PHÂN TÍCH VỀ MỐI LIÊN HỆ BA QUY LUẬT CƠ BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT QUA SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Bài tập lớn giữa kì môn Triết học Mác Lênin Nhóm sinh viên lớp QH 2019E QTKD CLC 04 Trường Đại học Kinh tế Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
VIỆN QUẢN TRỊ KINH DOANH
-*** -BÀI THI GIỮA KỲ MÔN TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN
PHÂN TÍCH VỀ MỐI LIÊN HỆ
BA QUY LUẬT CƠ BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT QUA
SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Lớp: QH 2019-E QTKD CLC 04
Mã học phần: PHI 1006 19 Giảng viên: TS Nguyễn Thị Thu Hường
Trang 2DANH SÁCH NHÓM SINH VIÊN THỰC HIỆN BÀI THI
Chủ nghĩa duy vật biện chứng bao gồm hai nguyên lý, sáu cặp phạm trù và ba quy luật cơ bản Trong đó, ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật được áp dụng để giải thích về sự phát triển của sư vật, hiện tượng, chúng hợp thành nguyên lý về sự phát triển Chúng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong phép duy vật biện chứng của triết học Mác -Lênin, nó là một trong những nền tảng cơ bản cấu thành phép biện chứng duy vật cũng như một trong những nội dung quan trọng của toàn bộ triết học Mác - Lênin Chính vì
thế, nhóm chúng em đã lựa chọn một ví dụ chính là sự hình thành và phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam để phân tích những quy luật này một cách chi tiết và sâu sắc
hơn Bằng những kiến thức học được trên giảng đường, kết hợp với quá trình tự nghiên cứu và tìm hiểu, nhóm chúng em xin trình bày bài thi giữa kỳ lần này dưới hình thức bài tập lớn Dưới đây là phần trình bày của nhóm chúng em về lí thuyết và kiến thức áp dụng thực tế của ba quy luật cơ bản trong biện chứng duy vật về ví dụ nêu trên.
Trang 3Nhóm sinh viên thực hiện
Trang 4A Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập
1 Khái niệm và dẫn dắt vấn đề
Trong mỗi sự vật, hiện tượng hay quá trình nào đó luôn chứa đựng những mặt, khuynh hướng đối lập nhau tạo thành những mâu thuẫn bên trong bản thân sự vật, hiện tượng đó Và sự thống nhất, đấu tranh giữa các mặt đối lập này là nguồn gốc tạo nên sự vận động và phát triển, dẫn đến cái mới ra đời thay thế cái cũ Nhắc tới quy luật mâu thuẫn trong lịch sử, có thể kể đến
1 ví dụ điển hình là sự ra đời của Đảng Cộng Sản VN Đảng được thành lập
là kết quả của cuộc đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc ở nước ta trong những năm đầu thế kỷ XX Đó là một mốc lớn đánh dấu bước ngoặt trọng đại trong lịch sử cách mạng Việt Nam, chấm dứt cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước.
2 Các mặt đối lập
2.1 Khái niệm
- Là những mặt, những thuộc tính, những khuynh hướng vận động trái ngược nhau nhưng lại là tiền đề, điều kiện để tồn tại của nhau
- Những mặt đối lập của xã hội Việt Nam trong quá trình hình thành và phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam:
+ Nhân dân Việt Nam – thực dân pháp
+ Giai cấp địa chủ - nông dân
+ Giai cấp tư sản – công nhân
+ Ba tổ chức cộng sản: Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng, Đông Dương Cộng sản liên đoàn
2.2 Thống nhất
- Là khái niệm chỉ sự liên hệ giữa các mặt đối lập, thể hiện ở:
+ Các mặt đối lập cần đến nhau, là tiền đề để cho nhau tồn tại: có giai cấp địa chủ thì mới có giai cấp nông dân và ngược lại
