1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá công tác bồi thường hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất tại dự án xây dựng công viên hồ điều hòa văn miếu và dự án xây dựng đường ngọc hân công chúa thành phố bắc ninh tỉnh bắc ninh

111 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 1,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Phần 1. Mở đầu (14)
    • 1.1. Tính cấp thiết của đề tài (14)
    • 1.2. Mục tiêu nghiên cứu (16)
      • 1.2.1. Mục tiêu chung (16)
      • 1.2.2. Mục tiêu cụ thể (16)
    • 1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (16)
      • 1.3.1. Đối tượng nghiên cứu (16)
      • 1.3.2. Phạm vi nghiên cứu (16)
    • 1.4. Đóng góp mới của luận văn (17)
    • 1.5. Kết cấu nội dung của luận văn (17)
  • Phần 2. Cơ sở lý luận và thực tiễn (18)
    • 2.1. Cơ sở lý luận của đề tài (18)
      • 2.1.1. Một số khái niệm cơ bản (18)
      • 2.1.2. Vai trò, đặc điểm của xây dựng KCHT nông thôn (22)
      • 2.1.3. Nội dung huy động nguồn lực của cộng đồng trong xây dựng KCHT nông thôn (25)
      • 2.1.4. Các yếu tố ảnh hưởng (26)
    • 2.2. Cơ sở thực tiễn (28)
      • 2.2.1. Kinh nghiệm, bài học một số nước trên thế giới (28)
      • 2.2.2. Kinh nghiệm, bài học trong nước (32)
      • 2.2.3. Bài học rút ra từ kinh nghiệm đối với huyện Kim Sơn (37)
  • Phần 3. Phương pháp nghiên cúu (38)
    • 3.1. Đặc điểm của địa bàn nghiên cứu (38)
      • 3.1.1. Điều kiện tự nhiên (38)
      • 3.1.2. Dân số - Lao động (40)
      • 3.1.3. Điều kiện kinh tế - xã hội (41)
      • 3.1.4. Thuận lợi và khó khăn liên quan đến xây dựng KCHT (45)
    • 3.2. Phương pháp nghiên cứu (45)
      • 3.2.1. Chọn điểm nghiên cứu (45)
      • 3.2.2. Nguồn số liệu (46)
      • 3.2.3. Phương pháp xử lý số liệu (48)
      • 3.2.4. Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu (48)
  • Phần 4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận (50)
    • 4.1. Thực trạng việc huy động nguồn lực xây dựng kcht nông thôn hiện nay ở huyện kim sơn, tỉnh ninh bình (50)
      • 4.1.1. Các căn cứ, cơ chế, chính sách huy động nguồn lực được áp dụng trong xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn (50)
      • 4.1.2. Bộ máy chỉ đạo, quản lý, điều hành ở địa phương (51)
      • 4.1.3. Tổ chức huy động nguồn lực của cộng đồng (51)
      • 4.1.4. Kết quả huy động nguồn lực đầu tư xây dựng KCHT nông thôn huyện (55)
      • 4.1.5. Kết quả điều tra sự tham gia của người dân và cộng đồng trong xây dựng (73)
      • 4.1.6. Đánh giá chung, thuận lợi, khó khăn khi huy động nguồn lực của cộng đồng trong xây dựng KCHT nông thôn trên địa bàn huyện Kim Sơn (75)
    • 4.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc huy động nguồn lực của cộng đồng xây dựng kcht nông thôn (78)
      • 4.2.1. Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước (78)
      • 4.2.2. Công tác tuyên truyền vận động, tổ chức thực hiện (80)
      • 4.2.3. Trình độ nhận thức của người dân (84)
      • 4.2.4. Nghề nghiệp và thu nhập của người dân (85)
      • 4.2.5. Một số nguyên nhân khác (89)
      • 4.3.1. Giải pháp về phát triển sản xuất, tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân khu vực nông thôn (90)
      • 4.3.2. Giải pháp tăng cường công tác tuyên truyền, vận động, phát huy dân chủ ở cơ sở, nâng cao nhận thức, vai trò, trách nhiệm của người dân (92)
      • 4.3.3. Nâng cao hiệu quả công tác lãnh đạo, chỉ đạo điều hành của cấp chính quyền cơ sở (95)
      • 4.3.4 Nâng cao chất lượng công tác quản lý đầu tư, phát huy vai trò giám sát của cộng đồng (96)
      • 4.3.5. Giải pháp về vốn và sử dụng vốn (97)
      • 4.3.6. Giải pháp tăng cường sự tham gia của cộng đồng (99)
  • Phần 5. Kết luận và kiến nghị (100)
    • 5.1. Kết luận (100)
    • 5.2. Kiến nghị (101)
      • 5.2.1. Đối với Trung ương, tỉnh (101)
      • 5.2.2. Đối với cơ quan, chính quyền huyện Kim Sơn (102)
      • 5.2.3. Đối với chính quyền các xã, thị trấn (103)
  • qua 5 năm 2011-2015 (0)
  • trong 5 năm 2011-2015 (0)

Nội dung

Đối với huyện Kim Sơn là một huyện đồng bằng ven biển của tỉnh Ninh Bình có 25 xã nông thôn và 02 thị trấn, trong những năm qua thực hiện Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới diện mạ

Cơ sở lý luận và thực tiễn

Cơ sở lý luận của đề tài

2.1.1 Một số khái niệm cơ bản

Huy động là “quá trình hình thành đám đông, nhóm, assiciations, và tổ chức cho việc theo đuổi các mục tiêu tập thể” Như vậy, “huy động” là điều nhân lực, của cải cho một công việc lớn; Huy động nguồn lực, kinh phí cho công trình

Phương thức huy động: Bằng tiền, hiện vật, ngày công lao động, trí tuệ

Nguyên tắc huy động: Huy động được thực hiện theo nguyên tắc tự nguyện, dân chủ bàn bạc, công khai minh bạch và quyết định theo đa số (Phạm Thị Hiệp, 2014)

Theo Ngô Doãn Vịnh (2010), Trong những năm vừa qua, khi bàn về các chủ trương, đường lối phát triển kinh tế, bao giờ người ta cũng bàn tới hai vấn đề cơ bản là nguồn lực và động lực phát triển Cho đến nay, về hai vấn đề này cũng còn nhiều điểm, khía cạnh phải bàn thêm cho rõ Về nguồn lực, quan niệm thế nào là nguồn lực, làm thế nào huy động được nguồn lực và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực? Nhìn chung đến nay chúng ta chưa nhận thức đầy đủ về nguồn lực, mới nói chung mà chưa hướng tới định lượng, không chỉ rõ chủ thể của nguồn lực Nhìn nhận về nguồn lực chưa nhất quán và thiếu cách nhìn định lượng Việc lãng phí nguồn lực cũng chưa được xem xét đúng mức

Những thứ được coi là nguồn lực phải là những thứ được sử dụng hoặc có khả năng sử dụng trong thời kỳ dự kiến phát triển Tiềm năng chưa đưa được vào sử dụng hoặc chưa có khả năng đưa vào sử dụng thì chưa được xem là nguồn lực

Các nguồn lực được xem xét dưới nhiều góc độ: Người ta chia các nguồn lực thành các loại khác nhau để có thái độ đúng đắn và có cách ứng xử với chúng thích hợp Với cách nhận thức như thế và trên quan điểm thiết thực, việc phân chia các nguồn lực được tiến hành theo hai cách chủ yếu:

* Cách thứ nhất, người ta chia ra thành nhóm nguồn lực vật chất và nguồn lực con người

Nhóm nguồn lực vật chất gồm có: tài nguyên thiên nhiên (tài nguyên đất, tài nguyên rừng, tài nguyên biển, tài nguyên thuỷ điện, tài nguyên nước, tài nguyên khí hậu, vị trí địa kinh tế, ) và cơ sở vật chất kỹ thuật đã tạo dựng (nhà cửa, công trình công cộng, đường sá, hải cảng, sân bay, hệ thống sản xuất và truyền tải điện, hệ thống cung cấp và thoát nước, hệ thống xử lý chất thải, hệ thống viễn thông và truyền thông )

Nhóm nguồn lực con người (gắn với tài nguyên trí thức) và tài nguyên thông tin Trí tuệ của con người có giá trị đặc biệt và không thể tự có được mà con người phải mất công, mất sức mới có Muốn có trí tuệ, con người phải có thể lực và trí lực cùng hoàn cảnh thuận lợi Đối với vấn đề xây dựng trí tuệ, việc giáo dục quan trọng như thế nào thì việc cải tạo nòi giống cũng quan trọng không kém Trong lĩnh vực xây dựng nguồn lực con người, không thể xem nhẹ việc bồi dưỡng sức dân

* Cách thứ hai, căn cứ vào nguồn gốc của các nguồn lực để phân loại Người ta chia chúng ra thành hai nhóm lớn: nguồn lực trong nước và nguồn lực ngoài nước Nguồn lực trong nước bao giờ cũng giữ vai trò quyết định Bằng cơ chế, chính sách, người ta tạo ra môi trường hấp dẫn để thu hút các nguồn lực bên ngoài, nhất là thu hút nhân tài Thông qua cơ chế, chính sách, nhà nước và các doanh nghiệp có thể biến ngoại lực thành nội lực Phần lớn các nguồn lực đều hữu hạn Vì thế, việc sử dụng tiết kiệm, hiệu quả các nguồn lực và dự trữ các nguồn lực trong điều kiện có thể là một trong những quốc sách quan trọng

* Cách phân loại khác: căn cứ vào các nguồn hình thành người ta có thể chia nguồn lực thành nguồn lực ngân sách Nhà nước, nguồn lực vốn tín dụng, nguồn lực của doanh nghiệp đầu tư hỗ trợ, nguồn lực của cộng đồng nhân dân (Thủ tướng Chính phủ, 2010)

Huy động nguồn lực chính là lý thuyết xã hội học trong việc nghiên cứu các phong trào xã hội mà nổi lên trong những năm 1970 Nó nhấn mạnh đến khả năng của các thành viên của phong trào để có được nguồn tài nguyên và huy động người dân đối với việc hoàn thành các mục tiêu của phong trào

Huy động nguồn lực là hướng dẫn các nguồn lực, chủ yếu là nội lực, để tăng cường năng lực tổ chức và mang lại lợi ích cho cộng đồng

Mục đích của huy động nguồn lực là làm thế nào để một tổ chức có thể gây quỹ cần thiết để thực hiện sứ mệnh của mình? Các nguồn lực cần có đang ở đâu? Làm thế nào để bạn có thể duy trì tổ chức và công việc của mình? Đó là những câu hỏi chính mà các tổ chức phải đối mặt khi họ phải xem xét làm thế nào để duy trì công việc của họ và tăng cường tính bền vững của tổ chức

Việc xây dựng một kế hoạch hoặc một chiến lược huy động nguồn lực có thể dẫn đến các nỗ lực sáng tạo trong việc sử dụng các tài sản của chính bạn để đạt được sự ủng hộ cho tổ chức của bạn Các nguồn tài trợ khác nhau có thể làm tăng tính độc lập và linh hoạt để thực hiện các chương trình và giảm thiểu sự phụ thuộc vào các nguồn quỹ bên ngoài (Phạm Thị Hiệp, 2014)

Theo Korten (1987), cho rằng cộng đồng là một nhóm người sống trong một môi trường có những điểm tương đối giống nhau, có những mối quan hệ nhất định với nhau (dẫn theo Trần Thị Thanh Hà, 2012)

“Cộng đồng là một tập thể có tổ chức, bao gồm các cá nhân con người sống chung ở một địa bàn nhất định, có chung một đặc tính xã hội hoặc sinh học nào đó và cùng chia sẻ với nhau với một lợi ích vật chất hoặc tinh thần nào đấy” (Nguyễn Ngọc Lâm, 2005)

Cơ sở thực tiễn

2.2.1 Kinh nghiệm, bài học một số nước trên thế giới

Tình hình đầu tư phát triển KCHT của các nước trong khu vực châu Á, đặc biệt là những nước có nền nông nghiệp phát triển nói chung hiện nay đang theo xu hướng xã hội hoá về đầu tư, khuyến khích ưu tiên cho các thành phần kinh tế tham gia vào đầu tư cho lĩnh vực công nghiệp, điện lực, thông tin, theo hướng đáp ứng nhu cầu thị trường là phát triển hàng hoá lớn chất lượng cao giá thành hạ

Hiệu quả thấp của đầu tư công là một trong những yếu tố khiến tốc độ tăng trưởng chậm hơn so với tiềm năng, từ thực tế hạn chế đó các nước châu Á có nền nông nghiệp phát triển từ lâu đã thay đổi phương thức đầu tư, hình thức sở hữu các tài sản có nguồn gốc ngân sách nhà nước để huy động nhiều nguồn vốn khác nhau ngoài ngành nông nghiệp, từ mọi thành phần kinh tế đặc biệt là kinh tế tư nhân Cơ cấu kinh tế hợp lý thì trong đó GDP nông nghiệp chiếm tỷ trọng thấp và có xu hướng giảm, phát triển nông nghiệp có xu hướng chuyển sang phát triển nông nghiệp sinh thái lấy mục tiêu phát triển KT-XH bảo vệ môi trường là chính

Thực tế phát triển kinh tế thế giới trong vòng 2- 3 thập niên vừa qua đã chỉ rõ, tất cả các nước có nền kinh tế phát triển nhanh đều đề ra chủ trương phát triển hệ thống KCHT đi trước một bước đặc biệt chú trọng đầu tư phát triển hệ thống KCHT giao thông nông thôn Có thể thấy rõ điều này qua tình hình thực hiện đầu tư và chiến lược phát triển KCHT giao thông nông thôn của một số nước như Hàn Quốc và một số nước trong khu vực Đông Nam Á có điều kiện tự nhiên và đặc điểm sản xuất nông nghiệp tương tự như nước ta

2.2.1.1 Kinh nghiệm của Hàn Quốc

Theo nghiên cứu của Vũ Thị Hà Thanh (2013), những năm đầu thập niên

60 của thế kỷ XX, Hàn Quốc vẫn là một nước chậm phát triển, nông nghiệp là hoạt động kinh tế chính, với khoảng 2/3 dân số sống ở nông thôn Nông dân sống trong cảnh nghèo nàn, an phận thủ thường, thiếu tinh thần trách nhiệm GDP bình quân đầu người của Hàn Quốc chỉ có 85 USD; phần lớn người dân không đủ ăn; 80% dân nông thôn không có điện thắp sáng, sống trong những căn nhà lợp bằng lá Là nước nông nghiệp, lũ lụt và hạn hán lại xảy ra thường xuyên, mối lo lớn nhất của chính phủ khi đó là làm sao đưa đất nước thoát khỏi đói, nghèo Do vậy, cần có chính sách mới phải khơi dậy được niềm tin, tính tích cực đối với việc PTNT, khơi dậy tính độc lập, hăng say lao động của nông dân ở khu vực nông thôn và nâng cao vai trò của họ trong cuộc sống Tổng thống Hàn Quốc phát biểu: “Nếu chúng ta có thể tạo ra hay khai thác được tinh thần chăm chỉ, tự vượt khó khăn và hợp tác tiềm ẩn trong mỗi thành viên sống trong khu vực nông thôn, tôi tin tưởng rằng tất cả các làng xã nông thôn sẽ trở thành nơi thịnh vượng để sống Chúng ta có thể gọi là phương hướng hành động của mô hình Saemaul Undong đó là lời tuyên ngôn của phong trào làng mới” Như vậy, phong trào làng mới nhấn mạnh đến yếu tố quan trọng nhất tạo động lực cho phát triển là “phát triển tinh thần của người nông dân”, lấy kích thích vật chất nhỏ để kích thích tinh thần, qua đó phát huy nội lực tiềm tàng to lớn của nông dân

Phong trào Làng mới (SU-Saemaul Udong) ra đời với 3 tiêu chí, đó là “Sự cần cù, tự lực và hợp tác” Năm 1970, sau những dự án thí điểm đầu tư cho nông thôn có hiệu quả, Chính phủ Hàn Quốc đã chính thức phát động phong trào SU và được nông dân hưởng ứng mạnh mẽ Họ thi đua cải tạo nhà mái lá bằng mái ngói, đường giao thông trong làng, xã được mở rộng, nâng cấp; các công trình phúc lợi công cộng được đầu tư xây dựng (Phạm Thị Hiệp, 2014)

Cấp được coi trọng nhất vẫn là cấp cơ sở, việc đầu tiên được tiến hành là bầu ra một tổ chức ở cấp cơ sở được gọi là “Uỷ ban Phát triển Làng mới”; Uỷ ban này có khoảng 5 - 10 người, những người này là đại diện cho cộng đồng ở làng và chịu trách nhiệm lập kế hoạch, thực thi các tiểu dự án PTNT cho làng mình Ngoài ra ở cấp tỉnh và cấp huyện, thị cũng được thành lập Uỷ ban này nhằm giúp, hướng dẫn, tư vấn mọi hoạt động cho Uỷ ban Phát triển làng mới và giúp họ trong vấn đề huy động vật lực Khác với các nước khác, chương trình này do Tổng thống đứng ra trực tiếp lãnh đạo Bộ trưởng Bộ Nội vụ đứng đầu Uỷ ban điều phối TW với 12 điều phối viên là các Bộ trưởng của các bộ (Vũ Thị Hà Thanh, 2013)

- Đội ngũ lãnh đạo thôn làm nòng cốt cho chương trình phát triển: Cuộc họp toàn dân mỗi làng bầu ra hai lãnh đạo, một nam và một nữ để lãnh đạo cho phong trào của mình Những người này độc lập với hệ thống chính trị, hành chính ở nông thôn và không được hưởng một khoản trợ cấp nào, nguồn tinh thần chính cho họ là sự kính trọng của cộng đồng và sự vận động tinh thần kịp thời từ Chính phủ, những người lãnh đạo tinh thần này không bị một sức ép nào về chính trị hay ảnh hưởng về kinh tế, mà chỉ chịu sự phán xét của nông dân và được cộng đồng tin yêu

- Đào tạo cán bộ các cấp theo các mô hình, gắn cả nước với phong trào PTNT Để giảm khoảng cách giữa dân thường và quan chức Chính phủ, cần gắn bó thực sự cán bộ nhà nước với nhân dân Các quan chức TW được đưa về và sống cùng với nông dân, lãnh đạo các cấp chính quyền sống với lãnh đạo nông dân

- Phát huy dân chủ, đưa nông dân tham gia vào quá trình ra quyết định PTNT Hàn Quốc thành lập hội đồng phát triển xã, quyết định sử dụng trợ giúp của Chính phủ trên cơ sở công khai, dân chủ, bàn bạc để triển khai các dự án theo mức độ cần thiết của địa phương Thành công ở Hàn Quốc là xã hội hóa các nguồn hỗ trợ để dân tự quyết định lựa chọn dự án, phương thức đóng góp, giám sát công trình (Trần Thị Thanh Hà, 2009)

- Nét nổi bật trong phong trào “Làng mới” của Hàn Quốc là hàng năm có đánh giá hiệu quả tham gia chương trình một cách nghiêm túc, công khai Nơi nào thực hiện thành công từng giai đoạn của dự án mới được hỗ trợ chương trình khác

- Nhà nước hỗ trợ vật tư, nhân dân đóng góp công, của; sự giúp đỡ và hỗ trợ của Nhà nước được giảm dần khi quy mô của địa phương và sự tham gia của dân gia tăng Nông dân chủ động trong vấn đề ra quyết định thứ tự ưu tiên trước, sau, họ tự quyết định các loại thiết kế, chỉ đạo thi công, xây lắp, nghiệm thu, giám sát công trình

Chỉ sau 8 năm, các dự án phát triển KCHT nông thôn cơ bản được hoàn thành Trong 8 năm từ 1971-1978, Hàn Quốc đã cứng hóa được 43.631km đường làng nối với đường của xã, trung bình mỗi làng nâng cấp được 1.322m đường; cứng hóa đường ngõ xóm 42.220km, trung bình mỗi làng là 1.280m; xây dựng được 68.797 cầu (Hàn Quốc là đất nước có nhiều sông suối), kiên cố hóa 7.839km đê, kè; xây 24.140 hồ chứa nước và 98% hộ có điện thắp sáng Đặc biệt, vì không có quỹ bồi thường đất và các tài sản khác nên việc hiến đất, tháo dỡ công trình, cây cối, đều do dân tự giác bàn bạc, thỏa thuận, ghi công lao đóng góp và hy sinh của các hộ cho phong trào Nhờ phát triển giao thông nông thôn nên các hộ có điều kiện mua sắm phương tiện sản xuất Năm 1979, Hàn Quốc đã có 98% số làng tự chủ về kinh tế (Đoàn Thị Hân, 2013)

Bộ mặt nông thôn thay đổi một cách nhanh chóng, sau tám năm các dự án phát triển KCHT nông thôn cơ bản được hoàn thành Sau hơn 30 năm thực hiện phong trào “làng mới”, môi trường sống và cuộc sống vật chất của người dân nông thôn đã được cải thiện đáng kể; sản xuất mang tính thương mại Cái được lớn nhất là những người nông dân nghèo đói bắt đầu trở nên tự tin hơn, khu vực nông thôn trở thành xã hội năng động, có khả năng tích luỹ, tự đầu tư và nhờ đó mà có khả năng tự phát triển

Thắng lợi đó được Hàn Quốc tổng kết thành 6 bài học lớn; trong đó quan tâm phát huy nội lực của nhân dân để xây dựng KCHT nông thôn, phương châm là nhân dân quyết định và làm mọi việc, “nhà nước bỏ ra 1 vật tư, nhân dân bỏ ra 5-10 công sức và tiền của” Dân quyết định loại công trình, dự án nào cần ưu tiên làm trước, công khai bàn bạc, quyết định thiết kế và chỉ đạo thi công, nghiệm thu công trình Đầu tư PTNT là quá trình lâu dài và tốn kém, để hạn chế nguồn kinh phí hạn hẹp thì mô hình phong trào “làng mới” Saemaul là một trong số những mô hình PTNT cần được nghiên cứu và áp dụng một cách có chọn lọc, phù hợp với tình hình thực tế tại nước ta

2.2.1.2 Kinh nghiệm của Thái Lan

Thái Lan vốn là một nước nông nghiệp truyền thống với dân số nông thôn chiếm khoảng 80% dân số cả nước Trong xây dựng KCHT, Nhà nước đã có chiến lược trong xây dựng và phân bố hợp lý các công trình thủy lợi lớn phục vụ cho nông nghiệp Hệ thống thủy lợi bảo đảm tưới tiêu cho hầu hết đất canh tác trên toàn quốc, góp phần n âng cao năng suất lúa và các loại cây trồng khác trong sản xuất nông nghiệp Chương trình điện khí hóa nông thôn với việc xây dựng các trạm thủy điện vừa và nhỏ được triển khai rộng khắp cả nước Những thập kỷ cuối thế kỷ 20 đầu tư phát triển KCHT cho sản xuất nông nghiệp và nông thôn ở Thái Lan đã góp phần chuyển dịch nền sản xuất nông nghiệp truyền thống sang sản xuất nông nghiệp hàng hoá lớn hướng tới chiếm lĩnh được thị trường xuất khẩu nông sản của thế giới

Phương pháp nghiên cúu

Đặc điểm của địa bàn nghiên cứu

Kim Sơn là một huyện đồng bằng ven biển, nằm ở phía Đông Nam của tỉnh Ninh Bình Phía Bắc giáp huyện Yên Mô và huyện Yên Khánh tỉnh Ninh Bình; Phía Đông giáp huyện Nghĩa Hưng tỉnh Nam Định; Phía Tây giáp huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa; Phía Nam giáp Vịnh Bắc Bộ

Năm 1829 khi thành lập huyện Kim Sơn gồm 7 tổng với 60 ấp, lý, trại, giáp với số ruộng khẩn hoang được 14.620 mẫu chia cho 1.260 dân đinh Lúc đầu huyện lỵ đóng tại Quy Hậu (nay là xã Hùng Tiến), sau mới chuyển về Phát Diệm

- Thị trấn trung tâm của huyện lỵ ngày nay Huyện Kim Sơn có 27 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm 02 thị trấn: Phát Diệm, Bình Minh và 25 xã: Ân Hòa, Chất Bình, Chính Tâm, Cồn Thoi, Định Hóa, Đồng Hướng, Hồi Ninh, Hùng Tiến, Kim Chính, Kim Định, Kim Đông, Kim Hải, Kim Mỹ, Kim Tân, Kim Trung, Lai Thành, Lưu Phương, Như Hòa, Quang Thiện, Tân Thành, Thượng Kiệm, Văn Hải, Xuân Thiện, Yên Lộc, Yên Mật Tổng số thôn trên địa bàn huyện là 277 thôn (Trần Hồng Quảng, 2015)

Kim Sơn nằm trong vùng bờ biển được bồi lắng, có hòn Nẹ chắn phía ngoài làm cho mặt nước bên trong khá yên tĩnh Vì vậy, vùng bãi bồi Kim Sơn có mức bồi tụ ra biển hàng năm từ 80 đến 100 mét Huyện Kim Sơn có 15km bờ biển và ba con sông chính là sông Đáy, sông Vạc, sông Càn, ngoài ra còn có các con sông quan trọng khác là sông Yêm bắt đầu chảy từ sông Vạc (Yên Mô) chảy vào sông Cà Mau với chiều dài 4,5km; Sông Ân nối liền sông Đáy với sông Càn chảy vắt ngang qua huyện Kim Sơn, bắt đầu từ Xuân Thiện chảy qua các xã Chính Tâm, Chất Bình, Hồi Ninh, Kim Định, Ân Hòa, chạy song song với Quốc lộ 10 qua thị trấn Phát Diệm đến Lai Thành và một hệ thống các sông nhỏ, kênh mương giữa các làng chảy ra sông Đáy Hệ thống sông, ngòi này vừa là hệ thống tưới tiêu nước phục vụ sản xuất nông nghiệp vừa là hệ thống giao thông đường thủy quan trọng, vận chuyển hàng hóa ngược xuôi theo sông Vạc lên huyện Yên

Mô, qua sông Đáy sang Nam Định, theo sông Đáy, sông Càn ra biển giao lưu, thông thương hàng hóa với các tỉnh ven biển nước ta và các nước khác Với vị trí như vậy rất thuận tiện cho việc đưa các sản phẩm của huyện (đặc biệt là các sản phẩm thủ công mỹ nghệ và sản phẩm nông nghiệp) của huyện Kim Sơn đến với các tỉnh, thành phố trong cả nước, xuất khẩu ra nước ngoài và tiếp nhận nguồn nguyên vật liệu (nhất là vật liệu xây dựng) từ các địa phương các về Kim Sơn phục vụ cho các hoạt động kinh tế, xây dựng tạo tính đa dạng của vùng quê ven biển của tỉnh Ninh Bình

Từ thị trấn Phát Diệm trung tâm của huyện dọc theo Quốc lộ 10 đi tới thành phố Ninh Bình là 30km; Cách thủ đô Hà Nội 120km Ngược lại, theo Quốc lộ 10 vào thị trấn Nga Sơn huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa là 17km Từ thị trấn Phát Diệm theo đường ĐT481 đi tới thị trấn Bình Minh và các xã vùng bãi ngang Kim Đông, Kim Hải, Kim Trung là hơn 20km đến vùng bãi bồi ven biển của huyện (Trần Hồng Quảng, 2015)

Tổng diện tích tự nhiên của huyện Kim Sơn năm 2015 là 21.571ha, trong đó đất nông nghiệp là 13.401,15ha chiếm 62,22 diện tích đất tự nhiên toàn huyện (Trong đất nông nghiệp diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 9.603,99ha chiếm 71,67%; Đất nuôi trồng thủy, hải sản là 3.107,26ha chiếm 23,18%; Đất lâm nghiệp là 685,51ha chiếm 5,12%; Đất nông nghiệp khác là 4,29ha chiếm 0,03%); Đất phi nông nghiệp là 5.927,09ha; Đất chưa sử dụng là 2.208,8ha; Đất thịt nặng chiếm 70% diện tích đất canh tác của huyện, độ pH trung bình từ 5,0 – 6,0; Độ mặn trung bình từ 0,15 - 0,25% Huyện Kim Sơn đã cơ bản hoàn thành công tác dồn điền đổi thửa đất sản xuất nông nghiệp đến nay ngoài 02 thị trấn không thực hiện dồn điền đổi thửa do đất nông nghiệp gọn, ít và 02 xã không dồn điền đổi thửa do đất nuôi trồng thủy sản, đã có 21 xã thực hiện xong công tác dồn điền đổi thửa đất sản xuất nông nghiệp (Chi cục Thống kê, Phòng Tài nguyên và MT huyện Kim Sơn, 2016)

3.1.1.4 Tài nguyên thiên nhiên khác

- Đặc điểm về tài nguyên (rừng, biển, động thực vật và khoáng sản): Kim Sơn có vùng đệm khu vực dự trữ sinh quyển Châu thổ sông Hồng với diện tích vùng đệm là 4.854ha (nội địa là 3.454ha; biển là 1.400ha) Diện tích rừng phòng hộ là 685,5ha Các loài chim, động thực vật đa dạng:

- Động vật: Cò mỏ thìa, ngỗng trời, vịt trời; Thủy hải sản: Tôm, cua, cá biển, trai, sò, ngao; Thảm thực vật: Rong câu

- Về khoáng sản: Kim Sơn có 6,15ha núi đá tại xã Lai Thành trong đó có 5,55ha thuộc quản lý, sử dụng vào mục đích quốc phòng; 0,6ha có khả năng khai thác và được UBND tỉnh Ninh Bình giao cho hợp tác xã khai thác đá, sản xuất vật liệu xây dựng Hợp Thành đang khai thác Có hai doanh nghiệp khai thác đất sét sản xuất gạch, ngói với tổng diện tích 40ha (tại xã Yên Lộc, Như Hòa và Quang Thiện)

- Tài nguyên nước: Tổng số giếng khoan trên địa bàn huyện là 14.037 chiếc, giếng đào là 8.125 chiếc riêng lẻ ở hộ gia đình ở hầu hết các xã, thị trấn

Có 7 cụm công trình sử dụng nước tập trung sử dụng cho khoảng 3.000 hộ tại các xã, thị trấn: Hùng Tiến, Kim Trung, Văn Hải, Kim Tân, Lai Thành, Yên Lộc, thị trấn Bình Minh và thị trấn Phát Diệm Tỷ lệ hộ dân được sử dụng nước sạch, nước hợp vệ sinh là 90%

Những đặc điểm về vị trí địa lý, đất đai, khí hậu tài nguyên và nguồn nước của huyện Kim Sơn cho thấy có rất nhiều thuận lợi cho phát triển kinh tế, đặc biệt là nông nghiệp, xây dựng và tiểu thủ công nghiệp (nhiều sản phẩm thủ công mỹ nghệ của huyện Kim Sơn đã được xuất khẩu ra các địa phương và các nước khác trên thế giới) là cơ sở cho phát triển kinh tế nông thôn (Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Kim Sơn, 2014)

Tổng dân số của huyện năm 2015 là 172.260 người trong đó 94.038 người đang trong độ tuổi lao động (chiếm 55,1% dân số của huyện), là yếu tố thuận lợi để tăng trường và cũng gây ra áp lực không nhỏ trong giải quyết công ăn việc làm cho người lao động Trong tổng dân số của huyện, người theo đạo Công giáo (Thiên chúa giáo) chiếm 46,7% Các xã, thị trấn của huyện đều có đồng bào Công giáo sinh sống, số lượng dân theo đạo Công giáo có tỷ lệ lớn nhất là ở các xã: Xuân Thiện là 87,8%, xã Chính Tâm là 82,0% và 06 xã vùng bãi ngang ven biển đặc biệt khó khăn gồm: xã Cồn Thoi có đồng bào theo đạo Công giáo là 91,1%, xã Kim Tân là 78,4%, xã Kim Mỹ là 87,1%, xã Kim Đông là 58,7%, xã Kim Trung là 61,0% và xã Kim Hải là 53,3% (Chi cục Thống kê, Phòng Lao động TB&XH, Phòng Nội vụ huyện Kim Sơn, 2016)

3.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội

- Tình hình sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện trong những năm qua tăng trưởng khá, cơ cấu trong nội bộ ngành nông nghiệp chuyển dịch theo hướng tích cực, sản lượng, năng suất lúa và thủy hải sản các loại bình quân năm tăng trưởng cao Tuy nhiên, do ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng kinh tế, dịch bệnh, giá cả thấp và thị trường tiêu thụ khó khăn do đó sản phẩm của các ngành trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản gặp nhiều khó khăn ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân (Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Kim Sơn, 2016)

- Về sản xuất Công nghiệp - Xây dựng - Tiểu thủ công nghiệp: Giá trị sản xuất ngành công nghiệp – xây dựng – tiểu thủ công nghiệp đóng góp hàng năm chủ yếu là sản phẩm thủ công mỹ nghệ hàng cói xuất khẩu và các hàng hóa khác xuất khẩu Các sản phẩm cói được xuất khẩu sang các nước Hàn Quốc, Nhật Bản, Phillippine; Các nước Châu Âu: Đức, Pháp, Ý, Cộng hòa Séc và mở rộng sang các nước Châu Mỹ Tuy nhiên, diện tích trồng và sản lượng cói các loại có xu hướng giảm do ảnh hưởng từ nhiều yếu tố đặc biệt là thị trường tiêu thụ sản phẩm sản xuất từ cây cói gặp nhiều trở ngại do sự cạnh tranh của các sản phẩm khác cùng loại

- Thương mại, dịch vụ: Hàng hóa trên thị trường đa dạng, phong phú đáp ứng nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của nhân dân Các ngành dịch vụ bưu chính viễn thông, vận tải tích cực đầu tư máy móc, hiện đại hóa trang thiết bị, đa dạng hóa các hình thức phục vụ đáp ứng nhu cầu thiết yếu và nâng cao đời sống nhân dân (Phòng Kinh tế - Hạ tầng huyện Kim Sơn, 2016)

3.1.3.2 Về văn hóa - xã hội

Phương pháp nghiên cứu

3.2.1 Chọn điểm nghiên cứu Đề tài nghiên cứu trên địa bàn 25 xã thuộc huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình trong đó điểm nghiên cứu chính là các xã Ân Hòa, xã Kim Chính, xã Quang Thiện và xã Thượng Kiệm So với các xã còn lại trên địa bàn huyện đây là 4 xã có điều kiện KT-XH ở mức trung bình của huyện, mức huy động nguồn lực khá đồng thời cũng là các xã tiêu biểu cho các năm: 2014 xã Thượng Kiệm đạt chuẩn NTM; năm 2015 xã Quang Thiện đạt chuẩn nông thôn mới; năm 2016 xã Ân Hòa đạt chuẩn nông thôn mới; Năm 2017 xã Kim Chính đăng ký xã đạt chuẩn nông thôn mới do đó mức độ huy động nguồn lực tập trung hơn và mang tính đại diện hơn

3.2.2.1 Nguồn số liệu thứ cấp

Các chương trình nghiên cứu về xây dựng KCHT và những vấn đề liên quan đến xây dựng KCHT nông thôn đã được công bố (sách, bài báo, tạp chí, báo cáo chuyên đề, nghiên cứu khoa học, internet, )

Phương pháp thu thập thông tin, số liệu thứ cấp:

Liệt kê các thông tin cần thiết có thể thu thập, hệ thống hóa theo nội dung và địa điểm dự kiến thu thập

Liên hệ với cơ quan cung cấp thông tin

Tiến hành thu thập bằng ghi chép, sao chụp

Kiểm tra tính thực tế của thông tin qua quan sát trực tiếp và kiểm tra chéo

Bảng 3.2 Cách thức thu thập thông tin

Thông tin Loại tài liệu Nguồn thu thập

Cơ sở lý luận của đề tài, các số liệu, dẫn chứng về xây dựng

Việt Nam và thế giới

Các nghiên cứu gần đây có liên quan,

Số liệu về tình hình chung của huyện và các đơn vị nghiên cứu điểm, tình hình xây dựng KCHT của huyện

+ Các loại sách và bài giảng: PTNT nâng cao,

+ Các bài báo từ các tạp chí có liên quan tới đề tài

+ Các tài liệu từ các website

+ Các luận văn, báo cáo liên quan đến đề tài nghiên cứu

+ Báo cáo kết quả KT-XH của huyện qua các năm 2011-2015

+ Tình hình xây dựng KCHT của huyện

+ Niên giám thống kê tỉnh Ninh Bình

+ Các báo cáo về sử dụng ngân sách xây dựng KCHT tầng của huyện

+ Các báo cáo về xây dựng NTM trên địa bàn

+ Quy hoạch phát triển KT-XH giai đoạn 2010-2015, định hướng đến năm 2020

Thư viện Học viện nông nghiệp Việt Nam, Internet Chi cục Thống kê huyện Kim Sơn

VPĐP NTM huyện Kim Sơn

Các phòng ban chức năng liên quan huyện Kim Sơn

3.2.2.2 Nguồn số sơ cấp Điều tra một số cán bộ, hộ dân thuộc các xã Ân Hòa, Kim Chính, Quang Thiện và Thượng Kiệm huyện Kim Sơn bằng bảng câu hỏi và ghi chép, sao chụp

Tôi sử dụng bảng câu hỏi để phỏng vấn thử, sau khi phỏng vấn thử rồi chỉnh sửa bảng câu hỏi và tiến hành phỏng vấn sâu 100 cán bộ, người dân 4 xã và cán bộ, công nhân các doanh nghiệp bởi đây là những người trực tiếp tham gia và được hưởng lợi từ chương trình xây dựng KCHT với những thông tin cơ bản của người được phỏng vấn về họ tên, tuổi, giới tính, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, độ tuổi, thu nhập, mức đóng góp (tiền mặt, công lao động, đất đai, vật liệu khác ); những hiểu biết của họ về chương trình xây dựng KCHT; sự tham gia của họ ở địa phương; ý kiến, nhận xét của họ về ý nghĩa, tầm quan trọng của việc xây dựng KCHT trong thời gian qua, cũng như khả năng tham gia ủng hộ, đóng góp của họ trong thời gian tới;

- Phương pháp chọn mẫu: điều tra, phỏng vấn ngẫu nhiên và chọn điểm các hộ gia đình trên địa bàn nghiên cứu Căn cứ vào tình hình kinh tế, vị trí địa lý, phạm vị nghiên cứu và thời gian nghiên cứu, tôi tiến hành điều tra với tổng số phiếu là 100 phiếu trên địa bàn 04 xã; đây là các hộ, cán bộ cơ sở, thôn xóm trưởng đại diện cho các thành phần khác nhau có liên quan đến vấn đề huy động nguồn lực xây dựng KCHT nông thôn trên địa bàn 4 xã

Các doanh nghiệp: Chúng tôi tiến hành điều tra 10 doanh nghiệp trên địa bàn, đại diện các lĩnh vực khác nhau có liên quan đến việc huy động nguồn lực, nhằm đánh giá khả năng huy động nguồn lực của doanh nghiệp, cộng đồng trong xây dựng KCHT nông thôn huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình

- Dung lượng mẫu điều tra đại diện cho toàn bộ người dân sống trong khu vực nghiên cứu đảm bảo các điều kiện:

+ Trình độ học vấn của người được điều tra

+ Nghề nghiệp của người được điều tra

+ Tình hình thu nhập của người được điều tra

+ Nguồn lực đã đóng góp

+ Hiểu biết về việc xây dựng các công trình KCHT ở địa phương, mức độ tham gia và khả năng huy động

3.2.3 Phương pháp xử lý số liệu

Số liệu được ghi chép, tập hợp, phân loại và xử lý tính toán bằng công cụ MicrosoftExcel thực hiện qua các bước:

Mã hóa số liệu: Các dữ liệu định tính được mã hóa thành các con số, các số liệu định lượng thì không cần mã hóa

Nhập số liệu: Số liệu được nhập và lưu trữ vào file dữ liệu được thiết kế thuận tiện cho việc nhập liệu

Hiệu chỉnh: Kiểm tra, phát hiện những sai sót trong quá trình nhập số liệu từ bảng số liệu ghi tay vào file số liệu trên máy tính

- So sánh định lượng: So sánh trước và sau khi thực hiện xây dựng KCHT nông thôn tại huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình Từ đó thấy được hiệu quả của việc huy động nguồn lực

- So sánh định tính: Sử dụng những chỉ tiêu về mặt xã hội và môi trường để đánh giá Trong quá trình so sánh ta cũng có thể kết hợp giữa so sánh định tính và định lượng để phân tích vấn đề

3.2.3.2 Phương pháp thống kê mô tả

Là phương pháp nghiên cứu các hiện tượng KT-XH bằng việc mô tả thông qua các số liệu thu thập được Phương pháp này sử dụng các chỉ tiêu phân tích như số tương đối, số tuyệt đối, số bình quân để phân tích tình hình KT-XH, đầu tư KCHT ở địa phương

Thông qua so sánh thu thập thông tin, tìm hiểu thực tế, thông qua các số liệu thứ cấp tiến hành thống kê và mô tả lại đời sống của người dân, tình hình sản xuất kinh doanh, thu nhập, mong muốn của người dân, của các hộ gia đình; thống kê về hiện trạng đất đai, dân số, lao động, thống kê huy động nguồn lực xây dựng KCHT trên địa bàn huyện

3.2.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu

Hệ thống chỉ tiêu phân tích gồm:

- Nhóm chỉ tiêu phản ánh kết quả huy động nguồn lực xây dựng KCHT nông thôn đó là:

+ Nguồn vốn đã huy động được từ các nguồn

+ Khối lượng, số lượng các công trình KCHT được xây dựng

+ Tiền mặt người dân đóng góp xây dựng KCHT nông thôn

+ Công lao động nhân dân tham gia xây dựng KCHT nông thôn

+ Đất đai người dân hiến cho xây dựng công trình KCHT nông thôn + Khối lượng vật liệu đã huy động được từ cộng đồng

+ Thu nhập của người dân

+ Các loại hình đóng góp khác tham gia xây dựng KCHT nông thôn;

- Nhóm chỉ tiêu phản ánh các yếu tố ảnh hưởng đến huy động nguồn lực của cộng đồng:

+ Phương thức đóng góp của cộng đồng

+ Mức độ tuyên truyền vận động

+ Mức độ hài lòng của người dân khi tham gia đóng góp nguồn lực

+ Trình độ nhận thức của người dân

+ Cơ chế chính sách của Nhà nước

+ Nghề nghiệp của người dân

+ Khả năng sãn sàng tham gia đóng góp của người dân

+ Chất lượng các công trình xây dựng

+ Một số chỉ tiêu khác.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Ngày đăng: 13/06/2021, 09:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
7. Đặng Kim Sơn (2008). "Nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam", Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam
Tác giả: Đặng Kim Sơn
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2008
12. Hoàng Phê (1994). "Từ điển tiếng Việt", Viện ngôn ngữ học, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê
Năm: 1994
42. VPĐP NTM Quảng Trị (2014). Huy động nguồn lực trong xây dựng NTM, truy cập ngày 6/10/2016 từ http://nongthonmoi.quangtri.gov.vn/index.php/vi/news/Mo-hinh-hay-cach-lam-tot/Huy-dong-nguon-luc-trong-xay-dung-nong-thon-moi-226/ Link
43. WorldBank (2016). Việt Nam, Dự án Cơ sở hạ tầng nông thôn dựa vào cộng đồng, từhttp://web.worldbank.org/WBSITE/EXTERNAL/ACCUEILEXTN/NEWSFRENCH/0,,contentMDK:23087160~pagePK:64257043~piPK:437376~theSitePK:1074931.html Link
44. UBND thị xã Đồng Xoài (2016). Bài học từ việc huy động nguồn lực đầu tư xây dựng KCHT ở thị xã Đồng Xoài, truy cập ngày 06/10/2016 từ http://dongxoai.binhphuoc.gov.vn/kinh-te-xa-hoi/bai-hoc-tu-viec-huy-dong-nguon-luc-dau-tu-xay-dung-ket-cau-ha-tang-o-thi-xa-dong-xoai..html Link
45. Báo Ninh Bình (2016). Yên Mô huy động nhiều nguồn lực xây dựng NTM, truy cập ngày 14/10/2016 từ http://baoninhbinh.org.vn/yen-mo-huy-dong-nhieu-nguon-lyc-xay-dyng-nong-thon-moi-20160307095447962p2c21.htm,đăngngày07/3/2016, tác giả Mỹ Hạnh Link
46. UBND xã Hải Toàn, 2016. Xã Hải Toàn huy động các nguồn lực xây dựng hạ tầng nông thôn, từ http://namdinh.gov.vn/xahaitoan/2306/32067/42566/89047/kinh-te/xa-hai-toan-huy-dong-cac-nguon-luc-xay-dung-ha-tang-nong-thon.aspx Link
47. Tạp chí Cộng sản (2012). Kinh nghiệm xây dựng NTM ở một số nước trên thế giới, truy cập ngày 14/10/2016 từ http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/nong-nghiep-nong-thon/2012/14689/Kinh-nghiem-xay-dung-nong-thon-moi-o-mot-so-nuoc-tren.aspx. Truy cập ngày 25/10/2016 Link
1. Ban chấp hành TW (2012). Nghị quyết 13-NQ/TW ngày 16/01/2012 của Ban chấp hành TW Đảng Cộng sản Việt Nam, Khóa XI Khác
2. Bộ Tài chính (2005). Thông tư số 19/2005/TT-BTC ngày 11/3/2005, hướng dẫn việc công khai tài chính đối với các quỹ có nguồn từ ngân sách nhà nước và các quỹ có nguồn từ các khoản đóng góp của nhân dân Khác
3. Bộ Tài chính (2012). Thông tư số 28/2012/TT-BTC Quy định về quản lý vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách xã, phường, thị trấn Khác
4. CIEM-Trung tâm thông tin - tư liệu (2016). Phát triển KCHT để đảm bảo phát triển bền vững Khác
5. Cục Thống kê Ninh Bình (2016). Niên giám thống kê tỉnh Ninh Bình năm 2015 Khác
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (2008). Nghị quyết số 26 - NQ/TW, ngày 5/8/2008 Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành TW (khóa X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn Khác
8. Đoàn Thị Hân (2013). Giải pháp huy động nguồn lực tài chính cho thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới, trường hợp nghiên cứu điểm tại xã Hoàng Diệu, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương. Tạp chí Khoa học và công nghệ Lâm Nghiệp số 1, năm 2013 Khác
9. HĐND tỉnh Ninh Bình (2012). Nghị quyết số 01/NQ-HĐND ngày 17/4/2012 về việc thông qua Đề án số 06/ĐA-UBND ngày 04/4/2012 của UBND tỉnh về việc xây dựng NTM tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2011-2015 định hướng đến năm 2020 Khác
10. HĐND tỉnh Ninh Bình (2015). Nghị quyết số 27/NQ-HĐND ngày 10/12/2015 về việc phê duyệt Đề án số 14/ĐA-UBND ngày 16/11/2015 của UBND tỉnh sửa đổi bổ sung Đề án số 06/ĐA-UBND Khác
11. HĐND tỉnh Ninh Bình (2016). Nghị quyết số 38/NQ-HĐND ngày 14/12/2016, phê duyệt Đề án số 29/ĐA-UBND ngày 30/11/2016 của UBND tỉnh Ninh Bình xây dựng NTM tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2017-2020 Khác
13. Huỳnh Công Chất (2016). Giải pháp huy động nguồn lực của cộng đồng trong xây dựng nông thôn mới tỉnh Tiền Giang. Tạp chí khoa học Trường Đại học Cần Thơ, năm 2016 Khác
14. Lê Thị Mỹ Hiền (2005). Tài liệu hướng dẫn học tập Phát triển cộng đồng, trường Đại học Mở TP. Hồ Chí Minh Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm