1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu khả năng sản xuất của một số tổ hợp lai giữa dê boer bách thảo và cỏ tại ninh bình yên bái và bắc kạn

137 53 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu khả năng sản xuất của một số tổ hợp lai giữa dê boer, bách thảo và cỏ tại ninh bình, yên bái và bắc kạn
Tác giả Bùi Khắc Hùng
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Bá Mùi, PGS.TS. Đặng Thái Hải
Trường học Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam
Chuyên ngành Chăn nuôi
Thể loại Luận án
Năm xuất bản 2016
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 137
Dung lượng 2,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích nghiên cứu Xác định đặc điểm sinh học, khả năng sản xuất, tình hình dịch bệnh của một số tổ hợp lai giữa dê Boer, Bách Thảo và Cỏ để có cơ sở khoa học lựa chọn tổ hợp lai phù h

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

BÙI KHẮC HÙNG

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SẢN XUẤT CỦA MỘT SỐ TỔ HỢP LAI GIỮA DÊ BOER, BÁCH THẢO

VÀ CỎ TẠI NINH BÌNH, YÊN BÁI VÀ BẮC KẠN

Chuyên ngành: Chăn nuôi

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận án là trung thực, khách quan và chưa từng dùng bảo vệ để lấy bất kỳ học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận án đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận án này đều được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội ngày tháng năm 2016

Tác giả luận án

Bùi Khắc Hùng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án, tôi đã nhận được

sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình

Nhận dịp hoàn thành luận án, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới thầy hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Bá Mùi và PGS.TS Đặng Thái Hải đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn Sinh lý - Tập tính động vật và Bộ môn Hóa sinh động vật, Khoa Chăn nuôi - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận án

Tôi xin trân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ công nhân viên chức Trung tâm Khảo, kiểm nghiệm và kiểm định giống vật nuôi, thức ăn chăn nuôi, Cục Chăn nuôi

đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận án

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận án

Bùi Khắc Hùng

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục chữ viết tắt v

Danh mục bảng vi

Danh mục sơ đồ, hình, đồ thị và biểu đồ viii

Trích yếu luận án ix

Thesis abstract xi

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu của đề tài 3

1.3 Phạm vi nghiên cứu 3

1.4 Những đóng góp mới của đề tài 3

1.5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3

Phần 2 Tổng quan tài liệu 5

2.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu 5

2.1.1 Đặc điểm sinh học của dê 5

2.1.2 Khả năng sản xuất của dê 9

2.1.3 Lai giống và ưu thế lai 13

2.2 Tình hình nghiên cứu dê boer, bách thảo và dê cỏ 21

2.2.1 Tình hình nghiên cứu dê Boer 21

2.2.2 Tình hình nghiên cứu dê Bách Thảo 22

2.2.3 Tình hình nghiên cứu dê Cỏ 24

2.3 Tình hình chăn nuôi dê trên thế giới và trong nước 25

2.3.1 Tình hình chăn nuôi dê trên thế giới 25

2.3.2 Tình hình chăn nuôi dê ở Việt Nam, địa bàn nghiên cứu 30

Phần 3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 37

3.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 37

Trang 6

3.1.1 Địa điểm nghiên cứu 37

3.1.2 Thời gian nghiên cứu 37

3.2 Đối tượng nghiên cứu 37

3.3 Nội dung nghiên cứu 38

3.4 Phương pháp nghiên cứu 38

3.4.1 Bố trí thí nghiệm 38

3.4.2 Xác định đặc điểm sinh học 41

3.4.3 Đánh giá khả năng sinh sản 41

3.4.4 Đánh giá khả năng sinh trưởng 42

3.4.5 Xác định năng suất và chất lượng thịt 43

3.4.6 Tình hình dịch bệnh của đàn dê theo dõi 44

3.4.7 Phương pháp xử lý số liệu 44

Phần 4 Kết quả và thảo luận 47

4.1 Đặc điểm sinh học 47

4.1.1 Đặc điểm ngoại hình 47

4.1.2 Đặc điểm sinh lý, sinh hóa máu 51

4.2 Khả năng sản xuất 62

4.2.1 Khả năng sinh sản 62

4.2.2 Khả năng sinh trưởng 72

4.2.3 Năng suất, chất lượng thịt 84

4.3 Tình hình dịch bệnh 105

Phần 5 Kết luận và kiến nghị 108

5.1 Kết luận 108

5.2 Kiến nghị 109

Danh mục các công trình đã công bố có liên quan đến luận án 110

Tài liệu tham khảo 111

Phụ lục 119

Trang 7

United Nations g/L Gam/lít

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

2.1 Kết quả mổ khảo sát dê Bách Thảo 24

2.2 Thành phần hóa học của thịt dê Bách Thảo 24

2.3 Số lượng dê trên thế giới và các khu vực (2003 - 2013) 26

2.4 Sản lượng thịt, sữa dê trên thế giới (2002 - 2012) 27

2.5 Số lượng và tỷ lệ tăng đàn dê của một số nước châu Á (2003 - 2013) 28

2.6 Số lượng và phân bố dê trong 3 năm (2011 - 2013) tại các vùng 31

2.7 Số lượng dê nuôi tại tỉnh nghiên cứu giai đoạn 2011-2013 33

2.8 Số hộ chăn nuôi dê ở các quy mô khác nhau 33

2.9 Cơ cấu đàn dê của các hộ chăn nuôi 34

2.10 Các loại thức ăn được bổ sung cho dê tại chuồng 35

2.11 Các kiểu chuồng nuôi dê nông hộ 35

4.1 Màu sắc lông của dê Cỏ 47

4.2 Màu sắc lông của dê lai BT x Cỏ 49

4.3 Màu sắc lông của dê lai Bo x (BT x Cỏ) 50

4.4 Màu sắc lông của dê lai (Bo x BT) x Cỏ 50

4.5 Màu sắc lông của dê lai (Bo x (Bo x BT)) x Cỏ 51

4.6 Đặc điểm sinh lý máu của dê nuôi tại Ninh Bình 52

4.7 Đặc điểm sinh lý máu của dê nuôi tại Yên Bái 53

4.8 Đặc điểm sinh lý máu của dê nuôi tại Bắc Kạn 54

4.9 Đặc điểm sinh lý máu của dê nuôi tại các tỉnh nghiên cứu 55

4.10 Một số chỉ tiêu sinh hóa máu của dê nuôi tại Ninh Bình 57

4.11 Một số chỉ tiêu sinh hóa máu dê nuôi tại Yên Bái 58

4.12 Một số chỉ tiêu sinh hóa máu dê nuôi tại Bắc Kạn 59

4.13 Một số chỉ tiêu sinh hóa chung máu dê nuôi tại các tỉnh nghiên cứu 60

4.14 Một số chỉ tiêu về khả năng sinh sản của dê cái nuôi tại Ninh Bình 63

4.15 Một số chỉ tiêu về khả năng sinh sản của dê cái nuôi tại Yên Bái 65

4.16 Khả năng sinh sản của dê cái nuôi tại Bắc Kạn 67

4.17 Khả năng sinh sản chung của dê cái nuôi tại các tỉnh nghiên cứu 68

Trang 9

4.18 Số con đẻ ra mỗi lứa 71

4.19 Tỷ lệ nuôi sống 71

4.20 Khối lượng qua các tháng tuổi của dê nuôi tại Ninh Bình 73

4.21 Khối lượng qua các tháng tuổi của dê nuôi tại Yên Bái 74

4.22 Khối lượng qua các tháng tuổi của dê nuôi tại Bắc Kạn 75

4.23 Khối lượng qua các tháng tuổi chung của dê tại các tỉnh nghiên cứu 77

4.24 Sinh trưởng tuyệt đối của dê nuôi tại Ninh Bình 78

4.25 Sinh trưởng tuyệt đối của dê nuôi tại Yên Bái 80

4.26 Sinh trưởng tuyệt đối của dê nuôi tại Bắc Kạn 81

4.27 Sinh trưởng tuyệt đối chung của dê tại các tỉnh nghiên cứu 83

4.28 Kết quả mổ khảo sát dê nuôi tại Ninh Bình 85

4.29 Kết quả mổ khảo sát dê nuôi tại Yên Bái 87

4.30 Kết quả mổ khảo sát dê nuôi tại Bắc Kạn 90

4.31 Kết quả mổ khảo sát chung của dê nuôi tại các tỉnh nghiên cứu 94

4.32 Kết quả phân tích thành phần hóa học của thịt dê nuôi tại Ninh Bình 95

4.33 Kết quả phân tích thành phần hóa học của thịt dê nuôi tại Yên Bái 96

4.34 Kết quả phân tích thành phần hóa học của thịt dê nuôi tại Bắc Kạn 97

4.35 Thành phần hóa học chung của thịt dê nuôi tại các tỉnh nghiên cứu 98

4.36 Hàm lượng axit amin trong thịt dê nuôi tại Ninh Bình 100

4.37 Hàm lượng axit amin trong thịt dê nuôi tại Yên Bái 101

4.38 Hàm lượng axit amin trong thịt dê nuôi tại Bắc Kạn 102

4.39 Hàm lượng axit amin trong thịt chung của dê nuôi tại ba tỉnh nghiên cứu 104

4.40 Tình hình dịch bệnh chung của đàn dê nuôi tại các tỉnh nghiên cứu 106

Trang 10

DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ

3.1 Đực Cỏ x cái Cỏ tạo dê Cỏ thuần 39

3.2 (Lai 2 giống): Đực BT x cái Cỏ con lai BT x Cỏ 40

3.3 (Lai 3 giống): Đực Bo x cái lai (BT x Cỏ) con lai Bo x (BT x Cỏ) 40

3.4 (Lai 3 giống): Đực lai (Bo x BT) x cái Cỏ con lai (Bo x BT) x Cỏ 40

3.5 (Lai 3 giống): Đực lai Bo x (Bo x BT) x cái Cỏ con lai (Bo x (Bo x BT)) x Cỏ 40

STT Tên hình Trang 2.1 Chuồng nuôi dê 36

3.1 Các thành phần thân thịt của dê 43

3.2 Mổ khảo sát đánh giá năng suất thịt dê 43

4.1 Giống dê Cỏ 48

4.2 Dê lai (BT x Cỏ) 48

4.3 Dê lai Bo x (BT x Cỏ) 49

4.4 Dê lai (Bo x BT) x Cỏ 49

4.5 Dê lai (Bo x (Bo x BT)) x Cỏ 51

STT Tên biểu đồ Trang 4.1 Thành phần sinh lý máu dê 57

Trang 11

TRÍCH YẾU LUẬN ÁN

1 Tóm tắt thông tin

Tên tác giả: Bùi Khắc Hùng

Tên Luận án: Nghiên cứu khả năng sản xuất của một số tổ hợp lai giữa dê Boer,

Bách Thảo và Cỏ tại Ninh Bình, Yên Bái và Bắc Kạn

Chuyên ngành: Chăn nuôi Mã số: 62.62.01.05

Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam

2 Nội dung bản trích yếu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Xác định đặc điểm sinh học, khả năng sản xuất, tình hình dịch bệnh của một số tổ hợp lai giữa dê Boer, Bách Thảo và Cỏ để có cơ sở khoa học lựa chọn tổ hợp lai phù hợp trong điều kiện chăn nuôi nông hộ tại vùng nghiên cứu

2.2 Phương pháp nghiên cứu

Trong Luận án đã áp dụng các phương pháp nghiên cứu chính sau đây:

- Đặc điểm ngoại hình: quan sát, theo dõi, phân loại, thống kê trực tiếp; Đặc điểm sinh lý máu: lấy máu phân tích bằng máy CELL DYN 3700; Đặc điểm sinh hóa máu: xác định bằng máy Cobas C502; Chỉ tiêu sinh sản: theo dõi, quan sát và sổ sách ghi chép; Khối lượng: cân dê ở giai đoạn bằng cân đồng hồ hay cân treo; Kích thước các chiều đo: đo các chiều bằng thước dây, thước gậy được tiến hành vào buổi sáng, trước khi cho đi chăn thả (sau khi cân);

- Mổ khảo sát: theo TCVN 1280-81 và mẫu thịt được lấy theo TCVN 4833-2002; Thành phần hoá học của thịt dê: xác định theo: TCVN-4326-2001; TCVN-4328-1:2007; TCVN-4331-2001; TCVN-4327-2007, AOAC (1997) trên máy sắc ký khối phổ GC-MS QP5050A; Hàm lượng axit amin trong thịt dê: xác định trên máy sắc ký lỏng cao áp HPLC 1090M và dựa trên nguyên lý sắc ký lỏng pha ngược theo (Phan Văn Chi và cs., 1997)

2.3 Kết quả chính và kết luận

- Đặc điểm sinh học: Số lượng hồng cầu, bạch cầu trên 1 mm3 máu cao nhất ở dê

Cỏ, sau đến dê lai 2 giống và thấp nhất ở dê lai 3 giống Hàm lượng albumin trong huyết tương của máu lại cao nhất ở dê lai 3 giống, sau đến dê lai 2 giống và thấp nhất ở

dê Cỏ Trái lại, hàm lượng IgG lại cao nhất ở dê Cỏ, sau đến dê lai 2 giống và thấp nhất

ở dê lai 3 giống Các chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu của dê: trong phạm vi bình thường Một số tổ hợp dê lai được nghiên cứu có khả năng thích nghi tốt với môi trường sống tại địa bàn nghiên cứu

- Khả năng sinh sản: Dê Cỏ có tuổi phối giống lần đầu sớm nhất (178,97 ngày), dê F1 (BT x Cỏ) có tuổi phối giống lần đầu muộn hơn (295,20 ngày) Dê cái Cỏ và F1 (BT

Trang 12

x

x Cỏ) có khoảng cách lứa đẻ trung bình (200,67 - 221,30) ngày; số con đẻ ra trên lứa (1,56 - 1,73 con/lứa)

- Khả năng sinh trưởng:

+ Thời điểm 9 tháng tuổi, khối lượng cơ thể dê lai Bo x (BT x Cỏ) là lớn nhất (26,13 kg/con), tiếp đến là dê lai (Bo x (Bo x BT)) x Cỏ (24,87 kg/con), dê lai (Bo x BT) x Cỏ (22,57 kg/con), dê lai (BT x Cỏ) (21,25 kg/con) và thấp nhất là dê Cỏ (15,07 kg/con) Khối lượng của dê đực luôn cao hơn dê cái Như vậy, việc sử dụng dê đực lai

Bo x (Bo x BT) cho phối với dê cái Cỏ cho khối lượng của đàn con không thua kém so với dùng đực Boer cho phối với cái (BT x Cỏ) Dê đực lai Bo x (Bo x BT) lại dễ theo đàn khi chăn thả và tận dụng được nguồn dê cái Cỏ nền ở các hộ chăn nuôi

+ Tốc độ sinh trưởng tuyệt đối của dê lai Bo x (BT x Cỏ) và dê lai (Bo x (Bo x BT)) x

Cỏ là cao nhất, sau đến dê lai (Bo x BT) x Cỏ; dê lai (BT x Cỏ) và thấp nhất ở dê Cỏ

- Năng suất, chất lượng thịt:

+ Năng suất thịt của dê tăng theo tỷ lệ máu Boer trong các tổ hợp lai và cao hơn dê

Cỏ Cụ thể, tỷ lệ thịt xẻ và tỷ lệ thịt tinh cao nhất ở dê lai Bo x (BT x Cỏ), sau đến dê lai (Bo

x (Bo x BT)) x Cỏ, dê lai (Bo x BT) x Cỏ, dê lai (BT × Cỏ) và thấp nhất ở dê Cỏ

+ Giới tính có ảnh hưởng đến năng suất thịt của dê, các chỉ tiêu khối lượng giết

mổ, tỷ lệ thịt xẻ của dê lai Bo x (BT x Cỏ), (Bo x (Bo x BT)) x Cỏ, (Bo x BT) x Cỏ, (BT

x Cỏ) ở con đực cao hơn ở con cái Hai chỉ tiêu này ở dê Cỏ giữa con đực với con cái lại không có sự sai khác thống kê Tỷ lệ thịt tinh của các loại dê ở con đực đều cao hơn ở con cái

+ Thịt dê có hàm lượng protein thô cao hơn ở dê Cỏ, thấp hơn ở dê lai (Bo x BT)

x Cỏ và dê lai (BT x Cỏ), thấp nhất ở dê lai Bo x (BT x Cỏ) và dê lai (Bo x (Bo x BT))

x Cỏ Hàm lượng cholesteron trong thịt dê lai hai, ba máu lại thấp hơn dê Cỏ Tỷ lệ các axit amin thiết yếu trên tổng axit amin trong thịt dê cao nhất ở dê Cỏ, tiếp đến dê lai hai máu rồi đến dê lai ba máu

- Tình hình bệnh tật: Đàn dê theo dõi nhìn chung khỏe mạnh, không có dịch bệnh lớn xảy ra, khả năng mắc bệnh và tỷ lệ chết ở dê Cỏ có tỷ lệ thấp hơn so với các tổ hợp lai 2 và 3 máu

- Tại Ninh Bình, Yên Bái sử dụng tổ hợp dê lai Bo x (BT x Cỏ) phù hợp hơn cả, trong điều kiện nông hộ cùng thời gian nuôi đã cho năng suất cao hơn dê BT x Cỏ và dê

Cỏ Còn ở Bắc Kạn, sử dụng dê đực lai Bo x (Bo x BT) cho phối với dê cái Cỏ cho đàn con phát triển tốt nhất, dê đực lai Bo x (Bo x BT) lại dễ theo đàn khi chăn thả, đặc biệt tận dụng được nguồn dê cái Cỏ nền sẵn có ở các hộ chăn nuôi

Trang 13

THESIS ABSTRACT

1 Brief Introduction

PhD candidate: Bui Khac Hung

Thesis title: Study on the productive performance of Boer Goat, Bach Thao and

Co Goat crossbred goats raised in Ninh Binh, Yen Bai and Bac Kan Provinces

Major: Animal Science Code: 62.62.01.05

Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)

2 Contents

2.1 Research Objectives

The study was carried out to evaluate the biological characteristics, productive performance and disease resistance of some hybrid combinations between Boer Goat, Bach Thao Goat and Co Goat under smallholder farming conditions in Ninh Binh, Yen Bai and Bac Kan provinces

2.2 Materials and Methods

The following methods have been applied in this research:

- Physical characteristics: obtained through one-off observations and longitudinal monitoring, using standard classifications and statistics

- Haematology values: obtained by CELL DYN 3700 analyser

- Blood biochemistry values: obtained by COBAS C502 analyser

- Reproductive performance: obtained through monitoring, one-off observations and record keeping

- Weight performance: determined at various ages and times of the day using a hanging scale or chute weigh system

- Body measurements: taken using a measuring tape and a measuring rod in the morning before grazing

- Carcass performance: obtained following the TCVN 1280-81 guidelines; meat samples were taken according to ISO 4833-2002

- Meat chemical composition: determined according to ISO - 4326-2001, 4328-1:2007, TCVN-4331-2001, ISO-4327-2007 and AOAC (1997) on chromatography mass spectrometry GC-MS QP5050A

ISO AminoISO acid composition: determined by highISO pressure liquid chromatography and HPLC 1090M, based on the principle of reverse phase liquid chromatography under

(Phan Van Chi et al., 1997)

2.3 Main findings and conclusions

- Haematology and blood biochemistry: the blood concentration of erythrocytes and leukocytes as well as the IgG concentration were the highest in pure Co goats, followed in decreasing order by crossbreds from 2 breeds and crossbreds from 3 breeds Concentration of albumin was the highest in 3-breed crossbred goats, followed by 2-

Trang 14

breed crossbreds and pure Co goats All biochemistry parameters were in the normal ranges The crossbred combinations between Boer Goat, Bach Thao and Co Goat were likely to be well adapted to the environment in the study areas

- Reproductive performance: The age at the first breeding was 179 days in Co goats and 295 days in F1 (BT x Co) goats The calving interval was between 201 and

221 days in Co goats and F1 (BT x Co) goats The number of offspring per litter was between 1,56 and 1,73

- Growth rate: at 9 months, the body weight of Bo x (BT x Co) crossbreds was the highest (26,1 kg) followed by (Bo x (Bo x BT)) x Co (24,9 kg), (Bo x BT) x Co (22,57 kg) and (BT x Co) (21,3 kg) Co Goats had the lowest body weight at 9 months (15,1 kg) Male goats had a higher live weight than female goats at every stage The offspring

of Co Goat females and Bo x (Bo x BT) males had the same growth rates as the offspring of Co Goat females and Bo x (BT x Co) males Crossbred male goats followed the herd more easily when grazing Co Goat females readily available in the study farms could be included in the breeding scheme

- Absolute growth rates of Bo x (BT x Co) crossbreds and (Bo x (Bo x BT)) x Co were highest, followed by (Bo x BT) x Co crossbreds, (BT x Co) crossbreds and pure

Co goats

- Carcass performance and meat quality:

+ The meat yield increased with the proportion of Boer blood in the crossbred animals The dressing and lean meat percentages were highest in Bo x (BT x Co) crossbreds, followed by (Bo x (Bo x BT)) x Co, (Bo x BT) x Co and (BT x Co) crossbreds Pure Co goats had the lowest percentages

+ Gender affected the carcass performances Weight at slaughter, dressing and lean meat percentages of Bo x (BT x Co), (Bo x (Bo x BT)) x Co, (Bo x BT) x Co and (BT x Co) crossbred animals were higher in males than in females

+ The crude protein content of meat was highest in Co goat meat and lowest in meat from (Bo x (Bo x BT)) x Co crossbred goats The cholesterol content of crossbred goat meat was lower than that of Co goat meat The levels of essential amino acids in

Co goat meat were higher than in crossbred goat meat

- Disease resistance: the goat herds were generally healthy and no major epidemics occurred The disease and mortality rates were lower in Co goats than in crossbred goats

- In Ninh Binh and Yen Bai provinces, the use of Bo x (BT x Co) crossbreds gave better results than the use of (BT x Co) crossbreds or pure Co goats within the same farming conditions In Bac Kan province, the use of crossbred Bo x (Bo x BT) x Co females appeared to be the most suitable Bo x (Bo x BT) males easily followed the herd when grazing Co Goat females readily available in the study farms could be

included in the breeding scheme

Trang 15

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Trên thế giới, chăn nuôi dê tập trung ở các nước đang phát triển, những vùng khô cằn núi đá và chủ yếu ở khu vực nông thôn với quy mô nhỏ Ở những nước phát triển, chăn nuôi dê có quy mô đàn lớn hơn và theo phương thức chăn nuôi thâm canh, hiệu quả kinh tế đạt khá cao (FAO, 2015) Trong vòng 15 năm qua, số lượng dê trên thế giới tăng 50%, trâu bò chỉ tăng 9%, trong khi đó số lượng cừu giảm 4% Năm 2012 tổng sản lượng thịt các loại của toàn thế giới đạt trên 211 triệu tấn; trong đó thịt dê chỉ khoảng 5,3 triệu tấn, chiếm 2,51% tổng sản lượng thịt Châu

Á là nơi sản xuất nhiều thịt dê nhất, các nước cung cấp nhiều thịt dê nhất là Trung Quốc, sau đó là Ấn Độ và Pakistan

Ở Việt Nam, chăn nuôi dê là nghề truyền thống lâu đời của người nông dân, dê được nuôi chủ yếu ở những vùng trung du, miền núi phía Bắc Tuy nhiên, hình thức chăn nuôi phổ biến vẫn là quảng canh Giống dê đang được nuôi chủ yếu là dê Cỏ Giống này có tầm vóc bé, khối lượng nhỏ, lớn chậm và khả năng cho thịt thấp

Nhiều nghiên cứu cho thấy dê Cỏ thích nghi tốt với tập quán chăn thả quảng canh, mắn đẻ, tăng đàn nhanh, chất lượng thịt cao, được coi là đặc sản và thực phẩm chức năng Tuy nhiên, năng suất không cao, do tầm vóc nhỏ (con cái trưởng thành chỉ đạt 25-28 kg, còn con đực đạt 30-35 kg); sinh trưởng chậm, khối lượng dê 6 tháng tuổi chỉ đạt 11-12 kg (Lê Văn Thông và cs., 1999) Tuy có những hạn chế trên, song nếu làm tốt công tác nuôi dưỡng và công tác quản lý đàn, nhất là quản lý giao phối, thì tỷ lệ hao hụt của đàn dê sẽ giảm và tránh được thoái hóa giống

Nhận thức về vai trò của con dê đã thay đổi và tiềm năng của nó bắt đầu được khai thác tích cực hơn Tuy còn có những quan điểm khác nhau về chủ trương phát triển, song chăn nuôi dê đang ngày càng được chú trọng và có đóng góp lớn vào việc phát triển kinh tế của người nghèo Đặc biệt là ở các vùng mà chăn nuôi bò sữa

và lợn lai không thích hợp, thì dê được coi là con vật có thể giúp người nông dân tăng thêm thu nhập, xoá đói, giảm nghèo

Hiện nay, Việt Nam đã nhập các giống dê từ Ấn Độ (dê Beetal, Jumnapari, Barbari), Mỹ (dê Boer, Alpine, Saanen), Úc (dê Boer) với mục đích nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm Nhiều nghiên cứu đã cho thấy lai tạo là phương pháp

Trang 16

cải tiến giống nhanh nhất Con lai có sức sản xuất cao hơn nhiều so với giống bản địa Theo Đinh Văn Bình và cs (2003), mục đích của việc lai tạo là tạo ra con lai có những ưu điểm mới như nâng được tầm vóc và khối lượng nhưng vẫn giữ được những ưu thế sẵn có của con giống địa phương như khả năng chống đỡ bệnh tật cao, chịu đựng kham khổ, thích nghi với khí hậu của địa phương Do vậy, lai tạo nhằm cải tạo tầm vóc, khối lượng dê, nâng cao thu nhập cho người chăn nuôi, góp phần xóa đói giảm nghèo cho người dân ở các vùng gò, đồi, núi, đặc biệt là người nghèo Vấn đề còn có ý nghĩa rất lớn về khoa học; các giống địa phương là nguồn gen quý

để thực hiện các công thức lai kinh tế có hiệu quả cao trong thực tại Đồng thời, những sản phẩm chăn nuôi có giá trị cao còn mang dấu ấn địa phương, trong tương lai sẽ là cơ sở để xây dựng thương hiệu sản phẩm chăn nuôi

Boer là giống dê siêu thịt, chúng có sự thay đổi khối lượng nhanh qua các tháng tuổi Dê Boer có khối lượng sơ sinh 2,5-4,5 kg, 3 tháng tuổi đạt 20-30 kg, khối lượng trưởng thành ở con cái đạt 60-90 kg, con đực đạt 70-110 kg (Barry and Godke, 1997) Với những ưu điểm trên nên dê Boer đã được nhập vào nước ta nhằm nhân thuần, phát triển sản xuất giống dê chuyên thịt cao sản và dùng con đực để lai cải tạo nâng cao năng suất thịt cho đàn dê ở Việt Nam

Theo Đinh Văn Bình và cs (2003) khối lượng của dê Boer cao gấp hơn 2 lần so với khối lượng dê Cỏ cùng thời điểm theo dõi Tại thời điểm cai sữa dê Boer đực đạt 16,26 kg, con cái 15,1 kg; còn dê Cỏ chỉ đạt 7,8 kg đối với con đực, 6,7 kg đối với con cái Do dê Boer có khối lượng lớn đặc biệt là con đực, nên để cải tạo đàn dê Cỏ các nhà khoa học bằng cách tạo ra bước đệm, tức là cho dê đực Bách Thảo phối với cái Cỏ tạo ra con lai F1 Từ đàn dê cái F1 cho phối với dê đực Boer để tạo ra con lai 3 giống nuôi thịt Tuy nhiên, bằng con đường này, chúng ta phải mất nhiều thời gian Mặt khác với phương thức chăn nuôi dê phổ biến ở các tỉnh miền núi phía Bắc hiện nay là chăn thả dê lên đồi, rừng, việc thả dê đực Boer theo đàn lên đồi sẽ gặp khó khăn, do khối lượng lớn, lại chậm nên không theo kịp đàn Cùng với sức đề kháng của dê Boer kém hơn dê Cỏ nên tỷ lệ chết cao Trong khi đó dê Cỏ lại có sẵn ở các nông hộ

Có hai câu hỏi đặt ra trong giả thiết nghiên cứu:

Một là, khả năng sản xuất của một số tổ hợp lai dê Boer, Bách Thảo và Cỏ như

thế nào, các tổ hợp lai có thích nghi với điều kiện chăn nuôi nông hộ tại Ninh Bình, Yên Bái và Bắc Kạn hay không?

Trang 17

Hai là, việc sử dụng dê đực 2 máu: đực lai (Bo x BT), đực lai Bo x (Bo x BT)

cho phối với dê cái Cỏ tạo dê lai 3 giống nuôi thịt có khắc phục được các hạn chế trên không? Dê đực 2 máu dễ leo đồi theo đàn, dê cái Cỏ lại có sẵn ở các nông hộ Đây cũng là con đường nhanh hơn để nâng cao được tầm vóc và khối lượng dê lai 3 giống cho sản xuất

1.2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI

1.2.1 Mục tiêu chung

Lựa chọn tổ hợp lai dê Boer, Bách Thảo và dê Cỏ phù hợp trong điều kiện chăn nuôi nông hộ tại Ninh Bình, Yên Bái và Bắc Kạn

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

- Đánh giá một số đặc điểm sinh học của các tổ hợp lai dê Boer, Bách Thảo và

Cỏ tại địa bàn nghiên cứu

- Đánh giá khả năng sản xuất các tổ hợp lai dê Boer, Bách Thảo và Cỏ tại Ninh Bình, Yên Bái và Bắc Kạn

1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu theo dõi khả năng sản xuất của một số tổ hợp lai giữa dê Boer, Bách Thảo và dê Cỏ được tiến hành tại ba tỉnh: Ninh Bình, Yên Bái và Bắc Kạn trong thời gian từ 2009 - 2014

1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI

- Khẳng định có thể sử dụng tổ hợp lai ba giống Boer, Bách Thảo và Cỏ để cải tạo đàn dê Cỏ, đồng thời chỉ ra được tổ hợp dê lai mang lại hiệu quả chăn nuôi cao

- Xác định được tổ hợp dê lai ba giống sử dụng đực lai (Bo x BT) và Bo x (Bo

x BT) cho phối với dê cái Cỏ rút ngắn được thời gian tạo con lai, phù hợp với điều kiện chăn thả trong nông hộ

- Nhiều chỉ tiêu về năng suất, chất lượng thịt, sinh lý máu, sinh hóa máu của tổ hợp dê lai ba giống dê Boer, Bách Thảo và Cỏ công bố là hoàn toàn mới

1.5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.5.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài

- Đề tài đã góp phần bổ sung tư liệu các chỉ tiêu sinh trưởng, sinh sản và khả năng cho thịt của các tổ hợp lai dê Boer, Bách Thảo và Cỏ nuôi tại Ninh Bình, Yên Bái và Bắc Kạn

- Kết quả luận án có giá trị như tài liệu khoa học để các cơ quan, Viện Nghiên cứu, Trường Đại học, giáo viên, sinh viên ngành nông nghiệp tham khảo

Trang 18

1.5.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Đề tài góp phần cho việc định hướng lai giống dê cho thịt có năng suất cao hơn giống dê Cỏ phù hợp với điều kiện chăn nuôi, góp phần tăng số lượng, đảm bảo chất lượng giống dê; đưa ngành chăn nuôi dê phát triển tương xứng với tiềm năng

và lợi thế vùng, tham gia vào việc chuyển đổi cơ cấu vật nuôi, tạo ra việc làm, tận dụng phế phụ phẩm nông nghiệp và các loại thức ăn sẵn có, nâng cao thu nhập cho người dân, nhất là dân nghèo ở các vùng đồi, núi

Trang 19

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1.1 Đặc điểm sinh học của dê

Các chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu ở gia súc nói chung khá ổn định và được di truyền như các tính trạng khác của con vật Các chỉ tiêu này liên quan chặt chẽ tới sức sống và khả năng sản xuất của gia súc Vì vậy, việc nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng để phát hiện, dự đoán hoặc có những kết luận chắc chắn hơn về tình trạng thể chất, sức khỏe và sức sản xuất của gia súc

Hồng cầu: là một loại tế bào trong thành phần hữu hình của máu Ở gia súc, hồng cầu có dạng hình đĩa lõm hai mặt, không nhân, cấu tạo này giúp tăng thể tích choán của hemoglobin, giảm tiêu hao mức năng lượng để nuôi sống hồng cầu đến mức thấp nhất (Nguyễn Xuân Tịnh và cs., 1996) Số lượng hồng cầu là một chỉ tiêu sinh lý phản ánh tình trạng trao đổi chất của cơ thể và được xác định bằng cách đếm trực tiếp trên buồng đếm Newbauer hoặc trên máy tự động

Trong điều kiện sinh lý bình thường, số lượng hồng cầu tương đối ổn định Sự thay đổi số lượng hồng cầu phụ thuộc vào nhiều yếu tố: loài, giống, tuổi, tính biệt, tình trạng dinh dưỡng, sức khỏe, khí hậu Số lượng hồng cầu phản ánh phẩm chất con giống Số lượng hồng cầu càng nhiều thì sức sống con vật càng tốt Mặt khác, số lượng hồng cầu cần phải đủ để đảm bảo vận chuyển O2 cho mô bào, bất kỳ lý do gì làm giảm O2 cung cấp cho tế bào đều làm tăng quá trình sinh sản hồng cầu Sinh lý bình thường, số lượng hồng cầu dê nội 13 - 14 triệu/mm3 (Đàm Văn Tiện và Lê Văn Thọ, 1992); dê Bách Thảo 12,28 triệu/mm3 (Đinh Văn Bình và Lê Viết Ly, 1994) Khi gia súc bị bệnh lê dạng trùng, tiêm mao trùng, biên trùng thì hồng cầu sẽ bị phá hủy hàng loạt (Đàm Văn Tiện và Lê Văn Thọ, 1992)

Hemoglobin (Hb): là một loại protein phức tạp có màu đỏ, có chức năng vận chuyển các chất khí O2, CO2 trong quá trình hô hấp Giữa hàm lượng Hb và số lượng hồng cầu có mối tương quan chặt chẽ Hàm lượng Hb là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng hồng cầu Bình thường hàm lượng Hb rất ổn định Sự thay đổi hàm lượng Hb phụ thuộc vào đặc điểm di truyền của giống, loài Trong số bệnh như thiếu máu, ký sinh trùng đường máu hàm lượng Hb giảm xuống Hàm lượng Hb cũng bị giảm ở những bệnh mà số lượng hồng cầu không thay đổi như bệnh bần huyết Hàm

Trang 20

lượng Hb cũng phụ thuộc vào tuổi, tính biệt, tình trạng dinh dưỡng và trạng thái sức khỏe (Cù Xuân Dần, 1991; Phan Cự Nhân, 1983; Bạch Quốc Tuyên, 1991)

Nghiên cứu về hàm lượng Hb ở dê, các tác giả Đàm Văn Tiện và Lê Văn Thọ (1992) cho biết có sự biến động từ 7 - 14 g%; theo Đinh Văn Bình và cs (2001) trên dê Bách Thảo là 9,23 g% còn theo Nguyễn Anh và Trịnh Thị Kim Thoa (1999) với dê Cỏ là 8,4 g%, dê ngoại nhập như Beetal, Babary là 8,34 g% và dê lai F1

Bạch cầu trung tính có chức năng thực bào và sinh kháng thể, chứa đến 30 loại enzyme khác nhau có khả năng phân giải hầu hết các chất có hoạt tính sinh học Bạch cầu ái toan đóng vai trò quan trọng trong cơ chế chống đỡ đối với nhiễm ký sinh trùng, tham gia vào phản ứng, giai đoạn muộn quá trình viêm và có chức năng thực bào đối với các mảnh tế bào Bạch cầu ái kiềm giải phóng histamine, bradykinin và serotonin làm tăng tính thấm mao mạch, tăng dòng máu tới vùng tổn thương, tham gia vào quá trình đáp ứng dị ứng, tiết chất chống đông tự nhiên là heparin Lâm ba cầu có chức năng bảo vệ bằng cách sinh kháng thể, tăng khi bị nhiễm virút, nhiễm trùng và viêm Lâm ba cầu giảm khi bị suy giảm miễn dịch, thiếu máu, suy thận, stress và suy nhược cơ thể

Sự thay đổi về số lượng và tỷ lệ các loại bạch cầu có liên quan đến tuổi, tính biệt, đặc điểm cá thể, trạng thái sinh lý và sức khỏe của gia súc Khi gia súc bị nhiễm trùng bạch cầu trung tính và đơn nhân lớn tăng đột ngột; bị ký sinh trùng đường ruột thì bạch cầu ái toán tăng; trong bệnh thiếu máu thì bạch cầu ái kiểm tăng và trong giai đoạn vết thương đang bình phục thì lâm ba cầu tăng (Bạch Quốc Tuyên, 1991)

Trong cùng một giống, một loài và ở trạng thái bình thường công thức bạch cầu khá ổn định, ở các giống loài khác nhau thì số lượng bạch cầu có khác nhau

Trang 21

Theo Đàm Văn Tiện và Lê Văn Thọ (1992) số lượng bạch cầu ở Cừu 7 - 10 nghìn/mm3 Theo Đinh Văn Bình (1994) số lượng bạch cầu ở dê Bách Thảo 13,43 nghìn/mm3

Hàm lượng protein tổng số trong huyết thanh theo Phan Cự Nhân và cs (1982) cho biết: hàm lượng protein trong huyết thanh là một chỉ tiêu quan trọng, phản ánh đặc điểm quá trình trao đổi chất, có mối quan hệ chặt chẽ đến sự sinh trưởng phát triển của gia súc Hàm lượng protein tổng số là một chỉ tiêu sinh học tương đối ổn định Sự sai khác hàm lượng protein trong huyết thanh phụ thuộc vào: loài, giống, tuổi, trạng thái sinh lý, sức khỏe, tình trạng dinh dưỡng,

Hàm lượng protein tổng số trong huyết thanh ở dê nội là 8,4 g%, dê ngoại 8,34 g%, dê lai F1 9,51 g% (Nguyễn Anh và Trịnh Thị Kim Thoa, 1999)

Phan Cự Nhân (1982) cho rằng: những biến động về hàm lượng protein tổng

số trong huyết thanh là những chỉ thị tin cậy để đánh giá các chuyển biến về thay đổi sinh lý, phát hiện các triệu chứng bệnh lý ứng dụng trong thú y

Các tiểu phần protein huyết thanh: Bằng phương pháp điện di, người ta xác định được tỷ lệ % của các tiểu phần protein trong huyết thanh của gia súc Huyết thanh của gia súc có 4 thành phần chính là: albumin, α-glubulin, β-glubulin và γ-glubulin Albumin: là tiểu phần chính của protein huyết tương tạo nên áp suất thẩm thấu thể keo của máu, tham gia cấu tạo nên các mô bào, cơ quan trong cơ thể, tham gia vận chuyển các axit béo tự do, các sắc tố mật, cholesterol và các khoáng canxi, magie Vì vậy, hàm lượng Albumin trong máu biểu thị khả năng sinh trưởng của gia súc, có ý nghĩa lớn đối với sức sản xuất và năng suất của vật nuôi Theo Phan Cự Nhân (1981) và các tác giả khác, hàm lượng albumin trong huyết thanh biến đổi theo quy luật chung là tăng dần theo tuổi Ở các gia súc có sừng, hàm lượng albumin chiếm 30 - 45% protein tổng số trong huyết thanh (Phan Cự Nhân, 1985)

Bacsilio et al (1992) cho biết hàm lượng albumin ở dê Sardinian là 3,75 ± 0,77 g%

Kết quả phân tích của Nguyễn Anh và Trịnh Thị Kim Thoa (1999) ở dê nội, dê ngoại và dê F1 lần lượt là 33; 31,82; 37,39% so với protein tổng số, tương ứng ở các hàm lượng 2,33; 2,49 và 2,69%

Globulin: bao gồm ba tiểu phần α, β và γ, các tiểu phần này liên quan đến hướng sản xuất và năng suất của gia súc

α-glubulin: chiếm tỷ lệ không cao lắm trong huyết thanh nhưng nó có vai trò quan trọng trong liên kết lipit, gluxit để tạo thành các phức hợp lipoprotein trong cấu

Trang 22

trúc tế bào α-glubulin còn tham gia vận chuyển triglyxerit, photpholipit, các hormon steroid và các chất khoáng: Ca, Fe, Cu (Trần Đình Miên và cs., 1994) Kết quả phân tích hàm lượng α-glubulin ở dê Sardinian là 1,27 ± 0,25g%; ở dê Cỏ Việt Nam, dê ngoại và dê lai F1 lần lượt là 1,425 ± 0,089; 1,156 ± 0,116; 0,970 ± 0,064%

globulin: trong huyết thanh có thành phần cấu tạo và chức năng phức tạp globulin liên kết và vận chuyển các ion kim loại Cu, Zn, Mn, vận chuyển mỡ, caroten và vitamin (Trần Đình Miên và cs., 1994; Bạch Quốc Tuyên, 1991)

β-γ-glubulin: là tiểu phần protein giữ vai trò rất quan trọng, thuộc loại glubulin miễn dịch, gọi tắt là Ig (Immuno globulin) đó chính là các kháng thể và các protein miễn kháng, có tất cả 5 loại là: IgG, IgA, IgE, IgD và IgM Cả 5 loại này đều do lâm

ba cầu sản sinh ra Mỗi khi cơ thể bị một kháng nguyên lạ xâm nhập, nồng độ các Ig tăng lên để phản ứng lại các kháng nguyên đó, để bảo vệ cơ thể Nồng độ Ig giảm trong trong bệnh thiểu năng hạch lâm ba

Theo Trần Đình Miên và cs (1994), γ-globulin có liên quan đến sức chống bệnh của cơ thể và có ý nghĩa lớn đối với sự bảo tồn nòi giống trong quá trình tiến hóa của động vật Trong chăn nuôi hiện nay, người ta sử dụng γ-globulin như một chỉ tiêu đánh giá khả năng chống đỡ bệnh tật, khả năng thích nghi của gia súc, gia cầm Nguyễn Anh và Trịnh Thị Kim Thoa (1999) cho biết: ở dê Cỏ hàm lượng γ-globulin là 2,30 ± 0,127g%; dê ngoại 2,71 ± 0,23g% và dê F1 là 2,08 ± 0,134g%

Theo Basilio et al (1992), chỉ tiêu này ở dê Sardinian (Italia) là 1,89 ± 0,51g%

- Ngoài ra đặc điểm sinh học của dê còn có nhiều ưu thế hơn so với các loài gia súc khác nên chúng ngày càng được con người đầu tư và phát triển

Theo Sharma (1993), dê là loài gia súc có thể sống trong những điều kiện khắc nghiệt và có khả năng thích nghi với nhiều vùng khí hậu khác nhau Chúng sống được

ở những vùng sa mạc khô cằn như sa mạc Thar, Sahel hoặc những vùng có độ cao so với mặt nước biển 2.500 m như vùng Hindu-Kush, Himalaya cho tới những vùng rừng rậm nhiệt đới có nhiệt độ, ẩm độ cao và lượng mưa lớn (3.000 - 5.500 mm/năm)

Dê nhanh nhẹn, dẻo dai và linh hoạt hơn những gia súc khác Với sự khéo léo phi thường chúng có thể di chuyển trên những mỏm núi đá cao mà trâu và bò không bao giờ tới được Dê ưa sống ở những vùng núi cao nhất là những vùng núi đá, khô ráo, sạch sẽ, thức ăn tươi không dập nát Khả năng tiêu hoá chất xơ của dê tới 64% nên chúng có thể ăn được nhiều loại thực vật khác nhau, trong đó có nhiều loại thực vật là cây thuốc, cây có nhiều chất tanin nên tạo cho dê có khả năng chống bệnh tốt,

Trang 23

ít mắc bệnh hơn những gia súc khác (Nguyễn Đình Rao và cs., 1979)

Dê ăn được nhiều loại lá cây cỏ hơn trâu, bò, cừu và thỏ Chăn nuôi dê cần vốn đầu tư ban đầu thấp, thu hồi vốn nhanh, tận dụng được lao động và sản phẩm phụ nông nghiệp Đối với một số vùng sâu, vùng xa chăn nuôi dê còn đóng một vai trò quan trọng trong công tác xoá đói giảm nghèo Thịt và sữa dê có giá trị dinh dưỡng cao, được nhiều người ưa chuộng, thịt dê thơm ngon, sữa dê rất bổ, đặc biệt thích hợp với người già và trẻ em Khác với các động vật khác, dê ít mắc bệnh truyền nhiễm nguy hiểm (Phạm Sỹ Lăng và Nguyễn Đăng Khải, 2001)

2.1.2 Khả năng sản xuất của dê

2.1.2.1 Đặc điểm về khả năng sinh sản của dê

Sinh sản là một đặc tính quan trọng của gia súc nhằm duy trì và bảo tồn nòi giống, so với các gia súc ăn cỏ khác, dê là con vật có khả năng sinh sản cao Các đặc tính sinh sản của dê được biểu hiện ra ngoài khi chúng đã thành thục về tính dục

Sự thành thục về tính của dê được xác định khi dê cái có biểu hiện rụng trứng

và dê đực sản xuất được tinh trùng và có biểu hiện tính dục Những dê khỏe mạnh,

dê Cỏ sinh trưởng tốt thường có tuổi động dục lần đầu sớm (Nguyễn Thiện và Đinh Văn Hiến, 1999)

Theo Devendra and McLeroy (1984), tuổi thành thục về tính trung bình của dê: 4 - 12 tháng tuổi, khác nhau theo giống và chế độ nuôi dưỡng

Theo Đặng Xuân Biên (1979), dê Cỏ thành thục về tính lúc 4 - 6 tháng tuổi Sau khi thành thục về tính thực sự, dê bước vào thời kỳ sinh sản Tuổi thành thục tính dục của dê từ 7-8 tháng tuổi và phụ thuộc vào giống, cá thể, điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc

Theo Devendra and Burns (1983), thời kỳ sinh sản của dê từ 7 - 10 năm Trong thời kỳ sinh sản, dê đực thường có hoạt động sinh sản thường xuyên và liên tục, dê cái có hoạt động sinh sản theo chu kỳ động dục, chửa đẻ, tiết sữa nuôi con rồi lại động dục

Theo Devendra and McLeroy (1984) cho rằng ở dê có ba loại chu kỳ tính dục, loại dài và ngắn là không phổ biến và có tỷ lệ thấp, còn loại vừa (17 - 23 ngày) chiếm tỷ lệ cao và phổ biến Chu kỳ tính dục của dê xảy ra như đối với các gia súc khác và có các giai đoạn với các biểu hiện ra bên ngoài: Pha trước động dục: 4 - 6 ngày; Pha động dục: 24 - 28 giờ; Pha sau động dục: 5 - 7 ngày và pha yên tĩnh:

11 - 16 ngày Khi động dục dê có các biểu hiện: bồn chồn, đuôi ve vẩy, âm hộ sưng

Trang 24

đỏ, chảy dịch nhầy, nhảy lên con khác và chịu cho con khác nhảy lên, giảm ăn uống, giảm tiết sữa, kêu kéo dài

Thời gian trứng còn có khả năng thụ thai từ 8 - 12 giờ, tinh trùng có thể sống trong đường sinh dục của dê cái khoảng 24h Thời điểm trứng rụng của dê cái vào cuối thời gian động dục Theo Devendra and McLeroy (1984) cho rằng thời điểm rụng trứng của dê là 21 - 36 giờ kể từ khi có biểu hiện động dục Tác giả cho biết phối giống cho dê cái tốt nhất vào thời điểm 12 giờ và phối lặp lại lần 2 vào thời điểm 24 giờ kể từ khi dê cái bắt đầu động dục Sự thụ tinh diễn ra khi trứng và tinh trùng gặp nhau ở 1/3 phía trên ống dẫn trứng Sau giai đoạn thụ tinh, dê cái bước vào giai đoạn mang thai, thời gian mang thai của dê dao động từ 143 -165 ngày Kết thúc giai đoạn mang thai là quá trình đẻ Đây là quá trình sinh lý phức tạp để đẩy thai và nhau thai ra khỏi cơ thể mẹ Toàn bộ quá trình sinh sản của dê được điều khiển bằng hệ thống thần kinh và thể dịch Quá trình này được điều phối một cách nhịp nhàng gây cho gia súc động dục theo chu kỳ, giữ, nuôi thai khi chửa, sinh con khi đẻ, tiết sữa nuôi con rồi lại động dục chuẩn bị cho kỳ sinh sản tiếp theo

Thời gian động dục lại sau đẻ: là khoảng thời gian cần thiết để dê mẹ phục hồi lại hoàn toàn trạng thái sinh lý, thuận lợi cho sự động dục trở lại Thời gian này trước hết phụ thuộc vào hoạt động tiết sữa, tuổi dê mẹ, số lứa đẻ Theo Đinh Văn Bình (1994), đã nghiên cứu trên dê Bách Thảo cho rằng sau khi đẻ 30-60 ngày dê động dục lại và ở lứa đẻ thứ 2 đến lứa 6, thời gian động dục lại có phần ngắn hơn lứa 1 và lứa 7 trở đi

Khoảng cách lứa đẻ của dê ảnh hưởng bởi thời gian chửa, thời gian động dục lại sau đẻ, tỷ lệ phối đạt Các tính trạng này có quan hệ tỷ lệ ngịch với nhau Khoảng cách lứa đẻ liên quan chặt chẽ đến công tác chọn giống, phối giống, chăm sóc và nuôi dưỡng

Số con đẻ ra/lứa: là tính trạng có hệ số di truyền thấp (h = 0,1-0,24) Một phần

nó phụ thuộc vào tính hoàn thiện của cơ quan sinh sản dê cái, tầm vóc con mẹ, số lứa đẻ thứ mấy và đặc biệt khả năng tiết sữa nuôi con, khả năng này phụ thuộc vào

di truyền và ngoại cảnh

Dê là loại gia súc đa thai có khả năng đẻ từ 1 - 4 con/lứa Một số giống dê mắn

đẻ có thể cho 1,5 - 1,7 lứa/năm, trung bình 1,6 - 1,8 con/lứa Theo kết quả nghiên cứu của Đinh Văn Bình (1994), dê Bách Thảo là giống dê có khả năng sinh sản tốt, tuổi đẻ lứa đầu: 300 - 395 ngày, đẻ trung bình 2 con/lứa

Trang 25

2.1.2.2 Đặc điểm về sinh trưởng của dê

Sinh trưởng là quá trình tích luỹ các chất dinh dưỡng trong cơ thể để gia súc tăng về kích thước, khối lượng, thể tích của từng bộ phận hay toàn cơ thể vật nuôi (Đặng Vũ Bình, 2007) Thực chất của sinh trưởng là sự tăng trưởng và phân chia tế bào trong cơ thể, là quá trình tích lũy các chất hữu cơ do đồng hóa và dị hóa, là sự tăng chiều cao, chiều dài, bề rộng, khối lượng của bộ phận và toàn cơ thể vật nuôi trên cơ sở di truyền thế hệ trước (Nguyễn Đức Hưng và cs., 2009)

Nghiên cứu quy luật sinh trưởng của vật nuôi, các tác giả Mendendoocphơ (1867), Kislopski (1930), Hammond (1937) và Pơsennitxmơi (1964) đều cho rằng

cơ thể phát triển trong các giai đoạn và thời kỳ tuân theo các quy luật (trích theo Trần Đình Miên và cs., 1992), đó là:

Quy luật theo giai đoạn: Sinh trưởng của gia súc chia làm hai giai đoạn chính, giai đoạn trong bào thai (trong cơ thể mẹ) và giai đoạn ngoài bào thai (ngoài cơ thể

mẹ Theo Trần Đình Miên và cs (1992), sư sinh trưởng ở giai đoạn bào thai chịu ảnh hưởng nhiều của cơ thể mẹ Do vậy, trong giai đoạn này, việc chăm sóc, nuôi dưỡng gia súc mẹ cần được quan tâm đặc biệt Từ đó tránh gia súc bị sẩy thai, đẻ non, hoặc con đẻ ra bị dị tật, còi cọc, chậm lớn Giai đoạn ngoài bào thai thì chịu ảnh hưởng của tính di truyền đời trước nhiều hơn Theo Nguyễn Ân (1994) nhấn mạnh rằng: thời gian của từng giai đoạn dài hay ngắn, số lượng giai đoạn, sự đột biến trong sinh trưởng của từng giai đoạn, từng cá thể đều khác nhau trong phạm vi giống đó

Quy luật sinh trưởng không đồng đều: thể hiện cường độ và tốc độ sinh trưởng của con vật thay đổi theo độ tuổi Khi cơ thể còn non, tốc độ sinh trưởng rất nhanh và chậm dần ở các tháng tiếp theo Đồng thời, các cơ quan, bộ phận trong cơ thể cũng phát triển khác nhau ở các thời kỳ khác nhau Ngoài ra, sự phát triển không đồng đều còn thể hiện ở sự trao đổi chất và quá trình tích lũy vật chất cũng không giống nhau Trước khi sinh, mô xương có cường độ phát triển mạnh nhất, xương ngoại vi phát triển mạnh hơn xương trục Sau khi sinh, sự phát triển của mô xương giảm, nhưng

mô mỡ và mô cơ lại tăng, xương trục phát triển mạnh làm cho cơ thể dài ra Khi cơ thể còn non, cường độ tích lũy protein cao, tuổi càng nhiều thì khả năng này bị giảm xuống Vì vậy, trong giai đoạn còn non gia súc được cung cấp đầy đủ dinh dưỡng thì

sẽ phát triển toàn diện về thể vóc (Nguyễn Hải Quân và Nguyễn Thiện, 1997)

Quy luật sinh trưởng theo chu kỳ: Tính chu kỳ trong sự tăng sinh của tế bào có thời kỳ phát triển mạnh, yếu, rồi phát triển mạnh trở lại Sự lặp lại đó một cách nhịp

Trang 26

nhàng tạo nên một sự phát dục có tính cho kỳ và chu kỳ nối tiếp chu kỳ (Nguyễn

Ân, 1994) Tính chu kỳ trong hoạt động sinh lý của cơ thể: hoạt động của thần kinh

đi theo một nhịp độ và cường độ nhất định, được biểu hiện ở trạng thái khi thì hứng phấn, khi thì ức chế Trong chăn nuôi, việc hiểu rõ chu kỳ tính rất quan trọng, từ đó lên kế hoạch thụ tinh cho gia súc, điều khiển được thời gian đẻ, hạn chế vô sinh Nếu sinh trưởng là quá trình thay đổi về lượng thì phát dục là sự thay đổi, tăng thêm và hoàn chỉnh các đặc tính, chức năng của các bộ phận trong cơ thể (thay đổi

về chất) Theo Lê Thanh Hải và cs (1994) sinh trưởng, phát dục luôn đi đôi với nhau tạo lên sự phát triển của cơ thể Đây là tính trạng số lượng chịu ảnh hưởng của các yếu tố di truyền và các yếu tố từ môi trường bên ngoài Sự sinh trưởng và phát dục của dê tuân theo quy luật sinh trưởng chung của gia súc, phát triển không đồng đều theo tuổi và giới tính Khả năng sinh trưởng phụ thuộc nhiều vào giống, thức

ăn, trạng thái sức khỏe gia súc, điều kiện nuôi dưỡng, môi trường sống Do vậy, con người có thể sử dụng các phương pháp chọn lọc, lai tạo giống, cùng các tác động quản lý, nuôi dưỡng chăm sóc hợp lý để nâng cao khả năng sinh trưởng

Để đánh giá khả năng sinh trưởng của dê người ta dùng phương pháp cân đo từng thời điểm (thường từ sơ sinh đến 36 tháng tuổi), khi con vật trưởng thành kết hợp cân đo với giám định Sau đó kết quả được biểu diễn bằng đồ thị, biểu đồ để đánh giá con vật qua sinh trưởng tích lũy, sinh trưởng tương đối, tuyệt đối và kích thước một số chiều đo cơ bản

2.1.2.3 Đặc điểm sản xuất thịt và chất lượng thịt dê

Khả năng sản xuất thịt là khả năng cung cấp một khối lượng cơ vân cùng một

số mô khác Mỗi loài gia súc, gia cầm cũng như mỗi phẩm giống khác nhau đều có khả năng cho thịt khác nhau vì chúng có đặc điểm di truyền riêng và chịu ảnh hưởng của điều kiện ngoại cảnh khác nhau (Trần Đình Miên và cs., 1994) Mô cơ chiếm 35% khối lượng cơ thể và có thành phần hóa học như sau: H20: 72-75%, protein 18-21%, lipit 1-3%, khoáng 1% (Lê Văn Liễn và cs., 1997; Nguyễn Thiện

và Đinh Văn Hiền, 1999)

Thành phần hóa học, tính chất cơ lý của cơ phụ thuộc vào đặc tính di truyền, kiểu trao đổi chất, mức độ vận động cùng với những tác động của điều kiện ngoại cảnh Trong chăn nuôi dê cũng như các gia súc khác, người ta đánh giá khả năng cho thịt của dê theo các chỉ tiêu: khối lượng, tỷ lệ thịt xẻ; tỷ lệ thịt tinh (mỡ, nạc); tỷ lệ xương, da; phẩm chất thịt xẻ qua phân tích thành phần hóa học của thịt

Trang 27

Năng suất thịt phụ thuộc vào tầm vóc, khối lượng cơ thể con vật, kết cấu cơ bắp

và các phần thịt có giá trị Các giống, dòng gia súc khác nhau thì khả năng cho thịt cũng khác nhau, nhất là các dòng được chọn lọc theo hướng năng cao khả năng cho thịt (Chamber, 1990) Nguyễn Đình Rao và cs (1979) cho rằng tỷ lệ móc hàm ở thịt dê khá cao so với các loài nhai lại khác, tỷ lệ này phụ thuộc vào tuổi, giống, tính biệt…

Tỷ lệ thịt xẻ của các giống dê, theo Ramon and Valmayor (1985) cho biết giống dê lai Anglo - Nubian nuôi ở Philipin vho tỷ lệ thịt xẻ đạt 51,4%, ở thời điểm giết mổ khi cơ thể có khối lượng 22kg

Chất lượng thịt được đánh giá thông qua các chỉ tiêu về thành phần hóa học của thịt, màu sắc và mùi vị của thịt, độ mịn của cơ Chất lượng thịt phụ thuộc vào giống, tuổi, tính biệt, nuôi dưỡng chăm sóc, vệ sinh môi trường, phòng trừ bệnh,… Nhiều nhà khoa học khi nghiên cứu về khả năng cho thịt của dê cũng như đánh giá của người tiêu dùng đều cho rằng thịt dê được xếp vào loại thịt có phẩm chất cao: giàu protein, tỷ lệ mỡ thấp, thịt mịn và chắc, màu sắc và mùi vị hấp dẫn Các nhà khoa học cũng xác định về chất lượng thịt dê: thành phần hóa học không khác nhiều so với các loại gia súc nhai lại khác như trâu, bò, …Thịt dê ít bị nhiễm ký sinh trùng, có mùi vị đặc trưng, thơm, ngon, hấp dẫn, ít dai hơn thịt khác

vì tuổi giết mổ thường xác định theo khối lượng cơ thể, ít xác định theo tuổi như: trâu, bò Trong thịt dê có hàm lượng mỡ thấp hơn tất cả các loại thịt đỏ của các gia súc khác Vì vậy, có thể coi thịt dê là loại thịt quý nhất cho con người (Acharya and Bahatta, 1992a)

Theo Niekerk et al (1988), cho rằng điều kiện dinh dưỡng, công nghệ giết mổ

có ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng và chất lượng thịt xẻ của dê Boer ở Hà Lan

2.1.3 Lai giống và ưu thế lai

2.1.3.1 Lai giống

Lai tạo là phương pháp nhân giống làm cho tần số kiểu gen đồng hợp tử ở thế

hệ sau giảm đi và tần số kiểu gen dị hợp tử tăng lên Trong thực tế chăn nuôi, lai giống là cho giao phối giữa các thể thuộc 2 dòng trong cùng một giống, thuộc 2 giống hoặc 2 loài khác nhau Khi lai hai quần thể với nhau sẽ gây ra 2 hiệu ứng:

- Hiệu ứng cộng gộp của các gen: đó là trung bình XP1P2 của trung bình giá trị kiểu hình của quần thể thứ nhất XP1 và trung bình của giá trị kiểu hình của quần thể thứ hai XP2:

xP1P2 = (XP1 + XP2)/2

Trang 28

- Hiệu ứng không công gộp: đó là ưu thế lai H (Hybrid vigour hay Heterosis), biểu thị hiệu ứng trung bình giá trị kiểu hình quần thể lai XF1:

xF1 = xP1P2 + H

Do đó, trái với nhân giống cận thân, lai tạo sẽ tạo ra đời lai có nhiều đặc điểm

ưu việt (Nguyễn Văn Thiện, 1995b) Người đầu tiên nêu lợi ích của việc lai tạo là Darwin, ông đã kết luận lai tạo là có lợi, giao phối cận thân là có hại, lai tạo nhằm lay động tính di truyền bảo thủ vốn sẵn có của cá thể Thông qua lai tạo, các dòng các giống, phối hợp để tạo ra những tổ hợp lai mới hoặc cao hơn giống cũ, hoặc có tính trạng mới mà giống cũ không có Ngày nay việc tạo ra các loại sản phẩm thịt, trứng, sữa, lông phần lớn đều thông qua lai tạo và việc lai tạo đã có ảnh hưởng tốt đến sản lượng và chất lượng của sản phẩm Lai tạo chính là sử dụng biện pháp sinh học quan trọng: ưu thế lai, đồng thời các chỉ tiêu kinh tế của tổ hợp lai và ưu thế lai

là căn cứ cho việc chọn giống gia súc (Lê Đình Lương và Phan Cự Nhân, 1994)

2.1.3.2 Ưu thế lai

Ưu thế lai là hiện tượng sinh vật học biểu hiện ở sự phát triển mạnh mẽ của những cơ thể do lai tạo các con gốc không cùng huyết thống Hiện nay ưu thế lai đã thu được nhiều kết quả rõ rệt nhất là đối với hầu hết các loại động vật qua con đường lai tạo giữa các cá thể các dòng, giữa các giống, gữa các loài Các loại lợn lai kinh tế, gà dò Broiler tăng trọng nhanh, ít tiêu tốn thức ăn trên một đơn vị tăng trọng đã chứng minh cho điều đó

Theo Lebedev (1972), ưu thế lai làm tăng sức sống, tăng sức khoẻ, sức chịu đựng và tăng năng suất của đời con do giao phối không cận huyết Theo Trần Đình Miên và cs (1992), khi cho giao phối giữa hai cá thể, hai dòng, hai giống, hai loài khác nhau, đời con sinh ra khoẻ hơn, chịu đựng bệnh tật tốt hơn, các tính trạng sản xuất có thể tốt hơn đời bố mẹ Hiện tượng đó gọi là ưu thế lai

Trần Đình Miên và Nguyễn Văn Thiện (1995) cho rằng: ưu thế lai là hiện tượng sinh học của những cơ thể do lai tạo những con gốc không cùng huyết thống Có thể hiểu ưu thế lai theo nghĩa toàn bộ tức là sự phát triển toàn khối của cơ thể con vật, sự tăng thêm cường độ trong quá trình trao đổi chất, tăng sản lượng các mặt Mặt khác, theo nghĩa từng tính trạng, có khi chỉ một vài tính trạng phát triển mạnh, những tính trạng khác có khi vẫn còn nguyên, có trường hợp còn giảm đi Cũng có thể xem ưu thế lai là hiện tượng đời con hơn hẳn các chỉ tiêu của bố, mẹ gốc

Nguyễn Văn Thiện (1995a) cho rằng ưu thế lai là phần chênh lệch (hơn hoặc kém) của đời lai (đời con) so với trung bình của bố mẹ

Trang 29

Guney and Darcan (2000) cho rằng: ưu thế lai là một hiện tượng di truyền xảy

ra trong quá trình lai tạo, mà hiện tượng di truyền đó gây nên trung bình của đời con cao hơn trung bình của bố mẹ chúng Ưu thế lai xảy ra trong quá trình lai giữa các giống hay các dòng trong cùng một giống Mức độ ưu thế lai cho các tính trạng không giống nhau, khoảng cách di truyền giữa các giống càng lớn thì mức độ ưu thế lai càng cao

Bản chất di truyền của ưu thế lai: Trái với cơ sở di truyền của suy hoá cận huyết, cơ sở di truyền của ưu thế lai là dị hợp tử ở con lai Có ba giả thuyết để giải thích hiện tượng ưu thế lai: Thuyết trội (Dominance); Thuyết siêu trội (Over dominance): Lý thuyết này cho rằng tác động của các cặp alen dị hợp tử lớn hơn tác động của các cặp alen đồng hợp tử

Thuyết gia tăng tác động tương hỗ của các gen không cùng lô cút: tác động tương hỗ của các gen không cùng lô cút (tác động át gen) cũng tăng lên

Các yếu tố ảnh hưởng đến ưu thế lai:

- Ưu thế lai chỉ có ở đời con lai Trong quá trình sinh trưởng và phát triển, ưu thế lai chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố Theo Trần Đình Miên và cs (1992) ưu thế lai phụ thuộc vào hai yếu tố:

- Trạng thái hoạt động của dị hợp tử;

- Sự khác nhau giữa hai quần thể xuất phát

Theo Nguyễn Văn Thiện (1995b), trong thực tế chăn nuôi, sự lai tạo giữa các

cá thể, các dòng, các giống, các loài khác nhau đã tạo nên ưu thế lai rõ rệt Tuy nhiên, không phải bất cứ lúc nào con lai cũng hơn hẳn giống bố và mẹ, nhất là các tính trạng số lượng, mức độ ưu thế lai còn phụ thuộc vào:

- Nguồn gốc di truyền của bố mẹ: bố mẹ có nguồn gốc di truyền càng xa nhau thì ưu thế lai càng cao và ngược lại

- Tính trạng xem xét: Các tính trạng có hệ số di truyền thấp thì ưu thế lai cao, ngược lại các tính trạng có hệ số di truyền cao thì ưu thế lai thấp

- Công thức giao phối: Ưu thế lai còn phụ thuộc vào việc dùng con nào làm bố

và con nào làm mẹ Ví dụ lai giữa ngựa và lừa, nếu ngựa đực lai với lừa cái ta được con la, nếu dùng lừa đực lai với ngựa cái ta được con mã đề (Booc Đô)

- Điều kiện nuôi dưỡng: trong điều kiện nuôi dưỡng kém, ưu thế lai sẽ thấp, ngược lại trong điều kiện nuôi dưỡng tốt ưu thế lai sẽ cao

Trang 30

Dựa vào sự hiểu biết về bản chất di truyền của ưu thế lai và các yếu tố ảnh hưởng tới ưu thế lai của con lai, đồng thời căn cứ vào mục đích của việc lai tạo và điều kiện, phương thức, tập quán chăn nuôi cũng như trình độ của người nuôi dê ở từng địa phương, người ta lựa chọn công thức lai tạo dê sao cho thích hợp nhằm phát huy ưu thế lai cao nhất ở đời con lai

Theo Trần Đình Miên và cs (1994), khi nghiên cứu về tính trạng số lượng cho thấy: những tính trạng số lượng có biểu hiện xấu nhất khi có sự cận huyết thì lại thể hiện mạnh mẽ nhất do ưu thế lai Mức độ ưu thế lai phụ thuộc vào mức độ sai khác

di truyền của các cặp bố, mẹ đem lại Do đó, trong thực tiễn khi chọn các cặp bố mẹ phải có khả năng phối hợp, mức độ chọn lọc cao, có tiến bộ di truyền thì khi cho lai với nhau khả năng phối hợp sẽ cho kết quả tốt Bởi vì khả năng đó đã có sẵn gen con đực và con cái và phải đựơc các nhà chọn giống có nhiều kinh nghiệm phát hiện (Kusher, 1969)

Theo Barry and Godke (1991) lai giữa các giống: là phương thức chính để sử dụng ưu thế lai trong chăn nuôi Tuỳ theo mục đích của việc lai tạo, người ta áp dụng các công thức lai giữa các giống như sau:

- Lai pha máu: là dùng con đực của giống đi pha máu phối giống với con cái của giống được pha máu, sau đó dùng các con đực hoặc con cái của giống được pha máu phối giống với các con cái hoặc con đực của các đời lai (con đực của giống đi pha máu chỉ dùng một lần) Kết quả là ta sẽ có các con lai mà chúng mang máu của giống được pha máu là chính và chúng chỉ có một ít máu của giống đi pha máu, khi nào đạt yêu cầu thì cố định

Lai pha máu thường áp dụng trong trường hợp khi đã có một giống vật nuôi

mà tính năng sản xuất của nó tương đối tốt, nhưng vẫn còn có một số nhược điểm nào đó Nếu tiến hành chọn lọc nhân thuần cải tiến chúng sẽ mất nhiều thời gian, lúc

đó có thể dùng giống vật nuôi này là giống được pha máu và chọn một giống khác có các ưu điểm mà giống trên không có làm giống đi pha máu Đem hai giống này lai với nhau ta, sẽ được các con lai vẫn có hướng sản xuất và các đặc điểm cơ bản như giống được pha máu, nhưng lại có thêm các đặc điểm của giống đi pha máu

- Lai cải tiến (hay còn gọi là lai cấp tiến): là dùng con đực của giống đi cải tiến phối con cái của giống được cải tiến, sau đó tiếp tục dùng con đực của giống đi cải tiến phối giống với các đời lai (con cái của giống được cải tiến chỉ dùng một lần) Kết quả là ta sẽ có các con lai mà chúng mang máu của giống đi cải tiến là chính và chúng chỉ có một ít máu của giống được cải tiến, khi nào đạt yêu cầu thì cố định

Trang 31

Lai cải tiến thường áp dụng trong trường hợp khi có một giống vật nuôi tuy cũng có một số đặc điểm tốt, nhưng lại có nhiều nhược điểm cần được cải tạo, nếu chỉ tiến hành chọn lọc nhân thuần thì rất lâu Trong trường hợp này giống vật nuôi này như là giống được cải tiến và chọn một giống khác có các ưu điểm mà giống trên không có làm giống đi cải tiến Đem hai giống này lai với nhau ta sẽ được các con lai vẫn giữ được các đặc điểm quý của giống được cải tiến (đặc biệt là tính thích ứng), nhưng lại có các đặc điểm tốt của giống đi cải tiến, như vậy hướng sản xuất của con giống bị cải tiến đã được thay đổi

- Lai gây thành: là dùng hai hoặc trên hai giống để tiến hành lai tạo, sau đó chọn lọc cố định các đời lai tốt để tạo thành giống mới Lai gây thành không có một công thức cố định, thậm chí ngay cả hai phương pháp lai tạo pha máu và cải tiến ở trên cũng có thể là các loại công thức của lai gây thành Khi tiến hành cần chú ý mấy vấn đề sau:

Xác định rõ mục tiêu của giống mới được gây thành:

Khi có đời lai đạt các yêu cầu đề ra, cần tiến hành chọn lọc, bồi dục con giống

Có thể sử dụng giao phối cận thân để cố định các đặc điểm tốt

Căn cứ vào tình hình cụ thể của quá trình gây giống, cần không ngừng bổ sung, hoàn chỉnh kế hoạch gây giống để nhanh chóng đạt được mục tiêu đề ra Lai tạo nhằm mục đích kinh tế:

- Lai giữa hai giống: là cho con đực và con cái thuộc hai giống khác nhau giao phối với nhau để sản xuất ra con lai F1

Đây là công thức lai phổ biến và được ứng dụng rộng rãi trong sản xuất chăn nuôi dê, đem lại hiệu quả kinh tế cao cho người chăn nuôi Nhiều con lai F1 đã có năng suất vượt cả bố và mẹ chúng (siêu trội) Bởi vì ở đời lai thứ nhất có ưu thế lai cao nhất sau đó giảm dần

Ví dụ:

Dê ♂ Bách Thảo Dê ♀ Cỏ

F1: 50% Bách Thảo + 50% dê Cỏ

Trang 32

Sơ đồ lai hai giống:

- Lai giữa ba giống: là cho con đực và con cái thuộc hai giống khác nhau giao phối với nhau để sản xuất ra con lai F1, dùng con cái lai F1 giao phối với con đực giống thứ ba để sản xuất ra con lai lai 3 giống hoặc sử dụng đực lai F1 cho phối con cái của giống thứ 3 để sản xuất con lai ba giống Lai giữa ba giống nhằm sử dụng

ưu thế lai ở con lai

- Lai ngược hay phản giao: là cho con đực và cái thuộc hai giống khác nhau giao phối với nhau để tạo ra con lai F1, sau đó dùng con cái lai F1 cho giao phối trở lại với con đực thuộc giống xuất phát để tạo con lai F2 Lai ngược cũng nhằm sử dụng ưu thế lai ở con cái lai F1

Căn cứ vào mục đích của việc lai tạo và dựa vào điều kiện tập quán và trình

độ của người chăn nuôi dê của từng địa phương, mà áp dụng công thức lai sao cho phù hợp

2.1.3.3 Ứng dụng lai giống và ưu thế lai trong chăn nuôi dê

Theo Barry and Godke (1991) lai giống dê là phương pháp cải tiến giống nhanh nhất, nó đã và đang được áp dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia trên thế giới Thông qua lai tạo giữa các giống dê sẽ xuất hiện hiện tượng ưu thế lai ở đời con lai, đặc biệt đời con lai F1 có ưu thế lai cao nhất Năng suất sản phẩm của con lai cao hơn nhiều so với bố mẹ chúng Những giống dê có năng suất sữa thịt cao như dê Saanen, Jumnapari, Anglo-Nubian, Togenburg, Alpine, Beetal, Boer đã được nhiều nước trong khu vực Nhiệt đới nhập nội và cho lai nhằm cải tiến giống dê địa phương Những con lai đã thể hiện ưu thế lai rõ và phát huy tốt trong điều kiện chăn nuôi đại trà Năng suất sữa, thịt, lông của những con lai cao hơn hẳn so với dê bản địa Con lai F1 giữa dê Alpine với dê Beetal có khối lượng cơ thể 9 tháng tuổi đạt 35,8 kg trong khi đó dê Beetal là 28,1 kg (Acharya, 1982) Con lai giữa dê Boer với

dê Tây phi có khối lượng lớn hơn dê bản địa 35% ở 6 tháng tuổi và 56% ở 1 năm tuổi (Barry and Godke, 1991)

Có rất nhiều công thức lai đã và đang được áp dụng trong chăn nuôi Tuỳ theo mục đích người sử dụng và điều kiện của cơ sở chăn nuôi dê mà người ta lựa chọn công thức lai sao cho thích hợp

Theo Đinh Văn Bình và cs (2003) mục đích của việc lai tạo là tạo ra con lai

có những ưu điểm mới như nâng tầm vóc và sản lượng sữa nhưng vẫn giữ được những ưu thế sẵn có của con giống địa phương như khả năng chống đỡ bệnh tật cao, chịu đựng kham khổ, thích nghi với khí hậu của địa phương

Trang 33

Theo Nguyễn Văn Thiện và Nguyễn Khánh Quắc (1998), căn cứ vào bản chất di truyền của các con vật xuất phát (con bố và con mẹ), lai tạo được chia ra làm ba loại: Lai giữa các dòng trong cùng một giống (inbreeding): Trong khi tiến hành nhân giống thuần chủng, thường thường có giao phối cận thân dẫn đến hiện tượng suy hoá cận huyết, lúc này có thể lai tạo giữa các dòng khác nhau trong giống để một mặt, duy trì được các đặc điểm của giống đã có, mặt khác lại đổi được máu, tránh được giao phối cận thân và sự suy hoá cận huyết

Các dòng này có thể là các con vật có huyết thống khác nhau, hoặc là các con vật được nuôi dưỡng trong các dòng cận huyết cao độ (inbred line) cho phối với nhau để có được ưu thế lai Đôi khi người ta cũng cho phối giữa con đực của một dòng cận huyết với một quần thể không cận huyết, đó là giao phối đầu dòng (topcrossing)

Ưu thế lai xuất hiện trong quá trình lai tạo đã được ứng dụng trong chăn nuôi

dê, nhờ đó sản phẩm thịt, sữa, lông và da dê tăng lên nhanh chóng Bởi khi cho lai những giống dê nhập nội với giống dê bản địa sẽ tạo ra con lai có khả năng sản xuất

cao, thích nghi tốt (Mohamed et al., 2000) Công tác lai tạo giống dê được tiến hành ở

hầu hết ở các nước có chăn nuôi dê Đặc biệt, các nước nhiệt đới đã cho lai dê dịa phương với một số giống dê sữa châu Âu (Saneen, Alpine ) có năng suất sữa cao, khi tỷ lệ gen của giống dê sữa tăng lên ở đời con lai, các con lai đã biểu hiện ưu thế lai rõ, khối lượng và sản lượng sữa của chúng cao hơn trung bình của bố và mẹ

chúng Mishra et al (1976), Mittal (1988) đã tính toán ưu thế lai của những con lai F1

giữa dê Alpine với dê Beetal theo những chỉ tiêu: tuổi động dục lần đầu = -12,33%; khối lượng sơ sinh = 1,03%, thời gian tiết sữa = 10,15 - 55,99% Khi sử dụng dê đực Alpine lai với dê cái F1 (Alpine × Beetal), kết quả cho thấy con lai có sản lượng sữa cao (357 kg/chu kỳ) trong khi đó sản lượng của dê Beetal là 198,1 kg Tuy nhiên tỷ lệ sẩy thai và chết yểu có sự tăng lên (11,63%), trong khi tỷ lệ này ở dê Beetal chỉ

là 5,83%

Mukhejee (1991) trong quá trình thử nghiệm nhiều công thức lai giữa dê Alpine với dê Beetal đã rút ra kết luận: tính hiệu quả kinh tế của con lai F1 (50% Alpine + 50% Beetal) là có khả năng cho sữa cao, thích ứng tốt trong những điều kiện chăn nuôi ở Hissar, Bắc Ấn Độ Để nâng cao năng suất dê địa phương, Saithanoo (1998) đã cho lai dê địa phương với dê Anglo-Nubian Kết quả cho thấy lúc 6 tháng tuổi, con lai đạt 19 kg, còn ở dê địa phương chỉ đạt 14 kg

Trang 34

Lai giữa các giống dê đang được áp dụng rộng rãi Một yếu tố thúc đẩy quá trình lai giống dê nhanh chóng là việc áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực sinh sản như: thụ tinh nhân tạo, bảo quản đông lạnh phôi và truyền cấy phôi dê Ở trong và ngoài nước đã và đang có nhiều tác giả nghiên cứu vấn đề này: Việt Nam có Nguyễn Văn Thiện và Hoàng Kim Giao (1996); Newzeland có

Moore et al (1989); Ấn Độ có Agrawal and Bhatta (1982); Úc có Ritar and Slamon (1983) và Freschi et al (2000); Anh có Jacqueline (1992) Malaysia đã

nhập tinh đông viên dê Alpine, Saanen, Togenburg, Anglo-Nubian để lai với dê địa

phương (Panadam et al., 1991)

Chương trình lai giống dê đã và đang được nghiên cứu, tiến hành áp dụng ở nhiều nơi trên thế giới, nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả trong chăn nuôi dê

Nghiên cứu của Panandam et al (1991) cho biết khả năng sinh trưởng và

những tính trạng kinh tế của con lai đã vượt xa so với dê địa phương bởi hiệu ứng di truyền từ dê Đức cải tiến Hiệu ứng gen cộng gộp của dê Đức đã đóng vai trò quan trọng vào ưu thế lai của con lai

Devendra and Macleroy (1962) đã cho lai dê Kacang (có kích thước và khối lượng nhỏ: 20-25 kg, nhưng mắn đẻ) với dê Ettawha có khối lượng lớn (40-50 kg) nhằm khai thác ưu điểm mắn đẻ của giống dê Kacang và khối lượng lớn của dê Ettawha Con lai có ưu thế lai về khối lượng nên đạt 30-33 kg Có đến 95% số dê giết mổ hiện nay ở Indonesia là con lai giữa dê Kacang và dê Ettawha Will (1998) nghiên cứu những con lai F1 giữa dê Đức x Katjang và thấy chúng có khối lượng sơ sinh cao hơn dê Katjang 40%, tiếp tục dùng dê đực Katjang × cái F1 có tỷ lệ sinh trưởng cao hơn so với sử dụng dê đực F1 phối với giống dê cái Katjang

Baruah et al (2000) cho biết sản lượng sữa của dê lai F1(Beetal x Assam) cao

hơn dê Assam và chịu ảnh hưởng của lứa đẻ, mùa sinh sản, di truyền và số con đẻ trong lứa của con mẹ

Barry et al (1991) đã cho lai giữa dê Boer với dê Tây Châu Phi, kết quả cho

thấy con lai ở 6 tháng tuổi đạt 21,8 kg, cao hơn so với dê địa phương 16,2 kg (35%), đến một năm tuổi cao hơn so với dê địa phương là 12,01 kg (56%)

Baruah et al (2000) so sánh sữa của dê Assam (dê địa phương) với dê lai

(Beetal × Assam) cho thấy dê lai F1 (Beetal × Assam) có sản lượng sữa 474,33 -

1170 ml/con/ngày, trong khi đó dê Assam chỉ đạt 215,33 - 748 ml/con/ngày Tỷ lệ protein sữa là 3,87-3,99% Sự sai khác về sản lượng sữa giữa dê lai F1 so với dê điạ phương là rõ rệt với P < 0,05

Trang 35

Ứng dụng lai tạo không chỉ đối với dê lấy thịt và sữa mà còn được áp dụng để nâng cao năng suất lông của một số giống dê Koyuncu and Tuncel (2000) cho lai dê địa phương của Thổ Nhĩ Kỳ có sản lượng lông thấp với dê Angora Lượng lông của

dê lai cao hơn dê địa phương về cả số lượng và chiều dài với mức độ sai khác (P < 0,01 - 0,05)

2.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU DÊ BOER, BÁCH THẢO VÀ DÊ CỎ

Theo Acharya and Bhatta (1992a) toàn thế giới có khoảng 150 giống dê, hiện nay ở Việt Nam có 8 giống dê thuần với các mục đích sử dụng khác nhau Các giống dê nội địa gồm có dê Cỏ và dê Bách Thảo (BT) Các giống nhập nội gồm có

dê kiêm dụng thịt-sữa nhập từ Ấn Độ Jumnapari (Ju); Barbari (Ba) và Beetal (Be);

dê chuyên dụng thịt nhập từ Mỹ Boer (Bo) và dê chuyên dụng sữa Saanen (Sa), Alpine (Al) nhập từ Pháp Luận án đề cập đến các giống dê được sử dụng trong nghiên cứu là Boer, Bách Thảo và Cỏ

2.2.1 Tình hình nghiên cứu dê Boer

Dê Boer là giống dê cho thịt nổi tiếng, là kết quả lai giữa dê địa phương của

Nam Phi với dê Nubian và dê Ấn độ (Nimbkar et al., 2000) Dê Boer phát triển từ

đầu những năm 1900, khi những chủ trang trại ở Châu Phi bắt đầu nuôi dê với mục đích cho sản xuất thịt Hiện nay giống dê này được nhiều nước nhập nội để lai với

dê địa phương nhằm tạo ra những con lai có năng suất thịt cao Theo Johnson (2000), năm 1995, Úc đã nhập 3.000 con dê Boer và phân bố ở mọi khu vực chăn nuôi dê của nước Úc để lai với dê địa phương nhằm cải tiến năng suất thịt của dê địa phương (dê Feral, Cashmere) Kết quả con lai giữa dê Boer x Cashmere có khối lượng sơ sinh đạt 3,6 kg, khối lượng thịt xẻ đạt 48,5%, con lai giữa dê Boer × Feral

có khối lượng sơ sinh 3,4 kg, khối lượng thịt xẻ 47,8% Trong khi đó, dê Cashmire thuần sơ sinh chỉ đạt 3,2 kg; khối lượng thịt xẻ là 35,8% Giống dê Boer được nhập nội đã làm thay đổi nền công nghiệp thịt dê của nước Úc

Theo Doãn Thị Gắng và cs (2008), dê có nguồn gốc từ châu Phi được nuôi nhiều ở Mỹ và Châu Phi, được nhập từ Mỹ về Việt Nam 5 con đực và 35 con cái vào tháng 2 năm 2002 Kết quả theo dõi cho thấy tốc độ tăng trưởng và khối lượng của chúng cao hơn rất nhiều so với các giống dê hiện có ở nước ta

Hiện nay đang được nghiên cứu nhân thuần và cho lai cải tạo với đàn dê Cỏ, đàn cái nền F1 (BT x Cỏ) và (Ấn Độ x Cỏ) tạo con lai theo hướng chuyên thịt, bước đầu đã có những kết quả khả quan (Đinh Văn Bình và cs., 2003)

Trang 36

Dê Boer có lông, thân màu trắng, lông đầu và cổ màu nâu đỏ, sừng ngắn (hoặc không sừng) Dê có cơ bắp rất phát triển (Doãn Thị Gắng và cs., 2008)

Theo kết quả nghiên cứu của Đinh Văn Bình và cs (2003) tại Trung tâm Nghiên cứu Dê và Thỏ Sơn Tây, dê Boer có chu kỳ động dục 20,66 ngày; tuổi động dục lần đầu 414,5 ngày; tuổi phối giống lần đầu 450 ngày; thời gian mang thai 147,5 ngày, khoảng cách giữa 2 lứa đẻ 325 ngày Theo Campell (1984) cho biết, dê Boer có khoảng cách lứa đẻ là 295 ngày Đinh Văn Bình (2006) cũng cho biết, khoảng cách giữa 2 lứa đẻ của dê Boer nuôi tại các địa phương như sau: tại Ninh Thuận là 331,8 ngày; tại Sông Bé là 317,4 ngày và tại Hòa Bình, Ninh Bình là 337 ngày

Một số chỉ tiêu sinh sản của dê Boer cao hơn nhiều so với dê Cỏ, dê Boer là 1,8 con sơ sinh/lứa, ở dê Cỏ là 1,45 con Số con/cái/năm ở dê Boer đạt 2,34 con trong khi đó dê Cỏ chỉ đạt 1,97 con (Đinh Văn Bình, 1998)

Theo kết quả nghiên cứu dê Boer của Đinh Văn Bình và cs (2003) tại Trung tâm Nghiên cứu Dê và Thỏ Sơn Tây cho thấy khi so sánh giữa 2 tính biệt, khối lượng con đực bao giờ cũng cao hơn so với con cái Thời điểm sơ sinh con đực có khối lượng 3,1 kg, con cái 2,8 kg Tại thời điểm 12 tháng tuổi, con đực: đạt 46,6 kg, con cái 41,88 kg So sánh với nuôi ở Mỹ thì kết quả thu được cũng đạt gần tương tự Khối lượng của dê Boer cao gấp hơn 2 lần so với khối lượng dê Cỏ cùng thời điểm theo dõi Tại thời điểm cai sữa dê Boer đực đạt 16,26 kg, con cái 15,1 kg; còn dê Cỏ chỉ đạt 7,8 kg đối với con đực, 6,7 kg đối với con cái Đến giai đoạn trưởng thành (12 tháng) dê Boer đực đạt 46,6 kg, con cái 41,88 kg, trong khi đó dê Cỏ chỉ đạt 19,7 kg đối với con đực, 15,2 kg đối với con cái

Kết quả này là cơ sở cho việc lai tạo cải tiến giống dê Cỏ của Việt Nam để tạo

ra con lai cho năng suất cao và thích nghi với môi trường sống

2.2.2 Tình hình nghiên cứu dê Bách Thảo

Dê Bách Thảo là giống kiêm dụng thịt - sữa, trước đây còn được gọi là Bát Thảo, Bắc Thảo, Bắc Hảo Trong Hội nghị Nghiên cứu và Phát triển chăn nuôi dê, họp tại Thành phố Hồ Chí Minh tháng 11 năm 1992 giống dê này được thống nhất đặt tên là Bách Thảo Tên Bách Thảo xuất phát từ nghĩa đen đơn thuần cũng giống như dê Cỏ, giống dê này có thể ăn được hàng trăm loại cỏ, lá cây khác nhau Cho đến nay nguồn gốc giống dê này vẫn chưa xác định một cách chính xác, nhiều nhà khoa học cho rằng dê Bách Thảo có thể có nguồn gốc từ sự lai tạp tự nhiên giữa một giống

dê Châu Âu như Alpine, Saanen của Pháp và một số giống dê từ Ấn Độ như

Trang 37

Jumnapari, Beetal với dê Cỏ địa phương ở các tỉnh phía Nam nước ta, các giống dê ngoại này được du nhập vào Việt Nam theo con đường truyền đạo

Theo kết quả nghiên cứu giữa các nhà khoa học Nhật Bản và Việt Nam trong lĩnh vực nghiên cứu cấu tạo gen vật nuôi gần đây, dựa trên sự đánh giá, so sánh cấu trúc gen của dê Việt Nam cho thấy dê Bách Thảo có nguồn gốc từ một số giống dê của Ấn Độ Chúng đã được tạp giao với dê Cỏ địa phương hoặc một số có thể là những thế hệ con cháu của một số giống dê Ấn Độ và một số nước quanh khu vực

(Ken et al., 1998)

Dê Bách Thảo trước đây được nuôi nhiều ở Ninh Thuận và một số tỉnh phía Nam nước ta Đầu những năm 1990 dê Bách Thảo được đưa ra nuôi nghiên cứu tại Trung tâm Nghiên cứu Dê và Thỏ Sơn Tây và sau đó được phát triển rộng rãi ra các tỉnh Bắc Bộ và Bắc Trung bộ

Dê Bách Thảo được ghi nhận là giống dê có khả năng sinh sản tốt, thành thục

về tính và bước vào sinh sản khá sớm, tương ứng khoảng 6-7 tháng và 12-13 tháng tuổi, đây là giống dê mắn đẻ, trung bình 1,7-2,09 con sơ sinh/lứa, khoảng cách lứa đẻ ngắn 230-250 ngày Theo Đinh Văn Bình (1997) và Nguyễn Thị Mai (1999) có khoảng 3-5% số lứa đẻ sinh tư (4 con/lứa); Trên 30% số lứa đẻ sinh 3 và trên 40% số lứa đẻ sinh đôi Trung bình một dê cái cho 2,5-3,4 con sơ sinh/năm với tỷ lệ nuôi sống dê con đến cai sữa cao trên 90% Điều này cho thấy dê Bách Thảo có khả năng sinh sản tốt hơn nhiều giống dê khác trên thế giới (Alpine, Saneen, Toggenburg ) cũng như các giống dê kiêm dụng của Ấn Độ (Beetal, Jumnapari )

Theo Đinh Văn Bình (1998) tăng khối lượng của dê Bách Thảo giai đoạn từ 0-3 tháng tuổi (100-118 g/con/ngày) Dê Bách Thảo có khối lượng tương đương với dê Jamnapari, Beetal và cao hơn dê Barbari, đặc biệt cao hơn hẳn dê Cỏ Nếu tính dê Cỏ

là 100% thì dê Bách Thảo là 164% (vượt dê Cỏ 64%) Như vậy vấn đề lai dê Bách Thảo với dê Cỏ để cải tạo tầm vóc, khối lượng của đàn dê Cỏ ở địa phương là cần thiết

Kết quả mổ khảo sát của Nguyễn Đình Minh (1999) dê Bách Thảo vào 12 tháng tuổi và phân tích thành phần dinh dưỡng của thịt dê Bách Thảo cho thấy dê đực Bách Thảo đạt tỷ lệ thịt xẻ và thịt lọc cao hơn dê cái, tương ứng đạt 46,77 và 32,39% so với 38,90 và 37,32% Đồng thời tác giả cũng xác định được tỷ lệ protein của thịt dê Bách Thảo đạt 19,49% (bảng 2.1 và bảng 2.2)

Trang 38

Bảng 2.1 Kết quả mổ khảo sát dê Bách Thảo

Bảng 2.2 Thành phần hóa học của thịt dê Bách Thảo (%)

đó tỷ lệ thịt xẻ, thịt lọc và phẩm chất thịt của dê Bách Thảo tương đương so với dê

Cỏ Mùi vị của thịt sau khi chế biến cũng thơm ngon không thua kém gì dê Cỏ (Đinh Văn Bình, 1994)

2.2.3 Tình hình nghiên cứu dê Cỏ

Dê Cỏ là giống dê gốc từ lâu ở Việt Nam, chúng thích ứng tốt với điều kiện chăn thả quảng canh, tận dụng cỏ, lá tự nhiên, ít đầu tư về kỹ thuật Hơn một nửa đàn dê Cỏ tập trung ở miền Bắc, chủ yếu ở các vùng trung du miền núi phía Đông Bắc và Tây Bắc (Nguyễn Thiện và Đinh Văn Hiền, 1999)

Đặc điểm ngoại hình của dê Cỏ được Nguyễn Thiện và Đinh Văn Hiền (1999)

mô tả chi tiết Dê Cỏ có màu lông không thuần nhất, màu chính là đen, vàng, vàng

Trang 39

tro, cánh gián, một số con vùng mặt có 2 sọc nâu đen; dọc sống lưng từ đầu đến khấu đuôi có một dải lông đen, bốn chân có đốm đen Con đực thô và tầm vóc to, đầu nhỏ, trán rộng và thô, mũi thẳng, mặt sáng, tai nhỏ hướng về phía trước, vận động linh hoạt Dê đực và cái đều có râu và sừng, sừng dài vừa phải chếch về phía sau và chĩa ra hai bên Nhiều con đực có lông bờm rậm ở sau gáy và 4 chân Dê Cỏ

có tầm vóc nhỏ, con cái nặng 26-28 kg, cao vây là 51-53 cm; con đực nặng 40-45

kg, cao vây 57-59 cm Lê Văn Thông và cs (1999) cho rằng dê Cỏ nuôi ở vùng Thanh Ninh, khối lượng lúc 36 tháng tuổi con đực và cái nặng 34,9 và 30,5 kg Phan Đình Thắm và cs (1997) điều tra trên 6607 dê Cỏ được nuôi tại vùng trung du và miền núi phía Đông Bắc cho thấy có 4 nhóm màu đặc trưng Trong đó nhóm màu vàng có tỷ lệ cao nhất (52,02%); sau đó đến màu xám (24,27%) màu đen (13,20%); dê có màu khoang trắng đen và các màu khác chiếm tỷ lệ thấp (10,05%) Tại tỉnh Hà Giang, dê màu vàng chiếm 57,19%, màu xám chiếm 7,91% Tại tỉnh Tuyên Quang dê Cỏ màu lông vàng lại có tỷ lệ thấp (25,80%), dê màu lông xám có

tỷ lệ cao (59,94%) Tác giả cũng cho rằng màu lông của dê đực thay đổi theo tuổi, lúc còn nhỏ có màu xám thì khi trưởng thành chuyển dần sang màu đen

Dê Cỏ thành thục về tính sớm, khoảng 6 - 6,5 tháng tuổi (176,81-198,3 ngày), lúc đó khối lượng cơ thể đạt 11,01 -11,71 kg; đẻ lứa đầu sớm, khoảng 336,44-387 ngày tuổi Đây cũng là giống dê mắn đẻ với khoảng cách 2 lứa đẻ trung bình từ 194-225,61 ngày (1,6-1,8 lứa/cái/năm), trung bình mỗi lứa đẻ 1,45-1,61 con Các tác giả cho rằng dê Cỏ có khả năng sinh sản tốt, thành thục về tính sớm, mắn đẻ và khéo nuôi con

Theo Trần Trang Nhung (2000) ở giai đoạn từ sơ sinh đến 12 tháng tuổi dê đực đạt 1,47 kg/con/tháng và dê cái đạt 1,18 kg/con/tháng Đinh Văn Bình và Nguyễn Duy Lý (2003) cho biết tăng trọng của dê Cỏ từ giai đoạn sơ sinh đến 12 tháng tuổi là 49,3 g/con/ngày (dê đực) và 40,2 g/con/ngày (dê cái)

Lê Văn Thông (2004) cho biết tăng khối lượng tuyệt đối của dê đực Cỏ giai đoạn

từ sơ sinh đến 12 tháng tuổi đạt 60,31 g/con/ngày và dê cái đạt 50,36 g/con/ngày

2.3 TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI DÊ TRÊN THẾ GIỚI VÀ TRONG NƯỚC 2.3.1 Tình hình chăn nuôi dê trên thế giới

Trong một thời gian dài, vai trò của chăn nuôi dê trong nền kinh tế của các nước đang phát triển không được đánh giá đầy đủ Sự đóng góp tích cực của con dê đối với đời sống của người dân, đặc biệt là những gia đình khó khăn cũng thường bị

Trang 40

bỏ qua Có nhiều nguyên nhân cho vấn đề này Trước hết, dê thường khó đếm được chính xác và vì thế số lượng đầu dê thường không được thống kê đầy đủ Mặt khác,

dê sống cũng như các sản phẩm của chúng ít tham gia vào các thị trường chính thống và không phải chịu thuế nên sự đóng góp trong nền kinh tế quốc dân thường không được ghi chép đầy đủ Hơn nữa, những người nuôi dê thường là những người dân nghèo, bị lép vế cả về mặt kinh tế và xã hội Hậu quả là các nhà hoạch định chính sách phát triển cũng như các nhà khoa học đều coi nhẹ con dê (Nguyễn Thiện

và cs., 2008)

Gần đây, nhận thức về vai trò của con dê đã thay đổi và tiềm năng của nó bắt đầu được khai thác tích cực hơn Tuy còn có nhiều quan điểm khác nhau về chủ trương phát triển, nhưng chăn nuôi dê đang ngày càng được chú trọng hơn và có đóng góp lớn vào việc phát triển kinh tế của người dân nghèo Đặc biệt là các vùng

mà bò sữa, lợn lai nuôi không phù hợp thì con dê được coi là con vật có thể giúp cho người nông dân tăng thêm thu nhập, xoá đói, giảm nghèo và vươn lên làm giàu Theo số liệu của FAO (2015), số lượng dê của thế giới đạt 1.050,6 triệu con, tốc độ tăng về số lượng vật nuôi hàng năm của thế giới trong thời gian vừa qua thường chỉ đạt trên dưới 1% năm Tổng sản lượng thịt sản xuất trên thế giới năm

2014 đạt trên 211,7 triệu tấn, trong đó thịt dê 5,3 triệu tấn; tổng sản lượng sữa là 753,9 triệu tấn trong đó sữa dê 17,8 triệu tấn

Số lượng dê trên thế giới những năm gần đây theo FAO (2015) được đưa ra ở bảng 2.3

Bảng 2.3 Số lượng dê trên thế giới và các khu vực (2003 - 2013)

Ngày đăng: 13/06/2021, 09:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
85. FAO (2013). Livestock statistics. Retrieved on 02 March 2015 at http://www.apps.fao.org/cgi-bin/nph-db Link
86. FAO (2014). Livestock statistics. Retrieved on 02 March 2015 at http://faostat3.fao.org /download/Q/QA/E Link
87. FAO (2015). Livestock statistics. Retrieved on 02 March 2015 at http://faostat3.fao.org /download/Q/QA/E Link
114. Will R. G. (1998). Why Crossbreds May Be Superior to Purebreds Breeding A Better Goat. Retrieved on 15 August 2014 at http://www.agfvsu.edu/html/publications/GoatCenter/getz.html Link
1. Nguyễn Anh và Trịnh Thị Kim Thoa (1999). Thành phần và hàm lượng protein huyết thanh của một số dê lai F1 nuôi tại Việt Nam. Tạp chí Sinh học. 21 (2).tr. 42-47 Khác
2. Nguyễn Ân (1994). Di truyền chọn lọc động vật. NXB Nông nghiệp, Hà Nội. tr. 132 Khác
3. Đặng Xuân Biên (1979). Kết quả điều tra giống dê và cừu, Kết quả nghiên cứu khoa học kỹ thuật 1969 - 1979 của Viện Chăn nuôi. NXB Nông nghiệp, Hà Nội.tr. 148-152 Khác
4. Đặng Xuân Biên (1993). Con dê Việt Nam, Hội thảo Nghiên cứu và Phát triển chăn nuôi dê, bò sữa thịt. Viện Chăn nuôi. NXB Nông nghiệp, Hà Nội. tr. 52-87 Khác
5. Đặng Vũ Bình (2007). Giáo trình giống vật nuôi. NXB Nông nghiệp, Hà Nội. tr. 35-37 Khác
6. Đinh Văn Bình (1994). Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và khả năng sản xuất của giống dê Bách Thảo nuôi tại miền Bắc Việt Nam. Luận án Phó Tiến sĩ Nông nghiệp. Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam. tr. 30-85 Khác
7. Đinh Văn Bình (1997). Kết quả bước đầu nghiên cứu đánh giá khả năng sản xuất của con lai F 1 giữa 3 giống dê Ấn Độ với dê Cỏ Việt Nam. Tạp chí Người nuôi dê.2. tr. 93-112 Khác
8. Đinh Văn Bình (1998). Kết quả nghiên cứu thích nghi ba giống dê Ấn Độ: Barbari, Jumnapari, Beetal qua 4 năm nuôi tại Việt Nam (1994 - 1998). Trung tâm Nghiên cứu Dê và Thỏ Sơn Tây. Viện Chăn nuôi, tháng 11 năm 1999. tr. 8-40 Khác
9. Đinh Văn Bình, Doãn Thị Gắng và Nguyễn Duy Lý (2003). Kết quả nghiên cứu đánh giá khả năng sản suất của dê Boer nhập nội năm 2000 tại Trung tâm Nghiên cứu Dê và Thỏ Sơn Tây, Báo cáo khoa học, Viện Chăn nuôi. Hà Nội, tháng 12 năm 2004. tr. 154-166 Khác
10. Đinh Văn Bình và Lê Viết Ly (1994). Kết quả bước đầu giữ gìn gen dê Bách Thảo, Kết quả nghiên cứu bảo tồn quỹ gen vật nuôi 1990 – 1993. Bộ Khoa học Công nghệ và môi trường và Bộ Công nghiệp thực phẩm. Hà Nội, tháng 10 năm 1994 Khác
12. Đinh Văn Bình, Nguyễn Xuân Trạch và Nguyễn Thị Tú (2007). Giáo trình Chăn nuôi dê và thỏ. NXB Nông nghiệp, Hà Nội Khác
13. Đinh Văn Bình và Nguyễn Duy Lý (2003). Kết quả nghiên cứu và phát triển chăn nuôi dê của Trung tâm Nghiên cứu Dê và Thỏ Sơn Tây, Viện Chăn nuôi (1991- 2002). Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn. (3). tr. 1085-1092 Khác
14. Đinh Văn Bình (2006). Kết quả đánh giá khả năng sản xuất của con lai F1 giữa dê đực Boer với dê cái Beetal, Jumnapari, dê Bách thảo và cái lai Bách Thảo - Cỏ trong điều kiện chăn nuôi ở nước ta. Báo cáo Khoa học, Viện Chăn Nuôi. Hà Nội, tháng 12 năm 2006. tr. 213-128 Khác
15. Bộ Khoa học và Công nghệ (1977a). Tiêu chuẩn Việt Nam: phương pháp xác định sinh trưởng tuyệt đối của gia súc, TCVN 239-77 Khác
16. Bộ Khoa học và Công nghệ (1977b). Tiêu chuẩn Việt Nam: phương pháp xác định sinh trưởng tương đối của gia súc, TCVN 140-77 Khác
17. Bộ Khoa học và Công nghệ (1981). Tiêu chuẩn Việt Nam: phương pháp giám định, TCVN 1280-81 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w