1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu chế độ đãi ngộ đối với những hoạt động không chuyên trách trên địa bàn huyện đan phượng thành phố hà nộ

118 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những khó khăn trong việc thực hiện chế độ đãi ngộ với người hoạt động không chuyên trách tại huyện Đan Phượng hiện nay như việc bố trí cán bộ chưa tương xứng giữa cán bộ giữ chức bầu cử

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Phượng Lê

NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP - 2018

Trang 2

L ỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo

vệ lấy bất kỳ học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày 06 tháng 5 năm 2018

Tác giả luận văn

Phạm Văn Khôi

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được

sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo; sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình

Đầu tiên cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Phượng Lê đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện hướng dẫn tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý Đào tạo,

Bộ môn Kinh tế nông nghiệp và Chính sách, Khoa Kinh tế & Phát triển nông thôn - Học

viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ, công chức các phòng chuyên môn thuộc UBND huyện Đan Phượng và Đảng ủy - HĐND - UBND - UBMTTQ các xã Song Phượng, Thọ An và xã Tân Lập huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội đã tạo điều

kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./

Hà N ội, ngày 06 tháng 5 năm 2018

Tác giả luận văn

Phạm Văn Khôi

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục chữ viết tắt vi

Danh mục bảng vii

Danh mục hình, hộp ix

Trích yếu luận văn x

Thesis abstract xii

Ph ần 1 Đặt vấn đề 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.2.1 Mục tiêu chung 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 2

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 2

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 3

1.5 Những đóng góp mới của luận văn 3

Ph ần 2 Cơ sở lý luận về thực tıễn về chế độ đãı ngộ đốı vốı vớı những ngườı ho ạt động không chuyên trách cấp xã 4

2.1 Cơ sở lý luận về thực hiện chế độ đãi ngộ đối vối với những người hoạt động không chuyên trách 4

2.1.1 Một số khái niệm cơ bản 4

2.1.2 Vai trò của thực hiện chế độ đối với người hoạt động không chuyên trách 10

2.1.3 Đặc điểm của thực hiện chế độ đãi ngộ đối với người hoạt động không chuyên trách 11

2.1.4 Nội dung nghiên cứu thực hiện chế độ đãi ngộ đối với những người hoạt động không chuyên trách 12

2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chế độ đãi ngộ đối với những người hoạt động không chuyên trách 17

Trang 5

2.2 Cơ sở thực tiễn về thực hiện chế độ đãi ngộ đối vối với những người

hoạt động không chuyên trách 18

2.2.1 Kinh nghiệm thực hiện chế độ đãi ngộ cho cán bộ trên thế giới 18

2.2.2 Kinh nghiệm thực hiện chế độ đãi ngộ cho những người hoạt động không chuyên trách ở Việt Nam 21

2.2.3 Bài học kinh nghiệm rút ra cho huyện Đan Phượng 25

Ph ần 3 Phương pháp nghiên cứu 27

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 27

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 27

3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 30

3.2 Phương pháp nghiên cứu 35

3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 35

3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 36

3.2.3 Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu 37

3.2.4 Phương pháp phân tích số liệu 38

3.2.5 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 38

Ph ần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 40

4.1 Khái quát thực trạng đội ngũ cán bộ không chuyên trách huyện Đan Phượng 40

4.1.1 Khái quát quá trình hình thành, hoạt động và chức năng, nhiệm vụ của những người hoạt động không chuyên trách 40

4.1.2 Thực trạng cán bộ không chuyên trách huyện Đan Phượng 44

4.2 Đánh giá thực thi chế độ đãi ngộ với cán bộ không chuyên trách huyện Đan Phượng 49

4.2.1 Đánh giá việc ban hành và cụ thể hóa các văn bản hướng dẫn thực hiện chính sách 49

4.2.2 Kết quả thực hiện chế độ lương, bảo hiểm với cán bộ không chuyên trách huyện Đan Phượng 51

4.2.3 Đánh giá về chế độ làm việc đối với cán bộ không chuyên trách huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội 58

4.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chế độ đãi ngộ với cán bộ không chuyên trách trên địa bàn huyện Đan Phượng 63

Trang 6

4.3.1 Công tác tuyên truyền, phổ biến triển khai chính sách đãi ngộ 63

4.3.2 Năng lực của cán bộ thực hiện chính sách đãi ngộ 64

4.3.3 Trình độ nhận thức của đội ngũ cán bộ không chuyên trách 65

4.4 Giải pháp hoàn thiện thực hiện chế độ đãi ngộ đối với những người hoạt động không chuyên trách 66

4.4.1 Căn cứ, mục tiêu đề xuất giải pháp 66

4.4.2 Giải pháp về hoàn thiện thực hiện chính sách đãi ngộ với cán bộ không chuyên trách cấp xã 68

Ph ần 5 Kết luận và kiến nghị 77

5.1 Kết luận 77

5.2 Kiến nghị 79

5.2.1 Với Trung ương 79

5.2.2 Với thành phố Hà Nội 81

Tài liệu tham khảo 83

Phụ lục 87

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Hiện trạng sử dụng đất huyện Đan Phượng năm 2014 - 2016 29

Bảng 3.2 Tổng giá trị sản xuất của huyện Đan Phượng qua 3 năm 2014 – 2016 (theo giá so sánh 2010) 31

Bảng 3.3 Tình hình dân số của huyện Đan Phượng qua 3 năm 2014 -2016 33

Bảng 3.4 Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp 36

Bảng 3.5 Bảng phân bổ số lượng mẫu điều tra 37

Bảng 4.1 Khái quát các chính sách về cán bộ không chuyên trách cấp xã 42

Bảng 4.2 Số lượng cán bộ không chuyên trách huyện Đan Phượng qua các năm 2015 – 2017 44

Bảng 4.3 Số lượng người hoạt động không chuyên trách xã theo giới tính năm 2017 của 3 xã Song Phượng, Thọ An, Tân Lập 49

Bảng 4.4 Số lượng những người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố theo giới tính năm 2017 của các xã điều tra 46

Bảng 4.5 Số lượng những người hoạt động không chuyên trách huyện Đan Phượng theo độ tuổi năm 2017 của 3 xã Song Phượng, Thọ An, Tân Lập 47

Bảng 4.6 Số lượng đối với những người hoạt động không chuyên trách theo trình độ lý luận chính trị, quản lý nhà nước, ngoại ngữ, tin học

năm 2017 48

Bảng 4.7 Đánh giá của cán bộ thực thi chính sách về việc ban hành và cụ thể hóa các chính sách với cán bộ không chuyên trách cấp xã (N=17) 50

Bảng 4.8 Mức phụ cấp với cán bộ không chuyên trách cấp xã tại huyện

Đan Phượng 52

Bảng 4.9 Mức phụ cấp và đãi ngộ khác với những người hoạt động không chuyên trách huyện Đan Phượng 53

Bảng 4.10 Đánh giá của cán bộ không chuyên trách các xã về chế độ phụ cấp, bảo hiểm 54

Bảng 4.11 Nguồn sinh kế khác của cán bộ không chuyên trách cấp xã huyện Đan Phượng 57

Bảng 4.12 Số lượng những người hoạt động không chuyên trách theo nghề nghiệp trước khi tuyển dụng 59

Trang 9

Bảng 4.13 Đánh giá về sự phù hợp của công việc với trình độ của cán bộ hoạt

động không chuyên trách tại huyện Đan Phượng 60Bảng 4.14 Thời gian làm việc của cán bộ không chuyên cấp xã 61Bảng 4.15 Đánh giá của cán bộ không chuyên trách về điều kiện làm việc 62Bảng 4.16 Số lượng những người không chuyên trách được điều chuyển công

tác tại huyện Đan Phượng 63

Bảng 4.17 Đánh giá về các văn bản chính sách về đãi ngộ với cán bộ không

chuyên trách 63

Bảng 4.18 Nguồn thông tin biết về chế độ đãi ngộ của cán bộ không chuyên

trách huyện Đan Phượng 64

Bảng 4.19 Bảng phân loại đánh giá trình độ chuyên môn và năng lực quản lý

của cán bộ quản lý cấp huyện, xã (N = 17) 65

Bảng 4.20 Nhu cầu về cán bộ không chuyên trách cấp xã ở huyện Đan

Phượng trong thời gian tới 67

Trang 10

DANH M ỤC HÌNH, HỘP

Hình 3.1 Cơ cấu các ngành kinh tế huyện Đan Phượng 2014 - 2016 32

Hình 4.1 Trình độ chuyên môn cán bộ không chuyên trách huyện

Đan Phượng 2017 65

Hộp 4.1 Cũng muốn chuyên tâm mà khó quá 55

Trang 11

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

1 Tên tác giả: Phạm Văn Khôi

2 Tên luận văn: “Nghiên cứu thực hiện chế độ đãi ngộ đối với những người hoạt động

không chuyên trách trên địa bàn huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội”

3 Chuyên ngành : Quản Lý Kinh Tế Mã số: 8340410

4 Cơ sở đào tạo: Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam

5 Kết quả nghiên cứu chính

Thực hiện chính sách đãi ngộ với cán bộ không chuyên trách trên địa bàn huyện Đan Phượng hiện nay tuy đã có những kết quả đáng khích lệ nhưng vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề bất cập Những khó khăn trong việc thực hiện chế độ đãi ngộ với người hoạt động không chuyên trách tại huyện Đan Phượng hiện nay như việc bố trí cán bộ chưa tương xứng giữa cán bộ giữ chức bầu cử và cán bộ chuyên môn, số lượng những người hoạt động không chuyên trách xã chưa đủ để bố trí cho phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ mới; chế độ, chính sách đãi ngộ (phụ cấp, bảo hiểm xã hội ) đối với họ đến nay còn nhiều bất cập, mâu thuẫn; việc ban hành và thực hiện các văn bản, quy định về chính sách đãi ngộ với cán bộ không chuyên trách xã của Đảng và Nhà nước còn chưa đầy đủ, hầu hết vẫn mang tính giải pháp tình thế, chưa cơ bản, chưa đồng bộ Do vậy việc nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu chế độ đãi ngộ đối với những người hoạt động không chuyên trách trên địa bàn huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội” là hết sức cần thiết

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài: Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về thực hiện chế độ đãi ngộ đối với những người hoạt động không chuyên trách; đánh giá thực trạng việc thực hiện chế độ đãi ngộ đối với những người hoạt động không chuyên trách và các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chế đãi ngộ đối với những người hoạt động không chuyên trách trên địa bàn huyện Đan Phượng, thành Phố Hà Nội; đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện, nâng cao hiệu quả thực hiện chế độ đãi ngộ đối với những người hoạt động không chuyên trách trên địa bàn huyện Đan Phượng, thành Phố Hà Nội;

Kết quả nghiên cứu cho thấy nhờ thực hiện đầy đủ, đồng bộ các chế độ đãi ngộ đối với những người hoạt hoạt động không chuyên trách của huyện Đan Phượng nên việc chi trả chế độ đãi ngộ vật chất và phi vật chất với nhóm đối tượng này được thực hiện kịp thời Từ năm 2013 đến nay tình hình đơn thư, kiến nghị phản ánh về tình trạng chậm chi trả thực hiện chế độ đãi ngộ đối với những người hoạt động không chuyên trách xã hầu như không có Mức phụ cấp/tháng của cán bộ không chuyên trách cấp xã,

Trang 12

thôn, tổ dân phố của huyện chủ yếu là dưới 1,46 mức lương tối thiểu (202 người), chỉ có

54 người có mức phụ cấp từ 1,46-1,86 mức lương tối thiểu Ngoài ra 100% cán bộ không chuyên trách của huyện đều được hưởng chế độ bảo hiểm y tế, đặc biệt có 14,93% cán bộ xã được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội Tuy nhiên gần 50% cán bộ đều cho rằng điều kiện làm việc cán bộ không tốt và thời gian làm việc nhiều, chưa phù hợp với phụ cấp mà họ được hưởng Rất ít cán bộ được chuyển công tác sang cán bộ chuyên trách tại huyện thời gian qua làm giảm động lực của người lao động

Để thực hiện tốt chế độ đãi ngộ với cán bộ không chuyên trách tại huyện Đan Phương trong thời gian tới, cần thực hiện một số giải pháp, bao gồm: Hoàn thiện về tổ chức áp dụng chính sách đối với những người hoạt động không chuyên trách ở huyện Đan Phượng; nâng cao chất lượng đội ngũ những người hoạt động không chuyên trách; huy động nguồn tài chính cho thực hiện chế độ đãi ngộ đối với những người hoạt động không chuyên trách; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá thực thi chính sách; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, điều hành của chính quyền các cấp

Trang 13

THESIS ABSTRACT

Author: Pham Van Khoi

Thesis title: Implementation of Welfare Policies for Part-time Staff in Dan Phuong

District, Hanoi City

Major: Economic Management Code: 8340410

Academic Institution: Vietnam National University of Agriculture

Research Findings

The implementation of welfare policies for part-time staff in Dan Phuong district has achieved significant results, but many problems still exist such as the inappropriate allocation of official and professional staffs, a large number of part-time staff at commune level, low allowance and other benefits,…Although Vietnamese government has promulgated and implemented a number of policies for part-time staff, they seemed not to solve mentioned difficulties Therefore, it is very necessary to study on the implementation of welfare policies for part-time staff in Dan Phuong district, Hanoi city

Research objectives: (1) To make an overview of theoretical and practical basis

for implementation of welfare policies for part-time staff; (2) To assess the implementation of welfare policies for part-time staff and to demonstrate the influential factors on implementation of welfare policies for part-time staff in Dan Phuong district, Hanoi city; (3) To propose some solutions to improve the effectiveness of the welfare policies for part-time staff in Dan Phuong district, Hanoi city

Results and conclusions:

Based on the full and uniform implementation of the treatment policies for the part-time staff in Dan Phuong district, the payment of material and non-material remuneration to those staffs is made in time From 2013 up to now, the letter petition about late payment to implement the preferential treatment regime for commune part-time staff is almost none The monthly allowance for commune, village part-time staff

is less than 1.46 (202 people) of the minimum wage and only 54 people have the allowance of 1.46 – 1.86 of the minimum wage In addition, one hundred percent district those staffs are entitled to health insurance, especially 14.93% commune part-time staff are granted social insurance However, nearly 50% staff considers that their working conditions are not good enough and their working time is not suitable with the

Trang 14

allowance they receive Very few staff has been transferred to full-time staff that reduces their working motivation

In order to enhance the efficiency of the treatment regime for part-time staff in Dan Phuong District, some solutions should be implemented, including: To complete the application of the support policy to part-time staff in Dan Phuong district; to raise the quality of the contingent of part-time personnel; To mobilize financial sources for the application of preferential treatment policies for persons; Strengthening the inspection, monitoring and evaluation of policy implementation; To step up the application of information technology in the management and administration of administrative levels at all levels

Trang 15

P HẦN 1 ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Hệ thống chính trị cấp xã có vai trò rất quan trọng trong tổ chức cuộc sống của cộng đồng dân cư, huy động mọi khả năng của cộng đồng để phát triển kinh

tế - xã hội ở địa phương, góp phần tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân Trong

hệ thống chính trị cấp xã thì đội ngũ cán bộ cơ sở có vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội ở địa phương Đội ngũ cán bộ cơ sở bao

gồm cán bộ cấp xã, công chức cấp xã và “những người hoạt động không chuyên

trách ở cấp xã” Trong thực tiễn, bên cạnh đội ngũ cán bộ cấp xã, công chức cấp

xã thì còn có nhóm đối tượng có vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - giữ vững ổn định chính trị và nâng cao đời sống của

người dân, đảm bảo xã hội ổn định đó là “những người hoạt động không chuyên

trách ở cấp xã” Ngoài những kỹ năng chuyên môn cần thiết cho mỗi công việc,

đội ngũ này cần gần dân, hiểu dân và đồng hành cùng dân thực hiện chính sách phát triển kinh tế xã hội Thực tiễn ở chính quyền cơ sở cho thấy, ngay cả khi Chính phủ có chính sách tốt những cán bộ cơ sở yếu thì những sách đó cũng không được biến thành động lực cho pháp triển Vấn đề về năng lực của bộ máy cấp xã quyết định tính hiệu lực của nhiều chính sách được thực hiện ở khu vực nông thôn Việc cán bộ không chuyên trách ở nhiều địa phương xin nghỉ việc mặc dù đã được đưa vào diện quy hoạch nguồn cho bộ máy chuyên trách trong tương lai đang đặt ra yêu cầu cần thiết phải xem lại chính sách đãi ngộ và cách thức thực thi chính sách này ở cơ sở Đan Phượng là một huyện ngoại thành thủ

đô Hà Nội, toàn huyện có 15 xã, 1 thị trấn; số thôn, tổ dân phố, cụm dân cư 126 (UBND huyện Đan Phượng, 2017) Số lượng những người hoạt động không chuyên trách khoảng 1.023 người đang tham gia và các nhiệm vụ của họ và khác nhau của bộ máy từ xã đến thôn Từ những vấn đề nêu trên và trước yêu cầu, đòi hỏi mới đối với những người hoạt động không chuyên trách xã cho thấy cần thiết phải tiếp tục nghiên cứu cả về lý luận và thực tiễn để đề ra các giải pháp góp phần tiếp tục hoàn thiện chế độ, chính sách đối với những người hoạt động không chuyên trách xã Xuất phát từ những vấn đề trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

Trang 16

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.2.1 Mục tiêu chung

Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về thực hiện chế

độ đãi ngộ đối với những người hoạt động không chuyên trách để đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện, nâng cao hiệu quả việc thực hiện chế đội đãi ngộ cho những người hoạt động không chuyên trách trên địa bàn huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội

- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chế độ đãi ngộ đối với những người hoạt động không chuyên trách trên địa bàn huyện Đan Phượng, thành Phố Hà Nội;

1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

- Cơ sở lý luận và thực tiễn để thực hiện chế độ đãi ngộ đối với những người hoạt động không chuyên trách ở địa phương là gì?

- Thực trạng thực hiện chế độ đãi ngộ đối với những người hoạt động không chuyên trách trên địa bàn huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội diễn ra như thế nào?

- Những yếu tố nào ảnh hưởng tới việc thực hiện chế độ đãi ngộ đối với những người hoạt động không chuyên trách ở huyện Đan Phượng, thành phố

Hà Nội?

- Giải pháp nào để hoàn thiện quá trình thực hiện chế độ đãi ngộ đối với những người hoạt động không chuyên trách ở huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội?

1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về thực hiện

Trang 17

chế độ đãi ngộ đối với những người hoạt động không chuyên trách xã và thôn trên địa bàn huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội

+ Thời gian nghiên cứu luận văn từ tháng 6/2017 – 5/2018

- Phạm vi nội dung:

Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng công tác thực hiện chế độ đãi ngộ đối với những người hoạt động không chuyên trách của các xã, thị trấn tại huyện Đan Phượng tập trung vào các nội dung như chế độ lương, phụ cấp, chế độ bảo

hiểm y tế, điều kiện làm việc…

1.5 NH ỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN

Luận văn góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về thực hiện chính sách đãi ngộ đối với những người hoạt động không chuyên trách xã; đánh giá tình hình thực hiện chính sách đãi ngộ đối với những người hoạt động không chuyên trách xã, phân tích các yếu tố ảnh hưởng kết quả thực hiện chính sách đãi ngộ đối với những người hoạt động không chuyên trách xã; từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng chính sách đãi ngộ đối với những người hoạt động không chuyên trách xã trong thời gian tiếp theo

Trang 18

P HẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẾ ĐỘ ĐÃI NGỘ ĐỐI VỐI VỚI NHỮNG NGƯỜI HOẠT ĐỘNG KHÔNG

Chính sách là tập hợp các chủ trương và hành động về phương diện nào đó của nền kinh tế xã hội do chính phủ thực hiện Nó bao gồm mục tiêu mà chính phủ muốn đạt được và cách làm để đạt được mục tiêu đó (Đỗ Kim Chung, 2016) Chính sách công là chính sách của nhà nước, là kết quả cụ thể hóa chủ trương, đường lối của đảnq cầm quyền thành các quyết định, tập hợp các quyết định chính trị có liên quan với nhau, với mục tiêu, giải pháp, công cụ cụ thể nhằm giải quyết các vấn đề thuộc chức năng, nhiệm vụ của nhà nước, duy trì sự tồn tại và phát triển của nhà nước, phát triển kinh tế - xã hội và phục vụ người dân (Văn Tất Thu, 2017)

không chuyên trách

* Cán bộ không chuyên trách cấp xã

- Cán bộ không chuyên trách cấp xã là công dân Việt Nam được bầu cử vào chức danh hoặc được tuyển chọn ký hợp đồng lao động vào làm việc một phần thời gian trong Đảng ủy, UBND và các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội ở cấp

xã, không phải là cán bộ, công chức cấp xã Các chức danh cán bộ không chuyên trách cấp xã có thể được kiêm nhiệm (Nguyễn Đăng Phương Truyền, 2014)

- Cán bộ không chuyên trách cấp thôn là công dân được bầu vào chức danh ở thôn, tổ dân phố, cụm dân cư theo nhiệm kỳ như: Bí thư chi bộ, trưởng, phó thôn, tổ dân phố, cụm dân cư hoặc được bổ nhiệm, tuyển dụng vào các chức danh Công an viên ở thôn, Thôn đội trưởng, Nhân viên y tế thôn (UBND thành phố Hà Nội, 2013)

Trang 19

* Thực hiện chế độ với cán bộ không chuyên trách

Thực hiện chế độ là việc triển khai chính sách, bao gồm việc cụ thể hóa một chính sách hay chương trình thành kế hoạch và các hành động cụ thể của từng

cấp, ngành trong phát triển kinh tế

Tổ chức thực hiện chế độ là quá trình biến các chính sách thành những kết quả trên thực tế thông qua các hoạt động có tổ chức trong bộ máy nhà nước nhằm hiện thực hóa những mục tiêu mà chính sách đề ra

Đãi ngộ cán bộ, công chức nói chung và những người hoạt động không chuyên trách nói riêng bao gồm cả đãi ngộ về vật chất và khuyến khích về tinh thần: tiền lương, thưởng; phụ cấp chức vụ, khu vực, làm thêm giờ, trợ cấp khó khăn; phúc lợi, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, nhà công vụ và các dịch vụ xã hội được bao cấp một phần hoặc toàn bộ; lương hưu, nghỉ ốm, nghỉ đẻ, nghỉ phép hàng năm, tham quan du lịch; sự tôn vinh qua các danh hiệu của cơ quan, ngành

và Nhà nước trao tặng (Chính phủ, 2009, 2013)

Việc thực hiện chính sách nhằm đạt được các mục tiêu chung của chính sách, thông qua các giải pháp cụ thể Các chính sách có liên quan đến nhiều hoạt động chính trị, kinh tế, xã hội theo những cấp độ khác nhau, nên không thể cùng một lúc giải quyết tất cả các vấn đề có liên quan và cũng không thể đốt cháy giai đoạn của mỗi quá trình Tổ chức thực hiện chế độ để giải quyết các vấn đề trong mối quan hệ biện chứng với mục tiêu cơ bản nhất để thúc đẩy quá trình vận động của cả hệ thống đến mục tiêu chung Thực hiện chế độ để khẳng định tính đúng đắn của chính sách Qua thực thi giúp cho chính sách ngày càng hoàn thiện (Nguyễn Phượng Lê, 2015)

Theo Đỗ Kim Chung (2011), nội dung thực hiện chính sách bao gồm các bước cơ bản sau:

a Chuẩn bị triển khai chính sách

Đây là bước cần thiết và quan trọng vì tổ chức thực hiện chế độ là quá trình phức tạp và diễn ra trong thời gian dài, do đó phải được chuẩn bị trước khi đưa chính sách vào cuộc sống Các văn bản chính sách thường được xây dựng mang tính định hướng và khái quát cao Vì vậy, khi đưa vào thực hiện, các chính sách hay chương trình đó cần được chuẩn bị sao cho phù hợp với điều kiện kinh tế địa phương, công tác chuẩn bị bao gồm: xây dựng cơ quan tổ chức thực thi; xây dựng

Trang 20

chương trình hành động (lập kế hoạch về tổ chức, vật lực, nhân lực…); ra văn bản hướng dẫn; tổ chức tập huấn cán bộ thực thi chính sách, trong trường hợp này là thực thi chế độ đối với cán bộ công chức không chuyên trách cấp xã

b Phổ biến, tuyên truyền chính sách

Đây là công đoạn tiếp theo sau khi chính sách đã được thông qua Công đoạn này cần thiết vì nó giúp đối tượng hưởng lợi và các cấp chính quyền hiểu được về chính sách, giúp chính sách được triển khai thuận lợi, có hiệu quả Đồng thời còn giúp cho mỗi cán bộ, công chức có trách nhiệm tổ chức thực thi nhận thức được đầy đủ tính chất, trình độ, quy mô của chính sách và đời sống xã hội

để chủ động tích cực tìm kiếm các giải pháp thích hợp cho việc thực hiện mục tiêu chính sách và triển khai thực thi có hiệu quả kế hoạch tổ chức thực hiện chính sách được giao

Công tác tuyên truyền chính sách là việc truyền bá, giáo dục, giải thích nhằm chuyển biến và nâng cao về nhận thức; bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm, xây dựng thành niềm tin; thúc đẩy mọi người hành động một cách tự giác, nhằm thực hiện thắng lợi những mục tiêu, nhiệm vụ đề ra

Công tác tuyên truyền chính sách là hoạt động có mục đích, có kế hoạch để giúp việc phổ biến, giải thích cho người dân có thể hiểu rõ, hiểu đúng về nội dung chính sách Công tác tuyên truyền đóng vai trò vô cùng quan trọng để từ đó kêu gọi sự nhất trí, đồng thuận cao trong nhận thức và hành động, thực hiện được các mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ đã đề ra từ phía người dân, đối tượng thụ hưởng, từ đó họ có thể nhận thức đúng, hành động đúng và đạt hiệu quả cao (Đào Tuấn Anh, 2014)

c Phân công phối hợp thực hiện chính sách

Một chính sách thường được thực thi trên một địa bàn rộng lớn và nhiều tổ chức tham gia, do đó phải có sự phối hợp, phân công hợp lý giữa các cấp, các ngành, các tổ chức cá nhân để hoàn thành tốt nhiệm vụ Mặt khác, các hoạt động thực thi có mục tiêu rất đa dạng, phức tạp nên cần có sự phối hợp giữa các cấp, các ngành để triển khai chính sách được thống nhất, hiệu quả

Chính phủ đều đã có quy định cụ thể về chức năng của cơ quan quản lý điều hành và thực hiện chính sách trong các văn bản chính sách được ban hành Tuy nhiên, ở cấp huyện, cơ quan điều hành phải được tổ chức đủ mạnh để có thể phát huy sức mạnh của tất cả các tổ chức cá nhân và toàn hệ thống chính trị trên địa bàn

Trang 21

huyện, nâng cao tính hiệu lực và hiệu quả của cơ quan quản lý chương trình, đảm bảo rõ ràng, phân định rõ trách nhiệm của các cấp, ngành và các đơn vị, tổ chức tham gia

Đội ngũ nhân lực cho thực thi chế độ với cán bộ không chuyên trách bao gồm đội ngũ cán bộ lãnh đạo và chuyên môn các ngành cấp tỉnh và huyện, cấp

xã, thôn Đội ngũ cán bộ này cần phải có kiến thức và kỹ năng trong việc thẩm định các báo cáo cũng như cập nhật thường xuyên các điều chỉnh, thay đổi trong việc triển khai các chế độ đãi ngộ đối với cán bộ không chuyên trách ở cấp địa phương (Đào Tuấn Anh, 2014)

d Duy trì chính sách

Duy trì chính sách là làm cho chính sách tồn tại được và phát huy hết tác dụng trong môi trường thực tế Muốn cho chính sách được duy trì, đòi hỏi phải có sự đồng tâm, hợp lực của cả người tổ chức, người thực thi và môi trường tồn tại Phần lớn nguồn lực thực hiện chế độ với cán bộ không chuyên trách là từ ngân sách nhà nước

e Điều chỉnh chính sách

Đây là việc làm cần thiết, diễn ra thường xuyên trong quá trình tổ chức thực hiện chế độ Nó được thực hiện bởi các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, thông thường cơ quan nào lập chính sách đó thì có thẩm quyền điều chỉnh Tuy nhiên trên thực tế việc điều chỉnh các vấn đề của chính sách diễn ra rất năng động, linh hoạt, vì thế cơ quan Nhà nước các ngành, các cấp chủ động điều chỉnh để thực hiện hiệu quả chính sách

f Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách

Mọi hoạt động triển khai đều cần kiểm tra, đôn đốc để đảm bảo chính sách được thực hiện đúng và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực Các cơ quan Nhà nước thực hiện việc kiểm tra này và nếu tiến hành thường xuyên sẽ giúp đối tượng thực thi nắm vững được tình hình thực hiện chế độ, phát hiện được những thiếu sót

để điều chỉnh và có được những kết luận chính xác nhất về chính sách, đồng thời tạo sự tập trung thống nhất trong việc thực hiện mục tiêu chính sách

g Đánh giá tổng kết kinh nghiệm, hoàn thiện chính sách

Đây là quá trình xác nhận kết quả hoạt động của chính sách và tác động của chính sách đến tất cả các khía cạnh về văn hóa – kinh tế - xã hội Quá trình này được hiểu là quá trình xem xét, kết luận về chỉ đạo – điều hành và chấp hành

Trang 22

chính sách của các đối tượng thực hiện chế độ Hoạt động này được tiến hành thường xuyên và liên tục trong thời gian duy trì chính sách, với việc đánh giá từng phần hay toàn bộ chính sách

ngộ những người hoạt động không chuyên trách

a Yêu cầu thực hiện đúng mục tiêu

Đây là yêu cầu quan trọng đầu tiên để thu hút mọi hoạt động thực hiện chính sách chế độ theo một định hướng Thực hiện chính sách về chế độ đãi ngộ

là những hoạt động cụ thể của các cơ quan quản lý nhà nước và các đối tượng chính sách nhằm đạt những mục tiêu trực tiếp Ứng với một mục tiêu trực tiếp này là những chương trình, dự án cụ thể Kết quả thực hiện chế độ theo quá trình hoạt động trong từng thời kỳ được lượng hóa bằng những thước đo cụ thể Tổng hợp kết quả thực hiện mục tiêu của các chương trình, dự án và các hoạt động thực thi khác thành mục tiêu chung của chính sách Theo nguyên lý vận động đó, muốn thực hiện thành công các chính sách, Nhà nước phải xác định mục tiêu của từng chính sách cụ thể, rõ ràng và chuẩn xác Đồng thời các cơ quan chuyên trách phải triển khai được mục tiêu chính sách thành những kế hoạch và chương trình cụ thể

b Yêu cầu đảm bảo tính hệ thống

Tổ chức thực hiện chế độ là một bộ phận cấu thành trong chu trình chính sách Nó kết hợp chặt chẽ với các bộ phận khác trong chu trình tạo nên một hệ thống thống nhất Ngay quá trình tổ chức thực thi cũng bao gồm nhiều bước hợp thành một hệ thống, vì thế khi tiến hành tổ chức thực hiện chế độ cần thiết phải đảm bảo tính hệ thống trong mỗi quá trình Nội dung của tính hệ thống bao gồm:

hệ thống mục tiêu và biện pháp của chính sách; hệ thống trong tổ chức bộ máy tổ chức thực hiện chế độ; hệ thống trong điều hành, phối hợp thực hiện; hệ thống sử dụng công cụ chính sách với các công cụ quản lý khác của Nhà nước Điều này

có thể thấy trong thực tế các địa phương không coi trọng bước phổ biến, tuyên truyền chính sách nên nhiều đối tượng chính sách và cán bộ, công chức duy trì trực tiếp không hiểu rõ về mục tiêu chính sách Họ suy diễn, cải biến cả mục tiêu

và biện pháp chính sách, làm cho chính sách rất khó đi vào cuộc sống

Tuy vậy chúng ta cũng không nên thực hiện một cách quá máy móc lộ trình

và phương pháp thực hiện chế độ của Nhà nước Tùy theo những điều kiện cụ

Trang 23

thể, từng địa phương, từng vị trí, chức danh để có những chính sách đãi ngộ, chính sách tuyển dụng, đào tạo, chính sách huy động các nguồn lực để đảm bảo thực hiện chế độ đãi ngộ phù hợp với mức độ hoàn thành công việc của vị trí đảm nhận Mặt khác cũng cần cụ thể hóa những chính sách để thực thi một cách nhanh chóng, chính xác và kịp thời, giảm bớt những thủ tục không cần thiết

c Yêu cầu các cơ quan nhà nước phải đảm bảo tính khoa học, hợp lý trong tổ chức thực hiện chính sách

Yêu cầu này đòi hỏi hệ thống bộ máy quản lý nhà nước phải gọn, nhẹ đủ năng lực tổ chức thực hiện chế độ theo quy trình khoa học Tính khoa học thể hiện trong quá trình tổ chức thực thi sách và việc phối hợp nhịp nhàng giữa các

cơ quan quản lý chính sách, việc thu hút các nguồn lực hướng mạnh vào thực

hiện mục tiêu chính sách, hình thức các chương trình, dự án để thực hiện có hiệu quả một chính sách Quy trình thực hiện chế độ lại chịu ảnh hưởng của nhiều yếu

tố khi nó được triển khai vào đời sống xã hội Bởi vậy tính khoa học của quá trình tổ chức thực hiện chế độ phải thể hiện được sức sống để tồn tại trong thực

tế như: mục tiêu cụ thể của chính sách phải phù hợp với mục tiêu phát triển của từng địa phương trong từng thời kỳ; các biện pháp thực hiện mục tiêu chính sách phải tương ứng với trình độ nhận thức và tài nguyên của vùng hay của địa phương…Như vậy, không thể thực hiện các bước theo quy trình khoa học một cách máy móc Tùy theo tình hình thực tê mà lựa chọn cách thức tổ chức thực hiện chế độ cho phù hợp Tuy vậy quá trình vận dụng vẫn phải tuân theo các nguyên tắc pháp lý để đảm bảo tính tập trung, thống nhất trong chấp hành chính sách Tính pháp lý được thể hiện trong tổ chức thực hiện chế độ là việc chấp hành các định chế về thực hiện chế độ như: trách nhiệm, quyền hạn của các tổ chức, cá nhân được giao thực hiện chế độ, thủ tục giải quyết các mối quan hệ trong thực hiện chế độ, cưỡng chế thực hiện chính sách trong những trường hợp cần thiết

d Yêu cầu đảm bảo lợi ích thật sự cho các đối tượng thụ hưởng

Trong xã hội tồn tại nhiều nhóm lợi ích, các nhóm lợi ích lại biến động theo không gian và thời gian Tùy theo tính chất của mỗi xã hội, mà các nhóm lợi ích sẽ được thụ hưởng khác nhau Dưới chế độ xã hội tư bản, nhóm lợi ích thuộc giai cấp tư sản thường được quan tâm bảo vệ và được đối xử ưu ái hơn nhiều so với tầng lớp lao động Nhà nước thường ra tay bảo vệ và chuyển lợi ích đến các

Trang 24

đối tượng thụ hưởng trong xã hội bằng chính sách Để công cụ này phát huy tác dụng, cần phải có sự hưởng ứng thực hiện một cách tự giác trên cơ sở lòng tin của dân chúng vào chính sách của Nhà nước Kết quả trên có được chỉ khi chính sách thật sự mang lại lợi ích cho mỗi đối tượng thực hiện và toàn xã hội (Nguyễn Phượng Lê, 2015)

2.1.2 Vai trò của thực hiện chế độ đối với người hoạt động không chuyên trách

Chế độ, chính sách là do con người tạo ra, nhưng đồng thời chính sách lại tác động mạnh mẽ đến hoạt động của con người Chính sách có thể mở đường, là động lực thúc đẩy tính tích cực, khả năng sáng tạo, nhiệt tình, trách nhiệm của mỗi con người, nhưng cũng có thể kiềm hãm những hoạt động, làm thui chột tài năng, sáng tạo của họ Vì vậy, có thể khẳng định rằng chất lượng cán bộ luôn gắn liền với hệ thống chính sách cán bộ Chính sách cán bộ còn góp phần ổn định, phát triển và tiến bộ xã hội, bảo đảm cho mọi người sống trong bình đẳng, phát triển hài hòa

Chế độ, chính sách cán bộ giữ vai trò quan trọng trong chiến lược của Đảng

về đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và quản lý cán bộ, đồng thời có tác dụng thúc đẩy

và giúp cho chính sách kinh tế - xã hội đạt được mục tiêu

Thực hiện chế độ đãi ngộ tốt với cán bộ không chuyên trách cấp xã sẽ tác động tới nhiều mặt:

- Đảm bảo duy trì được số lượng cán bộ không chuyên trách cho nhu cầu hoạt động của địa phương, đồng thời có thể bồi dưỡng, sắp xếp cán bộ kế cận ở địa phương từ không chuyên trách thành cán bộ chuyên trách được thuận lợi, dễ dàng hơn

- Đảm bảo để cán bộ không chuyên trách có thể yên tâm công tác với khối lượng công việc lớn và chế độ phù hợp với yêu cầu công việc, đặc biệt là việc hưởng “phụ cấp” không quá thấp, đảm bảo cuộc sống và được hưởng các chế độ phù hợp, kể cả bảo hiểm xã hội

- Thu hút được đội ngũ cán bộ vào làm công tác này, góp phần tích cực thay đổi đời sống kinh tế - xã hội địa phương Đặc biệt với chế độ đãi ngộ phù hợp, cán bộ không chuyên trách trong trường hợp tổ chức giao nhiệm vụ bắt buộc phải làm có thể tập trung, làm việc hiệu quả và giữ chân những cán bộ có trình độ năng lực làm việc trong các cơ quan nhà nước

Trang 25

2.1.3 Đặc điểm của thực hiện chế độ đãi ngộ đối với người hoạt động không chuyên trách

- Mức lương và chế độ phụ cấp

Những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã được hưởng chế độ đãi ngộ theo Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã và Nghị định 29/2013/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 92/2009/NĐ-

CP Theo Nghị định số 92/2009/NĐ-CP, Ngân sách trung ương hỗ trợ các địa phương theo mức bình quân bằng 2/3 so với mức lương tối thiểu chung cho mỗi người hoạt động không chuyên trách Tuy nhiên, theo Nghị định 29/2013/NĐ-

CP, Ngân sách trung ương thực hiện khoán quỹ phụ cấp, bao gồm cả 3% bảo hiểm y tế để chi trả hằng tháng đối với những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã Cụ thể, cấp xã loại 1 được khoán quỹ phụ cấp bằng 20,3 tháng lương tối thiểu chung; cấp xã loại 2 được khoán quỹ phụ cấp bằng 18,6 tháng lương tối thiểu chung; cấp xã loại 3 được khoán quỹ phụ cấp bằng 17,6 tháng lương tối thiểu chung Tức là các cán bộ không chuyên trách không được hưởng chế độ tăng phụ cấp theo thang bảng lương mà áp dụng phụ cấp dưới hình thức quỹ khoán phụ cấp của đơn vị Điều này cho thấy các cán bộ không chuyên trách cấp xã chỉ được hưởng phụ cấp mà không được hưởng lương, mức phụ cấp tương đối thấp cũng

Những người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố cũng được

áp dụng chế độ, chính sách trên

- Bảo hiểm y tế

Theo quy định tại Nghị định số 92/2009/NĐ-CP là mỗi thôn, tổ dân phố được bố trí không quá 3 người cán bộ không chuyên trách, mức phụ cấp mỗi người không quá 1,0 hệ số mức lương tối thiểu chung, thì tại Nghị định mới ban hành quy định Ngân sách trung ương thực hiện khoán quỹ phụ cấp, bao gồm cả 3% bảo hiểm y tế để chi trả hằng tháng đối với những người hoạt động không chuyên trách ở mỗi thôn, tổ dân phố như sau:

Đối với thôn thuộc xã trọng điểm, phức tạp về an ninh, trật tự theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền; thôn thuộc xã biên giới, hải đảo; thôn thuộc xã

có khó khăn về ngân sách theo quy định của Bộ Tài chính và thôn thuộc xã loại

1, xã loại 2 được khoán quỹ phụ cấp bằng 5,0 tháng lương tối thiểu chung;

Trang 26

Đối với các thôn còn lại và các tổ dân phố được khoán quỹ phụ cấp bằng 3,0 tháng lương tối thiểu chung

Cán bộ cấp xã là người đang hưởng chế độ hưu trí hoặc trợ cấp mất sức lao động, ngoài lương hưu hoặc trợ cấp mất sức lao động hiện hưởng, hàng tháng được hưởng 90% mức lương bậc 1 của chức danh hiện đảm nhiệm theo quy định

và không phải đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế Riêng đối với Chủ tịch Hội Cựu chiến binh cấp xã thì chế độ có sự thay đổi như sau: nếu là người đang hưởng chế độ hưu trí, ngoài lương hưu hiện hưởng, hằng tháng được hưởng 100% mức lương bậc 1 của chức danh hiện đảm nhiệm theo quy định và không phải đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế Sau thời gian đủ 5 năm (60 tháng) xếp bậc 1, nếu hoàn thành nhiệm vụ được giao và không bị kỷ luật trong suốt thời gian này thì được hưởng 100% mức lương bậc 2 của chức danh đảm nhiệm

- Chế độ làm việc

Cán bộ không chuyên trách hiện nay chưa được quy định cụ thể chế độ làm việc và còn rất nhiều khó khăn, vướng mắc Cán bộ không chuyên trách nhưng vẫn phải làm toàn thời gian như công chức phường, xã, thậm chí có khi phải làm thêm tới hết giờ mới hết việc Tuy nhiên, chế độ chính sách dành cho họ thì lại quá thấp, không thu hút được người có năng lực về công tác, nếu có cũng không giữ chân được họ