Trang 5+ Các mặt đối lập tác động cân bằng, ngang nhau, thể hiện đấu tranh giữa cái mới đang hình thành và cái cũ chưa mất đi: cái mới đang hình thành là cái cũ giai cấp địa chủ đang dần đi lên thành giai cấp tiểu tư sản
+ Các mặt đối lập có sự tương đồng, đồng nhất: sự đồng nhất là nó cùng nằm trong hệ thống nhà nước Việt Nam, chịu sự ảnh hưởng và chi phối lẫn nhau
2.3 Đấu tranh
- Là sự tác động qua lại theo hướng bài trừ, phủ định lẫn nhau giữa các mặt đối lập Đấu tranh không tách rời với thống nhất trong 1 mâu thuẫn
=> Thống nhất mang tính tương đối, đấu tranh mang tính tuyệt đối Nghĩa là đấu tranh phá vỡ sự ổn định tương đối của các mặt đối lập dẫn đến sự chuyển hoá về chất của chúng
- Liên hệ đến sự hình thành và phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam: Khi các mẫu thuẫn xảy ra -> Đấu tranh giữa các giai cấp dưới sự ra đời của Đảng Cộng sản -> Sự thay đổi hình thức nhà nước
3 Phân loại mâu thuẫn căn cứ vào các lĩnh vực khác nhau
3.1 Căn cứ vào sự tồn tại và phát triển của toàn bộ sự vật, hiện tượng, có mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản
- Mâu thuẫn cơ bản: tác động trong suốt quá trình tồn tại của sự vật hiện tượng;
nó quy định bản chất, sự phát triển của chúng từ khi hình thành đến lúc tiêu vong Mâu thuẫn cơ bản được giải quyết thì sự vật sẽ thay đổi căn bản về chất
+ Liên hệ: Mâu thuẫn cơ bản trong giai đoạn hình thành Đảng Cộng Sản là mẫu thuẫn giữa nhân dân Việt Nam với Thực dân Pháp Nó tồn tại xuyên suốt quá trình
và quy định bản chất của nước ta bấy giờ là hình thức Thực dân nửa phong kiến Khi mâu thuẫn này được giải quyết thì sẽ làm thay đổi hình thức nước Việt Nam thành chủ nghĩa xã hội
- Mâu thuẫn không cơ bản: chỉ đặc trưng cho 1 phương diện của sự vật, hiện tượng; nó quy định bản chất, sự phát triển của một hay một số mặt của sự vật hiện tượng và chịu chi phối của mâu thuẫn cơ bản Mâu thuẫn đó nảy sinh hay được giải quyết không làm cho sự vật thay đổi căn bản về chất
Trang 6+ Liên hê: Ở giai đoạn này, mâu thuẫn không cơ bản là mâu thuẫn giữa các giai cấp trong xã hội; mâu thuẫn giữa 3 tổ chức cộng sản với nhau Nó chịu
sự chi phối của mâu thuẫn giữa nhân dân Việt Nam và Pháp
3.2 Căn cứ vào tính chất của lợi ích cơ bản là đối lập nhau trong mối quan
hệ giữa các giai cấp ở 1 giai đoạn lịch sử nhất định Trong xã hội có mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng.
- Mâu thuẫn đối kháng là mâu thuẫn giữa những giai cấp, tập thể người có lợi ích cơ bản đối lập nhau: Nhân dân – thực dân Pháp; mâu thuẫn giữa các giai cấp trong xã hội Nhân dân Việt Nam muốn giành độc lập, tự chủ trong khi thực dân pháp muốn xâm chiếm, đô hộ
- Mâu thuẫn không đối kháng là mâu thuẫn giữa những lực lượng xã hội có lợi ích cơ bản thống nhất với nhau nhưng lợi ích không cơ bản thì đối lập: Mâu thuẫn giữa 3 tổ chức cộng sản với nhau: Ở Bắc Kỳ có Đông Dương Cộng sản Đảng (6-1929).Ở Nam Kỳ có An Nam Cộng sản Đảng (7-1929) Ở Trung Kỳ
có Đông Dương Cộng sản Liên đoàn (9-1929) Lợi ích cơ bản là cả 3 tổ chức đều muốn giải phóng đất nước, đều có lợi ích chung là được sự tin tưởng của nhân dân trong nước Lợi ích không cơ bản thì là mỗi tổ chức đều muốn lãnh đạo theo tư tưởng, quan điểm của mình
3.3 Căn cứ vào vai trò của mâu thuẫn đối với sự tồn tại và phát triển của sự vật trong một giai đoạn nhất định, các mâu thuẫn được chia thành mâu thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn thứ yếu.
- Mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn nổi lên hàng đầu của một giai đoạn phát triển nhất định của sự vật và chi phối các mâu thuẫn khác trong giai đoạn đó Giải quyết được mâu thuẫn chủ yếu trong từng giai đoạn là điều kiện cho sự vật chuyển sang giai đoạn phát triển mới.Mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn chủ yếu có quan hệ chặt chẽ với nhau Mâu thuẫn chủ yếu có thể là một hình thức biển hiện nổi bật của mâu thuẫn cơ bản hay là kết quả vận động tổng hợp của các mâu thuẫn cơ bản ở một giai đoạn nhất định Việc giải quyết mâu thuẫn chủ yếu tạo điều kiện giải quyết từng bước mâu thuẫn cơ bản
- Mâu thuẫn thứ yếu là những mâu thuẫn ra đời và tồn tại trong một giai đoạn phát triển nào đó của sự vật nhưng nó không đóng vai trò chi phối mà bị mâu thuẫn chủ yếu chi phối Giải quyết mâu thuẫn thứ yếu là góp phần vào việc từng bước giải quyết mâu thuẫn chủ yếu
Trang 7- Tuy vậy,ranh giới giữa mâu thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn thứ yếu chỉ là tương đối, tùy theo từng hoàn cảnh cụ thể, có mâu thuẫn trong điều kiện này là chủ yếu, song trong điều kiện khác là thứ yếu và ngược lại
- Liên hệ: Nguyễn Tất Thành ra đi tìm được cứu nước vào năm 1911 là mâu thuẫn chủ yếu, bế tắc trong đường lối cách mạng là mâu thuẫn thứ yếu
3.4 Căn cứ vào quan hệ đối với sự vật được xem xét, có thể phân biệt thành mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài
- Mâu thuẫn bên trong là sự tác động qua lại giữa các mặt, các khuynh hướng đối lập của cùng một sự vật
- Mâu thuẫn bên ngoài đối với một sự vật nhất định là mâu thuẫn diễn ra trong mối quan hệ sự vật đó với các sự vật khác
- Mâu thuẫn giữa giai cấp với nhau là mâu thuẫn bên trong, mâu thuẫn giữa nhân dân với Pháp là mâu thuẫn bên ngoài
4 Ý nghĩa phương pháp luận đối với quá trình hình thành và phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam
- Thừa nhận tính khách quan của mâu thuẫn và giải quyết nó theo quy luật khách quan Để phát hiện được mâu thuẫn, cần tìm ra thể thống nhất của các mặt đối lập và hướng giải quyết đúng đắn Trước Nguyễn Ái Quốc, cũng có lớp người đi trước tìm đường cứu nước, nhưng chỉ có Nguyễn Ái Quốc thành công Điều này là nhờ Người xác định rõ không thể trông chờ vào sự giúp đỡ
từ bên ngoài để giành độc lập, cần thiết nhất là phải sự vào chính mình, và học hỏi theo chủ nghĩa Mác - Lênin Lựa chọn con đường đi từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa cộng sản
- Phân tích cụ thể mâu thuẫn và đề ra được phương pháp giải quyết mâu thuẫn
đó Cụ thể, mâu thuẫn giữa nhân dân với thực dân Pháp không thể giải quyết bằng việc dựa vào nước khác để tiến hành đấu tranh bạo động Vì nếu chiến thắng, thì cũng chỉ là đổi từ ách áp bức này sang ách áp bức khác mà thôi
- Không điều hoà mâu thuẫn, cũng không nóng vội mà phải xác định được trạng thái chín muồi, vai trò của từng loại mâu thuẫn để từ đó đề ra biện pháp giải quyết cụ thể Ở giai đoạn này, Việt Nam tồn tại tới 3 tổ chức cộng sản: Đông Dương Cộng sản Đảng (Bắc Kỳ), An Nam Cộng sản Đảng (Nam Kỳ) và Đông Dương Cộng sản Liên đoàn (Trung Kỳ) Điều đó phản ánh xu thế tất yếu của cách mạng Việt Nam Song, sự tồn tại của ba tổ chức cộng sản hoạt động
Trang 8biệt lập trong một quốc gia có nguy cơ dẫn đến chia rẽ lớn Yêu cầu bức thiết của cách mạng là cần có một đảng thống nhất lãnh đạo Đó chính là thời điểm chín muồi để Đảng Cộng Sản VN ra đời
B Phân tích lượng và chất của quá trình thành lập và phát triển của Đảng cộng sản Việt Nam từ 1930-1945
Bất cứ sự vật, hiện tượng nào cũng bao gồm mặt chất và mặt lượng Hai mặt đó thống nhất hữu cơ với nhau trong sự vật, hiện tượng Trong quá trình hình thành
và phát triển chủ nghĩa cộng sản cũng như sự ra đời của Đảng cộng sản việt nam, quy luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất và ngược lại cho biết phương thức của sự vận động, phát triển cũng như làm rõ những sự biến đổi qua từng thời kì để tạo thành “chất” mới và những thay đổi về
“lượng”để tạo nên những “bước nhảy” tạo thành nó.
