Mã số: 60.62.01.12 Mục đích nghiên cứu của luận văn Xác định được thành phần ruồi đục quả giống Bactrocera trên ổi tại Thanh Hà – Hải Dương; nghiên cứu các đặc điểm sinh học của loài r
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
- Điều tra thành phần ruồi đục quả tại huyện Thanh Hà- Hải Dương
- Thí nghiệm nuôi sinh học tại chi cục Kiểm dịch thực vật vùng 1 – Hải Phòng
- Đề tài được thực hiện từ tháng 3/2016 – 11/2016.
ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
- Ruồi đục quả giống Bactrocera (họ Tephritidae bộ Diptera) gây hại chính trên quả ổi đài loan.
VẬT LIỆU VÀ DỤNG CỤ NGHIÊN CỨU
- Cây trồng: Cây ổi giống ổi đài loan (Psidium guajava) 5 năm tuổi
- Thức ăn cho ruồi trưởng thành và ấu trùng:
Thức ăn nuôi ruồi trưởng thành
Thành phần Protein Đường Nước
Thức ăn nuôi trưởng thành trên được trộn đều với nhau, xay nhuyễn bằng máy xay sinh tố, chuyển hỗn hợp vào bảo quản trong ngăn đá tủ lạnh Thay thức ăn cho trưởng thành 3 ngày/lần
Thức ăn nuôi sâu non
Thành phần Thịt quả ổi Torula yeast Đường trắng nipagin
- Thức ăn nuôi sâu non: Quả ổi chín rửa sạch cho xay nhỏ và dùng máy quấy trộn với các thành phần đã nêu trên sao cho thật nhuyễn, để trong ngăn đá tủ lạnh sau 24h lấy ra cho rã đông Khi thức ăn rã đông hoàn toàn mới đem sử dụng cho thí nghiệm nuôi sâu non của ruồi đục quả (Allwood, 1996)
- Vật liệu khác: bông, giấy thấm, khăn lau, màn, mùn cưa tiệt trùng, đĩa petri, bút lông…
- Phòng nuôi ruồi đục quả có điều hòa nhiệt độ 26- 28 0 C
- Bẫy giới tính Multilure: Có cấu tạo hình trụ (Hình 3.5) có hai phần lắp ghép Phần trên trong suốt và phần đế bên dưới màu vàng, bẫy cao 18 cm có đáy rộng 15 cm Phần bên trên và phần đế có thể tách rời để tiện cho việc vệ sinh và đặt lại mồi nhử Bẫy có 2 cửa nằm đối xứng nhau, mỗi cửa rộng 3 cm, dài 5 cm bên trên cửa bẫy có khung nhựa nhỏ để che mưa Một sợi đây móc được nối vào phần thân trên của bẫy trên cành cây Bẫy được sử dụng cho cả 3 loại chất dẫn dụ
- Chất dẫn dụ giới tính parapheromone:
+ Methyl eugenol: công thức: 4- allyl-1,2- diMEthoxybenzencacbonxylate + CUE Lure eugenol: công thức: [4-(3-Oxobutyl)phenyl] acetate (C12H14O3)
+ Protein thủy phân + 20% Pyrinex 20EC, các chất dẫn dụ được nhập ngoại
- Lồng nuôi ruồi đục quả trưởng thành: khung nhựa PVC, phủ vải màn, kích thước 53 x 53 x 53 cm Lồng nuôi để ghép cặp trưởng thành có hình trụ đường kính là 8cm, bằng nhựa trong, hai đầu gắn vải màn
- Hộp nhựa nhỏ hình vuông với cạnh 25 cm chứa nhộng và sâu non, hộp nhựa nhỏ hình trụ có đường kính là 6m, cao 1,5cm theo dõi cá thể trứng và sâu non, hộp nhựa (kích thước 15 x 20 x 20) nuôi tập thể
- Các dụng cụ khác: panh, nước cất, cồn, kim côn trùng, hộp tiêu bản.
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
+ Điều tra thành phần ruồi đục quả chính trên cây ổi tại Thanh Hà – Hải Dương
+ Điều tra diễn biến của các loài ruồi đục quả tại Thanh Hà – Hải Dương
+ Xác định đặc điểm sinh học của ruồi đục quả Bactrocera dorsalis Hendel giống Bactorcera, họ Tephritidae, bộ Diptera
+ Xác định hiệu quả của biện pháp phòng trừ ruồi đục quả bằng bẫy ME.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.5.1.Phương pháp xác định thành phần ruồi đục quả (Bộ: Diptera; Họ: Tephritidae; Giống: Bactrocera) trên ổi tại Thanh Hà, Hải Dương
- Điều tra thành phần ruồi đục quả bằng các loại bẫy:
Phương pháp đặt các chất dẫn dụ vào trong bẫy Multilure:
+ Chất đẫn dụ Methyl eugenol: dùng ống hút sạch lấy 3ml dung dịch chất dẫn dụ tẩm vào miếng bông, đặt miếng bông vào bên trong bẫy Multilure, sau đây gọi tắt là bẫy ME
+ Chất dẫn dụ CUE Lure eugenol: dùng ống hút sạch lấy 3 ml dung dịch chất dẫn dụ tẩm vào miếng bông, đặt miếng bông vào trong bẫy Multilure, sau đây gọi tắt là bẫy CUE
+ Protein thủy phân: Tách phần đế dưới của bẫy Multilure, cho 200ml nước sạch vào phần đế vàng, lấy 2 gram Protein hòa vào nước trong đế bẫy, đóng phần trên của bẫy, sau đây gọi tắt là bẫy Pb
Treo 3 loại bẫy ME, CUE và PB, số lượng: 2 bẫy/ loại trên cùng một vườn ổi đài loan có diện tích 1000 m 2
+ Treo bẫy cách mặt đất 1,5m, các bẫy cách nhau 40m, bẫy treo theo sơ đồ hình 3.1
+ Thời gian thay mồi và thu mẫu định kỳ là 15 ngày/lần
Hình 3.1 Sơ đồ đặt bẫy
Chú thích: ME: Bẫy ME
CUE: Bẫy CUE Pb: Bẫy Pb
- Tính lượng ruồi bắt được trên một bẫy một ngày (FTD) (con/ bẫy/15 ngày)
F: Tổng số ruồi đục quả bắt được;
D: Số ngày trung bình giữa các lần kiểm tra bẫy
Bảo quản mẫu ruồi trưởng thành thu được bằng cách sấy khô để phân loại và giám định loài Đo kích thước chiều dài cơ thể và chiều dài cánh của từng loài, mô tả đặc điểm hình thái của loài ruồi đục quả thu thập được từ bẫy, số cá thể đo là 30 cá thể/ loài
- Chỉ tiêu điều tra: Tần suất xuất hiện các loài ruồi đục quả để từ đó xác định mức phổ biến của chúng
- Mức độ phổ biến (OD) được tính như sau:
Tổng số điểm bắt gặp
Tổng số điểm điều tra
* Ký hiệu mức độ phổ biến:
"+ " Mức độ phổ biến trung bình: (OD = 5%- 25%);
Số lượng từng loài ruồi đục quả
Tỷ lệ từng loài ruồi đục quả (%) = - × 100
Tổng số ruồi đục quả thu được
- Điều tra thu thập thành phần và mức độ phổ biến theo phương pháp ngẫu nhiên theo quy chuẩn QCVN 01- 38/2010/BNNPTNT của Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn không cố định điểm điều tra trong vườn ổi (càng nhiều điểm càng tốt), thu thập các quả ổi bị nhiễm ruồi đục quả từ khi quả bắt đầu còn non bắt đầu từ ngày 02/6/2016 cho vào túi nilon, đem về phòng thí nghiệm Điều tra định kỳ 15 ngày/ lần Quả đem về đặt quả trong hộp thu nhộng dưới có lót mùn cưa khô dày 0,5 cm Khoảng 6- 7 ngày sau tiến hành sàng để thu nhộng, chuyển vào hộp khác để theo dõi vũ hóa trưởng thành
