Trong đó còn nhiều hạn chế thể hiện trên các phương diện về thực trạng đội ngũ cán bộ công chức, viên chức trong các cơ quan hành chính nhà nước vẫn chưa thực sự nêu cao tinh thần trách
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA CÔNG SỞ
Văn hóa
Khái niệm văn hóa xuất hiện khá sớm trong lịch sử loài người, có rất nhiều quan điểm khác nhau và chúng phát triển dần qua các giai đoạn lịch sử Văn hoá là một hoạt động nhằm phát huy những nhu cầu và năng lực bản chất của con người, vươn tới cái chân, thiện, mỹ, nhằm tạo ra những giá trị, chuẩn mực xã hội, đồng thời là cái nôi nuôi dưỡng nhân cách của con người Với ý nghĩa đó, văn hoá có mặt ở mọi hoạt động sản xuất vật chất cũng như sản xuất tinh thần của con người, trong mọi quan hệ ứng xử xã hội hay thái độ đối với thiên nhiên
Văn hoá là những tri thức khoa học, sự hiểu biết, trình độ học vấn, trình độ tiếp thu và vận dụng những kiến thức khoa học Hệ thống kiến thức được con người sáng tạo, tiếp thu, tích luỹ, bổ sung và luôn luôn đổi mới qua lao động sản xuất, đấu tranh giữa con người với thiên nhiên và xã hội Qua đó con người tiếp xúc, giao tiếp với nhau, hình thành nên những tập tục, những cách đối nhân xử thế nhất định Sự hiểu biết được sử dụng làm nền tảng và định hướng cho lối sống, nếp suy nghĩ, đạo đức, tâm hồn và hoạt động của mỗi dân tộc để đạt tới chân, thiện, mỹ trong mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội
Văn hoá là những phương thức sản xuất, cách thức sinh hoạt khác nhau của cộng đồng người, hội tụ tri thức và sáng tạo ra văn minh tinh thần, văn minh vật chất Nó có đặc điểm của tính lịch sử, tính truyền thống, tính dân tộc v.v Chính vì vậy, trong lịch sử các thời kỳ khác nhau, ở các nước và khu vực khác nhau, dân tộc khác nhau đều sáng tạo ra những nền văn hoá rực rỡ, huy hoàng
Trong “Tuyên bố về những chính sách văn hoá” thông qua tại Hội nghị quốc tế do Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa Liên Hợp Quốc (UNESCO) tổ chức tại Mêhicô năm 1982: Trong ý nghĩa rộng nhất, văn hoá hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt, tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội Văn hoá bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng Văn hoá đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân Chính văn hoá làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lý Chính nhờ văn hoá mà chúng ta xét đoán được những giá trị và thực thi những sự lựa chọn Chính nhờ văn hoá mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt trội lên bản thân” [27, tr.5-6]
Nói một cách ngắn gọn hơn: “ Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát sống động mọi mặt của cuộc sống con người đã diễn ra trong quá khứ và cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao nhiêu thế kỷ, nó đã cấu thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc từng khẳng định bản sắc riêng của mình”.[11, tr.29]
Hiện nay Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa Liên Hợp Quốc (UNESCO) đang nhìn nhận văn hóa với một ý nghĩa rộng rãi hơn, coi văn hóa như một phức thể - tổng thể các đặc trưng, diện mạo về tinh thần, vật chất, tri thức, tình cảm khắc họa nên bản sắc của một cộng đồng gia đình, xóm làng, vùng miền, quốc gia, xã hội
Từ điển Triết học đưa ra định nghĩa: “Văn hóa gồm toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người tạo ra trong quá trình thực tiễn xã hội - lịch sử và tiêu biểu cho trình độ đạt được trong lịch sử phát triển xã hội Văn hóa là một hiện tượng lịch sử, phát triển phụ thuộc vào sự thay thế các hình thái kinh tế - xã hội” [26, tr.1329-1330] Ở nước ta, theo từ điển tiếng Việt thì văn hoá có năm nghĩa:
- Một là: Tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử (Ví dụ: Kho tàng văn hoá Việt Nam);
- Hai là: Những hoạt động của con người nhằm thoả mãn nhu cầu đời sống tinh thần - nói một cách tổng quát (Ví dụ: Phát triển văn hoá);
- Ba là: Tri thức, kiến thức khoa học (Ví dụ: Trình độ văn hoá);
- Bốn là: Trình độ cao trong sinh hoạt văn hoá xã hội, biểu hiện của văn minh (Ví dụ: Sống có văn hoá);
- Năm là: Nền văn hoá của một thời kỳ lịch sử cổ xưa được xác định trên cơ sở tổng thể những di vật tìm thấy được có những đặc điểm giống nhau (Ví dụ: Văn hoá Đông Sơn)
Năm 1942, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra một định nghĩa hết sức xác đáng: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa”
[19, tr.231] Với định nghĩa này, Hồ Chí Minh bằng cách tiếp cận biện chứng đã nắm bắt trạng thái vận động và cả trạng thái tĩnh của văn hóa Như vậy, Hồ Chí Minh đã thấy văn hoá là cơ chế tổng hợp để hình thành và phát triển con người xã hội Và chính Người với tầm nhìn xa đã thực sự coi trọng và khẳng định vai trò to lớn của văn hoá đối với sự nghiệp cách mạng, sự phát triển của con người và xã hội
Những năm gần đây, nghiên cứu văn hóa thực sự trở thành một môn khoa học tại Việt Nam Một số học giả tập trung nghiên cứu về văn hóa tiếp tục đưa ra các quan niệm của mình về văn hóa Trên cơ sở phân tích các định nghĩa về văn hóa, Trần Ngọc Thêm đã đưa ra định nghĩa: “Văn hóa là một hệ thống hữu trình hoạt động thực tiễn trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [25, tr.27] Định nghĩa này đã nêu bật bốn đặc trưng quan trọng của văn hóa là: tính hệ thống, tính giá trị, tính lịch sử, tính nhân sinh
