1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn ngành luật bảo vệ người gửi tiền tại ngân hàng thương mại theo pháp luật việt nam​

61 30 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bảo vệ người gửi tiền tại ngân hàng thương mại theo pháp luật Việt Nam
Tác giả Trần Thanh Vân
Người hướng dẫn TS. Dương Kim Thế Nguyên
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế TP. HCM
Chuyên ngành Luật Kinh Tế
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2019
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 745,2 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • BIA-TRAN THANH VAN (2)

  • TRAN THANH VAN - NOI DUNG SUA NGAY 17.12.2019-final.. (2)

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài

Trong quan hệ cung cấp dịch vụ, người tiêu dùng có quyền được bảo vệ quyền lợi khi xảy ra tranh chấp với nhà cung cấp Khi gặp vấn đề, họ cần biết đến cơ quan chức năng nào để báo cáo và yêu cầu bảo vệ quyền lợi Đây là mối quan tâm lớn của người tiêu dùng, khiến họ tìm hiểu về các cơ quan liên quan và cách thức bảo vệ quyền lợi của mình Việc này luôn là câu hỏi được nhắc đến trong nhiều năm qua.

Trong lĩnh vực ngân hàng, việc bảo vệ người tiêu dùng, đặc biệt là khách hàng gửi và vay tiền, ngày càng trở nên phức tạp Luận văn này tập trung vào việc nghiên cứu thực trạng pháp luật bảo vệ người gửi tiền tại các ngân hàng thương mại Trong khi các hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng vay thường rất chặt chẽ với nhiều điều khoản và thủ tục công chứng để bảo vệ quyền lợi của ngân hàng, thì khách hàng gửi tiền chỉ nhận được "giấy chứng nhận gửi tiền" từ ngân hàng, bao gồm thông tin cơ bản như số tiền gửi, kỳ hạn và lãi suất.

Gần đây, nhiều vụ việc liên quan đến NGT khiếu nại hoặc khởi kiện do số tiền gửi trong ngân hàng không được ghi nhận hoặc bị báo mất đã xảy ra Tuy nhiên, các ngân hàng thường đẩy trách nhiệm về phía người gửi tiền hoặc chậm trễ trong việc giải quyết vấn đề Tình trạng này đã gây ra sự bức xúc trong dư luận trong thời gian qua.

Hiện nay, tại Việt Nam, vấn đề bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền (NGT) vẫn chưa được quy định rõ ràng trong các văn bản pháp luật Các nội dung liên quan đang rải rác trong nhiều luật khác nhau như Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (2010), Luật ngân hàng nhà nước (2010), Luật các tổ chức tín dụng (2010, sửa đổi 2017), Bộ luật dân sự (2015) và Luật bảo hiểm tiền gửi Điều này dẫn đến sự thiếu hụt trong việc bảo vệ quyền lợi của NGT, đặc biệt trong bối cảnh các vụ việc mất tiền trong sổ tiết kiệm diễn ra ngày càng nhiều, làm giảm niềm tin của khách hàng vào hệ thống ngân hàng.

Tại Việt Nam, hạn mức chi trả tiền bảo hiểm hiện nay là 75 triệu đồng, điều này gây ra nhiều hoang mang cho người gửi tiền khi họ có hợp đồng gửi tiết kiệm với giá trị cao.

Mặc dù các nội dung tổng hợp hiện có cung cấp cái nhìn tổng quan về các trường hợp ngân hàng phá sản và giải thể, nhưng vẫn thiếu hướng dẫn chi tiết cho nhiều tình huống khác nhau Nội dung chủ yếu tập trung vào các vấn đề như ngân hàng sáp nhập, mua lại và phá sản, trong khi cơ chế thực thi hiệu quả và giải quyết tranh chấp vẫn chưa được đề cập đầy đủ.

Tác giả đã chọn đề tài “Bảo vệ người gửi tiền tại ngân hàng thương mại theo pháp luật Việt Nam” cho luận văn thạc sĩ luật kinh tế nhằm phân tích các vấn đề pháp lý liên quan đến quyền lợi của người gửi tiền Bài viết đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật, chỉ ra những vướng mắc và bất cập, cùng nguyên nhân gây ra tình trạng này Từ đó, tác giả đề xuất một số kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện chính sách và pháp luật của Nhà nước về bảo vệ người gửi tiền tại ngân hàng thương mại theo quy định hiện hành.

Tình hình nghiên cứu đề tài

Vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, đặc biệt là quyền lợi của nhóm người tiêu dùng yếu thế (NGT), đã được nhiều tác giả nghiên cứu và đề cập từ lâu Qua khảo sát lịch sử nghiên cứu, tác giả nhận thấy có nhiều công trình nghiên cứu đáng chú ý về vấn đề này.

Tác giả Trương Thanh Đức đã viết bài “Pháp luật bảo vệ người tiêu dùng dịch vụ ngân hàng” đăng trên Tạp chí Ngân hàng, số 1 tháng 1/2011, trong đó nêu rõ các quy định pháp lý nhằm bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng trong lĩnh vực ngân hàng Bài viết tập trung vào những vấn đề pháp lý quan trọng và các biện pháp cần thiết để đảm bảo sự công bằng và minh bạch trong dịch vụ ngân hàng, đồng thời nhấn mạnh vai trò của cơ quan chức năng trong việc thực thi và giám sát các quy định này.

Theo điều 3 của quyết định số 21/2017/QĐ-TTg ngày 15/06/2017, hạn mức trả tiền bảo hiểm vẫn còn nhiều vấn đề bất cập trong pháp luật Việt Nam liên quan đến quyền lợi của người tiêu dùng khi gửi tiền, vay tiền và sử dụng dịch vụ ngân hàng khác Tuy nhiên, bài báo chưa đề xuất các kiến nghị hay biện pháp cụ thể để khắc phục những hạn chế này.

Bài viết của TS Cấn Văn Lực, đăng trên tạp chí Bảo hiểm tiền gửi số 48 quý 3 năm 2018, đề cập đến việc nâng cao vai trò và trách nhiệm của tổ chức Bảo hiểm tiền gửi Tác giả nêu ra một số vấn đề quan trọng nhằm cải thiện hiệu quả hoạt động của tổ chức này trong việc bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền.

Luận án tiến sĩ kinh tế của Nguyễn Thị Kim Oanh, mang tên “Các giải pháp phát triển hoạt động bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam”, được thực hiện tại Học viện Quốc gia vào năm 2004 Nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào các vấn đề kinh tế, không đi sâu vào phân tích các quy định pháp luật và các thách thức pháp lý hiện tại.

Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Nguyễn Đăng Quân, mang tên "Hoạt động BHTG theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn các Ngân hàng", được thực hiện tại Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam vào năm 2018.

Luận văn thạc sĩ luật học của Đào Thị Sao, thực hiện tại Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2014, tập trung vào việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (NGT) tại ngân hàng thương mại theo pháp luật Việt Nam Tác giả phân tích các vấn đề lý luận liên quan đến bảo vệ quyền lợi NGT và đánh giá thực trạng pháp luật hiện hành Đồng thời, luận văn cũng đưa ra các kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan đến vấn đề này.

Luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Huỳnh Hồng Duy, thực hiện tại Khoa Luật, Trường Đại học Kinh tế TP HCM năm 2017, tập trung vào pháp luật về bảo hiểm tiền gửi và vai trò của nó trong việc bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền tại các tổ chức tín dụng Bài viết làm rõ những vấn đề liên quan đến quyền lợi của người gửi tiền, nhấn mạnh tầm quan trọng của bảo hiểm tiền gửi trong việc đảm bảo an toàn tài chính cho khách hàng.

Bài viết của Cấn Văn Lực nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nâng cao vai trò và trách nhiệm của tổ chức Bảo hiểm tiền gửi Việc này không chỉ giúp bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền mà còn góp phần ổn định hệ thống tài chính Cần có những cải cách và chính sách phù hợp để tổ chức này hoạt động hiệu quả hơn trong bối cảnh kinh tế hiện nay.

Bài viết của Nguyễn Đăng Quân phân tích thực trạng pháp luật liên quan đến quyền lợi của người gửi tiền (NGT) và đưa ra những đề xuất nhằm hoàn thiện luật Bảo hiểm tiền gửi Mục tiêu là bảo vệ quyền lợi của NGT tại các tổ chức tín dụng, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam.

Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu

Tác giả nghiên cứu quy định pháp luật về bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền (NGT) tại ngân hàng thương mại ở Việt Nam, nhằm làm rõ những hạn chế trong hệ thống pháp luật hiện hành Bài viết cũng đề xuất một số giải pháp để khắc phục những vấn đề này, góp phần hoàn thiện khung pháp lý nhằm bảo vệ quyền lợi cho NGT.

Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu

Luận văn sẽ nghiên cứu thực tiễn bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền (NGT) tại các ngân hàng thương mại, tập trung vào quyền và lợi ích mà NGT được hưởng khi gửi tiền Bài viết cũng sẽ phân tích hạn mức chi trả bảo hiểm tiền gửi (BHTG) trong trường hợp ngân hàng thương mại bị phá sản, cũng như thời điểm và thủ tục chi trả BHTG Cuối cùng, luận văn sẽ thống kê những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân liên quan đến thực trạng bảo vệ NGT tại các ngân hàng thương mại theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Phạm vi về thời gian nghiên cứu: dữ liệu phục vụ cho việc phân tích sẽ được thu thập trong giai đoạn từ năm 2008 – 2018.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính bao gồm phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh Cụ thể như sau:

Phương pháp tổng hợp được sử dụng để tập hợp các lý luận liên quan đến pháp luật bảo vệ người gửi tiền (NGT) tại các ngân hàng thương mại (NHTM), từ đó xây dựng cơ sở lý thuyết cho luận văn Phương pháp này được triển khai trong các mục của chương 1 của luận văn.

Phương pháp hệ thống hoá pháp luật và phân tích luật viết được áp dụng để làm rõ các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam liên quan đến việc bảo vệ người gửi tiền tại các ngân hàng thương mại Phương pháp này sẽ được triển khai chi tiết trong chương 2 của luận văn.

Phương pháp thống kê được áp dụng để phân tích và đánh giá bảo vệ người gửi tiền (NGT) tại các ngân hàng thương mại (NHTM) theo pháp luật Việt Nam, nhằm nhận diện những kết quả đạt được cũng như các hạn chế và nguyên nhân tồn tại Dựa trên những phân tích này, bài viết sẽ đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác bảo vệ NGT tại các NHTM theo quy định của pháp luật Việt Nam Phương pháp này sẽ được triển khai trong chương 3 của luận văn.

Phương pháp so sánh được áp dụng để đối chiếu luật bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam với luật bảo hiểm tiền gửi của Mỹ, nhằm bảo vệ quyền lợi cho người gửi tiền tại các ngân hàng thương mại Nội dung này sẽ được trình bày chi tiết trong chương 2 của luận văn.

Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài

Đề tài có những đóng góp mang tính mới như sau:

Luận văn này nhằm củng cố và hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến việc bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền, nhấn mạnh khái niệm về người gửi tiền cũng như vai trò và tầm quan trọng của việc bảo vệ quyền lợi của họ.

Luận văn giúp hệ thống hóa các quy định pháp luật hiện hành liên quan đến việc bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền Những quy định này hiện đang phân tán trong các luật như Luật Bảo vệ người tiêu dùng, Luật Các tổ chức tín dụng, Luật Bảo hiểm tiền gửi, cùng với các thông tư và nghị định do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành.

Luận văn đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền (NGT) tại Việt Nam Dựa trên phân tích thực trạng áp dụng và thực tiễn khiếu nại, cũng như xử lý tranh chấp liên quan đến tiền gửi ngân hàng trong thời gian qua, các giải pháp này không chỉ có giá trị tham khảo cho các cơ quan nhà nước trong việc xây dựng hệ thống pháp lý mà còn hỗ trợ các ngân hàng thương mại (NHTM) và NGT trong việc giải quyết tranh chấp phát sinh.

Kết cấu đề tài

Đề tài nghiên cứu “Bảo vệ quyền lợi cho người gửi tiền tại ngân hàng thương mại theo pháp luật Việt Nam” được cấu trúc thành 3 chương chính.

Chương 1: Tổng quan lý thuyết về pháp luật bảo vệ NGT tại các ngân hàng thương mại

Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền lợi NGT tại ngân hàng thương mại ở Việt Nam

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật bảo vệ NGT tại ngân hàng thương mại ở Việt Nam.

NHỮNG VẪN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN BẢO VỆ NGƯỜI GỬI TIỀN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI BẰNG PHÁP LUẬT

Khái quát về người gửi tiền tại ngân hàng thương mại

1.1.1 Khái niệm Ngân hàng thương mại

Theo khoản 3 điều 4 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, ngân hàng thương mại được định nghĩa là loại hình ngân hàng thực hiện toàn bộ các hoạt động ngân hàng cùng với các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của pháp luật, với mục tiêu chính là đạt được lợi nhuận.

Ngân hàng thương mại 5 là tổ chức tài chính chuyên nhận tiền gửi từ khách hàng, có trách nhiệm hoàn trả số tiền này Ngân hàng sử dụng các khoản tiền gửi để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và cung cấp các dịch vụ thanh toán.

1.1.2 Khái niệm về Người gửi tiền

Theo khoản 2 điều 6 của văn bản số 14 do Ngân hàng Nhà nước ban hành ngày 21/05/2014, NGT (người giao dịch) liên quan đến tiền gửi tiết kiệm có thể là chủ sở hữu, đồng chủ sở hữu, người giám hộ hoặc đại diện theo pháp luật của chủ sở hữu tiền gửi.

Khái niệm về NGT tiết kiệm đã được làm rõ theo Thông tư số 48 của Ngân hàng Nhà nước, có hiệu lực từ ngày 01/07/2019 Theo Điều 3 của Thông tư này, các đối tượng thuộc NGT tiết kiệm được xác định cụ thể hơn, giúp người gửi tiền hiểu rõ quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong các giao dịch tiết kiệm.

“1 Công dân Việt Nam từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật

2 Công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi không bị hạn chế

5 Xem khoản 3, điều 4 Luật các TCTD số 47/2010 năng lực hành vi dân sự hoặc không mất năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật

3 Công dân Việt Nam bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc mất năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật hoặc chưa đủ 15 tuổi thực hiện giao dịch tiền gửi tiết kiệm thông qua người đại diện theo pháp luật; Công dân Việt Nam có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi theo quy định của pháp luật thực hiện giao dịch tiền gửi tiết kiệm thông qua người giám hộ.”

Người gửi tiền là khách hàng mở tài khoản tiền gửi tại tổ chức tín dụng, cụ thể là ngân hàng thương mại, và thực hiện việc gửi tiền theo hình thức tiết kiệm phù hợp với quy định pháp luật cũng như nhu cầu của khách hàng và ngân hàng.

Người gửi tiền là cá nhân có khoản tiền gửi tại ngân hàng thương mại (NHTM), và tiền gửi đóng vai trò quan trọng đối với cả người gửi và ngân hàng Ý nghĩa của tiền gửi đối với người gửi phụ thuộc vào mục đích sử dụng, như hưởng lợi từ các công cụ thanh toán hoặc gửi vào tài khoản tiết kiệm Đối với NHTM, việc bảo vệ người gửi tiền không chỉ giúp duy trì hoạt động mà còn phát triển ngân hàng, vì đây là kênh huy động vốn thiết yếu cho hoạt động tài chính.

1.1.3 Phân loại người gửi tiền tại ngân hàng thương mại

Người gửi tiền tại các tổ chức tín dụng, cụ thể tại Ngân hàng thương mại có thể là cá nhân hoặc tổ chức kinh tế

Mục đích của người gửi tiền tại NHTM rất khác nhau và phụ thuộc vào nhu cầu mục đích gửi tiết kiệm của từng đối tượng khách hàng gửi

Cá nhân gửi tiền thường sử dụng nguồn tiền tích góp từ lao động, sản xuất và kinh doanh mà chưa có mục đích sử dụng cụ thể Họ lựa chọn gửi số tiền nhàn rỗi vào Ngân hàng thương mại để đảm bảo an toàn và nhận lãi suất, từ đó tăng thu nhập cá nhân.