* Xác định thành phần hại trong quả: Ổi đài loan thu được từ vườn thí nghiệm đem về phòng thí nghiệm cho vào hộp nhựa có lót mùn cưa ẩm Sàng thu nhộng 2 ngày/lần Nhộng thu được chuyển vào hộp nhựa có lót mùn cưa và được giữ ẩm Sau vũ hóa giết ruồi bằng nhiệt độ thấp trong tủ lạnh Giám định thưởng thành ruồi đục quả để xác định thành phần
* Xác định đặc điểm hình thái trưởng thành ruồi đục quả giống Bactrocera thu thập được từ bẫy và quả ổi:
Trưởng thành đực thu thập được từ bẫy đưa vào tủ lạnh ở nhiệt độ thấp để giết trưởng thành Lấy ngẫu nhiên 30 cá thể của mỗi loài ruồi đục quả thu được ở bẫy ở Thanh Hà – Hải Dương đo kích thước cơ thể:
+ Chiều dài cơ thể: đo từ đầu đến hết đốt bụng cuối, tính trung bình 30 cá thể được đo
+ Đo chiều dài sải cánh: đo từ mép trong của cánh đến mép ngoài của cánh (hết đỉnh M) tính trung bình 30 cá thể
* Theo dõi diễn biến ruồi đục quả trên ổi đài loan:
Sử dụng 3 loại bẫy ME, CUE và Pb trong vườn ổi để thu thập ruồi trưởng thành, mẫu ruồi đục quả được mang về phòng thí nghiệm phân lập xác định loài ruồi Tính mật độ ruồi trung bình/bẫy/15 ngày để theo dõi diễn biến của ruồi đục quả giống Bactrocera Công thức tính mật độ ruồi trưởng thành thu được
F: Tổng số ruồi đục quả bắt được;
D: Số ngày trung bình giữa các lần kiểm tra bẫy
3.5.2 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm sinh vật học của loài ruồi đục quả gây hại chính
- Nuôi tạo nguồn ban đầu theo phương pháp nuôi ruồi của Walker et al.,
(1996) và Pritam ; nguồn ruồi ban đầu được thu từ quả bị hại
Thu những quả ổi có triệu chứng bị hại về đặt trong hộp để thu nhộng dưới mùn cưa ẩm mịn dày 0,5 cm Tiến hành thu nhộng cứ 2- 3 ngày/lần bằng cách sàng, nhộng thu được chuyển vào hộp có lót mùn cưa ẩm, đặt hộp vào lồng nuôi ruồi theo dõi trưởng thành vũ hóa Sau đó chuyển trưởng thành vào lồng nuôi cho ruồi ăn thường xuyên bằng hỗn hợp thức ăn đường trộn với yeast pha theo tỷ lệ tương ứng 3 phần đường: 1 phần yeast Tiếp tục nhân nuôi tạo nguồn ban đầu và tiến hành các thí nghiệm Ruồi đục quả B dorsalis Hendel dùng cho nghiên cứu đặc điểm sinh vật học là thế hệ thứ 2 của quần thể loài ruồi thu được từ quả ổi
* Nghiên cứu tập tính đẻ trứng của ruồi đục quả B dorsalis
Thu đồng loạt 100 sâu non vào nhộng loài B dorsalis trong cùng ngày, đặt
100 nhộng vào cùng lồng nuôi trưởng thành, sau khi nhộng vũ hóa trưởng thành, chọn 30 trưởng thành cái và trưởng thành đực vào lồng nuôi riêng có kích thước 30x30x30 cm, bên trong có thức ăn nhân tạo và cấp nước, sau 20 ngày tuổi, thu trưởng thành đực ra khỏi lồng nuôi Chuẩn bị sẵn 10 quả ổi có độ chín tương tự nhau, không bị xây sát, bảo quản trong ngăn mát tủ lạnh Đặt bên trong 2 ống hình trụ để làm giá đỡ ổi, vào ngày 21 sau khi ruồi đục quả vũ hóa, lấy ra 2 quả ổi, để cho hết lạnh, cắt hết vỏ của một quả và một quả để nguyên vẹn Đặt vào lồng thí nghiệm lúc 7h.30, đếm số lần viếng thăm của trưởng thành cái lúc 8h, 10h, 14h, 16h cùng ngày, mỗi lần quan sát là 30 phút Sau 16h lấy cả 2 quả ổi ra khỏi lồng thí nghiệm, quan sát dưới kính lúp soi nổi số lượng trứng thu được trên mỗi quả (quả nguyên vẹn tìm các vết chích của con cái, dùng dao mổ để gẩy nhẹ lớp vỏ và đếm số trứng đẻ dưới lớp vỏ) Vào ngày tiếp theo lấy 2 quả ổi khác và làm tương tự thí nghiệm, thí nghiệm được thực hiện trong 5 ngày (Wigund et al., 2009)
- Số lần viếng thăm của trưởng thành cái lúc 8h, 10h, 14h, 16h;
- Số trứng thu được trên mỗi quả
* Nghiên cứu thời gian đẻ trứng của ruồi đục quả B dorsalis
Thả 15 cặp trưởng thành (1 cái, 1 đực) ở 20 ngày tuổi vào lồng nuôi (kích thước 53x53x53 cm) ở phòng có nhiệt độ là 26- 28 0 C, ẩm dộ 60- 80% Thu trứng bằng miếng xoài ở 4 khoảng thời gian khác nhau trong ngày:
Công thức 1: thu trứng từ 8- 10h;
Công thức 2: thu trứng từ 10- 12h;
Công thức 3: thu trứng từ 14- 16h;
Công thức 4: thu trứng từ 16- 18h Đếm số trứng thu được ở mỗi công thức, thí nghiệm được lặp lại trong 5 ngày
* Xác đinh đặc điểm hình thái của các pha phát phát dục
Tiến hành nuôi ruồi đục quả Bactorcera dorslalis Hendel trong phòng thí nghiệm theo mô tả ở trên để đo kích thước lấy 30 cá thể của từng pha phát dục quan sát dưới kính lúp để mô tả đặc điểm và đo kích thước (Prabhakar et al., 2012) Đo chiều dài của 30 cá thể của các pha phát dục bằng cách đo từ đỉnh đầu đến cuối cơ thể (hậu môn)
* Theo dõi một số đặc điểm sinh học:
- Giai đoạn trứng: dùng miếng xoài để ruồi đẻ trứng và thu trứng đồng loạt một lần/ngày vào sáng sớm, rồi đặt lên miếng vải sau đó rải trứng trên các đĩa thức ăn có thành phần là thịt quả ổi, khối lượng thức ăn là 0,3 gram/đĩa Đặt đĩa trứng vào phòng có điều hòa nuôi ở nhiệt độ là 26- 28 0 C, ẩm độ 60- 80%, để trong bóng tối Sử dụng kính lúp soi nổi kiểm tra vỏ trứng sót lại trên đĩa thực hiện 2 lần/ ngày vào lúc 8 giờ sáng và 18 giờ chiều hàng ngày Theo dõi 30 trứng
Ghi nhận thời gian có quả trứng nở đầu tiên đến quả trứng cuối cùng nở Tỷ lệ trứng nở được tính theo công thức
+ Thời gian phát dục của pha trứng: thời gian trứng vừa được đẻ đến khi trứng nở thành ấu trùng Tính trung bình thời gian phát dục của 30 cá thể theo công thức
Trong đó: X : Thời gian phát dục trung bình; xi: Thời gian phát dục của cá thể n trong ngày thứ i; ni: số cá thể nở trong ngày thứ i;
N: Tổng số cá thể theo dõi
+ Sau 7 ngày thu trứng, đếm tổng số trứng không nở trên đĩa
Dùng bút lông gạt sâu non vừa nở lên đĩa thức ăn có thành phần là thịt quả ổi, lượng thức ăn là 0,3 gram/đĩa Đặt đĩa có sâu non vào phòng nuôi ở nhiệt độ 26- 28 0 C, ẩm độ 60- 80%, trong bóng tối Quan sát sâu non vào nhộng ngày 2 lần vào 8 giờ sáng và 18 giờ hàng ngày Theo dõi 30 sâu non Ghi nhận thời gian có nhộng đầu tiên xuất hiện và thời gian nhộng cuối cùng xuất hiện
Theo dõi các chỉ tiêu sau:
+ Thời gian phát dục của sâu non: Từ khi sâu non mới nở đến khi sâu non vào nhộng (tính giá trị trung bình của 30 cá thể theo dõi)
Số nhộng thu được + Tỷ lệ vào nhộng (%) = - × 100
Tổng số sâu non theo dõi
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
THÀNH PHẦN RUỒI ĐỤC QUẢ THU THẬP ĐƯỢC TỪ BẪY ME, CUE, BẪY PB VÀ TRONG QUẢ ỔI TẠI THANH HÀ- HẢI DƯƠNG NĂM 2016
Ruồi đục quả trưởng thành giống Bactrocera spp đến thời kỳ sinh sản con cái tiết ra một loại pheromone để dẫn dụ con đực tìm đến và ghép cặp, dựa trên đặc điểm sinh học này, người ta đã tạo ra các hợp chất có mùi vị tương tự như pheromone giới tính của ruồi đục quả để dẫn dụ con đực, các hợp chất này được đặt trong các bẫy màu vàng gọi là bẫy ME và CUE Bên cạnh đó, khi trưởng thành vũ hóa chúng cần ăn protein để sống, việc phun bả protein mang lại hiệu quả khá cao tuy nhiên dễ bị mất đi trong điều kiện môi trường tự nhiên do bị rửa trôi bởi mưa, quang phân bởi ánh sáng mặt trời hay do các yếu tố khác, do vậy, hiện nay người ta đã chế tạo ra loại bẫy Protein dạng viên, thuốc được hòa vào nước đặt trong bẫy Multilure bên trong có chất độc Pyrinex 20EC (Pb)
Qua quá trình điều tra bằng ba loại bẫy tại các khu vườn trồng ổi thu được một số mẫu ruồi giống Bactrocera, thành phần ruồi đục quả thu thập trên vườn ổi tại Thanh Hà – Hải Dương được giám định thể hiện như bảng 4.1
Bảng 4.1 Thành phần ruồi đục quả thu thập được từ bẫy ME, CUE, bẫy Pb trên vườn ổi và trong quả ổi tại Thanh Hà – Hải Dương
STT Loài ruồi đục quả Bẫy
Bẫy CUE Bẫy Pb Trong quả
Chú thích: “+”: Bắt gặp “-”: Không bắt gặp
Từ bảng thành phần ruồi đục quả thu được ở trên bẫy ME, CUE và Pb cho thấy thành phần ruồi đục quả giống Bactrocera spp thu được tại huyện Thanh
Hà – Hải Dương bao gồm có 7 loài là Bactrocera dorsalis (Hendel), Bactrocera cucurbitae (Coquillett), Bactrocera tau (Walker), Bactrocera correcta (Bezzi), Bactrocera rubigina (Wang and Zhao), Bactrocera scutellata (Bezzi), Bactrocera papayae (Drew) Qua bảng thành phần ruồi đục quả thu được trên vườn ổi cho thấy các loài ruồi khác nhau thì bị dẫn dụ bởi các bẫy giới tính khác nhau, trên bẫy ME chỉ thu được 3 loài ruồi là Bactrocera dorsalis (Hendel), Bactrocera papayae (Drew), Bactrocera correcta (Bezzi) Trong khi đó thì 4 loài ruồi Bactrocera cucurbitae (Coquillett), Bactrocera tau (Walker), Bactrocera rubigina (Wang and Zhao) và Bactrocera scutellata (Bezzi) chỉ bị dẫn dụ bằng bẫy CUE, trên bẫy Pb chỉ thu được 2 loài ruồi đục quả là Bactrocera dorsalis (Hendel), Bactrocera papayae (Drew) Hai loài Bactrocera dorsalis (Hendel), Bactrocera papayae (Drew) hiện nay được xếp vào nhóm Bactrocera dorsalis complex So với kết quả về thành phần ruồi đục quả họ Tephritidae giống Bactrocera ở miền Bắc của Drew và cs (2000) thu được 30 loài, Nguyễn Đức Khánh (2010) thu được 36 loài và Nguyễn Thị Thanh Hiền (2012) thu được 21 loài, thì kết quả về thành phần ruồi đục quả tại vùng trồng ổi tại Thanh Hà – Hải Dương không ghi nhận thêm loài ruồi nào mới Số lượng loài ruồi đục quả thu được tại Thanh Hà – Hải Dương ít hơn nhiều so với các kết quả đã thu được, điều này có thể giải thích được do vùng điều tra hẹp chỉ trong một huyện và điều tra trên một loại cây trồng
Mỗi loại bẫy dẫn dụ có khả năng thu hút không chỉ một loài mà được một số loài, khả năng dẫn dụ của các loại bẫy khá lớn chúng có thể thu hút các loài ruồi đục quả cách vị trí đặt bẫy từ 50- 500 m, do vậy thành phần ruồi đục quả thu được trên các bẫy đặt tại vùng chuyên canh ổi nhưng không thể đảm bảo rằng tất cả các loài ruồi thu được từ các bẫy đều gây hại ổi Để xác định chính xác loài ruồi gây hại quả ổi chúng tôi tiến hành thu các quả ổi bị hại, đặt trong lồng nuôi, khi nhộng vũ hóa trưởng thành xác định loài ruồi đục quả thu được từ quả ổi tại Thanh Hà – Hải Dương có hai loại là B dorsalis và B papayae, theo nhiều kết quả nghiên cứu trong nước như của Lê Đức Khánh và cs (2012), Lê Hữu Điền
(2012) và trên thế giới như CABI (2016) cho thấy loài rồi B correcta có ký chủ chính là quả ổi nên chúng được đặt tên là ruồi đục quả ổi (Guava fruit fly) tuy nhiên cho dù chúng có xuất hiện ở bẫy ME nhưng lại không thu thập được trong các quả bị hại, điều này có thể giải thích rằng do quần thể của B dorsalis và B papayae lớn hơn rất nhiều so với B correcta nên có thể xảy ra tình trạng cạnh tranh dinh dưỡng, bên cạnh đó theo nhiều nghiên cứu trên thế giới chỉ ra rằng các loài ruồi đục quả khác nhau thường không thích đẻ trứng lên các quả mà loài khác đã đẻ trứng rồi (Silva et al., 2012)
Các loài ruồi đục quả khác B tau, B cucurbitae, B rubigina và B scutellata là các loài ruồi thu được từ bẫy CUE theo các nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy các loài ruồi này chủ yếu gây hại các loại rau ăn quả như mướp, dưa chuột, bí ngô…tuy nhiên chúng cũng gây hại các loại quả trong đó có ổi nếu không có mặt của ký chủ chính Qua quan sát vùng trồng trong quá trình điều tra cho thấy rằng xung quanh vùng trồng ổi người dân cũng trồng thêm các loại rau ăn quả ở các hàng rào và ở dưới tán ổi là ký chủ của ruồi đục quả, do vậy các loại ruồi thu thập được từ bẫy mà không thu thập được từ quả ổi có thể là do ruồi đục quả gây hại các loại quả khác bị dẫn dụ vào
Tóm lại, thành phần ruồi đục quả trên quả ổi tại Thanh Hà – Hải Dương năm 2016 có hai loài là B dorsalis Hendel và B papayae Hendel
Tuy nhiên để xác định chính xác thành phần ruồi đục quả phục vụ cho công tác quản lý dịch hại về sau kết quả này cần được tiếp tục nghiên cứu thêm trong vài năm tới
Một số đặc điểm hình thái của 7 loài ruồi đục quả Bactrocera thu được Các loài ruồi đục quả thuộc giống Bactrocera bên cạnh có nhiều đặc điểm chung về hình thái thì chúng cũng có các đặc điểm riêng biệt để giúp phân biệt được các loài trong cùng một giống, các đặc điểm này được mô tả qua bảng 4.2
Bảng 4.2 Một số đặc điểm hình thái của 7 loài ruồi đục quả Bactrocera thu được từ 3 loại bẫy ME, CUE, Pb tại Thanh Hà – Hải Dương năm 2016
Chiều dài cơ thể (mm)
Chiều dài sải cánh (mm) Đặc điểm hình thái
Mảnh lưng ngực màu đen Cánh: Buồng bc và buồng c không màu Băng màu nhạt dọc theo gân coasta kéo dài đến gân R2+3 và kết thúc tại đỉnh của gân này; có đốm hình bầu dục nhỏ màu đậm trên đỉnh của gân R4+5 (H.a)
Bactrocera rubigina (Wang and Zhao)
Mảnh lưng ngực màu đỏ đến nâu sậm Cánh: Buồng bc và c không màu Băng hẹp màu nâu nhạt dọc theo gân costa, kéo dài qua gân R 2+3 kết thúc về phía gân R 4+5 Bụng: không có băng đen dạng chữ T rõ ràng (H.b)
Mảnh lưng ngực màu nâu đỏ Cánh: Băng rộng màu nâu đậm dọc theo gân costa, kéo dài qua gân R 2+3 gặp gân R 4+5 và kéo dài đến đỉnh cánh thì phình ra dạng đốm, một băng màu nâu nhạt trên gân rm, 1 băng màu nâu đậm hơn dọc theo gân ngang dm- cu (H.c)
Mảnh lưng ngực màu đen Cánh: Buồng bc và buồng c không màu Băng hẹp màu nâu đậm dọc theo gân costa gặp gân R2+3 thu hẹp lại và kéo dài qua gân này; tiếp tục kéo dài qua gân
R4+5 và hướng vế phía đỉnh M; băng màu nâu nhạt hơi hẹp dọc theo gân A1+ CuA2 (H.d) Bactrocera tau
9,23 ± 0,98 6,25 ± 0,13 Mảnh lưng ngực màu vàng Dọc mép trước mạch gân phụ có vệt vàng ngang qua đỉnh R2+3 lan rộng và tạo đốm lớn qua đỉnh mạch R4+5 (H.e)
Mảnh lưng ngực màu đen Cánh: chiều dài sải cánh Góc ngoài của buồng c có các chấm nhỏ, các phần còn lại của cánh không màu trừ buồng sc có màu đậm Băng rất hẹp màu đậm dọc theo gân costa, gặp gân R2+3 và tiếp tục hẹp xung quanh mép của gân costa; kết thúc ở giữa gân R4+5 và gân M Băng ngang của đốt bụng 3 bị đứt không liền (H.f)
Mảnh lưng ngực màu đen, chính giữa của của mảnh lưng ngực có 1 đốm màu vàng hình thoi hẹp Cánh: Băng hẹp màu nâu đậm dọc theo gân costa gặp gân R2+3 thu hẹp lại và kéo dài qua gân này; kéo dài tạo thành đốm xung quanh đỉnh gân R 4+5 (H.g)
DIỄN BIẾN MẬT ĐỘ RUỒI ĐỤC QUẢ BACTROCERA DORSALIS
Từ các bảng trên có thể cho ta thấy rằng loài ruồi đục quả gây hại ổi có hai loại chính là B dorsalis Hendel và B papayae Hendel, cả hai loài ruồi nay đều thuộc phức hợp Bactrocera dorsalis complex Qua kết quả từ phía trên cho thấy ngoài bẫy ME thì bẫy PB có khả năng thu hút được hai loài ruồi này, nhưng số lượng ruồi đục quả vào bẫy PB không cao, thấp hơn rất nhiều so với bẫy ME Do hai loài ruồi đục qủa này có phổ ký chủ rất rộng có khả năng gây hại trên 150 loài cây trồng và bẫy dẫn dụ có khả năng thu hút được ruồi đục quả cách bẫy đến
500 m, do vậy để xác định diễn biến mật độ chính xác của ruồi đục quả gây hại quả ổi tại Thanh Hà – Hải Dương thì ta tiến hành so sánh diễn biến mật độ của ruồi đục quả thu được trên bẫy và số lượng sâu non thu được từ quả Kết quả điều tra được thể hiện qua bảng 4.4 và hình 4.3
Bảng 4.4 Diễn biến mật độ ruồi đục quả Bactrocera dorsalis complex thu thập được từ quả ổi bị hại và trên bẫy ME tại Thanh Hà – Hải Dương năm 2016
Giai đoạn sinh trưởng của cây
Mật độ trưởng thành trên bẫy ME (con/bẫy/ngày)
Mật độ sâu non thu được từ quả (con/quả) 3/4/16
Ghi chú: + Diện tích vườn điều tra: 1000 m 2 + Số lượng bẫy: 2
Hình 4.3 Diễn biến mật độ ruồi đục quả thu thập được từ quả ổi bị hại và trên bẫy ME tại Thanh Hà – Hải Dương năm 2016
Từ bảng 4.5 và hình 4.3 cho thấy rằng ruồi đục quả Bactrocera dorsalis complex đã xuất hiện ngay từ khi quả chưa được hình thành từ tháng 4 và đạt đỉnh cao vào các tháng quả chín rộ từ tháng 7- 10 ở mức 31,52 con/ bẫy/ ngày, sau đó mật độ ruồi trưởng thành đực thu được từ bẫy ME giảm đi đáng kể Trong khi đó khi quả bắt đầu chín vào tháng 6 thì mới bắt đầu thu được các quả có sâu non ruồi đục quả của Bactrocera dorsalis complex, quả càng chín thì mật độ sâu non càng cao, cho đến khi cuối vụ thì mật độ sâu non/quả đạt đỉnh cao trung bình khoảng 13 sâu non/quả Điều này có thể được giải thích như sau, quần thể ruồi đục quả ổi luôn được duy trì nhưng ở mật độ thấp, mật độ ruồi trưởng thành bắt đầu tăng nhanh khi điều kiện thức ăn dồi dào, do ruồi trưởng thành không ăn quả mà chúng chỉ ăn phấn hoa nên khi đến giai đoạn gần hết quả ngồn thức ăn cạn dần chúng cần phải di chuyển đến nơi có nguồn thức ăn khác Ngoài ra vào các tháng cuối vụ người dân thường dọn dẹp vệ sinh và tiêu hủy tàn dư trên đất, do vậy pha nhộng của ruồi đục quả trong đất bị tiêu diệt khá nhiều không có nhiều khả năng để hóa trưởng thành Trong khi đó, ở giai đoạn đầu của quả ổi, vỏ quả còn cứng nên ruồi đục quả này không thể chọc thủng được lớp vỏ quả, khi quả chín rộ lớp bề mặt quả trở nên mềm, quả tiết ra mùi thơm hấp dẫn ruồi đục quả đến đẻ trứng Càng về các tháng 9, 10 tỷ lệ quả chín ngày càng cao tạo ra nguồn lớn cho ruồi đục quả cái đến đẻ trứng và gây hại, cũng là môi trường thuận lợi cho trứng nở và sâu non phát triển bên trong quả Khi quả gần hết thì tỷ lệ sâu non ruồi đục quả càng tăng do số lượng ký chủ bị giảm đi, nên nhiều con cái phải lựa chọn cùng một vị trí để đẻ trứng và cũng giống như các loài ruồi đục quả khác ruồi đục quả Bactrocera dorsalis complex thích đẻ lên các vị trí mà các con ruồi cái khác cùng loài đã đẻ Do vậy mật độ giòi trong quả không giảm
Tóm lại, mật độ trưởng thành ruồi đục quả Bactrocera dorsalis complex thu được trên bẫy ME và mật độ sâu non thu được trong quả tại Thanh Hà – Hải Dương năm 2016 có biến động khá tương tự nhau ở các tháng quả chín rộ, khác nhau ở đầu vụ và cuối vụ do các yếu tố ngoại cảnh tác động lên.
ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI HỌC VÀ SINH HỌC CỦA LOÀI
Bactrocera dorsalis Hendel thuộc họ Tephritidae bộ hai cánh Diptera là loài ruồi gây hại nghiêm trọng trên các loại cây ăn quả và rau ăn quả, qua kết quả điều tra ở trên cho thấy đây cũng là loài ruồi đục quả gây hại chính quả ổi ở vùng Thanh Hà – Hải Dương Để xác định thêm các đặc điểm sinh học và tập tính gây hại của loài ruồi đục quả này chúng tôi tiến hành một số nghiên cứu các đặc điểm hình thái và sinh học và thu được kết quả như sau
4.3.1 Tập tính gây hại của ruồi đục quả Bactrocera dorsalis Hendel
Qua theo dõi tập tính gây hại và triệu chứng gây hại do ruồi đục quả giống Bactrocera gây ra, chúng tôi nhận thấy rằng ruồi đục quả trưởng thành cái thường bò xung quanh quả để chọn được vị trí thích hợp và dùng ống đẻ trứng chọc thủng vào vỏ quả để đẻ trứng vào bên trong phần thịt quả, trong suốt thời gian đẻ trứng, ống đẻ trứng duỗi thẳng Ngay sau khi trứng được đẻ vào trong quả, quả sẽ bị ứ nước ngay tại nơi vết đẻ trứng và chỗ vết đục bên ngoài là một chấm đen, sau lớn dần lên và có màu vàng rồi chuyển qua màu nâu, ruồi đục quả thường thích đục vào phần mềm nhất của quả, chúng ít khi đẻ vào các phần cứng của quả, so sánh giữa quả còn nguyên vẹn và quả được cắt thì chúng có xu hướng tập trung đẻ vào phần quả đã được cắt (Bảng 4.5)
Bảng 4.5 Xu hướng đẻ trứng của ruồi đục quả Bactrocera dorsalis Hendel
Số lần trưởng thành cái viếng thăm (lần/ngày)
Tổng số trứng thu được (trứng/ngày) Quả cắt Quả không cắt Quả cắt Quả không cắt
Chú thích: + Số ngày quan sát: 5
+ Số cá thể cái theo dõi: 30 + Số lần quan sát/ngày: 4
+ Thời gian quan sát/lần: 30 phút Điều này cho thấy rằng quả ổi ngoài tự nhiên càng có nhiều vết thương trên bền mặt thì càng thu hút ruồi đục quả đẻ trứng vào, do vậy việc bảo vệ quả để tránh xây sát cũng là một cách để ngăn cản ruồi đục quả đẻ trứng vào (hình 4.4)
Hình 4.4 Tập tính đẻ trứng cuả trưởng thành cái B dorsalis
Quan sát tập tính đẻ trứng của 15 cặp trưởng thành ở 4 thời điểm trong 5 ngày cho thấy: Trưởng thành cái sau khi giao phối có thể đẻ trứng suốt trong ngày nhưng chúng đẻ trứng nhiều nhất vào buổi chiều trong khoảng từ 14- 16h, gần như không đẻ sau 16h (hình 4.5)
Hình 4.5 Thời gian đẻ trứng trong ngày của ruồi đục quả B dorsalis Trứng đẻ vào trong quả sẽ nở thành ấu trùng ăn phần thịt quả, càng lớn tuổi thì sâu non càng ăn sâu vào bên trong quả, chúng thường thích tập trung ăn ở phần lõi (phần mềm nhất) của quả ổi, làm quả bị thối rụng, ngoài ra các vết chích đẻ trứng của ruồi đục quả còn là môi trường dễ xâm nhiễm cho các loại nấm bệnh khác, làm suy giảm năng suất và phẩm chất của quả (Hình 4.6, 4.7)
Khi dòi đẫy sức chúng đục quả chui ra ngoài và bật xuống đất và hóa nhộng ở trong đất Chúng ưa điều kiện đất tơi xốp và ẩm, đất quá khô và trũng nước thì dòi dễ bị chết khó có khả năng vào nhộng Do vậy, vệ sinh đồng ruộng sạch sẽ, tránh để lại các quả bị thối hỏng từ vụ trước là một trong phương pháp hạn chế ruồi đục quả phát sinh và gây hại cho vụ sau
Hình 4.6 Ổi bị ruồi đục quả gây hại
Hình 4.7 Vết chích do ruồi đục quả để lại trên quả ổi 4.3.2 Đặc điểm hình thái của ruồi đục quả Bactrocera dorsalis Hendel
* Đặc điểm pha trưởng thành
Trưởng thành có màu vàng, trên lưng bụng có một băng ngang đậm cắt nhau hình chữ T, trên lưng ngực có 2 đường màu vàng chạy song song, hai bên của mảnh lưng ngực có đốm vàng, cánh trong suốt có băng màu nâu chạy dọc theo gân costa và gặp gân R 2+3 thu hẹp lại và kéo dài qua gân này hướng về phía đỉnh M, cánh sau tiêu biến chỉ còn lại thùy cánh Con cái và con đực khá giống nhau về hình thái chỉ khác là con cái có máng đẻ trứng ở đốt bụng cuối, con đực không có
Kích thước của con ruồi đực trung bình nhỏ hơn con ruồi cái với kích thước lớn nhất là 8mm thấp nhất là 5,5 mm trung bình là 6,82 ± 0,25 mm, trong khi đó trưởng thành cái có kính thước lớn nhất là 8 mm nhỏ nhất là 5 mm trung bình là 7,22 ± 0,26 mm
Đặc điểm phát triển pha trứng
Trứng ruồi đục quả B dorsalis được đẻ dưới vỏ quả thành từng chùm từ 1- 20 quả, cũng có khi trứng được đẻ rải rác Khi mới đẻ trứng có màu trắng trong, khi gần nở trứng có màu trắng đục, dạng thuôn dài trung bình là 2,23 ± 0,16 mm, trứng có chiều dài lớn nhất là 3 mm và nhỏ nhất là 1 mm
Đặc điểm pha sâu non
Sâu non khi mới nở có màu trắng ngà sau chuyển dần sang màu vàng nhạt đến màu vàng trước khi vào nhộng cơ thể thuôn hình trụ, miệng có một móc cứng màu đen Kích thước lớn nhất của ấu trùng tuổi cuối là 9mm nhỏ nhất là 5 mm trung bình là 7,44 ± 0,29 mm Pha sâu non ruồi đục quả B dorsalis có 3 tuổi, không có sự khác biệt về hình thái, chúng chỉ khác nhau về kích thước và màu sắc cơ thể
Sâu non khi đẫy sức đục quả chui ra ngoài và hóa nhộng trong đất, tuy nhiên đôi khi cũng bắt gặp trường hợp sâu non hóa nhộng ngay bên trong quả Nhộng ruồi là dạng nhộng bọc, hình trứng mới hóa nhộng màu nâu, khi nhộng chuẩn bị vũ hóa có màu nâu đậm kích thước trung bình là 5,19 ± 0,21 mm Khi vũ hóa trưởng thành qua lỗ vũ hóa chui ra ngoài
Bảng 4.6 Đặc điểm hình thái học của loài ruồi Bactrocera dorsalis Hendel
Chiều dài lớn nhất (mm)
Chiều dài nhỏ nhất (mm)
Trứng 3 1 2,23 ± 0,16 Ấu trùng tuổi cuối 9 5 7,44 ± 0,29
Chú thích: n = 30 Thức ăn: thịt quả ổi và protein nhân tạo Nhiệt độ: 26- 28 0 C, ẩm độ: 60- 80% Đốt bụng trưởng thành cái Đốt bụng trưởng thành đực
Hình 4.8 Một số hình ảnh các pha phát dục ruồi đục quả
4.3.3 Một số đặc điểm sinh học của loài ruồi đục quả Bactrocera dorsalis Hendel
4.3.3.1 Thời gian phát dục của các pha và vòng đời của loài Bactrocera dorsalis Hendel
Trong công tác dự tính dự báo để khuyến cáo phòng trừ ruồi đục quả thì hiểu biết về các đặc điểm phát sinh phát dục của tất cả các pha là rất quan trọng Để góp phần đáp ứng yêu cầu thực tiễn sản xuất, làm cơ sở cho công tác sản xuất và phòng trừ ruồi đục quả một cách có hiệu quả nhất, chúng tôi tiến hành nuôi ruồi đục qủa loài B dorsalis Hendel trong phòng thí nghiệm ở điều kiện nhiệt độ 26- 28 0 C, ẩm độ khoảng 60- 80% để xác định vòng đời và thời gian phát dục của từng pha phát dục Kết quả nghiên cứu được thể hiện trong bảng 4.7
Bảng 4.7 Thời gian phát dục các pha của loài B dorsalis Hendel
Pha phát dục Thời gian phát dục (ngày)
Thấp nhất Cao nhất Trung bình
Ghi chú: + Nhiệt độ: 26- 28 0 C + Ẩm độ: 60- 80%
+ Thức ăn là quả ổi + n = 30
Qua kết quả thí nghiệm cho thấy, khi nuôi ruồi đục quả B dorsalis ở điều kiện nhiệt độ 26- 28 0 C, ẩm độ từ 60- 80%, thức ăn cho trưởng thành là protein, đường và nước, thức ăn cho ấu trùng là protein, thịt quả ổi và nước thì vòng đời của ruồi đục quả cao nhất là 30 ngày và thấp nhất là 19 ngày Trứng nở sớm nhất là sau 1 ngày và nở muộn nhất là sau 3 ngày trung bình là 1,93 ngày cao hơn 0,59 ngày so với Nguyễn Hữu Đạt và Bùi Công Hiển (2004) chỉ là 1,34 ngày Ấu trùng sau khi nở là bắt đầu ăn thức ăn, sau muộn nhất là 12 ngày ấu trùng sẽ hóa nhộng, sớm nhất là sau 6 ngày trung bình là 8,48 ngày, cao hơn so với kết quả nuôi sinh học của Nguyễn Thị Thanh Hiền (2014) là 2 ngày (chỉ có 6,48 ngày) Sau khi sâu non tuổi cuối hóa nhộng trong mùn cưa thậm chí là hóa nhộng luôn trong quả thì sớm nhất là sau 5 ngày và muộn nhất là sau 11 ngày chúng sẽ vũ hóa trưởng thành, trung bình là 7,43 ngày ngắn hơn so với kết quả của Nguyễn Thị Thanh Hiền (2014) là 1,85 ngày Sau khi vũ hóa trưởng thành, thì ruồi trưởng thành Bactrocera dorsalis cả đực và cái bắt đầu tìm kiếm protein để ăn, ruồi đục quả B dorsalis cái không đẻ ngay mà sau ít nhất 7 ngày chúng mới bắt đầu đẻ trứng và muộn nhất là sau 12 ngày trưởng thành cái sẽ đẻ lứa trứng đầu tiên, thời gian tiền đẻ trứng cũng ngắn hơn nhiều so với kết quả của Nguyễn Thị Thanh Hiền (2014) Như vậy, kết quả cho thấy vòng đời của ruồi đục quả khá dài, dài nhất là 30 ngày và ngắn nhất là 19 ngày, trung bình là 25,3 ngày, ngắn hơn so với công bố của Nguyễn Hữu Đạt (2016) Do vậy số lứa của ruồi đục quả phương Đông khá ít, tuy nhiên ruồi đục quả có khả năng sinh sản khá nhiều nên thiệt hại gây ra khá lớn Tuổi thọ trung bình của ruồi đục quả Bactrocera dorsalis trong thí nghiệm trung bình là 77,56 ngày, cao nhất là 100 ngày, thấp nhấp là 31 ngày
So sánh với kết quả của Nguyễn Hữu Đạt và Bùi Công Hiển (2004), Nguyễn Thị Thanh Hiền (2014) (140 ngày) thì tuổi thọ của ruồi đục quả B dorsalis ngắn hơn 40 ngày
Sự sai khác giữa các kết quả nghiên cứu về đặc điểm các pha phát dục của ruồi đục quả Bactrocera dorsalis Hendel là do nuôi ở các điều kiện khác nhau nên có các dẫn liệu sinh học khác nhau Kết quả nghiên cứu đặc điểm các pha phát dục của ruồi đục quả B dorsalis Hendel nuôi bằng thức ăn là quả ổi ở nhiệt độ 26- 28 0 C bổ sung thêm hiểu biết về đặc điểm của ruồi đục quả hại trên cây ăn quả nói chung và cây ổi nói riêng
4.3.3.2 Tuổi thọ, sức sinh sản và nhịp điệu đẻ trứng trưởng thành cái loài Bactrocera dorsalis Hendel
Trưởng thành ruồi đục quả Bactrocera dorsalis tuy không gây hại trực tiếp quả, tuy nhiên giai đoạn này có tính quyết định đến mật độ sâu non gây hại trên quả, nên nó sẽ quyết định đến khả năng gây hại của ruồi đục quả cho ký chủ Do vậy nghiên cứu các đặc điểm phát triển của pha trưởng thành ruồi đục quả để có các biện pháp phòng trừ thích hợp
Qua nghiên cứu đặc điểm sinh học pha trưởng thành của ruồi đục quả Bactrocera dorsalis Hendel cho kết quả được thể hiện trong bảng 4.8
Bảng 4.8 Một số đặc điểm của pha trưởng thành cái loài B dorsalis Hendel
Chỉ tiêu theo dõi Thấp nhất Cao nhất Trung bình
Thời gian đẻ trứng (ngày) 27 72 52,53 ± 6,54
Sức đẻ trứng của trưởng thành cái
Chú thích: + Nhiệt độ: 26- 28 0 C + Ẩm độ: 60- 80%
+ n = 30 + Thức ăn: Protein nhân tạo
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ PHÒNG TRỪ RUỒI ĐỤC QUẢ BẰNG BẪY
4.4.1 So sánh hiệu quả phòng trừ ruồi đục quả Bactrocera dorsalis Hendel bằng các loại bẫy ME, CUE và PB tại Thanh Hà – Hải Dương năm 2016
Ruồi đục quả có 4 giai đoạn phát triển, trong đó giai đoạn gây hại trực tiếp vào quả là giai đoạn sâu non, tuy nhiên toàn bộ giai đoạn này và trứng chúng lại sinh sống bên trong quả, do vậy không có bất kỳ một biện pháp gì có thể tiêu diệt được chúng Giai đoạn nhộng phát triển trong đất do vậy có thể dùng các biện pháp dọn vệ sinh đồng ruộng để làm giảm thiểu lượng nhộng, nhưng biện pháp này sẽ rất tốn công lao động nếu thường xuyên thực hiện trên các vùng canh tác chuyên canh cao, bên cạnh đó, lượng nhộng rất lớn không thể tiêu diệt được hết và nhộng có thể tồn tại trong đất khá lâu trong điều kiện không thuận lợi cho chúng vũ hóa Do vậy để phòng trừ ruồi đục quả nói chung và B dorsalis Hendel nói riêng thì cần phải tiêu diệt trưởng thành Có nhiều biện pháp đã được đưa ra như sử dụng thuốc hóa học, nhưng hiệu quả rất thấp do ruồi có khả năng bay xa tránh thuốc, dư lượng thuốc hóa học tồn lại trên quả gây độc cho người sử dụng và môi trường Một trong các biện pháp đang được sử dụng rộng rãi hiện nay trên thế giới để diệt ruồi đục quả là biện pháp sử dụng chất dẫn dụ để thu hút và tiêu diệt con đực, con cái không được thụ tinh do vậy chúng sẽ không có khả năng đẻ trứng, làm giảm mật độ ruồi đục quả, không gây hại cho môi trường và người sử dụng mà giá thành cho phương pháp này khá thấp
Hiện nay trên thế giới có 3 loại chất dẫn dụ được sử dụng phổ biến là Methyl eugenol, CUE lure và Protein dạng thủy phân Qua các bảng số liệu điều tra trước có thể thấy rằng ruồi đục quả ổi tại Thanh Hà – Hải Dương năm
2016 chủ yếu là B dorsalis Hendel, để xác định được loại bẫy nào có khả năng thu hút và diệt được nhiều ruồi đục quả phương Đông, chúng tôi tiến hành thí nghiệm biện pháp phòng trừ bằng bẫy ME và CUE và PB, thí nghiệm được thực hiện trên cùng một vườn ổi có diện tích 1000m 2 tại Thanh Hà – Hải Dương mỗi loại 2 bẫy, sử dụng kiểu bẫy Multilure Kết quả được trình bày ở bảng 4.10
Bảng 4.10 Số lượng ruồi đục quả B dorsalis Hendel vào các bẫy ME, CUE và Pb tại Thanh Hà – Hải Dương năm 2016
Thời gian Bẫy (con/bẫy/15 ngày)
Hình 4.10 Số lượng ruồi đục quả B dorsalis Hendel vào các bẫy ME, CUE và PB tại Thanh Hà – Hải Dương năm 2016
Từ bảng 4.11 và hình 4.10 có thể dễ dàng nhận thấy rằng lượng ruồi đục quả B dorsalis Hendel vào bẫy ME là cao nhất trong suốt thời kỳ đặt bẫy từ tháng 4 đến tháng 11, số lượng ruồi thu được cao nhất là 854 con vào ngày thu 18/9/2016 Trong khi đó, cho dù bẫy PB cũng thu được ruồi đục quả Bactrocera dorsalis nhưng số lượng thấp hơn nhiều, thời điểm cao nhất là 99 con vào ngày 18/8/2016 Còn trên bẫy CUE không thu được ruồi đục quả Bactrocera dorsalis
Như vậy có thể kết luận rằng bẫy ME là cho hiệu quả thu hút trưởng thành đực ruồi đục quả B dosalis là cao nhất ở vườn ổi tại Thanh Hà – Hải Dương năm 2016
4.4.2 Đánh giá ảnh hưởng của số lượng bẫy ME đến khả năng phòng trừ ruồi đục quả B dorsalis tại vườn ổi tại Thanh Hà – Hải Dương năm 2016
Số lượng ruồi đục quả B dorsalis vào bẫy ME ở các mật độ treo tại Thanh Hà – Hải Dương năm 2016
Trong phòng trừ ruồi đục quả việc sử dụng bẫy dẫn dụ đã được sử dụng khá phổ biến cả ở trong và ngoài nước, theo phương pháp đặt bẫy của ISPM số 6
(2011) thì số lượng bẫy ME là 3- 5 bẫy/km 2 cho việc giám sát và diệt trừ, nhưng phương pháp này áp dụng chung cho tất cả các loại cây trồng và các điều kiện tự nhiên Nhưng tùy theo mục đích và điều kiện tự nhiên thì mỗi vùng lại có mật độ đặt bẫy khác nhau ví dụ ở Ấn Độ, cơ quan bảo vệ thực vật quốc gia khuyến cáo người dân nên đặt từ 18- 30/ mùa vụ/ ha, ở New Zealand năm 1995 để diệt trừ ruồi đục quả Bactrocera papayae đã đặt 3 triệu bẫy ME/157 km 2 Ở Việt Nam mật độ treo bẫy như thế nào cho đạt hiệu quả cao nhất thì ở chưa có nhiều nghiên cứu, do vậy để tìm được công thức mật độ bẫy phù hợp nhất chúng tôi tiến hành nghiên cứu thử nghiệm đặt bẫy ở các mật độ khác nhau, mật độ ruồi vào bẫy được thể hiện qua bảng 4.11
Bảng 4.11 Số lượng ruồi B dorsalis vào bẫy ME ở các mật độ treo tại Thanh
Mật độ ruồi vào bẫy ME (Con/bẫy/15 ngày)
Tổng Trung bình Tổng Trung bình Tổng Trung bình
Trung bình 346,71 173,35 628,64 157,16 827,71 137,95 CV% (Trung bình)
Chú thích: CT1: 2 bẫy CT2: 4 bẫy CT3: 6 bẫy Diện tích vườn: 1000m 2 , độ cao treo bẫy: 1,5m
Từ kết quả ở bảng cho thấy rằng ở các mật độ treo bẫy khác nhau thì số lượng ruồi đục quả Bactrocera dorsalis vào bẫy không khác nhau, nhưng tổng số lượng ruồi bắt được trên cùng một diện tích thì công thức 3 cho số lượng cao nhất, sau đó là công thức 2 và ít nhất là công thức, điều này có nghĩa là treo càng nhiều bẫy thì số lượng ruồi càng bị thu hút nhiều
Tỷ lệ quả bị hại ở các mật độ treo bẫy ME tại vườn ổi tại Thanh Hà – Hải Dương năm 2016 Để đánh giá được hiệu quả của việc treo bẫy ở các mật độ khác nhau thì cần phải đánh giá tỷ lệ quả bị hại ở các mức treo bẫy khác nhau, từ đó để tìm ra được công thức treo bẫy phù hợp ít bị ruồi đục quả gây hại nhất Thu 100 quả ngẫu nhiên ở các tầng khác nhau ở 4 vườn trong đó có 1 vườn không treo bẫy làm đối chứng, kết quả được thể hiện ở bảng 4.12
Bảng 4.12 Tỷ lệ quả bị hại ở các mật độ treo bẫy ME tại vườn ổi tại Thanh
Thời gian đánh giá Tỷ lệ quả bị hại (%)
Không treo CT1 CT2 CT3
Chú thích: CT1: 2 bẫy CT2: 4 bẫy CT3: 6 bẫy Diện tích vườn: 1000m 2 , độ cao treo bẫy: 1,5m