1 Khái niệm về chất, lượng và quy luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất và ngược lại
1.1 Phạm trù Chất
- Chất dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật, hiện tượng: là sự thống nhất hữu cơ của các thuộc tính làm cho sự vật là nó, phân biệt nó với sự vật khác
- Mối quan hệ giữa chất và thuộc tính:
+ Mọi sự vật có nhiều thuộc tính cơ bản và không cơ bản, chỉ những thuộc tính cơ bản mới hợp thành chất của sự vật, khi nào chúng thay đổi thì chất thay đổi, còn thuộc tính cơ bản mới hợp thành chất của sự vật, khi nào chúng thay đổi thì chất thay đổi
+ Còn các thuộc tính không cơ bản thay đổi thì chưa dẫn đến sự thay đổi về chất của sự vật
+ Sự phân chia chỉ có ý nghĩa tương đối, được xét trong từng mối quan hệ cụ thể
- Muốn thay đổi chất của sự vật, có 3 cách:
+ Thay đổi yếu tố (thuộc tính) cơ bản
+ Thay đổi phương thức liên kết các yếu tố đó
Trang 91.2 Phạm trù Lượng:
- Lượng dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật về các phương diện : số lượng các yếu tố cấu thành, quy mô của sự tồn tại, tốc độ, nhịp điệu của các quá trình vận động, phát triển
- Một sự vật có thể tồn tại nhiều lượng khác nhau, xác định bằng các phương thức khác nhau phù hợp với từng loại lượng cụ thể của sự vật
- Lượng cũng có tính khách quan, là cái vốn có của sự vật, quy định sự vật đó
- Lượng trong tự nhiên và lượng trong xã hội
- Sự phân biệt giữa chất và lượng chỉ có ý nghĩa tương đối được xét trong từng mối quan hệ cụ thể
1.3 Nội dung quy luật lượng – chất:
- Quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược lại phát biểu rằng: Bất kỳ sự vật nào cũng là sự thống nhất giữa chất
và lượng, sự thay đổi dần dần về lượng vượt quá giới hạn của độ sẽ dẫn tới thay đổi căn bản về chất của sự vật thông qua bước nhảy; chất mới ra đời sẽ tác động trở lại tới sự thay đổi của lượng
1.4 Mối quan hệ biện chứng giữa sự thay đổi về lượng và sự thay đổi về chất theo quy luật lượng – chất:
1.4.1 “Độ”
- Độ là một phạm trù triết học dùng để chỉ sự thống nhất giữa lượng và chất, nó là khoảng giới hạn, mà trong đó, sự thay đổi về lượng chưa làm thay đổi căn bản về chất của sự vật
- Bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng có chất và lượng Khi sự vật vận động và phát triển, chất và lượng của nó cũng vận động, biến đổi, thay đổi Sự thay đổi của lượng và của chất không diễn ra độc lập với nhau mà có quan hệ chặt chẽ với nhau
- Nhưng không phải bất kỳ sự thay đổi nào về lượng cũng ngay lập tức làm thay đổi căn bản chất của sự vật Lượng của sự vật có thể thay đổi trong giới hạn nhất định mà không làm thay đổi căn bản chất của sự vật đó Giới hạn đó chính là “độ”
1.4.2 “Điểm nút”
Trang 10- Những điểm giới hạn mà tại đó sự thay đổi về lượng sẽ làm thay đổi về chất của
sự vật gọi là điểm nút
- Sự thay đổi về lượng khi đạt tới điểm nút sẽ dẫn đến sự ra đời của chất mới Sự thống nhất giữa lượng mới và chất mới tạo thành một độ mới với điểm nút mới
1.4.3 “Bước nhảy”
- Bước nhảy là một phạm trù triết học dùng để chỉ giai đoạn chuyển hóa về chất của sự vật do những thay đổi về lượng trước đó gây ra
2 Những biểu hiện của quy luật trong quá trình hình thành và phát triển của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam cũng như sự hình thành và phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam
2.1 Quá trình Nguyễn Ái Quốc tìm ra chủ nghĩa xã hội và hoàn thiện tư tưởng cách mạng
