Nội dung của tiểu luận tìm hiểu khái quát chung về đế quốc La Mã; quá trình suy yếu và sụp đổ của đố quốc Tây La Mã cổ đại; nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ của đế quốc Tây La Mã cổ đại.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
KHOA LỊCH SỬ - -
Đề tài:
TÌM HIỂU VỀ QUÁ TRÌNH VÀ NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN SỰ SỤP ĐỔ CỦA ĐẾ QUỐC TÂY LA MÃ CỔ ĐẠI
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 5
A Khái quát chung về đế quốc La Mã (27 TCN-1453) 6
I Địa lí và dân cư 6
I.1 Địa lí 6
I.2 Dân cư 7
II Tình hình chính trị 7
II.1 Những năm cuối của nền Cộng hòa 7
II.2 Thời kì Quân chủ 7
1 Thời kì Nguyên thủ 7
2 Thời kì Vương chủ 9
III Tình hình kinh tế 9
IV Tình hình xã hội 11
B Quá trình suy yếu và sụp đổ của đế quốc Tây La Mã cổ đại (thế kỉ III-thế kỉ V)12 I Những khủng hoảng trong thế kỉ thứ III sau công nguyên và sự hưng thịnh của đạo Cơ Đốc 12 I.1 Những khủng hoảng trong thế kỉ thứ III sau công nguyên 12
1 Sự khủng hoảng của chế độ nô lệ 13
2 Sự khủng hoảng về kinh tế và sự ra đời, phát triển của chế độ lệ nông 14
3 Sự khủng hoảng về chính trị 19
4 Những cuộc khởi nghĩa của nhân dân và những cuộc xâm nhập của người “man tộc” 20
a) Những cuộc khởi nghĩa của nhân dân 20
b)Những cuộc xâm nhập của người “man tộc” 22
I.2 Sự xuất hiện và diễn biến của đạo Cơ Đốc 23
1 Bối cảnh xã hội đã sản sinh ra đạo Cơ Đốc và nguồn gốc tư tưởng của đạo này 24
Trang 32 Giáo lý và sự tổ chức trong thời kì đầu của đạo Cơ Đốc 25
3 Sự truyền bá và diễn biến của đạo Cơ Đốc 27
II Thời kì sau của đế quốc La Mã 28
II.1 Sự thống trị của Diocletianus, Constantine và sự thiết lập chế độ Vương chủ 28
II.2 Đạo Cơ Đốc được hợp thức hóa và sự tranh đấu của các giáo phái 31
II.3 Tình huống xã hội và sự chia cắt của đế quốc 34
III Sự sụp đổ của đế quốc Tây La Mã 35
III.1 Cuộc đại di chuyển của dân tộc và sự thành lập các vương quốc của người Germans 35
Vương quốc VisiGoth (Tây Goth): 36
Vương quốc Suevos: 36
Vương quốc Vandal: 37
Vương quốc Burgondes: 37
Các vương quốc của người Anglo Saxons: 37
Vương quốc OstroGoth (Đông Goth): 38
Vương quốc Francs: 38
Vương quốc Lombard: 38
III.2 Cuộc nổi loạn của Maximus và sự sụp đổ của đế quốc Tây La Mã 40
C Nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ của đế quốc Tây La Mã cổ đại 42
I Đường lối binh sĩ ngăn cản sự phát triển của nông nghiệp 43
II Sự phát triển của “chế độ bảo hộ” 44
III Những cuộc xâm nhập của người “man tộc” 44
IV Sự ảnh hưởng của đạo Cơ Đốc 46
V Sự nổi lên của đế quốc Đông La Mã 47
VI Tình trạng tham nhũng và những bất ổn về chính trị 47
VII.Tình trạng lạm phát 47
Trang 4KẾT LUẬN 49 PHỤ LỤC 50 TÀI LIỆU THAM KHẢO 55
Trang 5MỞ ĐẦU
Đế quốc La Mã, hay còn gọi là đế quốc Roma (tiếng Latinh: IMPERIVM ROMANVM) là thời kỳ hậu Cộng hòa của nền văn minh La Mã cổ đại, là sự tiếp nối của
Cộng hòa La Mã Lịch sử của đế quốc La Mã trải dài qua 16 thế kỷ, bắt đầu từ năm
27TCN với sự lên ngôi của Hoàng đế Augustus và có nhiều mốc kết thúc khác nhau, bao
gồm sự phân chia cuối cùng thành Tây La Mã và Đông La Mã vào năm 395, sự diệt vong
của đế quốc Tây La Mã vào năm 476 và cuối cùng là sự diệt vong của đế quốc Đông La
Mã vào năm 1453
Lịch sử của đế quốc La Mã bao gồm nhiều giai đoạn phát triển của nhà nước La
Mã Nó bao gồm đế quốc La Mã cổ đại, thời kỳ bị chia làm đế quốc Tây La Mã và đế
quốc Đông La Mã, cuối cùng là lịch sử của đế quốc Đông La Mã (còn gọi là đế quốc
Byzantine) trong thời Trung cổ
Là quốc gia rộng lớn và hùng mạnh nhất thời kỳ cổ đại, đế quốc La Mã trải dài 6
triệu km2 với dân số khoảng 60 triệu người Các kỹ sư La Mã đã phát hiện và trùng tu
hơn 1.000 thành phố và thị trấn, biến một châu Âu thuần nông thành một đại công trường
đô thị hóa Trong thế kỷ thứ III, quân đội La Mã sở hữu 450.000 bộ binh và 45.000 lính hải quân Nhưng rốt cuộc nhà nước ấy cũng không tránh khỏi quy luật hưng vong của
lịch sử, đạt cực thịnh dưới triều đại Trajan (98-117 sau Công nguyên) để rồi bị diệt vong
dưới tay các man tộc
Trang 6A Khái quát chung về đế quốc La Mã (27 TCN-1453)
I Địa lí và dân cư
Ở đây có nhiều đồng bằng màu mỡ và nhiều đồng cỏ thuận tiện cho việc chăn nuôi gia súc Ngoài ra còn có nhiều kim loại như đồng, chì, sắt… để chế tạo công cụ sản xuất
và vũ khí
Bờ biển phía Đông không thuận tiện cho tàu thuyền đi lại nhưng bờ biển phía Nam
có nhiều vịnh và cảng do đó vùng Nam Italia đã có quan hệ sớm với Hy Lạp
Bán đảo Italia về mặt địa hình không bị chia cắt thành những vùng biệt lập nên thuận lợi cho việc thống nhất về chính trị Do đó, sau khi làm chủ bán đảo Italia, La Mã
đã lần lượt chinh phục toàn bộ vùng đất đai bao quanh Địa Trung Hải lập thành một đế quốc rộng lớn gồm đất đai của ba châu Âu, Á, Phi
Đế quốc La Mã là một trong những đế quốc lớn nhất trong lịch sử Trong thực tế, công cuộc bành trướng của người La Mã đã được thực hiện chủ yếu dưới thời Cộng hoà, mặc dù các vùng ở khu vực Bắc Âu đã được chinh phục vào thế kỷ I, khi mà người La
Mã đã củng cố quyền lực của họ ở châu Âu, châu Phi và châu Á Trong suốt triều đại của Augustus, một "bản đồ toàn cầu nổi tiếng thế giới" đã được trưng bày lần đầu tiên trước công chúng tại Roma
Đế quốc đạt tới ngưỡng mở rộng lớn nhất của nó dưới thời Trajanus (trị vì từ năm 98-117), trên một diện tích lên tới 5.000.000 km2 vào năm 2009 và được chia thành bốn mươi quốc gia khác nhau hiện nay Bất cứ thành phố nào trong ba thành phố lớn nhất của
Đế quốc-Roma, Alexandria và Antioch gần như đều có kích thước gấp đôi bất kỳ thành phố châu Âu vào đầu thế kỷ XVII
Vị hoàng đế kế vị Trajanus, Hadrianus đã thông qua một chính sách duy trì thay vì
mở rộng đế quốc Biên giới đã được đánh dấu, còn các phòng tuyến biên giới luôn được tuần tra Trường thành Hadrian vốn ngăn cách thế giới La Mã khỏi những gì đã được coi
là một mối đe dọa man rợ luôn hiện diện
Trang 7I.2 Dân cư
Cư dân chủ yếu và cũng là thành phần cư dân có mặt sớm ở bán đảo Italia gọi là người Italia (Italotes), trong đó bộ phận sống ở vùng Latium gọi là người Latinh Về sau một nhánh của người Latinh đã dựng lên thành La Mã ở trên bờ sông Tibrơ, từ đó họ được gọi là người La Mã
Ngoài ra còn có người Gôloa, người Eâtơruxcơ, người Hy Lạp Người Gôloa cư trú ở miền cực Bắc của bán đảo, người Eâtơruxcơ ở miền Bắc và miền Trung, người Hy Lạp ở các thành phố ven biển phía Nam bán đảo Italia và đảo Xixin
II Tình hình chính trị
II.1 Những năm cuối của nền Cộng hòa
Vào cuối thời Cộng hòa La Mã, Julius Caesar nổi lên, giành nhiều thắng lợi trong các trận chiến bên ngoài và tiêu diệt các đối thủ chính trị của mình Ông tiến lên nắm quyền lực to lớn cả về chính trị lẫn quân sự Sự tập trung quyền lực vào tay Caesar đã làm lung lay thể chế Cộng hòa
Sau khi Caesar bị ám sát vào năm 44 TCN, đã có một cuộc nội chiến xảy ra trong những năm tiếp theo Cuối cùng, Octavian (người được Caesar chỉ định thừa kế mình) đã giành chiến thắng trước mọi đối thủ Trong đó đáng chú ý nhất là năm 31 TCN ông đã đánh bại hoàn toàn Mark Antony và Cleopatra trong trận Actium Octavian cũng cho xử
tử con trai của Cleopatra là Caesarion (người có thể là đứa con trai duy nhất của Caesar)
Không còn đối thủ chính trị nào ngáng đường, Octavian trở về Rome để nắm quyền Năm 27 TCN, ông được Viện nguyên lão tôn lên thành Augustus (mang nghĩa
“người ở địa vị tối cao hoặc thiêng liêng”) Ông trở thành vị Hoàng đế La Mã đầu tiên và thời đại Cộng hòa La Mã cũng chấm dứt từ đây
II.2 Thời kì Quân chủ
1 Thời kì Nguyên thủ
Triều đại của Augustus kéo dài hơn 40 năm (27 TCN-14), ông thường được xem
là vị Hoàng đế vĩ đại nhất của đế quốc La Mã và đã tạo nên một nền tảng tư tưởng lâu dài cho ba thế kỷ tiếp theo của đế quốc và được gọi là thời kì "Nguyên Thủ" (27 TCN-284),
200 năm đầu tiên trong số đó theo truyền thống được coi là thời kì Thái bình La Mã (“Pax Romana”) Trong thời gian này, sự gắn kết bên trong đế quốc được đẩy mạnh nhờ
Trang 8việc góp phần vào đời sống người dân, các quan hệ kinh tế, và sự chia sẻ chuẩn mực văn hóa, luật pháp và tôn giáo Các cuộc khởi nghĩa ở các tỉnh thì không thường xuyên nổ ra, nhưng chúng lại bị dập tắt một cách "không thương tiếc và nhanh chóng" khi xảy ra, giống như ở Britain và Gaul Các cuộc chiến tranh Do Thái-La Mã nổ ra liên tục trong suốt 60 năm là một ngoại lệ về cả mặt thời gian và sự ác liệt của chúng
Triều đại Julio-Claudius sau đó còn có thêm bốn vị Hoàng đế-Tiberius, Caligula, Claudius, và Nero trước khi nó kết thúc vào năm 69 Tiếp theo đó là những cuộc nội chiến trong suốt "Năm tứ đế", và từ đó Vespasianus nổi lên với tư cách là người chiến thắng
Vespasianus đã trở thành người sáng lập của triều đại Flavius chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn, trước khi nó được kế tục bởi triều đại Nerva-Antoninus mà tạo nên cái gọi
là "Ngũ Hiền Đế": Nerva, Traianus, Hadrianus, Antoninus Pius và vị Hoàng đế triết gia Marcus Aurelius
Năm 212, dưới thời trị vì của Caracalla, triều đại Severus là một triều đại hỗn loạn
và các vị Hoàng đế của triều đại này thường xuyên bị sát hại hoặc bị hành quyết
Như vậy, ta có thể thấy từ sau Hoàng đế Nero, ở La Mã đã thay đổi đến mấy vương triều, tình hình nói chung thường không ổn định, việc phế lập các Hoàng đế là nằm trong tay quân đội
"Cuộc khủng hoảng của thế kỷ III" là cái tên để chỉ sự vỡ vụn và gần như sụp đổ của đế quốc La Mã từ năm 235 đến năm 284 Nó cũng được gọi là "sự vô Chính phủ do quân đội"
Sau khi Augustus kết thúc nội chiến (thế kỷ thứ I TCN), đế quốc La Mã đã trải qua một thời đại hòa bình, ít bị ngoại xâm và kinh tế phồn thịnh (“Pax Romana”) Tuy nhiên, tới thế kỷ III thì đế quốc phải trải qua những cuộc khủng hoảng chính trị, quân sự, kinh tế
và bắt đầu suy sụp Lúc nào cũng có những cuộc xâm lăng của man tộc, nội chiến và lạm phát
Cuộc khủng hoảng kết thúc bởi Hoàng đế Diocletian Bằng cả tài năng lẫn vận may, ông đã giải quyết được nhiều vấn đề cấp bách Thế nhưng, vấn đề cốt lõi của La Mã vẫn còn đó và cuối cùng đã gây nên sự tận diệt của đế chế ở phía Tây
Trang 92 Thời kì Vương chủ
Năm 284, Dioccletian lên ngôi Hoàng đế (284–305) Ông đã bỏ danh hiệu Nguyên thủ, tự xưng là Vương chủ Từ đó Hoàng đế La Mã trở thành người có quyền uy tuyệt đối như các Vua phương Đông
Hoàng đế Diocletianus sau đó đã ổn định tình hình đế quốc và thiết lập hệ thống phân chia quyền lực giữa bốn vị đồng Hoàng đế (gọi là Tứ đầu chế) Sau thời ông tình hình đế quốc lại trở nên bất ổn, nhưng trật tự sau đó lại được Constantinus I-vị Hoàng đế đầu tiên theo Ki-tô giáo và là người thành lập tân đô của đế quốc ở phía Đông là Constantinopolis lập lại Trong các thập kỷ sau đế quốc thường được phân chia theo một trục Đông-Tây (Constantinopolis/Roma)
Theodosius I là hoàng đế cuối cùng trị vì cả Đông lẫn Tây, năm 395, Hoàng đế Theodosius đã chia đế quốc La Mã thành hai phần giao cho hai người con cai quản Từ đây hình thành hai đế quốc La Mã hoạt động độc lập về mặt chính trị với các vị hoàng đế khác nhau là đế quốc Tây La Mã và đế quốc Đông La Mã
Năm 476, một viên tướng người German là Odoacer nổi dậy làm chính biến lật đổ hoàng đế cuối cùng của Tây La Mã là Romulus Augustus Đế quốc Tây La Mã diệt vong
ở đây Sau khi Tây La Mã diệt vong vào thế kỷ thứ V, đế quốc Đông La Mã (thường gọi
là Đế chế Byzantine), vốn giàu có hơn, đã tồn tại và phục hồi được sức mạnh của mình Tuy nhiên, sau nhiều cuộc chiến tranh, lãnh thổ của đế quốc bị thu hẹp dần và cuối cùng
đã sụp đổ vào năm 1453 khi Mehmed II của đế quốc Ottoman chinh phục thành Constantinople
III Tình hình kinh tế
Đế quốc La Mã có lẽ được đánh giá tốt nhất ở việc có một mạng lưới các nền kinh
tế khu vực, dựa trên một hình thức của "chủ nghĩa tư bản chính trị" trong đó nhà nước giám sát và quy định các hoạt động thương mại để đảm bảo nguồn thu của nó Tăng trưởng kinh tế của đế quốc mặc dù không thể so sánh với các nền kinh tế hiện đại, nhưng
nó đã lớn hơn so với hầu hết các xã hội khác trước khi tiến hành công nghiệp hóa
Nền nông nghiệp và thương mại đã chi phối kinh tế của đế quốc La Mã từ rất sớm, ngoài ra còn có sản xuất công nghiệp quy mô nhỏ và vừa của tư nhân, quy mô lớn của nhà nước
Trang 10Về nông nghiệp, trong các Latiphundia, việc chuyên môn hóa cây trồng ddwuwocj xúc tiến mạnh mẽ Nho và ôliu vẫn tiếp tục giữ vai trò hàng đầu trong các loại cây trồng
ở đế quốc La Mã Dầu ô liu và rượu vang là những sản phẩm quan trọng nhất trong thế giới văn minh cổ đại và là mặt hàng xuất khẩu của Italy
Từ những năm cuối thế kỉ II-đầu thế kỉ III, một hiện tượng mới trong sản xuất nông nghiệp đã xuất hiện, dù chưa phải là phổ biến: đó là một số ít Latiphundia, trước đây vẫn trồng nho, ôliu đã bắt đầu chuyển sang trồng cây lương thực, thậm chí một số chủ nô cũng đã chia nhỏ điền trang rộng lớn của mình thành những mảnh đất nhỏ, cùng với công cụ sản xuất, giao cho nô lệ tự sản xuất Những mầm mống đầu tiên của một phương thức canh tác mới trong nông nghiệp đã xuất hiện, tạo những tiền đề cho chế độ
lệ nông ở giai đoạn sau hình thành, phát triển
Thời kì này, thủ công nghiệp và thương nghiệp ở đế quốc La Mã đã có những phát triển, trước hết phải kể đến những tiến bộ về mặt kĩ thuật trong sản xuất thủ công nghiệp
Đó là những tiến bộ trong kĩ thuật chế tác kim khí, sự phát minh ra cối xay nước, những cải tiến trong kĩ thuật chế tạo công cụ sản xuất Sự phân công chuyên môn hóa trong sản xuất thủ công trở nên khá phổ biến trên toàn đế quốc, nhất là ở Bắc Italia và Campanie;
đồ gốm vẽ hoa ở Acrotium; đèn thắp ở Mituna… Những sản phẩm thủ công, nhất là hàng thủ công xa xỉ phục vụ lối sống vương giả, được hết sức chú trọng, một số nghề thủ công phức tạp, đòi hỏi trình độ tinh xảo, khéo léo được hình thành (ví dụ nghề sản xuất mắt giả cho tượng, sản xuất dụng cụ mổ xẻ…)
