Đối với loại sản phẩm này, họ có thể sản xuất vượt quá nhucầu sử dụng của mình; trong khi đó, để thoả mãn nhu cầu đa dạng của cuộc sống, họ cần phải có nhiều loại sản phẩm khác nhau.. Hà
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
MỞ ĐẦU 2
1 Mục đích, yêu cầu 2
2 Nội dung, thời gian 2
3 Phương pháp 3
4 Tài liệu 3
NỘI DUNG 3
I SẢN XUẤT HÀNG HÓA VÀ HÀNG HÓA 3
1 Sản xuất hàng hoá và ưu thế của nó trong phát triển LLSX 3
2 Hàng hoá 6
II Bản chất và chức năng của tiền tệ 20
1 Nguồn gốc và bản chất của tiền 20
2 Chức năng của tiền 25
III Quy luật gía trị – quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất hàng hoá 29
1 nội dung và hình thức biểu hiện của quy luật giá trị 29
2 Tác động của quy luật gía trị 30
KẾT LUẬN 33
Trang 3* Yêu cầu:
- Hiểu rõ và nắm chắc các khái niệm cơ bản xoay quanh phạm trù hàng hoá
và quy luật giá trị
- Trên cơ sở lý luận giá trị, tích cực đấu tranh phê phán các quan điểm chorằng học thuyết Kinh tế chính trị mácxít là trừu tượng, phi hiện thực
2 Nội dung, thời gian.
* Nội dung : Chủ đề được kết cấu thành 3 phần:
Phần I: Sản xuất hàng hoá và hàng hoá
Phần II: Bản chất và chức năng của tiền tệ
Phần III: Quy luật giá trị - quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất hàng hoá.Trong đó, trọng tâm là phần I.2 (hàng hoá) và toàn bộ phần III (quy luật giátrị - quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất hàng hoá)
* Thời gian: Thời gian toàn bài: 05 tiết
Trang 4I SẢN XUẤT HÀNG HÓA VÀ HÀNG HÓA.
1 Sản xuất hàng hoá và ưu thế của nó trong phát triển LLSX.
a Sản xuất hàng hoá
K/n: Sản xuất hàng hoá là một kiểu tổ chức kinh tế, trong đó sản phẩm
sản xuất ra được mua bán, trao đổi trên thị trường.
Trong K/n này, có 2 vấn đề cần làm rõ:
* Sản xuất hàng hoá là một kiểu tổ chức kinh tế:
Lịch sử loài người đã và đang trải qua hai kiểu tổ chức kinh tế: sản xuất tựcấp tự túc và sản xuất hàng hoá
* Trong sản xuất hàng hoá, sản phẩm làm ra được mua bán, trao đổi trên
thị trường
Trang 5Nếu như trong nền sản xuất tự cấp tự túc, sản phẩm làm ra nhằm mục đíchthoả mãn trực tiếp nhu cầu của người sản xuất ra nó, thì trong sản xuất hàng hoá,sản phẩm làm ra nhằm mục đích thoả mãn nhu cầu của người khác, của xã hội và
do đó, giữa những người sản xuất hàng hoá có quan hệ ràng buộc chặt chẽ vớinhau thông qua việc trao đổi (mua và bán) sản phẩm trên thị trường
Như vậy, sản xuất hàng hoá là một kiểu tổ chức kinh tế, là sự phát triển kế tiếp của kiểu tổ chức kinh tế sản xuất tự cấp tự túc, nó ra đời trong những điều kiện nhất định, tương ứng với một trình độ phát triển nhất định của LLSX.
b Hai điều kiện ra đời của sản xuất hàng hoá
* Phân công lao động xã hội
Phân công lao động xã hội là sự phân chia lao động xã hội thành những ngành nghề khác nhau, tạo ra sự chuyên môn hoá lao động sản xuất
Khi đã có phân công lao động xã hội, mỗi người sản xuất, mỗi chủ thể sảnxuất chỉ tạo ra một hoặc một số loại sản phẩm mà mình có khả năng, có điều kiệnsản xuất thuận lợi hơn Đối với loại sản phẩm này, họ có thể sản xuất vượt quá nhucầu sử dụng của mình; trong khi đó, để thoả mãn nhu cầu đa dạng của cuộc sống,
họ cần phải có nhiều loại sản phẩm khác nhau Và như vậy, sẽ xuất hiện nhu cầutrao đổi sản phẩm giữa những người sản xuất với nhau
Ở đây, chúng ta cần nhận thấy rằng: phân công lao động xã hội làm cho
những người sản xuất phụ thuộc vào nhau, sản xuất hàng hoá càng phát triển thì
biểu hiện trên càng rõ nét
* Sự tách biệt về mặt kinh tế giữa những người sản xuất
Trang 6Thực chất ở đây muốn nói tới quyền sở hữu, quyền chi phối của người sảnxuất đối với sản phẩm do họ làm ra; do đó, người này muốn sử dụng sản phẩm củangười khác buộc phải thông qua trao đổi, mua bán trên thị trường.