Mặc dù đứng ở nhiều góc độ tiếp cận khác nhau nên cách giải thích, cách quan niệm cũng khác nhau song nhìn chung, đại đa số các nhà nghiên cứu văn hóa đều quan niệm văn hóa gắn với con người, là hệ thống giá trị vật chất và tinh thần do con người tạo ra, trở thành bộ phận cơ bản trong xã hội
Tóm lại, văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội Văn hóa là hoạt động nhằm phát huy những năng lực bản chất của con người, vươn tới cái chân, cái thiện và cái mỹ, nhằm tạo ra những giá trị, những chuẩn mực xã hội Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân và hoạt động có hướng đích nhằm đạt tới một giá trị nào đó trong xã hội
1.1.2.Những đặc trưng cơ bản của văn hóa
Như là một tổ chức hữu cơ, văn hóa bao gồm hệ thống các hiện tượng, các sự kiện có quan hệ khăng khít, chi phối và chế ước lẫn nhau Do văn hóa có tính hệ thống cho nên nó bao trùm mọi hoạt động của xã hội, thực hiện được chức năng tổ chức xã hội
Văn hóa công sở
Theo pháp luật – hành chính, 1992 do Đoàn Trọng Truyến chủ biên,
“Công sở - xét về nội dung công việc, là hoạt động thỏa mãn một yêu cầu lợi ích chung, do vậy cần được sự bảo vệ và kiểm tra của bộ máy hành chính nhà nước và chỉ Nhà nước mới bảo đảm thỏa mãn nhu cầu này Xét về hình thức tổ chức, là một tập hợp có tổ chức, có phương tiện vật chất và người được nhà nước hỗ trợ để thực hiện nhiệm vụ của mình Từ này đồng nghĩa với cơ quan công sở trong hệ thống tổ chức bộ máy hành chính nhà nước” [36]
Công sở các tổ chức cấu thành của thiết chế bộ máy QLNN, được đặt dưới sự quản lý trực tiếp của Nhà nước để tiến hành công việc chuyên ngành của nhà nước trên cơ sở tổ chức thực hiện cơ chế lãnh đạo, điều hành, kiểm soát công việc để thực thi công vụ Công sở có thể là các cơ quan, tổ chức thuộc bộ máy lập pháp, tư pháp hoặc hành pháp, trong đó có công sở hành chính
Công sở hành chính nhà nước (sau đây gọi là công sở, theo nghĩa hẹp) là đơn vị cơ bản cấu thành hệ thống hành chính nhà nước, thực thi công vụ trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn luật định nhằm mục đích phục vụ lợi ích công Trong khuôn khổ của Luận văn này, văn hoá công sở được hiểu là văn hoá công sở hành chính nhà nước
Công sở như là một đối tượng quản lý từ phương diện văn hóa
Giống các loại tổ chức khác trong xã hội, các công sở cũng có xu hướng hình thành văn hóa tổ chức của mình, được gọi chung là văn hóa công sở, trong đó văn hoá công sở hành chính nhà nước có những đặc trưng của mình Là một bộ phận không thể thiếu của văn hoá quản lý, văn hóa công sở là tập hợp các giá trị, niềm tin, trông đợi và các chuẩn mực trong cách tư duy về nền hành chính và thực tiễn thực thi công vụ, thể hiện bản chất, mục tiêu hoạt động của nền công vụ
Trên một chừng mực nhất định phản ánh những giá trị xã hội có thực liên quan đến quá trình điều hành công sở, công sở luôn thực hiện xây dựng một nề nếp, phương thức làm việc khoa học, có kỷ cương, dân chủ, thống nhất và đồng bộ qua việc chú trọng đến hoạt động đề ra các quy chế, quy định, nội quy hoạt động của cơ quan
Văn hoá công sở có thể được biểu hiện thông qua các hành vi điều hành và hoạt động của công sở như sau:
- Tinh thần tự quản tính tự giác của CBCC làm việc tại công sở cao hay thấp Thái độ trách nhiệm trước công việc và các cơ hội mà mọi người có được để vươn lên là biểu thị của môi trường văn hóa cao trong công sở và ngược lại
- Mức độ áp dụng các quy chế để điều hành, kiểm tra công việc
- Thái độ chỉ huy dân chủ hay độc đoán
- CBCC của từng cơ quan và các đơn vị của cơ quan có tinh thần đoàn kết, tương trợ, tin cậy lẫn nhau như thế nào Mức độ của bầu không khí cởi mở trong công sở
- Các chuẩn mực được đề ra thích đáng và mức độ hoàn thành công việc theo chuẩn mực cao hay thấp Một công sở làm việc không có chuẩn mực thống nhất là sự biểu hiện của văn hoá công sở kém
- Các xung đột nội bộ được giải quyết thoả đáng hay không
Các biểu hiện hành vi của văn hoá công sở rõ ràng rất đa dạng và phong phú Chúng đòi hỏi phải xem xét tỷ mỉ mới có thể đánh giá được hết mức độ ảnh hưởng của chúng tới năng suất lao động quản lý, tới hiệu quả hoạt động của công sở nói chung
Văn hoá công sở là một trong những hiện tượng vật chất – tinh thần phức tạp nhất và có tính hệ thống nhất Nó cần phải được nghiên cứu một cách tổng hợp bởi nhiều ngành khoa học khác nhau và ở những cấp độ khác nhau, từ cấp độ tổ chức-kinh tế, kỹ thuật, chức năng đến tâm lý, tâm lý-xã hội
Văn hóa công sở đóng vai trò rất quan trọng, ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của công sở Do đó, để phát huy được những tác động tích cực và hạn chế những tác động tiêu cực của nó đòi hỏi nhà quản lý phải nắm vững những nội dung văn hóa nơi công sở Nhà quản lý có thể “quản lý những mặt nổi dễ nhận biết như: Trong hoạt động, sinh hoạt của cán bộ, viên chức; trong môi trường văn hóa; trong các mối quan hệ giao tiếp, ứng xử của cán bộ, viên chức với nhân dân, với cấp trên, với cấp dưới, với đồng cấp, với khách quốc tế và giữa cán bộ viên chức với nhau; trong tác phong, thái độ của cán bộ, viên chức đối với thực thi nhiệm vụ, thực hiện chủ trương, chính sách của Nhà nước, giữ vững kỷ cương quy định… Còn quản lý chiều sâu của văn hóa nơi công sở có thể được hiểu là quản lý những gì mang ý nghĩa tinh thần, ý thức, nhân cách đạo đức, phong cách sống… tiềm ẩn trong tâm thức của cán bộ, viên chức và thể hiện trong đời sống tinh thần nơi công sở” [10, 46]