- Về mặt lịch sử: Ngày 5 tháng 6 năm 1911, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc ra đi tìm đường cứu nước Trải qua quá trình bôn ba đến hàng loạt các nước, lãnh tụ Nguyễn
Ái Quốc đã nghiên cứu nhiều cuộc cách mạng, nghiên cứu nhiều lý thuyết cách mạng ở trên thế giới và khi bắt gặp ánh sáng chủ nghĩa Mác - Lênin, Người đã tìm
ra con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc đó là con đường cách mạng vô sản,
từ đó Người đi đến khẳng định: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất chính là chủ nghĩa Lênin” Chính vì vậy, sau khi bắt gặp ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn và trở thành người cộng sản, lãnh tụ Nguyễn
Ái Quốc vừa tiếp tục nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin để nâng cao, hoàn thiện tư tưởng cách mạng của mình, vừa tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, chuẩn
bị những điều kiện cho việc thành lập Đảng cộng sản ở nước ta
=> Như vậy: Sự vật được phân tích chính là chủ nghĩa Mác- Lê nin Chất ở đây là chính là những tính chất, khái niệm của chủ nghĩa Mác Lê nin được Nguyễn Ái Quốc tìm hiểu; Lượng là những tìm tòi nghiên cứu của Người
- Những nghiên cứu của Người đã đã tạo nên sự thay đổi về lượng, khiến cho kiến thức của Bác về Chủ nghĩa Mác ngày càng tăng và dần dần tiến đến điểm nút và tạo thành bước nhảy hình thành nên tư tưởng cách mạng và hình thức đấu tranh cho dân tộc
Trang 11riêng cho Việt Nam được từ từ biến đổi từ những nghiên cứu của Nguyễn Ái Quốc Đồng thời, chất mới không biến đổi hoàn toàn, những tư tưởng chủ đạo của Mác
Lê nin vẫn giữ nguyên và chỉ thay đổi những yếu tố không phù hợp với phong trào kháng chiến của Việt Nam
2.2 Quá trình chủ nghĩa cộng sản trở thành đường lối cách mạng
- Về lịch sử: Nguyễn Ái Quốc tham gia hoạt động trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, tích cực vận động phong trào cách mạng thuộc địa, nghiên cứu
và truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin về Việt Nam qua các báo Người cùng khổ, Nhân đạo, Đời sống công nhân
- Chủ nghĩa Mác-Lênin và các tài liệu tuyên truyền của Nguyễn Ái Quốc được giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam đón nhận như “người đi đường đang khát mà
có nước uống, đang đói mà có cơm ăn” Nó lôi cuốn những người yêu nước Việt Nam đi theo con đường cách mạng vô sản, làm dấy lên cao trào đấu tranh mạnh
mẽ, sôi nổi khắp cả nước, trong đó giai cấp công nhân trở thành một lực lượng chính trị độc lập
=> Chất: Khuynh hướng tư tưởng của các cuộc nổi dậy đấu tranh từ khi Pháp xâm lược Việt Nam Đặc điểm là có nhiều tư tưởng khác nhau, không thống nhất và đều thất bại
=> Lượng: Tư tưởng Mác Lê nin và đường lối cách mạng theo hướng vô sản được Nguyễn Ái Quốc tuyên truyền vào Việt Nam
=> Độ và điểm nút: Người dân Việt Nam đón nhận tư tưởng mới ngày càng đông đảo hơn, các cuộc nổi dậy dần mang khuynh hướng của chủ nghĩa cộng sản
=> Bước nhảy dần dần và toàn diện: Chủ nghĩa Mác Lê nin đã phổ biến rộng khắp Việt Nam, hướng cách mạng việt nam đi theo đường lối cách mạng vô sản
=> Quy luật đã tạo ra chất mới đó là đường lối cách mạng theo hướng vô sản Đặc điểm đó là đã hòa quyện các yếu tố: chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam Khuynh hướng thống nhất về cách thức và tư tưởng
2.3 Phong trào đấu tranh sau khi thành lập Đảng
Nhờ vào sự biến đổi về chất đó là đường lối cách mạng vô sản cùng với sự ra đời của Đảng cộng sản (3/2/1930), phong trào đấu tranh ở Việt Nam đã có sự chuyển biến rõ rệt: Các phong trào diễn ra sôi nổi và rộng khắp cả nước, có sự lãnh đạo