Ngoài những hướng sản xuất thủ công quy mô nhỏ và vừa của tư nhân, còn có những xưởng thủ công quy mô lớn của nhà nước chuyên khai thác kim loại, đá quý, sản xuất đồ gốm cao cấp… Ví dụ Hy Lạp và phía bắc Italy cung cấp đá cẩm thạch; số lượng lớn vàng bạc được khai thác ở Tây Ban Nha để tạo ra tiền xu, đồ trang sức; trong khi các
mỏ ở Anh sản xuất sắt, chì và thiếc cho vũ khí
Theo đà phát triển của thủ công nghiệp, thương nghiệp và mậu dịch hàng hải cũng rất phát đạt Đế quốc La Mã có quan hệ buôn bán rộng rãi với Ả Rập, Ấn Độ, Trung Hoa Thuyền buồm Roma ngược dòng Danube, sông Rhin, Vistule đến tận cùng vùng Baltique
và bán đảo Scandinave Trên mặt biển Địa Trung Hải, thuyền bè Roma đi lại nhộn nhịp Những sản phẩm thủ công truyền thống của Roma hầu như có mặt ở khắp Italia, khắp các tỉnh của đế quốc và sang tận các nước phương Đông, Bắc Âu, biển Bantique… Ngược lại, những sản phẩm của phương Đông (hương liệu, gia vị, tơ lụa, đá quý) cũng thường
Trang 11xuyên được các lái buôn Roma chuyển về khu vực Địa Trung Hải Bên cạnh các thành phố, nhiều thành thị với tư cách là những trung tâm thương mại được xây dựng, như Longdinium (London ngày nay), Lucdunum (Lyon), Vindobora (Vienne)…
và kĩ thuật Hơn nữa do bị đối xử tàn tệ nên nô lệ thường chây lười trong công việc, cố tình phá hoại công cụ, lãng phí khi thu hoạch Ngoài ra còn có một số nô lệ còn chống lại chủ, thậm chí giết chủ
Như vậy, việc bóc lột nô lệ theo phương thức cũ đã tỏ ra kém hiệu quả về kinh tế
và không an toàn đối với chủ, vì vậy giai cấp chủ nô phải thay đổi thái độ đối xử đối vơi
nô lệ, đồng thời phải thay đổi phương thức bóc lột nô lệ
Bắt đầu từ thế kỉ thứ I, cùng với sự khủng khoảng của quan lại nô lệ, một tầng lớp
xã hội mới đã ra đời, đó là tầng lớp lệ nông
Đầu tiên một số địa chủ chủ nô đem ruộng đất của mình chia thành những phần nhỏ rồi phát canh cho các đối tượng như nông dân phá sản, dân thành thị chuyển về nông thôn, cư dân các man tộc mới vào La Mã, nô lệ được giải phóng Họ đều được gọi chung
là lệ nông
Lúc đầu lệ nông là người tự do, có một số vẫn có quyền công dân, thân phận của
họ không phải suốt đời và tất nhiên không phải cha truyền con nối Họ chỉ có một nghĩa
vụ là phải nộp địa tô cho chủ ruộng đất bằng tiền hoặc bằng sản phẩm Mức thu địa tô lúc đầu bằng 1/3 thu hoạch
Do quan hệ lệ nông tỏ ra phù hợp với việc phát triển sản xuất ở trong các điền trang nên dần dần các chủ nô thường đem ruộng đất chia cho nô lệ của mình cày cấy và bắt họ phải nộp cho mình một phần thu hoạch, do đó những người nô lệ này cũng biến thành lệ nông
Trang 12Về sau, cùng với sự phát triển của chế độ lệ nông, địa vị của lệ nông ngày càng thấp kém, thân phận của lệ nông phải cha truyền con nối và bị gắn chặt vào ruộng đất Mức địa tô phải nộp cao hơn trước kia nhiều Họ không còn là những người có quyền tự
do hoàn toàn nữa, do đó không được kết hôn với những phụ nữ có địa vị tự do Do đó, lệ nông chính là tiền thân của nông nô thời trung đại
B Quá trình suy yếu và sụp đổ của đế quốc Tây La Mã cổ đại (thế kỉ
III-thế kỉ V)
I Những khủng hoảng trong thế kỉ thứ III sau công nguyên và sự hưng thịnh của đạo Cơ Đốc
I.1 Những khủng hoảng trong thế kỉ thứ III sau công nguyên
Từ thế kỉ thứ II đến thế kỉ thứ III sau công nguyên, về các mặt kinh tế, chính trị
trong xã hội La Mã đã bùng nổ những nguy cơ một cách toàn diện, lịch sử gọi đó là Cuộc
khủng hoảng trong thế kỉ thứ III
Khủng hoảng của chế độ nô lệ La Mã ngay từ thế kỉ II đã bắt đầu bộc lộ tại Italia Đến thế kỉ III, những mâu thuẫn cơ bản trong xã hội nô lệ ngày càng gay gắt, cuối cùng dẫn tới tình trạng nông nghiệp bị trì trệ, thương nghiệp suy sụp, thành phố tiêu điều, tài chính cạn kiệt, chính trị rối loạn, những cuộc khởi nghĩa của nô lệ diễn ra liên tục khiến
xã hội La Mã lầm vào hoàn cảnh chao đảo dữ dội Mối quan hệ sản xuất trong chế độ nô
lệ đã trở thành gông cùm đối với sự phát triển sản xuất Trong những thời kì trước, sức sản xuất của La Mã vốn đang phát triển, nhưng vì sự lao động của nô lệ là lao động cưỡng bách nên càng ngày họ không những thiếu phần tích cực trong lao động, mà còn chống đối qua nhiều hình thức như phá hoại công cụ sản xuất, bỏ trốn, thậm chí khởi nghĩa vũ trang Trước tình trạng đó, hiệu quả trong lao động sản xuất ngày càng xuống dốc, khiến việc sử dụng nô lệ càng ngày càng khó có lãi
Mặt khác, cơ cấu thống trị của giai cấp chủ nô đã hủ hóa đến mức trầm trọng, sự
ăn bám của họ ngày càng nặng nề Trong khi đó, tốc độ phân hóa giàu nghèo ngày càng nhanh, nhân số người vô sản lưu manh ngày càng nhiều Trong thế kỉ I, thành phần vô sản lưu manh ở La Mã có từ 20-30 vạn, đến thế kỉ III-IV đã tăng lên đến 80 vạn Bộ máy quốc gia La Mã duy trì những cơ cấu to lớn, cần đến nhiều kinh phí Những kinh phí đó dùng để trấn áp bên trong, dụng binh với bên ngoài, cung cấp cho những cuộc tranh giành
Trang 13quyền lực giữa các tập đoàn thống trị và còn được dùng vào việc tổ chức vui chơi giải trí trong mùa lễ hội Trong thời đại đế quốc, do muốn khoe khoang sự giàu có của mình, thỏa mãn nhu cầu hưởng thủ của giai cấp chủ nô, lễ hội hàng năm mỗi lúc được đặt ra nhiều thêm Trong thế kỉ I, trong cả năm La Mã có 66 ngày lễ hội, đến thế kỉ II tăng lên
123 ngày, đến thế kỉ IV tăng lên 175 ngày
Khi họ thiếu hụt về tài chính lại cho đánh thuế bổ sung vào Người lao động không chịu nổi mức thuế nặng nề do giới thống trị đặt ra, tất nhiên đối với kinh tế xã hội họ có những hành vi phá hoại Qua đó, trong mối quan hệ sản xuất của chế độ nô lệ, cũng như trong thượng tầng kiến trúc của chế độ này, những mối mâu thuẫn ngày càng gay gắt hơn
và cuối cùng đi đến khủng hoảng toàn diện
1 Sự khủng hoảng của chế độ nô lệ
Nông trang theo chế độ nô lệ ở Italia đã khá phổ biến vào cuối thời kì Cộng hòa, đến đầu thời kì đế quốc vẫn tiếp tục được lưu hành vì các quý tộc nguyên lão vẫn tiếp tục đầu tư lớn vào nông nghiệp Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, từ cuối thế kỉ
II, chế độ nô lệ ở La Mã đã có những dấu hiệu khủng khoảng Sang thế kỉ thứ III, sự khủng hoảng ấy càng tỏ ra nghiêm trọng, sâu sắc hơn
Số lượng nô lệ ngày càng giảm sút, một mặt nguồn cung cấp nô lệ chủ yếu là nô lệ
tù binh ngày càng giả đi vì những cuộc chiến tranh xâm lược mở rộng cương vực không diễn ra ồ ạt như giai đoạn trước, biên giới của đế quốc đã vươn khá xa và dường như đã vượt quá khả năng cai quản của đế quốc La Mã, mặt khác sự bóc lột vô cùng tàn khốc của phương thức sản xuất chiếm nô đã làm mất khả năng lao động với một số khá đông
nô lệ, tình trạng thiếu lực lượng sản xuất đã xảy ra đối với nền kinh tế toàn diện của đế quốc La Mã
Chất lượng và khả năng lao động của nô lệ cũng giảm sút nghiêm trọng Phương thức sản xuất chiếm nô không thể làm cho kĩ thuật canh tác tiến bộ lên, công cụ sản xuất vẫn thô kệch nặng nề (để nô lệ đỡ phá hỏng) Những phát minh cải tiến trong kĩ thuật sản xuất hầu như không được áp dụng Bị bóc lột tàn tệ và bị cưỡng bức lao động, nô lệ đã tìm mọi cách phá hoại nền kinh tế chủ nô (làm hỏng công cụ sản xuất, làm ẩu, trốn tránh lao động, lãng phí khi gieo trồng cũng như khi thu hoạch…) Do vậy năng suất lao động
và hiệu quả lao động ngày càng giảm sút theo thời gian
Trang 14Mặc dù không có những cuộc khởi nghĩa vũ trang quy mô lớn của nô lệ như khởi nghĩa Spartacus, nhưng sự phản kháng của nô lệ vẫn thường xuyên xảy ra lúc ngấm ngầm, lúc công khai đã làm cho tầng lớp chủ nô gặp nhiều khó khăn và góp phần làm suy giảm khả năng của chế độ nô lệ trong giai đoạn này
Vào thế kỉ thứ I sau Công nguyên, một nhà nông học người La Mã là Columella
đã qui tội cho sự suy sụp nông nghiệp là do sự lao động của nô lệ Ông nói: “Đem ruộng đất giao cho nô lệ canh tác là điều không thích nghi nhất Việc làm đó cũng giống như giao ruộng đất cho đao phủ để hành hình” (theo sách Luận nông nghiệp của Columella)
Sự khủng hoảng ngày một trầm trọng của chế độ nô lệ đã đặt giai cấp chủ nô Roma đến trước một thực tế: Muốn tiếp tục tồn tại và phát triển, phải có sự nhìn nhận mới về chế độ
nô lệ, trước mắt phải thay đổi cách đối xử và hình thức bóc lột Đây là một công việc rất mới và rất khó đối với qusy tộc chủ nô (vốn rất bảo thủ), do đó, việc giải quyết tình trạng khủng hoảng của chế độ nô lệ ở Roma đã diễn ra nhưng hết sức chậm chạp, không đồng đều, thậm chí còn tạo nên những bất đồng trong nội bộ giới quý tộc chủ nô
Các Hoàng đế La Mã đã cố gắng duy trì và phục hưng chế độ nô lệ Hoàng đế Claudius đã ban hành luật pháp cấm bắt nô lệ ốm đau lao động nặng, cấm giết chết những
nô lệ đau yếu Nero đã cấm đưa nô lệ ra đấu với dã thú Antonius ra sắc lệnh nếu không
có lí do chính đáng, chủ nô không được giết chết nô lệ của mình… Những cố gắng của giai cấp chủ nô trong chừng mực nào đó đã góp phần vào việc cứu vãn sự sụp đổ của chế
độ nô lệ Bô phận quý tộc chủ nô ruộng đất đã tìm thấy lối thoát có hiệu quả hơn Họ chia
xẻ các Latiphundia rộng lớn kia thành những mảnh ruộng nhỏ rồi giao cho nô lệ cày cấy, thu hoạch, nộp cho chủ nô và được giữ sản phẩm của mình Lối kinh doanh này ngày càng tỏ ra có hiệu quả đã lôi kéo nhiều quý tộc khác thực hành phương pháp bóc lột kiểu mới này Thân phận và đời sống nô lệ có phần được cải thiện Về hình thức, chế độ nô lệ được phục hưng nhưng trong thực tế, phương thức bóc lột mới này càng phổ biến thì chế
độ nô lệ càng tiến gần đến ngưỡng cửa diệt vong, nhường chỗ cho chế độ mới, chế độ lệ nông
2 Sự khủng hoảng về kinh tế và sự ra đời, phát triển của chế độ lệ nông
Từ giữa thế kỷ I trở đi, chế độ điền trang bắt đầu có những dấu hiệu khủng hoảng Việc sử dụng sức lao động tập thể nô lệ đã trở nên không thích hợp, năng suất lao động ở các Latiphundia suy giảm Hiện tượng quý tộc chủ nô xé nhỏ các Latiphundia thành
Trang 15nhiều mảnh, giao trực tiếp cho nô lệ hoặc những người không ruộng đất canh tác ngày càng trở nên phổ biến Các Latiphundia rộng lớn xưa dần tan vỡ, nhường chỗ cho các điền ấp-Saltus Nếu trước đây các Latiphundia chuyên canh trồng cây công nghiệp phục
vụ cho kinh tế thủ công nghiệp và thương mại, thì bây giờ trong các Saltus người ta đã chuyển dần sang trồng cây lương thực Việc tan rã của các Latiphundia không những thể hiện sự khủng hoảng suy vong của chế độ chiếm nô Roma, mà còn kéo theo hàng loạt những thay đổi trong phương thức canh tác, phương thức bóc lột và tính chất của nền kinh tế
Khủng hoảng về mặt kinh tế của chế độ nô lệ La Mã, trước tiên thể hiện ở chỗ tình hình nông nghiệp bị suy thoái Nông nghiệp ở Italia ngay từ đầu thế kỉ thứ II đã dần xuống dốc Các nhà vua trong vương triều Antonius vì muốn ngăn chặn sự sụp đổ ở Italia nên đã áp dụng nhiều biện pháp Như đời vua Nerva đã lập quỹ cho vay lãi nhẹ, mua ruộng đất để cấp phát cho những cư dân không ruộng đất Đời vua Traijan qui định đẳng cấp nguyên lão phải đầu tư 1/3 tài sản của mình vào nông nghiệp… Nhưng, tất cả những biện pháp đó đều không thu được hiệu quả gì Đến cuối thế kỉ thứ hai thì tình trạng nông nghiệp bị suy sụp càng rõ rệt hơn Trong thời kì đế quốc, tại Italia và tại một số hành tỉnh được sử dụng rất nhiều lao động nô lệ trên cơ sở đại trang trại Đến thế kỉ thứ III, các trang trại loại này thu vào không đủ chi ra
Nguyên nhân của hiện tượng này là: Thứ nhất, việc cưỡng bức nô lệ thường thu lợi nhuận rất ít, nhất là những cuộc đấu tranh chống đối của nô lệ càng khiến việc sản xuất theo chế độ nô lệ rất khó duy trì, thậm chí còn là nguy hiểm đối với bản thân người người chiếm hữu nô lệ Thứ hai, từ thế kỉ thứ II trở về sau, đế quốc La Mã đối với các nước bên ngoài đã chuyển sang thế thủ Nguồn cung cấp nô lệ do đó ít đi, giá bán nô lệ ngày một tăng cao Thứ ba, thị trường tiêu thụ nông sản thu hẹp Ở Italia, trước kia những nông sản như rượu nho, dầu oliu do các nô lệ ở các trang trại sản xuất ra, có thể bán sang Tây Ban Nha, Gallia, Bắc Phi và các vùng sông Rhine, sông Danube Nhưng ngày nay những khu vực đó đang phát triển sản xuất, lại có những sản phẩm của Hy Lạp, Tiểu Á ở phía Đông cạnh tranh Cho nên sản phẩm của Italia đã mất thị trường tiêu thụ Hầu hết những trang trại chuyển sang trại chăn nuôi, nên việc sản xuất nông nghiệp ngày càng suy sụp Quá trình này đến thế kỉ thứ III đã lan rộng đến một số địa phương như châu Phi, Gallia…
Trang 16Phương thức bóc lột cũng thay đổi, chủ nô đã không sử dụng sức lao động tập thể của nô lệ mà giao trực tiếp cho nô lệ những mảnh ruộng nhỏ cùng với công cụ lao động
để nô lệ tự tiến hành nền tiểu sản xuất của họ, nộp sản phẩm cho chủ Lối bóc lột mới này vừa có lợi cho chủ, vừa có lợi cho người sản xuất, kích thích hứng thú và khả năng lao động của họ, để tạo ra năng suất lao động cao Thế là chế độ lệ nông xuất hiện như một thích ứng với kiểu bóc lột này đã càng làm cho chế độ nô lệ bước dần đến ngưỡng cửa của sự suy vong
“Lệ nông” chữ Latinh là Coloni, trước tiên có nghĩa là nông dân tự canh tác, tức
đem sức lao động của mình và cũng dùng để chỉ những người di dân canh tác ở những vùng thực dân địa
Lệ nông đã tồn tại trong thời kì cuối của nước Cộng hòa La Mã Chế độ lệ nông lúc mới đầu chỉ áp dụng ở những điền trang xa mà chủ nô không còn khả năng trực tiếp quản lý, sau đó dần phát triển và phổ biến khắp đế quốc Chế độ lệ nông đã làm xuất hiện một lớp người mới trong xã hội Rôma Đó là những người lệ nông Khái niệm, thân phận
và địa vị những người lệ nông cũng có những thay đổi theo thời gian Trong đó thời kỳ đầu, lệ nông là những người tự do (có thể là nông dân không có ruộng đất, hoặc nô lệ được giải phóng), họ có quyền công dân, có thể đảm nhận các chức vụ tôn giáo hoặc là thành viên của các hội đồng địa phương Mối quan hệ giữa chủ nô có tư liệu sản xuất và
lệ nông đơn thuần chỉ là mối quan hệ về kinh tế, canh tác ruộng của chủ nô, lệ nông phải nộp tô (khoảng từ 1/3 đến 1/2 thu hoạch), ngoài ra, mỗi năm lệ nông phải làm việc không công trên những lô đất của chủ từ 6-12 ngày
Khi chế độ lệ nông thành phổ biến, khi chủ nô đem chia nhỏ Latiphundia rồi giao cho nô lệ của mình canh tác, khái niệm thân phận, địa vị lệ nông thay đổi Trong thời kì
đó, nguồn lệ nông được đáp ứng từ hai loại người, giống như trong thế kỉ thứ I và trong thế kỉ thứ II là nô lệ và những người nông dân nghèo Đến thế kỉ thứ III thì nguồn lệ nông
được tăng thêm từ các “man tộc” như người Germans, họ được Chính phủ La Mã đưa tới
những vùng đất hoang để canh tác Khi chế độ “bảo hộ” dần dần được lưu hành, thì nó là một con đường chuyển hóa mới đối với người nông dân nghèo và người lệ nông Người nông dân nghèo do không chịu nổi gánh nặng thuế má, cũng như sự áp bức của quan viên, nhất là trong tình trạng xã hội xáo trộn, khó duy trì một đời sống kinh tế độc lập bắt
buộc họ phải “hiến đất” cho đại địa chủ để yêu cầu được “bảo hộ”, rồi lại thuê đất từ tay
địa chủ để canh tác rồi biến thành lệ nông Ở các hành tỉnh như Gallia, châu Phi, Ai
Trang 17Cập… qua hình thức đó đã sản sinh ra rất đông lệ nông Riêng việc người Germans di dân vào La Mã và được đưa đến những vùng đất hoang dưới dạng thực dân, đã bắt đầu từ đời vua Adrian và đến đời vua Marcus Aurelius càng tăng thêm nhiều hơn Cuối thế kỉ thứ III thì con số này càng tăng cao hơn nữa Những người Germans nói trên khi di trú đến những vùng đất trên, thì dần dần trở thành lệ nông
Từ thế kỷ III, lệ nông (dù có nguồn gốc xuất thân khác nhau) cũng đều là những người trực tiếp sản xuất và bị trói buộc vào ruộng đất của chủ, lệ thuộc vào chủ về thân phận và tư liệu sản xuất Sang thế kỷ IV-V, địa vị của lệ nông lại càng sút kém Năm 332,
Hoàng đế Constannuco ban ra một sắc lệnh “Bất cứ người nào, chẳng những cần phải trả
lệ nông bỏ trốn trở về nguyên chủ của họ, mà còn phải có trách nhiệm đóng thuế người của lệ nông trong thời gian ở đó” Vì sắc lệnh này, thân phận lệ nông có tính chất thế tập,
cha truyền con nối và hoàn toàn bị trói buộc vào ruộng đất Năm 336, Hoàng đế La Mã xuống lệnh cho phép có thể bán lệ nông cùng một lúc với mảnh đất họ đang canh tác Theo đó, trong trường hợp chủ nô bán ruộng đất thì những người lệ nông (và gia đình) đang canh tác trên các lô ruộng ấy sẽ bị bán kèm theo
Về mặt xã hội, họ không còn là người tự do có quyền tư hữu, có quyền công dân
Họ cũng không có quyền kết hôn với người tự do và hôn nhân giữa họ với nhau, họ cũng không được pháp luật thừa nhận Tuy nhiên, khác hẳn nô lệ, lệ nông là những người được
tự do tương đối trong sản xuất và được hưởng một phần thu hoạch Như vậy, lệ nông không phải là người tự do, nhưng cũng không còn là nô lệ, họ là “tiền thân của nông nô thời trung đại”
Tất cả những điều đó đã nói lên thượng tầng kiến trúc của chế độ nô lệ đang ra sức ngăn chặn sự phát triển của chế độ lệ nông Đồng thời, cố đè nén địa vị của người lệ nông xuống ngang hàng với địa vị người nô lệ Do vậy, chỉ còn cách lật đổ chính quyền của chủ nô, mới có thể đưa chế độ lệ nông mới được phát triển thuận lợi Việc xâm nhập của người Germans đã thúc đẩy cho quá trình này được tiến nhanh hơn
Cảnh ngộ của lệ nông, nô lệ và những người nông dân nghèo ngày càng xích lại gần nhau hơn Từ đó tạo tiền đề cho một sự liên hợp khởi nghĩa giữa nô lệ và lệ nông
Sự suy sụp của ngành thủ công là có tương quan với sự suy sụp của nông nghiệp,
về mặt này ở Italia nổi bật nhất Cuối thời kì Cộng hòa, đầu thời kì đế quốc, các ngành thủ công ở Italia đều có sự phát triển, hình thành những ngành nghề làm đồ đồng xanh,
đồ gốm, gạch ngói, làm đèn… Ngoài ra còn có nghề dệt len, nghề ép dầu làm rượu…
Trang 18Những người lao động trong các nhành thủ công này, nô lệ và những người nô lệ được phóng thích chiếm từ 80-85% số còn lại là công nhân thuê mướn Đến thế kỉ thứ III, do các ngành thủ công ở những địa phương như Gallia phát triển, nên ở Italia ngoài nghề dệt len tại Tesrentum, còn các ngành nghề khác như pha lê, đồ gốm, làm đèn, đúc kim loại đều sử dụng lao động nô lệ không có lãi Nhất là ngoài thị trường các loại hàng hóa lại bị cạnh tranh nên cũng đã suy sụp Sự suy sụp của nông nghiệp và các ngành thủ công kéo theo sự tiêu điều về mặt thương nghiệp ở thành thị Trong khi đó, chính sách thuế má cũng như tiền tệ của Chính phủ đã khiến cho cảnh tượng tiêu điều nói trên càng bi đát hơn Chính phủ do phải đáp ứng đầy đủ những chi tiêu của mình đã thông qua một chính sách đánh thuế nặng nề lên người dân Công xã thành thị chịu trách nhiệm thu thuế và phụ trách những nghĩa vụ khác Trái lại, sau khi nền kinh tế xuất hiện khủng hoảng, tài chính khó khăn, nguồn thu thuế ngày càng ít, nên thành thị cũng khó hoàn thành việc nộp thuế hàng năm Chính phủ vì muốn đảm bảo được mức thuế bình thường, nên đã xuống lệnh cho các nghị viên ở các thành thị phải nộp tiền thuế Các nghị viên ở thành thị không
đủ tiền để nộp, đành phải bán đất đai, phóng thích nô lệ để họ trở thành người lệ nông tự canh tác trên miếng đất nhỏ Thậm chí, có nhiều nghị viên ở các thành phố do không nộp nổi thuế phải bỏ trốn đi nơi khác, sống một cuộc sống lưu vong
Ngoài ra, Chính phủ còn ban hành một loại tiền tệ kém chất lượng để lấy đó làm biện pháp giải cứu cho sự khủng hoảng tài chính Đầu thế kỉ thứ III, tiền tệ bằng vàng đã giảm chất lượng xuống còn 17%, tiền tệ bằng bạc giảm chất lượng xuống 15% Về sau những đồng tiền này chỉ còn chất lượng 5% so với trước kia Như vậy, Chính phủ đã tạo
ra một vòng luẩn quẩn không lối thoát Vì một mặt số tiền tệ cũ bị người ta cất giấu, khiến không đủ tiền tệ lưu thông, trong khi tiền tệ mới thì không ai muốn nhận Một khi xảy ra khủng hoảng về mặt lưu thông tiền tệ, tất nhiên dẫn tới tình trạng mọi người dùng hàng hóa để trao đổi, thậm chí lương bổng của các quan viên cũng phải phát bằng hiện vật Đi đôi với tình hình này, những người giàu có cất giấu vàng bạc, vật tư khiến giá cả hàng hóa ngoài thị trường tăng vọt Chính vì thế nền kinh tế ngày một lụn bại hơn Mặt khác, do tiền tệ mất giá trị, vật giá tăng cao khiến việc thu thuế không thể đáp ứng đủ Do vậy Chính phủ lại tăng thuế, phát hành những đồng tiền kém chất lượng Với vòng luẩn quẩn đó, làm cho thương nghiệp càng tiêu điều, thành thị càng suy sụp, xã hội càng hỗn loạn, ngoại tộc thừa cơ đua nhau xâm nhập Cướp biển hoành hành mạnh hơn khiến cho những con đường giao thông trên mặt biển bị ách tắc, từ đó gây nhiều khó khăn hơn cho
Trang 19cư dân ở thành thị và nông thôn Đồng thời, khuynh hướng tự cấp trong nông nghiệp, kết hợp với sự suy sụp của thành thị, cũng đã thúc đẩy cho nhau càng trở nên bi đát hơn
3 Sự khủng hoảng về chính trị
Những khủng hoảng về kinh tế vào thế kỉ thứ III cũng đã phản ánh đầy đủ trên các mặt chính trị và quân sự Sự phá sản về kinh tế thường đi đôi với những biến động về chính trị Ngay từ cuối vường triều Antonius (96-192), sự khủng hoảng về chính trị của
đế quốc La Mã đã bộc lộ rõ nét Đầu thế kỉ III, sự phân hóa và tranh chấp trong nội bộ giai cấp chủ nô càng quyết liệt hơn Nội bộ của tập đoàn thống trị liên tục tranh giành và đánh nhau không lúc nào ngưng nghỉ Sau khi nhà vua cuối cùng của vương triều Antonius là Commodius bị giết chết, chỉ trong vòng sáu tháng, quân cận vệ đã đưa lên hai vị Hoàng đế Bọn quý tộc địa phương và ở các tỉnh thuộc đế quốc cũng nổi dậy xưng hùng xưng bá với khuynh hướng tách dần khỏi sự lệ thuộc vào Roma Trong nội bộ La
Mã bùng nổ một cuốc chiến tranh đoạt ngôi vị Hoàng đế kéo dài suốt bốn năm (193-197)
Về sau Vị Tổng đốc Pannonia là Severus đã xây dựng vương triều Severus (193-235) Severus là người dựa vào quân đội để lên ngôi vua, tất nhiên ông ta phải khao thưởng binh sĩ và nuôi dưỡng lực lượng quân đội là điều quan trọng nhất Ông ta đã nâng lương cho quân đội, trọng dụng kị sĩ và tổ chức lại quân cận vệ riêng, ưu đãi binh sĩ, sử dụng quân nhân giữ các chức vụ hành chính Đồng thời, tăng cường tập quyền về Trung ương,
bổ nhiệm những người xuất thân kỵ sĩ thay thế cho tầng lớp nguyên lão giữ chức Tổng đốc các hành tỉnh, thực hiện chính sách kết hợp quân đội với quan liêu Mặt khác, ông còn tiếp tục sử dụng vũ lực để mở mang bờ cõi, ở phương Đông, tấn công Parthia, ở phương Tây tiến quân vào Anh Kết cục, ông đã bị giết chết trong một cuộc chiến tranh với các bộ lạc thổ dân
Sau khi con trai của Severus là Caracalla, ngoài việc tăng lương cho binh sĩ, mua chuộc quân đội, năm 212 ông còn ban bố một sắc lệnh cấp quyền công dân La Mã cho tất
cả những người dân tự do trong đế quốc Sắc lệnh này có tên là “Sắc lệnh Caracalla” Mục đích của sắc lệnh này vừa làm dịu lại mâu thuẫn trong xã hội, vừa mở rộng nguồn thu thuế, sau khi được ban quyền công dân thì phải có trách nhiệm đóng thuế Tuy nhiên cũng không đem lại hiệu quả gì Năm 217, ông bị quân cận vệ giết chết Đền đời vua cuối cùng của vương triều Severus là Alexander Severus (222-235), mọi việc triều chính đều
do mẫu hậu nắm giữ, các quý tộc nguyên lão được nhiều ưu thế Các nguyên lão tổ chức
Trang 20một ủy ban đặc biệt để thi hành những biện pháp cứu vãn tình thế: hạ thấp mức thuế, mức chi tiêu, cho phép những công dân tự do trên 20 tuổi được quyền bán mình làm nô lệ… Những biện pháp trên không những không thể thi hành được lúc bấy giờ, mà còn bị quân đội chống đối kịch liệt, do đó cũng không đem lại lợi ích gì La Mã vẫn tiếp tục hỗn loạn
và alexander severus đã bị giết chết trong cuộc nổi loạn của binh sĩ (235) Trong vòng 15 năm sau đó, những vụ mưu sát, chính biến thường xuyên xảy ra, La Mã đã thay đổi 10
đời Hoàng đế Từ năm 253 đến năm 268, La Mã tiến vào thời kì “30 tiếm chủ” Các quân
đoàn cũng như các hành tỉnh đều lập Hoàng đế riêng, tàn sát lẫn nhau, khiến tình hình chính trị càng thêm rối loạn Trong thời kì này, vùng Gallia đã xuất hiện một “đế quốc Gallia”, ở Syria, Ai Cập cũng từng li khai Chính quyền của Chính phủ Trung ương thật
ra đã hoàn toàn tê liệt
4 Những cuộc khởi nghĩa của nhân dân và những cuộc xâm nhập của
người “man tộc”
a) Những cuộc khởi nghĩa của nhân dân
Khủng hoảng và nội chiến đã làm cho người nô lệ cũng như bao nhiêu người lao động khác lâm vào cảnh khốn khổ triền miên Chính vì vậy mà nô lệ, lệ nông và nhiều giai tầng khác trong nhân dân đã nổi lên khởi nghĩa nhiều lần Những cuộc khởi nghĩa gần như bùng nổ khắp đất nước La Mã Vào đầu thế kỉ thứ III, trong thời kì vương triều
Severus thống trị, có một người bị bọn chủ nô gọi là “ăn cướp”, tên Bura, chỉ huy một
đội ngũ hơn 600 người xông xáo khắp đất Italia, giết chết người giàu, cướp của cứu tế cho người nghèo Thành phần đội ngũ của Bura rất phức tạp, trong đó có đào binh, những quan lại thất chí, nhưng chủ yếu là nô lệ và lệ nông bỏ trốn Mục tiêu đấu tranh của họ nhắm thẳng vào giai cấp chủ nô, quan lại, binh lính nên được dân nghèo đồng tình, che giấu, cuộc đấu tranh kéo dài được hai năm
Năm 273, “công nhân đúc tiền” (gồm công nhân và nô lệ quốc gia) ở thành La Mã
phát động một cuộc khởi nghĩa, được dân nghèo thành thị hưởng ứng Cuộc khởi nghĩa
đã làm quân đội La Mã tổn thất 7.000 người Tại Sicily, năm 263, bùng nổ một cuộc khởi nghĩa của nô lệ (có thể đây là cuộc khởi nghĩa thứ ba của nô lệ ở Sicily), có quy mô lớn cũng giống như “chiến tranh nô lệ” trước kia Tại Bắc Phi, năm 238, khi thế lực địa phương tại tỉnh Kfrica tự lập nguyên thủ của mình để chống lại Hoàng đế Maximinus của
La Mã, thì một cuộc khởi nghĩa của nô lệ và lệ nông bùng nổ
Trang 21Trong thời kì “30 tiếm chủ”, tại Bắc Phi cũng đã xảy ra một cuộc khởi nghĩa nô lệ
Cuộc khởi nghĩa này đã liên minh với người Moors và đã chiếm đóng rất nhiều vùng ở Mauritania và Numidia Mục tiêu của cuộc khởi nghĩa này là triệt hạ quý tộc địa chủ và
những người thống trị La Mã Ở Tiểu Á, người Isauria bị người La Mã gọi là “ăn cướp”
đã tập kích những khu vực xung quanh Tiểu Á
Tại Ai Cập, ngay từ giữa thế kỉ thứ II đã bùng nổ cuộc khởi nghĩa của người du mục kéo dài vẫn chưa dập tắt được Những cuộc khởi nghĩa tập trung tại vùng tam giác sông Nile để chống lại những cuộc đàn áp Nô lệ và lệ nông quanh vùng đưa nhau tới gia nhập Nhưng, cuộc khởi nghĩa có quy mô lớn nhất và thời gian lâu nhất phải kể đến là phong trào Bagaudae Đội ngũ của Bagaudae chủ yếu gồm nô lệ và lệ nông Năm 269, khởi nghĩa Bagaudae bùng nổ Chẳng bao lâu sau, những ngươi khởi nghĩa đã bao vây ngôi thành của người Gallia Ngôi thành này trước kia đã kí kết điều ước liên minh anh
em với thành La Mã Do vậy, người trong thành bèn phái sứ giả đến cầu viện La Mã, nhưng vì Hoàng đế La Mã đang đánh nhau với người Goth, không thể tiếp viện được Sau bảy tháng bao vây, quân khởi nghĩa Bagaudae đã hạ được thành, giết chết một số quý tộc chủ nô, tước đoạt tài sản của họ Cuộc khởi nghĩa duy trì được hơn ba năm, sau bị Hoàng đế La Mã trấn áp trong những năm 270-275 Nhưng phong trào Bagaudae vẫn chưa bị tiêu diệt Năm 283 họ lại mở ra những cuộc đấu tranh đại quy mô hơn Lần đấu tranh này họ dựa vào thành phố trước kia làm trung tâm và dùng nông dân làm bộ binh, dùng người du mục làm kỵ binh để xông pha ra trận, giết chết phú hào, thiêu hủy trang trại, chia đất, chia tài sản đã chiếm được Họ cử ra hai người thủ lính để làm Hoàng đế và
tự đúc tiền Năm 268, Hoàng đế La Mã là Diocletianus phái một người cùng nắm quyền thống trị là Maximian đưa quân tới Gallia để trấn áp Quân đội của Maximian bị quân khởi nghĩa phân tán đánh bại nhiều trận, do đó không dám tiến công đánh quân khởi nghĩa nữa Về sau, Maximian phải dùng kỉ luật, đội quân nào bỏ chạy thì cứ mười một người sẽ rút ra chém một người, khiến binh sĩ của ông ta sợ hãi, phải liều chết đánh nhau với quân khởi nghĩa Lúc đó, họ mới trấn áp được cuộc khởi nghĩa của Bagaudae Nhưng sau đó, một số lực lượng tàn dư của Bagaudae vẫn tiếp tục hoạt động Mãi đến cuối thế kỉ
V mới hoàn toàn tan rã, kéo dài cuộc chiến đến hơn 200 năm
Trang 22b) Những cuộc xâm nhập của người “man tộc”
Ở ngoài cương giới của đế quốc La Mã có các bộ lạc người Celt, người Germans
và người Slavo cư trú Đến trước thế kỉ thứ V, họ vẫn đang sống trong xã hội nguyên
thủy nên người Roma gọi họ là “man tộc”
Trong các tộc ấy, người Celt vốn sinh sống trên một địa bàn rất rộng bao gồm các
xứ Britain (nước Anh), Bắc Italia, Gaul (Pháp) và Tây Ban Nha, nhưng từ sớm họ đã bị Roma chinh phục và đã đồng hoá với người Roma ở đó Người Germans thì sống rải rác trên một vùng đất đai rộng lớn từ sông Rhine (ở phía Tây) đến tận sông Vixtuyn (ở phía Đông), từ Danube (ở phía Nam) đến biển Baltic (ở phía Bắc) Còn người Slavo thì ở phía Đông khu vực đó
Trong số những người “man tộc” sống ở phía Bắc đế quốc La Mã, người Germans
đóng vai trò quan trọng đối với sự diệt vong của đế quốc Tây bộ La Mã Người Germans
là một trong những bộ tộc lớn thuộc chủng tộc Arian đến sinh sống ở vùng biên giới phía Bắc và Đông Bắc của đế quốc La Mã từ nhiều thế kỉ trước Công nguyên Người Germans bao gồm các bộ lạc Goth (Tây Goth và Đông Goth), các bộ lạc Vandal, Francs, Anglo Saxon, Burgondes…
Vào những thế kỉ đầu Công nguyên, chế độ công xã nguyên thủy của người Germans trong quá trình tan rã Do sự phát triển kinh tế và gia tăng dân số nhanh chóng, người Germans có nhu cầu mở thêm đất đai để sinh sống
Đến cuối thế kỷ thứ II, tính chất và mức độ của mối đe dọa mà La Mã phải đối mặt xuất phát từ phía bên kia đường biên giới phía Tây đã thay đổi chóng vánh Các bộ lạc liên minh với nhau, dưới sự chỉ huy chiến binh lãnh đạo và sở hữu những quân đội tinh nhuệ Họ vẫn thường xuyên tấn công và cướp phá các khu định cư của người La Mã bên phía biên giới của mình Các cuộc tấn công như vậy đôi khi dẫn đến đòn giáng trả khốc liệt của La Mã
Mùa đông năm 166, hai bộ lạc Germans là Langobardi và Ubii đã đột kích tỉnh Pannonia của La Mã (thuộc Hungary ngày nay ở phía nam sông Danube) Một năm sau, hai bộ lạc hùng mạnh khác là Marcomanni và Victuali yêu cầu vượt sông Danube đến định cư bên trong đế quốc Sở dĩ họ làm như vậy là do chịu sức ép từ các bộ lạc cách xa biên giới muốn tìm cách chiếm đóng khu vực này Rome đã phản ứng chậm chạp Hoàng
đế Marcus Aurelius (161-180) đang có chiến tranh với đế quốc Pathia và phải tập trung lực lượng cho cuộc chiến đó Các cuộc chiến của bộ lạc Marcomanni không chỉ đơn
Trang 23thuần là những cuộc đột kích biên giới Các bộ lạc Germans đã cướp phá một số thành phố và gây thiệt hại ở khắp nơi Khi chiến sự đang diễn ra thì một số bộ lạc tìm cách di
đó, tại hạ lưu sông Danube, người Goth tiến vào lãnh thổ của người La Mã Bắt đầu từ năm 230, họ lại tiến vào bờ biển Caspian Sau năm 250, họ chiếm cứ Bosporus Tiếp đó,
họ lại tiến vào biển Aegean Kể từ đó người Goth đã trở thành một lực lượng quan trọng
ở phía Đông Nam châu Âu Tại vùng phía Đông của đế quốc La Mã, lại có đế quốc Sasanid-Ba Tư bắt đầu cường thịnh lên và đã tranh đoạt vùng Armenia và lưu vực Lưỡng
Hà lâu dài với La Mã Năm 259, Hoàng đế Valerianus (253-259) dẫn quân cùng đánh nhau với Ba Tư, bị thua và bị bắt sống, sau đó trở thành người phục dịch trong vương triều của Ba Tư Thế lực của đế quốc Sasanid-Ba Tư bành trướng đến vùng Cappadacia
Từ đó trở về sau, Germans tiếp tục tràn vào các địa phương La Mã
I.2 Sự xuất hiện và diễn biến của đạo Cơ Đốc
Vào thế kỉ I, đạo Cơ Đốc đã xuất hiện trong tầng lớp dưới của dân tộc Do Thái đang sống rải rác tại vùng Tiểu Á (cũng có thuyết cho rằng đạo Cơ Đốc là một chi phái mới của đạo Do Thái) Đạo này đã xuất hiện trong dân chúng nông thôn vùng Palestin vào khoảng những năm 30 của thế kỉ I sau công nguyên Chẳng bao lâu sau, tôn giáo này
đã truyền rộng ra khắp đế quốc La Mã và trở thành một trong ba tôn giáo lớn của thế giới
là đạo Phật, đạo Islam và đạo Cơ Đốc
Trang 241 Bối cảnh xã hội đã sản sinh ra đạo Cơ Đốc và nguồn gốc tư tưởng của đạo này
Đạo Cơ Đốc không phải là sản phẩm của một dân tộc riêng lẻ nào trong lãnh thổ của đế quốc La Mã, mà nó là sản phẩm của cả xã hội La Mã Nó là kết quả của quảng đại nhân dân thuộc tầng lớp dưới trong xã hội La Mã, cảm thấy tuyệt vọng trong những cuộc đấu tranh hiện thực và đã tìm ra lối thoát về mặt tôn giáo
Sự thống trị của đế quốc La Mã đã mang đến nhiều tai họa to tát cho nhân dân tầng lớp dưới Sự chinh phạt và áp bức đẫm máu cũng như chà đạp lên các dân tộc bị họ chinh phục, đặt ra nhiều thuế khóa nặng nề cho người dân, với những biện pháp tàn bạo,
họ đã trấn áp những cuộc khởi nghĩa của nô lệ hay người dân Tầng lớp dưới trong nhân dân kể từ thế kỉ II TCN, đã mở ra nhiều cuộc đấu tranh liên tục chống lại giai cấp thống trị, nhưng do thiếu một giai cấp lãnh đạo, không được vũ trang bằng những tư tưởng khoa
học nên đều thất bại “Trong tình trạng thời bấy giờ, lối thoát chỉ có thể tìm được trong
lĩnh vực tôn giáo”
Đạo Cơ Đốc ngay từ lúc đầu đã xuất hiện trong tầng lớp dưới của nhân dân Do Thái là có một căn nguyên lịch sử của nó Trong lịch sử thời cổ đại, người Do Thái là một dân tộc chịu nhiều tai họa nhất Vùng Palestine, nơi có vương quốc Do Thái tồn tại, bắt đầu từ thế kỉ VIII đến thế kỉ VII TCN, đã lần lượt bị Assyria và Ai Cập khống chế Năm 586 TCN, vương quốc Babylon đã tiêu diệt vương quốc Do Thái, bắt cư dân Do Thái mang về thành Babylon (có một phần trong số đó trở thành nô lệ) Kể từ đó quốc gia
Do Thái không còn tồn tại nữa Đến năm 538 TCN, sau khi Ba Tư tiêu diệt Babylon, họ mới cho người Do Thái trở về quê hương cũ của mình, làm thần dân của đế quốc Ba Tư Sau khi đế quốc Ba Tư bị diệt vong, người Do Thái lại bị rơi vào sự thống trị của Selecid
Từ đó, người Do Thái phải gánh chịu đủ thứ tai nạn trong những cuộc chiến tranh hùng giữa người Selecid với người Ai Cập Bắt đầu từ năm 167 TCN, người Do Thái đã vùng lên khởi nghĩa dưới sự lãnh đạo của Judas Galiaeus Năm 141 TCN, người Do Thái từng giành được độc lập một thời gian Nhưng đến năm 63 sau công nguyên, người Do Thái lại bị La Mã chinh phục
Dưới sự thống trị của người La Mã, vào các năm 66, 132 sau công nguyên, người
Do Thái lại một lần nữa thực hiện cuộc khởi nghĩa to lớn nhưng vẫn bị trấn áp một cách tàn bạo Người Do Thái hoặc bị giết, hoặc phải bỏ quê hương trốn sang những miền đất
xa lạ Trong những cuộc đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp, đã phản ánh vào ý thức
Trang 25tôn giáo của họ nên đã xúc tiến một tôn giáo mới sản sinh Qua một văn kiện viết trên giấy được phát hiện ở gần biển Chết hồi năm 1947, cho thấy vào thế kỉ II TCN, cho đến thế kỉ II sau công nguyên, trong tầng lớp dưới người dân Do Thái, có một giáo phái bí
mật đang tuyên truyền “Chúa cứu thế” sắp xuất hiện Trong người Do Thái ở các nới vùng Tiểu Á, xuất hiện rất nhiều người “tiên tri” truyền giáo Đạo Cơ Đốc được hình thành từ trong giáo phái mới này Văn hiến sớm nhất của đạo Cơ Đốc là “Khải huyền của
John” (khoảng năm 68) chỉ thấy đề cập tới công xã tôn giáo tại bảy thành thị ở vùng Tiểu
Á Dựa vào đó có thể thấy được đạo Cơ Đốc có khả năng hình thành sớm nhất trong người Do Thái sống rải rác ở vùng Tiểu Á
Về nguồn gốc tư tưởng của đạo Cơ Đốc: Một trong những nguồn gốc chính là đạo
Do Thái Đạo Do Thái tin thờ một vị thần mà tín đồ đạo Cơ Đốc gọi là Yahveh và xem
đó là một vị thần duy nhất, Do Thái là dân được chọn của vị thần đó Quan niệm “Chúa cứu thế” ban đầu của đạo Cơ Đốc và tư tưởng một vị thần rõ ràng là bắt nguồn từ đạo Do
Thái Đồng thời, “Thánh kinh” của đạo Do Thái cũng được tín đồ đạo Cơ Đốc tiếp nhận
và được gọi là “Cựu ước”, để phân biệt với “Tân ước” Ngoài đạo Do Thái ra, đạo Cơ
Đốc còn tiếp thu những tư tưởng tôn giáo được lưu hành rộng rãi ở các vùng đất phương Đông như Ai Cập, Syria, Tiểu Á và Iran (chủ yếu là quan niệm nhất thần giáo) Tư tưởng thần vì cứu vớt chúng sinh mà phải chết nhưng được sống trở lại, cũng như tư tưởng chuộc tội và hiến tế (giống với tín ngưỡng Osiris của Ai Cập) Những tư tưởng triết học của Hy Lạp, La Mã, đặc biệt là học thuyết Philo Judaeus của học phái Alesandria; triết học của phái Stoicoi và luân lý học của học phái Cynicos cũng có ảnh hưởng quan trọng đến sự hình thành của đạo Cơ Đốc
Vậy, đạo Cơ Đốc chính là một tôn giáo “đã âm thầm sản sinh ra từ sự hỗn hợp
của thần phương Đông đã được phổ biến, đặc biệt là thần học của Do Thái và triết học
Hy Lạp đã được dung tục hóa, nhất là từ trong triết học của Stoicoi” (trích: Tổng kết triết
học của Ludwig Feuerbach và triết học cổ điển Đức)
2 Giáo lý và sự tổ chức trong thời kì đầu của đạo Cơ Đốc
Thế kỉ I sau công nghuyên, trong cư dân lớp dưới ở thành thị có xuất hiện một số
người truyển giáo (trong Thánh kinh gọi là “Sứ đồ”) Họ đi khắp nơi truyền việc “Chúa
cứu thế” sắp giáng lâm và thần thoại về Jesus Christ Thần thoại nói: Jesus là con Thượng
đế, cũng tức là “Chúa cứu thế” Ông sinh ra tại Beth’lehm (tiếng Hebrew) Ông đã đến
Trang 26thế gian và thu nạp được 12 môn đồ lo việc truyền giáo ở Palestine Về sau, ông bị người
đệ tử là Joudas Iskariotes bán đứng nên bị giết Các phần tử thuộc tầng lớp trên Do Thái
đã cấu kết với viên Tổng đốc La Mã là Philato kết tội Jesus và xử tử bằng cách đóng đinh lên thập tự giá, nhưng chết được ba ngày sau thì sống lại và đã bay về trời Mẩu chuyện này lúc đầu chỉ truyền miệng, đến thế kỉ II sau công nguyên, mới bắt đầu ghi chép thành văn tự Nhưng, Jesus chỉ là một nhân vật truyền thuyết, chứ chưa hẳn là một người có thực Trên thực tế, không phải Jesus sáng lập ra đạo Cơ Đốc, mà chính là đạo Cơ Đốc sáng lập ra Jesus Tuy nhiên, qua thần thoại này cũng phản ánh sự thật lịch sử là đạo Cơ Đốc bắt nguồn từ tầng lớp dưới trong nhân dân, nhằm chống lại những người giàu có và bọn thống trị La Mã Thế kỉ II sau công nguyên, những người truyền đạo soạn ra sách
“Phúc âm” lưu truyền cho đến ngày nay
Trong giai đoạn đầu, đạo Cơ Đốc chủ yếu tuyên truyền tư tưởng “Thiên quốc”, còn được gọi là “Thiên quốc đã gần đến rồi” Tư tưởng Thiên quốc phản ánh quan niệm
về xã hội của tín độ Cơ Đốc giáo, một là chống đối người giàu, chống đối sự thống trị tàn bạo của La Mã; hai là thể hiện tinh thần bình đẳng thô sơ trong xã hội Mọi người đứng trước Thượng đế đều bình đẳng, mọi người ai cũng có tội, Thượng đế cứu vớt mọi người,
cố gắng chịu đựng nổi khổ trong nhân gian, để khi chết được lên Thiên quốc
Tín đồ đạo Cơ Đốc trong giai đoạn đầu là nô lệ, là những người nô lệ được phóng thích và dân nghèo khó Họ tổ chức thành những công xã tiểu quy mô tại thành trấn của
họ đang cư trú, lấy thập tự giá làm biểu tượng Họ sống một đời sống mà mọi thứ tài sản
đều là của chung Ở phần nói với các Sứ đồ trong Tân Ước chép: “Rất nhiều người tin
đạo một lòng một dạ như nhau, không có ai bảo những gì của riêng họ có là của riêng
họ, mà đều xem là của chung…” Tín đồ đều bình đẳng và sống chung một chỗ để giảng
đạo, để cầu nguyện và ăn cơm chung, giúp đỡ lẫn nhau Sứ đồ là người tổ chức và truyền giáo đối với loại công xã này và cũng quyên góp tiền bạc cung cấp cho công xã tiêu dùng Người lãnh đạo công xã là Trưởng Lão và Chấp Sự, về sau còn đặt thêm người giám đốc tài vụ Đến cuối thế kỉ II, công xã ở các thành thị dần dần liên hợp lại và thành lập giáo hội
Do tín đồ đạo Cơ Đốc chống lại sự thống trị của La Mã, không tin vào những vị thần cũ của La Mã, không sùng bái Hoàng đế nên chính quyền La Mã đã tiến hành đàn
áp Năm 63, Hoàng đế Nero đã mở một cuộc sát hại tín đồ Cơ Đốc giáo đại quy mô Đến giữa thế kỉ III, những cuộc khởi nghĩa chống La Mã ở các địa phương liên tục nổi lên, do
Trang 27đó, Chính phủ La Mã đã đàn áp tín đồ đạo Cơ Đốc quyết liệt hơn, cấm không cho tín đồ xem lễ hàng tuần, tịch thu tài sản của họ, giết chết người truyền đạo Nhưng, sự đàn áp về chính trị vẫn không thể ngăn cản được sự phát triển nhanh chóng của đạo Cơ Đốc
Trong giai đoạn đầu, đạo Cơ Đốc chống lại sự thống trị chuyên chế và áp bức dân tộc của đế quốc La Mã; chống lại sự tham lam tàn bạo của nhà giàu là giai cấp chủ nô, thể hiện một tinh thần chiến đấu, nên có tính chất tiến bộ nhất định Nhưng sự phản đối của đạo Cơ Đốc đối với hiện thực là tiêu cực, đối với lí tưởng tương lai là hư ảo
3 Sự truyền bá và diễn biến của đạo Cơ Đốc
Từ giữa và cuối thế kỉ II, do đạo Cơ Đốc được truyền bá nhanh chóng, nên cư dân
có tài sản bậc trung ở thành thị cũng như ở nông thôn, cũng như những người sở hữu khác đã đua nhau vào đạo Việc số người này vào đạo là do: Thứ nhất, trước tình hình khủng hoảng của chế độ nô lệ, họ bị tổn hại về quyền lợi ở những mức độ khác nhau nên cảm thấy hoang mang thất vọng; Thứ hai, do đạo Cơ Đốc từ công xã chuyển lên thành lập giáo hội, khắp cả nước La Mã đã có 5% dân số vào đạo, giáo hội đã có sức mạnh nhất định Giáo hội ở các địa phương có thể tạo điều kiện thuận lợi cho các thương nhân, các nhà làm thủ công kinh doanh, hoạt động Sau khi những người có tài sản gia nhập giáo hội, đã làm thay đổi thành phần xã hội trong đạo Cơ Đốc ở giai đoạn đầu, khiến về mặt tổ chức và tư tưởng của đạo Cơ Đốc cũng thay đổi theo Họ quyên góp tiền bạc cho giáo hội, nhất là họ có trình độ văn hóa cao hơn nên có ảnh hưởng khá lớn trong giáo hội, dần dần năm được địa vị lãnh đạo Đồng thời, tinh thần bình đẳng bác ái, giúp đỡ lẫn nhau, thù ghét nhà giàu, chống đối La Mã trong thời kì đầu cũng dần được xóa đi, mà trái lại, giáo lý khuyên người nên thuần phục yêu kẻ thù như yêu chính mình, đặt hy vọng vào kiếp sau được đề cao lên địa vị chủ yếu Do đó, đến cuối thế kỉ II, sau khi đạo Cơ Đốc đã diễn biến và đạo đã lọt vào tay nhà giàu và những người chủ nô Thời bấy giờ, có một phái truyền đạo tại vùng Bắc Phi vẫn kiên trì giáo lí của đạo Cơ Đốc lúc ban đầu và đã bị xem là sai lạc nên bị bài xích
Trong cuộc khủng hoảng ở thế kỉ III đã giúp cho đạo Cơ Đốc phát triển nhanh chóng Những chủ nô, đại địa chủ, đại thương gia, quan liêu, thậm chí bà con của Hoàng
đế trước đây bị đạo Cơ Đốc đả kích dữ dội, nay cũng có một số xin gia nhập đạo này Giáo hội cũng phát triển lên một bước và ở các thành thị tại La Mã, Byzantin, Carthage, Alexandria, đã trở thành trung tâm của các giáo hội ở các địa phương đó Quyền lãnh đạo