằm đạt được sự hiểu biết lẫn nhau, để từ đó chia sẻ ý tưởng hay hành động vì một mục đích nhất định” [7,
tr.8] Và Nguyễn Văn Dững (2012): “Truyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông
tin, tư tưởng, tình cảm…, chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân/nhóm/cộng đồng xã hội”.[9, tr.13]
Truyền thông là hoạt động tương tác hai chiều giữa bên cung cấp thông tin và người tiếp nhận thông tin, làm sao cho thông điệp tuyên truyền được lan tỏa sâu rộng trong quần chúng, tác động vào ý thức, điều chỉnh hành vi và biến thành những hành động cụ thể, nhằm đạt được mục tiêu mà thông điệp hướng tới
Theo Dương Xuân Sơn, Đinh Văn Hường, Trần Quang (2011): “Truyền thông là
một quá trình liên tục trao đổi hoặc chia sẻ thông tin, tình cảm, kĩ năng nhằm tạo sự liên kết lẫn nhau để dẫn tới sự thay đổi trong hành vì và nhận thức” [27, tr.13] Truyền
thông là quá trình mang tính liên tục, trao đổi, chia sẻ để dẫn đến sự hiểu biết lẫn nhau Đây là yếu tố rất quan trọng đối với mục đích và hiệu quả của truyền thông Truyền thông giúp thay đổi nhận thức và hành vi
Trang 20Tạ Ngọc Tấn (2001), Lê Thanh Bình (2008), Dương Xuân Sơn (2014), Nguyễn Văn Dững (2012) đã nêu lên những quan điểm về truyền thông đại chúng Theo Tạ
Ngọc Tấn (2001): “Truyền thông đại chúng là hoạt động giao tiếp xã hội rộng rãi,
thông qua các phương tiện thông tin đại chúng” [28, tr.10] Truyền thông đại chúng là
hoạt động giao tiếp xã hội, đó là quá trình trao đổi chia sẻ thông tin giữa người nói và người nghe nhằm đạt mục tiêu giao tiếp nào đó Nghĩa là truyền thông đại chúng đáp ứng và thỏa mãn các nhu cầu giao tiếp mang tính phổ biến và tạo ra hiệu quả quy mô và
phạm vi xã hội rộng lớn Lê Thanh Bình (2008) thì “Truyền thông đại chúng là hoạt
động chuyển giao các thông tin có tính phổ biến trong xã hội một cách rộng rãi, công khai, qua các phương tiện… như báo in, đài, internet, báo điện tử đến đông đảo công chúng” [7, tr.16] Các phương tiện truyền thông như báo in, đài phát thanh, truyền
hình, báo điện tử,…có nhiệm vụ chuyển tải và đưa thông tin đến rộng rãi đến công
chúng, đó được xem: “Là một quá trình truyền tải thông tin và thực hiện giao tiếp
tương tác chủ động hơn rất nhiều; do đó mà thông tin truyền đi cũng rộng và mở hơn nhiều” [7, tr.16] Hiểu biết, tác động và ảnh hưởng lẫn nhau Dương Xuân Sơn (2014)
cho rằng: “Truyền thông đại chúng có thể được hiểu là hệ thống hoặc mạng lưới các
phương tiện truyền thông hướng tác động vào đông đảo công chúng xã hội (nhân dân các vùng miền, cả nước, khu vực hay cộng đồng quốc tế) để thông tin chia sẻ, nhằm lôi kéo và tập hợp giáo dục, thuyết phục và tổ chức đông đảo công chúng xã hội nhân dân nói chung tham gia giải quyết các vấn đề kinh tế, văn hóa xã hội đã và đang đặt ra”
[25, tr.35] Tác giả Nguyễn Văn Dững (2012), truyền thông đại chúng: “là hoạt động
truyền thông-giao tiếp xã hội trên phạm vi rộng lớn được thực hiện thông qua các phương tiện kỹ thuật và công nghệ truyền thông” [9, tr.35]
Truyền thông đại chúng làm cho hoạt động giao tiếp xã hội, chuyển giao thông tin, phổ biến được rộng khắp, công chúng tiếp cận các nguồn thông tin, thay đổi nhận thức, hành vi cùng tham gia vào các hoạt động về kinh tế, văn hóa, xã hội đang đặt ra
và cùng lan tỏa trong cộng đồng
1.1.2 Tuyên truyền, thông điệp truyền thông và thông điệp báo chí
Theo Dương Xuân Sơn, Đinh Văn Hường, Trần Quang (2011), “Thông điệp
trong truyền thông phải qua các bước mã hóa, truyền đi, tiếp nhận và giải mã”
[27;20] Nghĩa là mỗi thông điệp bắt đầu từ một tổ chức, một cơ quan hay một người chuyển thông điệp đến người tiếp nhận, thông tin truyền thông chứa thông tin mã hóa bằng các tín hiệu ngôn ngữ Người tiếp nhận giãi mã bằng con đường riêng của mình để
làm sáng tỏ thông tin và tiếp nhận Theo tác giả Nguyễn Văn Dững (2012) “Thông điệp
được hiểu là một phát ngôn hoàn chỉnh cả về nội dung và hình thức dành cho một
Trang 21nhóm đối tượng trong hoàn cảnh cụ thể nhằm hướng tới mục tiêu của chiến dịch truyền thông” [9, tr.224]
Thông điệp báo chí là thể hiện quan hệ của thông điệp với thực tế ngoài thông điệp đã sản sinh ra thông điệp Nhà báo chuyển thông điệp đến báo chí bằng các phương tiện truyền thông “Thông điệp mang tin tức, tư tưởng, quan điểm… của người, thể hiện qua lời, chữ, tiếng, hình… hoặc riêng rẻ hoặc liên kết bằng công nghệ” Mục
đích của truyền thông là làm cho người tiếp nhận hiểu được thông điệp, có những thay đổi tích cực về hành vi, hưởng ứng và thực hiện
Theo Từ điển tiếng Việt (1997), Tuyên truyền là “Giải thích rộng rãi để mọi
người tán thành, ủng hộ, làm theo” Tuyên truyền là phổ biến, giải thích một học
thuyết, một tư tưởng, một quan điểm nào đó nhằm hình thành hoặc củng cố ở đối tượng tuyên truyền truyền một thế giới quan, nhân sinh quan, một lý tưởng, một lối sống, thông qua đó mà ảnh hưởng tới thái độ, tính tích cực của con người trong thực tiễn xã hội Tuyên truyền là một dạng đặc thù của truyền thông
1.1.3 Các loại hình báo chí
Theo Đỗ Văn Quân (2012): “Báo chí là một hiện tượng xã hội đặc biệt, một loại
hình truyền thông đại chúng đa chức năng” [23, tr.9] Sự phát triển của truyền thông
đại chúng gắn liền với sự phát triển về quy mô và chất lượng Hệ thống truyền thông rộng lớn, hoàn thiện đảm bảo việc cung cấp thông tin cho nhân dân tất cả vùng miền Vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - văn hóa – xã hội vừa thúc đẩy mở rộng nhu cầu thông tin giao tiếp của nhân dân Chất lượng của hệ thống truyền thông thể hiện ở tính chất hợp lí của hệ thống, có khả năng cung cấp thông tin đúng đắn, kịp thời, đáp ứng nhu cầu rộng lớn của nhân dân Hệ thống truyền thông đó phải có đủ bản lĩnh
và khả năng nhận thức đúng đắn các sự kiện đang diễn ra trong nước và thế giới để hướng dẫn, định hướng dư luận xã hội tích cực Báo chí cách mạng nước ta đã thể hiện
là công cụ sắc bén của Đảng và Nhà nước trong công tác tuyên truyền, giáo dục, cổ vũ, động viên toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta đoàn kết, vượt qua mọi khó khăn, thách thức để đưa sự nghiệp cách mạng nước ta không ngừng tiến lên và giành được những thành tựu to lớn Báo chí đã không ngừng đổi mới mạnh mẽ, nội dung, hình thức, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động Đảm bảo tính tư tưởng, tính chân thật, tính nhân dân, tính chiến đấu, tính đa dạng của hoạt động báo chí, góp phần vào cuộc công cuộc xây dựng và phát triển đất nước Báo chí và những người làm báo là một bộ phận của
sự nghiệp cách mạng, là vũ khí sắc bén trong công cuộc đấu tranh giành độc lập cho dân tộc và xây dựng cuộc sống mới cho nhân dân
Mỗi loại hình phương tiện truyền thông đại chúng ra đời và phát triển gắn liền với sự phát triển của xã hội con người và bị chi phối bởi hai yếu tố đó là nhu cầu thông
Trang 22tin giao tiếp và kỹ thuật - công nghệ thông tin Mặt khác, sự phát triển các loại hình truyền thông phản ánh trình độ và sự phát triển của xã hội, thời đại và đáp ứng các yêu cầu giao tiếp của con người trong xã hội
