1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu xác định một số thông số hợp lý cơ cấu vung của máy bắn thức ăn phục vụ nuôi trồng thủy

76 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu xác định một số thông số hợp lý cơ cấu vung của máy bắn thức ăn phục vụ nuôi trồng thủy sản
Tác giả Nguyễn Đoan Hùng
Người hướng dẫn TS. Đậu Thế Nhu
Trường học Trường Đại Học Lâm Nghiệp
Chuyên ngành Kỹ thuật máy và thiết bị cơ giới hóa NLN
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2012
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 1,88 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong khi các ngành khai thác, đóng sửa tàu thuyền cá, sản xuất ngư lưới cụ, các thiết bị chế biến và bảo quản thuỷ sản trực thuộc công nghiệp nhóm A, ngành chế biến thuỷ sản thuộc nhóm

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

-*** -

NGUYỄN ĐOAN HÙNG

NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH MỘT SỐ THÔNG SỐ HỢP LÝ

CƠ CẤU VUNG CỦA MÁY BẮN THỨC ĂN PHỤC VỤ

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

-*** -

NGUYỄN ĐOAN HÙNG

NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH MỘT SỐ THÔNG SỐ HỢP LÝ

CƠ CẤU VUNG CỦA MÁY BẮN THỨC ĂN PHỤC VỤ

NUÔI TRỒNG THỦY SẢN

Chuyên nghành : Kỹ thuật máy và thiết bị cơ giới hóa NLN

Mã số : 60.52.14

LUẬN VĂN THẠC SỸ KỸ THUẬT

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS ĐẬU THẾ NHU

Hà Nội, 2012

Trang 3

1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Ngành Thuỷ sản Việt Nam đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế đất nước Quy mô của Ngành Thuỷ sản ngày càng mở rộng và vai trò của Ngành Thuỷ sản cũng tăng lên không ngừng trong nền kinh tế quốc dân

Ngành Thuỷ sản là một ngành kinh tế kĩ thuật đặc thù bao gồm nhiều lĩnh vực hoạt động mang những tính chất công nghiệp, nông nghiệp, thương mại

và dịch vụ, cơ cấu thành một hệ thống thống nhất có liên quan chặt chẽ và hữu cơ với nhau Trong khi các ngành khai thác, đóng sửa tàu thuyền cá, sản xuất ngư lưới cụ, các thiết bị chế biến và bảo quản thuỷ sản trực thuộc công nghiệp nhóm A, ngành chế biến thuỷ sản thuộc nhóm công nghiệp B, ngành thương mại và nhiều hoạt động dịch vụ hậu cần như cung cấp vật tư và chuyên chở đặc dụng thuộc lĩnh vực dịch vụ thì nuôi trồng thuỷ sản lại mang nhiều đặc tính của ngành nông nghiệp

Vì vai trò ngày càng quan trọng của Ngành Thuỷ sản trong sản xuất hàng hoá phục vụ nhu cầu tiêu dùng thực phẩm trong nước và thu ngoại tệ, từ những năm cuối của thập kỉ 90, Chính phủ đã có những chú ý trong qui hoạch

hệ thống thuỷ lợi để không những phục vụ tốt cho phát triển nông nghiệp mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển mạnh về nuôi trồng thuỷ sản, đặc biệt đối với vùng Đồng bằng Sông Cửu Long

Kể từ năm 2000, nuôi thuỷ sản đã chuyển mạnh từ phương thức nuôi quảng canh sang quảng canh cải tiến, bán thâm canh và thâm canh Nhiều mô hình nuôi thâm canh theo công nghệ nuôi công nghiệp đã được áp dụng, các vùng nuôi tôm lớn mang tính chất sản xuất hàng hoá lớn được hình thành, sản phẩm nuôi mặn lợ đã mang lại giá trị xuất khẩu rất cao cho nền kinh tế quốc dân và thu nhập đáng kể cho người lao động Một bộ phận dân cư các vùng

Trang 4

Phát triển nhanh nuôi trồng thủy sản theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa có hiệu quả , sức cạnh tranh cao và phát triển bền vững, trở thành nghành sản xuất chủ lực cung cấp nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu và tiêu dùng trong nước, đồng thời tạo nhiều việc làm, tăng thu nhập cho ngư dân, đảm bảo

an sinh xã hội, góp phần xóa đói giảm nghèo và bảo vệ an ninh quốc phòng vùng biển, đảo của Tổ quốc là một trong những nhiệm vụ quan trong của nước ta hiện nay

Mục tiêu chung chung phát triển nghành thủy sản đến năm 2020 đã được Chính phủ phê duyệt số 332/QĐ-TTg ngày 03 tháng 03 năm 2011 là đến năm

2015 sản lượng nuôi trồng thủy sản đạt 3,60 triệu tấn, trên diện tích 1,10 triệu ha; giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 3,5 - 4,0 tỷ USD, giải quyết việc làm cho khoảng 3,0 triệu lao động, đến năm 2020 sản lượng nuôi trồng thủy sản đạt 4,5 triệu tấn, trên diện tích 1,2 triệu ha; giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 5,0 - 5,5 tỷ USD, giải quyết việc làm cho khoảng 3,5 triệu người Một trong những nhiệm vụ chính là: sản xuất thức ăn, chế phẩm sinh học và vật tư thiết bị phục

vụ nuôi trồng thủy sản: phát triển nhanh ngành công nghiệp sản xuất thức ăn,

Trang 5

3

chế phẩm sinh học, vật tư thiết bị phục vụ nuôi trồng thủy sản, gắn kết với xây dựng các vùng nuôi thủy sản nguyên liệu, đồng thời đảm bảo các sản phẩm có chất lượng cao và giá thành hợp lý.Tính đến nay, rất nhiều cảng cá quan trọng đã được xây dựng theo chương trình Biển đông hải đảo, cụ thể là:

Cô Tô (Quảng Ninh), Bạch Long Vĩ và Cát Bà (Hải Phòng), Hòn Mê (Thanh Hoá), Cồn Cỏ (Quảng Trị), Lí Sơn (Quảng Nam), Phú Quí (Bình Thuận), Côn Đảo (Bà Rịa-Vũng Tàu), Hòn Khoai (Cà Mau), Nam Du, Thổ Chu và Phú Quốc (Kiên Giang) Hệ thống cảng cá tuyến đảo này sẽ được hoàn thiện đồng

bộ để phục vụ sản xuất nghề cá và góp phần bảo vệ chủ quyền an ninh vùng biển của tổ quốc.Tuy nhiên hiện nay nghành nuôi thủy sản nói chung và nuôi

cá nói riêng còn theo lối truyền thống cũ, ngư dân còn lao động chân tay nhiều , việc đưa các thiết bị máy móc, ứng dụng vào nuôi trồng thủy sản còn hạn chế, do trước đây chưa được quan tâm đúng mức, mức hỗ trợ vốn còn hạn hẹp.Việc nuôi các lồng ở biển hiện nay phát triển rất da dạng, nên việc nghiên cứu ứng dụng, thiết kế chế tạo máy móc thiết bị phục vụ cho công việc nuôi trồng thủy sản hết sức cấp thiết, với lý do trên nên Chúng Tôi chọn đề tài “