Chủ thể gửi tiền là tổ chức kinh tế bao gồm doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp, hợp tác xã, và các tổ chức kinh tế khác Những tổ chức này thường mở tài khoản tại ngân hàng để sử dụng dịch vụ thanh toán, như trả lương cho nhân viên và thanh toán hàng hóa Họ cũng gửi tiền tại ngân hàng thương mại để giảm bớt nhân sự trong việc quản lý tiền mặt, ủy quyền cho ngân hàng thực hiện thu chi Ngoài ra, các tổ chức còn gửi tiền để hưởng lãi suất, nhằm tăng lợi nhuận và thu nhập cho các thành viên trong doanh nghiệp.

1.1.4 Các hình thức tiền gửi tiết kiệm

Theo điều 6 thông tư 48 của Ngân hàng Nhà nước ngày 31/12/2018, hình thức tiền gửi tiết kiệm phân loại như:

1 Hình thức tiền gửi tiết kiệm phân loại theo: a) Thời hạn gửi tiền bao gồm tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn Thời hạn gửi tiền cụ thể do tổ chức tín dụng xác định; b) Tiêu chí khác do tổ chức tín dụng xác định

2 Tổ chức tín dụng quy định cụ thể về từng hình thức tiền gửi tiết kiệm phù hợp với quy định tại Thông tư này và quy định của pháp luật có liên quan, đảm bảo an toàn tài sản cho người gửi tiền và an toàn hoạt động cho tổ chức tín dụng Quy định về hình thức tiền gửi tiết kiệm phải có tối thiểu các nội dung về phương thức trả lãi, phương pháp tính lãi, kéo dài thời hạn gửi tiền, rút trước hạn tiền gửi tiết kiệm, các trường hợp người gửi tiền phải thông báo trước việc rút trước hạn tiền gửi tiết kiệm

Hiện nay, ngân hàng thương mại cung cấp hai hình thức tiền gửi tiết kiệm: có kỳ hạn và không kỳ hạn Người gửi tiền có thể lựa chọn hình thức phù hợp với nhu cầu của mình.

1.1.5 Các loại sản phẩm tiền gửi a Tiền gửi thanh toán

Tiền gửi của khách hàng tại ngân hàng thương mại được sử dụng cho dịch vụ thanh toán, nhằm mục đích giữ tiền và thực hiện giao dịch qua các phương tiện thanh toán Ngoài ra, tiền gửi còn có thể được chia thành các loại như tiền gửi có kỳ hạn.

Tiền gửi có kỳ hạn là khoản tiền được cá nhân hoặc tổ chức (không bao gồm tổ chức tín dụng) gửi tại ngân hàng thương mại, được xác nhận qua hợp đồng hoặc sao kê Khoản tiền này sẽ được hưởng lãi suất theo quy định của ngân hàng Đặc biệt, tiền gửi của cá nhân được bảo hiểm theo quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi, trong khi tiền gửi của tổ chức không được bảo hiểm.

Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền cá nhân gửi vào tài khoản tiết kiệm, được ghi rõ trên sổ tiết kiệm và hưởng lãi suất theo quy định của ngân hàng thương mại Khoản tiền này cũng được bảo hiểm theo quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi Tiền gửi tiết kiệm bao gồm nhiều hình thức khác nhau.

Bảo vệ người gửi tiền tại ngân hàng thương mại bằng pháp luật

Pháp luật là quy phạm xã hội đặc trưng bởi tính phổ biến, chặt chẽ và được Nhà nước đảm bảo, với khả năng thực thi cao nhờ vào các thuộc tính rõ ràng Nó điều chỉnh các quan hệ xã hội theo ý chí của Nhà nước, trong đó mối quan hệ giữa người gửi tiền (NGT) và ngân hàng thương mại (NHTM) dựa trên nguyên tắc tự do, thỏa thuận và bình đẳng Tuy nhiên, do thiếu thông tin và hạn chế trong pháp luật bảo vệ quyền lợi của NGT, quyền lợi của họ thường không được bảo vệ một cách hợp lý Do đó, cần thiết phải có các quy định pháp luật nhằm bảo vệ quyền lợi của NGT tại các NHTM.

Pháp luật bảo vệ người gửi tiền (NGT) trên thế giới được tiếp cận qua hai cách: quy định trách nhiệm pháp lý trước và sau vi phạm Cách tiếp cận thứ nhất yêu cầu các bên liên quan phải bồi thường thiệt hại khi có hành vi sai sót dẫn đến thiệt hại thực sự Cách thứ hai áp dụng hình phạt trước khi thiệt hại xảy ra do vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng Các nước phát triển như Pháp, Mỹ, và Canada thường kết hợp cả hai phương thức này để xây dựng quy định bảo vệ NGT Tại Việt Nam, pháp luật bảo vệ NGT được quy định trong nhiều văn bản pháp lý như Luật Dân sự, Luật Ngân hàng Nhà nước, và Luật Bảo hiểm tiền gửi Tổng thể, pháp luật bảo vệ NGT bao gồm các quy phạm do cơ quan Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh quan hệ giữa NGT và ngân hàng thương mại, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người gửi tiền và đảm bảo an toàn cho hệ thống ngân hàng.

1.2.2 Đặc điểm của pháp luật về bảo vệ người gửi tiền

Pháp luật về bảo vệ người gửi tiền có những đặc điểm sau đây:

Pháp luật bảo vệ NGT điều chỉnh các quan hệ xã hội trong giao dịch gửi tiền giữa NGT và NHTM, trong đó NGT, có thể là cá nhân hoặc tổ chức, là người sử dụng dịch vụ ngân hàng NHTM đóng vai trò là nhà cung cấp dịch vụ tiền gửi, và NGT có nghĩa vụ trả phí sử dụng dịch vụ này.

Pháp luật bảo vệ người gửi tiền (NGT) đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của họ trong các tranh chấp và đảm bảo an toàn cho hoạt động của hệ thống ngân hàng, từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội Mối quan hệ giữa NGT và ngân hàng thương mại (NHTM) là không công bằng, khi NHTM sở hữu tổ chức và đội ngũ chuyên môn cao, có khả năng soạn thảo hợp đồng tiền gửi, trong khi NGT thường là cá nhân hoặc tổ chức thiếu hiểu biết về nghiệp vụ ngân hàng, dẫn đến khả năng tự bảo vệ quyền lợi của họ thấp hơn.

Pháp luật Việt Nam bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng thông qua nhiều văn bản pháp lý khác nhau, bao gồm luật dân sự, luật ngân hàng, luật bảo hiểm tiền gửi và luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

Đến nay, vẫn chưa có văn bản pháp luật riêng biệt bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền (NGT) Do đó, quyền lợi hợp pháp của NGT dựa vào các quy định của Luật Ngân hàng Nhà nước, Luật Các tổ chức tín dụng, Bộ luật Dân sự, Luật Bảo hiểm tiền gửi, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và các hướng dẫn thi hành liên quan.

1.2.3 Sự cần thiết bảo vệ quyền và lợi ích của người gửi tiền

Sự cần thiết phải bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền tại các ngân hàng thương mại sẽ được giải thích sau đây:

Thứ nhất, để đảm bảo cán cân cho sự bình đẳng giữa tổ chức tín dụng (Ngân hàng thương mại) và NGT (cá nhân và tổ chức)

Mối quan hệ giữa ngân hàng thương mại và người gửi tiền (NGT) thể hiện sự bất bình đẳng và yếu thế Ngay từ giai đoạn đầu khi NGT gửi tiền vào ngân hàng, sự chênh lệch đã rõ ràng qua thủ tục gửi tiền đơn giản và dễ dàng, cho thấy sự không công bằng trong mối quan hệ này.

Hợp đồng vay tiền thường phức tạp hơn so với quy trình gửi tiền vào ngân hàng thương mại (NHTM) đơn giản Khi cho vay, NHTM yêu cầu khách hàng cung cấp tài sản đảm bảo, thực hiện công chứng và chờ thẩm định trước khi giải ngân Điều này cho thấy sự bất bình đẳng trong quan hệ vay vốn giữa ngân hàng và khách hàng Do đó, việc bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền là rất cần thiết để đảm bảo một môi trường kinh doanh công bằng và bình đẳng.

Mối quan hệ giữa người gửi tiền (NGT) và ngân hàng thương mại (NHTM) được xác định qua hợp đồng tiền gửi Khi khách hàng cá nhân muốn gửi tiền, họ sẽ điền vào giấy nộp tiền theo mẫu của NHTM Sau đó, ngân hàng cấp cho NGT sổ hoặc thẻ tiết kiệm, trong đó ghi rõ thông tin cá nhân, số tiền gửi, kỳ hạn gửi, và lãi suất áp dụng Điều này nhằm xác nhận số tiền mà NGT đã gửi vào NHTM khi thực hiện giao dịch tiết kiệm.

Bảo vệ người gửi tiền (NGT) là yếu tố then chốt để đảm bảo an toàn cho hệ thống tổ chức tín dụng, đồng thời xây dựng niềm tin của NGT vào ngân hàng Khi người gửi tiền tin tưởng vào ngân hàng, họ sẽ tiếp tục gửi tiền, giúp ngân hàng huy động vốn và thực hiện cho vay, từ đó tạo ra nguồn thu nhập cần thiết cho sự sống còn của ngân hàng Do đó, việc duy trì niềm tin của NGT là nhiệm vụ quan trọng, vì nếu niềm tin bị sụp đổ, NGT sẽ ngừng giao dịch và không gửi tiền vào ngân hàng nữa.

Hội nhập kinh tế quốc tế là xu thế không thể tránh khỏi, với sự hiện diện của các ngân hàng thương mại (NHTM) nước ngoài tạo ra hiệu ứng tích cực về vốn, quản lý và công nghệ ngân hàng, giúp tối ưu hóa chi phí và gia tăng lợi nhuận cho các ngân hàng Tuy nhiên, sự cạnh tranh gia tăng cũng làm cho môi trường kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng trở nên khắc nghiệt hơn, ảnh hưởng đến thị phần và hoạt động huy động tiền gửi của các NHTM tại Việt Nam.

Nam đang đối mặt với sự phát triển chậm và diễn biến phức tạp, khiến lãi suất huy động giảm, gây khó khăn cho các ngân hàng thương mại trong việc thu hút vốn Mặc dù lãi suất cho vay thấp, nhưng ngân hàng vẫn gặp nhiều thách thức trong việc tăng trưởng tín dụng do sức hấp thụ vốn yếu và tình hình kinh doanh khó khăn của các doanh nghiệp, nhiều doanh nghiệp phải thu hẹp quy mô hoặc tuyên bố phá sản do tồn kho cao.

Hệ thống ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế, chuyển giao vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu, do đó, sự bất ổn trong lĩnh vực ngân hàng có thể gây ra thiệt hại lớn cho xã hội Nhằm củng cố niềm tin của người gửi tiền và bảo vệ họ, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã tiến hành tái cơ cấu hệ thống ngân hàng, tập trung vào việc bảo vệ quyền lợi người gửi tiền tại các ngân hàng thương mại (NHTM) Mục tiêu của chính sách này là nâng cao năng lực cạnh tranh và quản trị rủi ro, đảm bảo sự phát triển an toàn và bền vững của các NHTM trong bối cảnh hội nhập quốc tế Để huy động nguồn vốn từ các thành phần kinh tế, cần tạo dựng niềm tin vào hệ thống ngân hàng, vì vậy việc hoàn thiện pháp luật bảo vệ người gửi tiền trở thành nhiệm vụ quan trọng Hiện nay, pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 chưa đủ để bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền tại NHTM, khi các quy định còn rải rác và không đồng nhất trong các văn bản khác nhau Đối mặt với rủi ro cao, NHNN đã siết chặt quy định cho vay bất động sản và kiểm soát các dự án xây dựng trái phép, cho thấy việc bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền là rất cần thiết để xây dựng niềm tin và hỗ trợ ngân hàng trong việc huy động vốn.

Các nhân tố ảnh hưởng đến bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền tại ngân hàng thương mại

Tình hình kinh tế chính trị - xã hội

Tình hình kinh tế - xã hội có ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại và quyền lợi của người gửi tiền Khi nền kinh tế phát triển, khách hàng có xu hướng gửi tiền nhiều hơn, ngược lại, trong bối cảnh kinh tế bất ổn và lạm phát gia tăng, họ thường chuyển sang nắm giữ các tài sản ổn định hơn như vàng và bất động sản.

Tình hình chính trị có tác động lớn đến quyết định gửi tiền của khách hàng Khi chính trị ổn định, niềm tin của người dân vào hệ thống ngân hàng tăng cao, dẫn đến việc gia tăng gửi tiền Ngược lại, trong bối cảnh chính trị bất ổn, khủng hoảng hoặc chiến tranh, người dân thường hạn chế gửi tiền vào ngân hàng.

Chính sách tiền tệ của quốc gia

Chính sách tiền tệ mở rộng hay thu hẹp ảnh hưởng đến hoạt động huy động tiền gửi của các ngân hàng thương mại (NHTM) Trong bối cảnh lạm phát cao, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) thực hiện chính sách thắt chặt, giảm cung tiền và tăng lãi suất, điều này khuyến khích người dân gửi tiền vào ngân hàng, dẫn đến tăng tiền gửi Ngược lại, trong thời kỳ suy thoái, NHNN áp dụng chính sách mở rộng, tăng cung tiền và giảm lãi suất, khiến người dân ít có động lực gửi tiền, dẫn đến giảm tiền gửi của khách hàng.

Ngân hàng thương mại (NHTM) đóng vai trò trung gian tài chính, huy động vốn tạm thời từ các chủ thể thừa vốn và cho vay cho các chủ thể thiếu hụt, từ đó thúc đẩy sự phát triển kinh tế Để đảm bảo an toàn cho ngân hàng và bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền, cơ quan Nhà nước cần thiết lập các quy định pháp luật và chính sách kiểm soát chặt chẽ trong các lĩnh vực như cạnh tranh, phá sản và cơ cấu tổ chức ngân hàng Theo Luật tổ chức tín dụng và Luật ngân hàng nhà nước, có các quy định cụ thể về tỉ lệ huy động vốn, phát hành trái phiếu, kỳ phiếu và mức cho vay của NHTM đối với khách hàng Bên cạnh đó, các chính sách tiền tệ, lãi suất, tỉ giá và thuế cũng tác động đến hoạt động huy động vốn của NHTM và quyền lợi của người gửi tiền, cùng với các luật thương mại, doanh nghiệp và đầu tư nước ngoài có ảnh hưởng gián tiếp đến hoạt động ngân hàng.

Tâm lý và thói quen gửi tiền của người dân khác nhau giữa các vùng, địa phương và quốc gia Ở các nước phát triển, nhu cầu thanh toán qua ngân hàng cao, dẫn đến việc mở tài khoản thanh toán phổ biến Ngược lại, ở các nước chưa phát triển, thói quen thanh toán bằng tiền mặt vẫn chiếm ưu thế, gây khó khăn cho việc huy động tiền gửi Tại Việt Nam, thói quen tiết kiệm đã được hình thành qua nhiều thế hệ, với việc tích lũy cho thế hệ sau Người Việt Nam thường có tư duy ăn chắc mặc bền, vì vậy việc gửi tiết kiệm tại ngân hàng thương mại giúp họ cảm thấy an tâm về sự ổn định của nguồn vốn và an toàn cho số tiền gửi, đồng thời còn được hưởng lãi suất từ tiền gửi tiết kiệm.

Các ngân hàng thương mại đã lỏng lẻo trong việc kiểm soát tín dụng, dẫn đến tình trạng nhân viên tín dụng vì lợi ích cá nhân mà hợp tác với khách hàng để làm đẹp hồ sơ vay, cho vay vượt hạn mức tài sản thế chấp Chính sách quản lý rủi ro yếu kém đã khiến việc quản lý dư nợ tín dụng không hiệu quả, gây ra nợ xấu và nợ quá hạn Những vấn đề này có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng cho người gửi tiền nếu ngân hàng gặp phải tình trạng phá sản hoặc bị kiểm soát đặc biệt.

1.3.3 Các biện pháp bảo vệ quyền lợi người gửi tiền hiện nay tại Việt Nam

Hoạt động của các ngân hàng thương mại (NHTM) tiềm ẩn nhiều rủi ro do vai trò kép của chúng là người đi vay và cho vay, chịu ảnh hưởng từ các yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội và chính sách Khi nền kinh tế quốc gia hội nhập sâu rộng vào kinh tế thế giới, mức độ ảnh hưởng và rủi ro ngân hàng gia tăng Các ngân hàng có mối liên hệ chặt chẽ, tạo ra tính dây chuyền trong hoạt động Để đảm bảo hệ thống tài chính, nhiều quốc gia, bao gồm Việt Nam, đã đặt mục tiêu bảo vệ quyền lợi người gửi tiền Thực tế cho thấy, do hạn chế về chuyên môn hoặc chạy theo lợi nhuận, ngân hàng có thể đưa ra các quyết định kinh doanh mạo hiểm, ảnh hưởng đến tiền gửi của khách hàng Vì vậy, các quốc gia đã thiết lập quy định bắt buộc nhằm kiểm soát hoạt động sử dụng tiền gửi và tăng cường nghĩa vụ của ngân hàng Việc bảo vệ người gửi tiền được thực hiện thông qua các biện pháp cụ thể.

Để bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền (NGT), cần xây dựng một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hoàn thiện, đảm bảo tính toàn diện, đồng bộ, phù hợp và có trình độ kỹ thuật pháp lý cao Hệ thống này phải bao gồm các quy định pháp lý điều chỉnh mọi quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực nhận tiền gửi giữa NGT và ngân hàng Mặc dù pháp luật không thể dự liệu hết mọi tình huống thực tế, nhưng việc phát triển một hệ thống quy định chặt chẽ sẽ giúp bảo vệ quyền lợi của NGT ngày càng hiệu quả hơn.

Trong lĩnh vực bảo vệ quyền lợi người gửi tiền, cần xây dựng hệ thống quy phạm pháp luật liên quan đến quyền và nghĩa vụ của người gửi tiền, trách nhiệm của ngân hàng thương mại (NHTM) và cơ quan quản lý nhà nước Hệ thống này phải đảm bảo tính đồng bộ, không trùng lặp, chồng chéo hay mâu thuẫn, đồng thời phản ánh sự phát triển của các quan hệ kinh tế - xã hội Để hoàn thiện và đáp ứng yêu cầu điều chỉnh quan hệ xã hội trong bảo vệ quyền lợi người gửi tiền, các văn bản quy phạm pháp luật cần được xây dựng với ngôn ngữ cô đọng, chính xác và rõ ràng.

Để bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền (NGT) tại Việt Nam, cần xây dựng các thiết chế hoạt động hiệu quả, bao gồm các cơ quan quản lý nhà nước như Ngân hàng Nhà nước (NHNN), tổ chức Bảo hiểm tiền gửi (BHTG) và Tòa án nhân dân NHNN, theo Luật NHNN năm 2010, có nhiệm vụ quản lý hoạt động tiền tệ và bảo vệ quyền lợi NGT thông qua việc ban hành văn bản pháp luật, kiểm tra và xử lý vi phạm trong lĩnh vực ngân hàng BHTG đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ NGT, cung cấp sự an toàn cho tiền gửi của họ Đánh giá hiệu quả của các thiết chế này dựa trên khả năng thực thi đúng chức năng và bảo vệ quyền lợi NGT trong thực tiễn.

Tổ chức BHTG 7 được thành lập nhằm bảo vệ người gửi tiền (NGT) khi ngân hàng gặp rủi ro trong hoạt động bảo hiểm tiền gửi NGT, là những người cho ngân hàng vay tiền, thường dễ bị thiệt hại và không có khả năng tự bảo vệ bản thân trước những rủi ro phát sinh từ ngân hàng Những thiệt hại này có thể đến từ các rủi ro kinh doanh của ngân hàng hoặc từ hành vi gian lận của nhân viên ngân hàng Do đó, việc bảo vệ quyền lợi của NGT, đặc biệt là những cá nhân gửi tiền nhỏ, là rất quan trọng, vì họ thường không có khả năng tự bảo vệ tài sản của mình Chính vì vậy, BHTG là bắt buộc đối với các tổ chức tín dụng khi huy động tiền gửi từ dân cư, theo quy định tại khoản 1 điều 6 của luật BHTG.

Bảo hiểm tiền gửi là hình thức bảo hiểm bắt buộc theo quy định của Luật, cụ thể tại khoản 1 điều 3 của quy chế chi trả tiền gửi được bảo hiểm, theo quyết định số 807/QĐ-BHTG ngày 19/10/2016, quy định rằng tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi.

7 Xem http://www.div.gov.vn/LinkClick.aspx?fileticket=NgqiMwV%2Ba%2Fc%3D&tabid8&midU4

Theo khoản 1 điều 3 quy chế chi trả tiền gửi bảo hiểm (quyết định số 807/QĐ-BHTG ngày 19/10/2016), các tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài được phép nhận tiền gửi của cá nhân bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng hợp tác xã, quỹ tín dụng nhân dân, tổ chức tài chính vi mô.

Người gửi tiền tại các ngân hàng thương mại được bảo vệ quyền lợi cho khoản tiền gửi của họ Theo quy định, “Người được bảo hiểm tiền gửi là cá nhân có tiền gửi được bảo hiểm tại tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi.”

Khi tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi (BHTG) bị đổ vỡ hoặc phá sản, quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền (NGT) vẫn được đảm bảo BHTG Việt Nam, thay mặt Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước (NHNN), thực hiện chi trả cho NGT trong hạn mức BHTG Hạn mức này được xác định dựa trên năng lực tài chính của tổ chức BHTG, tình hình kinh tế vĩ mô tại Việt Nam, quy mô tiền gửi và các chuẩn mực quốc tế Điều này giúp duy trì niềm tin của người gửi tiền ngay cả khi ngân hàng thương mại gặp khó khăn về thanh toán.

9 Xem tại khoản 2 1 điều 3 quy chế chi trả tiền gửi được bảo hiểm kèm theo quyết định số 807/QĐ-BHTG ngày 19/10/2016

10 Xem tại http://www.div.gov.vn/Default.aspx?tabid)6&CtrNameail&CatID=3&ArticleId19

Pháp luật về bảo vệ người gửi tiền tại ngân hàng thương mại

2.1.1 Hệ thống pháp lý về phòng tránh rủi ro để bảo vệ người gửi tiền tại ngân hàng thương mại

Mục tiêu chính của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) trong quản lý tiền tệ và ngân hàng là giảm thiểu rủi ro nhằm bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền Để đạt được điều này, NHNN đã ban hành Thông tư số 41/TT-NHNN ngày 30/12/2016 quy định tỷ lệ an toàn vốn cho các ngân hàng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài, cũng như Thông tư số 36/2014/TT-NHNN ngày 20/11/2014 quy định các giới hạn và tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của các tổ chức tín dụng Ngoài ra, NHNN yêu cầu các cá nhân và tổ chức liên quan phải chủ động đánh giá rủi ro, có biện pháp ứng phó và tuân thủ nghiêm ngặt các quy định pháp luật nhằm bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền.

Hiện nay, các quy định pháp luật về phòng tránh rủi ro cho Ngân hàng Thương mại (NGT) bao gồm việc công khai rõ ràng các dịch vụ, chế độ ưu đãi và bảo mật thông tin khách hàng Ngoài ra, các ngân hàng cần đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng, đồng thời tham gia Bảo hiểm Tiền gửi (BHTG).

2.1.1.1 Quy định ngân hàng thương mại phải công khai rõ ràng các dịch vụ, chế độ ưu đãi và bảo mật thông tin của khách hàng gửi tiền

Theo Điều 10 Luật các TCTD năm 2010, các ngân hàng thương mại (NHTM) phải công khai thông tin về bảo hiểm tiền gửi, lãi suất tiền gửi, phí dịch vụ, cũng như quyền lợi và nghĩa vụ của khách hàng đối với sản phẩm, dịch vụ NHTM không được tự ý ngừng giao dịch của khách hàng và phải thông báo trước 24 giờ nếu cần ngừng giao dịch trong thời gian chính thức, với thời gian ngừng không quá một ngày làm việc, trừ trường hợp đặc biệt theo quy định Ngoài ra, NHTM cũng phải cung cấp thông tin về giao dịch và số dư tài khoản cho chủ tài khoản.

Hợp đồng tiền gửi là thỏa thuận vay tài sản, trong đó quyền lợi của người gửi tiền (NGT) được ngân hàng quản lý Để bảo vệ NGT, các ngân hàng thương mại (NHTM) cần công khai dịch vụ và ưu đãi liên quan đến sản phẩm của họ NGT gửi tiền với mục đích hưởng lãi suất và sử dụng dịch vụ thanh toán, vì vậy NHTM cần đa dạng hóa dịch vụ như gửi tiết kiệm, mở tài khoản thẻ và thanh toán quốc tế Gửi tiền tiết kiệm là dịch vụ phổ biến nhất, do đó ngân hàng cần cung cấp nhiều loại hình gửi tiết kiệm không kỳ hạn và có kỳ hạn (1 tháng, 2 tháng, 3 tháng ) Thời gian gửi càng dài thì lãi suất càng cao, NGT sẽ chọn kỳ hạn phù hợp với nhu cầu Để đảm bảo tính công khai, các dịch vụ sẽ được thông báo qua hợp đồng mẫu và niêm yết lãi suất tại quầy giao dịch, giúp NGT hiểu rõ quyền lợi và nghĩa vụ của mình Trong bối cảnh cạnh tranh và phát triển công nghệ thông tin, các ngân hàng còn cung cấp dịch vụ thông báo qua tin nhắn, giúp NGT kiểm soát số tiền trong tài khoản của mình.

Theo Điều 10 và Điều 14 của Luật các TCTD năm 2010, ngân hàng thương mại (NHTM) không được điều tra, phong tỏa, cầm giữ, hoặc chuyển tiền gửi của khách hàng trừ khi có yêu cầu từ cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc được sự đồng ý của khách hàng Đồng thời, NHTM phải đảm bảo bảo mật thông tin liên quan đến tài khoản, tiền gửi, tài sản gửi và các giao dịch của khách hàng, không được cung cấp thông tin này cho tổ chức hay cá nhân khác, trừ khi có yêu cầu của cơ quan nhà nước hoặc sự chấp thuận của khách hàng.

Ngân hàng có trách nhiệm bảo mật thông tin tiền gửi của khách hàng, không được cung cấp thông tin cho bên thứ ba nếu không có yêu cầu từ cơ quan nhà nước hoặc sự đồng ý của khách hàng Điều này nhằm tránh làm phiền khách hàng với các dịch vụ không mong muốn Nếu tài sản của người gửi tiền bị phong tỏa, cơ quan Nhà nước cần cung cấp bằng chứng chứng minh số tiền đó liên quan đến vụ án.

Tiền gửi tiết kiệm của khách hàng sẽ được hoàn trả cả gốc lẫn lãi khi hợp đồng đến hạn, đảm bảo an toàn cho người gửi tiền và thực hiện nghĩa vụ của ngân hàng theo quy định pháp luật.

2.1.1.2 Quy định ngân hàng thương mại phải bảo đảm an toàn trong hoạt động kinh doanh và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng Để đảm bảo khoản tiền gửi của khách hàng thì NHTM phải thực hiện đúng các quy định về tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của mình Theo Thông tư 36/2014/TT-NHNN 11 , quy định về tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của TCTD bao gồm các quy định về (1) quy định tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 9% giữa vốn tự có so với tổng tài sản “Có” rủi; (2) quy định về giới hạn tín dụng áp dụng đối với một khách hàng và nhóm khách hàng có liên quan; (3) quy định tỷ lệ khả năng chi trả cho ngày hôm sau tối thiểu bằng 15% giữa tổng tài sản “Có” thanh toán ngay và tổng Nợ phải trả; (4) Giới hạn góp vốn, mua cổ phần, mức góp vốn, mua cổ phần của NHTM trong một doanh nghiệp, quỹ đầu tư, dự án đầu tư, NHTM khác không được vượt quá 11% vốn điều lệ của doanh nghiệp, quỹ đầu tư, dự án đầu tư, NHTM đó, trừ trường hợp góp vốn, mua cổ phần thành lập công ty trực thuộc theo quy định của pháp luật; (5) tỷ lệ cấp tín dụng so với nguồn vốn huy động không được vượt quá tỷ lệ 80%

Ngành ngân hàng thương mại (NHTM) hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ và tài chính có độ nhạy cảm cao, tiềm ẩn nhiều rủi ro, do đó cần thiết phải trích lập dự phòng rủi ro tín dụng Theo Thông tư số 02/2013/TT-NHNN, NHTM phải dự trữ bắt buộc 3% và dự trữ thanh khoản 10% cho mỗi khoản huy động Khi cho vay, ngân hàng cần trích 0,75% cho dự phòng chung để xử lý các tổn thất chưa xác định Ngoài ra, ngân hàng cũng phải trích lập dự phòng theo từng nhóm nợ: nhóm 1 không cần trích lập, nhóm 2 trích 5%, nhóm 3 trích 20%, nhóm 4 trích 50% và nhóm 5 trích 100%.

Việc trích lập dự phòng rủi ro ảnh hưởng lớn đến lợi nhuận của các ngân hàng thương mại, khiến họ thường giấu đi các khoản nợ cần phải trích lập đầy đủ Lý do chính là do hội đồng quản trị cam kết với cổ đông về việc tăng trưởng lợi nhuận, đồng thời hiệu quả hoạt động của ngân hàng được đánh giá qua lợi nhuận Lợi nhuận cũng liên quan trực tiếp đến uy tín và thương hiệu của ngân hàng trong việc huy động vốn Để gia tăng lợi nhuận, các ngân hàng thường tìm cách giảm tỷ lệ nợ xấu xuống dưới 5% hoặc không trích lập dự phòng hoặc trích lập không đầy đủ nhằm giảm chi phí.

11 Xem tại Thông tư 36/2014/TT – NHNN ngày 20/11/2014

Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cần ban hành Thông tư mới để quy định rõ ràng về cách phân loại và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng, nhằm nâng cao tính chính xác và toàn diện trong quản lý rủi ro Điều này sẽ góp phần cải thiện việc bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền tại các ngân hàng thương mại.

2.1.1.3 Quy định ngân hàng thương mại phải tham gia bảo hiểm tiền gửi

Theo Điều 4, khoản 1 Luật BHTG 2012, bảo hiểm tiền gửi (BHTG) là cơ chế đảm bảo hoàn trả tiền gửi cho người gửi tiền trong giới hạn bảo hiểm khi tổ chức tham gia BHTG gặp khó khăn về tài chính hoặc phá sản.

Ngân hàng thương mại (NHTM) hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ và tài chính có nhiều rủi ro, do đó, tham gia bảo hiểm tiền gửi (BHTG) là yêu cầu bắt buộc để bảo vệ người gửi tiền khi xảy ra sự cố về khả năng thanh khoản Trong trường hợp ngân hàng phá sản, BHTG sẽ bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền, mặc dù họ không phải là bên trực tiếp tham gia hợp đồng BHTG mà là NHTM BHTG là hình thức tham gia bắt buộc đối với các NHTM khi huy động vốn từ tiền gửi tiết kiệm Quyền lợi của người gửi tiền (NGT) bị chi phối bởi NHTM, do đó, việc bảo vệ NGT là quyền và nghĩa vụ của NHTM, nhằm củng cố niềm tin và giúp ngân hàng dễ dàng huy động tiền gửi Hiện nay, các quy định về BHTG được các NHTM triển khai đồng bộ, và trong bối cảnh hội nhập quốc tế, việc tuân thủ pháp luật BHTG không chỉ củng cố niềm tin của người gửi tiền mà còn giúp ngân hàng tăng cường sức cạnh tranh và lợi nhuận.

2.1.2 Pháp luật về cơ quan bảo vệ người gửi tiền tại ngân hàng thương mại Để bảo vệ NGT thì các cơ quan quản lý như Chính phủ, NHNN, hệ thống tòa án và tổ chức BHTG có nhiệm vụ bảo vệ quyền và lợi ích cho người gửi tiền

Chính phủ là cơ quan quản lý có thẩm quyền chung, điều hành các lĩnh vực xã hội, bao gồm tài chính và tiền tệ Chính phủ có quyền ban hành nghị định và thể chế hóa các quy định của Hiến pháp và Luật, đưa các quy định về bảo vệ người tiêu dùng vào thực tiễn Quốc hội đã thông qua Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 và Luật BHTG năm 2012, sau đó Chính phủ ban hành Nghị định 68/2013/NĐ-CP để hướng dẫn thực hiện Luật BHTG Chính phủ cũng có trách nhiệm giám sát hoạt động của các cơ quan trực thuộc như Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và tổ chức BHTG trong việc bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền.

Đánh giá thực trạng bảo vệ người gửi tiền tại ngân hàng thương mại

2.2.1 Những điểm đạt được Để bảo vệ người gửi tiền, các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đã nổ lực hoàn thiện các quy định pháp luật bảo vệ người gửi tiền Trong đó, một số điểm đạt được trong pháp luật bảo vệ NGT như sau:

2.2.1.1 Về pháp luật bảo vệ người tiêu dùng

Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng Từ điều 4 đến điều 7, luật này quy định rõ trách nhiệm bảo vệ quyền lợi cho người tiêu dùng, đảm bảo quyền lợi và sự an toàn cho họ trong quá trình tiêu dùng.

2.2.1.2 Về pháp luật bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam

Trong hệ thống pháp luật bảo vệ người gửi tiền, bảo hiểm tiền gửi (BHTG) đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng Luật BHTG 2012 đã kế thừa và khắc phục những hạn chế của Nghị định 89/1999/NĐ-CP, đưa ra nhiều quy định và cơ chế bảo vệ quyền lợi cho người gửi tiền cũng như các biện pháp xử phạt đối với những vi phạm Những thành tựu của Luật BHTG bao gồm việc nâng cao hiệu quả bảo vệ người gửi tiền và tăng cường sự ổn định của hệ thống ngân hàng.

18 Luật Bảo vệ quyền lời người tiêu dùng năm 2010

Ngân hàng Nhà nước (NHNN) có trách nhiệm rõ ràng trước chính phủ về việc quản lý bảo hiểm tiền gửi (BHTG) và thực hiện chức năng thanh tra liên quan đến BHTG, điều này giúp ngăn chặn tình trạng đùn đẩy trách nhiệm cũng như tranh chấp về thẩm quyền giữa các cơ quan liên quan.

Tổ chức BHTG thực hiện giám sát từ xa dựa trên thông tin từ NHNN để phát hiện và báo cáo kịp thời các rủi ro cũng như vi phạm trong hệ thống ngân hàng thương mại Họ tham gia vào quá trình kiểm soát đặc biệt ngân hàng theo quy định của NHNN và quản lý, thanh lý tài sản của NHTM Qua đó, tổ chức BHTG bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền và đảm bảo an toàn cho hệ thống tài chính quốc gia.

Quy định về bảo hiểm tiền gửi (BHTG) chỉ áp dụng cho cá nhân, không bao gồm tiền gửi của hộ gia đình, tổ hợp tác, doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh, nhằm bảo vệ quyền lợi cho những người gửi tiền nhỏ lẻ và thiếu thông tin Ngược lại, các tổ chức gửi tiền chủ yếu với mục đích thanh toán và có rủi ro thấp, do đó không cần thiết phải có bảo hiểm tiền gửi.

Tổ chức BHTG được thành lập theo quy định của Thủ tướng Chính phủ, với chức năng và nhiệm vụ rõ ràng Là một pháp nhân hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, tổ chức BHTG cam kết đảm bảo an toàn vốn và tự bù đắp chi phí hoạt động của mình.

Để tổ chức BHTG thực hiện hiệu quả chức năng và nhiệm vụ, việc có đầy đủ thông tin về các ngân hàng là rất quan trọng Luật BHTG đã quy định rõ ràng về trách nhiệm báo cáo và công bố thông tin của tổ chức BHTG, cũng như yêu cầu cung cấp thông tin từ NHNN.

Để giảm thiểu rủi ro và nâng cao hiệu quả hoạt động, Luật BHTG cho phép tổ chức BHTG sử dụng nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi để đầu tư vào trái phiếu Chính phủ, tín phiếu NHNN và gửi tiền tại NHNN Tuy nhiên, tổ chức BHTG không được phép mở tài khoản và gửi tiền tại các tổ chức tín dụng nhà nước.

Luật BHTG không quy định cụ thể về phí bảo hiểm và hạn mức trả tiền bảo hiểm, mà trao quyền cho Thủ tướng Chính phủ để quy định khung phí BHTG và hạn mức này theo đề xuất của NHNN Dựa trên khung phí BHTG, NHNN sẽ xác định mức phí bảo hiểm cho các ngân hàng dựa trên kết quả đánh giá và phân loại các tổ chức tài chính này.

19 Xem Điều 3, QĐ số 21/2017, nguồn tại https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Tien-te-Ngan-hang/Quyet- dinh-21-2017-QD-TTg-han-muc-tra-tien-bao-hiem-352344.aspx

Về thời điểm trả tiền bảo hiểm cho người gửi tiền Theo Luật các TCTD

Năm 2010, quy định TCTD và chi nhánh ngân hàng nước ngoài có quyền nhận tiền gửi của cá nhân, bắt buộc tham gia BHTG, nhằm đảm bảo chi trả ngay lập tức tiền bảo hiểm cho NGT khi ngân hàng đổ vỡ Điều này giúp củng cố niềm tin của người dân vào hệ thống ngân hàng, ngăn chặn tình trạng rút tiền ồ ạt và tăng cường sự ổn định của hệ thống ngân hàng Theo Điều 22 luật BHTG, nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm phát sinh khi NHNN có văn bản chấm dứt kiểm soát đặc biệt hoặc xác định chi nhánh ngân hàng nước ngoài không còn khả năng chi trả tiền gửi.

2.2.1.3 Về các quy định về phòng tránh rủi ro và đảm bảo an toàn cho hệ thống tín dụng nhằm bảo vệ người gửi tiền khá cụ thể và rõ ràng

Các cơ quan nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật nhằm phòng ngừa rủi ro và đảm bảo an toàn cho hệ thống ngân hàng, bảo vệ quyền lợi người gửi tiền Sự ổn định và phát triển an toàn của ngân hàng sẽ tạo niềm tin cho người dân, ngăn chặn sự sụp đổ ngân hàng và hiệu ứng dây chuyền Các tỷ lệ an toàn vốn và tỷ lệ trích lập dự phòng đã được tính toán khoa học, phù hợp với thông lệ quốc tế Đồng thời, cơ quan nhà nước cũng nỗ lực hoàn thiện pháp luật để bảo vệ quyền lợi của người dân trong trường hợp ngân hàng ngừng hoạt động.

Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu trong việc bảo vệ người gửi tiền, nhưng pháp luật hiện hành vẫn tồn tại nhiều bất cập và hạn chế Dưới đây là một số vấn đề cần lưu ý trong pháp luật bảo vệ người gửi tiền.

Thứ nhất, hiện tại vẫn chưa có văn bản pháp luật nào bảo vệ NGT riêng biệt

Các quy định bảo vệ NGT nằm rải rác ở nhiều văn bản luật khác nhau như

Bộ Luật Dân sự, Luật các TCTD, Luật BHTG, Luật bảo vệ người tiêu dùng, …gây

20 Xem tại Luật các TCTD 2010

Điều 22 của luật BHTG gây khó khăn cho cơ quan thực thi pháp luật trong việc xử lý tranh chấp Để bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền, các cơ quan Nhà nước cần tốn nhiều thời gian và công sức để tìm kiếm các quy định trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau Điều này đặt ra thách thức, vì không phải ai cũng có khả năng tiếp cận và hiểu đầy đủ các quy định cần thiết để bảo vệ người gửi tiền.

So sánh bảo hiểm tiền gửi của Việt Nam với bảo hiểm tiền gửi của Mỹ về bảo vệ người gửi tiền

Mỹ về bảo vệ người gửi tiền

Trách nhiệm của ngân hàng thương mại và bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam đã được phân tích rõ ràng, tuy nhiên, sự khác biệt trong cách giải quyết giữa các nước phát triển và đang phát triển cần được làm rõ Bài viết này sẽ so sánh hệ thống bảo hiểm tiền gửi của Mỹ, từ đó làm nổi bật quyền lợi mà người gửi tiền được bảo vệ và phương thức xử lý của các ngân hàng nhằm đảm bảo tối đa quyền lợi cho khách hàng.

Tại Mỹ, khi người gửi tiền tiết kiệm vào ngân hàng và mua gói bảo hiểm tiền gửi, họ sẽ được bảo vệ quyền lợi bởi FDIC (Công ty Bảo hiểm Tiền gửi Liên bang) FDIC là một cơ quan độc lập của chính phủ liên bang Hoa Kỳ, có nhiệm vụ giám sát và bảo chứng số tiền ký thác tại các ngân hàng trên toàn quốc.

FDIC bao gồm tất cả các tài khoản tiền gửi, bao gồm:

Tài khoản tiền gửi thị trường tiền tệ

22 Xem tại: https://portal.ct.gov/DOB/Consumer/Consumer-Education/ABCs-of-Banking -Deposit- Insurance

Thanh toán cho người gửi tiền như thế nào: xem tại link: https://www.fdic.gov/consumers/banking/facts/payment.html

Bảo hiểm FDIC không bảo vệ các sản phẩm và dịch vụ tài chính khác mà ngân hàng cung cấp, bao gồm cổ phiếu, trái phiếu, quỹ tương hỗ, chính sách bảo hiểm nhân thọ và chứng khoán.

Và những điểm quan trọng nhất trong bảo hiểm tiền gửi tại Mỹ là:

Tiền trong tài khoản séc hoặc tiết kiệm của người gửi tiền tại mỗi ngân hàng

Mỹ được đảm bảo chi trả với số tiền lên tới 250.000 USD và con số này vẫn đang được duy trì cho tới thời điểm này

Trong trường hợp ngân hàng phá sản, người gửi tiền có thể nhận lại 100% số tiền của mình, với mức bảo đảm lên đến 250.000 USD và trong thời gian vài ngày Tuy nhiên, số tiền gửi vượt quá giới hạn này sẽ không được hoàn lại.

Trong trường hợp tiền gửi với số tiền liên tục cao hơn, nên:

Chia tiền cho nhiều ngân hàng

Chọn một ngân hàng đặc biệt an toàn

Dựa vào những điểm trên ta thấy, tiền gửi ngân hang tại Mỹ nó an toàn như thế nào, và hơn hẳn tại Việt Nam

Tại Việt Nam, khi tiền gửi tại ngân hàng bị mất, khách hàng thường phải chờ đợi cơ quan điều tra, trong khi ngân hàng thường đẩy trách nhiệm về phía người gửi Ngược lại, ở Mỹ, khi xảy ra sự cố với tiền gửi hoặc ngân hàng tuyên bố phá sản, tổ chức FDIC sẽ nhanh chóng can thiệp để bảo vệ quyền lợi của khách hàng.

Bảo hiểm tiền gửi tại Mỹ hoạt động thế nào:

Khi một ngân hàng được bảo hiểm thất bại, FDIC sẽ tiếp nhận tổ chức từ người thuê tàu và đảm bảo rằng người gửi tiền được bảo hiểm có quyền truy cập vào tài khoản của họ, thực hiện quá trình giải quyết bằng nhiều phương thức khác nhau.

FDIC có thể thanh lý một tổ chức bằng cách kiểm tra các khoản tiền gửi được bảo hiểm, giải thể ngân hàng và bán tài sản để thu hồi khoản lỗ Người gửi tiền không có bảo hiểm thường mất tiền trong quá trình thanh lý, tùy thuộc vào khả năng thu hồi của FDIC qua việc bán tài sản Thanh lý thường yêu cầu một khoản chi lớn hơn so với các phương pháp giải quyết khác.

FDIC có khả năng thực hiện chuyển khoản tiền gửi được bảo hiểm bằng cách bán chúng cho một tổ chức khác với một khoản phí Hình thức này tương tự như thanh lý, trong đó FDIC không cố gắng bảo tồn ngân hàng thất bại mà chỉ bán hết tài sản và thanh toán cho người gửi tiền không có bảo hiểm theo số tiền thu hồi được.

FDIC có thể thực hiện giao dịch mua và giả định (P&A), trong đó một tổ chức tài chính khỏe mạnh mua lại tài sản và tiền gửi của ngân hàng thất bại Điều này giúp FDIC khôi phục tài sản của ngân hàng gặp khó khăn thông qua các khoản thanh toán hoặc bảo lãnh bằng tiền mặt, giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng thâu tóm Giao dịch P&A thường bảo vệ tiền bảo hiểm và tiền gửi được bảo hiểm Tuy nhiên, theo FDICIA, từ năm 1994, FDIC không được phép mua lại các khoản tiền gửi không có bảo hiểm trừ khi có sự đồng thuận của Chủ tịch, Bộ trưởng Tài chính và FDIC, xác định rằng việc không hoàn trả tiền gửi không có bảo hiểm sẽ gây ra rủi ro nghiêm trọng cho nền kinh tế.

FDIC có khả năng cung cấp hỗ trợ cho ngân hàng mở (OBA) hoặc các giao dịch được hỗ trợ, trong đó tổ chức này sắp xếp việc mua hoặc tái cấp vốn cho một ngân hàng trước khi ngân hàng đó thất bại Trong các giao dịch này, người gửi tiền không có bảo hiểm thường được bảo vệ.

Trong Chương 2, luận văn phân tích thực trạng bảo vệ người gửi tiền tại các ngân hàng thương mại (NHTM) theo pháp luật Việt Nam, nhấn mạnh rằng các cơ quan Nhà nước đã xây dựng và ban hành các văn bản pháp luật tạo hành lang pháp lý cho việc này Bên cạnh việc thống kê những thành tựu đạt được, luận văn cũng chỉ ra những hạn chế còn tồn tại và nguyên nhân dẫn đến những vấn đề đó trong pháp luật bảo vệ người gửi tiền Những phân tích này là cơ sở để đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo vệ người gửi tiền tại các NHTM.

GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT BẢO VỆ NGƯỜI GỬI TIỀN TẠI NHTM Ở VIỆT NAM

Ngày đăng: 13/06/2021, 21:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5. Luận án tiến sĩ kinh tế “Hoạt động BHTG theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn các Ngân hàng” của tác giả Nguyễn Đăng Quân, được thực hiện tại Viện hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam vào năm 2018. 28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động BHTG theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn các Ngân hàng
3. Luật Doanh nghiệp Số 60/2005/QH11, sửa đổi bổ sung tại Luật số 38/2009/QH124. Luật Dân sự năm 2015 Khác
11. Nghị định 68/2013/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật bảo hiểm tiền gửi Khác
12. Ngân hàng Nhà nước (2010), Thông tư số 13/2010/TT-NHNN quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của TCTD Khác
13. Ngân hàng Nhà nước (2010), Thông tư 04/2010/TT-NHNN về sáp nhập, hợp nhất, mua lại TCTD, Hà Nội Khác
14. Quốc hội (2012), Nghị quyết 38/2012/QH10 về việc sửa đổi, bổ sung một Khác
15. Thủ tướng Chính phủ (2013), Quyết định số 1394/QĐ-TTg ngày 13/08/2013 về việc thành lập Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam và quy định chức năng, nhiệm vụ của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam Khác
16. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (2004), Quyết định số 1160/2004/QĐ- NHNN về việc ban hành quy chế về tiền gửi tiết kiệm Khác
17. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (2014), Thông tư 09/2014/TT-NHNN về sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 Khác
18. Thông tư 48/2018/TT-NHNN ngày 31/12/2018 Quy định về tiền gửi tiết kiệm Khác
19. Thông tư số 22/2014/TT-NHNN ngày 06/09/2014 27 v/v hướng dẫn một số nội dung về hoạt động bảo hiểm tiền gửi.Danh mục sách, báo, tạp chí và các tài liệu khác Khác
1. Đại học Quốc Gia Hà Nội (2005), Giáo trình Luật ngân hàng, NXB Đại học Quốc gia Khác
2. GS.TSKH Đào Trí Úc (2007), Bảo về quyền lợi NGT theo pháp luật của bảo hiểm tiền gửi Việt Nam – Thực trạng và phương hướng hoàn thiện, Thông tin Bảo hiểm tiền gửi số 3 năm 2007 Khác
3. Hoàng Thị Hằng (2008), Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam trong điều kiện nền kinh tế thị trường, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 08/2009 Khác
6. PGS.TS Lê Thị Thu Thủy (2008), Pháp luật về Bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam, Sách chuyên khảo, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội27 Xem Điều 8 thông tư số 24/2014/TT-NHNN ngày 06/09/2014 v/v hướng dẫn một số nội dung về hoạt động bảo hiểm tiền gửi Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w