Báo chí truyền thông nhìn chung có 4 loại hình cơ bản: báo in, phát thanh, truyền hình
và báo điện tử
Một vài tác giả đã đưa ra định nghĩa về báo in Vũ Thanh Vân (2014), trong
“Truyền thông quốc tế” đã nêu:“Báo in là loại hình báo chí lâu đời nhất, thể hiện
thông tin trên giấy và có thể có hình ảnh minh họa” [45, tr.23] Hay Dương Xuân Sơn
(2014), đề cập đến báo in:“Báo in là ấn phẩm định kỳ chuyển tải nội dung thông tin
mang tính thời sự và được phát hành rộng rãi trong xã hội thông qua các công cụ như máy in, mực in và giấy in” [25, tr.77] Báo in là một một loại hình báo chí có lịch sử
lâu đời, thực hiện bằng phương tiện in có nhiệm vụ truyền tải những thông tin thời sự
và phát hành rộng rãi đến công chúng trên giấy in
Theo Dương Xuân Sơn (2014), Báo điện tử: “là hình thức báo chí mới được hình
thành từ sự kết hợp những ưu thế của báo in, báo nói, báo hình, sử dụng yếu tố công nghệ cao như một nhân tố quyết định, quy trình sản xuất và truyền tải thông tin dựa trên nền tảng mạng internet toàn cầu” [25, tr.234]
Phát thanh theo Dương Xuân Sơn (2014): “Phát thanh (rađio) là một loại truyền
thông đại chúng chuyển tải thông tin về những sự kiện, hiện tượng đang diễn ra trong hiện thực khách quan qua âm thanh” [25, tr.131] Thuật ngữ phát thanh (rađio) gồm có hai loại: phát thanh qua làn sóng điện (vô tuyến); truyền thanh qua hệ thống dây dẫn (hữu tuyến)
Dương Xuân Sơn (2014), đã nêu ra định nghĩa về truyền hình: “Truyền hình là
một loại truyền thông mà thông điệp được truyền trong không gian tích hợp cả hình ảnh và âm thanh tạo cho người xem cảm giác sống động của hiện thực cuộc sống” [25,
tr.176]
Chủ thể xây dựng thông điệp chứa các nội dung thông tin thông qua các phương tiện truyền thông truyền đến công chúng Quá trình tạo dựng thông điệp bao giờ cũng mang tính khuynh hướng Nghĩa là quan điểm của chủ thể khi phát thông điệp bao giờ cũng gắn liền với mục tiêu cụ thể và ảnh hưởng, quy định khuynh hướng của nội dung thông tin Vì vậy nội dung thông tin phải được lựa chọn, xử lý chi tiết, số liệu, trình độ nhận thức, phương pháp phân tích đánh giá vấn đề Thông tin thông qua phương tiện tác động vào ý thức xã hội, hình thành tri thức, thái độ mới thay cho những nhận thức thái độ cũ Sự thay đổi về ý thức xã hội sẽ dẫn đến hành vi xã hội và sau đó tạo ra hiệu quả xã hội
Giữa chủ thể và khách thể hay đối tượng truyền thông có mối liên hệ trên các khía cạnh văn hóa, kiến thức, kỹ năng, mong đợi trong mọi trường giao tiếp cụ thể
Trang 23Hình 1.1: Mô hình truyền thông
Nếu mối liên hệ giữa các khía cạnh này càng có sự tương đồng bao nhiêu thì hiệu quả truyền thông trong giao tiếp càng cao bấy nhiêu
Chất lượng của truyền thông còn thể hiện ở sự đa dạng, phong phú về hình thức
và nội dung thông tin, khả năng phát hiện và đánh giá đúng những nhân tố mới xuất hiện Sản phẩm ngày càng hấp dẫn, có chất lượng kỹ thuật cao, có sức thuyết phục đối với các tầng lớp nhân dân Truyền thông là một hiện tượng phức tạp, bao gồm nhiều thành tố tác động qua lại lẫn nhau Người tiếp nhận, nhận thức, hiểu biết, thay đổi hành
vi, thấy được tính hiệu quả của truyền thông, từ đó có những phản hồi tích cực và cùng tham gia thực hiện, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển Tùy vào mục đích tuyên truyền, mục đích, lĩnh vực hoạt động khác nhau Mỗi loại hình truyền thông có những đặc điểm, ưu thế, cách vận truyền tải thông tin đến công chúng riêng
Các loại hình báo chí truyền thông đều có chung mục đích là tuyên truyền nguồn thông tin thời sự, cấp thiết, chính xác đến cộng đồng trong và ngoài nước, bằng nhiều hình thức khác nhau Tác giả Nguyễn Văn Dững (2012), đã khái quát về mô hình truyền thông [9, tr.40]
Nhận thức
Hành vi thái độ
Phản hồi
Công chúng
Trang 24biết, điều chỉnh hành vi thái độ, tính hiệu quả của truyền thông thể hiện việc công chúng thực hiện theo nội dung thông điệp tuyên truyền, biến thành hành động “cụ thể” trong cuộc sống “hiệu lực” của thông điệp, phản hồi tích cực về nguồn thông tin ban đầu
1.1.3 Thông điệp và các loại thông điệp
Trong quyển 777 khái niệm Ngôn ngữ học (Nguyễn Thiện Giáp, 2010),,Nxb ĐH
Quốc gia Hà Nội: Thông điệp (message) là “cái được truyền đạt trong lời nói hoặc chữ
viết từ người này đến một hoặc những người khác Thông điệp không phải bao giờ cũng được truyền đạt bằng ngôn từ mà có thể được truyền đạt bằng các bằng các phương tiện khác, chẳng hạn, bằng cử chỉ” [13, tr.397]
Nguyễn Văn Dững (2012): “Thông điệp là hệ thống ký hiệu hàm chứa một nội
dung thông tin cụ thể”[10, tr.244] Ký hiệu là hệ thống khái niệm mang nghĩa về các sự
vật hiện tượng trong tự nhiên và xã hội, được con người sáng tạo, mã hóa, để chuyển tải thông điệp, phục vụ giao tiếp thông qua một “hệ nghĩa” nhất định trong từng bối cảnh
cụ thể Cái biểu đạt, cái được biểu đạt là hai mặt không thể tác rời trong trong ký hiệu, cùng với nghĩa của một mệnh đề là mối quan hệ qua lại của chuỗi kí hiệu Hệ thống kí hiệu này có thể là lời nói, chữ viết, cử chỉ, thái độ, và được giải mã bởi người tiếp
nhận và thông điệp trong truyền thông là: “Thông điệp được hiểu là một phát ngôn
hoàn chỉnh cả về nội dung và hình thức dành cho một nhóm đối tượng trong hoàn cảnh
cụ thể nhằm hướng tới mục tiêu của chiến dịch truyền thông” [9, tr.224] Nguyễn Văn
Dững (2012) Thông điệp dài hay ngắn, nhiều hay ít, cấu trúc và hình thức như thế nào không những phụ thuộc vào ý nghĩa, nội dung người phát ngôn (truyền thông) muốn truyền tải đi mà còn lệ thuộc vào người tiếp nhận và các yếu tố khác của quá trình giao tiếp
Thông điệp theo Dương Xuân Sơn, Đinh Văn Hường, Trần Quang (2011), trong
quyển “Cơ sở lý luận báo chí truyền thông” là: “Thông điệp có thể bằng tín hiệu, kí
hiệu, mã số, bằng mực trên giấy, song trên không trung hoặc bằng bất cứ tín hiệu nào
mà người ta có thể hiểu được và được trình bày ra một cách có ý nghĩa” [27, tr.14]
Thông điệp được diễn đạt bằng ngôn ngữ mà người cung cấp và người tiếp nhận đều hiểu Thông điệp một trong bốn yếu tố trong quá trình truyền thông
Nguyễn Văn Dững (2012) cho rằng: “Thông điệp là nội dung thông tin được trao
đổi từ nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận Thông điệp chính là những tâm tư, tình cảm, mong muốn, đòi hỏi, ý kiến, hiểu biết, kinh nghiệm sống, tri thức khoa học – kỹ thuật…được mã hóa theo một hệ thống ký hiệu nào đó” [9, tr.13] Tiếng nói, chữ viết, hệ
thống biển báo, hình ảnh, cử chỉ biểu đạt của con người được sử dụng để truyền tải thông điệp
Trang 25Có nhiều định nghĩa về thông điệp ở quan điểm tiếp cận, góc nhìn Nhưng thông điệp có ý nghĩa chung một phát ngôn hoàn chỉnh cả về nội dung và hình thức được mã hóa theo một hệ thống kí hiệu nào đó truyền tải thông tin đến người tiếp nhận bằng những phương tiện khác nhau Chúng tôi chọn quan điểm thông điệp của Nguyễn Văn Dững (2012) để làm nền tảng thực hiện nghiên cứu của mình
*Yêu cầu của thông điệp
Thứ nhất, thông điệp phải phù hợp với công chúng Nghĩa là thông điệp ở đây
phải phù hợp với đối tượng và mục tiêu của chiến dịch truyền thông Mục tiêu truyền thông luôn hướng tới đối tượng nhất định Vì vậy, thông điệp tuyên truyền cần thể hiện
rõ và đảm bảo hài hòa giữa nội dung và hình thức, giữa mục tiêu truyền thông, tuyên truyền vận động của báo chí với nhu cầu của người tiếp nhận Đối tượng của báo chí là công chúng, vì vậy thông điệp tuyên truyền trên hệ thống báo chí cần chú ý hướng tới thay đổi nhận thức, hành vi và thái độ của họ đối với truyền thông Công chúng hưởng ứng, đón nhận, tin tưởng vào thông điệp, thay đổi nhận thức, thái độ, hành vi phù hợp với mục đích của chiến dịch truyền thông cho thông điệp nêu ra Chẳng hạn, với thông điệp “Phiên chợ hàng Việt về nông thôn”, năm 2018 diễn ra ở quận Ô Môn, Bình Thủy, huyện Phong Điền và Cờ Đỏ, Báo Cần Thơ xác định đối tượng tuyên truyền là nông dân, người lao động, các bà nội trợ ở các vùng nông thôn Nội dung, hình thức xây dựng thông điệp giới thiệu phù hợp với đối tượng
Thứ hai, thông điệp phải phù hợp với chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt” là chủ trương của
Đảng và Nhà nước Báo chí với vai trò là cơ quan ngôn luận của Đảng và Nhà nước Báo chí là phương tiện thông tin đại chúng nhanh nhất, hiệu quả nhất Các cơ quan báo chí với những cách thức tuyên truyền riêng, nhưng đều hướng tới nhiều tầng lớp nhân dân Đặc trưng cơ bản của thông tin báo chí: tính xác thực, tiêu biểu; tính thời sự và tính định hướng trực tiếp Báo chí luôn coi việc thông tin tuyên truyền là một những nhiệm vụ thường xuyên của mình và thực hiện nhiệm vụ bằng nhiều phương thức và loại hình báo chí khác nhau Báo chí đã tác động đến mọi mặt đời sống xã hội, trở thành một trong những động lực quan trọng cho sự phát triển kinh tế-xã hội Nhà báo cũng không ngừng nâng cao vị thế, phát huy vai trò, đề cao trách nhiệm và tăng cường năng lực của các cơ quan báo chí Cơ quan báo chí luôn không ngừng cải thiện, phát triển để hoàn thành sứ mệnh truyền tải thông tin, định hướng thông tin đến quần chúng nhân dân Chẳng hạn, Đài truyền hình Vĩnh Long đã thực hiện tuyên truyền Phiên chợ đưa
“Hàng Việt về nông thôn” với thời lượng 1 phút 28 giây Hoạt động “Hàng Việt về nông thôn” đã thu hút được sự tham gia của các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh, tạo
cơ hội để người dân nông thôn có điều kiện tham quan, mua sắm hàng hóa do các doanh nghiệp Việt Nam sản xuất Hay Ban Chỉ đạo cuộc vận động, TP.Cần Thơ phối
Trang 26hợp với Nhật Báo Cần Thơ thực hiện chuyên trang với tên gọi “TP.Cần Thơ hưởng ứng Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, vào thứ năm hàng tuần, cung cấp cho Ban Chỉ đạo cuộc vận động các cấp, và phát đến tận Ban Công tác Mặt trận, 630 khu dân cư, giúp cho việc tuyên truyền cuộc vận động được triển khai rộng khắp trên địa bàn TP.Cần Thơ
Thứ ba, thông điệp phải phù hợp với các quy tắc và giá trị xã hội, với văn hóa – lối sống dân tộc và phát triển Hoạt động truyền thông đại chúng là một phần của hoạt
động văn hóa xã hội hiện đại Nó có vai trò quan trọng trong xây dựng và phát triển nền văn hóa xã hội Nghĩa là nâng cao trình độ hiểu biết chung của nhân dân, khẳng định và phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp, hình thành và hoàn thiện lối sống tích cực trong
xã hội Bất cứ một xã hội nào, giai đoạn phát triển nào của xã hội cũng chú trọng Với
số lượng nguồn thông tin khổng lồ, phong phú, đa dạng, tác động hàng ngày, hàng giờ vào đời sống xã hội truyền thông đại chúng có tác dụng giáo dục, hướng dẫn nhân dân
về đạo đức, lối sống Xây dựng văn hóa tiêu dùng của người Việt Nam dựa trên tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, tự tôn dân tộc Đa dạng hóa hình thức tuyên truyền, tùy vào nội dung vấn đề mục Chẳng hạn, báo in Nhật Báo Cần Thơ, bài chính của chuyên mục tuyên truyền sẽ được thay thế bằng những “chùm ảnh” hoặc “phóng sự ảnh” liên quan đến các hoạt động của cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” trên địa bàn TP.Cần Thơ
Thứ tư, thông điệp phải phù hợp với tâm lý, tâm trạng xã hội và thể hiện lợi ích của công chúng – nhóm đối tượng Chẳng hạn, thông điệp “tuần khuyến mại”, mục đích
của chương trình là nhằm góp phần bình ổn giá cả, ổn định thị trường, kiềm chế lạm phát, đảm bảo an sinh xã hội, tiếp tục hưởng ứng cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” Các ngành hàng tham gia chương trình gồm: hàng tiêu dùng, may mặc, thực phẩm chế biến, điện máy, điện lạnh, đồ dùng học sinh … Cùng đó
là các chương trình khuyến mãi như: tặng quà, rút thăm trúng thưởng, giảm giá, phù hợp với đông đảo công chúng
Thứ năm, thông điệp phải phù hợp với các kênh truyền thông Nghĩa là, có thể
cùng một thông điệp tuyên truyền, báo in đưa thông tin đến độc giả một cách sinh động,
thiết thực thông qua chữ viết, kết hợp hình ảnh, phát thanh thông qua âm thanh, tiếng
nói được truyền dẫn qua các ứng dụng công nghệ để truyền tải thông tin đến độc giả Báo hình sử dụng hình ảnh, kết hợp tiếng nói, âm thanh được truyền dẫn, phát sóng qua các ứng dụng công nghệ Thí dụ, với thông điệp “Kết nối cung cầu”, được thể hiện
phim ngắn “Bạn có vô tình bỏ qua những điều thầm lặng” do Hội doanh nghiệp hàng
Việt Nam chất lượng cao sản xuất năm 2017 Phim ngắn này đạt được gần 600.000 lượt xem Thông qua câu chuyện mẹ con, thông điệp mà phim muốn truyền tải là hãy ghi nhận những đóng góp thầm lặng của các doanh nghiệp Việt Nam Trong thời đại hàng
Trang 27ngoại tràn ngập thị trường, nhưng hàng Việt vẫn là sự lựa chọn trong đời sống của người tiêu dùng Việt Nam Đó là cái dĩa trong nhà, gốm sứ Minh Long; bút bi Thiên Long, ghế nhựa Duy Tân, may mặc Việt Tiến…
Thứ sáu, thông điệp phải ngắn gọn, hàm súc, sinh động, dễ hiểu, dễ nhớ và dễ làm theo Thí dụ, từ năm 2003, Co.op Mart ra mắt nhãn hàng riêng với các ngành hàng
tươi sống, công nghệ, hóa phẩm, đồ dùng và may mặc Các sản phẩm nhãn hàng riêng Co.opmart phát triển nhanh chóng, đa dạng về sản phẩm, phong phú về chủng loại, giá cạnh tranh và tạo được sự khác biệt, độc đáo Hay Lotte Mart Việt Nam phát triển thương hiệu Choice L tại thị trường Việt Nam, đến nay Choice L đang nhận được sự quan tâm của người tiêu dùng Choice L định vị là dòng sản phẩm dành cho gia đình chất lượng cao, với hơn 1.000 mặt hàng từ thực phẩm, đồ gia dụng, thời trang, điện máy… được chọn lọc những nhà cung cấp Việt đáp ứng tiêu chuẩn, quy trình sản xuất
khắt khe
* Các loại thông điệp
Có nhiều loại thông điệp truyền thông
-Thông điệp đích là thông điệp của cả chiến dịch truyền thông hướng tới
-Thông điệp cụ thể là loại thông điệp cấu thành thông điệp đích của chiến dịch truyền thông
-Thông điệp tài liệu là loại thông điệp ẩn chứa trong các tài liệu, dữ liệu
-Thông điệp ẩn là loại thông điệp mà để nhận biết nó cần tư duy tích cực, hay liên tưởng đến những vấn đề kinh tế-văn hóa- xã hội đang đặt ra
Lựa chọn kênh truyền thông là con đường và cách chuyển tải thông điệp đến công chúng một cách đầy đủ và hiệu quả nhất đến đối tượng
Đối với báo in và các ấn phẩm in ấn, thông điệp cần chú ý tính chặt chẽ, logich, nghệ thuật sử dụng ngôn từ rõ ràng, dễ hiểu, hình ảnh màu sắc phù hợp nhằm khơi gợi
sự tiếp nhận và thay đổi nhận thức của đối tượng tiếp nhận với mục tiêu của thông điệp Đối với phát thanh, chất liệu chính được sử dụng là lời nói, tiếng động và âm nhạc để tái hiện bức tranh hiện thực của cuộc sống, nên cần khai thác tối đa sức mạnh của âm thanh, giọng điệu Đối với truyền hình, với thế mạnh vượt trội về âm thanh, màu sắc, hình ảnh tạo cảm giác cảm xúc trực tiếp Nên việc sản xuất thông điệp cần đầu tư công phu, hoàn chỉnh để phát huy sức mạnh và lợi thế đối với công chúng tiếp nhận của thông điệp
Thiết kế thông điệp cho một chiến dịch, cuộc vận động đòi hỏi sự sáng tạo, tinh
tế, năng lực, mục tiêu chiến dịch và có khả năng thuyết phục, tiếp nhận và thay đổi nhận thức là các giá trị làm nên giá trị của thông điệp truyền thông
1.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”
Trang 281.2.1 Hàng Việt Nam
Có nhiều quan niệm khác nhau về hàng Việt Nam Để định nghĩa được thế nào
là hàng Việt Nam cần phân biệt rõ ba khái niệm: hàng nhập khẩu, hàng nội địa hóa và hàng Việt Nam
Dưới góc nhìn sản phẩm:
Hàng nhập khẩu: là hàng hóa được sản xuất từ nước khác và nhập qua cửa khẩu
Việt Nam, có xuất xứ nước ngoài Như vậy, dù nhà máy này do người Việt Nam làm chủ, sử dụng công nhân Việt Nam, thậm chí có thể sử dụng một phần nguyên liệu từ Việt Nam cũng đểu phải xem là hàng nhập khẩu Điều này phù hợp với quy tắc xuất xử của Tổ chức thương mại thế giới (WTO)
Hàng nội địa hóa: là hàng hóa được sản xuất từ nhà máy ở trong nước nhưng
mang nhãn hiệu nước ngoài, chủ sở hữu nhãn hiệu đó là công dân nước ngoài hoặc đó
là hàng sản xuất bởi các nhà máy trong nước và sở hữu nhãn hiệu là công dân Việt Nam như tỷ lệ giá trị gia tăng không đạt mức quy định của hàng Việt Nam Như vậy, với xe máy hiệu Honda, bột giặt Omo… dù sử dụng công nhân Việt Nam và một số phụ tùng trong nước đều được xem là hàng nội địa hóa chứ không phải hàng Việt Nam
Hàng Việt Nam: để được gọi là hàng Việt Nam phải đạt 3 tiêu chí sau (dưới góc nhìn sản phẩm)
- Phải được sản xuất trong nước, nghĩa là phải có nhà máy trong nước
- Có phần giá trị gia tăng tạo ra trong nước đạt tỷ lệ nhất định do cơ quan thẩm quyền của Việt Nam quy định tùy theo từng chủng loại và điều kiện cụ thể
- Chủ sở hữu hàng hóa phải là công dân Việt Nam
Dưới góc nhìn thương hiệu:
- Nhãn hiệu do người Việt Nam sở hữu
- Nhãn hiệu do công ty liên doanh hay công ty cổ phần sở hữu trong đó xét tỷ lệ
% cá nhân hoặc nhóm cổ đông Việt Nam
- Nhãn hiệu do người quốc tịch Việt Nam đăng ký bên ngoài lãnh thổ Việt Nam
- Dưới góc nhìn thương hiệu thì “xuất xứ thương hiệu” rất quan trọng bên cạnh khái niệm xuất xứ hàng hóa nhất là trong việc xác lập niềm tự hào dân tộc trong bối cảnh hội nhập trong nền kinh tế thị trường ngày nay, như mục đích cuộc vận động nêu rõ: “Nhằm phát huy mạnh mẽ lòng yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, tự tôn dân tộc, xây dựng văn hóa tiêu dùng của người Việt Nam và sản xuất ra nhiều hàng Việt Nam có chất lượng, sức cạnh tranh cao, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu” Theo Ban chỉ đạo Trung ương cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”
Trang 29Hàng Việt Nam là sản phẩm hàng hoá được sản xuất, lắp ráp và các dịch vụ được
thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam, tuân thủ pháp luật của Nhà nước Việt Nam; không phải hàng hoá, dịch vụ nhập khẩu từ nước ngoài
Hàng hoá thương hiệu Việt là hàng hoá do các doanh nghiệp, nhà sản xuất kinh
doanh trên lãnh thổ Việt Nam sở hữu và đăng ký nhãn hiệu hàng hoá xuất xứ từ Việt Nam
Hàng hóa, dịch vụ trong nước chịu sự điều chỉnh bởi các quy định của pháp luật hiện hành như: Luật Chất lượng; Luật Đo lường; Luật An toàn thực phẩm; Luật Tiêu chuẩn, quy chuẩn;
Hàng hóa nhập khẩu là hàng hoá được đưa vào lãnh thổ Việt Nam một cách hợp
pháp từ nước ngoài hoặc từ khu vực “đặc biệt” nằm trên lãnh thổ Việt Nam - khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật
Theo Ban chỉ đạo Trung ương cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng
hàng Việt Nam” hàng Việt Nam là một sản phẩm, hay hàng hóa được sản xuất, lắp ráp
trên lãnh thổ Việt Nam
Giá trị thương hiệu là sự đánh giá của khách hàng về sự khác biệt và có ý nghĩa giữa sản phẩm có thương hiệu và không có thương hiệu Hình ảnh thương hiệu, sự hấp dẫn của thương hiệu,
1.2.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về cuộc vận động “Người Việt Nam
ưu tiên dùng hàng Việt Nam”
Nghị định số 30/2008/ NQ-CP ngày 11/12/2008 của Chính phủ về những giải pháp cấp bách nhằm ngăn chặn suy giảm, duy trì tăng trưởng kinh tế, đảm bảo an sinh
xã hội
Thông tư số 21/2009/TT-BCT của Bộ Công thương ngày 15/7/2009 quy định việc xây dựng và hỗ trợ thực hiện chương trình xúc tiến thương mại thị trường trong nước năm 2009
Ngày 31/7/2009 thông báo số 264-TB/T.W thông báo kết luận của Bộ Chính trị
về tổ chức cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, do đồng chí Trương Tấn Sang ký Theo đó, vào tháng 8/2009, tổ chức phát động cuộc vận động và định kì hàng năm tiến hành sơ kết, từ 3-5 tiến hành cuộc vận động
Chỉ thị số 24/CT-TTg ngày 17/9/2012 của Thủ Tướng Chính phủ, nêu rõ: “Công
bố thường xuyên, kịp thời danh mục quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn quốc gia mới ban hành; thông tin chính thức về diễn biến thị trường, giá cả các mặt hàng thiết yếu, nhất là hàng hóa sản xuất trong nước trên các phương tiện thông tin đại chúng” (2012) [32, tr.96]
Trang 30Quyết định số 634/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ ngày 29/4/2014 về việc
phê duyệt đề án phát triển thị trường trong nước gắn liền với cuộc vận động “Người
Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” giai đoạn 2014 – 2010, hướng đến mục tiêu:
“Trong giai đoạn 2014 đến 2020, phát triển thị trường trong nước gắn với Cuộc vận
động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” nhằm góp phần thúc đẩy sản xuất,
kinh doanh và tiêu dùng hàng Việt Nam thông qua tập trung nguồn lực đẩy mạnh nhóm các hoạt động phát triển thị trường với tên gọi “Tự hào hàng Việt Nam”, đồng thời lồng ghép vào Chương trình hành động của các Bộ, Ngành, địa phương, đơn vị hưởng ứng Cuộc vận động nhằm tạo hiệu ứng cộng hưởng mạnh mẽ trên phạm vi toàn quốc thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị tại Thông báo Kết luận 107/KL-TW ngày 10 tháng 4năm 2015 của Ban Bí Thư về việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với việc thực hiện Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”
Bộ Công Thương, chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan, các hiệp hội ngành hàng đẩy mạnh công tác hỗ trợ doanh nghiệp trong các hoạt động xúc tiến thương mại,
tổ chức các hoạt động đưa hàng Việt về nông thôn, chợ truyền thống