Trong lịch, điều kiện này xuất hiện từ khi xuất hiện chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất Cùng với sự phát triển của LLSX, điều kiện này không chỉ do chế độ tư hữu về TLSX quy định mà nó còn do các hình thức sở hữu khác nhau về TLSX và sự tách rời giữa quyền sở hữu với quyền sử dụng TLSX quy định
Sự tách biệt về mặt kinh tế giữa những người sản xuất làm cho họ độc lập với nhau, có thể đứng đối diện với nhau trong quan hệ trao đổi các sản phẩm do họ
làm ra
Như vậy, phân công lao động xã hội làm cho những người sản xuất phụ thuộc vào nhau, sự tách biệt về mặt kinh tế lại làm cho họ độc lập với nhau Đó là mâu thuẫn mà chỉ có sự ra đời của sản xuất hàng hoá mới giải quyết được.
Sản xuất hàng hoá ra đời và tồn tại khi có đủ hai điều kiện trên, thiếu mộttrong hai điều kiện đó thì không có sản xuất hàng hoá
Có thể nói sản xuất hàng hóa ra đời là một tất yếu khách quan, mà nguyên nhân của nó bắt nguồn từ sự phát triển của LLSX Vậy sự ra đời của sản xuất hàng hóa có tác động trở lại như thế nào đối với sự phát triển của LLSX?
c Ưu thế của sản xuất hàng hoá trong phát triển LLSX của nhân loại.
- Sản xuất hàng hoá ra đời đã phá vỡ tính tự cấp tự túc, bảo thủ trì trệ, lạc hậu, mở rộng mối liên hệ kinh tế, giải phóng LLSX
- Sản xuất hàng hoá không bị giới hạn bởi nhu cầu, nguồn lực mang tính hạnhẹp, do đó không giới hạn quy mô sản xuất, mở đường cho LLSX phát triển
- Trong sản xuất hàng hoá, những người sản xuất phải hoạt động trong môitrường cạnh tranh gay gắt, buộc họ luôn phải tìm cách cải tiến kĩ thuật, hợp lí hoásản xuất, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, đáp ứng ngày càng tốt hơn
Trang 7nhu cầu của người tiêu dùng Cạnh tranh cũng là sự chọn lọc tự nhiên đối vớinhững người sản xuất.
- Sản xuất hàng hoá không chỉ mở rộng giao lưu kinh tế mà còn mở rộnggiao lưu văn hoá, làm thoả mãn ngày càng tốt hơn đời sống tinh thần của người laođộng, tạo động lực kích thích LLSX phát triển
Vừa rồi, chúng ta đã nghiên cứu về sản xuất hàng hóa với tư cách là một kiểu tổ chức kinh tế Sau đây, chúng ta sẽ nghiên cứu một tế bào cơ bản của kiểu
tổ chức kinh tế ấy, một yếu tố đóng vai trò là hạt nhân, là đối tượng trung tâm mà tất cả các mối quan hệ kinh tế trong kiểu tổ chức kinh tế này đều xoay quanh nó Theo các đ/c, tế bào đó là gì? …
Vâng, đó chính là hàng hóa, và bây giờ chúng ta cùng nghiên cứu hàng hóa
với tư cách là một phạm trù kinh tế.
->> Hàng hoá trước hết phải là sản phẩm của lao động
Điều đó có nghĩa, những gì không là sản phẩm do lao động của con ngườilàm ra thì không phải là hàng hoá, tuy nhiên, không phải sản phẩm nào do conngười làm ra cũng là hàng hoá Ví dụ: nước tự nhiên không phải hàng hóa, nướctinh khiết đóng chai là hàng hóa; không khí không phải hàng hóa, bình thở ôxi làhàng hóa, …
->> Hàng hoá phải có khả năng thoả mãn nhu cầu nào đó của con người
Ví dụ: lương thực, thực phẩm thỏa mãn nhu cầu ăn, quần áo thỏa mãn nhucầu mặc Sản phẩm của lao động mà không có khả năng thoả mãn nhu cầu nào đó
Trang 8của con người thì không thể trở thành hàng hoá được vì không ai bỏ tiền hoặc sảnphẩm của mình ra để đổi lấy một thứ vô ích.
->> Hàng hoá phải đựơc đem trao đổi trên thị trường
Hàng hoá là sản phẩm của lao động, có khả năng thoả mãn nhu cầu nào đó củacon người, nhưng không phải nhu cầu của người sản xuất ra nó, mà là nhu cầu củangười khác, nhu cầu của xã hội, do đó nó phải được trao đổi trên thị trường
Từ K/n trên, ta có thể thấy rằng: hàng hoá có thể ở dạng vật thể hoặc phi vậtthể, dạng phi vật thể ví dụ: một bài thơ, một bản nhạc, một phát minh khoa học,một bí quyết công nghệ, thậm chí một ý tưởng kinh doanh
Và cùng với sự phát triển của sản xuất hàng hoá, k/n hàng hoá cũng ngàycàng được mở rộng hơn, có những thứ trước đây vốn không được coi là hàng hoá,nay cũng được đem trao đổi hoặc sử lý như một hàng hoá Ví dụ: quyền sử dụngđất, quyền sở hữu trí tuệ, thương hiệu kinh doanh, tên miền trên mạng thông tin(Internet), …
* Hai thuộc tính của hàng hoá
Hàng hóa có hai thuộc tính: giá trị sử dụng và giá trị
- Giá trị sử dụng của hàng hoá: là công dụng của vật phẩm có thể thoả
mãn nhu cầu nào đó của con người.
->> Mỗi hàng hoá đều có một hoặc một số công dụng nhất định, có thể thoả
mãn nhu cầu nào đó của con người, có thể là nhu cầu vật chất (ví dụ LTTP thỏamãn nhu cầu ăn) hoặc là nhu cầu tinh thần (ví dụ một bông hoa, một bức tranh, mộtbài hát, một bộ phim, …thỏa mãn nhu cầu giải trí, thư giãn); có thể là nhu cầu chotiêu dùng cá nhân (như các ví dụ trên), hoặc nhu cầu cho sản xuất như cái cuốc, cáicày của người nông dân, cái cưa, cái đục của người thợ mộc,…
->> Giá trị sử dụng của hàng hoá là do những thực thể tự nhiên của hàng
hoá đó quy định, giá trị sử dụng là một phạm trù vĩnh viễn
Trang 9Ví dụ như gạo, sở dĩ nó có thể thỏa mãn nhu cầu “ăn” của con người là bởitrong gạo chứa tinh bột, có thể cung cấp chất dinh dưỡng để nuôi sống cơ thể Từkhi con người tìm ra lúa gạo cho đến ngày nay và có lẽ trong tương lai xa thì gạovẫn được con người sử dụng để ăn.
->> Giá trị sử dụng của hàng hoá được phát hiện dần trong quá trình phát
triển của khoa học – kỹ thuật và của LLSX (ví dụ ban đầu người ta chỉ biết dùnggạo nấu cơm để ăn, sau này người ta còn dùng gạo làm nguyên liệu chế biến hồdán, làm thuốc thử iốt trong các thí nghiệm hóa học và chế biến nhiều loại thức ăncao cấp khác, …)
Chính công dụng của vật phẩm làm cho hàng hoá có giá trị sử dụng và giá trị
sử dụng của hàng hóa là giá trị sử dụng xã hội Chỉ những vật phẩm nào mà côngdụng của nó thỏa mãn nhu cầu của người khác, nhu cầu của xã hội chứ không phảinhu cầu của người sản xuất ra nó thì nó mới trở thành một giá trị sử dụng, mộthàng hóa Người sản xuất, khi tạo ra các giá trị sử dụng phải luôn quan tâm tới nhucầu của xã hội, thị hiếu của người tiêu dùng, làm cho sản phẩm làm ra được thịtrường chấp nhận
Trong nền sản xuất hàng hoá, giá trị sử dụng đồng thời là vật mang giá trịtrao đổi
- Giá trị của hàng hoá
Thường ngày chúng ta vẫn nói cái nhẫn vàng có giá trị lớn hơn cái nhẫn bạc,một viên ngọc nhỏ có giá trị lớn trong khi đống rác to chẳng có giá trị gì, … Vậycác đồng chí hiểu giá trị ở đây là gì? …
Đây quả là một vấn đề phức tạp, bởi vì giá trị hàng hóa là một phạm trù trừutượng, chúng ta không thể cảm nhận trực tiếp bằng các giác quan được mà phảinhận thức nó bằng tư duy Và để hiểu được thực thể giá trị của hàng hoá, chúng taphải tìm hiểu bắt đầu từ giá trị trao đổi
Trang 10+ Giá trị trao đổi.
