Mục tiêu đề tài Đánh giá ảnh hưởng của nhiệt độ lên biến thái của ấu trùng và chuyển đổi giới tính tôm càng xanh Nội dung thực hiện 1.. Tập tính sống Tôm càng xanh ở giai đoạn ấu trùn
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
***
Saysamone DALAKHAM
THỬ NGHIỆM CÔNG NGHỆ CHUYỂN GIỚI
TÔM CÀNG XANH (Macrobrachium rosenbergii)
NHỜ VÀO NHIỆT ĐỘ
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NHA TRANG, 2013
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
***
Saysamone DALAKHAM
THỬ NGHIỆM CÔNG NGHỆ CHUYỂN GIỚI
TÔM CÀNG XANH (Macrobrachium rosenbergii)
Trang 3LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan kết quả của luận văn “ Thử nghiệm công nghệ chuyển giới
tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) nhờ vào nhiệt độ ” đƣợc thực hiện thuộc đề tài: “Thử nghiệm công nghệ chuyển giới tôm càng xanh (Macrobrachium
rosenbergii) nhờ vào hormone dopamine và nhiệt độ” của Viện Nghiên cứu Nuôi
Trồng Thủy Sản II, ThS Bùi Thị Liên Hà chủ nhiệm đề tài, đƣợc thực hiện từ tháng 08/2012 đến tháng 04/2013 là chính xác Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn hoàn toàn trung thực và chƣa đƣợc ai công bố trong bất cứ công trình khoa học nào khác tới thời điểm này
Tác giả luận văn
Saysamone DALAKHAM
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi muốn gửi lời cảm ơn chân thành và trân trọng nhất đến: Tập thể Ban lãnh đạo trường Đại Học Nha Trang và Trung tâm Quốc gia Giống Thủy sản Nước ngọt Nam Bộ thuộc Viện nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II - Nhóm thực hiện dự án “Sản xuất tôm càng xanh toàn đực” Viện nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II tại Cái Bè – Tiền Giang
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Phạm Quốc Hùng và ThS Bùi Thị Liên Hà, đã dìu dắt tôi trên con đường nghiên cứu khoa học, trực tiếp hướng dẫn tận tình, chu đáo trong suốt quá trình thực hiện đề tài và viết luận văn
Tập thể giáo viên khoa Nuôi trồng Thủy sản, trường Đại học Nha Trang và tập thể lớp 53CHNT2011 đã luôn giúp đỡ tôi trong thời gian học tập và thực hiện đề tài Xin cảm ơn bạn Nguyễn Thị Hồng Nhung đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và viết luận văn
Xin gửi lời cảm ơn gia đình và bạn bè đã động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC HÌNH vi
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 3
1.1 Đặc điểm sinh học của tôm càng xanh 3
1.2 Phát triển của ấu trùng 9
1.3 Giai đoạn tôm bột PL (Postlarvae) 11
1.4.Các yếu tố môi trường sống của tôm càng xanh 11
1.5 Cơ sở khoa học của việc chuyển đổi giới tính và sản xuất tôm càng xanh toàn đực 13
a Cơ sở khoa học của việc sản xuất giống tôm càng xanh toàn đực bằng phương pháp lọai bỏ tuyến đực 14
b Khả năng chuyển đổi giới tính bằng nhiệt độ và các thí nghiệm về nhiệt độ 15
1.6 Tình hình nuôi tôm càng xanh trên thế giới và Việt Nam 16
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1 Vật liệu 19
2.1.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 19
2.1.2 Vật liệu nghiên cứu 19
2.2 Phương pháp tiến hành 22
2.3 Phương pháp thu nhập và xử lý số liệu 25
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 27
3.1 Kết quả ương nuôi ấu trùng trong các nghiệm thức: Nhiệt độ thường (Đối chứng), sốc nhiệt, nhiệt độ cao 27
Trang 63.1.1 Các yếu tố môi trường trong quá trình ương ấu trùng tôm càng xanh 27
3.1.2 Kết quả biến thái ấu trùng tôm càng xanh: Chỉ số các giai đoạn ấu trùng (LSI) 29
3.1.3 Thời gian phát triển thành tôm bột của ấu trùng tôm càng xanh 30
3.1.4 Chiều dài ấu trùng tôm càng xanh 32
3.1.5 Tỷ lệ sống (TLS ) ấu trùng tôm càng xanh 33
3.2 Kết quả ương nuôi tôm bột trong các nghiệm thức: Nhiệt độ thường (Đối chứng), sốc nhiệt, nhiệt độ cao 344
3.2.1 Các yếu tố môi trường trong quá trình nuôi tôm bột tôm càng xanh 34
3.2.2 Tăng trưởng và tỷ lệ sống của tôm bột 30 ngày (PL30) 35
3.2.3 Kết quả tỉ lệ đực cái 36
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 37
1 Kết luận 37
2 Kiến nghị 37
TÀI LIỆU THAM KHẢO 38
Trang 7
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Đặc điểm các giai đoạn ấu trùng của TCX 9
Bảng 1.2: Nghiên cứu của một số tác giả về nhiệt độ thích hợp lên sinh trưởng của TCX 12
Bảng 2.1: Các yếu tố môi trường nước 21
Bảng 3.1 Các yếu tố môi trường trong quá trình ương ấu trùng TCX 27
Bảng 3.3 Trọng lượng, chiều dài, tỷ lệ sống PL30 35
Bảng 3.4 Tỉ lệ đực/ cái tại các nghiệm thức 36
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Hình thái ngoài của TCX 3
Hình 1.2: Đặc điểm hình thái ngoài của TCX 5
Hình 1.3 Tóm tắt vòng đời của TCX 6
Hình 1.4 Cơ quan sinh dục của TCX 8
Hình 1.5 Các giai đoạn phát triển của ấu trùng (từ hình 1-11) và tôm bột (postlarvae) (hình 12) 10
Hình 2.1 Tôm càng xanh bố mẹ 19
Hình 2.3 Dụng cụ nâng nhiệt và các dụng cụ đo môi trường 21
Hình 2.4 Hệ thống thí nghiệm ương ấu trùng 22
Hình 2.5 Kiếm tra chỉ số biến thái giai đoạn ấu trùng (LSI) 23
Hình 2.6 Sơ đồ bố trí thí nghiệm ương ấu trùng 23
Hình 2.7 Hệ thống thí nghiệm nuôi tôm bột 24
Hình 2.8 Kiểm tra tỷ lệ đực cái 24
Hình 2.9 Sơ đồ bố trí thí nghiệm nuôi tôm bột 25
Hình 3.1: Đồ thị chỉ số các giai đoạn phát triển ấu trùng (LSI) của TCX 29
Hình 3.2: Thời gian ương ấu trùng đến kết thúc chuyển bột, thời gian bắt đầu chuyển tôm bột 30
Hình 3.3 Chiều dài ấu trùng TCX ở các nghiệm thức 32
Hình 3.4 Tỷ lệ sống (%) của ấu trùng TCX tại các nghiệm thức 33
Trang 9Oxy hòa tan
Tổ chức thực phẩm và nông nghiệp thuộc Liên Hợp Quốc (Food and Agriculture Organization
Larvae Stage Index Niệt độ cao
Tôm bột có nguồn từ ấu trùng nhiệt độ cao nuôi tiếp trong nhiệt độ thường đến PL30
Tôm bột có nguồn từ ấu trùng nhiệt độ cao nuôi tiếp trong nhiệt độ cao
15 ngày và nhiệt độ thường 15 Tôm bột có nguồn từ ấu trùng nhiệt độ cao nuôi tiếp trong nhiệt độ cao đến PL30
Nhiễm sắc thể Tôm bột (Post larvae) 30 ngày tuổi Statistical Package for the Social Sciences Sốc nhiệt
Tôm bột có nguồn từ ấu trùng sốc nhiệt nuôi tiếp trong nhiệt độ thường đến PL30
Tôm bột có nguồn từ ấu trùng sốc nhiệt nuôi tiếp trong nhiệt độ sốc nhiệt 15 ngày và nhiệt độ thường 15
Tôm bột có nguồn từ ấu trùng sốc nhiệt nuôi tiếp trong nhiệt độ sốc nhiệt đến PL30
Hydrogen ion Phần ngàn (part per thousand)
Trang 10MỞ ĐẦU
Nuôi trồng thủy sản đã và đang đóng góp nâng cao giá trị xuất khẩu cho Việt Nam Tại hội nghị doanh nghiệp xuất khẩu tôm thuộc Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam tổ chức ngày 30/12/2010 tại Hà Nội, các chuyên gia cho biết xuất khẩu tôm năm 2010 đã vượt kế hoạch 2 tỉ USD, tăng hơn 20% so với năm 2009, năm
2011 đạt gần 2,4 tỷ USD, tăng 13,7% so với năm 2010 Tuy nhiên, năm 2012 mặc dù thị trường gặp nhiều khó khăn song vẫn đạt 1,7 tỷ USD giảm 4% so với năm 2011 [50] Tôm càng xanh có thịt thơm ngon, là loài thủy sản bản địa, có giá trị kim ngạch xuất khẩu cao nên cần nghiên cứu, đầu tư nuôi trồng và phát triển Tôm càng xanh có đặc tính phân đàn khi nuôi chung tôm đực và tôm cái [5] Những nghiên cứu nuôi tôm càng xanh đơn tính đã chứng minh rằng cùng trong một thời gian nuôi là 150 ngày, tổng sản lượng tôm đực cao hơn khi nuôi hỗn hợp đực cái và cao hơn toàn cái tương ứng 473g/m2
, 248g/m2 và 260g/m2 [44] Quần thể toàn đực không những có sản lượng cao mà tỉ lệ tôm đạt kích cỡ thương phẩm cũng cao hơn, hệ số chuyển đổi thức
ăn thấp nhất và thu nhập trên một diện tích ao nuôi cũng cao hơn [22] Trước tình
hình đó, năm 2002, công nghệ “Sản xuất giống tôm càng xanh toàn đực” đã được
thực hiện phối hợp giữa trường Đại học Ben Gurion, Israel và Viện nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản II đạt một số kết quả nhất định Tuy vậy, việc sử dụng những con tôm
đã chuyển đổi giới tính bằng vi phẫu, loại bỏ tuyến đực (tôm cái giả) làm con bố mẹ cho sinh sản cho kết quả thấp [42], nhất là khi cho đẻ tái phát dục Hơn nữa, chất lượng ấu trùng cũng thấp (thể hiện qua khả năng chống chịu trong môi trường có ammonia kém), tỷ lệ sống dao động lớn từ 5-51% Từ đó cho thấy chất lượng tôm bố
mẹ sau khi chuyển đổi giới tính còn gặp nhiều khó khăn, cần phải nghiên cứu tìm biện pháp giải quyết Nhiều tác giả cho rằng ở động vật yếu tố môi trường có khả năng xác định giới tính đực và cái trong giai đoạn đang phát triển, trong các sinh vật như các loài cá, loài bò sát, giun tròn, và động vật giáp xác [16; 21; 29] Charnove và Bull (1977) [22] đề xuất một lời giải thích về thích nghi cho yếu tố môi trường xác định giới tính đực và cái, trong một nơi sự không đồng đều của môi trường và chất lượng có tác dụng khác biệt về sự phát triển để thành đực và cái Đối với tôm càng xanh đã có nhiều phương pháp chuyển đổi giới tính song kết quả chưa được cao Vì vậy, nhiệt độ có hay không khả năng chuyển đổi giới tính tôm càng xanh vẫn chưa có một kết luận cuối cùng
Trang 11Chính vì các lý do trên đề tài: “Thử nghiệm công nghệ chuyển giới tôm càng xanh
(Macrobrachium rosenbergii) nhờ vào nhiệt độ” được thực hiện thuộc đề tài: “Thử
nghiệm công nghệ chuyển giới tôm càng xanh nhờ vào hormone dopamine và nhiệt độ” của Viện Nghiên cứu Nuôi Trồng Thủy Sản II
Mục tiêu đề tài
Đánh giá ảnh hưởng của nhiệt độ lên biến thái của ấu trùng và chuyển đổi giới tính tôm càng xanh
Nội dung thực hiện
1 Thí nghiệm ương ấu trùng trong điều kiện nhiệt độ: Nhiệt độ thường (đối chứng), nhiệt độ cao, sốc nhiệt
2 Thí nghiệm nuôi tôm bột trong điều kiện nhiệt độ: Nhiệt độ thường (đối chứng),
nhiệt độ cao, sốc nhiệt
Trang 12CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1 Đặc điểm sinh học của tôm càng xanh
1.1.1 Vị trí phân loại và phân bố
Ngay từ những năm đầu của thế kỷ 18 đã có nhiều tác giả nghiên cứu về hình thái
của tôm càng xanh Năm 1879 De Man đã đặt tên cho tôm càng xanh là
Macrobrachium rosenbergii , tôm càng xanh được xác định vị trí phân loại như sau:
Ngành chân khớp: Arthropoda
Lớp giáp xác: Crustacae
Lớp phụ giáp xác bậc cao: Malacostraca
Bộ mười chân: Decapoda
Bộ phụ chân bơi: Natantia Phân bộ: Caridea
Họ: Palaemonidae
Họ phụ: Plaemoniae Giống: Macrobrachium Loài: Macrobrachium rosenbergii (De Man 1879) [9; 39]
Hình 1.1 Hình thái ngoài của tôm càng xanh [49]
1.1.2 Phân bố
Nhiều công trình đã nghiên cứu và công bố cho thấy rằng tôm càng xanh phân
bố ở tất cả các thuỷ vực nước ngọt (đầm, hồ, ao, sông) và các vùng nước lợ của nhiều vùng trên thế giới, chúng sống được trong các khu vực có khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới Sự phân bố của loài này tập trung nhiều ở vùng Ấn Độ Dương thể hiện rõ
Trang 13qua các tài liệu nghiên cứu của một số tác giả như Fujimura và Okamoto (1972) [27], Ling (1969) [31], New (2002) [39]
Ở Việt Nam tôm càng xanh phân bố tự nhiên từ Cầu Đá Nha Trang trở vào, ở khu vực Đông Nam Bộ và tập trung chủ yếu ở Đồng Bằng Sông Cửu Long [13] Ở Bán đảo Cà Mau phát hiện thấy tôm càng xanh phân bố với số lượng không nhỏ ở các nồng độ muối từ 5-10‰, cũng phát hiện thấy chúng ở vùng Hòn Tre, nơi nước biển được ngọt hóa bởi dòng nước ngọt của sông Cái Lớn có độ mặn là 20‰, cũng tại Năm Căn ở nồng độ muối 15‰ cũng tìm thấy tôm càng xanh, tuy nhiên vùng phân bố tập trung của chúng là vùng nước ngọt và lợ nhạt có độ muối dưới 6‰ [9]
1.1.3 Đặc điểm hình thái
Phần đầu ngực lớn, có dạng hình trụ, được bao bọc bởi một tấm vỏ kitin gọi là giáp đầu ngực (carapace) chứa các nội quan như: tim, gan, tụy, dạ dày, mang tôm càng xanh có chuỷ dài hình kiếm, ngọn cong vượt quá vảy râu, có 11-16 răng trên và 10-15 răng dưới chủy Một đôi hàm lớn, hai đôi hàm nhỏ để nghiền mồi và ba đôi chân hàm để giữ mồi Năm đôi chân ngực (còn gọi là chân bò) trong đó hai đôi chân ngực đầu tiên biệt hóa thành hai đôi càng để bắt mồi và tự vệ Đôi càng thứ hai (theo thứ tự từ trên xuống) rất to và đều nhau, chiều dài vượt quá độ dài thân có khi tới 1,5 lần Phần bụng hơi tròn, có 6 đốt có thể cử động và một telson Các đốt bụng hơi tròn trên mặt lưng và dẹt hai bên, năm đốt đầu gắn với năm đôi phụ bộ gọi là chân bụng (chân bơi) Tấm vỏ trước chồng lên tấm vỏ sau và tấm vỏ đốt bụng 2 rất to phủ lên cả hai tấm vỏ 1 và 3, điểm phân biệt với các loài tôm biển Telson và đuôi là bánh lái, cuối telson luôn dài hơn các đuôi và giữa đôi gai trong có 3 lông tơ [5; 39]
Trang 14Hình 1.2: Đặc điểm hình thái ngoài của tôm càng xanh [30]
Tôm nhỏ cơ thể màu sáng, trên giáp đầu ngực có sọc xanh đen dọc hai bên Tôm trưởng thành có những vệt xanh sậm ngang lưng xen kẽ với màu trắng trong của
cơ thể Tôm có chủy dài vượt vảy râu, uống cong lên từ đoạn giữa chủy, gốc chủy ở nơi hốc mắt nhô cao lên thành mào Chủy có 11 - 16 răng trên chủy (2 - 3 răng sau
hốc mắt) và 10 - 15 răng dưới chủy
Các phụ bộ có hình dạng, kích cỡ và chức năng khác nhau với hai đôi râu có chức năng xúc giác, một đôi hàm lớn, hai đôi hàm nhỏ và ba đôi chân hàm có chức năng giữ và nghiền mồi, năm đôi chân ngực có chức năng để bò, năm đôi chân ngực
để bơi và một đôi chân đuôi có chức năng như bánh lái Hai đôi chân ngực đầu tiên của tôm chuyển hoá thành hai đôi càng, đôi càng thứ hai to dùng để bắt mồi và tự vệ Đặc điểm về cỡ, hình dạng, màu sắc và các gai trên đôi càng thay đổi theo giai đoạn thành thục của tôm, nhất là tôm đực Khi tôm nhỏ đôi càng màu trong, sau thành màu vàng cam (càng lửa) chưa có gai hay gai rất mịn, lông tơ ít hoặc chưa có Khi tôm lớn, đôi càng xanh đậm, nhiều lông tơ và gai nhọn Dựa vào đó chia thành các giai đoạn: tôm nhỏ, càng lửa nhạt, càng lửa đậm, càng lửa đậm chuyển tiếp càng xanh, càng xanh nhạt, càng xanh đậm và tôm giả [6; 32]
1.1.4 Vòng đời của tôm càng xanh
Vòng đời tôm càng xanh trải qua 4 giai đoạn: trứng, ấu trùng, hậu ấu trùng và tôm trưởng thành Tôm trưởng thành thường sống, thành thục và sinh sản chủ yếu ở vùng nước ngọt như: sông, rạch, ao, hồ…Trong mùa sinh sản, tôm cái thành thục sẽ
telson
Chân bơi Càng
Vùng mang của giáp đầu
Trang 15lột xác tiền giao vĩ (pre-mating moult), sau đó sẽ bắt cặp và giao vĩ [30] Tôm mẹ đẻ
và ấp trứng dưới chân bụng, di cư ra vùng cửa sông nước lợ có độ mặn từ 6-18‰ Ở
đó ấu trùng được nở ra, sống trôi nổi theo kiểu phù du trải qua 11 giai đoạn và 12 lần lột xác để trở thành hậu ấu trùng Theo Ling (1969) [31], với nhiệt độ từ 25-310C, thời gian ấp trứng là 19-23 ngày Ấu trùng cần có nước lợ để phát triển và sẽ chết trong vòng vài ngày sau khi nở nếu chúng sống trong nước ngọt hoặc nước có độ mặn cao Sau đó, tôm con di cư ngược dòng vào các vùng nước ngọt, ở đó chúng sẽ sinh trưởng và thành thục [5; 26]
Hình 1.3 Tóm tắt vòng đời của TCX [30]
1.1.5 Tập tính sống
Tôm càng xanh ở giai đoạn ấu trùng có tính hướng quang mạnh, chúng thường bơi lội ở mặt nước, chuyển qua giai đoạn hậu ấu trùng và trưởng thành thì chúng lại thường sống ở đáy, bám vào cây cỏ hoặc giá thể (nếu nuôi trong môi trường nhân tạo)
Ở tôm trưởng thành, chúng thường ẩn náu, ít hoạt động vào ban ngày và tích cực hoạt động vào ban đêm Tôm càng xanh thường có tập tính ăn thịt lẫn nhau khi nuôi ở mật độ cao hoặc khi bị thiếu thức ăn [37; 45] Đặc bịêt, trong giai đoạn lột xác
và sau lột xác, tôm giống và hậu ấu trùng thường tấn công lẫn nhau Vì vậy, để nâng cao tỷ lệ sống của tôm thường dùng thực vật thuỷ sinh, lá cây, nhánh cây, đá cuội sỏi,
vỏ sò, lưới nilon hay ống nhựa cho vào ao hay bể nuôi nhằm làm tăng chỗ ẩn nấp và giảm tối đa tập tính tấn công, ăn thịt lẫn nhau [17; 26; 30]
Trang 161.1.6 Đặc điểm sinh trưởng
Chu kỳ lột xác của tôm tùy thuộc vào nhiều yếu tố như kích cỡ của tôm, nhiệt
độ, thức ăn, giới tính và điều kiện sinh lý của chúng Việc cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng cũng như đảm bảo tốt các khâu về chăm sóc thì sự lột xác diễn ra nhanh hơn, môi trường nước thay đổi cũng làm tôm dễ dàng lột xác, một trong những trở ngại cho việc lột xác là khi tôm bị mắc bệnh đóng rong do tiêm mao trùng Tôm nhỏ có tốc
độ tăng trưởng nhanh hơn tôm lớn Tôm đực lớn nhanh hơn tôm cái, đặc biệt là về giai đoạn sau Tôm được bổ sung thức ăn động vật sẽ lớn nhanh và chậm thành thục hơn so với tôm ăn thức ăn công nghiệp hoàn toàn Trong điều kiện nuôi, tôm có thể đạt 35-40g sau 6 tháng nuôi và 70-100g sau 8 tháng nuôi [5]
Tôm lớn lên phải lột xác, chu kỳ lột xác của tôm tùy thuộc vào giai đoạn phát triển, tình trạng sinh lý, điều kiện dinh dưỡng và chế độ thay nước ao nuôi … tôm nhỏ thường có chu kỳ lột xác ngắn hơn tôm lớn Mỗi lần lột xác cơ thể tôm tăng lên
từ 9 -15% khối lượng thân [9]
1.1.7 Cơ cấu về giới tính
Theo kết quả nghiên cứu cho thấy các cá thể có khối lượng nhỏ hơn 40g chủ yếu là tôm cái, tỷ lệ tôm đực trong đàn tôm khai thác tự nhiên sẽ tăng dần theo khối lượng cá thể và tất cả những con có trọng lượng lớn hơn 160g đều là con đực Như vậy tỷ lệ đực cái sẽ là ngang nhau khi chúng ở nhóm tuổi 60 – 80g hoặc 80 – 100g Dưới khoảng đó thường thì con cái nhiều hơn con đực và ngược lại [9]
Phân biệt giới tính
Tôm đực có kích cỡ lớn hơn tôm cái Đầu ngực tôm đực to hơn và khoang bụng hẹp hơn tôm cái Đôi càng thứ hai to, dài và thô Trong quá trình phát triển, tôm đực thể hiện các dạng khác nhau như tôm nhỏ có càng trong suốt, sau chuyển thành tôm càng lửa và cuối cùng tôm càng xanh đậm Các gốc chân ngực của tôm đực cũng xếp khít nhau hơn so với tôm cái Cạnh đốt gốc của chân ngực thứ năm có lỗ sinh dục được che phủ bởi tấm giáp Ở con đực còn có nhánh phụ đực mọc kế nhánh trong của chân bụng thứ hai Nhánh phụ đực bắt đầu xuất hiện ở giai đoạn ấu niên khi tôm đạt kích cỡ 30 mm và hoàn chỉnh khi tôm đạt 70 mm Ngoài ra, ở giữa mặt bụng của đốt bụng thứ nhất còn có điểm cứng [43]
Cơ quan sinh dục trong của con đực gồm màng treo, dịch thể, ống xoắn dẫn tinh, ống dẫn tinh ra ngoài, ống phóng tinh ra ngoài, đường ống trong suốt dẫn tinh,
Trang 17ống dẫn tinh giữa Đôi tinh sào nằm giữa mặt lưng của giáp đầu ngực được nối với ống dẫn tinh chạy từ trước tim dọc sang hai bên viền sau của giáp đầu ngực và đổ vào đầu mút nằm ở đốt gốc của chân ngực thứ năm Túi tinh hình thành trong quá trình phóng tinh Túi tinh chứa khối tinh trùng không di động [9; 33]
Hình 1.4 Cơ quan sinh dục của tôm càng xanh [32; 42]
Tôm cái thường có kích cỡ nhỏ hơn tôm đực, có phần đầu ngực nhỏ và đôi càng thon nhỏ Tôm có 3 tấm bụng đầu tiên rộng và dài tạo thành khoang bụng rộng làm buồng ấp trứng Quá trình mở rộng của các tấm bụng này bắt đầu khi tôm đạt chiều dài giáp đầu ngực khoảng 20 mm và đây là đặc điểm quan trọng của tôm cái
Lỗ sinh dục của con cái nằm ở gốc của chân ngực thứ ba, có dạng tam giác Trên các gốc của chân ngực thứ ba, thứ tư và thứ năm, trên bờ sau của giáp đầu ngực và trên nhánh trong của các chân bụng có nhiều lông tơ có tác dụng giúp hướng trứng đi xuống buồng ấp trong quá trình đẻ trứng Ngoài ra, trên đốt giữa của các chân bụng
Lỗ sinh dục đực ở gốc
đồi chân bò thứ năm
Lỗ sinh dục cái ở gốc chân bò thứ ba
Ống dẫn trứng
Ống dẫn tinh
Trang 18còn có nhiều lông tơ mà chỉ hình thành ở thời kì lột xác tiền giao vĩ sẽ có tác dụng cho trứng bám vào [3, 42]
Ở con cái, buồng trứng nằm trên mặt lưng của phần đầu ngực, giữa dạ dày và gan tụy Khi buồng trứng thành thục sẽ có màu vàng có thể nhìn thấy qua giáp đầu ngực, trải dài từ sau mắt đến đốt đầu của phần bụng Ống dẫn trứng nối từ buồng trứng ở trước tim chạy dọc hai bên về phía bụng đổ về túi chứa tinh ở đốt gốc của chân ngực thứ ba [3; 44]
1.2 Phát triển của ấu trùng
Ấu trùng mới nở ra sống phù du, có tính hướng quang mạnh và cần nước lợ
(6-16 ppt) để sống và phát triển ấu trùng sẽ chết sau 3 - 4 ngày nếu không được sống trong nước lợ Ấu trùng bơi lội chủ động, bụng ngửa và đuôi ở phía trước, chúng bơi lội gần sát mặt nước thành từng đám Ấu trùng ăn liên tục, thức ăn bao gồm các loại động vật phù du, giun nhỏ, ấu trùng các động vật thủy sinh Ấu trùng trải qua 11 lần lột xác và biến thái để hình thành hậu ấu trùng Đặc điểm của các giai đoạn ấu trùng được trình bày ở bảng sau
Bảng 1.1: Đặc điểm các giai đoạn ấu trùng của tôm càng xanh [47]
III 3-4 2,14 Xuất hiện chân đuôi (Uropod)
IV 4-6 2,50 Có 2 răng trên chủy, chân đuôi có hai nhánh, có lông tơ
VII 11-17 4,06 Chân bụng có hai nhánh, chưa có lông tơ
VIII 14-19 4,68 Chân bụng có lông tơ
IX 15-22 6,07 Nhánh trong của chân bụng có nhánh phụ trong
XI 19-26 7,73 Răng xuất hiện hết nửa trên chủy
Post
larvae
23-27 7,69 Răng xuất hiện cả trên và dưới chủy, có tập tính như
tôm lớn Theo Aquacop (1983) [18] ấu trùng tôm càng xanh được chia làm 11 giai đoạn phát triển (từ hình 1-11) trước khi trờ thành postlarve (hình 12)
Trang 191 2 3
4 5 6
7 8 9
10 11 12
Hình 1.5 Các giai đoạn phát triển của ấu trùng (từ hình 1-11) và tôm bột
(postlarvae) (hình 12) [18]
Trang 201.3 Giai đoạn tôm bột PL (Postlarvae)
PL có hình dạng giống tôm trưởng thành còn nhỏ, chúng di chuyển chủ yếu bằng cách bám vào đáy hay vào thành bể ương nhiều hơn là bơi lội tự do Chúng bơi theo kiểu mặt lưng ở phía trên và tiến về phía trước Chúng có thể lẩn tránh nhanh nhẹn bằng cách co các cơ bụng lại Các hậu ấu trùng có khả năng chịu được sự dao động lớn của nồng độ muối và có thể sống trong nước ngọt hoàn toàn sau khi thuần hoá độ mặn trong thời gian ngắn
Lúc này tôm có xu hướng tiến vào vùng nước ngọt như sông, rạch, ruộng, ao, hồ…, ở đó chúng sinh sống và lớn lên Tôm có thể di cư rất xa, trong phạm vi hơn
200 km từ bờ biển vào nội địa Khi trưởng thành chúng lại di cư ra vùng nước lợ, nơi
độ mặn thích hợp để sinh sản và vòng đời lại tiếp tục Thời gian cho các giai đoạn biến thái từ 17 – 35 ngày phụ thuộc vào các yếu tố môi trường và chế độ dinh dưỡng (thời gian chuyển hậu ấu trùng nhanh nhất là 16 ngày và dài nhất là 40 ngày) Theo New (2002) [38] nhiệt độ thấp có thể làm cho tôm di cư sớm Nhiệt độ thích hợp cho
ấu trùng và tôm giống là 29 – 31 o
độ cao hơn và thời gian chuyển giai đoạn ấu trùng giảm xuống Trong ương ấu trùng, khi nhiệt độ càng cao thì sự lột xác và tăng trưởng của ấu trùng càng nhanh Theo New và ctv (2010) [38] thì nhiệt độ thích hợp cho ấu trùng tôm phát triển là 28 – 31
C Tôm càng xanh sẽ ngừng phát triển, không sống được trong thời gian dài khi ở dưới 19o
C và trên 34oC Thời gian chịu đựng được nhiệt độ cao nhất tuỳ thuộc vào giai đoạn và kích cỡ của tôm Ở giai đoạn ấu trùng và hậu ấu trùng đều không có khả năng chịu nhiệt độ thấp so với tôm đã thành thục Có nhiều kết quả khác nhau về vần đề này, điều đó được thể hiện thông qua bảng sau [36]
Trang 21Bảng 1.2: Nghiên cứu của một số tác giả về nhiệt độ thích hợp lên sinh trưởng
của tôm càng xanh
Nhiệt độ thích hợp nhất Tác giả
28- 30oC 26- 31oC 27- 31oC 29- 31oC 28- 30oC 27-30 oC
C, tốt nhất là 28-30
o
C Nhiệt độ thấp dưới 13 oC hay trên 38 oC gây chết tôm Khi nhiệt độ ngoài khoảng 22-33 oC hoạt động, sinh trưởng và sinh sản của tôm sẽ bị suy giảm Nhiệt độ cao thường làm cho tôm sớm thành thục và kích cỡ nhỏ [31]
b pH
Theo New và Valenti (2000) [37] thì mức pH tối ưu cho phát triển của ấu trùng tôm càng xanh nằm trong khoảng (7,0 – 8,5) Mặt khác, để có nước ương ấu trùng thì người ta phải dùng nước biển được vận chuyển đến trại giống và pha với nguồn nước hiện có ở địa điểm sản xuất Theo New và Shingolka (1985) [34] nguồn nước biển thường có pH dao động từ 7,8 – 8,3 và pH của nước giếng ở các vùng ven biển thường dao động từ 7,1 – 7,5 Do vậy hai loại nước này nếu được pha vào nhau sẽ cho pH thích hợp
c Oxy hoà tan
Theo nhiều tác giả Aquacop (1983) [18], Fujimura và Okamoto (1972) [26], Ling (1969) [30], New (1990) [35] đều thống nhất lượng oxy hoà tan trong bể là 6 – 9 mg/l Trong điều kiện sản xuất giống và nếu đảm bảo sục khí đầy đủ thì không cần phải kiểm tra hàm lượng oxy hoà tan trong bể
Nhu cầu oxy cho hô hấp của tôm tùy thuộc vào nhiều yếu tố như giai đoạn phát triển của tôm, nhiệt độ, độ mặn… Đối với tôm con, oxy tối thiểu phải trên 2,1 mg/l ở
Trang 22bị lầm dẫn đến rối loạn sinh lý Các báo cáo về nuôi ấu trùng tôm càng xanh thành công thì cường độ ánh sáng trong khoảng 250 – 6500 lux
e Nồng độ muối
Có nhiều ý kiến khác nhau về ngưỡng nồng độ muối ương ấu trùng tôm càng xanh, nhưng thường dao động từ 10–15‰ [37] Nguyễn Việt Thắng (1993) [9], Nguyễn Thị Thanh Thuỷ (2002) [11] đã chọn độ mặn là 12 ‰ trong suốt quá trình ương nuôi của mình Ngoài ra, tác giả còn cho biết một số ấu trùng ngẫu nhiên còn sống sót trong bể nuôi tôm bố mẹ có độ mặn thấp (4–6‰) vẫn biến thái thành hậu ấu trùng Điều này cho thấy ấu trùng tôm càng xanh có khả năng chịu nồng độ mặn dao động lớn
f Chất có chứa nitơ
Chất lượng nước trong bể ương rất dễ bị biến đổi chính do sản phẩm bài tiết của
ấu trùng, artermia và do sự phân huỷ của thức ăn thừa Một vài biến đổi có thể rất có
hại cho ấu trùng Nguy hiểm nhất là sự tăng ammonia chưa ion hoá (NH3), chất này làm tăng pH và nitrite [34] Aquacop (1983) [18], Griessinger (1986) [27] đã xác định ngưỡng sinh lý của một số hợp chất nitơ đối với ấu trùng tôm càng xanh trong môi trường ương: NH4+ là 0,005 – 1,000 mg/l; NO2 là 0,002 – 0,350 mg/l; NO3 là 0,5 –3,5 mg/l
1.5 Cơ sở khoa học của việc chuyển đổi giới tính và sản xuất tôm càng xanh toàn đực
Hiện nay các nhà khoa học đã và đang nghiên cứu tìm kiếm những phương thức để chuyển đổi giới tính tôm càng xanh từ cái sang đực nhằm tiến đến mục tiêu nâng cao năng suất và giá trị của tôm nuôi thương phẩm Việc nghiên cứu sử dụng hormone có bản chất steroid đã thử nghiệm trên tôm càng xanh nhưng kết quả chưa thành công do chưa xác định được giai đoạn ban đầu của sự biệt hoá giới tính, thời
Trang 23gian xử lý thích hợp cũng như các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến quá trình biệt hoá giới tính [12]
Các nhà khoa học Israel đã thành công trong việc tạo đàn tôm thế hệ F1 thông qua chuyển đổi giới tính thế hệ mẹ bằng phương pháp vật lý loại bỏ tuyến đực trong thời kỳ giới tính chưa biệt hóa Nét độc đáo của phương pháp này là không sử dụng hormone và không biến đổi kiểu gen, do đó sản phẩm dễ dàng được chấp nhận bởi thị trường hiện tại và trong tương lai Tuy nhiên, việc chuyển đổi giới tính tạo tôm càng xanh cái giả bằng kỹ thuật vi phẫu loại bỏ tuyến đực lần đầu tiên được thực hiện ở Israel nhưng chỉ thành công trong phạm vi thí nghiệm nhỏ [42; 43] Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II là nơi đầu tiên ứng dụng kỹ thuật này thành công tại Việt Nam [4]
a Cơ sở khoa học của việc sản xuất giống tôm càng xanh toàn đực bằng phương pháp lọai bỏ tuyến đực
Như đã trình bày ở trên, tôm càng xanh cái trong tự nhiên mang bộ NST giới tính WZ và tôm đực với bộ NST giới tính ZZ Khi giao phối tạo thế hệ con F1 sẽ có kiểu di truyền NST giới tính theo tỷ lệ 50% ZZ : 50% WZ, tương ứng với kiểu hình là 50% tôm đực và 50% tôm cái
Sơ đồ lai của tôm càng xanh bình thường trong tự nhiên
Sau khi tôm càng xanh đực đã chuyển đổi giới tính thành con cái Con cái này vẫn mang bộ NST giới tính của con đực ZZ (con cái giả) Tôm cái giả giao phối với tôm đực bình thường sẽ tạo ra một ra thế hệ con F1 chỉ có duy nhất một kiểu NST giới tính ZZ, tương ứng với kiểu hình toàn đực theo sơ đồ lai minh họa theo mô hình chuyển giới tính tạo tôm càng xanh toàn đực của [42]
Tôm cái WZ x ZZ Tôm đực
Giao tử: W, Z x Z
Thế hệ con F1: 50% WZ : 50% ZZ (50% tôm cái : 50% tôm đực)
Trang 24Sơ đồ lai giữa tôm cái giả và tôm đực bình thường:
b Khả năng chuyển đổi giới tính bằng nhiệt độ và các thí nghiệm về nhiệt độ
Ở một số loài động vật nói chung và động vật thủy sản nói riêng yếu tố môi trường có khả năng xác định giới tính đực và cái trong giai đoạn phát triển, trong các sinh vật khác nhau: cá, loài bò sát, giun tròn và động vật giáp xác [16; 29] Charnove
và Bull (1977) [21] đã đề xuất một lời giải thích về sự thích nghi của yếu tố môi trường xác định giới tính đực và cái, trong cùng một sinh cảnh sự không đồng đều của môi trường và các yếu tố môi trường có tác dụng khác nhau lên sự phát triển để thành đực và cái Môi trường đó như là một cơ chế riêng có khả năng lớn nhất quyết định
đến giới tính của loài đó trong tương lai Chẳng hạn như: rùa tai đỏ (Trachemys
Scripta) là một loài mà giới tính được xác định do yếu tố nhiệt độ, trong điều kiện
nhiệt độ ấm 31oC sẽ tạo ra tất cả con rùa đều là cái, trong khi đó nhiệt độ lạnh 26 o
C tạo ra tất cả đều là con đực và nếu nhiệt độ trung bình giữa 29 oC đến 30 oC cho kết quả khác nhau về tỷ lệ còn đực và cái [48]
Nhiệt độ là một yếu tố rất quan trọng đến sự tăng trưởng và tỷ lệ sống cũng như quá trình lột xác và phát triển của ấu trùng tôm càng xanh, nhiệt độ thích hợp cho ương nuôi là 24 - 31oC Nhiệt độ thấp dưới 24-26oC sẽ kéo dài thời gian phát triển và
ấu trùng sẽ chậm lớn Nhưng nhiệt độ cao trên 33 oC sẽ dễ gây chết ấu trùng [6] Soundarapandian và ctv (1995) [46] lại cho rằng nhiệt độ khoảng 27 – 33 oC sẽ không ảnh hưởng đến thời gian xuất hiện đầu tiên của hậu ấu trùng mà có chỉ có ảnh hưởng đến thời gian chuyển hoàn toàn thành hậu ấu trùng như: nhiệt độ nước trung bình 26,9 oC thời gian chuyển thành hoàn toàn thành hậu ấu trùng khoảng 42,1 ngày
và khi nhiệt độ nước trung bình 33,3 oC thời gian chuyển thành hoàn toàn hậu ấu trùng sẽ khoảng 35,2 ngày
Thế hệ F1 100% ZZ (100% tôm đực)
Trang 25Theo Nguyễn Việt Thắng (1993) [9] đã nghiên cứu về ngưỡng nhiệt phát triển của ấu trùng cho thấy 100% ấu trùng tôm càng xanh chết sau 18 giờ ở nhiệt độ 20o
C Với nhiệt độ 21o
C và 22 oC chúng sống được sau 48 giờ tương ứng là 27% và 87% Theo dõi sự biến thái của ấu trùng ở 21 oC sau 48 giờ ở các giai đoạn II, V và X đều thấy chúng chuyển được giai đoạn với các tỷ lệ tương ứng là 3,6 % và 1% Như vậy ngưỡng nhiệt dưới của sự phát triển ấu trùng tôm càng xanh trong khoảng 20-21o
C và
từ giới hạn nhiệt độ này, khi nhiệt độ tăng lên, thời gian để chúng phát triển được rút ngắn lại [39] Chúng ta biết rằng ngưỡng nhiệt trên đã được nhiều tác giả như Fujimura và Okamoto (1972) [26], Ling (1969) [30] và New M.B (1985) [34], xác định là 33-34 oC Các tác giả đều cho rằng nhiệt độ tối ưu từ 26 - 31 oC, dưới 24-26 o
C
ấu trùng phát triển không tốt
Tôm là loại động vật máu lạnh tức là nhiệt độ của cơ thể chúng xấp xỉ nhiệt độ môi trường xung quanh, tốc độ các quá trình sinh hóa trong cơ thể chúng cũng phụ thuộc vào nhiệt độ, thông thường quá trình sinh hóa tăng khoảng hai lần khi nhiệt độ tăng thêm 10 oC Các thủy động vật có cơ hội sống sót nhiều hơn khi nhiệt độ thay đổi chậm (không quá 2 oC/ngày), sự thay đổi đột ngột nhiệt độ trên 0,5 o
C/phút trong khoảng 5 oC đẫn tới sốc nhiệt và có thể chết, chúng có thể chịu đựng được mức độ thay đổi 0,2 oC/phút nhưng tổng thể nhiệt độ thay đổi không quá 5 o
quy trình sản xuất giống đặc sắc [Error! Reference source not found.] Trung Quốc,
Ấn Độ cũng được xem là hai quốc gia khá thành công trong chương trình sản xuất giống và nuôi tôm thương phẩm trên các thủy vực nước ngọt lớn [35] Ở Trung Cận Đông, Israel là nước có nhiều nghiên cứu thành công trong lĩnh vực sinh lý sinh sản
và kỹ thuật di truyền tôm càng xanh Ở Châu Âu, Bắc Mỹ, tôm càng xanh được du nhập và sản xuất giống trong các hệ thống tuần hoàn có điều chỉnh nhiệt độ [36; 39]
Trang 26Theo thống kê của FAO : Năm 1984 sản lượng trên toàn thế giới đạt được khoảng 5.246 tấn, năm 1989 con số này đã tăng lên gấp hơn 3 lần (17,608 tấn) với giá trị khoảng 75 triệu USD Trong khoảng những năm 1990 - 1995, sản lượng thấp nhất đạt 18,185 tấn (1993) và cao nhất là 26,696 tấn (1991), trong con số cao nhất này Đài Loan đã đóng góp khoảng 16,196 tấn chiếm 61% sản lượng toàn cầu, từ 1992 -1998 sản lượng của Đài Loan đã thấp hơn đáng kể, chỉ vượt quá 8,000 tấn trong hai năm
1995 và 1998 [39]
Từ năm 1998 trở đi, khi Trung Quốc bắt đầu trình bảng thống kê riêng biệt về tôm càng xanh thì bức tranh sản lượng toàn cầu thay đổi rõ ràng hơn [39] Điều này không những do sản lượng lớn từ Trung Quốc trong những năm gần đây, mà còn do
sự phát triển nhanh chóng của nghề nuôi ở Ấn Độ và Bangladesh Trung Quốc đã vượt qua mức 37,000 tấn (1996), 43,000 tấn (1997) và đạt 62,000 tấn (1998) Sự kiện lớn thứ hai diễn ra trong năm 2000, Bangladesh đạt 48,000tấn/ năm cho hai năm 1997
và 1998 Sản lượng của Ấn Độ gia tăng có ý nghĩa từ 27,000 tấn năm 2003 Theo thống kê của FAO (2003) khoảng 15 nước sản xuất tôm càng xanh có sản lượng nhiều nhất trong những năm 1992 – 2001 [39]
Theo thống kê của FAO (2003), nếu bỏ qua sản lượng các loài tôm nước ngọt khác thì tốc độ tăng trưởng của tôm càng xanh tăng khoảng 27%/ năm trong thập niên
từ 1992 – 2001 [39] Tổng sản lượng tôm càng xanh trên thế giới đạt trên 119,000
tấn, đạt giá trị 410 triệu USD vào năm 2000 Châu Á, đặc biệt là Trung Quốc, được xem là nơi có sản lượng tôm càng xanh lớn nhất chiếm 95% tổng sản lượng tôm càng xanh trên thế giới) Theo báo cáo mới nhất của năm 2003, chỉ riêng Trung Quốc, sản
lượng tôm càng xanh đạt trên 300,000 tấn [6]
b Việt Nam
Theo ghi nhận của FAO (2001) [40], Việt Nam đang dẫn thứ hai trong bảng xếp hạng với 28,000 tấn/ năm nhưng mức sản xuất tôm càng xanh thật sự có phần nào không rõ ràng, vì trong đó nó bao gồm cả những loài giáp xác nước ngọt khác Nhìn chung, Việt Nam là nước có sản lượng tôm càng xanh trong tự nhiên lớn hơn cả so với một số nước trong khu vực Đông Nam Á, với sản lượng khai thác khoảng 6,000 tấn/ năm (1980) Tuy nhiên, so với tôm sú thì tôm càng xanh vẫn chưa được quan tâm thu hút đối với người nuôi Nguyên nhân chính là do việc sản xuất giống tôm càng xanh cần công nghệ phức tạp từ khâu sản xuất giống đến nuôi thương phẩm Tuy
Trang 27nhiên, kể từ năm 2000 trở đi, sản lượng đã có sự thay đổi lớn Theo thống kê năm
2002 của Bộ Thuỷ Sản thì cả nước đạt khoảng 10,000 tấn tôm càng xanh, trong đó ĐBSCL chiếm chủ yếu Sự mở rộng diện tích nuôi ở ĐBSCL là nhờ sự quảng bá nhanh và rộng kỹ thuật sản xuất giống tôm càng xanh đến người sản xuất [1] Tổng sản lượng tôm giống càng xanh sản xuất năm 2004 là 90 triệu con so với 1 triệu con vào năm 1998 [7]
Nghề nuôi tôm càng xanh trong những năm tới phát triển có thể giải quyết việc làm cho 50,000 lao động Tổng diện tích khoảng 32,000 ha, sản lượng 60,000 tấn vào
2010 Trong thời gian từ 1999 - 2010, nhu cầu vốn đầu tư cho nuôi tôm càng xanh ước tính lên đến 5,400 tỷ đồng, trong đó: Nâng cấp cải tạo 150 triệu/ha; xây dựng mới
200 triệu/ha; xây dựng thuỷ lợi 30 triệu /ha; Nhu cầu thức ăn công nghiệp khoảng 90,000 tấn; Nhu cầu giống 3,546 triệu con
Lần đầu tiên sản lượng tôm xuất khẩu 2 tỷ USD vào năm 2010, ngành tôm Việt Nam tiếp tục đà tăng trưởng mạnh với giá trị xuất khẩu năm 2011 đạt gần 2,4 tỷ USD, tăng 13,7% so với năm 2010 Năm 2012, dù thị trường có nhiều khó khăn xuất khẩu tôm đạt 2,5 tỷ USD, cao hơn 100 triệu USD so với năm 2011 [50]
Trang 28CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Vật liệu
2.1.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu từ tháng 08/2012 đến tháng 04/2013
- Địa điểm nghiên cứu tại: Trung tâm Quốc gia Giống Thủy sản Nước ngọt Nam Bộ, Cái Bè, Tiền Giang, Viện NCNTTS II
- Đối tượng nghiên cứu: Tôm càng xanh Macrobrachium rosenbegii (De Man
- Ấu trùng: sau khi ấu trùng nở ra được bố trí thí nghiệm tôm bột
Trang 29dụng chlorine để diệt khuẩn, phơi nắng 2-3 ngày cho hết chlorine, sau đó bơm vào bể chứa nước, được bơm qua túi lọc 1µm
c Thức ăn sử dụng trong thí nghiệm
Thức ăn cho ấu trùng dụng ấu trùng của Artemia sau khi ấp cho nở ra Cho ăn 2
lần/ngày 7 h sáng và 18 h chiều Khoảng 22 h kiểm tra thêm nếu hết cho ăn thêm
Thức ăn cho tôm bột sử dụng thức ăn công nghiệp (Tôm Boy 1) có Đạm thô > 42%,
Béo thô 6-8 %, Tro < 14%, Xợ thô < 3 %, Ấm < 11, Canxi < 2,3% và Photpho >5 %
Trang 30
Hình 2.3.Các dụng cụ đo môi trường
Bảng 2.1: Các yếu tố môi trường nước
1 pH 3 ngày/lần (sáng và chiều) Bộ so màu Sera của
Đức
2 Oxy hòa tan
(ppm) 3 ngày/lần (sáng và chiều) Máy đo
Dụng cụ khác: thùng xốp (xô nhựa 15 L) chuyển tôm mẹ; vợt bắt tôm bố mẹ và ấu
trùng; giá thể bằng sợi nylon đen cột thành bó; ống nhựa Bình Minh = 60 mm;