1.2.2 Khái niệm văn hóa công sở
Văn hoá nơi công sở không chỉ thể hiện phẩm chất, đạo đức của cán bộ, công chức trong khi thực thi nhiệm vụ mà còn thể hiện trình độ văn hoá của mỗi người Nghiên cứu văn hoá là một cách thức quan trọng để hiểu về con người Theo đó nghiên cứu văn hoá của một công sở là một điều kiện quan trọng để hiểu đến các yếu tố tác động đến tư duy, quan điểm và hành vi của các thành viên trong công sở đó Văn hoá công sở liên quan đến niềm tin và cách hành động trong nội bộ công sở và liên quan đến hình ảnh, diện mạo, uy tín và ảnh hưởng của công sở đối với bên ngoài
Văn hóa công sở được hiểu là những quy tắc, chuẩn mực ứng xử giữa cán bộ, công chức - người đại diện cho cơ quan hành chính nhà nước với công dân và giữa cán bộ, công chức với nhau, nhằm phát huy tối đa năng lực để đạt hiệu quả cao nhất trong hoạt động công vụ
Khi văn hóa công sở của cán bộ, công chức được nâng cao thì nấc thang văn hóa ứng xử đối với công dân đến công sở làm việc chắc chắn cũng sẽ được nâng cao Văn hóa công sở còn là biểu hiện nổi bật của một xã hội văn minh, mọi hoạt động công vụ đều có nề nếp, kỷ cương và mỗi cán bộ, công chức đều thấy rõ trách nhiệm của mình và luôn tự nguyện làm tròn nhiệm vụ, hoàn thành tốt phần việc được giao
Văn hoá công sở là sự pha trộn của văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần Xuất phát từ đặc điểm của công sở là trụ sở công mà ở đó có tổ chức (cơ cấu, đội ngũ cán bộ, công chức và cơ sở vật chất (nhà cửa, phòng làm việc v.v ) cho thấy văn hoá công sở rộng hơn, bao trùm lên cả văn hoá tổ chức
Kinh nghiệm thực hiện văn hóa công sở của Nhật Bản
Trong nền kinh tế toàn cầu ngày nay, việc học hỏi các quốc gia tiến bộ là xu hướng thức thời, đặc biệt trong việc xây dựng và phát triển văn hóa công sở
Và Nhật Bản, xứ sở hoa anh đào là một ví dụ điển hình mà chúng ta nên học tập và trân trọng Đó chính là một trong những phong tục, lễ nghi từ văn hóa truyền thống Nhật, một trong những nền tảng dẫn đến thành công của người Nhật
1.3.1 Tôn trọng từ tấm danh thiếp cá nhân
Một cuộc gặp gỡ, người Nhật bao giờ cũng bắt đầu bằng việc trao đổi danh thiếp với kiểu cách trịnh trọng Lễ nghi được gọi là “meishi kokan” Khi nhận danh thiếp, người Nhật nhận bằng hai tay rồi đọc nó rất cẩn thận, đọc lại những thông tin được in trên danh thiếp rất to, và sau đó đặt nó vào trong chiếc hộp chuyên để danh thiếp hoặc đặt nó trên bàn ngay trước mặt của họ, sử dụng nó trong cuộc chuyện trò khi cần Người Nhật không bao giờ cất luôn danh thiếp vào túi Đó được coi như một điều không tôn trọng người khác
Qua đó chúng ta học được rằng việc trao đổi danh thiếp là một cách chúng ta biểu lộ sự quan trọng trong công việc Nó cho chúng ta thấy được giá trị của cuộc gặp, và chúng ta cũng sẽ nhận được giá trị của nó trong tương lai Nó thể hiện chúng ta đánh giá cao cuộc gặp gỡ hiện tại cũng như cuộc gặp tương lai
1.3.2 Học tập từ những người đi trước, tôn kính “cây cao bóng cả”
Trong một cuộc họp ở Nhật Bản, người ta thường đưa ra những lời bình luận hay nhận xét dựa vào quan điểm hoặc thái độ của người cấp cao nhất hiện diện ở đó Không ai bày tỏ sự bất đồng với người này
Trong những cuộc gặp gỡ của người Nhật, họ luôn trực tiếp đưa ý kiến của mình tới người có cấp bậc cao nhất để giải trình dự định chứ không phải vì mục đích tăng sự chú ý của sếp với họ Khi cúi chào, theo lễ phép chào hỏi của người Nhật, càng với người lớn tuổi, thâm niên lâu năm hơn, chúng ta càng phải cúi chào thấp hơn Văn hóa công sở của người Nhật luôn coi trọng giá trị của những người đi trước vì sự hiểu biết, từng trải và cả những kinh nghiệm đáng quý mà họ cung cấp cho cơ quan Dù bạn có ở thang bậc nghề nghiệp cùng nhau, nhưng những người tuổi lớn hơn bạn vẫn luôn được chú trọng hơn bạn Nếu như chúng ta không bằng lòng với người quản lý, hãy thẳng thắn góp ý với riêng cá nhân đó, và không bao giờ đòi hỏi quyền thế của nhà quản lý trước đám đông
Do vậy, đối với cơ quan hành chính nhà nước hiện nay chúng ta phải luôn biết lắng nghe những người có thâm niên hoặc có địa vị cao hơn chúng ta trong cơ quan Học tập từ những người đi trước, hay những người trên bạn trong cùng một tập thể, môi trường làm việc
1.3.3 Nâng cao tinh thần bằng những khẩu hiệu
Rất nhiều cơ quan của Nhật bắt đầu ngày làm việc của họ với một buổi sáng tập hợp nâng cao tinh thần hăng hái làm việc, nơi những người lao động thường xếp hàng và đồng thời hô khẩu hiệu của cơ quan Đó là một cách gây cảm hứng hăng hái, tạo động lực và tạo lòng trung thành trong công việc Và điều này cũng giúp cho mục tiêu của cơ quan luôn được giữ vững trong tâm trí của mỗi người Bề ngoài của lễ nghi này xem ra có vẻ giống một sự truyền bá tôn giáo, nhưng đó lại chính là những lời cổ vũ tinh thần trong công việc đối với người Nhật Một cuộc tập hợp vào buổi sáng hàng ngày sẽ thay cho lời nhắc nhở một chiến lược, mục tiêu lâu dài của cơ quan
Do đó, việc học tập văn hóa công sở của Nhật Bản nhắc nhở bản thân mỗi khi chúng ta bắt đầu làm việc rằng mục tiêu công việc của bạn là gì Từ đó, định lại trong đầu một mục tiêu lâu dài cho chính chúng ta và nhận thức sự cần thiết của một nhóm cùng làm việc với nhau Hiệu quả hơn khi liệt kê những khẩu hiệu bằng tay do chính chúng ta làm ra và sử dụng chúng khi chúng ta cảm thấy nản chí hay thiếu tự tin Vì thế, chúng ta cũng nên học cách nhắc nhở bản thân mỗi khi đến văn phòng, xem công việc của chúng ta ngày hôm đó là gì
1.3.4 Khuôn mặt nghiêm khắc, làm việc nghiêm túc
Người Nhật rất coi trọng công việc Họ nổi tiếng là những người làm việc rất hăng say và thường rời văn phòng về nhà rất muộn Người Nhật vốn nổi tiếng về sự nghiêm túc trong công việc Họ hầu như rất hiếm khi có chuyện muộn giờ, mà nếu có muộn sẽ bị phạt rất nghiêm khắc
Người Nhật còn nổi tiếng là những người thể hiện tình cảm rất chừng mực Ngoại trừ những dịp làm cho người Nhật thả sức cười đùa, những nhân viên Nhật thường không diễn tả cảm xúc vui đùa trên khuôn mặt thay vào đó là một khuôn mặt khiêm khắc Đặc biệt trong các cuộc họp, họ nói nhỏ, giọng nói rất thận trọng, và thường nhắm mắt khi chú ý gần tới người nói Thói quen này với người nước ngoài thể hiện dấu hiệu của sự khó chịu
Người Nhật hầu hết đều có những sự kính trọng trong tín ngưỡng ngay cả ở những nơi làm việc Sự hài hước hiếm khi được vận dụng, ngoại trừ những câu nói đùa trong những giờ nghỉ Rất khó có những sự động chạm cơ thể giữa những đồng nghiệp
Với chúng ta, những nơi làm việc quá nghi thức như vậy dường như thật khó chịu và quá ngột ngạt Chúng ta không muốn biến nơi làm việc thành những mảnh đất thiêng liêng, nhưng không có lý do nào để biến nó thành những nơi giống như nhà dành cho những người bạn Vẻ chuyên nghiệp và tư cách cá nhân sẽ làm tăng sự kính trọng công việc, vì thế cũng sẽ tăng sức hiệu quả làm việc Học tập người Nhật bằng cách tạo cho mình thói quen làm việc chuyên nghiệp nơi công sở để nâng cao hiệu quả công việc
1.3.5 Mối quan hệ được đặt lên hàng đầu
Giao thiệp rất quan trọng với người Nhật, nó thường được đề cập đến đầu tiên với mỗi mối quan hệ mới Đặc điểm chung của những nhà quản lý Nhật là khả năng thích ứng cao trong các cuộc đàm phán Và đặc biệt khả năng diễn thuyết của họ rất tốt nên dễ chiếm được thiện cảm của đối tác, thành công dành được hợp đồng cũng chiếm tỷ lệ cao Làm quen, giao tiếp với những người có thanh thế, địa vị là khía cạnh mà người Nhật rất quan tâm để có thêm nhiều cơ hội làm ăn mới
Chúng ta thường gọi đó là sự phô trương thanh thế bằng cách tự nhận là quen biết những nhân vật nổi danh, hay “thấy sang bắt quàng làm họ” nhưng đây được xem như là một thói quen đáng trọng Xây dựng cầu nối mọi lúc, mọi nơi chúng ta sẽ nâng giá trị của mình lên
1.3.6 Sống vì tập thể, làm việc vì tập thể
THỰC TRẠNG THỰC HIỆN VĂN HÓA CÔNG SỞ TẠI ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÕA – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Khái quát về UBND Huyện Ứng Hòa Thành phố Hà Nội
Huyện Ứng Hòa nguyên là phủ Ứng Thiên đời nhà Lê thuộc trấn Sơn Nam Năm Gia Long thứ 13 (năm 1814) phủ Ứng Thiên đổi tên là phủ Ứng Hòa Năm Minh Mạng thứ 12 (năm 1831), khi tỉnh Hà Nội được thành lập, Ứng Hòa là một trong bốn phủ của tỉnh Hà Nội Phủ Ứng Hòa gồm các huyện Sơn Minh sau đổi thành Sơn Lãng, Chương Đức (sau đổi thành Chương Mỹ), Thanh Oai và Hoài An Năm 1888, khi tỉnh Hà Đông được thành lập, phủ Ứng Hòa thuộc tỉnh Hà Đông Năm 1891, thành lập phủ Mỹ Đức thuộc tỉnh Hà Đông, bao gồm huyện Yên Đức, Chương Mỹ và Sơn Lãng Sau Cách mạng tháng Tám thành công, huyện Sơn Lãng đổi tên là huyện Ứng Hòa, huyện Yên Đức đổi tên là huyện Mỹ Đức
Ngày 21/4/1965, tỉnh Hà Tây được thành lập theo Nghị quyết của ủy ban Thường vụ Quốc hội, trên cơ sở hợp nhất hai tỉnh Sơn Tây và Hà Đông Ngày 12/8/1991, kỳ họp thứ chín Quốc hội khóa 8 thông qua Nghị quyết chia tỉnh Hà Sơn Bình thành hai tỉnh Hòa Bình và Hà Tây Theo đó, huyện Ứng Hòa thuộc tỉnh Hà Tây Ngày 23/9/2003, Chính phủ ra Nghị định số 107/2003/NĐ-CP điều chỉnh địa giới hành chính mở rộng thị trấn Vân Đình thuộc huyện Ứng Hòa Theo đó, sáp nhập toàn bộ diện tích tự nhiên và nhân khẩu của xã Tân Phương và một phần diện tích và dân số các xã Liên Bạt, Phương Tú, Vạn Thái vào thị trấn Vân Đình Sau khi điều chỉnh, huyện Ứng Hòa gồm 29 đơn vị hành chính gồm thị trấn Vân Đình và 28 xã: Cao Thành, Đại Cường, Đại Hùng, Đội Bình, Đông Lỗ, Đồng Tiến, Đồng Tân, Hoa Sơn, Hòa Lâm, Hòa Nam, Hòa Phú, Hòa
Xá, Hồng Quang, Kim Đường, Liên Bạt, Lưu Hoàng, Minh Đức, Phù Lưu,
Phương Tú, Quảng Phú Cầu, Sơn Công, Tảo Dương Văn, Trầm Lộng, Trung
Tú, Trường Thịnh, Vạn Thái, Viên An, Viên Nội
Là huyện phía Nam của Hà Nội, phía Bắc giáp huyện Chương Mỹ và Thanh Oai, phía Nam giáp huyện Duy Tiên (Hà Nam) và Kim Bảng (Hà Nam), phía Tây giáp huyện Mỹ Đức, phía Đông giáp huyện Phú Xuyên Ứng Hoà là huyện đồng bằng nằm ở Đông Nam tỉnh Hà Tây cũ (nay thuộc thành phố Hà Nội), có diện tích tự nhiên là 183.72km2 Dân số: khoảng 179.900 người Địa giới hành chính huyện Ứng Hoà gồm 29 đơn vị hành chính: 1 thị trấn và 28 xã Ứng Hoà là huyện đồng bằng nằm trong vùng thuộc nền văn minh lúa nước sông Hồng, có điều kiện khí hậu đất đai đa dạng, phù hợp với khả năng phát triển một nền nông nghiệp sinh thái toàn diện, mang đặc trưng của nền sản xuất nông nghiệp truyền thống
- Là huyện thuần nông, điểm xuất phát thấp, thời gian gần đây, huyện Ứng Hòa đã tập trung chuyển đổi cơ cấu kinh tế, nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp kết hợp với khôi phục ngành nghề truyền thống và phát triển nghề mới, nên năm 2016 tổng giá trị sản xuất của huyện đạt 1.206 tỷ đồng, vượt 3,7% so với kế hoạch Tốc độ tăng trưởng đạt 11,2% Số hộ đói nghèo đã giảm được 1.552 hộ (giảm 3,23% so với năm 2015)
- Về nông nghiệp: Ứng Hòa đã tập trung chỉ đạo nhân rộng các mô hình nông nghiệp giá trị kinh tế cao nhằm phát huy tối đa hiệu quả giá trị sử dụng đất ở địa phương Đẩy mạnh chương trình chuyển đổi cơ cấu vật nuôi, cây trồng, theo các mô hình chuyên canh, đa canh, nuôi thủy sản (lúa + cá + vịt) Hiện tại, tổng đàn gia súc, gia cầm của huyện duy trì khoảng gần 1.800.000 con Đặc biệt, để thực hiện có hiệu quả chương trình phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa, huyện đã quy hoạch 12 điểm với 635ha diện tích trồng rau an toàn tập trung tại các xã ven sông Đáy
Cùng với chăn nuôi gia súc, gia cầm, một mũi nhọn khác của Ứng Hòa là nuôi trồng thủy sản Năng suất thủy sản trung bình đạt từ 6,8-7,0 tấn cá/ha/năm; cho thu nhập từ 75-85 triệu đồng/ha/năm; cao gấp 2,5 đến 3 lần so với cấy lúa Nhiều hộ đầu tư vốn lớn cho thu nhập lên tới 100-120 triệu đồng/ha/năm
- Về công nghiệp: Năm 2016, giá trị sản xuất công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp tăng 13,9% so với cùng kỳ năm 2015
Về thương mại-dịch vụ: Năm 2015, giá trị thương mại dịch vụ tăng 18,4% so với cùng kỳ năm 2015 Huyện đã huy động mọi nguồn vốn đầu tư để xây dựng và nâng cấp một số chợ xã Năm 2012 đã đưa chợ đầu mối nông sản thuộc trung tâm thương mại thị trấn Vân Đình vào khai thác hoạt động kinh doanh đồng thời đa dạng hóa các loại hình dịch vụ
Về đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng: Huyện đã triển khai 92 dự án đầu tư xây dựng cơ bản với tổng vốn trên 850 tỷ đồng Đến nay đã có 15 dự án hoàn thành Hiện nay, 100% số thôn trong huyện đã có điện phục vụ sản xuất và sinh hoạt 837,8 km đường giao thông khu vực huyện lỵ đã được trải nhựa, tạo điều kiện cho nhân dân giao lưu kinh tế, phát triển sản xuất và phục vụ đời sống, việc triển khai dự án đường trục phía nam Hà Nội đi xuyên qua huyện đã tạo điều kiện thuận lợi phát triển kinh tế
- Về làng nghề: Ứng Hòa có một số các làng nghề truyền thống như làng may Trạch Xá thuộc xã Hòa Lâm, làng bún Bặt thuộc xã Liên Bạt, làng đàn Đào
Xá thuộc xã Đông Lỗ, làng nghề khảm trai Cao Xá thuộc xã Trung Tú
- Về giáo dục: Toàn huyện có 25/29 trường đạt chuẩn quốc gia
- Về y tế: Toàn huyện có 26/29 trạm y tế xã đạt chuẩn và có bác sĩ phục vụ, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân
2.1.4 Văn hóa - di tích danh thắng
Ngay từ xa xưa, khi cư dân mới quần tụ về đây đã biết đoàn kết nương tựa vào nhau cùng khai phá mảnh đất hoang dã, tạo dựng quê hương, làng xã Trải qua chiến tranh, sự huỷ hoại của thời gian, nhiều làng vẫn còn những công trình văn hoá nghệ thuật đặc sắc như đền, chùa, quán Đó là những kiến trúc mà nhân dân xây dựng từ lâu đời, có công trình tồn tại đã mấy trăm năm Những công trình đó không chỉ nổi tiếng về tầm vóc qui mô mà chính là đạt tới giá trị cao về nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc; đậm đà bản sắc dân tộc Hiện nay, Ứng Hoà có hàng trăm di tích lịch sử văn hoá có giá trị được xếp hạng, tiêu biểu như: Đình Vân Đình; đền, chùa Bầu Bỏi; đình, miếu Đông Dương; đình và quán Đinh Xuyên; đền Hữu Vĩnh; đình, chùa Miêng Hạ; đình Phú Lương; đình Quảng Nguyên; đền Thái Bình; đình Tử Dương; đình Trung Thịnh; đình Vĩnh Lộc Thượng; đình Yên Trường; đình Hoàng Xá Đền Đức Thánh Cả, khu Cháy với Bảo tàng và Tượng đài lịch sử lưu giữ nhiều hiện vật của thời kháng chiến chống Pháp
2.1.5 Chức năng, cơ cấu tổ chức bộ máy của UBND Huyện Ứng Hòa
Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền cấp Huyện nói chung, trong đó có UBND Huyện ứng Hòa được quy định cụ thể trong Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân (HĐND&UBND) 2003 và được thay thế bằng Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 77/2015/QH13 ngày 19 tháng
6 năm 2015, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2016, cụ thể như sau:
- Uỷ ban nhân dân do Hội đồng nhân dân bầu là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân cùng cấp và cơ quan nhà nước cấp trên
- Uỷ ban nhân dân chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp nhằm bảo đảm thực hiện chủ trương, biện pháp phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh và thực hiện các chính sách khác trên địa bàn
- Uỷ ban nhân dân thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương, góp phần bảo đảm sự chỉ đạo, quản lý thống nhất trong bộ máy hành chính nhà nước từ trung ương tới cơ sở
- Uỷ ban nhân dân do Hội đồng nhân dân bầu là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân cùng cấp và cơ quan nhà nước cấp trên
Văn hóa công sở tại UBND Huyện Ứng Hòa
2.2.1 Về hệ thống các văn bản thực hiện văn hóa công sở
Thể chế hóa những chủ trương của Đảng về nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước, những năm qua nhà nước Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến đạo đức công vụ, như: Hiến pháp năm 2013, Luật CBCC năm 2008, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2012, Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2013, Luật Đầu tư công 2016, v.v cùng các VBQPPL dưới luật như: Quyết định số 129/2007/QĐ-TTg ngày 02/8/2007 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế văn hóa công sở tại các cơ quan hành chính nhà nước; Quyết định số 03/2007/QĐ-BNV ngày 26/20/2007 của Bộ Nội vụ về việc ban hành quy tắc ứng xử của CBCC, viên chức làm việc trong bộ máy chính quyền địa phương; Nghị định số 24/2010/NĐ-CP ngày 15/3/2010 của Chính phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức; Nghị định số 34/2011/NĐ-CP ngày 17/5/2011 của Chính phủ quy định về xử lý kỷ luật đối với công chức; Quyết định số 64/2007/QĐ-TTg ngày 105/2007 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế về việc tặng quà, nhận quà tặng và nộp lại quà tặng của cơ quan, tổ chức, đơn vị có sử dụng ngân sách nhà nước và của CBCC, viên chức…và một số văn bản pháp luật khác quy định quy tắc ứng xử của công chức trong thực thi công vụ Các VBQPPL nêu trên đã tạo cơ sở pháp lý khá đầy đủ cho việc điều chỉnh hành vi ứng xử của công chức trong thực thi công vụ và là cơ sở cho việc đánh giá công chức, góp phần không nhỏ vào việc xây dựng đội ngũ công chức trong điều kiện đổi mới ở nước ta hiện nay Luật CBCC năm 2008 được coi là nền tảng pháp lý trong lĩnh vực này đã xác định một trong những tiêu chí quan trọng bậc nhất của công chức là phải có phẩm chất đạo đức
Với yêu cầu xây dựng đội ngũ công chức đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước Trên cơ sở kế thừa các quy định của pháp luật về đạo đức công vụ các giai đoạn trước, Điều 8 Luật CBCC năm 2008 tiếp tục cụ thể hóa thành các quy định về nghĩa vụ đối với công chức và những yêu cầu đối với công chức trong thực thi công vụ Các chuẩn mực đạo đức dưới dạng nghĩa vụ tiếp tục được khẳng định:
1) Trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam; bảo vệ danh dự Tổ quốc và lợi ích quốc gia
2) Tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân
3) Liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân
4) Chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước
Các chuẩn mực đạo đức nêu trên được ý thức, rèn luyện và trở thành hành vi công vụ, khi: “CBCC phải thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư trong hoạt động công vụ” (Điều 15)
Văn hóa công sở có vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng hình ảnh người cán bộ, công chức nhà nước, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của Ủy ban nhân dân, vì thế ngày 25 tháng 01 năm 2017, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội đã ban hành Quyết định Số: 522/QĐ-UBND về việc Quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong các cơ quan thuộc thành phố Hà Nội Tác giả chọn việc thực hiện Quyết định Số: 522/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân Huyện Ứng Hòa để phân tích, đánh giá vì Quyết định này do chính UBND Huyện Ứng Hòa ban hành và áp dụng cho tất cả các đơn vị hành chính, sự nghiệp trên địa bàn Huyện và đây là Quyết định mới nhất Nội dung trong quyết định này đã quy đinh cụ thể như sau: Điều 1 Mục đích
1 Xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động Thủ đô (sau đây gọi chung là cán bộ) “Kỷ cương – Trách nhiệm – Tận tình – Thân thiện’’
2 Định hướng cho cán bộ các chuẩn mực trong giải quyết công việc với tổ chức và công dân, trong gia đình và xã hội
3 Góp phần giữ gìn và phát triển truyền thống văn hóa tốt đẹp của Thủ đô và đất nước, xây dựng người Hà Nội thanh lịch, văn minh Điều 2 Phạm vi và đối tượng điều chỉnh
1 Phạm vi áp dụng Quy tắc bao gồm: Các cơ quan Đảng, nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, lực lượng vũ trang và các đơn vị sự nghiệp công lập (sau đây gọi chung là cơ quan) thuộc thành phố Hà Nội
2 Đối tượng áp dụng Quy tắc là tất cả cán bộ đang làm việc trong các cơ quan thuộc thành phố Hà Nội Điều 3 Thời gian làm việc
Chấp hành nghiêm quy định về thời gian làm việc của Nhà nước, của cơ quan; sắp xếp, sử dụng thời gian làm việc khoa học và hiệu quả Điều 4 Trang phục, tác phong
1 Trang phục công sở lịch sự; đầu tóc gọn gàng
2 Tư thế, cử chỉ nghiêm túc; thái độ niềm nở, khiêm tốn, lễ phép, tôn trọng người giao tiếp; sử dụng ngôn ngữ hòa nhã, không nói tục
3 Đeo, cài thẻ tên, phù hiệu, thẻ chức danh đúng quy định
4 Không làm việc riêng, gây mất trật tự trong giờ làm việc
5 Không hút thuốc tại cơ quan, phòng làm việc; không sử dụng đồ uống có cồn, nấu nướng trong giờ làm việc
6 Không đeo tai nghe, bật nhạc, nghe nhạc, chơi điện tử và các thiết bị giải trí cá nhân trong giờ làm việc
7 Nơi làm việc ngăn nắp, gọn gàng; không trưng bày, lưu giữ, phát tán hình ảnh, nội dung văn hóa phẩmđồi trụy, tài liệu chống lại Đảng, Nhà nước Điều 5 Ý thức tổ chức kỷ luật
1 Tự giác chấp hành Hiến pháp, pháp luật, nội quy, quy chế của cơ quan trong thực thi công vụ; gương mẫu về đạo đức và lối sống
2 Chấp hành nghiêm sự phân công của tổ chức, nhiệm vụ cấp trên giao
3 Giữ gìn đoàn kết nội bộ, xây dựng môi trường làm việc dân chủ, kỷ cương; có tinh thần cầu thị, lắng nghe; cộng tác, giúp đỡ đồng nghiệp hoàn thành tốt nhiệm vụ
4 Trung thực, thẳng thắn, khách quan trong báo cáo, đề xuất, tham gia đóng góp ý kiến với cấp trên
5 Không phát tán, tung tin, bịa đặt, xúc phạm danh dự, nhân phẩm người khác
6 Không tự ý phát ngôn, cung cấp thông tin, tài liệu không đúng thẩm quyền
7 Không lạm dụng, không có hành vi quấy rối người khác dưới mọi hình thức (lời nói, hành động, cử chỉ, tin nhắn )
8 Không tham gia, tổ chức, lôi kéo người khác đánh bạc, chơi họ, hụi, lô, đề và các tệ nạn xã hội khác dưới mọi hình thức
9 Không quảng cáo, vận động, mời gọi đồng nghiệp và công dân mua, Điều 6 Sử dụng phương tiện, tài sản
1 Không sử dụng tài sản, thiết bị, phương tiện công (ô tô, điện thoại, máy vi tính, đồ dùng văn phòng phẩm, hộp thư ) của cơ quan để phục vụ mục đích cá nhân
2 Sử dụng tiết kiệm điện, nước và các vật tư văn phòng; quản lý chi tiêu đúng việc, đúng quy định
3 Tích cực tham gia xây dựng, giữ gìn không gian xanh, sạch, đẹp; môi trường văn hóa thân thiện, văn minh nơi công sở
4 Không tàng trữ, sử dụng vật liệu gây nguy hại, cháy nổ, vũ khí trái quy định tại cơ quan Điều 7 Tại cơ quan làm việc
1 Giải quyết yêu cầu, công việc của người dân đúng quy định, quy trình
2 Giao tiếp, làm việc với người dân bằng thái độ niềm nở, tận tình, trách nhiệm; ưu tiên hỗ trợ giải quyết công việc với người già, yếu, người khuyết tật, phụ nữ mang thai, người đau ốm
3 Không sách nhiễu; gợi ý đưa tiền, nhận tiền, quà biếu; không hẹn gặp giải quyết công việc bên ngoài cơ quan và ngoài giờ làm việc
4 Không gây căng thẳng, bức xúc, dọa nạt người dân
5 Nghiêm túc nhận lỗi, nhận khuyết điểm, thành khẩn tự phê bình, rút kinh nghiệm khi để xảy ra sai sót Điều 9 Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân
1 Sở Văn hóa và Thể thao là cơ quan Thường trực triển khai, tổ chức thực hiện Quy tắc ứng xử
2 Thủ trưởng các cơ quan của Thành phố có trách nhiệm tổ chức triển khai và quán triệt Quy tắc ứng xử này đến từng cán bộ; kiểm tra, giám sát, tổ chức đánh giá và kiểm điểm việc thực hiện; đưa vào tiêu chí để xếp loại thi đua hàng năm
3 Các cơ quan báo chí của Thành phố tuyên truyền, phổ biến sâu rộng Quy tắc ứng xử này tới cán bộ, nhân dân trong toàn Thành phố để biết và cùng giám sát việc thực hiện ở các cấp; phát hiện, cổ vũ, động viên những tập thể và cá nhân thực hiện tốt; phê phán các tập thể, cá nhân vi phạm
4 Cán bộ trong các cơ quan thuộc thành phố Hà Nội, ngoài việc thực hiện nghiêm quy định pháp luật, quy chế, nội quy của các cơ quan; cần nắm vững, thực hiện đúng, đầy đủ và vận động, giám sát, nhắc nhở đồng nghiệp cùng thực hiện các quy định của Quy tắc ứng xử này
Đánh giá thực trạng thực hiện văn hóa công sở tại UBND huyện Ứng Hòa
Thực hiện phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” là một trong những giải pháp lớn để thực hiện Nghị quyết Trung ương V (khóa VIII), với mục đích xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Vì vậy, UBND Huyện Ứng Hòa đã triển khai thực hiện có hiệu quả và đưa phong trào ngày càng phát triển cả chiều rộng lẫn chiều sâu Phong trào
“Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” đã từng bước đưa văn hóa thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội, vào từng người dân, từng gia đình, từng tập thể, cộng đồng, từng địa bàn dân cư, vào mọi lĩnh vực sinh hoạt và quan hệ con người, phục vụ đắc lực vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Cuộc vận động xây dựng cơ quan, đơn vị, trường học văn hóa có những thuận lợi trong việc tổ chức và triển khai thực hiện Lãnh đạo các cơ quan, ban ngành, trường học cùng toàn thể cán bộ, công chức, viên chức trong toàn Huyện đều hưởng ứng và thực hiện tốt các quy ước xây dựng cơ quan, đơn vị, trường học văn hóa Hàng năm, Ban chỉ đạo phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” tỉnh đã tổ chức kiểm tra, xét đề nghị công nhận cơ quan đạt chuẩn văn hóa và khen thưởng những đơn vị thực hiện tốt quy ước xây dựng cơ quan văn hóa Quá trình thực hiện phong trào xây dựng cơ quan, đơn vị, trường học văn hóa đã củng cố và nâng cao tính kỷ cương, nề nếp nơi công sở, ý thức chấp hành kỷ luật công tác, cũng như xây dựng môi trường văn hóa nơi làm việc được chú trọng Bên cạnh đó, nhờ thực hiện tốt phong trào này đã tạo động lực để mỗi cơ quan, đơn vị phấn đấu, nâng cao hiệu quả công việc và hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị được giao Đồng thời, Kế hoạch Số:76/KH-UBND ngày 24 tháng 3 năm 2017 của UBND Huyện ứng Hòa về triển khai thực hiện Quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong các cơ quan và Quy tắc ứng xử nơi công cộng trên địa bàn huyện Ứng Hòa đã góp phần thể chế hóa chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về xây dựng và phát triển văn hóa nói chung, thể chế hóa định hướng về xây dựng và phát triển văn hóa công sở tại ủy ban nhân dân nói riêng Với mục đích xây dựng hình ảnh cơ quan hành chính nhà nước trong sạch, hiện đại, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của Ủy ban nhân dân, góp phần phát triển và hoàn thiện bộ máy hành chính nhà nước
Việc thực hiện Quy chế Văn hóa công sở đã có tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế - xã hội ở huyện Quy chế Văn hóa công sở đã và đang nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Ủy ban nhân dân, giải quyết kịp thời các công việc của các cơ quan, tổ chức và nhân dân Dần dần tạo nếp nghĩ người dân đến các dịch vụ hành chính nhà nước là những khách hàng thực sự Ở Ủy ban nhân dân huyện Ứng Hòa, sự dân chủ khá được coi trọng, qua các buổi họp cơ quan, qua các bản tin hàng tuần mọi thông tin liên quan đến hoạt động của cơ quan và quyền lợi của nhân dân đều được công khai, minh bạch Trang phục của cán bộ, công chức ngày một cải thiện theo hướng tích cực, sạch sẽ, gọn gàng, lịch sự và văn minh Lối giao tiếp, ứng xử của cán bộ, công chức rất chân thành, cởi mở, lịch sự, văn minh và đúng mực Cùng với việc bài trí công sở và bài trí khuôn viên công sở theo đúng Quy chế Văn hóa công sở đã và đang góp phần xây dựng hình ảnh đẹp của Ủy ban nhân dân trong mắt người dân cũng như bạn bè quốc tế
Quy chế Văn hóa công sở tại Ủy ban nhân dân đã có tác động tích cực trong việc giáo dục phẩm chất đạo đức, lối sống, kiên quyết chống các hành vi quan liêu, tham nhũng, tiêu cực, thiếu trách nhiệm, cửa quyền, nhũng nhiễu, hách dịch đối với nhân dân của cán bộ, công chức góp phần thực hiện văn hóa công sở, cơ quan văn hóa theo hướng hiện đại hóa, từng bước xây dựng và phát triển nền hành chính nhà nước
2.3.2 Những điểm tồn tại, hạn chế
Mặc dù Quy chế Văn hóa công sở, kế hoạch triển khai thực hiện Quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong các cơ quan đã được ban hành nhưng công tác chỉ đạo thực hiện đôi lúc còn lúng túng, thiếu cụ thể, phương pháp vận động thiếu linh hoạt Công tác kiểm tra, đôn đốc, đánh giá, bình xét ở một số đơn vị còn mang tính hình thức, thiếu sự chặt chẽ, nghiêm túc làm cho chất lượng thực hiện Quy chế văn hóa công sở chưa cao Nhận thức của một số cán bộ, công chức và cán bộ lãnh đạo về Quy chế Văn hóa công sở còn hạn chế, thiếu năng động, sáng tạo, sâu sát trong công tác chỉ đạo, điều hành Công tác tham mưu chưa làm tốt nên lãnh đạo không định hướng chỉ đạo kịp thời Công tác tuyên truyền vận động ở một số đơn vị chưa được thường xuyên, chưa tạo được nhận thức sâu rộng của cán bộ, công chức và người dân tham gia xây dựng văn hoá công sở tại ủy ban nhân dân
Quá trình xây dựng cơ quan văn hóa, văn hóa công sở có nơi nặng về hình thức, có nơi chỉ coi trọng giá trị văn hóa truyền thống, mà xem nhẹ về phát triển kinh tế và các giá trị quản lý hành chính hiện đại
Việc kiểm tra, đánh giá các cơ quan, đơn vị đã được công nhận đạt chuẩn văn hóa, về thực hiện Quy chế Văn hóa công sở chưa được duy trì thường xuyên Chưa chú trọng xây dựng và tổ chức hoạt động nhằm đẩy mạnh việc xã hội hóa các hoạt động văn hóa nhằm thực hiện văn hóa công sở tại ủy ban nhân dân
Nội dung, quy trình triển khai cuộc vận động xây dựng cơ quan văn hóa, thực hiện Quy chế Văn hóa công sở còn lúng túng, rập khuôn, chưa phát huy được tính sáng tạo, chưa có những sáng kiến mới phù hợp hoàn cảnh từng cơ quan, đơn vị hành chính nhà nước tại UBND huyện Ứng Hòa
Thêm vào đó, lối sống chạy theo đồng tiền, coi trọng giá trị cá nhân mà quên đi tập thể … đã ảnh hưởng không nhỏ đến nhân cách, đạo đức của một bộ phận cán bộ, công chức
Trong hoạt động của Ủy ban nhân dân, tồn tại những hành vi mặc dù rõ ràng là không chấp hành Quy chế Văn hóa công sở nhưng ít bị phê bình, xử lý, nếu có thì chỉ là những lời nhắc nhở nhẹ nhàng, mang tính hình thức, không có tác dụng răn đe, khắc phục Đồng thời, lãnh đạo các cơ quan chưa chú ý nhiều hơn đến việc xây dựng môi trường văn hóa công sở tại nơi làm việc
Trong hoạt động công vụ, bên cạnh những cán bộ, công chức tận tụy với công việc, giỏi chuyên môn nghiệp vụ, có thiện chí giúp đỡ, chỉ dẫn tận tình cho nhân dân thực hiện đúng, đầy đủ các yêu cầu theo luật định từ phía cơ quan quản lý nhà nước thì vẫn còn một số cán bộ, chức trách chưa làm tròn bổn phận của mình Cuộc chiến chống tham nhũng, tiêu cực đối với đội ngũ cán bộ, công chức thực thi công vụ cho thấy vẫn còn có những tiêu cực từ phía cán bộ, công chức Trên thực tế, còn không ít những sách nhiễu, phiền hà từ phía cán bộ, công chức Qua thực tế quan sát cho thấy cán bộ, trong quá trình thực thi công vụ của công chức vẫn còn có thái độ sách nhiễu hoặc yếu kém về giao tiếp ứng xử
Bên cạnh những mặt tích cực của thực trạng văn hóa công sở tại ủy ban nhân dân huyện Ứng Hòa, vẫn tồn tại những mặt hạn chế khi thực hiện Quy chế Văn hóa công sở, nguyên nhân là do:
Việc chỉ đạo thực hiện Quy chế Văn hóa công sở, thực hiện văn hóa công sở tại ủy ban nhân dân chưa đồng bộ, chưa thật chủ động Công tác kiểm tra, đôn đốc và phối hợp giữa các cơ quan, đội ngũ cán bộ, công chức đôi lúc còn thiếu chặt chẽ, thiếu sâu sát Sự phối hợp và phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ, công chức và nhân dân còn hạn chế Đồng thời, công tác sơ kết, tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm để kịp thời phát huy ưu điểm và khắc phục thiếu sót, nhược điểm của việc thực hiện Quy chế Văn hóa công sở còn mang nặng tính hình thức, qua loa và đại khái
Kỷ cương, kỷ luật hành chính trong hệ thống Ủy ban nhân dân và cán bộ, công chức còn nhiều yếu kém, lề lối làm việc, chất lượng hội họp ở nhiều cơ quan, đơn vị chậm đổi mới, chất lượng chưa cao