- Chế đào tạo, bồi dưỡng

Những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ hiện đang đảm nhiệm; khi được

cử đi đào tạo, bồi dưỡng, được hưởng chế độ như quy định tại khoản 2 Điều 12 Nghị định 92/209/NĐ-CP cụ thể: “ khi được cử đi đào tạo, bồi dưỡng, được hưởng chế độ như sau: được cấp tài liệu học tập; được hỗ trợ một phần tiền ăn trong thời gian đi học tập trung; được hỗ trợ chi phí đi lại từ cơ quan đến nơi học tập” (Chính phủ, 2009)

2.1.4 Nội dung nghiên cứu thực hiện chế độ đãi ngộ đối với những người hoạt động không chuyên trách

Trước đây, khi chưa có văn bản thống nhất quy định về cán bộ, công chức thì tất cả những người làm việc trong các cơ quan, đơn vị của Đảng, Nhà nước và

tổ chức chính trị - xã hội đều được gọi chung “cán bộ” hoặc “cán bộ, công chức”

Trang 27

hay “cán bộ, công nhân viên chức” Ở cấp xã cũng vậy, chưa có sự phân định rõ ràng, cụ thể nào về “cán bộ cấp xã, công chức cấp xã” và “những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã” (Hội đồng Bộ trưởng, 1975)

Nghị định số 121/2003/NĐ-CP ra đời đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc xác định chế độ, chính sách đối với đội ngũ ngũ cán bộ cấp cơ sở Tuy nhiên Nghị định này ra đời trên cơ sở hướng dẫn thi hành Pháp lệnh Cán bộ, công chức nên khi Luật Cán bộ, công chức năm 2008 ra đời, Chính phủ đã ban hành Nghị định 92/2009/NĐ-CP bãi bỏ Nghị định số 121/2003/NĐ-CP và trong Nghị định này, Chính phủ sử dụng thuật ngữ “những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã” để phù hợp và thống nhất với Luật Cán bộ, công chức năm 2008

Mặc dù Luật Cán bộ, công chức năm 2008 cũng như Nghị định số 92/2009/NĐ-CP sử dụng thuật ngữ “những người hoạt động không chuyên trách

ở cấp xã” nhưng hiện nay, trong nhiều văn bản quản lý nhà nước của trung ương cũng như trong các văn bản quản lý nhà nước của một số địa phương lại sử dụng thuật ngữ “cán bộ không chuyên trách ở cấp xã”, cá biệt có địa phương còn sử dụng thuật ngữ “cán bộ hoạt động không chuyên trách ở cấp xã” hoặc sử dụng thuật ngữ “cán bộ bán chuyên trách cấp xã” để chỉ nhóm đối tượng này Điều này

đã tạo nên sự thiếu thống nhất trong việc sử dụng các thuật ngữ để chỉ về cùng một nhóm đối tượng làm việc tại cấp xã

Bên cạnh đó, trong các văn bản quản lý nhà nước hiện hành vẫn chưa có văn bản nào đưa ra một khái niệm rõ ràng, đầy đủ về “những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã” cũng như chưa có những quy định về nhiệm vụ, trách nhiệm của các chức danh không chuyên trách này

Theo Nghị định số 92/2009/NĐ-CP của Chính phủ và hướng dẫn của Thông tư liên tịch số 03/2010/TTLT-BNV-BTC-BLĐTBXH ngày 27/5/2010 của

Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thì số lượng những người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn loại 1 không quá 22 người; ở xã, phường thị trấn loại 2 không quá 20 người; ở xã, phường, thị trấn loại 3 không quá 19 người Tuy nhiên, quy định này chỉ mới dừng lại ở việc quy định khung số lượng còn việc quy định tên gọi cụ thể các chức danh không chuyên trách ở cấp xã thì vẫn chưa được xác định Nghị định số 92/2009/NĐ-CP trao thẩm quyền này cho chính quyền địa phương cấp tỉnh quy định (UBND cấp tỉnh trình HĐND cùng cấp quy định chức danh những người hoạt động không chuyên trách) Nếu như trước đây, Nghị định số 121/2003/NĐ-CP của Chính phủ

Trang 28

liệt kê cụ thể các chức danh của nhóm đối tượng không chuyên trách thì Nghị định số 92/2009/NĐ-CP không quy định cụ thể các chức danh không chuyên trách mà tạo điều kiện linh hoạt cho các địa phương quy định Điều này mặc dù phù hợp với xu thế phân cấp trong hoạt động quản lý nhà nước, tạo sự chủ động cho chính quyền địa phương, tuy nhiên chính quy định này đã dẫn đến tình trạng mỗi địa phương đưa ra những quy định về các chức danh rất khác nhau, không thống nhất với nhau

Sự không thống nhất thể hiện trong việc quy định tên gọi của các chức danh này ở các địa phương Ví dụ chức danh của người làm công tác tuyên giáo có địa phương quy định là “cán bộ tuyên giáo”, có địa phương lại quy định là “Trưởng ban Tuyên giáo”; chức danh của người làm công tác tổ chức của Đảng ủy cấp xã

có nơi gọi là “cán bộ tổ chức”, có nơi gọi là “Trưởng ban Tổ chức Đảng ủy”; chức danh làm công tác văn phòng Đảng ủy có nơi gọi là “Thường trực Văn phòng Đảng ủy” có nơi gọi là “cán bộ Văn phòng Đảng ủy”; chức danh làm công tác dân vận thì có nơi gọi là “Thường trực Khối dân vận”, có nơi gọi là “Trưởng ban Dân vận” hoặc “cán bộ dân vận”; chức danh làm công tác kiểm tra thì có nơi gọi là “cán bộ kiểm tra” nơi gọi là “Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Đảng”, Việc các địa phương quy định về cùng một chức danh nhưng đưa ra cách gọi tên khác nhau là điều không cần thiết Hơn thế nữa, đây là các chức danh của những cán

bộ cơ sở nằm trong hệ thống chính trị cơ sở Do đó khi quy định về “những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã” cần có quy định thống nhất về các chức danh để tránh sự tùy tiện trong quy định của địa phương, ảnh hưởng đến tính thống nhất trong hoạt động quản lý, điều hành

hoạt động không chuyên trách

a Việc ban hành chính sách

Việc ban hành các văn bản chính sách quy định, hướng dẫn thực hiện chế độ đãi ngộ với cán bộ không chuyên trách cấp xã có vai trò vô cùng quan trọng trong việc tạo ra căn cứ pháp lý để các cấp chính quyền địa phương có thể thực hiện tốt

và đầy đủ các chính sách đãi ngộ với nhóm cán bộ này Nếu hệ thống văn bản chính sách về chế độ đãi ngộ với cán bộ công chức cấp xã được ban hành kịp thời, hướng dẫn rõ ràng, cụ thể sẽ tạo điều kiện để những cơ quan, đơn vị có trách nhiệm thi hành có căn cứ xác đáng để triển khai thực hiện và hiệu quả quá trình thực hiện sẽ rất tốt, giúp đem lại động lực làm việc cho các cán bộ không chuyên

Trang 29

Ngược lại, nếu chính sách, văn bản hướng dẫn không rõ ràng, cụ thể sẽ khiến quá trình thực hiện gặp nhiều khó khăn, lúng túng và dẫn tới việc triển khai thực hiện không đạt kết quả

b Tổ chức thực hiện

Chính sách đãi ngộ với người hoạt động không chuyên trách được triển khai với những kết quả được thể hiện trên các phương diện gồm: các khoản có tính chất như lương mà nhóm cán bộ công chức này được hưởng, chế độ bảo hiểm y tế, phụ cấp, chế độ khác như nghỉ ốm, nghỉ đẻ, nghỉ phép hàng năm…

Về kết quả thực hiện chế độ phụ cấp cho những người hoạt không chuyên trách xã: Tại khoản 1 Điều 14 Nghị định 92/2009/NĐ-CP của Chính phủ quy định các đối tượng này chỉ hưởng chế độ phụ cấp và mức phụ cấp không vượt quá 1,0 mức lương tối thiểu chung Năm 2013 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 29/2013/NĐ-CP ngày 08/4/2013 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 92/2009/NĐ-CP Theo đó, Chính phủ không quy định những người hoạt động không chuyên trách cấp xã chỉ hưởng chế độ phụ cấp và mức phụ cấp không vượt quá 1,0 mức lương tối thiểu chung như trước đây mà quy định việc khoán quỹ phụ cấp cho các chức danh này Những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã được hưởng chế độ phụ cấp và chế độ bảo hiểm y tế Ngân sách trung ương thực hiện khoán quỹ phụ cấp, bao gồm cả 3% bảo hiểm y tế để chi trả hằng tháng đối với những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã như sau:

1 Cấp xã loại 1 được khoán quỹ phụ cấp bằng 20,3 tháng lương tối thiểu chung;

2 Cấp xã loại 2 được khoán quỹ phụ cấp bằng 18,6 tháng lương tối thiểu chung;

3 Cấp xã loại 3 được khoán quỹ phụ cấp bằng 17,6 tháng lương tối thiểu chung Chế độ bảo hiểm y tế: Chính phủ cũng đã quy định các chức danh không chuyên trách được hưởng bảo hiểm y tế Trước đây những người hoạt động không chuyên trách cấp xã không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc Tuy nhiên, từ ngày 01/01/2016 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 có hiệu lực thi hành thì những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã cũng thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc với 02 chế độ là hưu trí và tử tuất Vì vậy, cần đánh giá quá trình triển khai và kết quả thực hiện chế độ bảo hiểm y tế này với cán

bộ công chức không chuyên trách cấp xã để thấy được ưu điểm, nhược điểm của quy định từ đó mà đề xuất giải pháp can thiệp hiệu quả nhằm đảm bảo quyền lợi cho nhóm đối tượng này Ngoài ra, theo quy định hiện nay, ngoài mức phụ cấp

Trang 30

hàng tháng “có tính chất như lương” thì những người hoạt động không chuyên trách cấp xã không được hưởng một số phụ cấp khác như phụ cấp chức vụ, phụ cấp theo loại xã, phụ cấp công vụ Tuy nhiên trong thực tế, chúng ta vẫn chưa có các quy định về chế độ khuyến khích đối với người có trình độ đảm nhận, kiêm nhiệm các chức danh không chuyên trách cấp xã Đồng thời cũng thiếu các quy định về đào tạo, bồi dưỡng cho những người hoạt động không chuyên trách cấp xã

Do đó cần đánh giá chính xác kết quả thực hiện các chế độ này với đội ngũ cán bộ không chuyên trách để tìm giải pháp phù hợp tháo gỡ khó khăn, thu hút cán bộ

tham gia vào lĩnh vực này

c Huy động nguồn lực để thực hiện

Theo quy định tại Điều 10 của Thông tư Liên tịch số BTC-BLĐTB&XH thì nguồn kinh phí để thực hiện chế độ, chính sách đối với với những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã và ở thôn, tổ dân phố được ngân sách Trung ương hỗ trợ bình quân bằng 2/3 mức lương tối thiểu chung/người/tháng, số người được quy định theo từng xã (xã loại 1 được bố trí tối đa không quá 22 người; xã loại 2 được bố trí tối đa không quá 20 người, xã loại 3 được bố trí tối đa không quá 19 người) Nhu cầu kinh phí tăng thêm để thực hiện chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức cấp xã; những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã và thôn, tổ dân phố; cán bộ xã già yếu, nghỉ việc được giải quyết bằng nguồn kinh phí thực hiện cải cách chế độ tiền lương theo quy định Nguồn kinh phí truy nộp bảo hiểm xã hội hàng tháng cho các đối tượng cán bộ cấp xã có thời gian giữ chức danh khác thuộc Ủy ban nhân dân do ngân sách địa phương bảo đảm Nguồn kinh phí thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội cho cán bộ, công chức cấp xã do quỹ Bảo hiểm xã hội đảm bảo Tại Hà Nội, Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội đã ban hành Nghị quyết số 08/2013/NQ-HĐND ngày 17/7/2013, đồng thời UBND thành phố Hà Nội đã ban hành Quyết định số 31/2013/QĐ-UBND ngày 06/8/2013 về số lượng, chức danh mức phụ cấp đối với những người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn và

03/2010/TTLT-BNV-ở thôn, tổ dân phố trên địa bàn thành phố Hà Nội Theo văn bản này một số chức danh không chuyên trách được quy định trên 1.0 bằng nguồn ngân sách địa phương như: Chức danh Chỉ huy phó BCH quân sự xã, Phó trưởng Công an xã

hệ số 1,86; Trưởng đài truyền thanh xã; Văn phòng Đảng ủy được hưởng hệ số 1,46 mức lương tối thiểu chung

d Đánh giá sự phù hợp chế độ đãi ngộ của cán bộ không chuyên trách

Trang 31

Bên cạnh đánh giá về kết quả, cần làm rõ hiệu quả của việc thực hiện chế độ đãi ngộ với cán bộ không chuyên trách như việc thực hiện chế độ đãi ngộ này đã đáp ứng được nhu cầu đối với người lao động hay chưa Theo quy định tại Quyết định số 31/2013/QĐ-UBND của UBND Thành phố Hà Nội quy định việc khuyến khích cán bộ, công chức cấp xã kiêm nhiệm các chức danh không chuyên trách ở cấp xã; người hoạt động không chuyên trách cấp xã và ở thôn, tổ dân phố kiêm nhiệm chức danh không chuyên trách khác được hưởng phụ cấp kiêm nhiệm bằng 30% mức phụ cấp chức danh không chuyên trách kiêm nhiệm Trường hợp kiêm nhiệm nhiều chức danh cũng chỉ được hưởng một mức phụ cấp chức danh cao nhất (khoản 3, điều 1, Quyết định số 31/2013/QĐ-UBND của UBND thành phố Hà Nội) Điều này có ảnh hưởng rất lớn tới việc khích lệ, động viên hay giảm khả năng làm việc của những người hoạt động không chuyên trách xã kiêm nhiệm vì chế độ kiêm nhiệm thấp, trách nhiệm công việc không thay đổi

e Đánh giá về các khoản đãi ngộ khác

Nghiên cứu đánh giá đãi ngộ bao gồm cả đãi ngộ về vật chất và khuyến khích về tinh thần với cán bộ không chuyên trách cấp xã trên các phương diện phụ cấp chức vụ, khu vực, làm thêm giờ, trợ cấp khó khăn; phúc lợi, bảo hiểm xã hội, nhà công vụ và các dịch vụ xã hội được bao cấp một phần hoặc toàn bộ; lương hưu, nghỉ ốm, nghỉ đẻ, nghỉ phép hàng năm, tham quan du lịch; sự tôn vinh qua các danh hiệu của cơ quan, ngành và Nhà nước trao tặng Nếu làm tốt,

sẽ tạo động lực thu hút đội ngũ cán bộ không chuyên trách chuyên tâm với công việc và gắn bó lâu dài, tuy nhiên nếu thực hiện không tốt, đây có thể là lý do khiến các xã, phường sẽ khó có thể có đội ngũ cán bộ nhóm này hoạt động tiếp trong thời gian sắp tới

2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chế độ đãi ngộ đối với những người hoạt động không chuyên trách

Thông qua các hình thức phổ biến, tuyên truyền qua tivi, đài báo, hệ thống loa phát thanh, qua cán bộ xã, thôn, cụm dân cư, hội nghị, hội thảo, giám sát mà cán bộ, công chức, cán bộ không chuyên trách biết đến chính sách đãi ngộ đối với những người hoạt động không chuyên trách được triển khai trên địa bàn huyện, biết đối tượng được hưởng, nội dung chính sách về chế độ Bảo hiểm, mức phụ cấp chính, mức phụ cấp kiêm nhiệm, chế độ khen thưởng, động

Trang 32

viên, chế độ đào tạo, bồi dưỡng, cơ hội trở thành cán bộ công chức đồng thời giúp họ biết về diều kiện tuyển dụng, điều kiện làm việc Từ đó họ biết mình được hưởng những chế độ chính sách gì khi được tuyển dụng vào làm cán bộ không chuyên trách xã, cũng nhưng chức năng, nhiệm vụ của mình? Vì vậy, công tác phổ biến, tuyên truyền về chính sách là một trong những nhân tố có ảnh hưởng đến quá trình thực thi chính sách

Năng lực là sự liên kết mang tính tổng hợp giữa kiến thức, kỹ năng và thái

độ, có ảnh hưởng đến công việc; chúng tương quan lẫn nhau trong quá trình thực thi nhiệm vụ Năng lực thực thi công vụ của đội ngũ công chức hành chính bao gồm nhiều yếu tố, như trình độ, năng lực được đào tạo, kỹ năng, kinh nghiệm trong công tác cũng như tinh thần, thái độ thực thi công vụ

Nâng cao năng lực thực thi công vụ của đội ngũ công chức hành chính là một quá trình lâu dài, với những nỗ lực tổng thể, liên quan đến nhiều yếu tố, nhiều khâu, từ công tác tuyển dụng, sắp xếp, bố trí, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng đến chế độ, chính sách, công tác quản lý, đánh giá, thi đua - khen thưởng,… (Phương Loan, 2017)

Việc thực hiện chính sách có đem lại hiệu quả hay không còn phụ thuộc vào trình độ, sự hiểu biết của các đối tượng thụ hưởng, đó là nhân tố ảnh hưởng đến việc thực thi chính sách Một số doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân, hộ gia đình thụ động, có tâm lý ỷ lại, trông chờ nhiều vào hỗ trợ của Nhà nước, dẫn đến không có ý chí làm ăn gây ảnh hưởng đến kết quả thực thi chính sách trên địa bàn (Nhữ Thị Duyên, 2013)

2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ THỰC HIỆN CHẾ ĐỘ ĐÃI NGỘ ĐỐI VỐI VỚI NHỮNG NGƯỜI HOẠT ĐỘNG KHÔNG CHUYÊN TRÁCH

2.2.1 Kinh nghiệm thực hiện chế độ đãi ngộ cho cán bộ trên thế giới

Chủ yếu thu nhập của công chức Hoa Kỳ là lương, ngoài ra, cũng có rất nhiều hình thức phúc lợi khác Quốc Vụ viện có các loại phụ cấp như: phụ cấp tăng

ca, phụ cấp ca đêm, phụ cấp ngày nghỉ và phụ cấp khu vực Các phúc lợi khác bao gồm chi phí bảo hiểm như bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe, bảo hiểm thương

Trang 33

tật Thu nhập bao gồm các loại trợ cấp, bảo hiểm ngoài lương của công chức gọi là

“ưu đãi tiểu ngạch”, trên thực tế là thu nhập mang tính bổ sung của công chức, đối với công chức hành chính thông thường chiếm đến 41% lương, cảnh sát có chức vụ cao phải chiếm đến 46% lương Ngoài ra, công chức sau khi được nhận vào làm từ 6 tháng đến 12 tháng thì có tư cách tham gia gửi tiết kiệm, tiết kiệm cao nhất có thể chiếm đến 10% lương Năm 1954, Hoa Kỳ ban hành Luật Bảo hiểm nhân thọ đoàn thể nhân viên liên bang” (Group life Insurance Act), và căn cứ theo luật này để xây dựng danh mục bảo hiểm nhân thọ lớn nhất trên thế giới – “Danh mục bảo hiểm nhân thọ đoàn thể nhân viên liên bang” (Federal Employees’ Group Life Insurance, FEGLI), đối tượng bảo hiểm thuộc danh mục này bao gồm tất cả nhân viên liên bang, công chức đã nghỉ hưu và thành viên gia đình họ

Ngoài ra, điều khoản bảo hiểm đối với người lớn tuổi, tàn phế, người hưởng được bảo hiểm theo di chúc trong Luật Bảo hiểm của Hoa Kỳ (OASDI) có quy định trợ cấp đối với người lao động có tư cách trở thành người nhận nuôi dưỡng họ Công chức nghỉ hưu được hưởng phụ cấp bảo hiểm xã hội theo quy định của OASDI mà không có bất kỳ quy định bảo hiểm xã hội đặc thù nào khác Mức trợ cấp nghỉ hưu thấp nhất là bằng giới hạn nghèo của xã hội, mức cao nhất không vượt quá 80% lương trung bình ba năm cuối cùng của công chức Các cơ quan có thẩm quyền căn cứ theo tổn thương hình dạng, thương tật thân thể, mức

độ mất đi một phần năng lực làm việc hay mất đi hoàn toàn năng lực làm việc của công chức để quy định rõ mức phí hỗ trợ thương tật và kỳ hạn lĩnh tiền hỗ trợ Công chức Hoa Kỳ ngoài được hưởng những ngày nghỉ lễ theo quy định thì hàng năm được nghỉ hưởng nguyên lương từ 13 đến 16 ngày, thời gian nghỉ dựa theo năm công tác (Nguyễn Phương Liên, 2016)

Australia được coi là một quốc gia phát triển, đãi ngộ phúc lợi đối với công chức tốt, trong “Điều lệ công chức liên bang” có quy định, công chức ngoài được hưởng các loại đãi ngộ bảo hiểm xã hội ra còn được hưởng các loại phụ cấp đãi ngộ phúc lợi như: phụ cấp làm thêm giờ, phụ cấp công tác, phụ cấp biệt phái công tác, phụ cấp khu vực, phụ cấp xe và phụ cấp bồi thường sự cố Thông thường công chức Australia có các loại ngày nghỉ như: nghỉ phép phục vụ lâu dài, nghỉ phép vui chơi, nghỉ phép thai sản, nghỉ phép ốm đau, nghỉ phép tang lễ Ngoài ra, cá nhân công chức có việc gấp cần giải quyết được phép hàng năm

nghỉ phép đặc biệt 3 ngày hưởng nguyên lương

Trang 34

2.2.1.3 Chế độ phúc lợi và bảo hiểm của công chức Nhật Bản

Danh mục phúc lợi của công chức Nhật Bản rất nhiều, các loại phụ cấp và

hỗ trợ cũng không ít Các loại phụ cấp chủ yếu gồm có hơn 20 loại phụ cấp: phụ cấp nuôi dưỡng, phụ cấp nhà ở, phụ cấp làm thêm, phụ cấp trực ban, phụ cấp trực đêm, lương ngày nghỉ, phụ cấp cuối tuần, phụ cấp công tác đặc biệt, phụ cấp cần mẫn, phụ cấp giao thông, Các loại hỗ trợ chủ yếu đối với công chức Nhật Bản

do nhà nước chi trả gồm có: chi phí hỗ trợ dưỡng bệnh, chi phí hỗ trợ thương bệnh, chi phí hỗ trợ tàn tật, chi phí hỗ trợ tu nghiệp, chi phí hỗ trợ gia quyến Con

số cụ thể của phụ cấp đều căn cứ “Luật tiền thưởng” chấp hành Có thể nói, tổng thu nhập nghỉ hưu của công chức Nhật Bản có thể được coi là cao nhất trong các quốc gia tư bản chủ nghĩa, một số mục cộng lại còn vượt quá lương gốc

Đãi ngộ phúc lợi và bảo hiểm của công chức Thái Lan tương đối hậu hĩnh, các loại phúc lợi và bảo hiểm được cộng lại, tương đương với khoảng 20% tổng số mức lương công chức Thực tế, Chính phủ Thái Lan rất coi trọng công cuộc hoàn thiện, nâng cao chế độ đãi ngộ phúc lợi và bảo hiểm cho công chức, nhằm khích lệ công chức tận lực tận tâm làm việc, Chính phủ luôn tạo những điều kiện tốt nhất để ổn định đội ngũ công chức Phúc lợi bảo hiểm của công chức Thái Lan có hai loại: một loại là phúc lợi bảo hiểm do pháp luật quy định, tiêu chuẩn do Nhà nước quy định thống nhất, kinh phí do tài chính quốc gia chi trả; một loại khác là đãi ngộ phúc lợi cộng thêm do các đơn vị chủ động tiến hành, kinh phí do các đơn vị tự chi trả Phúc lợi bảo hiểm do Nhà nước quy định gồm có: phụ cấp nuôi dưỡng con cái, trợ cấp giáo dục con cái, phụ cấp sức khỏe y tế, trợ cấp nhà ở, ưu đãi du lịch mua sắm, đãi ngộ kỳ nghỉ, trợ cấp thương tật, trợ cấp tử vong, trợ cấp nghề nghiệp nguy hiểm và đặc thù, học bổng du lịch Đãi ngộ phúc lợi cộng thêm có: hỗ trợ ăn ở cơ quan, tư vấn pháp luật miễn phí, xe đưa đón nhân viên

Nội dung về chế độ phúc lợi của công chức Trung Quốc phong phú nhưng không kém phần phức tạp, bao gồm: Thứ nhất, xây dựng hệ thống phúc lợi nhằm đáp ứng nhu cầu chung của công chức, giảm bớt lao động việc nhà, tiện lợi trong sinh hoạt, đồng thời có được những phục vụ ưu đãi như: nhà ăn, nhà trẻ, trường mầm non, phòng tắm, phòng cắt tóc, viện điều dưỡng Thứ hai, xây dựng hệ

Trang 35

thống phúc lợi nhằm đáp ứng nhu cầu về đời sống tinh thần, nâng cao sức khỏe, văn hóa Ví dụ như: cung văn hóa, câu lạc bộ, thư viện, nhà văn hóa, nhà thi đấu,

bể bơi Thứ ba, xây dựng hệ thống phụ cấp phúc lợi nhằm đáp ứng nhu cầu khác nhau, giảm bớt gánh nặng cuộc sống, ví dụ như: phụ cấp giao thông đi làm và tan

ca, phí dọn dẹp, phụ cấp thuê nhà, phụ cấp giá đồ dùng hàng ngày và trợ cấp cuộc sống khó khăn Trợ cấp cuộc sống khó khăn chia ra làm hai loại là trợ cấp định kỳ

và trợ cấp nhất thời Trợ cấp định kỳ là đối với chi phí sinh hoạt thấp hơn mức thông thường, công chức không thể duy trì cuộc sống bình thường thì được nhận tiền trợ cấp phát hàng tháng Trợ cấp nhất thời là khi công chức gặp phải những khó khăn đặc biệt trong cuộc sống mà không có khả năng giải quyết, ví dụ khó khăn trong cuộc sống như: bệnh tật, tử vong, thiên tai,… sẽ được nhận trợ cấp nhất thời, đối tượng nhận trợ cấp là bản thân công chức hoặc người thân trực tiếp với công chức Ngoài ra, công chức còn được hưởng đãi ngộ y tế công cộng, đãi ngộ nghỉ phép ốm đau, nghỉ phép thai sản và nghỉ phép năm Nguồn kinh phí phúc lợi của công chức dựa theo tỷ lệ tổng mức lương, trích ra từ kinh phí hành chính

Đối với chế độ bảo hiểm gồm có các nội dung như: chế độ bảo hiểm thai sản, chế độ bảo hiểm dưỡng lão, chế độ bảo hiểm bệnh tật, chế độ bảo hiểm thương tật và chế độ bảo hiểm tử vong Từ những quy định theo pháp luật cho thấy, thụ hưởng đãi ngộ bảo hiểm là quyền lợi nên có của công chức, trong “Hiến pháp”, “Luật Lao động” và “Luật Công chức” của Trung Quốc đều quy định rõ

Ví dụ như Điều 77 “Luật Công chức” của Trung Quốc quy định về chế độ bảo hiểm của công chức, bảo đảm công chức trong các trường hợp nghỉ hưu, bệnh tật, tai nạn, thai sản, thất nghiệp,… đều nhận được sự giúp đỡ và bồi thường Bảo hiểm dưỡng lão là một phần trong bảo hiểm mà công chức được hưởng, là một hình thức trợ giúp cho chi phí cá nhân của công chức, Chính phủ và xã hội bảo đảm duy trì quyền lợi hợp pháp của công chức (Nguyễn Phương Liên, 2016)

2.2.2 Kinh nghiệm thực hiện chế độ đãi ngộ cho những người hoạt động không chuyên trách ở Việt Nam

ở tỉnh Quảng Nam

Các chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức và những người hoạt động không chuyên trách cấp xã được thực hiện theo Nghị định số 92/2009/NĐ-CP, Nghị

Trang 36

định số 29/2013/NĐ-CP của Chính phủ và các văn bản hướng dẫn của Trung ương Ngoài ra, tỉnh ban hành Quyết định số 09/2012/QĐ-UBND ngày 29-5-2015 quy định chính sách nghỉ hưu trước tuổi và nghỉ thôi việc đối với cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn, đã giải quyết cho 567 đồng chí nghỉ chế độ với tổng kinh phí hỗ trợ trên 56 tỷ đồng, qua đó tạo điều kiện tuyển dụng, bố trí những người có trình độ, năng lực vào các vị trí cán bộ, công chức xã Bên cạnh đó, để tạo điều kiện cho những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 10/2012/QĐ-UBND ngày 29-5-2012 quy định về chức danh, mức phụ cấp, chế độ, chính sách, mức khoán kinh phí chi trả phụ cấp cho những người hoạt động không chuyên trách cấp xã và ở thôn, tổ dân phố Trong đó, quy định hỗ trợ phụ cấp thêm 0,5 hệ số so với mức lương tối thiểu chung đối với chức danh phó trưởng công

an, phó chỉ huy trưởng quân sự, các chức danh còn lại được hỗ trợ thêm 0,3 hệ số Ngoài ra, người có trình độ đại học được hỗ trợ 0,5; cao đẳng 0,3 hệ số khi được tuyển dụng vào công tác tại cấp xã Quy định cụ thể mức phụ cấp đối với những người hoạt động không chuyên trách ở thôn: bí thư chi bộ được hưởng phụ cấp bằng 0,8 hệ số; trưởng thôn 0,75; phó trưởng thôn kiêm thôn đội trưởng, trưởng ban công tác mặt trận 0,65 Riêng chức danh công an viên là 0,9 Phó bí thư chi bộ, chi hội trưởng hội phụ nữ, hội nông dân, hội cựu chiến binh và bí thư đoàn thanh niên được hưởng phụ cấp hằng tháng bằng 0,3 hệ số so với mức lương tối thiểu chung Quyết định số 10 của UBND tỉnh đã tạo thêm động lực cho cán bộ không chuyên trách cấp

xã công tác và cống hiến, tạo điều kiện cho các địa phương lựa chọn, bố trí người hoạt động không chuyên trách, góp phần tạo nguồn cho đội ngũ cán bộ, công chức

cấp xã có chất lượng (Lê Văn Dũng, 2016)

thành phố Đà Nẵng

Theo Quyết định số 16/2016/QĐ-UBND ngày 25/5/2016 của UBND TP

Đà Nẵng, quy định Tiêu chuẩn về chuyên môn, độ tuổi, sức khỏe đã quy định rõ điều kiện để trở thành những người hoạt đồng không chuyên trách xã, phường, quy định chính sách đối với từng chức danh Toàn bộ những chức danh không chuyên trách xã có mức phụ cấp hàng tháng là 1,0 mức lương tối thiếu theo quy định tại Nghị định 92/2009/NĐ-CP và Nghị định 29/2012/NĐ-CP, ngoài ra Thành phố hỗ trợ thêm để chi trả phụ cấp hàng tháng theo trình độ chuyên môn theo mức lương tối thiểu chung cụ thể: Hỗ trợ 0,52 đối với người không có trình

độ chuyên môn, 0,86 đối với trình độ trung cấp, 1,1 đối với trình độ cao đẳng;

Trang 37

1,34 đối với trình độ ĐH, 1,67 đối với trình độ thạc sĩ Chế độ bảo biểm theo quy định hiện hành Việc Thành phố Đà Nẵng hỗ trợ thêm theo mức chênh lệch để

bảo đảm mức phụ cấp phù hợp với trình độ đào tạo, để cán bộ yên tâm công tác

(UBND TP Đà Nẵng, 2016)

ở phường Vĩnh Tường, thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang

Năm 2017, nhiều cán bộ không chuyên trách ở thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang nghỉ việc nhiều, Thường trực Tỉnh ủy Hậu Giang đã có ý kiến chỉ đạo cấp

ủy cơ sở cần tạo điều kiện thuận lợi về mặt thời gian, sắp xếp thời gian hợp lý để người làm việc không chuyên trách ở cơ sở vừa làm kinh tế vừa yên tâm công tác Theo đó, Ban Thường vụ, Ban Chấp hành Đảng ủy phường Vĩnh Tường đã

tổ chức họp để thảo luận thống nhất việc tạo điều kiện cho cán bộ không chuyên trách chỉ làm việc 3 ngày trong tuần: thứ hai, thứ tư, thứ sáu, dành thời gian còn lại để phát triển kinh tế gia đình Khi được sự chấp thuận của Thị ủy Long Mỹ, Đảng ủy phường đã triển khai thực hiện từ tháng 8-2017 khiến cán bộ không chuyên trách nơi đây rất phấn khởi

Với những cán bộ không chuyên trách có mức phụ cấp ít, nhưng nhiều cán

bộ vẫn luôn nỗ lực hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao như các vị trí, Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ phường Vĩnh Tường, Phó chủ tịch Hội Cựu chiến binh, Phó Chủ tịch Hội nông dân, Phó Bí thư Đoàn thanh niên, Chủ tịch Hội người cao tuổi Đặc biệt, năm qua, sự nỗ lực của các cán bộ này góp phần giúp hoạt động hội và phong trào phụ nữ phường đạt hạng xuất sắc Tuy nhiên với chức danh như Phó Chủ tịch Hội liên hiệp phụ nữ phường, tiền phụ cấp quá thấp, khó trang trải cuộc sống nên khi Đảng ủy phường cho phép cán bộ không chuyên trách được nghỉ làm 2 ngày trong tuần, cán bộ này đã tận dụng thời gian nghỉ này

để buôn bán, tăng thu nhập để có thể an tâm công tác

Theo lãnh đạo phường Vĩnh Tường, đánh giá cán bộ không chuyên trách của phường luôn nỗ lực thực hiện tốt nhiệm vụ dù chỉ hưởng mức phụ cấp thấp Nhiều cán bộ dù được nghỉ vẫn chấp nhận vào cơ quan làm nếu có việc đột xuất

Dù cho phép cán bộ không chuyên trách được nghỉ 2 ngày trong tuần nhưng hiệu quả công việc vẫn được duy trì tốt do sự chủ động của cán bộ với nhiệm vụ được giao Cán bộ không chuyên trách của phường chủ yếu phụ trách hoạt động của khối đảng, đoàn thể, qua đánh giá vào cuối năm 2017, các lĩnh vực này đều đạt

Trang 38

chỉ tiêu Để giảm bớt phần nào khó khăn trong cuộc sống cho cán bộ không

chuyên trách, phường Vĩnh Tường còn phát động thực hiện mô hình “Nuôi heo

đất” để giúp đỡ Theo đó, hàng tháng mỗi cán bộ của phường bỏ ống heo ít nhất

20.000 đồng, đến cuối năm sẽ lấy số tiền đó để mua quà tặng cho cán bộ không

chuyên trách gặp khó khăn…(Trường Sơn, 2018)

Yên Bái

Hiện toàn tỉnh Yên Bái có hàng nghìn cán bộ không chuyên trách ở các

xã, phường, thị trấn Họ là các Phó chủ tịch mặt trận Tổ quốc, Phó chủ tịch các tổ

chức, đoàn thể chính trị - xã hội, chỉ huy phó ban chỉ huy quân sự, phó trưởng

công an các xã, phường, thị trấn Trong những năm qua, lực lượng cán bộ này

đã có nhiều đóng góp trong công tác phát triển kinh tế, xã hội và giữ gìn trật tự

an toàn xã hội tại địa phương Tuy nhiên, đội ngũ cán bộ này không được hưởng

chế độ gì khác ngoài số tiền trợ cấp ít ỏi Đặc biệt, nhiều cán bộ không chuyên

trách cấp xã có quá trình làm việc lâu dài nhưng đến tuổi nghỉ hưu lại không có

chế độ gì nên dẫn đến tâm lý không yên tâm công tác Để ghi nhận đóng góp các

cán bộ cấp xã, phường, Luật BHXH năm 2014 có hiệu lực kể từ ngày 1/1/2016,

trong đó quy định người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn

thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc Đồng thời, quy định người tham gia

BHXH đã đủ điều kiện về tuổi để hưởng lương hưu theo quy định nhưng thời

gian đóng BHXH chưa đủ 20 năm thì được lựa chọn đóng BHXH tự nguyện cho

đến khi đủ 20 năm để hưởng lương hưu

Với cương vị Phó chủ tịch Mặt trận Tổ quốc xã Thạch Lương, huyện Văn

Chấn, cán bộ này có nhiệm vụ tham mưu với Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc xã để tổ

chức các hoạt động liên quan tới chuyên môn, xây dựng kế hoạch triển khai công

việc hàng tháng tới các thôn Cán bộ phụ trách này phải có mặt tại ủy ban xã mỗi

tuần 3 buổi tuy vậy, ngoài khoản trợ cấp 1.150.000 đồng/tháng, họ không được

hưởng bất kỳ chế độ phụ cấp nào cũng như không được đóng các chế độ BHXH

Tuy nhiên từ ngày 1/1/2016, những cán bộ không chuyên như cán bộ chức danh

này thuộc đối tượng bắt buộc tham gia BHXH vào quỹ hưu trí và tử tuất, điều

này sẽ giúp các cán bộ không chuyên trách đều sẽ cố gắng làm việc tốt hơn trong

thời gian đó

Trang 39

Để đảm bảo quyền lợi cho cán bộ hoạt động không chuyên trách cấp xã tham gia đóng BHXH theo Luật BHXH năm 2014 và Quyết định 959 của BHXH Việt Nam, BHXH tỉnh đã có công văn yêu cầu các xã, thị trấn rà soát, lập danh sách cán bộ không chuyên trách tại đơn vị để có cơ sở lập hồ sơ tham gia BHXH bắt buộc vào quỹ hưu trí và tử tuất kể từ ngày 01/01/2016 theo quy định

Có thể nói, cán bộ không chuyên trách cấp xã là một bộ phận quan trọng của đội ngũ cán bộ cơ sở trong việc làm cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân; là lực lượng tham gia trực tiếp vào các hoạt động của hệ thống chính trị cấp

cơ sở, góp phần có hiệu quả cho hoạt động quản lý nhà nước cũng như thực hiện các nhiệm vụ chính trị tại địa phương Quy định cán bộ không chuyên trách cấp

xã tham gia BHXH bắt buộc rất phù hợp với yêu cầu thực tế tại địa phương cũng như đáp ứng nguyện vọng của nhiều cán bộ cấp xã hoạt động không chuyên trách hiện nay, giúp họ yên tâm gắn bó với công việc (Văn Thông, 2016)

2.2.3 Bài học kinh nghiệm rút ra cho huyện Đan Phượng

Từ thực tế thực hiện chính sách đối với công chức tại một số nước và thực hiện chính đãi ngộ đối với những người hoạt động không chuyên trách tại địa phương khác trong nước, chúng ta rút ra một số bài học kinh nghiệm cho việc thực hiện chính đãi ngộ đối với những người hoạt động không chuyên trách của huyện Đan Phượng như sau:

- Tăng cường công tác phổ biến, tuyên truyền, quán triệt chính sách ở địa phương: Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, tuyên truyền của cán

bộ, các lớp tập huấn, hội nghị để phổ biến về nội dung chính sách đãi ngộ đối với những người hoạt động không chuyên trách, giúp người thực hiện chính cũng như đối tượng thụ hưởng nắm bắt thông tin về chính sách, nâng cao nhận thức của cán bộ, công chức, cán bộ không chuyên trách

- Thực hiện đồng bộ, đầy đủ các chính sách liên quan đến những người hoạt động không chuyên trách đảm bảo đúng các quy định hiện hành, hiệu quả, phù hợp với điều kiện thực tế địa phương, tạo động lực để cán bộ không chuyên trách xã yên tâm công tác

- Tạo điều kiện cho những người hoạt động không chuyên trách đi đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ, lý luận chính trị, trình độ tin học, đồng thời bố trí sắp xếp quy hoạch họ và các chức danh cán bộ lãnh đạo quản lý đảm bảo cơ cấu, chất

Trang 40

lượng một cách công khai dân chủ, để họ có hướng phấn đấu trở thành cán bộ công chức

- Tổ chức tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính đối với những người hoạt động không chuyên trách, đồng thời nắm bắt tâm tư nguyện vọng của họ, để kiến nghị cấp có thẩm quyền điều chỉnh bổ sung chính sách, điều kiện làm việc đối với những người hoạt động không chuyên trách xã cho phù hợp với tình hình thực tế, từng đối tượng, đảm bảo chính sách được thực

hiện đồng bộ

- Cần mạnh dạn thực hiện chính sách hỗ trợ thêm ngoài phần ngân sách Trung ương quy định đối với những người hoạt động không chuyên trách xã đảm

bảo tương đối mặt bằng trung về trình độ đào tạo khi được tuyển dụng

- Quy định trình tự thủ tục, điều kiện tuyển dụng đối với những người hoạt động không chuyên trách xã làm việc ở UBND cấp xã Đồng thời quy định

rõ chức năng nhiệm vụ, thời gian, điều kiện làm việc đối với những người hoạt

động không chuyên trách xã

- Cần đánh giá đúng thực trạng hiệu quả hoạt động những người hoạt động không chuyên trách xã trên địa bàn huyện Sắp xếp bố trí những vị trí có thể kiêm nhiệm đồng thời đề xuất Thành phố cho tăng mức phụ cấp kiêm nhiệm đối với những người này Kiên quyết không bố trí phân công những người không có động lực làm việc, làm việc chỉ để cho có tên, làm việc không có trách nhiệm Kịp thời động viên, khen thưởng những cá nhân hoàn thành tốt công việc để tạo

động lực cho họ yên tâm công tác và được khẳng định mình

Ngày đăng: 13/06/2021, 09:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm