1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu dao động của xe ô tô hyundai 3,5 tấn vận chuyển gỗ trên đường lâm nghiệp

94 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu dao động của xe ô tô hyundai 3,5 tấn vận chuyển gỗ trên đường lâm nghiệp
Tác giả Đặng Đình Tiệu
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Nhật Chiêu
Trường học Trường Đại Học Lâm Nghiệp
Chuyên ngành Kỹ thuật máy và thiết bị cơ giới hoá nông lâm nghiệp
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2012
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 3,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU (14)
    • 1.1. Tình hình nghiên cứu, ứng dụng các loại ô tô, máy kéo trong vận chuyển gỗ (14)
      • 1.1.1. Tình hình nghiên cứu, ứng dụng các loại ô tô, máy kéo trong vận chuyển gỗ trên thế giới (14)
      • 1.1.2. Tình hình nghiên cứu, ứng dụng các loại ô tô, máy kéo trong vận chuyển gỗ ở Việt Nam (15)
    • 1.2. Tổng quan về nghiên cứu dao động ôtô, máy kéo (19)
      • 1.2.1. Tổng quan nghiên cứu về dao động ôtô, máy kéo trên thế giới (19)
      • 1.2.2. Tổng quan nghiên cứu về dao động ôtô, máy kéo ở Việt Nam (20)
    • 1.3. Tổng quan về hệ thống treo của ôt ô, máy kéo (24)
      • 1.3.1. Các bộ phận của hệ thống treo trên ôtô, máy kéo (24)
      • 1.3.2. Đặc trưng các phần tử đàn hồi của hê ̣ thống treo trên ôtô, máy kéo (31)
    • 1.4. Tổng quan về độ êm dịu chuyển động của ôtô, máy kéo (0)
      • 1.4.1. Tần số dao động riêng (35)
      • 1.4.2. Gia tốc dao động (35)
      • 1.4.3. Chỉ tiêu về độ êm dịu (35)
    • 1.5. Các phương pháp cơ học trong nghiên cứu dao động ôtô, máy kéo (36)
      • 1.5.1. Phương pháp phần tử hữu hạn (36)
      • 1.5.2. Phương pháp sử dụng nguyên lý Dalambe (37)
      • 1.5.3. Phương pháp sử dụng phương trình Lagranger loại II (38)
    • 1.6. Các phần mềm ứng dụng trong nghiên cứu dao động ôtô, máy kéo (39)
      • 1.6.1. Phần mềm Mathematica (39)
      • 1.6.2. Phần mềm Maple (39)
      • 1.6.3. Phần mềm Mathcad (40)
      • 1.6.4. Phần mềm Matlab & Simulink (40)
    • 1.7. Phương pháp thực nghiệm để nghiên cứu dao động (40)
  • Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (44)
    • 2.1. Mục tiêu nghiên cứu (44)
    • 2.2. Đối tượng nghiên cứu (44)
      • 2.2.1. Xe ô tô Hyundai trọng tải 3,5 tấn (44)
      • 2.2.2. Biên dạng đường lâm nghiệp (45)
    • 2.3. Phạm vi nghiên cứu (0)
    • 2.4. Nội dung nghiên cứu (47)
      • 2.4.1. Nghiên cứu lý thuyết (47)
      • 2.4.2. Nghiên cứu thực nghiệm (48)
    • 2.5. Phương pháp nghiên cứu (48)
      • 2.5.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết (48)
      • 2.5.2. Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm (49)
  • Chương 3 NGHIÊN CỨU DAO ĐỘNG CỦA XE ÔTÔ HYUNDAI 3,5 TẤN VẬN CHUYỂN GỖ TRÊN ĐƯỜNG LÂM NGHIỆP (50)
    • 3.1. Xây dựng mô hình dao động của xe Hyundai 3,5 tấn vận chuyển gỗ trên đường lâm nghiệp (50)
      • 3.1.1. Các giả thiết (50)
      • 3.1.2. Xây dựng mô hình dao động tổng quát của xe ôtô Hyundai 3,5 tấn vận chuyển gỗ trên đường lâm nghiệp (50)
    • 3.2. Lập hệ phương trình vi phân dao động của ôtô tải Hyunđai tải trọng 3,5 tấn vận chuyển gỗ trên đường lâm nghiệp (52)
    • 3.3. Giải và mô phỏng hệ phương trình vi phân dao động của cơ hệ (57)
      • 3.3.1. Xác định các thông số đầu vào (57)
      • 3.3.2. Giải và mô phỏng hệ phương trình vi phân và mô phỏng dao động của xe ôtô Hyunđai 3,5 tấn vận chuyển gỗ trên đường lâm nghiệp (62)
    • 3.4. Đề xuất các giải pháp nâng cao độ chuyển động êm dịu của xe Hyunđai 3,5 tấn vận chuyển gỗ trên đường lâm nghiệp (71)
  • Chương 4 NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM (79)
    • 4.1. Mục đích nghiên cứu thực nghiệm (79)
    • 4.2. Đối tượng nghiên cứu thực nghiệm (79)
    • 4.3. Trang thiết bị thực nghiệm (80)
      • 4.3.1. Thiết bị đo Spider8 và phần mềm Catman (81)
      • 4.3.2. Đầu đo gia tốc (82)
    • 4.4. Tiến hành thực nghiệm (84)
    • 4.5. Kết quả thực nghiệm (86)
    • 4.6. So sánh kết quả lý thuyết với thực nghiệm (87)
  • PHỤ LỤC (0)

Nội dung

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Tình hình nghiên cứu, ứng dụng các loại ô tô, máy kéo trong vận chuyển gỗ

1.1.1 Tình hình nghiên cứu, ứng dụng các loại ô tô, máy kéo trong vận chuyển gỗ trên thế giới

Khai thác gỗ là quá trình biến cây đứng thành sản phẩm gỗ tròn theo quy cách xác định và chuyển từ rừng đến điểm tiêu thụ Đây là cầu nối giữa nguồn tài nguyên rừng và các ngành công nghiệp như chế biến gỗ, công nghiệp giấy, và xây dựng Việc khai thác cần tuân thủ các công nghệ nhất định, bao gồm công nghệ thủ công và công nghệ tiên tiến, mỗi loại phù hợp với điều kiện cụ thể Công nghệ khai thác gỗ hiệu quả phải giảm thiểu chi phí sản xuất và tác động xấu đến môi trường Nghiên cứu gần đây cho thấy chi phí vận chuyển gỗ chiếm tới 45% tổng chi phí khai thác.

Việc vận chuyển gỗ từ bãi gỗ đến nơi tiêu thụ ở Brazil chủ yếu sử dụng các xe vận tải chuyên dụng như xe tải không rơ moóc, xe tải với sơ mi rơ moóc, và xe tải kéo theo một hoặc hai rơ moóc Quá trình bốc dỡ tại các kho gỗ thường được thực hiện bằng các cầu trục thủy lực cố định, trong khi ở những khu vực có sản lượng khai thác nhỏ, lao động thủ công vẫn được áp dụng Tại Phần Lan và các nước Bắc Âu, trước những năm 80, việc vận chuyển gỗ từ rừng đến nơi tiêu thụ chủ yếu diễn ra qua đường bộ.

Việc vận chuyển gỗ hiện nay chủ yếu được thực hiện bằng ôtô, với việc bốc dỡ gỗ đã được cơ giới hóa tối đa Mặc dù trước đây ở Malaysia, người ta đã sử dụng máy kéo xích và máy kéo bánh hơi lâm nghiệp để vận chuyển gỗ, nhưng điều này đã dẫn đến tình trạng phá hoại bề mặt đất rừng nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu đến quá trình tái sinh rừng và làm tăng xói mòn đất Hiện tại, xu hướng vận chuyển gỗ bằng đường thủy và đường sắt đang giảm dần.

1.1.2 Tình hình nghiên cứu, ứng dụng các loại ô tô, máy kéo trong vận chuyển gỗ ở Việt Nam Ở nước ta, phần lớn gỗ được khai thác, sản xuất và tiêu thụ trong nội địa chiếm 98% gỗ tròn, 92% gỗ xẻ và 80% sản phẩm giấy Một phần gỗ và các lâm sản đặc sản như quế, dầu hồi, hạt điều, cánh kiến được được xuất khẩu sang các nước như: Nhật Bản, Hồng Kông, Singapore, Thái Lan

Vận chuyển đường dài gỗ từ các bãi trung chuyển về nhà máy giấy được thực hiện qua đường sông và đường bộ, sử dụng các phương tiện chuyên dụng như xe ôtô, tàu thuỷ và thuyền.

Hình 1.1 Vận chuyển gỗ bằng ô tô lâm nghiệp chuyên dùng

Vận chuyển đường ngắn gỗ từ địa điểm khai thác đến các bãi gỗ, nhà máy và xưởng chế biến gỗ đã chuyển mình từ việc sử dụng các phương tiện như xe Reo 7, xe Volvo, Jil 157K, xe IFA và xe công nông sang việc áp dụng các loại xe tải cỡ trung bình và lớn Điều này phản ánh sự phát triển trong ngành vận chuyển gỗ, giúp nâng cao hiệu quả và năng suất cho các hộ kinh doanh rừng, doanh nghiệp và nhà máy chế biến gỗ.

Hình 1.2 Vận chuyển gỗ bằng ôtô tải cỡ trung bình

Vận chuyển bằng đường ôtô có ưu điểm nổi bật là khả năng áp dụng linh hoạt trên nhiều loại địa hình và phương thức khai thác khác nhau.

Tuy nhiên, loại hình vận chuyển gỗ bằng đường ôtô có một số hạn chế nhất định:

- Chi phí cho xây dựng hệ thống đường ôtô lâm nghiệp từ đường trục đến đường nhánh tương đối lớn

Việc thiết kế và thi công đường ôtô không đúng cách gây tác động tiêu cực đến môi trường, bao gồm rừng, đất rừng, và hệ sinh thái động thực vật Hơn nữa, nó còn ảnh hưởng đến các dòng chảy trong khu vực và đời sống của cộng đồng dân cư xung quanh.

- Chi phí vận chuyển gỗ có thể lên tới trên 45% trong toàn bộ chi phí khai thác gỗ

Xe vận chuyển có tải trọng lớn gây áp lực mạnh lên mặt đường, dẫn đến biến dạng nhanh chóng của nền đường và áo đường, từ đó giảm khả năng vận chuyển Do đó, việc chăm sóc và bảo quản đường cần được thực hiện thường xuyên để duy trì chất lượng và hiệu quả sử dụng.

Các tuyến đường chất lượng thấp, như đường trục phụ và nhánh, không có áo đường sẽ gặp khó khăn trong mùa mưa khi mặt đường trở nên lầy lội, gây cản trở cho công tác vận chuyển.

Trong quá trình vận chuyển, khí thải và nhiên liệu từ các thiết bị bốc dỡ và vận chuyển có thể gây ô nhiễm không khí Nếu không được quản lý chặt chẽ, những chất thải này còn có nguy cơ làm ô nhiễm nguồn nước và các dòng chảy xung quanh.

Yêu cầu kỹ thuật trong vận chuyển gỗ bằng đường ôtô

Các xe vận chuyển gỗ phải tuân thủ đúng tải trọng quy định cho từng loại xe để đảm bảo an toàn và bảo vệ mặt đường khỏi hư hại do áp lực từ bánh xe.

Chỉ nên sử dụng xe có khả năng bám đường và vượt địa hình tốt trong những tình huống cần thiết, chẳng hạn như khi đường xá xấu hoặc lầy lội, nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực đến mặt đường do bánh xe gây ra.

Các xe vận chuyển gỗ cần sử dụng loại xe chuyên dụng với trang thiết bị đầy đủ và đảm bảo yêu cầu kỹ thuật Cọc ke phải được đặt thẳng đứng, trong khi cáp buộc và xích cần chắc chắn để đảm bảo an toàn cho xe và người trong quá trình di chuyển trên đường lâm nghiệp cũng như đường công cộng.

- Trong trường hợp đường quá trơn và lầy lội, xe chở gỗ cần có các trang thiết bị trợ giúp như tời chống trượt, xích chống trượt

Gỗ trên ôtô cần được phân bố hợp lý để đảm bảo tải trọng an toàn, đồng thời phải được giàng buộc cẩn thận để tránh hiện tượng xô ngang và trượt về phía sau trong quá trình di chuyển.

- Các loại xe vận chuyển bốc, dỡ gỗ phải được kiểm tra thường xuyên trước khi sử dụng; được bảo dưỡng, sửa chữa theo định kỳ

Tổng quan về nghiên cứu dao động ôtô, máy kéo

1.2.1 Tổng quan nghiên cứu về dao động ôtô, máy kéo trên thế giới

Trong nghiên cứu của Muller, mô hình không gian được đề xuất mô tả tất cả các loại dao động của máy kéo bánh hơi, tuy nhiên, tác giả đã không xem xét các tác động của tải trọng kéo và các yếu tố khác Theo ông, máy kéo có thể có tới 7 bậc tự do, bao gồm: dao động thẳng đứng, dao động xoay quanh trục ngang, dao động dọc, dao động xoay quanh trục dọc, và dao động liên kết xoay quanh trục cân bằng.

Tác giả Volgel [49] đã nghiên cứu động lực học của máy cày liên hợp, chú trọng vào sự dao động của lực kéo và tải trọng thẳng đứng, đồng thời xem xét tính đàn hồi của hệ truyền lực và bánh xe Nghiên cứu này cung cấp cái nhìn tổng quan về các yếu tố ảnh hưởng đến dao động của máy trong quá trình cày đất, nhưng vẫn thiếu thực nghiệm để xác thực các giả thuyết đã đề xuất.

Trong nghiên cứu của Wendebon, tác giả đã phát triển một mô hình lý thuyết và thực nghiệm để phân tích tính chất động lực học của dao động thẳng đứng của máy kéo, mà không xem xét đến chuyển động quay và các yếu tố khác.

Công trình này chưa đánh giá đầy đủ các tính chất động lực học của máy và các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển động của máy kéo cũng như liên hợp máy nói chung.

Năm 1973, Barski I.B đã tiến hành nghiên cứu về động lực học của máy kéo, bao gồm máy kéo bánh hơi và máy kéo bánh xích, đồng thời phân tích độ êm dịu trong chuyển động của các loại máy kéo này.

Năm 1983 Đobrưnhin Iu.A [46], nghiên cứu động lực học thẳng đứng của máy kéo bánh hơi khi vận xuất gỗ

Năm 1987, Zucov A.B đã tiến hành nghiên cứu về dao động của máy kéo lâm nghiệp, đồng thời đề cập đến các yếu tố ảnh hưởng đến dao động thẳng đứng của máy kéo, bao gồm tải trọng, vận tốc và độ mấp mô của mặt đường.

Ngày nay, nghiên cứu về dao động của ôtô đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trên toàn cầu Các nghiên cứu này tập trung vào mối quan hệ giữa "Đường-Xe-Người" Để phân tích mối quan hệ này một cách hiệu quả, các nhà sản xuất ôtô và các tổ chức chuyên môn hàng đầu đã thiết lập phòng thí nghiệm và bãi thử nhằm khảo sát dao động của ôtô, bao gồm cả biến dạng thực tế của mặt đường và khả năng chịu đựng của con người đối với dao động.

1.2.2 Tổng quan nghiên cứu về dao động ôtô, máy kéo ở Việt Nam

Trong sản xuất lâm nghiệp, hoạt động khai thác gỗ chủ yếu diễn ra trong rừng, sử dụng các loại máy kéo chuyên dụng hoặc máy kéo nông nghiệp được trang bị thiết bị vận chuyển gỗ Tại Việt Nam, thường sử dụng máy kéo nhập khẩu để khai thác gỗ, trong khi việc vận chuyển gỗ chủ yếu thực hiện bằng xe tải cỡ trung bình và lớn, cũng như các xe chuyên dụng Các nghiên cứu hiện nay tập trung vào việc xây dựng hệ thống định mức kinh tế kỹ thuật cho ngành lâm nghiệp.

Có rất ít nghiên cứu về đặc tính động lực học của ôtô tải cỡ trung bình mới tại Việt Nam Các vấn đề như độ ổn định, khả năng kéo bám khi thay đổi tải trọng, và các đặc trưng động lực học của các bộ phận làm việc của ôtô và máy kéo trên các địa hình và điều kiện làm việc khác nhau vẫn chưa được khai thác nhiều.

Có thể kể ra một số công trình nghiên cứu về dao động ôtô, máy kéo ở nước ta như sau:

Năm 1990, Bùi Hải Triều đã phát triển mô hình phản ánh tính chất hoạt động và cấu trúc của máy kéo bánh hơi, mô tả sự tương tác giữa động cơ và máy điều chỉnh Mô hình này xem xét các yếu tố như tính đàn hồi, giảm chấn của hệ thống, và đặc tính bám trượt của bộ ly hợp cùng bánh xe với mặt đường Tuy nhiên, công trình này chỉ tập trung vào các tác động của yếu tố tới hệ thống truyền lực mà chưa xem xét đầy đủ các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển động của liên hợp máy.

Công trình nghiên cứu của GS.TS Nguyễn Hữu Cẩn và các cộng sự

Tính êm dịu trong chuyển động của ôtô máy kéo được đánh giá qua tần số dao động, gia tốc dao động và thời gian tác động của dao động Trong quá trình di chuyển, ôtô máy kéo dao động theo ba phương: thẳng đứng (OZ), ngang (OX) và dọc máy (OY) Trong đó, dao động theo phương thẳng đứng ảnh hưởng chủ yếu đến con người, trong khi dao động theo phương ngang và dọc có tác động không đáng kể và có thể bỏ qua.

Th.S Nguyễn Hồng Quang [29], đã nghiên cứu dao động của máy kéo Shibaura với thiết bị tời cáp khi vận xuất gỗ theo phương pháp kéo nửa lết

Th.S Lưu Văn Hưng đã tiến hành nghiên cứu về dao động của rơ moóc một trục chở gỗ khi được trang bị bộ phận đàn hồi có chức năng giảm chấn giữa khung và trục bánh xe.

Nghiên cứu về dao động của máy kéo tại Việt Nam vẫn còn hạn chế và chủ yếu phát triển trong những năm gần đây Các công trình này tập trung vào việc xác định tác động của rung xóc đến sức khỏe người lái, đồng thời đề xuất một số biện pháp chống rung như cải tiến ghế ngồi Tuy nhiên, các tác giả chỉ xem xét dao động của máy kéo trong những điều kiện cụ thể, với giả định hệ thống là tuyến tính và chịu tác động từ mặt đường theo hàm xác định.

Vào năm 2010, Tô Quốc Huy đã thực hiện nghiên cứu về giải pháp giảm sóc cho người lái xe tải xích cao MST – 600 trong việc vận chuyển gỗ trên các tuyến đường lâm nghiệp.

Nghiên cứu thiết kế giảm rung đã dựa trên số liệu về dao động của con người, từ đó lựa chọn các thông số chính như khối lượng người và ghế, độ cứng của lò xo, hệ số cản, và tính toán dựa trên điều kiện biên độ dịch chuyển cho phép.

Th.S Huỳnh Quốc Hội [22] đã nghiên cứu về quá trình lắc ngang, lắc dọc của ô tô ở vận tốc cao

Th.S Hoàng Gia Thắng [31] đã nghiên cứu dao động trong mặt phẳng thẳng đứng của toa xe khách bốn trục hai hệ lò xo khi qua mối nối ray

Tổng quan về hệ thống treo của ôt ô, máy kéo

1.3.1 Các bộ phận của hệ thống treo trên ôtô, máy kéo

Hệ thống treo đóng vai trò quan trọng trong việc tạo điều kiện cho bánh xe chuyển động êm dịu theo phương thẳng đứng so với khung xe, đồng thời hạn chế các chuyển động không mong muốn như lắc ngang và lắc dọc Để đạt được điều này, cần thiết phải có độ cứng phù hợp giúp xe di chuyển êm ái và nhanh chóng dập tắt các dao động, đặc biệt là những dao động mạnh.

Hệ thống treo của xe ô tô và máy kéo luôn phải đạt được sự cân bằng giữa độ an toàn và độ êm dịu, với biên độ lớn lên đến 14 Điều này đảm bảo rằng người lái và hành khách sẽ có trải nghiệm thoải mái mà vẫn giữ được tính năng an toàn cần thiết.

Cấu tạo chung của hệ thống treo thường dùng trên ôtô, máy kéo có các bô phận sau:

* Bộ phận đàn hồi: Trong hệ thống treo, bộ phận đàn hồi thường dùng lò xo xoắn, bó nhíp, túi khí nén, đệm cao su

Lò xo có nhiều ưu điểm nổi bật, bao gồm kết cấu gọn gàng khi được lồng vào giảm chấn So với nhíp, lò xo trụ có cùng độ cứng và độ bền nhưng khối lượng nhẹ hơn và tuổi thọ cao hơn Kết cấu nhỏ gọn giúp tiết kiệm không gian, đồng thời hạ thấp trọng tâm xe, từ đó nâng cao tốc độ.

Khi làm việc ở giữa các vòng lò xo không có nội ma sát như nhíp, nhược điểm là cần phải bố trí thêm giảm chấn để nhanh chóng dập tắt dao động.

Lò xo dùng cho các loại xe ôtô du lịch, xe tải nhỏ, xe khách có các loại lò xo như lò xo trụ, lò xo côn, (hình 1.3)

Hình 1.3: Lò xo trụ dùng trong hệ thống treo

Loại nhíp treo mang lại nhiều ưu điểm như không cần thanh ổn định, tiết kiệm chi phí và dễ bảo trì Tuy nhiên, nhược điểm của nó là khối lượng lớn và chiều cao trọng tâm cao, ảnh hưởng đến tốc độ và sự ổn định khi xe di chuyển Hơn nữa, vết bánh xe cũng sẽ thay đổi khi xe hoạt động.

Bánh xe nâng lên có thể gây ra lực ngang, làm giảm khả năng bám đường và dễ dẫn đến trượt ngang Để khắc phục tình trạng này, loại bó nhíp và đệm cao su thường được sử dụng phổ biến trên ôtô và máy kéo.

Hình 1.4: Bó nhíp Hình 1.5: Đệm cao su

Phần tử đàn hồi sử dụng đệm khí hoạt động dựa trên nguyên tắc tính đàn hồi của không khí khi bị nén Hệ thống treo khí (hình 1.6) được ứng dụng hiệu quả trong các loại ô tô.

Bộ phận đàn hồi loại khí trên xe ôtô hiện đại, đặc biệt là ôtô chở khách và ôtô vận tải, có khả năng tự động điều chỉnh độ cứng của hệ thống treo thông qua việc thay đổi áp suất không khí bên trong Việc giảm độ cứng này giúp cải thiện độ êm dịu của chuyển động, mang lại trải nghiệm lái xe thoải mái hơn.

* Bộ phận giảm chấn : Trên xe ôtô giảm chấn được sử dụng với các mục đích sau:

Giảm va đập truyền lên khung khi bánh xe lăn trên đường không bằng phẳng để bảo vệ bộ phận đàn hồi và nâng cao tính tiện nghi cho người sử dụng Đảm bảo dao động của phần không treo ở mức tối thiểu, giúp cải thiện sự tiếp xúc của bánh xe với mặt đường, từ đó tăng cường tính năng lái, tăng tốc và đảm bảo chuyển động an toàn.

Nâng cao khả năng tăng tốc và an toàn khi xe di chuyển là rất quan trọng Để giảm thiểu dao động, hệ thống giảm chấn sẽ chuyển đổi cơ năng thành nhiệt năng thông qua ma sát giữa chất lỏng và các van tiết lưu.

Trên ôtô hiện nay chủ yếu sử dụng là giảm chấn ống thuỷ lực có tác dụng hai chiều ở cấu trúc hai lớp, (hình 1.7)

Hình 1.7: Cấu tạo bộ phận giảm chấn thường dùng trên ôtô, máy kéo

Ống nhún giảm chấn thuỷ - khí, được sử dụng trên một số xe ôtô hiện đại, có giá thành cao và vận hành phức tạp, không phổ biến do hệ thống nén khí cao áp đắt đỏ Thiết kế của nó bao gồm lò xo đàn hồi kết hợp với lò xo khí thủy lực, trong đó piston của lò xo đàn hồi cũng là trục của bộ giảm chấn Lò xo khí nằm trong một khối cầu được bảo vệ bởi màng cao su đặc biệt, và không gian tích trữ khí cùng với mặt trên của piston được kết nối qua một đường ống thủy lực.

Hình 1.8: Cấu tạo bộ phận giảm chấn thuỷ - khí dùng trên ôtô hiện đại

* Bộ phận ổn định và dẫn hướng

Hình 1.9: Thanh ổn định và các đòn dẫn hướng trong cơ cấu treo

Thanh ổn định giúp cân bằng tải trọng giữa các bánh xe bằng cách giảm thiểu sự chênh lệch phản lực thẳng đứng Cấu tạo của thanh này có hình dạng chữ U, trong đó một đầu được kết nối với phần không được treo và đầu còn lại gắn với thân vỏ xe Các đầu nối này sử dụng ổ đỡ bằng cao su để đảm bảo tính linh hoạt và ổn định trong quá trình vận hành.

Bộ phận dẫn hướng: có nhiệm vụ truyền các lực dọc, lực ngang và các mômen từ bánh xe lên khung hoặc thân xe, (hình 1.9)

* Một số kiểu bố trí hệ thống treo trong ôtô, máy kéo

Trong cấu tạo ôtô và xe máy, có nhiều kiểu bố trí hệ thống treo khác nhau Hiện nay, các phương pháp bố trí hệ thống treo phổ biến được sử dụng bao gồm nhiều cách tiếp cận khác nhau.

Hệ thống treo phụ thuộc (hình 1.10) có cấu trúc với các bánh xe gắn trên một dầm cầu liền, trong đó bộ phận giảm chấn và đàn hồi được đặt giữa thùng xe và dầm cầu Sự dịch chuyển theo phương thẳng đứng của một bánh xe sẽ ảnh hưởng đến chuyển vị của bánh xe phía bên kia.

Hình 1.10: Hệ thống treo phụ thuộc dùng lá nhíp

Hệ treo độc lập hai đòn dọc là cấu trúc treo với mỗi bên sử dụng một đòn dọc, thường được bố trí song song và gần sát bánh xe Một đầu của đòn dọc được gắn cố định vào moayơ bánh xe, trong khi đầu còn lại liên kết thông qua bản lề.

Tổng quan về độ êm dịu chuyển động của ôtô, máy kéo

1.4.1 Tần số dao động riêng

Tần số dao động riêng của một hệ dao động, như khối lượng đặt trên lò xo, được định nghĩa là số lần dao động của hệ trong một phút (dao động/phút) hoặc trong một giây (1/s, tương ứng với 1 Hz).

Trong đó: C - Độ cứng của hệ dao động;

M - Khối lượng được đặt trên hệ

Tần số dao động riêng của một hệ thống dao động được xác định bởi các yếu tố cấu trúc như khối lượng, độ cứng và lực cản, và không bị ảnh hưởng bởi kích thích dao động.

Gia tốc dao động riêng là chỉ tiêu quan trọng phản ánh ảnh hưởng của biên độ và tần số dao động Dao động tự do tắt dần chỉ diễn ra trong một chu kỳ, vì vậy việc xác định gia tốc dao động có ý nghĩa lớn trong nghiên cứu dao động cưỡng bức, đặc biệt là khi có sự kích thích từ mặt đường.

1.4.3 Chỉ tiêu về độ êm dịu

Hệ số êm dịu K, được phát triển bởi các kỹ sư Đức (VDI), xác định cảm giác của con người khi chịu dao động Cảm giác này sẽ không thay đổi nếu K là hằng số Hệ số K phụ thuộc vào tần số dao động  và gia tốc của nó, đặc biệt khi  tăng lên.

Tần số dao động có thể là 5Hz hoặc theo vận tốc dao động khi đạt từ 15Hz trở lên Ảnh hưởng của dao động đến cơ thể con người còn phụ thuộc vào hướng dao động theo trục thẳng đứng hoặc ngang và thời gian tác động lên cơ thể.

Hệ số K xác định theo trị số của biên độ gia tốc  z  hoặc theo gia tốc bình phương trung bình  z  c theo công thức sau đây [4]:

Trong đó: nv - Tần số dao động (Hz)

 - Gia tốc bình phương trung bình (m/s 2 )

Ky - Hệ số hấp thụ Để xác định K cần xác định được  z  hoặc  z  c

Khi con người nằm ngang và chịu dao động, hệ số Ky giảm một nửa, cho thấy rằng hệ số K càng nhỏ thì khả năng chịu đựng dao động càng cao và độ êm dịu của ô tô, máy kéo cũng tăng lên Giá trị K = 0,1 là ngưỡng kích thích, trong khi đối với hành trình dài, K có thể dao động từ 10 đến 25, và cho các chuyến đi ngắn hoặc trên xe tự hành, K nằm trong khoảng từ 25 đến 63.

Các phương pháp cơ học trong nghiên cứu dao động ôtô, máy kéo

Phương pháp nghiên cứu dao động ôtô và máy kéo chủ yếu là xây dựng và xử lý mô hình toán học để mô tả dao động của các khối lượng trong hệ thống cơ học.

Mô hình toán mô tả dịch chuyển của cơ hệ thường được thiết lập dưới dạng các phương trình vi phân Có nhiều phương pháp để lập các phương trình này, bao gồm phương pháp phần tử hữu hạn, phương pháp Dalambe và phương pháp áp dụng phương trình Lagranger loại II.

1.5.1 Phương pháp phần tử hữu hạn

Phương pháp phần tử hữu hạn (FEM) là một kỹ thuật gần đúng dùng để giải quyết các bài toán biên Trong FEM, vật thể được chia thành các phần tử nhỏ với kích thước hữu hạn, liên kết tại một số điểm nhất định trên biên, gọi là các điểm nút Các đại lượng cần tìm tại các nút sẽ là các ẩn số trong quá trình tính toán.

Để giải bài toán biên trong miền W, ta sử dụng phương pháp tam giác phân, chia miền thành một số hữu hạn các miền con Wj (j = 1, , n) Các miền con này không giao nhau và chỉ có thể chia sẻ đỉnh hoặc cạnh Mỗi miền con Wj được gọi là phần tử hữu hạn, với tải trọng trên các phần tử được đưa về các nút.

Trong bài toán biên ban đầu, người ta tìm nghiệm xấp xỉ cho các hàm số trong không gian hữu hạn chiều, với điều kiện khả vi trên toàn miền W Các hàm số này cũng phải tuân thủ các hạn chế đa thức trên từng phần tử hữu hạn Wj.

Có thể lựa chọn cơ sở không gian với các hàm số ψ1(x), , ψn(x) có giá trị tại một số hữu hạn phần tử hữu hạn Wj gần nhau Nghiệm xấp xỉ của bài toán ban đầu được biểu diễn dưới dạng c1ψ1(x) + + cnψn(x), trong đó các ck là các số cần tìm Việc tìm các ck thường được chuyển thành giải một phương trình đại số với ma trận thưa, giúp cho quá trình giải trở nên dễ dàng Các cạnh của các phần tử hữu hạn có thể là đường thẳng hoặc đường cong để xấp xỉ các miền có hình dạng phức tạp Phương pháp phần tử hữu hạn có thể được áp dụng để giải gần đúng các bài toán biên tuyến tính, phi tuyến và các bất phương trình.

1.5.2 Phương pháp sử dụng nguyên lý Dalambe:

Theo nguyên lý Dalambe, bài toán động lực học của hệ dao động có thể chuyển đổi thành bài toán tĩnh học bằng cách đưa lực quán tính vào hệ Phương trình chuyển động được thiết lập dựa trên tổng đại số của các ngoại lực, phản lực và lực quán tính tác động lên hệ Các phần tử của hệ dao động được tách riêng và đặt trong trạng thái tĩnh với ngoại lực cân bằng Từ đó, các phương trình cho từng phần tử được xây dựng, giúp giải hệ các phương trình đơn giản.

Phương pháp này phổ biến trong việc giải quyết các bài toán động lực học và giúp trực quan hóa mối quan hệ ảnh hưởng đến từng phần tử trong hệ dao động Nó thường được áp dụng cho các hệ dao động đơn giản.

1.5.3 Phương pháp sử dụng phương trình Lagranger loại II

Phương trình Lagranger hạng II có dạng tổng quát như sau: i i i i i q Q q q

Trong đó: T - hàm động năng của hệ; П - hàm thế năng của hệ; Ф - hàm hao tán của hệ; q i - các toạ độ suy rộng (i = 1, 2,.…, n);

Q i - lực suy rộng tương ứng với toạ độ suy rộng thứ i

Sau khi xác định các hàm động năng, thế năng, năng lượng hao tán và các lực suy rộng theo tọa độ suy rộng, ta có thể áp dụng vào phương trình Lagranger hạng II để thu được một hệ phương trình vi phân Số lượng phương trình vi phân trong hệ tỷ lệ thuận với số lượng khối lượng qui đổi trong mô hình Bằng phương pháp giải tích, một hệ phương trình vi phân có thể được chuyển đổi thành một phương trình vi phân bậc cao, với bậc phụ thuộc vào số lượng phương trình trong hệ.

Việc lựa chọn phương pháp trong cơ học phụ thuộc vào mô hình của cơ hệ Đối với các cơ hệ hôlônôm, phương pháp thường được áp dụng là phương trình Lagranger loại II, trong đó các điều kiện ràng buộc được mô tả bằng những phương trình liên kết không chứa yếu tố vận tốc và thời gian.

Các phần mềm ứng dụng trong nghiên cứu dao động ôtô, máy kéo

Xử lý mô hình toán liên quan đến việc giải và mô phỏng các phương trình vi phân đã được thiết lập Đối với những phương trình vi phân không quá phức tạp, phương pháp giải tích thường được ưu tiên sử dụng để tìm ra nghiệm.

Lập mô hình cơ học với nhiều khối lượng quy đổi dẫn đến phương trình vi phân bậc cao, làm cho việc giải và mô phỏng trở nên khó khăn Tuy nhiên, sự phát triển của máy tính điện tử đã giúp khắc phục vấn đề này Hiện nay, có nhiều chương trình hỗ trợ giải và mô phỏng phương trình vi phân, trong đó bốn chương trình phổ biến nhất là Mathematica, Maple, Mathcad và Matlab & Simulink.

Mathematica là phần mềm tích hợp tính toán ký hiệu, tính toán số và vẽ đồ thị, đồng thời là một ngôn ngữ lập trình mạnh mẽ Được phát triển chủ yếu cho các lĩnh vực khoa học vật lý, công nghệ và toán học, Mathematica đã mở rộng ứng dụng của mình sang nhiều lĩnh vực khoa học khác theo thời gian Hiện nay, phần mềm này được sử dụng rộng rãi trong công tác thiết kế công nghệ.

Maple cho phép người dùng nhập biểu thức toán học bằng ký hiệu truyền thống và dễ dàng tạo giao diện người dùng tùy chỉnh Phần mềm hỗ trợ cả tính toán số và hình thức, cùng với khả năng hiển thị Nhiều phép tính số học trong Maple dựa trên thư viện NAG, với các chương trình con được mở rộng để đạt độ chính xác ngẫu nhiên cao Ngoài ra, Maple còn cung cấp một ngôn ngữ lập trình cấp cao đầy đủ.

29 Ưu điểm của Maple là giải phương trình vi phân, phương trình đạo hàm riêng, vẽ đồ thị trong không gian 2 chiều, 3 chiều [13]

MATHCAD là phần mềm xử lý toán học phổ biến toàn cầu, hỗ trợ thiết kế và xuất bản văn bản dễ hiểu về các bản tính và công thức Bên cạnh đó, MATHCAD cũng cho phép lập trình như một ngôn ngữ lập trình bậc cao.

MATHCAD là một công cụ mạnh mẽ có khả năng thay thế bảng tính EXCEL trong việc trình bày các bảng tính thiết kế cho các đối tượng cơ khí và xây dựng Phần đồ họa của MATHCAD cung cấp sự rõ ràng và đa dạng hơn, giúp người dùng dễ dàng hình dung các dữ liệu Đặc biệt, MATHCAD hỗ trợ thực hiện các phép toán phức tạp như giải phương trình vi phân, thao tác với ma trận, giải các bài toán số phức và tối ưu hóa, mang lại kết quả rõ ràng và chính xác.

1.6.4 Phần mềm Matlab & Simulink Đối với việc giải và mô phỏng phương trình vi phân thì Matlab & Simulink là công cụ trợ giúp đắc lực và được sử dụng phổ biến hiện nay Matlab & Simulink là một chương trình lớn trong lĩnh vực toán số với thế mạnh là tính toán và mô phỏng hệ thống

Simulink là một phần mở rộng của Matlab, được thiết kế để mô hình hóa, mô phỏng và khảo sát các hệ thống động học Giao diện đồ họa của Simulink cho phép người dùng trực quan hóa hệ thống thông qua sơ đồ tín hiệu và các khối chức năng quen thuộc.

Phương pháp thực nghiệm để nghiên cứu dao động

Sau khi hoàn thành mô hình toán học trong nghiên cứu lý thuyết, việc thực nghiệm là cần thiết để kiểm tra tính chính xác và độ tin cậy của mô hình Trong quá trình thực nghiệm, các phép đo sẽ được thực hiện nhằm xác định các thông số thực và quy luật biến đổi của chúng.

Sau khi thực hiện so sánh với các kết quả tính toán lý thuyết, nếu sai lệch nằm trong giới hạn cho phép và có thể giải thích được nguyên nhân của sự sai lệch, thì lý thuyết sẽ được công nhận.

Ngày nay, trong nghiên cứu dao động ôtô, phương pháp đo các đại lượng không điện bằng điện đang được áp dụng rộng rãi Phương pháp này biến đổi các đại lượng không điện thành tín hiệu điện trung gian, sau đó tín hiệu này được gửi đến bộ phận khuếch đại Qua việc đo các đại lượng điện, chúng ta có thể xác định chính xác các đại lượng cần đo Ưu điểm của phương pháp này là tính chính xác và khả năng đo lường hiệu quả.

Có thể điều chỉnh độ nhạy của dụng cụ đo một cách dễ dàng trong dải đo rộng, cho phép đo các đại lượng rất nhỏ và khuếch đại lên hàng nghìn lần, điều này giúp phát hiện những đại lượng mà các phương pháp khác không thể thực hiện Các thiết bị điện có quán tính nhỏ và dải tần số rộng, cho phép đo các đại lượng biến đổi nhanh Ngoài ra, chúng còn có khả năng đo từ xa, đồng thời đo nhiều đại lượng và truyền kết quả trên khoảng cách lớn, phục vụ cho việc tính toán và điều khiển các quá trình Cuối cùng, khả năng liên hợp giữa các thiết bị đo và điều khiển tự động các thiết bị cùng loại cũng là một ưu điểm đáng chú ý.

Phương pháp đo các đại lượng không điện bằng điện sử dụng sơ đồ nguyên lý kết hợp thiết bị kỹ thuật số và sự hỗ trợ của máy tính.

Trong đó: - CB - cảm biến;

- A/D - bộ chuyển đổi tín hiệu tương tự (Analog) sang tín hiệu số (Digital)

- PC - máy tính đã được cài đặt các phần mềm đo lường và xử lý số liệu, có chức năng ghi lại và hiển thị các kết quả đo

Cảm biến CB bao gồm các chuyển đổi đo được lắp đặt trực tiếp trên đối tượng cần đo Chuyển đổi đo thực chất là những thành phần chuyển đổi các đại lượng không điện thành đại lượng điện.

Bộ khuếch đại K, thường được chế tạo thành bộ phận độc lập, có chức năng khuếch đại tín hiệu đo lên nhiều lần

Hiện nay, bộ khuếch đại K và bộ chuyển đổi A/D đã được tích hợp vào một thiết bị duy nhất, được điều khiển bởi phần mềm chuyên dụng Một số thiết bị và phần mềm phổ biến bao gồm DMC Plus với phần mềm điều khiển DMC Laplus, cùng với thiết bị Spider8 và phần mềm Spider8 Control Bên cạnh đó, phần mềm Catman cũng được sử dụng để điều khiển cả hai loại thiết bị này.

Cảm biến CB được gắn vào vật cần đo và chuyển tín hiệu đến bộ khuếch đại K, nơi tín hiệu được khuếch đại hàng nghìn lần Sau khi khuếch đại, tín hiệu được chuyển đổi sang dạng số bởi bộ chuyển đổi A/D và lưu trữ trên máy tính dưới định dạng ASCII Thực nghiệm đóng vai trò quan trọng trong nghiên cứu dao động của ô tô máy kéo, với sự chính xác giữa kết quả tính toán lý thuyết và thực nghiệm là tiêu chí đánh giá độ tin cậy và chất lượng của nghiên cứu.

Hiện nay, công nghệ và thiết bị hiện đại trong khai thác và vận chuyển gỗ rừng trồng đang được áp dụng rộng rãi tại Việt Nam Các doanh nghiệp và hộ sản xuất kinh doanh đã sử dụng nhiều loại xe tải nhỏ và trung bình như Hyundai, Forlan, Vinaxuki, và Dongfeng, đặc biệt là xe Hyundai 3,5 tấn Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào về hiệu quả của việc sử dụng loại xe này trong vận chuyển gỗ trên đường lâm nghiệp.

Để nâng cao độ êm dịu trong chuyển động của xe vận chuyển gỗ, cần nghiên cứu dao động của xe và lựa chọn chế độ sử dụng hợp lý Đánh giá độ êm dịu thường dựa vào các chỉ tiêu như tần số dao động riêng, gia tốc dao động và thời gian tác động của dao động Có nhiều phương pháp để lập phương trình vi phân dao động của xe, bao gồm phương pháp lực, phương pháp phần tử hữu hạn, nguyên lý Dalambe và ứng dụng phương trình Laganger loại II Việc giải và mô phỏng phương trình có thể sử dụng các phần mềm hỗ trợ như Mathematica, Mathcad, Maple và Matlab-Simulink, tùy thuộc vào mô hình cơ học của hệ thống.

Chúng tôi tiến hành nghiên cứu về dao động của xe ôtô Hyundai tải trọng 3,5 tấn khi vận chuyển gỗ trên đường lâm nghiệp để giải quyết những vấn đề nêu trên.

MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu về dao động của xe ô tô HYUNDAI tải trọng 3,5 tấn khi vận chuyển gỗ trên đường lâm nghiệp là cơ sở quan trọng để cải tiến hệ thống treo và lựa chọn chế độ sử dụng hợp lý.

Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là xe ôtô Hyundai có trọng tải 3,5 tấn, được sản xuất và lắp ráp tại Việt Nam, chuyên dùng để vận chuyển gỗ trên các tuyến đường lâm nghiệp.

2.2.1 Xe ô tô Hyundai trọng tải 3,5 tấn Ôtô Hyundai 3,5 tấn (hình 2-1) là loại xe tự đổ hai cầu, cầu trước bị động, cầu sau chủ động, được sử dụng để vận chuyển hàng hóa trên thị trường đặc biệt là các hàng hóa như đá, cát, gỗ, xi măng……Xe có tính cơ động cao, vận chuyển trên nhiều loại đường

Xe ôtô Hyundai (Model HD72) 3,5 tấn có đặc tính kỹ thuật và thông số cơ bản như sau (Bảng 2.1)

Bảng 2-1: Thông số kỹ thuật cơ bản của xe ô tô Hyundai 3,5 tấn

TT Thông số kỹ thuật chính

1 Loại động cơ Model: D4AE

2 Momen xoắn cực đại Kgm/rpm) 30/2000

4 Áp suất không khí trong lốp xe 3,5- 4,0 KG/ cm 2

5 Tốc độ tối đa (Km/h): 85

6 Hệ thống truyền động Cầu sau chủ động

7 Kích thước chiều dài tổng thể (mm) 6483

8 Kích thước chiều rộng tổng thể (mm) 2180

9 Kích thước chiều cao tổng thể (mm) 2245

10 Kích thước chiều dài lòng thùng (mm) 3100

11 Kích thước chiều rộng lòng thùng (mm) 1900

12 Kích thước chiều cao lòng thùng (mm) 600

2.2.2 Biên dạng đường lâm nghiệp

Theo luận án tiến sỹ của Nguyễn Tiến Đạt, đường vận chuyển lâm nghiệp chủ yếu là đường đất tự nhiên hoặc đường dải đá, được thiết kế để phục vụ cho các loại máy kéo bánh hơi và xe ô tô cỡ nhỏ, cỡ trung bình Những con đường này được san ủi, loại bỏ chướng ngại vật và có độ dốc phù hợp để đảm bảo an toàn trong quá trình vận chuyển.

Trong nghiên cứu, người ta chia mặt đường ra hai dạng chính sau:

- Dạng mặt đường xác định Bao hàm những chướng ngại vật đơn chiếc phân bố xa nhau và dạng mặt đường biến đổi tuần hoàn

Mặt đường biến đổi ngẫu nhiên ảnh hưởng lớn đến giao động của xe chữa cháy rừng đa năng, do đó, độ mấp mô mặt đường là yếu tố quan trọng cần được xem xét trong nghiên cứu Việc khảo sát dạng mặt đường mà xe hoạt động là cần thiết để hiểu rõ hơn về dao động của xe Chúng tôi kế thừa các kết quả nghiên cứu trước đó liên quan đến mặt đường xác định để sử dụng mấp mô mặt đường làm yếu tố đầu vào trong quá trình nghiên cứu.

Khi thiết kế và xây dựng đường lâm nghiệp, mặt đường và nền đường trục chính cùng phụ cần được san ủi phẳng Mặt đường chỉ còn lại những gợn sóng dọc theo bề mặt đất, và trắc diện dọc của mấp mô dạng mặt đường được xác định thông qua các hàm tuần hoàn.

 Khi t 0 (2-1) Dạng gợn sóng biến đổi tuần hoàn:

2 1 S h h  Khi t 0 (2-2) Dạng gợn sóng biến đổi chuỗi hàm điều hòa:

+ S là chiều dài mặt đường, S0 là bước sóng mặt đường

+ h là hàm số mấp mô mặt đường, h0 là độ cao mấp mô

+ hci là hằng số tùy thuộc vào trắc diện mấp mô

Khảo sát các mặt đường lâm nghiệp cho thấy chúng có các đặc điểm riêng biệt, được xác định bởi các dạng hàm điều hòa Những đặc trưng này giúp phân loại các loại mặt đường này một cách hiệu quả.

+ Dạng có biên độ h0 = 10 cm, bước sóng S0 = 1,6 m

+ Dạng có biên độ h0 = 8 cm, bước sóng S0 = 1,4 m

+ Dạng có biên độ h0 = 6 cm, bước sóng S0 = 1,2 m

+ Dạng có biên độ h0 = 4 cm, bước sóng S0 = 1,0 m

Các kết quả trên sẽ làm cơ sở cho việc nghiên cứu dao động của xe ôtô

Hyundai 3,5 tấn vận chuyển gỗ trên đường lâm nghiệp

2.3 Phạm vi nghiên cứu Phạm vi nghiên cứu của đề tài là: Nghiên cứu dao động trong mặt phẳng thẳng đứng dọc của ô tô HuynDai tải trọng 3,5 tấn khi vận chuyển gỗ trên đường lâm nghiệp với đặc trưng mấp mô mặt đường đã xác định

Nghiên cứu đã đề xuất một số giải pháp cải tiến cấu trúc hệ thống treo để nâng cao độ êm ái trong chuyển động của ôtô Hyundai 3,5 tấn khi vận chuyển gỗ trên đường lâm nghiệp.

Xây dựng mô hình dao động trong mặt phẳng thẳng đứng dọc của ô tô

Hyundai HD72 có trọng tải 3,5 tấn, thường được sử dụng để vận chuyển gỗ trên các tuyến đường lâm nghiệp Để xây dựng mô hình dao động trong mặt phẳng thẳng đứng dọc của ô tô, chúng tôi sẽ áp dụng phương pháp cơ học ứng dụng, tham khảo một số mô hình đã có và thừa nhận một số giả thiết cho mô hình toán.

Dựa trên cấu trúc hệ thống treo của xe ô tô Hyundai 3,5 tấn, chúng tôi xác định các bộ phận đàn hồi và lựa chọn hệ trục tọa độ phù hợp Mục tiêu là xây dựng mô hình dao động tương đương cho xe ô tô Hyundai 3,5 tấn.

Xây dựng hệ phương trình vi phân dao động của ô tô Huyndai HD72 trọng tải 3,5 tấn khi vận chuyển gỗ trên đường lâm nghiệp

Bài viết này trình bày việc giải và mô phỏng dao động của ô tô Huyndai trọng tải 3,5 tấn khi vận chuyển gỗ trên đường lâm nghiệp Nghiên cứu được thực hiện trong hai trường hợp: không có và có giảm sóc ở cầu sau, nhằm đánh giá ảnh hưởng của hệ thống giảm sóc đến khả năng vận hành và ổn định của xe trong điều kiện địa hình khó khăn.

Để nâng cao hiệu suất hệ thống treo của xe ô tô tải Huyndai 3,5 tấn khi vận chuyển gỗ trên đường lâm nghiệp, cần lựa chọn chế độ sử dụng phù hợp và lắp đặt thêm giảm sóc thủy lực cho cầu sau của xe Giải pháp này sẽ giúp cải thiện khả năng chịu tải và ổn định khi di chuyển trên địa hình khó khăn.

Nghiên cứu thực nghiệm được thực hiện nhằm minh họa cho lý thuyết về dao động trong mặt phẳng thẳng đứng dọc của ô tô khi vận chuyển gỗ rừng trồng trên đường lâm nghiệp Mục tiêu là xác định một số thông số đầu vào cần thiết cho việc giải mô hình lý thuyết cụ thể.

- Đo gia tốc dao động thẳng đứng

- Đo một số thông số đầu vào cho mô hình lý thuyết

2.5.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

Bài viết này trình bày cách thiết lập hệ phương trình vi phân mô tả dao động trong mặt phẳng thẳng đứng dọc của ô tô bằng phương pháp ứng dụng phương trình Lagranger loại II Đặc biệt, nghiên cứu tập trung vào ô tô Huyndai trọng tải 3,5 tấn khi vận chuyển gỗ trên đường lâm nghiệp Sau khi xây dựng mô hình dao động tương đương và các mối quan hệ hình học, chúng tôi lựa chọn các bậc tự do của hệ thống Tiếp theo, chúng tôi xác định các hàm động năng T, thế năng Π, hàm hao tán Φ và lực suy rộng của hệ Cuối cùng, tính toán các đạo hàm riêng của các hàm T, Π và Φ theo tọa độ suy rộng đã lựa chọn và thay vào phương trình Lagranger loại II để hoàn thiện mô hình.

1.1); sẽ thu đươ ̣c mô ̣t hê ̣ phương trình vi phân bâ ̣c 2 có số phương trình bằng số bậc tự do của hê ̣

Bài viết này trình bày việc giải và mô phỏng hệ phương trình vi phân dao động của xe bằng phần mềm Matlab – Simulink Để thực hiện, chúng tôi đã ứng dụng phần mềm Matlab 7.0 và sử dụng các khối chức năng trong Simulink để xây dựng sơ đồ khối mô phỏng Kết quả thu được bao gồm các đồ thị mô tả quá trình chuyển dịch, như chuyển dịch thẳng đứng, chuyển dịch góc và gia tốc, tương ứng với các tọa độ suy rộng của hệ.

2.5.2 Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm

Nội dung nghiên cứu

Xây dựng mô hình dao động trong mặt phẳng thẳng đứng dọc của ô tô

Xe tải Hyundai HD72 với trọng tải 3,5 tấn là lựa chọn lý tưởng cho việc vận chuyển gỗ trên các tuyến đường lâm nghiệp Để xây dựng mô hình dao động trong mặt phẳng thẳng đứng dọc của ô tô, chúng tôi sẽ áp dụng phương pháp cơ học ứng dụng, tham khảo một số mô hình đã có và đưa ra một số giả thiết cho mô hình toán học.

Dựa trên kết cấu hệ thống treo của xe ôtô Hyundai 3,5 tấn, chúng ta xác định các phần tử đàn hồi và lựa chọn hệ trục tọa độ phù hợp Mục tiêu là xây dựng mô hình dao động tương đương cho xe ôtô Hyundai 3,5 tấn.

Xây dựng hệ phương trình vi phân dao động của ô tô Huyndai HD72 trọng tải 3,5 tấn khi vận chuyển gỗ trên đường lâm nghiệp

Bài viết này phân tích và mô phỏng dao động của ô tô Huyndai có trọng tải 3,5 tấn khi vận chuyển gỗ trên đường lâm nghiệp Nghiên cứu được thực hiện trong hai trường hợp: một là không có hệ thống giảm sóc ở cầu sau và hai là có hệ thống giảm sóc Việc so sánh này giúp hiểu rõ hơn về ảnh hưởng của giảm sóc đến sự ổn định và an toàn khi vận chuyển hàng hóa trên các tuyến đường khó khăn.

Để cải thiện hệ thống treo của xe ô tô tải Huyndai trọng tải 3,5 tấn khi vận chuyển gỗ trên đường lâm nghiệp, cần lựa chọn chế độ sử dụng phù hợp và lắp đặt thêm giảm sóc thủy lực cho cầu sau của xe Giải pháp này sẽ giúp tăng cường khả năng chịu tải và ổn định cho xe, đảm bảo an toàn trong quá trình vận chuyển.

Nghiên cứu thực nghiệm được thực hiện nhằm minh họa cho lý thuyết về dao động trong mặt phẳng thẳng đứng dọc của ô tô khi vận chuyển gỗ rừng trồng trên đường lâm nghiệp Mục tiêu chính là xác định một số thông số đầu vào cần thiết cho việc giải mô hình lý thuyết này.

- Đo gia tốc dao động thẳng đứng

- Đo một số thông số đầu vào cho mô hình lý thuyết

Phương pháp nghiên cứu

2.5.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

Bài viết này trình bày việc thiết lập hệ phương trình vi phân mô tả dao động trong mặt phẳng thẳng đứng dọc của ô tô Huyndai trọng tải 3,5 tấn khi vận chuyển gỗ trên đường lâm nghiệp, thông qua phương pháp ứng dụng phương trình Lagranger loại II Sau khi xây dựng mô hình dao động tương đương, chúng tôi xác định các bậc tự do của hệ thống và tính toán các hàm động năng T, thế năng Π, hàm hao tán Φ và lực suy rộng của hệ Cuối cùng, các đạo hàm riêng của các hàm T, Π và Φ được tính toán theo tọa độ suy rộng đã chọn và được thay vào phương trình Lagranger loại II để hoàn thiện mô hình.

1.1); sẽ thu đươ ̣c mô ̣t hê ̣ phương trình vi phân bâ ̣c 2 có số phương trình bằng số bậc tự do của hê ̣

Bài viết này trình bày việc giải và mô phỏng hệ phương trình vi phân dao động của xe bằng phần mềm Matlab – Simulink Sử dụng phần mềm Matlab 7.0 và các khối chức năng trong Simulink, chúng tôi xây dựng sơ đồ khối mô phỏng để giải hệ phương trình vi phân của hệ Kết quả thu được là các đồ thị mô tả các quá trình chuyển dịch như chuyển dịch thẳng đứng, chuyển dịch góc và gia tốc, tương ứng với các tọa độ suy rộng của hệ.

2.5.2 Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm

Để xác định gia tốc dao động thẳng đứng của ôtô, chúng ta sử dụng cảm biến đo gia tốc tiêu chuẩn kết hợp với thiết bị đo Spider8 và phần mềm Catman 3.1 Trong quá trình thực nghiệm, cảm biến đo gia tốc sẽ ghi nhận tín hiệu khi ôtô chuyển động, sau đó tín hiệu này được truyền dẫn đến thiết bị thu thập, khuếch đại và lưu trữ thông qua phần mềm Catman đã cài đặt trên máy tính.

- Đo một số thông số đầu vào cho mô hình lý thuyết bằng phương pháp nghiên cứu thực nghiệm của ô tô máy kéo

NGHIÊN CỨU DAO ĐỘNG CỦA XE ÔTÔ HYUNDAI 3,5 TẤN VẬN CHUYỂN GỖ TRÊN ĐƯỜNG LÂM NGHIỆP

NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM

Ngày đăng: 13/06/2021, 09:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Barski I.B (1973), Động lực học máy kéo, Nxb Chế tạo, Maxcva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Động lực học máy kéo
Tác giả: Barski I.B
Nhà XB: Nxb Chế tạo
Năm: 1973
2. Hoàng Xuân Bính, Nguyễn Xuân Hiền (1976), Điều kiện của công nhân lái máy kéo trên địa hình đồng bằng, Nxb. Y học lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều kiện của công nhân lái máy kéo trên địa hình đồng bằng
Tác giả: Hoàng Xuân Bính, Nguyễn Xuân Hiền
Nhà XB: Nxb. Y học lao động
Năm: 1976
3. Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2007), Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006- 2020, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006- 2020
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2007
4. Nguyễn Hữu Cẩn, Dư Quốc Thịnh, Phạm Minh Thái, Nguyễn Văn Tài, Lê Thị Vàng (2003), Lý thuyết ô tô máy kéo, Nxb. Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý thuyết ô tô máy kéo
Tác giả: Nguyễn Hữu Cẩn, Dư Quốc Thịnh, Phạm Minh Thái, Nguyễn Văn Tài, Lê Thị Vàng
Nhà XB: Nxb. Khoa học và kỹ thuật
Năm: 2003
5. Nguyễn Hữu Cẩn (1995), Thiết kế và tính toán ô tô- máy kéo, Nhà xuất bản đại học và trung học chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế và tính toán ô tô- máy kéo
Tác giả: Nguyễn Hữu Cẩn
Nhà XB: Nhà xuất bản đại học và trung học chuyên nghiệp
Năm: 1995
6. Nguyễn Hữu Cẩn, Phạm Hữu Nam (2004), Thí nghiệm ôtô, Nxb. Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thí nghiệm ôtô
Tác giả: Nguyễn Hữu Cẩn, Phạm Hữu Nam
Nhà XB: Nxb. Khoa học và kỹ thuật
Năm: 2004
9. Nguyễn Tiến Đạt (2000), Chuyên đề “Những tiến bộ trong khâu vận xuất vận chuyển gỗ”, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Những tiến bộ trong khâu vận xuất vận chuyển gỗ”
Tác giả: Nguyễn Tiến Đạt
Năm: 2000
10. Nguyễn Tiến Đạt (2002), Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng đến khả năng vận xuất gỗ rừng trồng bằng phương pháp kéo nửa lết của máy kéo bốn bánh cỡ nhỏ (18-24 mã lực), Luận văn tiến sỹ khoa học kỹ thuật, Đa ̣i học Lâm nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng đến khả năng vận xuất gỗ rừng trồng bằng phương pháp kéo nửa lết của máy kéo bốn bánh cỡ nhỏ (18-24 mã lực)
Tác giả: Nguyễn Tiến Đạt
Năm: 2002
11. Đặc điểm máy kéo MTZ-80/82, U-650M và Steyr – 768, (1987), Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm máy kéo MTZ-80/82, U-650M và Steyr – 768, (1987)
Tác giả: Đặc điểm máy kéo MTZ-80/82, U-650M và Steyr – 768
Nhà XB: Nxb. Nông nghiệp
Năm: 1987
12. Hoàng Văn Đặng (2002), MATHCAD 2002 gia ̉i trình toán học, Nhà xuất bản Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: MATHCAD 2002 giải trình toán học
Tác giả: Hoàng Văn Đặng
Nhà XB: Nhà xuất bản Trẻ
Năm: 2002
13. Nguyễn Hữu Điển (2010), Hướng dẫn sử dụng Maple, Đại học Khoa học tự nhiên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn sử dụng Maple
Tác giả: Nguyễn Hữu Điển
Năm: 2010
14. Phạm Minh Đức (2002), Nghiên cức khả năng kéo bám của máy kéo DFH - 180 khi vận chuyển gỗ nhỏ rừng trồng, Luận văn thạc sỹ khoa học kỹ thuật, Đại học lâm nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cức khả năng kéo bám của máy kéo DFH - 180 khi vận chuyển gỗ nhỏ rừng trồng
Tác giả: Phạm Minh Đức
Năm: 2002
15. Đặng Việt Hà (2010), Nghiên cứu ảnh hưởng của một số thông số đến độ êm dịu chuyển động của ô tô khách được đóng mới ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ kỹ thuật, Đại học Giao thông vận tải, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ảnh hưởng của một số thông số đến độ êm dịu chuyển động của ô tô khách được đóng mới ở Việt Nam
Tác giả: Đặng Việt Hà
Năm: 2010
16. Trịnh Minh Hoàng (2002), Nghiên cứu khảo sát dao động của xe tải hai cầu dưới tác động ngẫu nhiên của mặt đường, Luận văn thạc sỹ cơ khí, Đại học Bách khoa Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu khảo sát dao động của xe tải hai cầu dưới tác động ngẫu nhiên của mặt đường
Tác giả: Trịnh Minh Hoàng
Năm: 2002
17. Đào Mạnh Hùng (2006), Xác định lực động giữa bánh xe và mặt đường của ôtô tải trong điều kiện sử dụng ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ kỹ thuật, Đại học Giao thông vận tải, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định lực động giữa bánh xe và mặt đường của ôtô tải trong điều kiện sử dụng ở Việt Nam
Tác giả: Đào Mạnh Hùng
Năm: 2006
18. Nguyễn Văn Huệ (2010), Nghiên cứu giải pháp nâng cao độ êm dịu chuyển động của máy kéo MTZ – 82 khi kéo rơ moóc trở gỗ. Luận văn thạc sỹ kỹ thuật, Đại học Lâm nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Nghiên cứu giải pháp nâng cao độ êm dịu chuyển động của máy kéo MTZ – 82 khi kéo rơ moóc trở gỗ
Tác giả: Nguyễn Văn Huệ
Năm: 2010
20. Lưu Văn Hưng (2008), Nghiên cứu dao động của rơ móc một trục chở gỗ khi khi lắp thêm bộ phận đàn hồi có giảm chấn giữa khung và trục bánh xe, Luận văn thạc sỹ khoa học kỹ thuật, Đại học Lâm nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu dao động của rơ móc một trục chở gỗ khi khi lắp thêm bộ phận đàn hồi có giảm chấn giữa khung và trục bánh xe
Tác giả: Lưu Văn Hưng
Năm: 2008
21. Võ Văn Hường (2003), Nghiên cứu hoàn thiện mô hình khảo sát dao động ô tô tải nhiều cầu, Luận án tiến sĩ khoa học, Đại học Bách khoa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu hoàn thiện mô hình khảo sát dao động ô tô tải nhiều cầu
Tác giả: Võ Văn Hường
Năm: 2003
22. Huỳnh Quốc Hội (2002), Nghiên cứu về quá trình lắc dọc - lắc ngang ô tô ở vận tốc cao, Luận văn thạc sỹ cơ khí, Đại học Bách khoa Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu về quá trình lắc dọc - lắc ngang ô tô ở vận tốc cao
Tác giả: Huỳnh Quốc Hội
Năm: 2002
23. Cao Tro ̣ng Hiền, Nguyễn Văn Bang, Tri ̣nh Chí Thiê ̣n (1995) Thi ́ nghiê ̣m ô tô , trường Đa ̣i ho ̣c Giao thông Vâ ̣n tải, Hà Nô ̣i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thí nghiê ̣m ô tô

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w