Nghiêu cứu xác định một số thông số hợp lý cơ cấu vung của máy bắn thức ăn phục vụ nuôi trồng thủy sản”

+ Ý nghĩa khoa học của đề tài: Xây dựng một số thông số tối ưu máy

bắn thức ăn dạng cánh vung phục vụ nuôi trong thủy sản

+ Ý nghĩa thực tiển của đề tài: Là cơ sở cho việc tính toán kết cấu

máy, lựa chọn được các thông số tối ưu như Tốc độ quay của đĩa vung, góc nghiêng cánh vung, vị trí cấp liệu từ đó có cơ sở cho việc thiết kế máy bắn thức ăn

Trang 6

4

Chương 1:

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1: Nghiên cứu về tình hình nuôi trồng thủy sản trên thế giới và trong nước

1.1.1 Tình hình nuôi trồng thủy sản trên thế giới [10]

Theo thống kê của FAO, tỷ lệ tăng sản lượng NTTS trung bình hằng năm của NTTS tính rừ năm 1970 tới nay là 8,9% , trong khi đó tỷ lệ tăng của thủy sản khai thác là 1,4% và của sản phẩm thịt gia súc chăn nuôi gia súc là 2,8% Sản lượng NTTS thế giới năm 2001 đạt 48,42 triệu tấn, trong đó động vật thủy sản 37,85 triệu tấn và thực vật thủy sinh đạt 10,56 triệu tấn

Tổng sản lượng NTTS thế giới năm 2000 đạt 45,71 triệu tấn , nhuyễn thể 10.73 triệu tấn, thực vật thủy sinh 10,13 triệu tấn, giáp xác 1,65 triệu tấn, động vật lưỡng cư và rùa biển 100,271 tấn Các con số trên chứng tỏ đối tượng NTTS rất phong phú và đa dạng tuy nhiên trong thực tế có tới 21,2% sản lượng NTTS toàn cầu không được báo cáo là thuộc loài nào

Có khoảng 210 loài thủy sản, kể cả thực vật thủy sinh được nuôi trồng, trong đó có 131 loài cá, 42 loài nhuyễn thể, 27 loài giáp xác, 8 loài thực vật thủy sinh, 2 loài động vật lưỡng cư và rùa biển

Nuôi biển và nước lợ ven biển chiếm 54,9%, nuôi ngọt chiếm 45,1% Trong giai đoạn hiện nay nuôi ngọt lại có mức tăng trung bình hằng năm cao nhất với 9,7%, sau đó là nuôi nước lợ 8,4% và nuôi biển tăng 8,3% Tính về sản lượng nuôi nước lợ chỉ chiếm 4,6% nhưng tính về giá trị thì chúng lại chiếm 15,7% toàn bộ giá trị NTTS

Trang 7

5

Bảng 1.1: Sản lượng NTTS thế giới theo vùng nước

Nhóm loài Tổng Nước ngọt Nước lợ Nước mặn

Cá, giáp xác,

nhuyễn thể

Q:37.851.356 V: 55.686.482

Q: 21.747.553 V: 26.504.555

Q; 2.334.782 V: 10.655.267

Q: 13.769.021 V: 18.526.660 Thực vật

Thủy sinh

Q; 10.562.279 V: 5.784.324

Q: 310

V :631

Q: 16.607 V: 22.919

Q: 10.545.362 V: 5.760.774 Tổng số Q: 48.413.635

V: 61.470.806

Q: 21.747.863 V: 26.505.186

Q: 2.351.389 V: 22.919

Q: 24.314.383 V: 24.287.434

Q: Số lượng (Tấn), V: Giá trị( Ngàn USD)

Theo thống kê của FAO, các nước đang phát triển sản xuất tới 912% lượng NTTS đặc biệt trong thời gian qua tang mạnh

- Châu Á: 41,72 triệu tấn chiếm 91,3% sản lượng toàn thế giới

- Châu Âu: 2.03 triệu tấn cgeems 4,4%

- Châu Mỹ latinh và Caribê: 0.87 triệu tấn, chiếm 1,8%

- Bắc Mỹ: 0,55 triệu tấn, chiếm 1,2%

- Châu Phi 0,40 triệu tấn, chiếm 0,9%

- Châu đại dương: 0,14 triệu tấn chiếm 0,3%

Bảng 1.2: 10 nước nuôi trồng thủy sản hàng đầu thế giới

Giá đơn vị

(USD/kg.khối lượng sống)

Trang 8

6

1.2.2.Tình hình nuôi trồng thủy sản trong nước

Thuỷ sản là ngành hàng có vị trí quan trọng trong nền kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng Đối với nước ta, thuỷ sản hiện đang cung cấp một nguồn thực phẩm quan trọng cho tiêu dùng trong nước và góp phần không nhỏ trong tổng kim ngạch xuất khẩu của nước nhà

Với tiềm năng to lớn, để phát triển thuỷ sản, cùng với việc chủ động tiếp cận thị trường, thực hiện công cuộc ”đổi mới” trong quản lý và sản xuất kinh doanh thuỷ sản, Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ, giá trị kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản đã vượt qua ngưỡng 2 tỷ đô la vào cuối năm

2002, ngày càng trở thành một ngành quan trọng, góp phần thúc đẩy sự phát triển của đất nước, tạo thêm nhiều việc làm và tăng thu nhập cho người lao động, cải tạo bộ mặt nông thôn ven biển Việt Nam Tuy nhiên, những kết quả đạt được của ngành hàng thuỷ sản chưa tương xứng với tiềm năng phát triển Đặc biệt trong bối cảnh thương mại quốc tế hiện nay, thương mại thuỷ sản đang phải cạnh tranh ngày càng gay gắt và là một trong những ngành hàng luôn phải đối mặt với những rào cản thương mại, kể cả các rào cản trá hình

Để thuỷ sản ngày càng phát triển trong xu thế hội nhập, nhất là khi Việt Nam gia nhập WTO, đòi hỏi phải có những biện pháp, bước đi thích hợp