Từ bảng có thể nhận thấy rằng ở các mật độ treo khác nhau thì tỷ lệ bị hại khác nhau có ý nghĩa, cụ thể là ở bẫy không treo thì tỷ lệ quả bị ròi đục là thấp nhất, trung bình là 16%, cao nhất là 40% vào các tháng quả chín rộ, tiếp theo là ở công thức 1, tỷ lệ quả bị hại trung bình là 21,16% không khác biệt với tỷ lệ quả bị hại ở công thức đối chứng Tuy nhiên, ở công thức 2 và công thức 3 tỷ lệ quả bị hại sai khác rõ ràng so với công thức đối chứng, ở công thức 2 tỷ lệ quả bị hại gấp đôi so với công thức đối chứng là 35% vào tháng cao điểm thì số quả bị hại lên đến 66%, và gấp 3 lần so với công thức đối chứng là ở công thức 3 với tỷ lệ quả bị hại trung bình là 49,66%, số quả ổi bị hại cao nhất là 86% vào ngày thu 3/10/2016 Sự chênh lệch này diễn ra ngay từ khi quả bắt đầu chin
Từ đây có thể rút ra kết luận rằng, số lượng bẫy càng nhiều thì thu hút càng nhiều ruồi đục quả B dorsalis, nhưng đồng thời cũng làm cho tỷ lệ quả bị hại tăng lên rất nhiều Điều này có thể giải thích là do chất dẫn dụ ME có khả năng phát tán rất xa, nên có thể thu hút cả ruồi đục quả ở các vườn không treo đến, nên tỷ lệ quả bị hại càng cao Theo các nghiên cứu về phòng trừ ruồi đục quả trên thế giới cho thấy rằng, vào các năm đầu tiên khi sử dụng bẫy dẫn dụ mật độ ruồi không giảm, chỉ sau khi áp dụng đại trà từ vài năm trở lên thì mật độ ruồi đục quả bắt đầu giảm đáng kể (IAEA, 2003) Do nghiên cứu thử nghiệm đặt bẫy chỉ áp dụng trên diện tích nhỏ của vùng sản xuất ổi chuyên canh tại Thanh Hà – Hải Dương, để biết được chính xác về hiệu quả của mật độ treo khác nhau thì cần phải tiếp tục nghiên cứu thêm trong các năm tiếp theo
4.4.3 Đánh giá ảnh hưởng của các chiều cao treo bẫy ME tại vườn ổi tại Thanh Hà – Hải Dương năm 2016
Ruồi đục quả Bactrocera có cánh nên có khả năng bay rất xa, việc tìm kiếm vào giao phối của ruồi đục quả dựa vào pheromone con cái tiết vào trong không khí, con đực dựa vào mùi vị của pheromone của con cái mà tìm đến mà ghép cặp, do vậy chiều cao và vị trí đặt bẫy dẫn dụ có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả của pheromone, nên để biết được chiều cao nào là phù hợp nhất để chất dẫn dụ có khả năng phát tán ra xa nhất và thu hút được nhiều ruồi đục quả thì chúng tôi tiến hành đặt bẫy ở các chiều cao khác nhau, kết quả thử nghiệm được thể hiện trong bảng 4.13
Bảng 4.13 Số lượng ruồi B dorsalis vào bẫy ME ở các chiều cao treo khác nhau tại vườn ổi tại Thanh Hà – Hải Dương năm 2016
Mật độ ruồi vào bẫy (Con/ bẫy/ 15 ngày)
Chú thích: CT1: Treo bẫy cách mặt đất 1 m CT2: Treo bẫy cách mặt đất 1,5 m CT3: Treo bẫy cách mặt đất 2 m Mật độ treo bẫy: 1 bẫy/vườn, diện tích vườn: 500 m 2
Kết quả từ bảng cho thấy rằng ở các chiều cao treo khác nhau thì số lượng ruồi đục quả vào bẫy khác nhau Cụ thể là ở công thức 2 với chiều cao treo cách mặt đất là 1,5m thu được nhiều ruồi đục quả nhất cao nhất là 501 ruồi trưởng thành đực vào tháng 8 và trung bình là 255,83 con/bẫy/15 ngày thu Ở công thức treo cách mặt đất là 1 m và 2 m có số lượng ruồi đục quả ít hơn hẳn là 107 con/ bẫy/15 ngày và 103 con/bẫy/15 ngày Vườn ổi đài loan treo bẫy thử nghiệm có chiều cao cây trung bình 1,8 – 2 m, nên nếu treo quá thấp khoảng 1m thì khả năng phát tán mùi của chất dẫn dụ Methyl eugenol sẽ kém do có ít gió, còn nếu treo quá cao khoảng 2 m thì chất dẫn dụ phát tán tốt nhưng chất dẫn dụ dễ bị quang phân, ruồi đục quả B dorsalis và ruồi đục quả họ Tephritidae nói chung thì chúng có tập tính giao phối trong điều kiện ánh sáng yếu và dưới tán lá cây (Drew, 2000), do vậy treo ở độ cao 2 m ở vườn ổi không mang lại hiệu quả cao
Chiều cao phù hợp nhất cho việc treo bẫy dẫn dụ ME tại vườn ổi đài loan tại Thanh Hà – Hải Dương là 1,5 m
4.4.4 Đánh giá ảnh hưởng của các thời điểm treo bẫy ME
Trong bất kỳ biện pháp phòng trừ sâu bệnh hại nói chung, thì thời điểm áp dụng các biện pháp rất quan trọng vì nếu áp dụng các biện pháp quá sớm thì sẽ gây tốn kém về kinh tế cho người trồng mà hiệu quả lại không cao, còn nếu treo quá mộn thì cây trồng đã bị gây hại nặng, lúc này áp dụng các biện pháp phòng trừ không mang lại hiệu quả Sử dụng bẫy dẫn dụ trong phòng trừ cũng tương tự như vậy, xác định được thời điểm treo hợp lý sẽ giúp nâng cao hiệu quả phòng trừ cũng như kinh tế nhất cho người trồng Hiện nay chưa có một nghiên cứu thử nghiệm nào về thời điểm treo bẫy dẫn dụ giới tính ME trong phòng trừ ruồi đục quả B dorsalis Hendel nào tại Việt Nam, xuất phát từ thực tế đó chúng tôi thực hiện thí nghiệm xác định thời điểm treo bẫy dẫn dụ ME tại vườn ổi đài loan tại Thanh Hà – Hải Dương, bẫy được treo trên ba vườn, mỗi vườn có diện tích là 500 m 2 mật độ là 1 bẫy/vườn tại 5 giai đoạn phát triển của cây Kết quả của thử nghiệm được thể hiện quả bảng 4.14
Bảng 4.14 Mật độ ruồi B dorsalis Hendel vào bẫy ME ở các thời điểm treo tại vườn ổi tại Thanh Hà – Hải Dương năm 2016
Mật độ ruồi vào bẫy (Con/bẫy/15 ngày) Vườn 1 Vườn 2 Vườn 3 Trung Bình
CT1: Trước khi ra hoa 1 3 0 1,33
CT4: Quả bắt đầu chín 175 126 140 147
Chú thích: CT1: Trước khi ra hoa từ tháng 2- 3 CT2: Ra hoa từ giữa tháng 3- cuối tháng 4 CT3: Quả non từ đầu tháng 5 đến cuối tháng 5 CT4: Quả bắt đầu chín giữa tháng 6 đến giữa tháng 7 CT5: Quả bắt đầu chín rộ từ đầu tháng 8 – đến tháng 9
Kết quả thí nghiệm cho thấy số lượng trưởng thành đực bắt được trên bẫy