Giá trị trao đổi là quan hệ về số lượng, là tỷ lệ trao đổi giữa các giá trị sửdụng với nhau Ví dụ: 5 đấu thóc
1 m vải = 7 đấu muối
10 đấu ngô, …
Từ ví dụ trên chúng ta nhận thấy, mỗi hàng hoá không phải có một giá trịtrao đổi mà có nhiều giá trị trao đổi: 5 đấu thóc, 7 đấu muối và 10 đấu ngô lànhững giá trị trao đổi của 1 m vải, chúng có thể thay thế lẫn nhau
Vấn đề đặt ra là tại sao những giá trị sử dụng khác nhau về chất lại có thểtrao đổi với nhau, thay thế lẫn nhau? … Chỉ có một khả năng, đó là tất cả chúngđều chứa đựng một cái gì đó chung, giống nhau Theo các đồng chí, giữa các giá trị
sử dụng ấy, giữa các hàng hoá ấy (vải, thóc, muối, ngô, …) đều chứa đựng cái gìgiống nhau? …
Vâng, đó chính là lao động của người sản xuất hàng hoá kết tinh trong hànghoá Cho dù là vải, thóc, muối, ngô hay bất kì một hàng hóa nào khác cũng vậy,truớc hết chúng phải là sản phẩm của lao động, và để tạo ra chúng, người sản xuấtđều cần phải bỏ công sức ra, hay nói cách khác là phải hao phí một lượng lao độngnhất định
Như vậy, hao phí lao động là cơ sở chung cho sự trao đổi giữa tất cả cáchàng hoá, là giá trị hàng hoá
Trang 11Trao đổi hàng hoá thực chất là trao đổi lao động ẩn dấu trong các hàng hoá.Đổi 1 m vải lấy 5 kg thóc, thực chất là trao đổi ngang giá hao phí lao động làm ra 1
m vải và hao phí lao động để làm ra 5 kg thóc
Điều này giải thích tại sao vàng, bạc, kim cương có giá trị lớn, trong khinước tự nhiên, không khí là những thứ không thể thiếu đối với con người thì thậmchí không có giá trị Đó chỉ có thể là bởi chi phí lao động để khai thác vàng, bạc,kim cương lớn, còn nước, không khí thì có sẵn trong tự nhiên, con người khôngcần tốn lao động để làm ra chúng
C.Mác khẳng định: “Nếu người ta tìm được cách biến than thành kim cương
với một ít chi phí lao động, thì có lẽ giá trị của kim cương sẽ tụt xuống thấp hơn giá trị của gạch” [M-Ă toàn tập, T23, tr 69].
+ Mối quan hệ giữa giá trị trao đổi và giá trị của hàng hoá:
Giá trị hàng hoá là nội dung bên trong, là cơ sở của giá trị trao đổi; giá trịtrao đổi là hình thức biểu hiện ra bên ngoài của giá trị khi trao đổi Chúng ta chỉ cóthể nhận biết được giá trị hàng hóa thông qua giá trị trao đổi của nó
- Mối quan hệ giữa hai thuộc tính của hàng hóa
Như vậy, hàng hoá có hai thuộc tính: giá trị và giá trị sử dụng Đây là haimặt đối lập, cùng tồn tại, vừa thống nhất vừa mâu thuẫn với nhau
+ Thống nhất: giá trị và giá trị sử dụng cùng đồng thời tồn tại trong hànghoá, quá trình tạo ra giá trị sử dụng đồng thời là quá trình tạo ra giá trị của hànghoá Một vật phải có đầy đủ hai thuộc tính này mới là hàng hoá
+ Mâu thuần:
->> Thứ nhất, với tư cách là giá trị sử dụng, các hàng hoá không đồng nhất
về chất, nhưng với tư cách là giá trị, các hàng hoá hoàn toàn đồng nhất về chất.Chất giá trị của tất cả các hàng hóa đều là lao động của người sản xuất hàng hóakết tinh trong hàng hóa ấy
Trang 12C.Mác khẳng định: “với tư cách là những giá trị thì tất cả mọi hàng hoá đều
chỉ là những lượng thời gian lao động nhất định đã kết đọng lại” [Sđd, tr.68].
->> Thứ hai, quá trình tạo ra giá trị và giá trị sử dụng diễn ra đồng thời
(trong khi sản xuất), nhưng quá trình thực hiện chúng không đồng thời Giá trịđược thực hiện trước trong lưu thông (muốn chiếm hữu một giá trị sử dụng, ngườitiêu dùng phải thực hiện giá trị trước, tức là trả tiền cho người sản xuất) còn giá trị
sử dụng được thực hiện sau trong tiêu dùng
Chính vì có sự tách biệt giữa quá trình tạo ra và quá trình thực hiện giá trị,giữa thực hiện giá trị và thực hiện giá trị sử dụng mà sản xuất hàng hoá luôn chứađựng trong nó nguy cơ khủng hoảng sản xuất thừa
b Tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá.
ở Trên, chúng ta khẳng định rằng: với tư cách là giá trị, tất cả mọi hàng hóađều giống nhau về chất, và chất giá trị hàng hóa chính là lao động của người sảnxuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa
Tuy vậy, trên thực tế, lao động của những người sản xuất không hoàn toàngiống nhau, và việc đo lường những lao động không giống nhau ấy là không thểthực hiện được Tóm lại là chúng ta vẫn chưa thực sự tìm ra cái gì chung, đồngnhất về chất làm cơ sở cho sự trao đổi giữa các hàng hóa, hay nói khác đi là chưatìm ra thực thể của giá trị hàng hóa
Để giải quyết vấn đề này, chúng ta phải tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về cácloại lao động khác nhau của những người sản xuất hàng hóa, xem xem giữa chúng
có cái gì hoàn toàn đồng nhất về chất? … Chúng ta cùng đi tìm hiểu tính chất haimặt của lao động sản xuất hàng hóa
Nếu như hàng hoá có hai thuộc tính là giá trị sử dụng và giá trị, thì lao độngsản xuất hàng hoá cũng có tính chất hai mặt tương ứng: lao động cụ thể và laođộng trừu tượng
Trang 13* Lao động cụ thể: là lao động có ích dưới một hình thức cụ thể của những
ngành nghề chuyên môn nhất định.
- Mỗi lao động cụ thể có mục đích, đối tượng, công cụ, phương pháp và kếtquả lao động khác nhau Do đó, các lao động cụ thể khác nhau về chất và tạo ra cácgiá trị sử dụng khác nhau về chất (người thợ may tạo ra quần áo, người nông dântạo ra lúa gạo, người thợ mộc làm ra bàn ghế, gường, tủ, …)
- LLSX càng phát triển thì lao động cụ thể càng đa dạng và phong phú, tất cảcác lao động cụ thể trong xã hội hợp lại thành phân công lao động xã hội
- Lao động cụ thể là một phạm trù vĩnh viễn, có con người, có sản xuất vậtchất thì có lao động cụ thể
* Lao động trừu tượng:
Rõ ràng, với tư cách là lao động cụ thể, các loại lao động của những ngườisản xuất hàng hóa khác nhau hoàn toàn khác nhau về chất và không thể so sánh vớinhau về lượng được Nói cách khác, chất của giá trị hàng hóa không thể là laođộng cụ thể Chúng ta tiếp tục nghiên cứu mặt thứ hai của lao động sản xuất hànghóa:
Lao động trừu tượng là lao động của người sản xuất hàng hoá đã gạt bỏ hình thức biểu hiện cụ thể của nó để quy về một cái chung, đồng nhất Đó là sự hao phí SLĐ, (tiêu hao thần kinh, cơ bắp) của người sản xuất hàng hoá.
->> ở đây chúng ta nhận thấy, tất cả mọi lao động sản xuất hàng hoá, tất cả
mọi lao động cụ thể, dù hình thức biểu hiện có khác nhau tới đâu thì vẫn giốngnhau ở một điểm, đó chính là sự tiêu hao sức lực thần kinh, cơ bắp của người laođộng
->> Lao động trừu tượng là một phạm trù lịch sử Bất kì lao động cụ thể nào
cũng tiêu hao sức lao động, nhưng chỉ sự tiêu hao sức lao động của người sản xuấthàng hoá mới được coi là lao động trừu tượng
Trang 14->> Như vậy, chính lao động trừu tượng của người sản xuất hàng hoá tạo ra
giá trị của hàng hoá Và tới đây, chúng ta có thể định nghĩa chính xác hơn, cụ thểhơn về giá trị hàng hoá:
Giá trị của hàng hoá là lao động trừu tượng của người sản xuất hàng hoá kết tinh trong hàng hoá.
* Tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá
Lao động cụ thể và lao động trừu tượng của người sản xuất hàng hoá khôngphải là hai loại lao động, hai thứ lao động khác nhau, mà là hai mặt của một quátrình diễn ra đồng thời, vừa thống nhất vừa mâu thuẫn, phản ánh tính chất tư nhân
và tính chất xã hội của lao động của người sản xuất hàng hoá
- Lao động cụ thể là biểu hiện của lao động tư nhân: sản xuất cái gì, sản xuấtbao nhiêu, sản xuất như thế nào, với những tư liệu lao động và đối tượng lao độngnào là việc riêng của cá nhân mỗi người sản xuất
- Lao động trừu tượng là biểu hiện của lao động xã hội Nếu như mỗi ngườisản xuất hàng hoá, bằng lao động cụ thể của mình, chỉ tạo ra một hoặc một số loạisản phẩm, thì nhu cầu tiêu dùng đa dạng của họ buộc họ phải có quan hệ trao đổisản phẩm với nhau
+ Việc trao đổi này không thể căn cứ vào lao động cụ thể mà phải quy về laođộng chung đồng nhất – lao động trừu tượng, như vậy lao động trừu tượng biểu hiệnquan hệ xã hội (quan hệ giữa những người sản xuất hàng hoá với nhau)
+ Nếu sản phẩm của lao động cá biệt nào không được xã hội chấp nhận(không bán hoặc không trao đổi được với hàng hoá khác), thì sự hao phí sức laođộng của người lao động cá biệt đó không phải là lao động trừu tượng
Do đó, lao động trừu tượng là biểu hiện của lao động xã hội
- Lao động tư nhân và lao động xã hội có mâu thuẫn với nhau, biểu hiện cụthể trong hai trường hợp:
Trang 15+ Sản phẩm do những người sản xuất hàng hoá riêng biệt không ăn khớp vớinhu cầu của xã hội (hoặc không đủ đáp ứng hoặc vượt quá nhu cầu), khi sản xuấtvượt quá nhu cầu của xã hội, sẽ dẫn đến tình trạng một số hàng hoá không bánđược, tức là không thực hiện được giá trị.
+ Mức hao phí lao động của người sản xuất cá biệt cao hơn mức hao phí mà xãhội có thể chấp nhận Khi đó việc bán hàng không bù đắp được chi phí sản xuất
Mâu thuẫn giữa lao động tư nhân và lao động xã hội là mầm mống của mọimâu thuẫn trong nền sản xuất hàng hoá, vừa quy định sự vận động, phát triển, vừatiềm ẩn khả năng khủng hoảng của sản xuất hàng hoá
c Lượng giá trị hàng hóa và các nhân tố ảnh hưởng đến nó.
Ở trên chúng ta đã biết chất của giá trị hàng hoá hay thực thể giá trị hànghoá là hao phí lao động hay lao động trừu tượng của người sản xuất hàng hoá kếttinh trong hàng hoá Nhưng để hai vật cùng chất có thể so sánh được với nhau thìchúng ta cần phải đo lường được lượng của chúng nữa Vậy lượng giá trị hàng hoá
là gì?
* Lượng giá trị hàng hoá: là lượng lao động tiêu hao để sản xuất ra hàng
hoá và được đo bằng thời gian lao động xã hội cần thiết.
->> Là lượng lao động tiêu hao để sản xuất ra hàng hoá Vì chất của giá trị
hàng hoá, hay thực thể giá trị hàng hoá là lao động xã hội, lao động trừu tượng củangười sản xuất hàng hoá kết tinh trong hàng hoá nên lượng giá trị hàng hoá chính
là lượng lao động đã tiêu hao để sản xuất hàng hoá
Vấn đề đặt ra là: “làm sao đo được lượng lao động tiêu hao này?”
->> Lượng giá trị hàng hoá được đo bằng thời gian lao động Có nghĩa là
lượng giá trị hàng hoá tỷ lệ thuận với thời gian lao động cần thiết để sản xuất ra nó.Những hàng hoá mà để sản xuất ra chúng phải mất một khoảng thời gian lao độngngang nhau thì có giá trị bằng nhau
Trang 16Nói như vậy không có nghĩa là người nào càng vụng về, càng lười biếng thìsản phẩm do anh ta làm ra có giá trị càng cao (vì anh ta phải tốn nhiều thời gian laođộng hơn để tạo ra nó) Lượng giá trị hàng hoá không tính theo thời gian lao động
cá biệt mà tính theo thời gian lao động xã hội cần thiết.
->> Thời gian lao động xã hội cần thiết là thời gian lao động cần để sản xuất ra một hàng hoá nào đó trong những điều kiện sản xuất bình thường của xã hội với một trình độ trang thiết bị trung bình, một trình độ thành thạo trung bình
và một cường độ lao động trung bình trong xã hội.
Điều này giải thích tại sao trong xã hội, có nhiều người cùng sản xuất mộtloại hàng hoá, trình độ tay nghề của họ khác nhau, điều kiện sản xuất có sự thuậnlợi và khó khăn khác nhau dẫn tới năng suất lao động khác nhau, nhưng hàng hoácủa họ vẫn có cùng gía trị, và được bán với cùng mức giá như nhau
Ví dụ tất cả những người thợ mộc sản xuất bàn ghế được chia làm 3nhóm (mỗi nhóm có trình độ tay nghề khác nhau, làm việc trong những điềukiện khác nhau)
Bảng 1Nhóm thợ Số lượng
SP (Bộ)
Thời gian(Giờ)
Hao phí cá biệt(Giờ/bộ)
Gía trị 1 HH(Giờ)
Trong ví dụ trên, thời gian để người thợ mộc thuộc nhóm 1 sản xuất được 1
bộ bàn ghế là 02 giờ, người thợ thuộc nhóm 2 mất 01 giờ và người thợ thuộc nhóm
Trang 173 mất 0.5 giờ, tuy nhiên giá trị mỗi bộ bàn ghế do họ làm ra đều được tính bằng 01giờ (lao động xã hội)
Thực chất thời gian lao động xã hội cần thiết chính là mức hao phí lao động
xã hội trung bình để sản xuất ra hàng hoá.
Thông thường, thời gian lao động xã hội cần thiết gần sát với thời gian laođộng cá biệt (mức hao phí lao động cá biệt) của những người sản xuất cung cấp đại
bộ phận số hàng hoá đó trên thị trường (Trong ví dụ trên, những người thợ thuộcnhóm 2 giữ vai trò quyết định thời gian hao phí lao động xã hội cần thiết để sảnxuất bàn ghế)
Thời gian lao động xã hội cần thiết là một đại lượng không cố định vì trình
độ thành thạo trung bình, cường độ lao động trung bình, điều kiện sản xuất bìnhthường ở những nước khác nhau, khu vực khác nhau là khác nhau trong khi vẫncòn tồn tại những rào cản ngăn hàng hoá lưu thông tự do giữa các nước, các khuvực, đồng thời, cùng với sự phát triển của LLSX, các yếu tố trên cũng thay đổitheo Khi thời gian lao động xã hội cần thiết thay đổi thì lượng gía trị hàng hoácũng thay đổi
Như vậy, chỉ có lượng lao động xã hội cần thiết (hay thời gian lao động xãhội cần thiết) để sản xuất ra một hàng hoá mới quyết định đại lượng giá trị củahàng hoá ấy
* Các nhân tố ảnh hưởng đến lượng gía trị hàng hoá
Trước hết khẳng định: tất cả những yếu tố ảnh hưởng tới thời gian lao động
xã hội cần thiết đều ảnh hưởng tới lượng gía trị hàng hoá ở đây chúng ta nghiêncứu 3 nhân tố cơ bản: năng suất lao động, cường độ lao động và mức độ giản đơnhay phức tạp của lao động