Bộ Thông tin và Truyền thông: chủ trì, phối hợp với Ban Chỉ đạo Trung ương Cuộc vận động và các cơ quan liên quan chỉ đạo các cơ quan truyền thông, báo chí triển khai xây dựng các chương trình thường kỳ, các chuyên mục để quảng bá về sản phẩm, hàng hóa Việt Nam; phản ánh, cung cấp thông tin kịp thời, chính xác, khách quan về tình hình thực hiện Cuộc vận động của các ngành Các chương trình về hàng Việt Nam như
“Ngày hàng Việt”, “Tuần hàng Việt”, “Tháng hàng Việt”; triển khai Chương trình
“Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam trên môi trường trực tuyến” (website:
www.tuhaohangvietnam.vn); Chương trình “Sản phẩm và dịch vụ công nghệ Thông tin thương hiệu Việt”
Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: chú trọng việc xây dựng và ban hành các cơ chế, chính sách hỗ trợ, khuyến khích các doanh nghiệp trên địa bàn phát triển sản xuất kinh doanh, hệ thống dịch vụ phân phối đưa hàng về nông thôn, vùng sâu, vùng xa để tạo điều kiện cho người tiêu dùng tiếp cận và lựa chọn mua sắm, sử dụng hàng hóa thương hiệu Việt
Quyết định số 893 - QĐ/TU ngày 8 tháng 11 năm 2017 về việc thành lập ban chỉ đạo cuộc vận động” “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” thành phố Cần Thơ Ủy ban Mặt trận Tổ quốc thành phố Cần Thơ (2019) Số 01/KHPH-MTTQ-BCT năm 2019 về việc phối hợp thực hiện chuyên trang thông tin tuyên truyền với tên gọi
“Trang thông tin về Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam thành phố Cần Thơ” Nhật Báo Cần Thơ đã xây dựng kế hoạch và đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, vận động để người tiêu dùng trong nước biết, hiểu, đánh giá
Trang 31đúng về chất lượng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, khả năng sản xuất, kinh doanh và đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của doanh nghiệp Việt Nam; vận động các doanh nghiệp Việt Nam nhận thức rõ vai trò, trách nhiệm nâng cao chất lượng, sức cạnh tranh của sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ; thực hiện các cam kết bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng; từng bước xây dựng, bảo vệ và phát triển thương hiệu cho các sản phẩm, hàng hóa Việt Nam không chỉ tại thị trường trong nước mà còn từng bước vươn ra thị trường khu vực và thế giới
1.3 Đặc trưng, ưu điểm và hạn chế của các loại hình báo chí truyền thông về cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”
1.3.1 Quá trình phát triển Nhật báo Cần Thơ, Báo Vĩnh Long và Báo Cà Mau
* Nhật báo Cần Thơ
Trở thành Nhật báo cách mạng đầu tiên ở ĐBSCL vào ngày 1-1-2001; là Cơ quan ngôn luận của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân TP Cần Thơ từ ngày 1-1-2004; Báo điện tử đầu tiên ở ĐBSCL vào ngày 3-2-2004 Nhật Báo Cần Thơ đã trải qua một quá trình không ngừng đổi mới để làm tốt nhiệm vụ thông tin tuyên truyền Đến nay, Nhật Báo Cần Thơ với hệ thống trang, mục phong phú, có sức lan tỏa nhanh và rộng khắp, cập nhật kịp thời, chính xác thông tin thời sự diễn ra trên địa bàn, khu vực ĐBSCL, trong nước và trên thế giới
Ngày 1-1-2001, Báo Cần Thơ trở thành Nhật báo cách mạng đầu tiên ở ĐBSCL; được xuất bản 7 kỳ/ tuần, 6 trang, khổ 42 x 58 cm, in 2 màu Từ ngày 1-1-2002, Nhật báo Cần Thơ tăng lên 8 trang, khổ 42 x 58 cm, in 2 màu Ngày 1-1-2004, với sự kiện Trung ương tách tỉnh Cần Thơ thành hai đơn vị hành chính là TP.Cần Thơ trực thuộc Trung ương và tỉnh Hậu Giang, Nhật Báo Cần Thơ chính thức trở thành cơ quan ngôn luận của Đảng bộ TP Cần Thơ Thời điểm này, trang thông tin điện tử của Báo Cần Thơ được phát thử nghiệm trên mạng Internet Đến ngày 3-2-2004, trang thông tin điện tử Nhật Báo Cần Thơ phát chính thức và trở thành trang thông tin điện tử đầu tiên ở ĐBSCL Ngày 16-4-2007, Báo Cần Thơ Khmer ngữ chính thức phát hành ở các tỉnh ĐBSCL và một số tỉnh miền Đông Nam bộ Đến ngày 22-12-2007, trang tin Cần Thơ Khmer ngữ chính thức phát trên mạng toàn cầu Tròn 10 năm sau ngày trở thành Nhật báo Cách mạng đầu tiên ở ĐBSCL, Nhật Báo Cần Thơ chính thức đổi từ khổ 42cm x 58cm sang khổ 29cm x41cm, với 16 trang nội dung từ ngày 1-1-2011 và xuất bản liên tục ổn định đến nay Không ngừng nỗ lực đổi mới, nâng cao chất lượng tờ báo và đáp ứng nhu cầu thông tin trong nền báo chí hiện đại, ngày 1-9-2017, Nhật Báo Cần Thơ chính thức ra mắt Nhật Báo Cần Thơ điện tử, với địa chỉ truy cập: www.baocantho.com.vn Nhật Báo Cần Thơ điện tử là sự kế thừa trên nền tảng trang thông tin điện tử Báo Cần Thơ ra đời năm 2004 Báo Cần Thơ điện tử gồm 3 phiên bản:
Trang 32tiếng Việt, tiếng Anh và tiếng Khmer; được thiết kế với giao diện hiện đại, tích hợp đa phương tiện, tăng cường khả năng liên kết, tương tác, tương thích với tất cả các thiết bị…
*Báo Vĩnh Long
Sau giải phóng miền Nam 1975, Báo Vĩnh long ra số đầu tiên vào ngày
23-6-1975, với 4 trang khổ 32x42cm, mỗi tuần vào ngày thứ năm in tipô hai màu đỏ đen Năm 2016 tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh hợp nhất tờ báo tỉnh đảng bộ Vĩnh Long lấy tên
là báo Vinh Trà ra được 226 số, sau đó báo đổi tên là báo Cửu Long Năm 1991, Nghị quyết Quốc hội khóa VIII, kỳ họp thứ 10, tách Cửu Long thành hai tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh
Báo Vĩnh Long ra số đầu tiên ra ngày 7-5-1992 Hiện nay báo Vĩnh Long, phát hành mỗi kỳ trên 4000 bản, khổ 32x42 Năm 1997, báo trang bị hệ thống vi tính, tự lực trong khâu sắp chữ chế bản rút ngắn thời gian ra báo Về chuyên môn, báo Vĩnh Long không ngừng nâng cao chất luợng thông tin, mỗi số báo đều có bài “đinh”, tin, bài theo sát đời sống xã hội…Nhiều bài viết chuyên sâu theo thể loại phóng sự, điều tra nhiều
kỳ cũng đã được báo thực hiện khá thường xuyên Bài viết có chất lượng, trong đó có bài được giải báo chí Quốc gia, giải báo chí ngành Trung ương và giải báo chí của tỉnh Vĩnh long, khu vực ĐBSCL…
* Báo Cà Mau
Báo Cà Mau, cơ quan ngôn luận của Mặt trận giải phóng Cà Mau Số ra đầu tiên 20-12-1960 Báo Cà Mau lúc đầu in chữ chì, 4 trang khổ lớn, hình thức khá đẹp Sau giải phóng miền Nam hai tỉnh Cà mau và Bạc Liêu sát nhập thành tỉnh Minh Hải, báo đổi tên thành báo Minh Hải
Năm 1997 tỉnh Minh Hải được tách ra thành hai tỉnh Cà Mau và Bạc Liêu thì tờ báo trở về tên cũ là báo Cà Mau Báo Cà Mau ngày nay ngoài trụ sở khang trang với nơi làm việc đầy đủ tiện nghi, trang bị khá hiện đại, báo đã nối mạng internet Năm
2016, Báo Cà Mau điện tử, địa chỉ baocamau.com.vn chính thức hoạt động, gồm 22 chuyên mục, trong đó, ngoài tin tức, phóng sự, còn có các trang về chính trị, kinh tế, diễn đàn nhân dân, khuyến nông, những năm tháng không quên, kể chuyện Bác Ba Phi… nội dung được cập nhật thường xuyên Giao diện của báo Cà Mau điện tử do các họa sĩ của báo thiết kế, mang đậm bản sắc văn hóa của vùng đất Cà Mau
Báo Cà Mau điện tử được khai trương nhân kỷ niệm 68 năm ngày truyền thống cách mạng tỉnh Cà Mau thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Tỉnh ủy và nỗ lực của Ban biên tập và đội ngũ biên tập viên, phóng viên, cán bộ của báo Cà Mau Như vậy, ngoài
tờ báo Cà Mau phát hành 3 kỳ/ tuần, mỗi kỳ khoảng 4.500 bản, Đảng bộ và nhân dân tỉnh nhà còn có báo Cà Mau điện tử, phục vụ ngày càng tốt hơn yêu cầu tuyên truyền
Trang 33các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, làm cầu nối giữa Đảng với nhân dân
Cùng với sự phát triển của đất nước, đặc biệt là sau thời kỳ đổi mới (1986), đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, báo chí đồng bằng phát triển vượt bật cả về chất và lượng Báo đảng địa phương được quan tâm đầu
tư trụ sở, trang thiết bị hiện đại, đội ngũ những người làm báo được quan tâm đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, đủ sức đáp ứng cung cấp thông tin cho độc giả…Về mặt hình thức, báo chí ĐBSCL in đẹp, khổ nhỏ Thí dụ, như báo ngày Cần Thơ in màu, trang nhất, trang 16, trang ruột 8-9 in màu; báo Vĩnh Long, báo Cà Mau in màu số cuối tuần, ra phụ trang thu hút quảng cáo Về nội dung, báo chí ĐBSCL thời gian qua rất quan tâm tới nội dung, nhiều cuộc cải tiến nội dung được các báo thực hiện gia tăng hàm lượng thông tin bằng cách mở các chuyên mục, tăng thêm trang, tăng kỳ xuất bản; các thể loại báo chí như phóng sự, điều tra, phóng sự điều tra…được thực hiện thường xuyên và là bài “đinh” cho mỗi số báo, dần dần thu hút độc giả quan tâm
*Thế mạnh
Báo in, có thể thông tin, phân tích, giải thích và giải đáp những vấn đề phức tạp một cách có hệ thống, sâu sắc với năng lực tư duy logic và độ chính xác cao Báo in tác động vào thị giác, nên có lợi thế tác động mạnh vào lý trí, tình cảm của con người bằng những lập luận, luận cứ, luận điểm và số liệu chân thực Ngoài ra, người đọc chủ động
về địa điểm, thời gian, tư trong việc tiếp nhận thông tin Người đọc có thể đọc nhiều lần một ấn phẩm để khai thác hết chiều sâu của các tầng nấc thông tin Nhiều người cùng đọc hoặc dễ dàng chuyền tay nhau các ấn phẩm báo in và do đó công cúng trực tiếp có khả năng lây lan, phát triển và góp phần hình thành dư luận xã hội
Mọi người có thể trực tiếp tiếp nhận thông tin từ các trang báo điện tử mà không cần qua trung gian nào Khả năng lưu trữ thông tin rất tiện lợi cho việc tiếp cận và truy cập Tính thời sự thông tin báo điện tử nhanh hơn báo in, đa dạng và phong phú
*Hạn chế
Tính thời sự thông tin của báo in chậm theo chu kì xuất bản Trong khi tốc độ cập nhật thông tin đòi hỏi từng phút Ký hiệu thông tin của báo in đơn điệu, chỉ là có chữ và hỉnh ảnh Nếu kỹ năng xử lý thông tin bằng ngôn từ không cao và kỹ thuật trình bày không bắt mắt thì sẽ hạn chế tính hấp dẫn Bên cạnh đó, việc phát hành báo in tốn kém, cồng kềnh, phụ thuộc vào phương tiện vận tải, hệ thống giao thông, phong cách phục vụ Giá thành báo in đắt hơn các ấn phẩm truyền thông khác Trong xu thế cạnh tranh gay gắt giữa các loại hình báo chí như hiện nay, báo in cần phải thay đổi phương thức để tồn tại và phát triển thích hợp, từ việc thiết kế thế nào cho hấp dẫn, in ấn, quản
lý ra sao Sự phát triển môi trường truyền thông số, mạng internet, mạng xã hội, trên
Trang 34các nền tảng đa phương tiện…đang đòi hỏi tư duy và phong cách làm báo chuyên nghiệp
Người tiếp nhận thông tin phải luôn chú ý đến nguồn tin cũng như năng lực chọn lọc, thẩm định, đánh giá chất lượng nguồn thông tin Người tiếp nhận thông tin từ báo mạng phải có trang thiết bị thông minh và biết cách sử dụng Nên đối tượng tiếp nhận
bị hạn chế
1.3.2 Quá trình phát triển của Đài Phát thanh truyền hình Cần Thơ, Vĩnh Long, Cà Mau
*Đài Phát thanh truyền hình Cần Thơ
Kể từ khi thành lập, Đài đã qua 6 lần đổi tên Đài PT-TH thành phố Cần Thơ, tiền thân là đài phát thanh Cần Thơ giải phóng Đài được thành lập giữa lúc cuộc chiến đấu ác liệt của quan và dân ta để giải phóng thành phố ngày 30-4-1975 Kể từ ngày thành lập 30-4-1975 qua 6 lần đổi tên theo các lần chia tách tỉnh, thành phố Năm 2004,chính thức có tên là Đài Phát thanh và Truyền hình thành phố Cần Thơ (PT-TH Cần Thơ) cho đến nay
Gần 38 năm xây dựng và trưởng thành, Đài PT-TH Cần Thơ phát triển không ngừng Từ chỉ có sóng phát thanh AM, rồi phát thêm sóng truyền hình (analog) rồi truyền hình cáp và truyền hình vệ tinh Asiasat 5 Đặc biệt đã mở thêm loại hình phát thanh và truyền hình trực tuyến Khởi đầu chỉ vài cán bộ phóng viên, BTV, kĩ thuật viên, vài phòng ban chuyên đề…Đến nay PT-TH Cần Thơ, đã phát triển đội ngũ nhà báo lớn mạnh với hơn 200 người
Hiện nay Đài PT-TH Cần Thơ, được đầu tư khá hoàn thiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị, máy móc công nghệ hiện đại như: Trung tâm Kỹ thuật –phát thanh truyền hình, đầu tư nâng cấp máy phát sóng phát thanh AM công suất 10kW Máy phát hình kênh UHF công suất 20kw, để nâng cao chất lượng hoạt động đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân dân và phục vụ nhiệm vụ chính trị của thành phố…
*Đài Phát thanh truyền hình Vĩnh Long
Tháng 7-1977, Đài PT-TH Vĩnh Long phát sóng thử nghiệm, cuối năm này đài đã phát sóng chính thức Trong quá trình phát triển để trở thành một trong những đài truyền hinh mạnh của cả nước về quy mô, tiềm lực kinh tế, nội dung trương trình hấp dẫn độc giả phủ sóng tên khắp lãnh thổ Việt Nam…Đài PT-TH Vĩnh Long đã xây dựng chiến lược phát triển và có bước đi vững chắc
Ngay từ năm 2000, Đài PT-TH Vĩnh Long đã đầu tư hệ thống thiết bị chuyên dùng sản xuất trương trình phát thanh theo công nghệ kĩ thuật số và lập dự án tháp ăng
Trang 35- ten đứng cao 150m Năm 2005, Trung tâm kỹ thuật PT-TH chính thức hoạt động Năm 2006 kênh truyền hình Vĩnh long 31UHF phát sóng 24/24 giờ; năm 2014 phát triển truyền dẫn chương trình của đài trên Internet qua ứng dụng xem truyền hình trên các thiết bị di động…
Ngày nay Đài PT-TH Vĩnh Long là một trong những cơ quan báo chí mạnh của
cả nước với chương trình phong phú được người xem đón nhận Đài phát sóng truyền hình trên Kênh THVL1 và THVL2 Riêng hai kênh THVL3 và THVL4 khán giả có thể xem trên hệ thống cáp THVL sắp tới sẽ phủ sóng trên toàn quốc, các hạ tầng như kênh THVL1 và THVL2 HD Đài PT-TH Vĩnh Long thường xuyên đầu tư phương tiện, kỹ thuật, trang thiết bị hiện đại, với đội ngũ trên 500 người làm việc trong môi trường làm báo hiện đại Đài đã tự chủ tài chính từ lâu và là một trong nhưng cơ quan báo chí có nguồn thu trên 1000 tỷ đồng…
*Đài Phát thanh truyền hình Cà Mau
Đài PT-TH Cà Mau, tiền thân là Đài PT-TH Minh Hải được thành lập theo Quyết Định số 353/QĐ.UB ngày 4/7/1977 của UBND Tỉnh Minh Hải Đài đã chính thức phát đi tiếng nói đầu tiên vào ngày 19/8/1977 Ngay từ ngày đầu Tỉnh Cà Mau mới được tái lập (01/01/1997), nhiệm vụ là tờ báo nói, báo hình, là cơ quan ngôn luận của Đảng và Nhà nước, là diễn đàn của nhân dân Cà Mau Đài PT-TH Cà Mau có chức năng tuyên truyền đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, giáo dục pháp luật của Nhà nước Việt Nam Đồng thời phục vụ nhu cầu hưởng thụ văn hóa, nghệ thuật bồi dưỡng nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân Phục vụ đắc lực cho công cuộc đổi
mới đất nước vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh” Hơn 30 năm, toàn thể cán bộ, phóng viên, công chức từng bước vượt qua mọi
khó khăn gian khổ, không ngừng học tập nâng cao trình độ, nêu cao trách nhiệm của người chiến sĩ cầm bút, cầm máy trên mặt trận chính trị tư tưởng Biết lấy phương
châm “Đoàn kết, Thống nhất” để tạo sức mạnh, làm động lực thúc đẩy quá trình đổi
mới Không ngừng cải tiến và nâng cao chất lượng nội dung chương trình, đảm bảo thông tin nhanh, nhạy, kịp thời, chính xác những sự kiện quan trọng đang diễn ra ở các địa phương trong tỉnh, trong nước và trên thế giới mà mọi người quan tâm Ngày nay, Đài PT-TH Cà Mau đã được đầu tư khá hoàn thiện từ cơ sở hạ tầng đến thiết bị kỹ thuật Có khu Trung tâm kỹ thuật gần 3.100 m2, với 8 phòng chuyên môn trực thuộc Máy phát thanh phát sóng AM, FM có công suất 10KW, thời lượng chương trình mỗi ngày trên 15 giờ 30 phút Kênh truyền hình CTV phát sóng 24/24 giờ mỗi ngày Diện phủ sóng cả phát thanh và truyền hình toàn bộ địa phận tỉnh Cà Mau và một số vùng lân cận
*Thế mạnh
Trang 36Sự quảng bá thông tin tỏa khắp, cùng lúc có thể tác động, chi phối đến hàng triệu người Thông tin nhanh, tiếp nhận đồng thời Báo in chỉ cho phép tiếp nhận từng người một, còn phát thanh thì nhiều người có thể cùng nghe, cùng theo dõi, cùng phản ứng Phát thanh có sức mạnh đặc biệt trong việc hình thành dư luận xã hội rộng khắp, tức thì Với thế mạnh về âm thanh: lời nói, tiếng động, âm nhạc trong phản ánh hiện thực, tạo nên bức tranh sinh động, thu phục người nghe Là một trong những kênh truyền thông ít tốn kém đối với công chúng, nên dễ thích ứng với cộng đồng dân cư nhất là nông dân với mức sống thấp Phát thanh đến với mọi công chúng, không phân biệt trình độ Hệ thống phát thanh, truyền thanh lan tỏa đến tận phường, xã, các dân cư
Truyền hình chuyển tải thông điệp bằng hình ảnh với tất cả màu sắc vốn có của cuộc sống, cùng với thế giới âm thanh sống động tạo nên tính hấp dẫn Thông điệp trên truyền hình hấp dẫn, dễ hiểu, thích ứng với các nhóm công chúng có trình độ văn hóa khác nhau
*Hạn chế
Thông tin trên sóng phát thanh khó trình bày, phân tích những vấn đề phức tạp, nhất là những vấn đề về số liệu, bởi thế mạnh của phát thanh là thông tin nhanh Mặt khác, thông tin tiếp nhận qua phát thanh dễ quên
Các tín hiệu truyền hình được truyền đi theo tuyến tính thời gian, làm cho đối tượng tiếp nhận bị động hoàn toàn về tốc độ và trình tự tiếp nhận Chi phí sản xuất chương trình truyền hình thường khá tốn kém
1.4 Những yêu cầu đặt ra đối với thông điệp về cuộc vận động “Người Việt Nam
ưu tiên dùng hàng Việt Nam” báo chí ĐBSCL
1.4.1 Nội dung và quá trình thiết lập thông điệp
Trong truyền thông, các thông điệp được truyền tải qua lại giữa các thành viên tham gia tạo ra sự liên tục và tác động qua lại của quá trình truyền thông Yêu cầu của thông điệp truyền thông là
-Nội dung thông điệp phải rõ ràng, cụ thể, chính xác Yêu cầu này được thực hiện tốt là tạo sự thuận lợi cho quá trình tiếp nhận của đối tượng, tránh hiểu nhầm hay sai lệch nội dung, ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả truyền thông Nội dung thông phải thật cụ thể, chính xác về nguồn tin và nội dung thông tin
-Nội dung thông điệp phải liên quan đến nhu cầu của đối tượng Nhu cầu là cơ
sở để hình thành động cơ và tính tích cực của đối tượng trong các mối quan hệ giao tiếp
cá nhân Nội dung thông điệp phải liên quan mật thiết với nhu cầu của đối tượng tham gia Để cho đối tượng tiếp nhận thông điệp một cách dễ dàng, hứng thú, chủ động tham gia hoạt động truyền thông Ví dụ, thông điệp “hành việt về nông thôn”, tổ chức các
Trang 37vùng nông thôn đồng bằng với các mặt hàng phù hợp với nhu cầu cuộc sống hàng ngày của vùng nông thôn
- Tạo sự tin cậy và tin tưởng cho người phát thông điệp Nội dung thông điệp nhất quán, có cơ sở vững chắc cả về lập luận và tình cảm, được khẳng định bằng nguồn thông tin đánh tin cậy, thì tự bản thân nội dung thông điệp đã tạo nên sự tin cậy để người tiếp nhận thông tin tin tưởng vào nguồn phát thông điệp
-Tạo sự trao đổi thông điệp trong truyền thông Trong truyền thông hoạt động giao tiếp, sự trao đổi thông điệp tạo tính liên tục của các hoạt động giao tiếp
1.4.2 Quá trình thiết lập và tiếp nhận thông điệp
Để thiết kế thông điệp phù hợp, cần tìm hiểu kỹ nhóm đối tượng, công chúng tiếp nhận thông điệp Đặc biệt là hiểu những nhu cầu, mong đợi của họ từ chiến dịch truyền thông – vận động của xã hội Nội dung và hình thức thông điệp cần thực hiện các bước sau đây
Bước 1: Thử nghiệm thông điệp Thông điệp được thiết kế xong, cần triển khai thử nghệm trong một nhóm nhỏ, thu nhận các phản hồi về tính chính xác, khả năng nhận thức, năng lực thuyết phục, kêu gọi,…Quá trình thử nghiệm thông điệp cần chú ý như: công chúng – nhóm đối tượng tuyên truyền có thích thông điệp không Thông điệp
có phù hợp với tâm lý, tâm trạng công chúng Những yêu cầu của thông điệp có phù hợp, vừa sức với sự tiếp nhận của công chúng Khả năng kêu gọi hành động của thông điệp có rõ ràng, cụ thể và đủ sức thuyết phục
Bước 2: Hoàn thiện thông điệp cả về nội dung và hình thức, kiểm tra các điều kiện để chuẩn bị sản xuất thông điệp
Ví dụ: Thông điệp “Niềm tin hàng Việt” do đài phát thanh Vĩnh Long thực hiện Thông điệp thâm nhập vào công chúng – nhóm đối tượng theo từng bước và các cấp độ sau:
- Tiếp nhận thông điệp
- Nhận biết nội dung, yêu cầu thông điệp
- Chấp nhận thông điệp
- Tin tưởng vào thông điệp
- Quyết tâm hành động, thay đổi hành vi cá nhân
- Kêu gọi vận động người khác cùng thực hiện, cùng thay đổi hành vi
Quá trình tiếp nhận thông tin của công chúng gồm các bước sau:
Thứ nhất, tiền đề nhận thức của công chúng được xem như là yếu tố nền của sự tiếp
nhận thông tin Điều này, phụ thuộc vào trình độ, kiến thức, kinh nghiệm sống
Trang 38Thứ hai, sự quan tâm của đối tượng đối với nguồn tin Nghĩa là công chúng tập trung
chú ý vào thông tin khi người ta cảm thấy sự cần thiết hay có ý nghĩa với bản thân họ
Thứ ba, sự đánh giá của công chúng xã hội đối với nguồn tin Đây là cánh cửa quan
trọng dẫn đến việc công chúng có tiếp nhận nguồn thông tin
Thứ tư, đây là bước chuyển từ việc tiếp nhận thông tin và chuyển thành hành vi hành vi
xã hội
Thứ năm, công chúng tiếp nhận và điều chỉnh hành vi xã hội của mình phù hợp với quy
mô, tính chất và khuynh hướng của nguồn thông tin từ các phương tiện truyền thông
Để có khả năng thuyết phục trong hoạt động của nhiều loại hình truyền thông khác nhau, làm cho đối tượng thay đổi nhận thức, hành vi, thái độ, theo quan điểm của
William McGuire, cần phải trải qua các bước
Bước 1: Tiếp cận thông điệp
Nhà truyền thông, bằng các phương tiện và các kênh truyền thông, tạo ra môi trường truyền thông trong đó công chúng/nhóm đối tượng có khả năng tiếp cận với thông điệp
đã thiết kế Nói cách khác đây là bước giới thiệu để tăng khả năng tiếp cận thông điệp trong các hoạt động truyền thông
Bước 2: Chú ý thông điệp Khả năng thuyết phục trong truyền thông chỉ có thể có
được khi nhà truyền thông có khả năng thu hút công chúng/ nhóm đối tượng để họ chú
ý đến thông điệp
Bước 3: Có mối quan tâm hoặc mối liên hệ của cá nhân với thông điệp Nếu công
chúng tìm thấy được mối quan tâm hoặc liên quan đến nhu cầu, lợi ích, sở thích, thói quen của họ, họ sẽ tiếp tục bị “dẫn dắt” để chịu sự tác động của truyền thông
Bước 4: Hiểu thông điệp Đây là giai đoạn trong đó đối tượng/ công chúng nhận thức
để hiểu thông điệp.Hiểu thông điệp là vấn đề có ý nghĩa làm thay đổi nhận thức và thái
độ của công chúng/nhóm đối tượng một cách bền vững
Bước 5: Cá nhân hóa điều chỉnh hành vi phù hợp với đời sống Các đối tượng tiếp
nhận suy nghĩ kĩ hơn về thông điệp.Họ liên hệ với những vấn đề liên quan đến đời sống của chính họ Khi đó, nội dung thông điệp đã bắt đầu có tác dụng điều chỉnh suy nghĩ
và định hướng hành vi của từng cá nhân
Bước 6: Chấp nhận thay đổi về nhận thức, hành vi, thái độ là một bước ngoặc quan
trọng trong kết quả của chiến dịch truyền thông Nhà truyền thông cần chủ động chú ý theo dõi, quan sát và chọn thời điểm phù hợp để cho bước chuyển này có hiệu lực thì hiệu quả truyền thông sẽ rất cao
Bước 7: Ghi nhớ thông điệp và không ngừng ủng hộ thông điệp Khi đối tượng
công chúng đã chấp nhận sự thay đổi hành vi, việc tiếp theo nhà truyền thông cần làm
để thuyết phục được họ là phải làm cho họ ghi nhớ thông điệp và không ngừng ủng hộ
Trang 39thông điệp Các nhóm tài liệu, các hoạt động truyền thông trong giai đoạn này cần đa dạng, phong phú, độc đáo, cụ thể, phù hợp với từng nhóm đối tượng
Bước 8: Có khả năng tư duy về thông điệp Việc thay đổi từ thái độ, hành vi liên
quan đến lĩnh vực truyền thông phụ thuộc vào công chúng tư duy về thông điệp như thế nào Các tài liệu, sản phẩm truyền thông, thông qua các kênh truyền thông khác nhau, phải chú ý khuyến khích, kích thích tư duy về thông điệp cho công chúng, định hướng quá trình tư duy về thông điệp
Bước 9: Ra quyết định trên cơ sở tiếp thu thông điệp Trên cơ sở tiếp thu thông điệp,
chuyển đổi tận gốc thái độ dựa trên sự hiểu biết và tư duy thông điệp, công chúng là người quyết định chuyển đổi hành vi của chính họ như thế nào và ở mức độ nào
Bước 10: Tích cực củng cố hành vi và chấp nhận hành vi trong đời sống Hành vi
của công chúng đã thay đổi, nhưng nếu không được củng cố, có thể chỉ thực hiện vài lần rồi thay đổi Truyền thông trong giai đoạn này hướng tới sự đúng đắn của hành vi, nêu kết quả tích cực của các mô hình, điển hình… từ đó tác động đến công chúng, giúp
họ thường xuyên duy trì và củng cố hành vi, là cơ sở cho sự biến đổi hành vi có tính bền vững
Mục đích của truyền thông là làm cho người tiếp nhận hiểu được cặn kẽ thông điệp và có hành vi tương tự Nghĩa là truyền thông khi chuyển thông điệp cho người tiếp nhận luôn mong muốn người tiếp nhận hiểu được thông điệp tuyên truyền, tiếp nhận tích cực với thông điệp, và thông điệp làm ảnh hưởng đến thái độ và hành vi của
người tiếp nhận Theo Tạ Ngọc Tấn (2001): “Hiệu ứng xã hội của truyền thông đại
chúng là những biểu hiện của xã hội hình thành do sự tác động của thông tin từ các phương tiện truyền thông đại chúng” [28, tr.31] Hiệu ứng xã hội của truyền thông đại
chúng cũng rất phong phú Nó bao gồm những phản ứng tâm lý, trạng thái tình cảm, cách ứng xử hành vi cụ thể của cá nhân và cộng đồng Có những biểu hiện của hiệu ứng
xã hội của truyền thông đại chúng xuất hiện tức thì như hệ quả trực tiếp của việc tiếp nhận thông điệp như hứng khởi, hăng hái,…hay có những biểu hiện của hiệu ứng xã hội dưới dạng là những hành vi xã hội rộng lớn, trở thành phong trào…Có những biểu hiện được hình thành như kết quả tác động lâu dài của các thông điệp từ hệ thống truyền thông đại chúng Mức độ cao nhất của hiệu quả xã hội của truyền thông đại chúng là
hiệu quả thực tế “Hiệu quả thực tế của truyền thông đại chúng là những thay đổi, vận
động thực tế của đời sống xã hội dưới tác động của truyền thông đại chúng” (Tạ Ngọc
Tấn (2001) [28, tr.31] Hiệu quả thực tế là mục đích hướng tới cao nhất của hoạt động truyền thông đại chúng Đó là những biến đổi về số lượng và chất lượng của các tiến trình, các lĩnh vực đời sống xã hội
Trang 40Quá trình tiếp nhận thông điệp từ độc giả, bao gồm các cấp độ: tiếp nhận thông điệp, nhận biết nội dung, yêu cầu của thông điệp, chấp nhận thông điệp, tin tưởng vào thông điệp, quyết tâm hành động, thay đổi hành vi cá nhân, kêu gọi người khác cùng thực hiện, cùng thay đổi hành vi Vì vậy thông điệp từng nội dung tuyên truyền cần phải thiết kế phù hợp với bạn đọc (nhóm đối tượng cụ thể) Thí dụ, với các chương trình “Phiên chợ hàng Việt”, “Hội chợ hàng Việt”, Báo chí tổ chức nhiều kênh tuyên truyền, hình thức tuyên truyền với thông điệp rõ ràng, cụ thể, bằng nhiều hình thức khác nhau đến công nhân lao động, người thu nhập thấp Báo chí cung cấp đầy đủ thông tin giúp công nhân phân biệt hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng; thông tin những sản phẩm chất lượng tốt và giá cả phù hợp Để hàng Việt Nam đến gần hơn với công nhân lao động Thời gian của công nhân chủ yếu đi làm, thời gian được nghỉ lại tranh thủ làm thêm giờ để tăng thu nhập, quỹ thời gian còn lại dành cho gia đình, nghỉ ngơi, do đó hầu như không có thời gian cho việc tìm hiểu về các hàng hóa thương hiệu Việt Những thông điệp tuyên truyền của báo chí vừa giúp việc quảng bá hàng Việt Nam đạt hiệu quả cao hơn, tiết giảm chi phí về thời gian và tiền bạc cho công nhân, phù hợp với nhu cầu khác nhau của công nhân
Thông điệp cho truyền thông là hết sức quan trọng Cần phải hiểu họ mong đợi điều gì Họ có thích thông điệp không? Thông điệp có phù hợp với tâm lý, tâm trạng công chúng không? Những yêu cầu thông điệp có phù hợp với nhận thức chung của nhóm đối tượng? khả năng tác động, kêu gọi hành động của thông điệp có rõ ràng, mạnh mẽ không? Thông điệp cần hoàn chỉnh nội dung và hình thức thì công chúng mới tiếp nhận, thay đổi nhận thức và hành vi theo mục đích tuyên truyền của thông điệp đặt ra
Tiểu kết chương 1
Chương 1 đã trình bày hệ thống các khái niệm về truyền thông và truyền thông đại chúng, các loại hình báo chí, thông điệp và các loại thông điệp Có nhiều khái niệm khác nhau về thông điệp Luận văn đã thống nhất ra khái niệm “Thông điệp là hệ thống các ký hiệu hàm chứa một nội dung thông tin cụ thể” Nghĩa là thông điệp được xem là như một phát ngôn hoàn chỉnh về nội dung và hình thức dành cho một đối tượng trong một hoàn cảnh cụ thể nhằm đạt được mục tiêu trong truyền thông Thông điệp cần đáp ứng các yêu cầu: phù hợp với công chúng, phù hợp với chủ trương chính sách của Đảng
và Nha nước, thông điệp phù hợp với các quy tắc và giá trị xã hội, thông điệp phù hợp với tâm lí và lới ích của công chúng, thông điệp phù hợp với kênh truyền thông, thông điệp phải đảm bảo ngắn gọn, súc tích Nội dung về quan điểm của Đảng và Nhà nước
về cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” bao gồm nhiều Quyết định, Chỉ thị của Chính Phủ, các Bộ, các Ngành, Ủy ban nhân dân các tỉnh,