Tiềm năng và thực trạng phát triển thủy sản Việt Nam

Việt Nam nằm ở vị trí trung tâm khu vực Đông Nam Á có diện tích đất liền là 330.991 km2, có bờ biển dài, còn phần lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế khoảng 1 triệu km2 Do trải qua nhiều vĩ độ Việt Nam cắt qua nhiều đơn vị địa chất - địa hình, khí hậu - thủy văn, thổ nhưỡng - sinh vật, làm tiền

đề cho tính đa dạng sinh thái hiếm có Việt Nam là nước có “tính biển” lớn nhất trong các nước ven biển Đông Nam Á, vùng biển rộng gấp 3 lần diện tích đất liền, biển và đất liền đã tạo nên những vùng sinh thái khác nhau với các loài vật thủy sinh đa dạng, phong phú (môi trường nước mặn xa bờ, môi trường nước mặn gần bờ)

Trang 9

7

Với 3260 km bờ biển, 12 đầm phá và các eo vịnh, 112 cửa sông, lạch, hàng ngàn đảo lớn nhỏ ven biển Trong nội địa hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt và các hồ thủy lợi, thủy điện, đã tạo cho nước ta có tiềm năng lớn

về mặt nước với khoảng 1.700.000 ha trong đó có 811.700 ha mặt nước ngọt, 635.400 ha mặt nước lợ cửa sông ven biển và 125.700 ha eo vịnh có khả năng phát triển, chưa kể mặt nước các sông và khoảng 300.000 - 400.000 ha, eo, vịnh, đầm phá ven biển có thể sử dụng vào nuôi trồng thủy sản chưa được quy hoạch

Theo những đánh giá mới nhất, trữ lượng cá biển trong toàn vùng biển khoảng 4,2 triệu tấn, trong đó sản lượng cho phép khai thác là 1,7 triệu tấn/năm, bao gồm 850 nghìn cá đáy, 700 nghìn tấn cá nổi nhỏ, 120 nghìn tấn

cá nổi đại dương Hàng năm cho khả năng khai thác tối đa 1.670 triệu tấn; cùng với cá biển, nguồn lợi tôm biển có trữ lượng 58 ngàn tấn, cho khả năng khai thác tối đa 29 ngàn tấn; với mực các loại, số tương ứng là 123 ngàn tấn

và 50 ngàn tấn Đặc điểm cơ bản của nghề cá biển Việt Nam là nghề cá đa loài, phân tán, phù hợp với nghề cá truyền thống

Bên cạnh cá, vùng biển Việt Nam còn nhiều nguồn lợi tự nhiên như trên 1.600 loài giáp xác, sản lượng cho phép khai thác 50 - 60 nghìn tấn/năm, có giá trị cao là tôm biển, tôm hùm và tôm mũ ni, cua, ghẹ; khoảng 2.500 loài động vật thân mềm, trong đó có ý nghĩa kinh tế cao nhất là mực và bạch tuộc (cho phép khai thác 60 - 70 nghìn tấn/năm); hàng năm có thể khai thác từ 45 -

50 nghìn tấn rong biển có giá trị kinh tế như rong câu, rong mơ v.v Ngoài

ra, còn rất nhiều loài đặc sản quí như bào ngư, đồi mồi, chim biển và có thể khai thác vây cá, bóng cỏ, ngọc trai, v.v

Với trên 4 triệu dân sống ở vùng triều và khoảng 1 triệu người sống ở đầm phá, tuyến đảo của 714 xã, phường thuộc 28 tỉnh, thành phố có biển và hàng chục triệu hộ nông dân, hàng năm đó tạo ra lực lượng lao động nuôi trồng thuỷ sản đáng kể chiếm tỷ trọng quan trọng trong sản xuất nghề cá

Trang 10

8

Chưa kể 1 bộ phận khá đông ngư dân làm nghề đánh cá, nhưng không đủ phương tiện để hành nghề khai thác cũng chuyển sang nuôi trồng thủy sản và lực lượng lao động vừa sản xuất nông nghiệp, vừa nuôi trồng thủy sản Đội ngũ lao động nghề cá nước ta cần cù và tự lực trong hoạt động sản xuất kinh doanh, góp phần quan trọng vào sự phát triển của ngành Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi do nguồn lợi tự nhiên mang lại, sản xuất thủy sản cũng là ngành chịu nhiều rủi ro do thời tiết và thiên tai gây nên

Về thực trạng phát triển ngành thuỷ sản Việt Nam: Hơn 20 năm qua, kể từ khi Nhà nước cho ngành thủy sản thử nghiệm cơ chế “tự cân đối, tự trang trải” đến thực hiện cơ chế thị trường nhiều thành phần kinh tế, nhất là những năm gần đây, thực hiện chủ trương chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp, nông thôn và chuyển dịch cơ cấu bản thân bộ, ngành Ngành Thuỷ sản

đã tự khẳng định bằng các chỉ số liên tục phát triển, với tốc độ khá cao trong 2

thập kỷ qua

Nuôi trồng thuỷ sản là một ngành sản xuất động thực vật thuỷ sinh trong điều kiện kiểm soát hoặc bán kiểm soát, hoặc như người ta vẫn thường nói, nuôi trồng thuỷ sản là sản xuất nông nghiệp trong môi trường nước Vì vậy, nuôi trồng thuỷ sản đề cập đến cả các hoạt động trong môi trường nước mặn, nước ngọt và nước lợ

Kể từ hơn 2 thập kỷ qua, Việt Nam cũng từng bước tham gia vào phong trào phát triển NTTS của thế giới và đã đạt được nhiều kết quả khả quan Năm 2003, sản lượng NTTS đạt 1.110.138 tấn và còn nhiều khả năng tăng hơn nữa trong các năm tới

Tuy nhiên, đứng về góc độ quản lý, ngành NTTS thế giới nói chung và của Việt Nam nói riêng đang phải đối mặt với nhiều vấn đề Nếu những người NTTS không có được những giải pháp nhanh chóng, hiệu quả và đồng nhất thì không thể phát triển NTTS bền vững được Ngoài các vấn đề về kỹ thuật

Trang 11

9

nuôi và sản xuất giống để có thể nâng cao năng suất và chất lượng thuỷ sản nuôi, đa dạng hoá đối tượng nuôi, loại hình nuôi, phát triển công nghệ sinh học trong NTTS, sản xuất thức ăn phù hợp, các biện pháp phòng trị bệnh, phương pháp bảo quản sau thu hoạch, v.v vốn là các vấn đề mà nghề nuôi truyền thống yêu cầu còn rất nhiều vấn đề mà bất cứ một nhà quản lý, nghiên cứu về NTTS nào cũng phải nhận thức một cách sâu sắc tầm quan trọng của chúng Ðó là sự ô nhiễm môi trường ngày càng gia tăng do ảnh hưởng của các hoạt động nuôi; Tình trạng nhiễm hoá chất và kháng sinh trong thuỷ sản nuôi làm ảnh hưởng tới sức khoẻ của người tiêu thụ; Tình trạng lan truyền mầm bệnh ở các vùng nuôi do hoạt động di giống, nhập giống TS trên toàn cầu và tình trạng cấp thoát nước bừa bãi; Sự phát triển vùng nuôi thiếu quy hoạch và đầu tư lâu dài đã trở thành một nguy cơ trước mắt đối với nhiều nước phát triển NTTS quá nhanh; Và trên hết là sự cạnh tranh khốc liệt trên thương trường đòi hỏi các nước sản xuất phải liên tục tăng chất lượng và hạ giá thành sản phẩm trong khi vẫn giữ được sự phát triển bền vững, đồng thời lại phải hết sức nhanh nhạy trong công tác xúc tiến thương mại để chiếm lĩnh thị trường

Nuôi trồng thuỷ sản được xác định là nguồn chính cung cấp nguyên liệu cho xuất khẩu, cho an ninh thực phẩm, xoá đói giảm nghèo và là ngành có nhiều tiềm năng để phát triển nhanh trong thời gian tới Ngay từ những năm đầu của thập kỷ 90, nuôi trồng thuỷ sản đã bắt đầu khởi sắc, tuy nhiên, phải đến 4 năm gần đây nuôi trồng thuỷ sản mới thực sự có bước phát triển mới cả

về diện tích nuôi lẫn phương thức và đối tượng nuôi Năng suất và sản lượng liên tục tăng lên, giải quyết thêm nhiều công ăn việc làm cho lao động nông thôn và ven biển, giúp chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, phát triển nông thôn, giảm sức ép gia tăng cường lực khai thác hải sản

Trang 12

10

Đối tượng nuôi được mở rộng, trong đó đã chú ý nuôi các đối tượng có giá trị xuất khẩu: tôm sú, tôm hùm, tôm càng xanh, cá tra, ba sa, cá song Tuy nhiên, đối tượng chính để xuất khẩu vẫn tập trung vào tôm sú, cá tra, ba

sa Các đối tượng khác chỉ nuôi ở mức sản lượng thấp cho tiêu dùng trong nước, giá thành sản xuất cao

Diện tích nuôi trồng thủy sản 6 tháng đầu năm 2010 đạt 972.500 ha, tăng 3,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích nuôi cá 312.000 ha, tăng 8%; diện tích nuôi tôm 623.500 ha, tăng 3%

Sản lượng thuỷ sản nuôi trồng 6 tháng đầu năm ước đạt 1,207 triệu tấn, tăng 5,2% so với cùng kỳ năm trước; trong đó cá đạt 964.600 tấn, tăng 5,5%; tôm 143.500 tấn (trong đó tôm chân trắng ước 26.700 tấn), tăng 6,1%

Thời tiết nhìn chung ảnh hưởng rất tiêu cực đối với nuôi trồng thuỷ sản do hạn hán, thiếu nguồn nước ngọt và nắng nóng Người nuôi tôm ở nhiều địa phương vẫn ra sức khắc phục khó khăn để nâng cao cả diện tích và sản lượng

do giá tôm sú và tôm chân trắng nguyên liệu đều cao, tăng tới 20-30.000đ/kg

so với cùng kỳ năm trước Theo báo cáo của Vụ Nuôi trồng thuỷ sản, Tổng cục Thuỷ sản, diện tích nuôi tôm bị thiệt hại do bệnh chiếm khoảng 3,54% tổng diện tích đã thả nuôi, là tỷ lệ không cao so với các năm trước Ðặc biệt, các cơ sở sử dụng tôm giống sạch bệnh có nguồn gốc bảo đảm và quản lý đúng chỉ dẫn kỹ thuật đều đạt năng suất và lợi nhuận cao

Sản lượng cá tra đã thu hoạch ước đạt 757.000 tấn, năng suất nuôi bình quân 1 vụ trong toàn vùng vùng đồng bằng sông Cửu Long đạt 106 tấn/ha, tăng 16 tấn/ha so với cùng kỳ năm trước.Một số tỉnh đạt sản lượng thủy sản nuôi lớn là Tiền Giang (59.236 tấn, trong đó có 17.000 tấn cá tra), Vĩnh Long (77.500 tấn - 69.930 tấn cá tra), An Giang (163.104 tấn - 103.342 tấn cá tra), Ðồng Tháp (172.250 tấn - 148.000 tấn cá tra), Cần Thơ (72.672,75 - 65.210 tấn cá tra)

Trang 13

tự động trên thị trường Ăn tự động đặc biệt phù hợp với hệ thống thâm canh

và thức ăn của bể cá con vườn ươm, cần phải thường xuyên, liều lượng nhỏ thức ăn Ăn tự động có chế độ ăn khô Chế độ ăn ẩm là khó khăn để phân chia tự động bởi vì kết cấu của nó

+ Thiết bị cho ăn thức ăn khô:

Thức ăn không nhất thiết phải được thực hiện quanh ao Nó có thể được đẩy vòng trong một chiếc xe cút kít, hoặc nếu ao lớn thức ăn có thể được kéo trong một xe tải hoặc máy kéo.Sau đó có thể được dùng xẻng xúc hoặc ném vào ao nuôi.Thức ăn có thể được phân phối hiệu quả hơn theo cách này với sự giúp đỡ cơ khí Gần như tất cả các thiết bị loại này phụ thuộc vào một thiết bị thổi được hỗ trợ bởi các xe tải hoặc động cơ máy kéo Thức ăn chăn nuôi được phát hành vào quạt tuabin của các nhà điều hành kiểm soát thời gian (và

do đó lượng thức ăn) và sự chỉ đạo, trong đó nó được đẩy ra Điều này sau đó vẫn là một hình thức, mặc dù máy móc hỗ trợ, hướng dẫn sử dụng cho ăn trong loại thiết bị này có thể chứa 3-4 tấn thức ăn chăn nuôi tại một thời điểm

và máy thổi sẽ phân phối thức ăn chăn nuôi trên một diện tích lên đến 6 x 3 m từng lần hoặc cho đến một khoảng cách 20 m từ bờ ao

+ Loại Khí nén

Vận tốc bay của hạt theo nguyên lý này được tạo ra nhờ động năng của dòng khí có vận tốc cao Về nguyên tắc thiết bị này không khác nhiều so với nguyên lý vận chuyển khí động của hạt rời Tuy nhiên về chế độ làm việc, hạt

Trang 14

12

cần có một vận tốc rất lớn (tới 15 m/s), vận tốc khí cần thiết sẽ lớn hơn nhiều

so với việc vận chuyển hạt thông thường

Ưu điểm của nguyên lý khí động:

- Hạt ít bị vỡ;

- Dễ dàng điều chỉnh hướng bay của hạt;

- Dễ cấp liệu do có thể tạo được áp suất âm trước cửa nạp liệu Nhược điểm:

- Tiêu hao công suất lớn;

- Thiết bị đắt tiền hơn so với máy làm việc theo phương án 1 Trên hình 1.8 và bảng 1 là hình ảnh và đặc tính kỹ thuật của máy bắn thức

ăn của hãng TechnoSEA

Hình 1.1 Máy bắn thức ăn Akva UNICUM 330-L của hãng TechnoSEA

Trang 15

13

Bảng 1.3 Đặc tính kỹ thuật của máy bắn thức ăn Akva UNICUM 330-L

Đặc tính kỹ thuật MINI –330 L Thể tích thùng chứa 330 litri-218 kg

- Loại 1

Thức ăn được kiểm soát bởi một nam châm điện Các khoang 'B' điều

chỉnh lượng thức ăn do chuyển động của 'A'

Hình 1.2 Sơ đồ cấp thức ăn loại sử dụng nam châm điện

Trang 16

14

+ Loại 2

Đây là máng thức ăn bao gồm hai phần Sự chuyển động của hạt bên trong được điều khiển bởi một nam châm điện, khi các lỗ trùng, thức ăn rơi xuống

Hình 1.3 Sơ đồ cấp thức ăn dạng máng

+ Loại 3

Thức ăn được cấp từ phễu và nhờ trục xoắn đưa ra ngoài

Hình 1.4 Sơ đồ cấp thức ăn dạng trục xoắn

Trang 18

16

Hình 1.7 Sơ đồ cấp thức ăn dạng gai lật.

+ Cầu cho ăn

Có nhiều loại khác nhau, nhưng nguyên tắc chung là như nhau, loại này thường không thích hợp cho cá nhỏ

Thức ăn được cấp từ phễu khi cá tác động vào cần của cầu cho ăn

Trang 19

17

Hình 1.8 Cấp thức ăn bằng cầu

+ Thiết bị cho ăn thức ăn ướt

Cung cấp thức ăn có độ ẩm cao là khó khăn hơn nhiều hơn so với thức ăn khô Tuy nhiên, các nguyên tắc liên quan trong một số ăn khô có thể được điều chỉnh phù hợp để sử dụng với nguồn cấp dữ liệu ẩm Các ví dụ được đưa

ra trong phần trên có thể được sửa đổi cho mục đích này nhưng bình thường

sẽ cần phải được tái thiết kế để thức ăn không dính lại với nhau Tại Nhật Bản, nơi mà cá nhỏ 'thùng rác' thường được sử dụng để nuôi lớn nuôi trồng thủy sản lồng, nuôi được thực hiện theo cách sau Thức ăn là thuyền bên cạnh lồng Cùng với thuyền nuôi chính nó là một sà lan đầy đủ của cá 'thùng rác' Một ống hút được đưa vào sà lan và, bằng cách sử dụng một máy bơm trên tàu nuôi, thức ăn bị hút vào nó Từ đó thức ăn được chuyển đến trung tâm của cái lồng bằng cách sử dụng nước bơm qua một đường ống

Trang 20

18

Hình 1.9 Ống cấp thức ăn cho lồng nuôi

Hình 1.10 Máy bơm thức ăn cho lồng nuôi

Hình 1.11 Sơ đồ cấp thức ăn dạng thủy động

Trang 21

19

Hình 1.12 Sơ đồ cấp thức ăn dạng sàng rơi

Hình 1.13 Sơ đồ cấp thức ăn dạng giỏ treo

Khác với nguyên lý vận chuyển bằng khí khí động, ở đây thay cho môi chất vận chuyển là không khí thì nguyên lý này sử dụng chất lỏng (nước) Ngoài các ưu nhược điểm của nguyên lý khí động nguyên lý dùng môi chất là nước còn khó khăn hơn trong vấn đề cấp liệu do việc tạo ra áp suất âm trước miệng nạp liệu Vì thế thông thường với nguyên lý này cần có một bộ phận nạp liệu đặc biệt.(hình 2)

Trang 22

20

Hình 1.14 máy cấp thức ăn dạng thủy động

Với những lý do trên chúng tôi lựa chọn nguyên lý bằng cánh vung để nghiên cứu thăm dò

1.3 Tổng quan về các máy dạng cách vung

Nguyên lý vung nhờ các cánh vung làm việc theo nguyên lý tương tự như các máy vung phân trong nông nghiệp Bộ phận chính của máy bao gồm đĩa vung có cánh vung, dùng để gia tốc hạt đến một vận tốc cần thiết để có thể bay xa đạt khoảng cách yêu cầu Để hạt có thể bay chụm theo một hướng nhất định cần có thêm vỏ gom, tương tự như vỏ quạt

Lực quán tính kết hợp lực ly tâm khi vật liệu dạng hạt chuyển động quay nhờ các cánh vung và bị ném hắt ra ngoài theo phương tiếp tuyến

Theo dạng này vật liệu được hắt ra ngoài tốc độ và tầm xa phụ thuộc nhiều yếu tố, đó là tốc độ quay của đĩa vung, đường kính đĩa vung, vị trí cấp liệu đầu vào, góc nghiêng cánh vung

Trang 23

21

Hình 1.15 Sơ đồ kết cấu máy bắn thức ăn theo nguyên lý cánh vung

Cánh vung lắp trên đĩa vung có thể có nhiều dạng: thẳng, cung tròn, đường loga… Cách lắp cánh được chí thành 3 dạng: Lắp nghiêng về sau; lắp hướng kính và lắp nghiêng về phí trước

Loại cánh nghiêng về sau cho vận tốc bắn ra lớn hơn tuy nhiên, hạt dễ bị

vỡ nát do giữa cánh vung và vỏ quạt tạo thành vùng ép và miết hạt

Loại cánh nghiêng hướng kính có làm giảm được hiện tượng chèn ép hạt nhưng làm tăng vận tốc đập vuông góc của hạt lên vỏ quạt làm tăng khả năng

 - vận tốc góc của đĩa vung;

l - khoảng cách từ tâm đĩa tới tâm cánh vung (hình4)

 - góc quay của hạt theo cánh quay

Trang 24

22

Hình1.24 Sơ đồ động lực học của hạt trên cánh vung

Khảo sát chuyển động của hạt với các thông số kết cấu (đường kính ngoài, đường kính trong, tốc độ quay của cánh vung, góc nghiêng vào và ra của cánh)

