1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài liệu Luận văn tốt nghiệp "Nâng cao hiệu lực và hiệu quả giám sát của Quốc hội" pdf

53 566 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nâng cao hiệu lực và hiệu quả giám sát của Quốc hội
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn
Chuyên ngành Luật
Thể loại Luận văn
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 53
Dung lượng 448 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chất lượng và hiệu quả của việcthực hiện các chức năng lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đấtnước và giám sát tối cao toàn bộ hoạt động của Nhà nước ngày càng đượcnâng cao, b

Trang 1

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

Đề tài "Nâng cao hiệu lực và hiệu quả giám

sát của Quốc hội"

Trang 2

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

MỞ ĐẦU 2

1 Tính cấp thiết của đề tài 2

2 Tình hình nghiên cứu 4

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 6

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 7

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của tiểu luận 8

6 Kết cấu của tiểu luận 8

NỘI DUNG 8

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU LỰC VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA QUỐC HỘI 8

1.1 Quốc hội 8

1.2 Quyền giám sát của Quốc hội 10

1.3 Hiệu lực, hiệu quả giám sát của Quốc hội - khái niệm, mối quan hệ, các tiêu chí đánh giá và điều kiện đảm bảo 14

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA QUỐC HỘI VIỆT NAM HIỆN NAY 21

2.1 Kết quả đạt được 21

2.2 Những tồn tại, hạn chế cần khắc phục 29

2.3 Nguyên nhân của hạn chế 34

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU LỰC VÀ HIỆU QUẢ GIÁM SÁT CỦA QUỐC HỘI 39

3.1 Tính tất yếu khách quan của việc nâng cao hiệu lực và hiệu quả giám sát của Quốc hội 39

3.2 Phương hướng nâng cao hiệu lực và hiệu quả giám sát của Quốc hội 42

3.3 Các giải pháp nâng cao hiệu lực và hiệu quả giám sát của Quốc hội 44

KẾT LUẬN 50

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 51

Trang 3

MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết của đề tài

Đất nước ta đang bước vào thời kỳ phát triển mới – thời kỳ đẩy mạnhcông nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và tiến hành xây dựng Nhà nướcpháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân Thực hiện nhiệm vụ đókhông thể tách rời với việc nâng cao vị trí, vai trò của Quốc hội – cơ quanđại diện cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nướcpháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam Để hoàn thành được mục tiêu đó thìyêu cầu đặt ra là phải có một hệ thống pháp luật đồng bộ, trong đó tính tốicao của Hiến pháp đựợc đảm bảo và có một cơ chế kiểm tra, giám sát hiệuquả đối với hoạt động của các cơ quan trong bộ máy nhà nước, mà trước hết

là hoạt động giám sát của Quốc hội

Trong những năm qua, cùng với công cuộc cải cách, đổi mới bộ máy nhànước nói chung, Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội nói riêng cũng đã cónhiều bước đổi mới về tổ chức và phương thức hoạt động, góp phần xứngđáng vào sự nghiệp đổi mới của đất nước Chất lượng và hiệu quả của việcthực hiện các chức năng lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đấtnước và giám sát tối cao toàn bộ hoạt động của Nhà nước ngày càng đượcnâng cao, bước đầu đáp ứng được nhu cầu đổi mới và sự tin tưởng và ủng hộcủa mọi tầng lớp nhân dân Tuy nhiên, so với đòi hỏi của thực tiễn, nhất làđòi hỏi của một Quốc hội trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thật

sự của dân, do dân và vì dân, Quốc hội còn phải tiếp tục đổi mới cả về nhậnthức, lý luận lẫn tổ chức thực hiện các chức năng của mình trong thực tiễn

Trang 4

Duy trì định hướng đó, Nghị quyết Đại hội X Đảng Cộng Sản Việt Nam đã

đề ra chủ truơng là cần phải “Nâng cao chất lượng, hiệu lực và hiệu quả

giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân, xác định rõ phạm vi, nội dung cơ chế giám sát của Quốc hội, các ủy ban của Quốc hội”.

Đi sâu nghiên cứu việc thực hiện chức năng Hiến định “ giám sát toàn bộhoạt động của Nhà nước, đặc biệt từ sau khi Luật hoạt động giám sát củaQuốc hội có hiệu lực (8- 2003) cho thấy: mặc dù Quốc hội nước ta đã cónhiều nỗ lực nhằm từng bước hoàn thiện cơ chế pháp lý, cải tiến quy trình,tăng cường điều kiện hỗ trợ để nâng cao hiệu lực và hiệu quả giám sát,nhưng xét trên phương diện lý luận cũng như thực tiễn, giám sát vẫn là khâuyếu nhất và hiệu lực và hiệu quả chưa cao trong tổng thể việc thực hiện cácchức năng của Quốc hội, chưa xứng tầm với quyền giám sát tối cao màQuốc hội được trao So với yêu cầu đòi hỏi của cuộc sống, quy định củaHiến pháp, pháp luật và nguyện vọng của nhân dân thì giám sát tối cao củaQuốc hội còn phải đổi mới một cách mạnh mẽ hơn nữa, nhất là trong điềukiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, mở rộng dân chủ, hộinhập kinh tế quốc tế và khu vực đang tiến hành mạnh mẽ ở nước ta

Tóm lại, mặc dù sự ra đời về Luật hoạt động giám sát của Quốc hội đãgiải quyết được nhiều vấn đề liên quan đến chức năng giám sát tối cao củaQuốc hội nhưng vẫn đang còn tồn tại nhiều vấn đề về những biện pháp nângcao hiệu lực và hiệu quả giám sát của Quốc hội Trong điều kiện nói trên thìviệc tổng kết thực tiễn hoạt động giám sát của Quốc hội từ đó tìm ra nguyênnhân của những hạn chế và tồn tại để đưa ra những giải pháp là những điềurất cần thiết để nâng cao hơn nữa hiệu lực và hiệu quả giám sát của Quốchội trong giai đoạn hiện nay

2 Tình hình nghiên cứu.

Trang 5

Chức năng giám sát Quốc hội đã là đối tượng ngiên cứu từ nhiêu nămnay ở nhiều nước trên thế giới Tuy nhiên, hầu hết các tài liệu nghiên cứu vềchức năng giám sát của Quốc hội mới chỉ đặt trong phạm vi nghiên cứu tổngthể về Quốc hội chứ chưa có nhiều công trình nghiên cứu riêng biệt về vấn

đề này Ở Việt Nam trong một thời gian dài chưa có công trình nghiên cứuchuyên sâu, quy mô về hoạt động giám sát của Quốc hội Gần đây bắt đầu cómột số công trình nghiên cứu về chức năng giám sát của Quốc hội với cácluận án tiến sĩ như:

“ Tăng cường hoạt động giám sát của Quốc hội Việt Nam” của NCS

Phạm Trọng Kỳ, năm 1993;

“ Hoàn thiện cơ chế pháp lý đảm bảo chức năng giám sát của Quốc

hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” của NCS Trương Thị

Hồng Hà, năm 2007

Ngoài ra còn một số sách chuyên khảo như:

“Về quyền giám sát tối cao của Quốc hội”, Ts Phạm Ngọc Kỳ NXB

Chính trị Quốc gia (1995)

“Quyền giám sát của Quốc hội - nội dung và thực tiến từ góc nhìn

tham chiếu”, TS Nguyễn Sĩ Dũng chủ biên NXB Tư pháp, Hà Nội, 2004;

“Thường thức về hoạt động giám sát của Quốc hội”, Ts Nguyễn Sĩ

Dũng chủ biên, NXB Tư pháp, Hà Nội 2006;

“Cơ quan lập pháp và hoạt động giám sát” Văn phòng Quốc hội, NXB

Tư pháp, Hà Nội, 2006

Mặc dù dưới các góc độ tiếp cận khác nhau nhưng các tác giả đều khẳngđịnh vị trí pháp lý của Quốc hội trong hệ thống tổ chức bộ máy Nhà nướcViệt Nam với tư cách là cơ quan đại diện cho cử tri cả nước, cơ quan quyềnlực Nhà nước cao nhất Cùng với chức năng lập pháp và quyết định các vấn

đề quan trọng của đất nước, giám sát là một chức năng quan trọng của Quốc

Trang 6

hội Các tác giả cũng có cùng nhận định: so với chức năng được pháp luậtquy định, trước các yêu cầu đổi mới và kiện toàn bộ máy nhà nước hiện naythì giám sát vẫn là một khâu yếu, quyền lực và hiệu quả chưa cao, cần cónhững giải pháp đồng bộ để tăng cường năng lực và nâng cao hiệu quả giámsát của Quốc hội

Có thể khái quát một số nhóm nội dung nghiên cứu cơ bản sau đây: Nhóm nghiên cứu chung về chức năng giám sát của Quốc hội: các tác giảtập trung phân tích vị trí , vai trò quyền giám sát trong cơ chế quyền lực Nhànước, phân tích những vấn đề lý luận về quyền giám sát tối cao của Quốchội Việt Nam Ở nội dung này PGS.Ts Nguyễn Đăng Dung trong cuốn “ Sự

hạn chế quyền lực Nhà nước” nhấn mạnh vai trò của Quốc hội trong việc

kiểm soát các cơ quan hành pháp và coi đây như một chức năng căn bản củaQuốc hội

Nhóm nghiên cứu về hiệu lực và hiệu quả giám sát: Vấn đề hiệu lực vàhiệu quả giám sát đã được một số tác giả đề cập đến trong một số công trìnhnghiên cứu hoặc bài viết liên quan đến tổ chức và hoạt động của Nhà nướcnói chung hoặc về hoạt động giám sát của Quốc hội nói riêng Tuy nhiênchưa có công trình chuyên sâu, riêng biệt về vấn đề này, chưa có công trìnhnào nghiên cứu về các tiêu chí đánh giá và điều kiện đảm bảo hiệu lực hiệuquả giám sát

Nhóm nghiên cứu các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt độnggiám sát của Quốc hội cho rằng cần đổi mới toàn diện cơ chế giám sát hiệnnay, phân định rõ phạm vi giám sát thuộc thẩm quyền của Quốc hội và phạm

vi giám sát thuộc thẩm quyền của các cơ quan Nhà nước khác, tăng cườngcác điều kiện đảm bào hoạt động giám sát sủa Quốc hội

Nhìn chung có thể thấy rằng đã có một số nghiên cứu khoa học liên quankhá chặt chẽ đến nội dung đề tài của tiểu luận đã đặt ra Tuy nhiên, các

Trang 7

nghiên cứu này chưa đi sâu một cách tổng thể Trên cơ sở tổng hợp và chắtlọc những kiến thức từ các tài liệu người viết đi sâu nghiên cứu và cụ thểhóa về vấn đề giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả giám sát của Quốc hội.

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu.

Mục đích:

Trên cơ sở nghiên cứu về lý luận và thực tiễn , phân tích những cách tiếpcận khác nhau về quyền giám sát tối cao của Quốc hội trong cơ chế quyềnlực Nhà nước để đưa ra cách nhìn nhận tổng thế và hệ thống về quyền giámsát của Quốc hội trong tổ chức quyền lực Nhà nước để làm rõ thêm tầmquan trọng, vai trò của quyền giám sát của Quốc hội trong đời sống chính trị

xã hội Đồng thời cũng đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu lựchiệu quả giám sát của Quốc hội

Nhiệm vụ:

Phân thích và làm sang tỏ những vấn đề lý luận về vai trò, nội dungquyền giám sát tối cao của Quốc hội trong hệ thống tổ chức quyền lực Nhànước trên cơ sở nghiên cứu các quan niệm về quyền giám sát và các hìnhthức giám sát của Quốc hội

Nghiên cứu những vấn đề lý luận về hiệu lực và hiệu quả giám sát củaQuốc hội; các tiêu chí đánh giá hiệu lực, hiệu quả giám sát, các điều kiệnđảm bảo hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội

Đánh giá thực trạng hiệu lực hiệu quả giám sát của Quốc hội trên cơ sởcác tiêu chí đánh giá và phân tích những nguyên nhân, những hạn chế tồntại

Nêu ra các giải pháp về nhận thức, pháp lý, tổ chức, phương thức, kĩnăng và điều kiện hỗ trợ nhằm nâng cao hiệu lực và hiệu quả giám sát củaQuốc hội

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu.

Trang 8

Tiểu luận nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của nghĩa Mác – Lê nin

tư tưởng Hồ Chí Minh về tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước, quanđiểm của Đảng Cộng Sản Việt Nam về bản chất Nhà nước và các địnhhướng xây dựng, hoàn thiện bộ máy Nhà nước

Trong quá trình nghiên cứu đề tài đã sử dụng các phương pháp khoa học :tổng hợp, phân tích, so sánh các tư liệu liên quan đến chức năng giám sátcủa Quốc hội Việt Nam Các biện pháp khoa học đã được áp dụng trên nềntảng tư duy biện chứng nhằm đạt được mục đích và thể hiện được các nộidung đề tài

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của tiểu luận.

Tiểu luận góp phần nâng cao nhận thức lý luận về quyền giám sát tối caocủa Quốc hội trong tổ chức quyền lực Nhà nước ở nước ta và vấn đề nângcao hiệu lực, hiệu quả giám sát tối cao của Quốc hội trong thực tiến

Tiểu luận có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu các vấn

đề liên quan tới hoạt động giám sát của Quốc hội, cho các nhà hoạt độngchính trị thực tiễn

6 Kết cấu của tiểu luận.

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo thì nộidung của tiểu luận gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về hiệu lực và hiệu quả giám sát của Quốc hội.Chương 2: Thực trạng hoạt động giám sát của Quốc hội Việt Nam hiện nay.Chương 3: Phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực và hiệu quảgiám sát của Quốc hội trong giai đoạn hiện nay

Mặc dù đã rất cố gắng nhưng do trình độ hạn chế nên tiểu luận khôngtránh khỏi những sai sót, vì vậy rất mong nhận được những ý kiến nhận xétquý báu của thầy cô để tiểu luận được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 9

Sinh viên

Trịnh Thị Hè

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU LỰC VÀ HIỆU QUẢ

HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA QUỐC HỘI 1.1 Quốc hội.

Giám sát tối cao việc thi hành Hiến pháp và pháp luật là một trong nhữngquyền hạn quan trọng của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam Để nhận thức được bản chất, nội dung và nâng cao hiệu lực, hiệu quảgiám sát của Quốc hội thì trước tiên chúng ta cần biết đựợc Quốc hội là gì và

có vai trò như thế nào trong hệ thống các cơ quan Nhà nước ở nước ta hiệnnay

Và mới đây lại có ý kiến cho rằng Quốc hội là một thiết chế chính trị, xãhội, pháp lý Sự ra đời và phát triển của Quốc hội gắn liền với sự phát triểncủa Nhà nước và Pháp luật

Tuy nhiên, để có một khái niệm chính xác nhất, xác định đúng vị trí pháp

lý của Quốc hội trong bộ máy Nhà nước cần phải xuất phát từ những quyđịnh của Hiến pháp Điều 83 chương VI trong Hiến pháp năm 1992 ghi rõ:

“Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực

Trang 10

Nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp Quốc hội quyết định những chính sách cơ bản về đối nội và đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước, những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân.”

Như vậy có thể nói khái niệm mà Hiến pháp quy định là khái niệm rõràng và chính xác nhất, nó thể hiện rõ bản chất của Nhà nước Việt Nam làNhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Đây cũng chính là sựquán triệt tư tuởng của chủ nghĩa Mác – Lênin về một Nhà nước kiểu mới,khác với các kiểu Nhà nước trước đây trong lịch sử

1.1.2 Vai trò của Quốc hội.

Vai trò của Quốc hội ở từng nước và từng thời điểm có khác nhau tùythuộc vào đặc điểm lịch sử, chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa và truyềnthống của từng quốc gia hay từng giai đoạn lịch sử vai trò của Quốc hộihôm nay thể hiện ở những điểm sau:

Quốc hội là cơ quan có tính chất đại diện: Do được hình thành trên cơ sởbầu cử nên Quốc hội mang trọng trách đại diện cho quyền lựoi và lợi ích củatoàn thể các giai tầng trong xã hội, đại diện cho lợi ích dân tộc

Quốc hội đảm bảo sự ổn định trong hệ thống chính trị: bởi vì Quốc hội làdiễn đàn đặc quyền sinh hoạt chính trị, thảo luận các vấn đề của quốc gia vàchính sách của Chính phủ; là cầu nối quan trọng giữa dân chúng và các cơquan quyền lực hành pháp, là nơi thỏa hiệp của những quyền lợi, thế lựcchính trị khác nhau; là nơi bảo vệ quyền lợi cho những ai có ít khả năng hơn

để tác động lên đời sống chính trị Quốc hội ở nhiều nước tượng trưng chotruyền thống chính trị, là chỉ số quan trọng của đời sống chính trị Quốc hội

là sự hợp thức hóa quyền lực Nhà nước của nhân dân

Trang 11

1.2 Quyền giám sát của Quốc hội.

Quốc hội được biết đến trong hệ thống tổ chức quyền lực Nhà nước là cơquan có quyền lập pháp, nhưng xuất phát từ vai trò đại diện mà cùng vớichức năng lập pháp thì chức năng giám sát với những quyền hạn về giám sát

đã và đang trở thành một một chức năng đặc thù của Quốc hội Hoạt độnggiám sát là hoạt động thực hiện quyền lực Nhà nước, mang tính tất yếukhách quan của tất cả các Nhà nước, ở mọi thời đại lịch sử Quyền giám sátcủa Quốc hội Việt Nam là quyền giám sát tối cao bắt nguồn từ vị trí pháp lýtối cao của Quốc hội trong bộ máy Nhà nước

1.2.1 Khái niệm.

Giám sát tối cao là quyền của Quốc hội trong quá trình thực hiện hoạtđộng theo dõi, kiểm tra, đánh giá, kiến nghị về hoạt động tuân theo Hiếnpháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, Nghị quyết của Ủy banthường vụ Quốc hội đối với toàn bộ Nhà nước đồng thời đưa ra các biệnpháp về trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm chính trị đối với đối tượng bịgiám sát nhằm mục đích phát hiện, phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý các viphạm có thể hoặc đã xảy ra

Quyền giám sát tối cao của Quốc hội thể hiện ở những đặc trưng cơ bản

Đó là tính quyền lực nhà nước cao nhất và tính chất tối cao về chủ thể giámsát, phạm vi giám sát, hệ quả giám sát

Chủ thể quyền giám sát tối cao duy nhất chỉ có Quốc hội ( theo đúngnghĩa là toàn thể đại biểu Quốc hội tại kỳ họp quốc hội)

Phạm vi giám sát tối cao theo cách hiểu là “giám sát toàn bộ hoạt động

của Nhà nước” sẽ đặt Quốc hội trước rất nhiểu thách thức cả về khía cạnh lý

luận và thực tiễn Khi đã phân định cho nhiều cơ quan chức năng của Nhànước làm công tác giám sát, thanh tra, kiểm tra, kiểm soát thì Quốc hội chỉgiữ cho mình quyền giám sát đối với các cơ quan Nhà nước cấp cao ở trung

Trang 12

ương, tức là các cơ quan do Quốc hội bầu ra hoặc phê chuẩn, mà trong đógiám sát hoạt động của Chính phủ là chủ yếu

Đối tượng của giám sát tối cao là một yếu tố quan trọng để phân biệt hoạtđộng giám sát tối cao của Quốc hội với hoạt động giám sát của các cơ quankhác cũng được pháp luật quy định chức năng giám sát Theo quy định củapháp luật, hoạt động giám sát của Quốc hội tác động lên các đối tượng là các

cơ quan và các chức danh cấp cao của bộ máy Nhà nước, tập trung là cơquan hành pháp và tư pháp

Về hệ quả giám sát tối cao: Quốc hội có quyền áp dụng những biện phápchế tài cao nhất mang tính quyền lực Nhà nước để xử lý những vấn đề nảysinh trong quá trình giám sát (như hủy bỏ các văn bản của các cơ quan Nhànước trái Hiến pháp, luật, Nghị quyết của Quốc hội…) hoặc quy trách nhiệmđối với chức danh bị giám sát (ỏ phiếu tín nhiệm…) “Chế tài” giám sát chỉmang tính khen chê, ca ngợi hoặc phê phán và quy trách nhiệm chính trị màkhông có hậu quả pháp lý trực tiếp

1.2.2 Vai trò giám sát của Quốc hội trong việc thực hiện quyền lực

Nhà nước của Quốc hội.

Thứ nhất, giám sát là yếu tố quan trọng hạn chế sự lạm quyền từ phía các

cơ quan Nhà nước, bảo đảm cho pháp luật được thực thi, bảo đảm quyền vàlợi ích của công dân Mục tiêu của giám sát là để bảo đảm rằng hoạt độngcủa các cơ quan Nhà nước tuân thủ những quy định pháp luật do Quốc hội

đề ra và lợi ích của nhân dân được bảo đảm Bất luận mọi quốc gia nào mộtkhi hình thành Nhà nước đều phải chú trọng việc giữ gìn, duy trì và bảo vệpháp chế tức là đòi hỏi các cơ quan Nhà nước, các tổ chức và mọi công dânphải thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật do Nhà nước ban hành Giám sát củaQuốc hội là một phương thức hữu hiệu nhất để cân bằng quyền lực và bảođảm cho quyền lực Nhà nước được thực thi có hiệu quả Để làm được điều

Trang 13

đó, các Nhà nước đều tìm cách thiết lập một cơ chế giám sát hữu hiệu nhất

để ngăn chặn sự vi phạm pháp luật, đặc biệt là chống lại tính trách nhiệmcủa các đối tượng giám sát được đề cao Chính bởi vậy, khi Quốc hội có khảnăng áp đặt chế độ trách nhiệm cho các đối tượng chịu sự giám sát buộc họphải tuân thủ thì điều đó chứng tỏ giám sát của Quốc hội có hiệu lực vàQuốc hội có thực quyền

Thứ hai, giám sát phản ánh mức độ thực hiện chức năng đại diện Quốchội Quốc hội là cơ quan đại diện cho quyền và lợi ích của các tầng lớp nhândân và càng ngày tính đại diện càng được mở rộng do cách thức bầu Quốchội ngày càng dân chủ hơn Việc xác định và thực hiện đúng đắn vai trò sẽgiúp cho Quốc hội có khả năng giám sát hiệu lực và hiệu quả, xác định đúngvấn đề cần giám sát và theo đuổi đến cùng việc thực hiện các kiến nghị giámsát Mặt khác, việc thực hiện có hiệu lực và hiệu quả quyền giám sát đượctrao sẽ khẳng định vai trò đại diện cho lơi ích quốc gia và toàn dân của Quốchội Ngoài ra, với việc thực hiện quyền giám sát Quốc hội còn có vai trò như

“cầu nối” giữa nhân dân với Chính phủ - cơ quan hành chính Nhà nước caonhất Thông qua các hoạt động giám sát, đặc biệt là khi chất vấn, khi kết hợpđược với công luận một cách hữu hiệu thì khả năng kiểm soát Chính phủ củaQuốc hội sẽ tăng lên

Thứ ba, giám sát quan hệ chặt chẽ và tác động mạnh mẽ đến hoạt độnglập pháp Lập pháp và giám sát là hai chức năng cơ bản của Quốc hội vàgiữa chúng có mối quan hệ tương hỗ mật thiết Hoạt động lập pháp tạo cơ sởpháp lý và cơ sở chính trị để Quốc hội tiến hành hoạt đông giám sát Vềphần mình, hoạt động giám sát của Quốc hội có mối quan hệ tuơng hỗ trựctiếp đến hoạt động lập pháp Giám sát với mục đích là nhằm đảm bảo việctuân thủ Hiến pháp và pháp luật nhưng đồng thời giám sát còn nhằm pháthiện ra những kẻ hở những quy định pháp luật chưa phù hợp với cuộc sống

Trang 14

để kịp thời sửa chữa, bổ sung, hoàn thiện hoặc giúp Quốc hội có nhữngquyết định đúng đắn, phù hợp với yêu cầu cuộc sống Giám sát cũng còn lànguồn để nắm tình hình đất nước, thu thập ý kiến công chúng về các chínhsách quan trọng của quốc gia để sửa đổi, hình thành các chính sách mới , tạonên một nguồn quan trọng để hình thành nên những kến nghị lập pháp.

1.2.3 Mối quan hệ giữa giám sát của Quốc hội với thanh tra, kiểm tra, kiểm sát của các cơ quan Nhà nước.

Hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội là một yếu tố của cơ chế đảmbảo và tăng cường pháp chế, giữ vững trật tự pháp luật, bao gồm một hệthống các yếu tố có tác động qua lại với nhau Qua việc phân tích những đặcthù mang tính pháp lý trong hoạt động giám sát của Quốc hội, kiểm tra giámsát của Chính phủ, kiểm sát của Viện kiểm sát và kiểm tra, giám sát của Tòa

án ta thấy rằng: Hoạt động kiểm tra, thanh tra, giám sát là một dạng lao độngquyền lực với mục đích chung là đảm bảo không có vi phạm Hiến pháp vàlạm dụng quyền lực từ phia Nhà nước Sự khác nhau của các hoạt động kiểmtra giám sát giữa các cơ quan là ở cấp độ, đối tượng, phạm vi, nội dung,phương thức thực hiện và hậu quả pháp lý của nó Hoạt động giám sát củacác cơ quan Nhà nước chứa đựng trong đó tính hệ thống, tính đồng bộ vàtính thống nhất Do đó, không thể tách quyền giám sát của Quốc hội ra mộtcách độc lập, đơn lẻ, riêng biệt mà phải đặt nó trong hoạt động giám sát củaNhà nước nói chung để nghiên cứu nhằm nâng cao hiệu lực và hiệu quảgiám sát của Quốc hội

1.3 Hiệu lực, hiệu quả giám sát của Quốc hội - khái niệm, mối quan

hệ, các tiêu chí đánh giá và điều kiện đảm bảo.

3.1.1 Khái niệm và mối quan hệ giữa hiệu lực và hiệu quả giám sát của Quốc hội.

a Hiệu lực

Trang 15

Theo các nhà biên soạn từ điển: “ Hiệu lực là khả năng đưa đến kết quảnhất định” Theo từ điển Hán - Việt (Đào Duy Anh, 2001, NXb Khoa học xãhội Hà Nội) thì hiệu lực là từ ghép của “ hiệu” với nghĩa là trao cho, giaophó và “lực” có nghĩa là sức mạnh Như vậy, về mặt ngữ nghĩa có thể hiểu

“hiệu lực” hàm chứa sức mạnh quyền uy để thực hiện một công việc có kếtquả trên thực tiễn Nói cách khác, “hiệu lực” có thể được hiểu là mức độhiện thực hoá sức mạnh, khả năng tác động của chủ thể lên đối tượng chịu

sự tác động được thể hiện trên kết quả trong thực tiễn Điều kiện để đảm bảomột quyết định hay hoạt động quản lý đạt được hiệu lực và đạt được mụctiêu đề ra là chúng phải hợp pháp và hợp lý

Giám sát là một hoạt động thực hiện quyền lực Nhà nước nên hiệu lựcgiám sát vừa mang những đặc tính chung của hiệu lực quản lý nhà nước vừa

có những đặc thù riêng thể hiện vai trò giám sát của cơ quan quyền lực nhànước cao nhất Hiệu lực của hoạt động giám sát cũng bị chi phối bởi yếu tốhợp pháp và hợp lý Những quy định pháp luật về vị trí, vai trò và thẩmquyền của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội đã tạo nêngiá trị, sức mạnh pháp lý nhất định cho các hoạt động giám sát và bắt buộccác đối tượng chịu sự giám sát phải thực hiện Khi các chủ thể giám sát thựchiện đúng thẩm quyền, hoạt động giám sát tuân thủ đúng các quy định phápluật thì hiệu lực pháp lý của nó sẽ cao, sẽ khiến cho các đối tượng chịu sựgiám sát phải tuân thủ Chính vì vậy, hiệu lực giám sát cũng được đánh giáthông qua mức độ thực thi các nghị quyết, kiến nghị về giám sát của Quốchội

b Hiệu quả

Hiệu quả là kết quả đạt được trong hoạt động giám sát thông qua mức độtác động của hoạt động này vào các đối tượng giám sát Hiệu quả giám sátcủa Quốc hội cao hay thấp phụ thuộc vào việc Quốc hội thực hiện chức năng

Trang 16

giám sát của mình theo quy định của pháp luật đến đâu cũng như những kếtluận kiến nghị từ hoạt động giám sát có được các cơ quan, tổ chức, cá nhânthực hiện nghiêm chỉnh hay không, việc xử lý các vi phạm theo các đề xuất,kiến nghị đó đến mức độ nào tức là mức độ hiệu lực của giám sát Muốn đạtđược hiệu quả giám sát thì trước hết, các chủ thể giám sát phải thực hiệnđúng chức năng giám sát như luật định và đảm bảo cho các kiến nghị , đềxuất của mình được thực hiện nghiêm chỉnh Chính vì vậy mà trong báo cáo

công tác của Quốc hội nhiệm lỳ khoá IX (1992 – 1997) đã nhấn mạnh: “hiệu

quả và hiệu lực giám sát của Quốc hội được đánh giá bằng tác động của các quyết định , kết luận và kiến nghị của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và đại biểu Quốc hội thông qua các hoạt động giám sát.”

1.3.2 Mối quan hệ giữa hiệu lực và hiệu quả

Khi nghiên cứu hiệu lực và hiệu quả giám sát của Quốc hội cần phải xétmối quan hệ giữa chúng với nhau Do hiệu lực là sự tác động của hoạt độnggiám sát vào các quan hệ xã hội, còn hiệu quả là kết quả đạt được do sự tácđộng nói trên, nên giữa hiệu lực và hiệu quả có mối quan hệ khăng khít màtrong đó hiệu lực là tiền đề, điều kiện của hiệu quả, còn hiệu quả là thước đođánh giá hiệu lực Có thể nói rằng, hiệu lực là cơ sở của hiệu quả, là mộttrong những yếu tố ảnh hưởng sâu sắc tới hiệu quả Nhưng ở một khía cạnhkhác, khi đánh giá hiệu lực thì hiệu quả lại trở thành cơ sở để đánh giá hiệulực hay nói cách khác hiệu quả là minh chứng cụ thể cho mức độ hiệu lựccủa hoạt động mà chúng ta cấn đánh giá

Trong mối quan hệ giữa hiệu lực và hiệu quả giám sát thì hiệu lực giámsát đạt được khi có sự tự giác chấp hành nghiêm chỉnh của các đối tượngchịu sự giám sát đối với các kết luận, đề xuất đúng đắn rút ra từ hoạt động,kết quả giám sát cụ thể và hiệu quả giám sát lại là yếu tố quan trọng bảo đảmhiệu lực

Trang 17

Như vậy “hiệu lực” và “hiệu quả” là hai khái niệm không thể tách rời.Một khi hiệu lực giám sát được đảm bảo thì đương nhiên hiệu quả của hoạtđộng giám sát sẽ tốt hơn và ngược lại khi hiệu quả giám sát tốt là minhchứng cho hiệu lực giám sát Tuy nhiên để tính hiệu quả hoạt động giám sátcủa một chủ thể, bên cạnh đảm bảo về mặt hiệu lực, phải tính toán nhữngđầu tư, chi phí (thời gian, vật chất, nguồn lao động…)cần phải ở mức tối ưu.

1.3.3 Các tiêu chí đánh giá hiệu lực và hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội.

Hiện nay việc xác định những tiêu chí đánh giá hiệu lực và hiệu quả giámsát của Quốc hội vẫn chưa được nghiên cứu nhiều vì vậy đây là vấn đề mới

mẻ và đang còn nhiều những ý kiến khác nhau Dưới đây là những tiêu chí

cơ bản nhất nhằm đánh giá hiệu lực và hiệu quả hoạt động giám sát củaQuốc hội

a Các tiêu chí đánh giá hiệu lực hoạt động giám sát của Quốc hội.

- Mức độ thể hiện thẩm quyền của các chủ thể giám sát ( Quốc hội, các

cơ quan của Quốc hội và đại biểu Quốc hội).

Một yếu tố quyết định tính hiệu lực và hiệu quả của hoạt động giám sátcủa Quốc hội là mỗi chủ thể giám sát phải thực hiện đúng và đầy đủ phạm vithẩm quyền theo luật định Hiệu lực giám sát của Quốc hội phụ thuộc rấtnhiều vào khả năng thực thi một cách đầy đủ, trọn vẹn thẩm quyền giám sáttrên thực tế của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và đại biểu Quốc hội

Ở đây còn có sự đánh giá mức độ bảo vệ quyền và lợi ích của cử tri vàthái độ đấu tranh chống các hành vi vi phạm pháp luật của các đối tượngchịu sự giám sát của Quốc hội Điều này thể hiện ở các khả năng của các cơquan của Quốc hội và đại biểu Quốc hội trong việc phản ánh đúng đắn vàchính xác các kiến nghị của cử tri cho các đối tượng chịu sự giám sát, thểhiện tâm tư, nguyện vọng của cử tri cũng như khả năng bảo vệ quyền và lợi

Trang 18

ích của họ trên diễn đàn Quốc hội Để đạt được điều này quả là không đơngiản khi đại biểu Quốc hội chịu sự ràng buộc của nhiều cơ chế và quy địnhđan xen khi họ phải gánh trên vai nhiều gánh nặng của cơ cấu, của tráchnhiệm Ở khía cạnh này, giám sát của Quốc hội đạt hiệu lực khi Quốc hội,các cơ quan của Quốc hội ý thức được đầy đủ vai trò đại diện của mình, cókhả năng sử dụng đúng và tối đa thẩm quyền mà mình được trao, có khảnăng sử dụng linh hoạt và hiệu quả những công cụ giám sát đặc thù của cơquan quyền lực nhà nước cao nhất trong quá trính thực hiện giám sát Đâychính là thước đo khả năng đại diện và mức độ thực hiện chức năng đại diệncủa Quốc hội và đại biểu Quốc hội đối với cử tri.

- Khả năng của Quốc hội ban hành các kiến nghị xử lý các hành vi vi phạm pháp luật.

Nói một cách khác thì đây là khả năng của Quốc hội trong việc áp đặt chế

độ trách nhiệm chính trị đối với các cơ quan, chức danh do Quốc hội bầuhoặc phê chuẩn Điều này dựa trên triết lý: Nếu chính sách do chính phủ đề

ra mà sự minh bạch không được làm rõ thông qua giám sát của Quốc hội thìgiám sát không thành công Nếu chính sách do chính phủ đề ra không đạtđược mục đích mà Quốc hội không có ý kiến hoặc không thể làm rõ tráchnhiệm thì coi như Quốc hội chưa giám sát

Trên thực tế thì có thể xác định mức độ này thông qua khả năng tranhluận của Quốc hội trong quá trình chất vấn, xét báo cáo của các cơ quan chịu

sự giám sát, khả năng đề xuất kiến nghị trong quá trình tiến hành các hìnhthức giám sát khác, mức độ thực hiện các nghị quyết về giám sát của Quốchội, các kiến nghị của các đoàn giám sát và cuối cùng là khả năng của Quốchội trong việc làm rõ trách nhiệm của các đối tượng bị giám sát

- Ý thức, thái độ của các đối tượng chịu sự giám sát trong việc chấp hành, thực hiện các kiến nghị giám sát.

Trang 19

Hiệu lực giám sát sẽ được xác định thông qua việc các đối tượng bị giámsát thực hiện các nghị quyết, kiến nghị ở mức độ nào, các quan hệ xã hội cóliên quan được thay đổi ra sao sau khi được các đối tượng xử lý… Ở đây,cần dựa trên các kết quả cụ thể (hiệu quả) để nhìn nhận, đánh giá xác địnhhiệu lực từ khía cạnh sức mạnh tác động của các kiến nghị giám sát và mức

độ tuân thủ của các đối tượng giám sát Nếu sau khi các hoạt động giám sátcủa Quốc hội được triển khai, các kiến nghị giám sát được đưa ra, các đốitượng chịu sự giám sát tuân thủ một cách nghiêm chỉnh và các vấn đề đượcgiám sát có chuyển biến theo nội dung những kiến nghị của Quốc hội, có tácđộng tích cực đến đời sống kinh tế - xã hội và tâm lý của nhân dân thì điều

đó cho thấy, hoạt động giám sát của Quốc hội đã có hiệu lực

- Sự đánh giá của dư luận xã hội về kết quả hoạt động giám sát của các chủ thể giám sát về mức độ chấp hành của các đối tượng giám sát.

Quốc hội là cơ quan đại diện nên ý kiến phản hồi của cử tri, của các tấnglớp nhân dân, các tổ chức xã hội…về các hoạt động của Quốc hội, trong đó

có hoạt động giám sát là hết sức quan trọng Thông qua các con đường khácnhau: trực tiếp (qua các cuộc tiếp xúc cử tri, qua đơn thư ) hay gián tiếp(thông qua các phương tiện thông tin đại chúng) cử tri có thể nêu ý kiếnđánh giá kết quả giám sát của Quốc hội trong việc chọn nội dung, chuyên đềgiám sát, cách thức tổ chức và chất lượng các kết luận, kiến nghị giám sát,cũng như đánh giá về thái độ, ý thức của đối tượng chịu sự giám sát trongviệc chấp hành các kiến nghị giám sát Sự đánh giá của dư luận xã hội tíchcực hay tiêu cực đối với hoạt động giám sát sẽ phản ánh được mức độ hiệulực của hoạt động này

b Các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội.

- Mức độ đạt được mục đích, yêu cầu giám sát đặt ra.

Trang 20

Khi tiến hành bất cứ một hoạt động nào trong chương trình giám sátQuốc hội đều nhằm đạt một mục đích cụ thể Mục đích của giám sát là điều

mà các chủ thể khi tiến hành giám sát hướng tới và mong muốn đạt được.Hoạt động giám sát của Quốc hội nước ta tập trung vào các mục đích cơ bản

là đảm bảo thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế - xã hội và cao hơn là

để đảm bảo quyền và lợi ích cho các tầng lớp nhân dân Việc so sánh, đốichiếu kết quả đạt được sau khi tiến hành giám sát với mục đích đặt ra trướckhi tiến hành giám sát sẽ cho thấy hiệu quả trong quá trình thực hiện quyềngiám sát của Quốc hội Mức độ đạt được của mục đích đề ra đã trở thànhtiêu chuẩn, thước đo cho việc đánh giá hiệu quả giám sát, là khuôn khổ choviệc đánh giá thực tế

- Kết quả cụ thể đạt được do tác động của hoạt động giám sát.

Điều này được xác định thông qua sự thay đổi của các quan hệ xã hộitrước và sau khi tiến hành giám sát Để đánh giá hoạt động của các cơ quannhà nước nói chung và hoạt động giám sát nói riêng, trước hết phải căn cứvào mức độ thay đổi của các quan hệ trước và sau khi có hoạt động giám sát.Một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá hiệu quả giám sát của Quốchội là phải căn cứ vào những kết quả tực tế đạt được dưới tác động của hoạtđộng giám sát Do đó việc xác định được những kết quả cụ thể và có sự sosánh trước và sau khi giám sát sẽ là minh chứng cho hiệu quả hoạt độnggiám sát

- Số lượng hoạt động giám sát.

Đây là tiêu chí mang tính định lượng thể hiện số lượng các báo cáo côngtác, các chuyên đề đã trình Quốc hội xem xét, cho ý kiến tại kỳ họp, sốlượng các chất vấn và trả lời chất vấn, số lượng các đoàn giám sát, số lượngcác nghị quyết giám sát chuyện đề, các kiến nghị giám sát Đây là những con

Trang 21

số cụ thể mang tính hình thức thường được sử dụng làm căn cứ phân tích,đánh giá.

- Xác định khía cạnh hiệu quả kinh tế của hoạt động giám sát.

Hiệu quả kinh tế của hoạt động giám sát được phản ánh thông qua việcđánh giá các chi phí vật chất bao gồn: vật chất, nhân lực, thời gian mà cácchủ thể tham gia giám sát bỏ ra khi triển khai hoạt động giám sát… Hiệu quảđạt được phải là những chi phí cho hoạt động giám sát ở mức thấp nhưngphải đủ đảm bảo cho các chủ thể giám sát phát huy tốt vai trò, nhiệm vụ vànăng lực của mình để đạt được những kết quả ở mức cao nhất Điều này cónghĩa là phải có chương trình giám sát hợp lý và khoa học để tiết kiệm đượcthời gian, công sức và tiền của, phải biết lựa chọn những phương pháp ít tốnkém để đạt được mục đích đề ra Xét hiệu quả giám sát trên khía cạnh thực

tế phải thông qua cơ quan chuyên môn mang tính độc lập như Kiểm toánnhà nước, bởi xét trên bình diện nguyên tắc tổ chức giám sát lẫn năng lựcvật chất thì Quốc hội và đại biểu Quốc hội không thể làm được việc này.Như vậy có thể khái quát rằng: hiệu lực và hiệu quả hoạt động giám sáttối cao của Quốc hội được thể hiện thông qua giá trị thi hành và kết quả thựchiện những quyết định của Quốc hội trên thực tế cũng như tác động của nólên đời sống xã hội của đất nước

Trang 22

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA QUỐC

HỘI VIỆT NAM HIỆN NAY.

2.1 Kết quả đạt được.

Dựa trên những tiêu chí đánh giá đã đưa ra ở chương 1 chúng ta có thểxem xét kết quả của hoạt động giám sát của Quốc hội trên các khía cạnh vềhiệu lực và hiệu quả như sau:

2.1.1 Về hiệu lực hoạt động giám sát.

a Các chủ thể giám sát đã chủ động và tích cực trong việc thực hiện thẩm quyền giám sát.

Trong những năm qua trên cơ sở thẩm quyền được pháp luật quy định,các chủ thể giám sát đã phát huy được tính chủ động tìm tòi, cải tiến cácphương thức tiến hành nhằm bảo đảm hoạt động ngày càng hiệu quả, kiếnnghị giám sát ngày càng có hiệu lực thực tế cao hơn

Quốc hội:

Quốc hội với tư cách là chủ thể giám sát tối cao đã chú trọng vào giámsát các vấn đề liên quan đến chính sách quản lý đất nước, xem xét các vấn đềliên quan đến toàn bộ đời sống xã hội thông qua các hình thức giám sát tại

kỳ họp Việc xét báo cáo hoạt động của Chính phủ, các cơ quan của Chínhphủ, các cơ quan tư pháp giúp Quốc hội xác định được khả năng thực hiệnnhiệm vụ của các cơ quan này theo chức năng luật định, đảm bảo sự phâncông, phối hợp trong bộ máy nhà nước, đồng thời hoạt động này cũng tạo cơ

sở để các đại biểu tham gia có hiệu quả hơn trong hoạt động chất vấn.Việcgiám sát theo chuyên đề đã giúp Quốc hội đánh giá khá đầy đủ kết quả thựcthi chính sách và nhìn nhận chính xác những hạn chế trong cơ chế quản lýcũng như trách nhiệm của các cấp, các nghành, các cá nhân Để hoạt độnggiám sát đạt hiệu quả cao hơn, Quốc hội đã thông qua chương trình giám sáthằng năm và toàn khoá Quốc hội Sau khi tiến hành giám sát tại kỳ họp,

Trang 23

Quốc hội cũng đã ban hành một số Nghị quyết về các vấn đề mà Quốc hộiquan tâm Tại các kỳ họp hoạt động chất vấn được duy trì và đổi mới cáchthức nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả giám sát của các chủ thể có thẩmquyền giám sát tối cao thông qua viêc tập trung vào chất vấn những vấn đề ởtầm vĩ mô, bức xúc được cử tri cả nước quan tâm.

Uỷ ban Thường vụ Quốc hội:

Trong phạm vi thẩm quyền luật định , Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đãkịp thời ban hành kế hoạch cụ thể để triển khai nghị quyết về chương trìnhgiám sát của Quốc hội, chỉ đạo sát sao các cơ quan của Quốc hội trong việcthực hiện các chương trình giám sát hằng năm của Quốc hội Uỷ banThường vụ Quốc hội cũng trực tiếp giám sát chuyên đề và xem xét một sốnội dung của công tác tư pháp nhằm từng bước tìm ra nguyên nhân và giảipháp để giải quyết ting trạng vướng mắc về khiếu nại, tố cáo và đánh giáchất lượng công tác xét xử, tuy nhiên hiệu quả của vấn đề giám sát này cầncân nhắc và trao đổi thêm

Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội:

Theo chức năng, nhiệm vụ và sự phân công đã chú trọng triển khai cáchoạt động giám sát tho các chuyên đề có nội dung quan trọng, bức xúc trong

xã hội và chuẩn bị báo cáo kết quả giám sát với Uỷ ban Thường vụ Quốc hội

và Quốc hội như: việc thực hiện pháp luật về dân số, người cao tuổi, ngườitàn tật… Theo chức năng, nhiệm vụ của mình Hội đồng dân tộc và các Uỷban của Quốc hội thực hiện việc tiếp nhận và trực tiếp xử lý hoặc chuyểnđến các cơ quan có thẩm quyền xử lý hàng ngàn đơn thư khiếu nại, tố cáo,lựa chọn một số vụ việc tồn đọng, kéo dài để trực tiếp tiến hành giám sát,kiến nghị đến các cơ quan nhà nước hữu quan

Trang 24

Đoàn đại biểu Quốc hội:

Đã chủ động xây dựng kế hoạch giám sát của mình theo chương trìnhhoạt động chung của Quốc hội và theo quyền hạn, trách nhiệm được quyđịnh Nội dung giám sát của các đoàn thường tập trung vào giám sát tìnhhình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội tại địa phương, việc quản

lý sử dụng đất đai, việc thực hiện các chính sách xã hội ở địa phương

b.Ý thức của các đối tượng giám sát trong việc chấp hành thực hiện các kiến nghị giám sát được bước đầu nâng cao.

Qua giám sát các cơ quan của Quốc hội và các đại biểu Quốc hội đã đưa

ra nhiều ý kiến, kiến nghị ( thông qua các báo cáo thẩm tra, thuyết trình vàthảo luận) đóng góp vào hoạt động lập pháp và quyết định các vấn đề quantrọng của đất nước Các cơ quan chịu sự giám sát đã tích cực cộng tác, đápứng yêu cầu của cơ quan giám sát Phần lớn những kết luận, kiến nghị của

cơ quan giám sát đã được cơ quan chức năng tiếp thu, chuyển hoá vào quátrình xây dựng các dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết, cơ chế chính sách vàcông tác chỉ đạo điều hành của ngành, lĩnh vực Từ đó đã góp phần tạo nênthành tựu chung về phát triển kinh tế xã hội, quốc phòng an ninh Trong cácbáo cáo kết quả thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về nhiệm vụ hằng năm,Chính phủ đã khẳng định thành quả đạt được có phần đóng góp quan trọng

từ kết quả giám sát của Quốc hội Tác động của hoạt động giám sát cũng đãtạo nên chuyển biến đáng kể về tổ chức và hoạt động của các cơ quan hànhpháp và tư pháp

c Hoạt động giám sát được dư luận xã hội đánh giá tích cực.

Tại các kỳ họp Quốc hội, các phiên họp của Uỷ ban Thường vụ Quốc hộiđại biểu Quốc hội với ý thức trách nhiệm trước cử tri cả nước đã đóng gópnhiều ý kiến thiết thực, thẳng thắn có tinh thần xây dựng đối với các báocáo, khẳng định mặt làm được, mặt chưa làm được trong hoạt động của các

Trang 25

cơ quan nhà nước Quốc hội cũng đã thể hiện tinh thần trách nhiệm caotrong việc phối hợp với các cơ quan khác của bộ máy nhà nước để hoànthiện những giải pháp hữu hiệu, những phương án tối ưu ở tầm vĩ mô để giảiquyết những vấn đề bức xúc của đời sống nhân dân Cùng với việc mở rộngdân chủ trong sinh hoạt của Quốc hội, hoạt động chất vấn, trả lời chất vấn đãphản ánh những vấn đề đang được dư luận quan tâm, tạo không khí đối thoạitại các kỳ họp của Quốc hội , thu hút sự quan tâm theo dõi của cử tri Mức

độ nhanh nhạy trong việc lựa chọn những vấn đề trọng điểm để giám sátcũng góp phần nâng cao hiệu lực và hiệu quả của hoạt động này và tăngthêm lòng tin của cử tri đối với hoạt động giám sát của Quốc hội

2.1.2 Về hiệu quả hoạt động giám sát.

a Các hoạt động giám sát cơ bản đã đạt được mục đích, yêu cầu đề ra.

Cách thức tổ chức giám sát của Quốc hội ngày càng được cải tiến, hoànthiện theo hướng tăng cường hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội đểgiảm những vấn đề cụ thể không thuộc phạm vi, đối tượng giám sát

Trong nhiệm kỳ Quốc hội khoá X và khoá XI “điểm nổi bật là các cơquan của Quốc hội đã tích cực cải tiến, tìm những hình thức thích hợp nhằmnâng cao chất lượng giám sát của mình như: thực hiện giám sát theo chuyện

đề, đi sâu khảo sát, theo dõi sát sao việc giải quyết kiến nghị sau giám sát vềnhững vấn đề đang sôi động trong đời sống kinh tế - xã hội như: vấn đềchuyển dịch cơ cấu kinh tế, thực trạng, phương hướng đổi mới hoạt độngcủa doanh nghiệp Nhà nước”

Hoạt động giám sát thực hiện chủ yếu tại các cuộc làm việc , xem xét báocáo của Chính phủ, các bộ ngành, kết hợp với giám sát thực tế tại địaphương, cơ sở, vừa thực hiện giám sát thường xuyên vừa giám sát theochuyên đề Lần đầu tiên tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội khoá XI tiến hành giámsát tại kỳ họp chuyên đề về ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Chính

Trang 26

phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, Viện kiểm sát nhândân tối cao, Toà án nhân dân tối cao, nhằm đánh giá một cách khách quan,toàn diện về công tác ban hành văn bản quy phạm pháp luật, qua đó tìm biệnpháp nâng cao chất lượng thi hành luật Hình thức giám sát này tạo nên đượcnhững tiếng vang nhất định, là sự nhắc nhở có trọng lượng đối với các cơquan nhà nước có thẩm quyền trong việc ban hành văn bản quy phạm phápluật thuộc lĩnh vực mà mình quản lý.

Trong năm 2007, tại các kỳ họp Quốc hội đã tiến hành xem xét báo cáochuyên đề bao gồm:

- Giám sát việc thực hiện dự án Khí - điện - đạm Bà Rịa – Vũng Tàu

- Giám sát việc thực hiện Luật phòng, chống tham nhũng và luật thựchành thực hành tiết kiệm chống lãng phí

- Giám sát việc thực hiện pháp luật về cấp giấy chngứ nhận quyền sửdụng đất

Quy trình thực hiện các hình thức giám sát được tiến hành theo quy định

và luôn được quan tâm, cải tiến cho phù hợp Đặc biệt hình thức chất vấn vàtrả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội đã trở thành nếp sinh hoạt thườngxuyên, dân chủ trong các kì họp Quốc hội, được cử tri cả nước quan tâm,theo dõi và hoan nghênh Tại mỗi kỳ họp các đại biểu Quốc hội đã thực hiệnhàng trăm chất vấn đối với Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Chánh

án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhấn dân tối cao vàcác nhân sự cấp cao khác giữ trọng trách trong bộ máy nhà nước Hoạt độngchất vấn tại kỳ họp đã có nhiều cải tiến, giảm bớt thời gian trình bày báocáo, tăng tính đối thoại cởi mở, thẳng thắn giữa các đại biểu Quốc hội vớingười trả lời chất vấn, chất lượng câu hỏi chất vấn và trả lời được nânglên… Quá trình thực hiện chất vấn đã có sự phát triển mới về chất, đã có sựđan xen giữa việc đối thoại, tranh luận trực tiếp do không khí cởi mở giữa

Ngày đăng: 13/12/2013, 10:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w