Máy phải đảm bảo:

- Vận tốc va đập ban đầu của hạt với cánh: 2,94 m/s

- Vận tốc bắn của hạt: 15,6 m/s

- Vận tốc va đập của hạt với vỏ quạt : 14,5 m/s

- Vận tốc va đập của hạt với vỏ quạt theo phương hướng kính: 7,25 m/s

- Tầm bắn xa tính toán: 15 m (chưa tính đến lực cản không khí)

Kết luận chương 1

Trên thế giới nói chung cũng như ở việt nam vấn đề cơ giới hóa phục vụ nuôi trồng thủy sản là rất cấp thiết, đã có nhiều nhà khoa học nhiều đề tài nghiên cứu về vấn đề này Nhưng qua tìm hiểu thực tế thì máy cấp thức ăn phục vụ nuôi trồng thủy sản bằng nguyên lý cánh vung thì chưa có ở Việt Nam, nguyên lý máy có hiệu quả rất đặc biệt cho nuôi lồng quy mô lớn

Trang 25

23

Chương 2

MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Mục tiêu nghiên cứu:

Đưa ra được một số thông số tốt ưu cho việc thiết kế bộ phận vung hạt máy bắn thức ăn phục vụ nuôi trồng thủy sản

2.2 – Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.2.1: Đối tượng:

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: bộ phận vung hạt của máy bắn thức

ăn phục vụ nuôi trồng thuỷ sản

+ Tầm bắn xa của máy:

Theo yêu cầu công nghệ với lồng cá có đường kính15 - 20 m (Thiết kế cho nhiều loại lồng) cùng với khoảng cách tàu tới mép lồng khoảng 2 m Tầm bắn xa của máy phải đạt từ 15 m

2.3 Nội dung nghiên cứu:

2.3.1 Nghiên cứu lý thuyết:

+Lựa chọn kết cấu và nguyên lý hoạt động của bộ phận vung hạt

Trang 26

24

Hình 2.1 Sơ đồ nguyên lý máy bắn thức ăn phục vụ nuôi trồng thủy sản

+ Tính toán sơ bộ các thông số của bộ phận vung hạt

- Góc nghiêng cánh vung

Là góc tạo bởi giữ đường nối tâm đĩa vung với điểm cuối cánh và mặt bên

của cánh vung, góc nghiêng cánh vung là góc ảnh hưởng rất lớn đến quá trình bắn hạt đặc biệt là tầm xa bắn

Trang 28

- Tốc độ quay của đĩa vung n ( vòng/phút)

2.3.2 Nghiên cứu thực nghiệm:

+ Khảo sát tầm xa bắn của hạt thức ăn

+ Khảo sát độ vỡ vụn của hạt thức ăn

+ Khảo sát ảnh hưởng của một số thông số cơ bản của bộ phận vung tới tầm bắn và độ vỡ vụn của hạt

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết:

Dựa trên các nguyên tắc chung của các phương pháp lập và giải các bài toán trong cơ học như tĩnh học, động lực học trên cơ sở các định luật của Niu tơn, từ đó lập các phương trình cân bằng của hệ và các phương trình

vi phân chuyển động tương đối của hạt thức ăn trong tọa độ Đề các, tọa độ trụ Sử dụng các biến đổi toán học để đưa các phương trình về dạng đơn giản

và tìm lời giải , từ các điều kiện biên xác định các hằng số tích phân Sử dụng

Trang 29

27

các phương pháp giải tích, phương pháp số để tìm lời giải cho các phương trình toán học dưới sự trợ giúp của máy tính cá nhân Các bài toán được giải

và khảo sát theo chương trình của ngôn ngữ Pascal, Excel hoặc table curve

2.4.2 Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm

+ Phương pháp xử lý số liệu thí nghiệm

Kết quả đo đạc các số liệu thí nghiệm được xử lý theo phương pháp thống

kê toán học, nhằm xác định độ tin cậy của ước lượng quan hệ giữa các yếu tố vào và các thông số ra, đánh giá độ thuần nhất của phương sai thí nghiệm để chỉ ra mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến thông số ra, đồng thời đánh giá

sự tồn tại đáng kể hay không của các nhân tố ngẫu nhiên

Khi đo lường các đại lượng cần lặp lại một số lần để đảm bảo độ chính xác của kết quả đo, đồng thời cần đánh giá sơ bộ giá trị đo đượcvà tiến hành loại bỏ hoặc hiệu chỉnh các thí nghiệm khi hiệu số giữa hai giá trị đo vượt quá sai số cho phép của dụng cụ đo Trong nghành máy nông nghiệp xác suất tin cậy 0,8 đến 0,95, số lần lặp lại thí nghiệm m=3 Thuật toán phân tích phương sai để xác định độ tin cậy và độ thuần nhất của chúng được thực hiện theo trình tự sau:

a, Đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố vào

- Xác định phương sai thí nghiệm điểm thứ i

m

i j

i ij

(2.1)

Trong đó : m là số lần lặp ở điểm thứ i;

Y ij là giá trị thông số ở điểm thứ i, lần lặp thứ j;

Y i là giá trị trung bình thông số ra ở điểm thứ i;

Phương sai trong các điểm thí nghiệm được xác định theo công thức;

S2 =

) 1 (

) (

Y Y

M

i m

j ij

( 2.2)

Trang 30

28

Trong đó: m là số điểm thí nghiệm

- Tổng bình phương sai lệch ở thí nghiệm giữa giá trị trung bình tổng thể

Y với giá trị trung bình ở mỗi điểm thí nghiệm Y i hay phương sai yếu tố

M

i i

(2.3) Trên cơ sở tính được giá trị phương sai trong các điểm thí nghiệm 2

hai bậc tự do M-1 và M(m-1)

b, Đánh giá thuần nhất phương sai

Tính thuần nhất của phương sai được đánh giá qua chuẩn Kohren:

i

S S

1 2

Giá trị Koheren Gb tra trong bảng chuẩn với xác suất quy định trong nông nghiệp  = 0,05 và hai bậc tự do m-1 và M

Trang 31

29

+ Phương pháp thực nghiệm đơn yếu tố

Trong quá trình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến tầm xa bắn và độ

vỡ vụn của hạt thức ăn, chúng tôi áp dụng phương pháp thực nghiệm đa yếu

tố, trước khi thực nghiệm phương pháp này đã sử dụng phương pháp đơn yếu

tố để xác định khoảng biến thiên và mức biến thiên thích hợp Trong nghiên cứu thực nghiệm đơn yếu tố cần cố định các yếu tố khác, chỉ thay đổi một số yếu tố vào để xác định ảnh hưởng của nó đến thông số ra Khoảng biến thiên của từng yếu tố được phân thành 5 mức đều nhau Khoảng biến thiên và mức

cơ sở được xác định qua kết quả nghiên cứu lý thuyết và thí nghiệm thăm dò trên các mô hình nghiên cứu, mỗi thí nghiệm lặp lại 3 lần

Kết quả thí nghiệm được tính toán xử lý theo chương trình máy tính của Viện Cơ điện Nông nghiệp và Công nghệ sau thu hoạch hoặc chương trình table curve đã được kết nối với chương trình xử lý phương sai thực nghiệm Mức ý nghĩa của hệ số hồi quy được kiểm tra theo tiêu chuẩn student và tính tương thích của mô hình toán kiểm tra theo tiêu chuẩn Fisher Điều kiện để chọn mô hình toán là hệ số của mô hình chọn có chỉ số Fisher nhỏ nhất, ảnh hưởng của các yếu tố vào đối với hàm chỉ tiêu được trình bày đưới dạng đồ thị Dựa vào các phương trình thực nghiệm và đồ thị cho phép đánh giá, phân tích mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố của hàm chỉ tiêu để đưa vào thực

nghiệm đa yếu tố

+ Phương pháp quy hoạch thực nghiệm đa yếu tố

Căn cứ vào nhiệm vụ nghiên cứu đã đặt ra của đề tài, múc tiêu nghiên cứu thực nghiệm là nhằm xác định ảnh hưởng của một số yếu tố vào tới các thông

số ra của máy bắn thức ăn phục vụ nuôi trồng thủy sản là tầm xa bắn của máy,

và độ vỡ vụn của hạt thức ăn Thông qua nghiên cứu thực nghiệm sẽ xác định chế độ tối ưu của bộ phận vung hạt

Mô hình bài toán được thể hiện trên hình 2.5

Trang 32

30

X1 Y1

X2 Bộ phận vung hạt Y2

X3 Y3

Hình 2.5 Mô hình bài toán của bộ phận vung hạt

Mục tiêu nghiên cứu thực nghiệm là nhằm xác định các thông số bộ phận vung từ đó xác định Tầm xa bắn, đội vỡ vụn có thể chấp nhận được trong thực tế hiện nay Trên cơ sở phân tích các kết quả nghiên cứu lý thuyết cho tháy hàm tầm xa bắn và hàm độ vỡ vụn là hàm bậc hai

Kế hoạch thực nghiệm chia làm hai nhóm đối xứng và không đối xứng

So với kế hoạch không đôí xứng, các kế hoạch đối xứng có trình tự sắp xếp các điểm thí nghiệm chặt chẽ, rõ ràng hơn

Trong các kế hoach đối xứng chúng tôi chọn kế hoạch hợp thành dạng

Bn có điểm ở tâm vì kế hoạch này xây dựng đơn giản, các thông số biến đổi ở

Trang 33

trong phương án Bn này, tổng số thí nghiệm là:

N= up

2 + 2u + N0 (2.7) Trong đó: up

2 là số lần thí nghiệm ở phần cơ sở còn gọi là phần hạt nhân; 2u là số thí nghiệm ở điểm sao

No là thí nghiệm ở phần trung tâm cần bổ sung

Với yếu tố đầu vào u=3, số rút gọn p = 0 thì:

i u

i j

j i ij i

1 1 1

.

các hệ số b0, b i, b ij, b ii được xác định theo chương trình xử lý số liệu trên máy tính Dựa vào chương trình trên có thể kiểm tra tính tương thích của mô hình toán, chuyển phương trình hồi quy từ dạng mã sang dạng thực, tìm giá trị cực trị của hàm mục tiêu và đánh giá mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố đến hàm mục tiêu

b, Phương pháp kiểm tra tính phù hợp của mô hình tính toán

Sau khi xác định các hệ số của mô hình hồi quy cần tiến hành kiểm tra mức ý nghĩa của các hệ số hồi quy theo tiêu chuẩn Student và kiểm tra tính thích ứng của mô hình toán theo tiêu chuẩn Fisher

- Kiểm tra tính thích ứng của mô hình theo tiêu chuẩn Fisher bằng cáh so sánh giữa phương sai tuyển chọn 2

Trang 34

y là giá trị trung bình thực nghiệm của hàm tại điểm thí nghiệm i;

yˆ i là giá trị tính toán theo mô hình tại điểm i

*

k là số các hệ số trong mô hình hồi quy

Phương sai do nhiễu tạo nên 2

j

i ij M

i

m M

S

2 1

2

) (

) 1 (

1 1

S

S m

- Kiểm tra mức ý nghĩa của các hệ số hồi quy Mức độ ảnh hưởng của yếu

tố vào được đánh giá thông qua việc kiểm tra mức ý nghĩa của các hệ số hồi quy theo tiêu chuẩn Student

- Chuẩn Student của từng hệ số hồi quy được tính toán theo công thức:

Trang 35

33

0

b ; b i là giá trị các hệ số hồi quy cần kiểm tra.Nếu chuẩn Studdent của

hệ số hồi quy t i nào đó lớn hơn chuẩn student tra bảng t b thì hệ số đó có ý nghĩa Chuẩn t bđược tra bảng với bậc tự do = M(m-1) với mức ý nghĩa là 2

/

c, Chuyển phương trình hồi quy từ dạng mã sang dạng thực

Để mô tả quá trình nghiên cứu bằng mô hình toán được thể hiện qua mối quan hệ hàm giữa y ix i = (x i1, x i2…….x iu) tiến hành chuyển phương trình hồi quy sang dạng thực bằng cách thay:

i

io i

i

X X

x

 , i=1…….u vào phương trình hồi quy dạng mã (2.8) ta được

phương trình hồi quy dạng thự y = B0+    

i u

i j

j i ij i

1 1 1

.

(2.14)

d, Tìm tọa độ điểm đặc biệt của bề mặt hàm chỉ tiêu

Từ phương trình hàm hồi quy (2.8) có thể xác định được giá trị cực trị của hàm mục tiêu bằng cách lấy đạo hàm riêng của phương trình hàm mục tiêu

theo từng yếu tố và cho tất cả các đạo hàm riêng đó bằng không, sẽ nhạn được

u s

s

x , 2, ) Tahy các giá trị s

j

s j s i ij i

s u

i

b

1 1 1

e, Chuyển phương trình hồi quy sang dạng chính tắc

Trang 36

34

Để phương trình hồi quy ở dạng đơn giản hơn và phản ánh rõ tính chất hình học của nó, cần chuyển phương trình hồi quy từ dạng mã sang dạng chính tắc bằng cách rồi gốc tọa độ 0(x1 0 ;x2 0 ; x u  0 )về điểm đặc biệt S

u

i ii

(2.17) Trong đó : y slà cực trị của hàm mục tiêu;

X~ là các thông số vào theo hệ tọa độ mới;

B ii là hệ số của phương trình chính tắc

Các hệ số của phương trình chính tắc Bii được xác định bằng chương trình lập sẵn trên máy tính Mục đích của bước này là đưa phương trình hồi quy về dạng chính tắc để xác định xem vị trí tối ưu của các yếu tố ảnh hưởng nằm ở vị trí bên trong hay biên của vùng nghiên cứu Dựa vào dấu của B ii có thể xác định được đặc tính của mô hình toán đang nghiên cứu:

- Khi B ii cùng dấu thì mô hình có giá trị cực trị

- Khi B ii>0 thì bề mặt của đồ thị mô tả vùng nghiên cứu có cực tiểu và nếu

ii

B <0 có cực đại

- Khi B ii có dấu khác nhau thì bề mặt vừa có cực tiểu vừa có cực đại (dạng yên ngựa)

2.5 Cơ sở vật chất thí nghiệm, thiết bị dụng cụ đo đạc

- Để xác định n thì thông qua bộ puly đai truyền để ta xác định được số

vòng quay

Trang 37

- Xác định độ vỡ bằng cách cân lượng hạt vỡ vụn( bột) bằng cân đĩa

- Xác định tầm xa bắn bằng cách đo bằng thước dây

Trang 38

36

Chương 3

CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI

3.1 Sơ lược về tình hình sản xuất thức ăn viên ở nước ta

Từ sau năm 1975 thức ăn chăn nuôi dạng viên ở nước ta vắng mặt trên thị trường cũng như ngành chăn nuôi Việt Nam chỉ có thức ăn dạng bột mà thôi Vào đầu năm 1993 thức ăn chăn nuôi dạng viên thực sự trở lại với thị trường Việt Nam, nó được xem là sự hiện diện mới nhất và mang lại cho nghành chăn nuôi nhiều lợi ích

Hiện nay, thức ăn dạng viên đã tìm được vị trí vững chắc trong nghành chăn nuôi ở nước ta

Đầu tiên xí nghiệp thức ăn gia súc VIFOCO đã đưa thức ăn dạng viên vào quy trình sản xuất của xí nghiệp vào tháng 2 năm 1993, với nhiều thiết bị nhập từ Mỹ Sau đó xí nghiệp đã nhập bộ khuôn mới vào từ đó và từ đó xí nghiệp đã bắt đầu đi vào ổn định với năng suất cả nhà máy có thể đạt từ 4-6 (tấn/h) Nhưng sản phẩm xí nghiệp lúc này vẫn chưa được tiêu thụ mạnh do người nông dân chưa quen loại thức ăn này vào trong chăn nuôi đồng thời giá thành còn cao, chất lượng còn thấp do hệ thống quá cũ

Tiếp theo sau đó vào tháng 9 năm 1993 xí nghiệp chế biến thức ăn gia súc Việt Thái đã phục hồi dây chuyền sản xuất tương tự như dây truyền sản xuất của xí nghiệp VIFOCO, năng suất có thể đạt từ 4-6 (tấn/h) nhưng vấn đề về chất lượng thời gian đầu vẫn chưa được thỏa mãn, xong xí nghiệp đã đạt được những thành quả nhất định

Tháng 7 năm 1994 xí nghiệp chế biến thức ăn gia súc PROCONO bắt đầu

đi vào hoạt động với dây truyền sản xuất thức ăn viên của Pháp, năng suất 6 tấn/h

Tháng 1/1995 nhà máy chế biến thức ăn An Phú đã tiến hành lắp ráp dây chuyền ép viên và đi vào hoạt động tháng 3/1995 với dây chuyền máy Pellet

Ngày đăng: 13/06/2021, 09:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Xuân Hảo, Lương Quý Cường, Đoàn Xuân Thìn (2001). Cơ sở lý thuyết xác định một số thông số của bộ phận cắt lát mỏng khoai tây kiểu trống ly tâm, Hội thảo quốc tế về cơ giới hóa nông nghiệp, những vấn đề ưu tiên trong giai đoạn phát triển mới, Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý thuyết xác định một số thông số của bộ phận cắt lát mỏng khoai tây kiểu trống ly tâm
Tác giả: Lê Xuân Hảo, Lương Quý Cường, Đoàn Xuân Thìn
Nhà XB: Nxb. Nông nghiệp
Năm: 2001
2. Trần Mạnh Hùng, Phạm Văn Lang, Hà Quốc Minh (1998), Đo lường và thử nghiệm về cơ điện nông nghiệp trong thời kỳ mới, Cơ điện khí hóa nông nghiệp với vấn đề công nghiệp hóa, hiện đại hóa nghiệp và nông thôn.Nxb. Nông nghiệp, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đo lường và thử nghiệm về cơ điện nông nghiệp trong thời kỳ mới
Tác giả: Trần Mạnh Hùng, Phạm Văn Lang, Hà Quốc Minh
Nhà XB: Nxb. Nông nghiệp
Năm: 1998
5. Phạm Văn Lang, Bạch Quốc Khang (1998), Cơ sở lý thuyết quy hoạch hóa thực nghiệm và ứng dụng trong kỹ thuật nông nghiệp, Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý thuyết quy hoạch hóa thực nghiệm và ứng dụng trong kỹ thuật nông nghiệp
Tác giả: Phạm Văn Lang, Bạch Quốc Khang
Nhà XB: Nxb. Nông nghiệp
Năm: 1998
6. Đậu Thế Nhu (1996), Chương trình xử lý thực nghiệm và ứng dụng trong cơ giới hóa nông nghiệp, Báo cáo khoa học Viện cơ điện nông nghiệp và Chế biên nông sản, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình xử lý thực nghiệm và ứng dụng trong cơ giới hóa nông nghiệp
Tác giả: Đậu Thế Nhu
Năm: 1996
7. Đào Quốc Triệu (1986- 1991), Phương án giải bài toán tối ưu tổng quát khi nghiên cứu quá trình phức tạp với sự áp dụng của quy hoạch hóa thực nghiệm và vi tính. Tuyển tập các công trình nghiên cứu khoa học kỹ thuật, Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương án giải bài toán tối ưu tổng quát khi nghiên cứu quá trình phức tạp với sự áp dụng của quy hoạch hóa thực nghiệm và vi tính
Nhà XB: Nxb. Nông nghiệp
4. Phạm Văn Lang (1985), Cơ sở lý thuyết quy hoạch hóa thực nghiệm và ứng dụng trong kỹ thuật nông nghiệp, Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm