Mục tiêu nghiên cứu chính của luận văn là tìm hiểu sự lãnh đạo, những chủ trương của Đảng bộ Thị xã Sơn Tây về kinh tế nông nghiệp từ năm 1996 đến năm 2008. Bên cạnh đó đưa ra một số ý kiến đánh giá những thành tựu, hạn chế của Đảng bộ Thị xã Sơn Tây trong phát triển kinh tế nông nghiệp. Mời các bạn tham khảo!
Lịch sử nghiên cứu
Nông nghiệp là một hoạt động sản xuất mang tính chất cơ bản Ở nước ta, Nghị quyết từ Đại hội Đảng lần thứ III (1960) đến Đại hội Đảng lần thứ X
(2006) đều quan tâm, chú trọng tới phát triển kinh tế, tạo nền tảng, điều kiện cho sự phát triển đất nước, trong đó có kinh tế nông nghiệp và có nhiều Nghị quyết chuyên đề về phát triển nông nghiệp, nông thôn Vì vậy, đề tài về nông nghiệp đã có nhiều tác phẩm nghiên cứu của các tác giả, nhiều bài viết trên các tạp chí… đã góp phần cung cấp lý luận và thực tiễn về phát triển nông nghiệp, nông thôn như:
* Với các công trình nghiên cứu chung:
Các bài nghiên cứu, các đề tài… đã đề cập tới việc phát triển kinh tế, đặc biệt là kinh tế nông nghiệp dưới nhiều góc độ khác nhau, như bài viết:
- Hồng Vinh (1998), Công nghiêp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn: một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội
- Đặng Kim Sơn (2001), Công nghiệp hóa từ nông nghiệp: lý luận, thực tiễn và triển vọng ở Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội
- PGS.TS Nguyễn Văn Khánh (2001), Biến đổi cơ cấu ruộng đất và kinh tế nông nghiệp ở vùng Châu thổ sông Hồng trong thời kỳ đổi mới, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội
- T.s Lê Quang Phi (2004), Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn trong thời kỳ đổi mới, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội
- Nguyễn Xuân Thảo (2004), Góp phần phát triển bền vững nông nghiệp, nông thôn Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội
Qua các công trình của các tác giả từ những cách tiếp cận khác nhau đều đề cập đến việc phát triển kinh tế, trong đó đặc biệt là kinh tế nông nghiệp, đề cập đến sự quan tâm của Đảng và Nhà nước trong các chương trình, đề án phát triển nông nghiệp, đồng thời đưa ra các giải pháp thích hợp để kinh tế nông nghiệp phát triển trong thời kỳ CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn và nông dân
* Ngoài ra còn có những luận văn, luận án của các học viên cao học, nghiên cứu sinh lấy đề tài kinh tế nông nghiệp làm đề tài nghiên cứu:
- Đào Thị Vân (2004): “Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa giai đoạn 1997 – 2003”, Luận văn Thạc sĩ Lịch sử, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
- Phạm Thị Thu Hiền (2010), Chuyển đổi ngành nghề trong nông nghiệp và nông thôn thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa,
Luận văn Thạc sĩ kinh doanh và quản lý, Đại học Kinh tế
- Tạ Thị Phương Thúy (2013), Giải quyết việc làm cho nông dân huyện
Phù Ninh- Tỉnh Phú Thọ trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, Luận văn Thạc sĩ Triết học, Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn
- Tống Văn Chung (2011), Những nhân tố kinh tế xã hội tác động đến sự chuyển cư của cư dân nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Luận án Tiến sĩ Xã hội học, Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn
- Đặng Kim Oanh (2010), Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp từ 1996- 2006, Luận án Tiến sĩ Lịch sử, Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn
Qua các đề tài này, các tác giả cũng đã nghiên cứu vấn đề kinh tế nông nghiệp qua việc thực hiện chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, giải quyết việc làm, các điều kiện tác động tới kinh tế nông nghiệp và đời sống nông dân…Từ đó, đưa ra các giải pháp cụ thể để phát triển kinh tế nông nghiệp
Các công trình nghiên cứu về kinh tế nông nghiệp rất đa dạng và phong phú, trên nhiều lĩnh vực cho thấy tầm quan trọng, vai trò của nông nghiệp, nông dân, nông thôn đối với nền kinh tế đất nước Tuy nhiên, hiện nay chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu sâu, toàn diện về kinh tế nông nghiệp ở Thị xã Sơn Tây, nhất là dưới góc độ Lịch sử Đảng Nhưng các công trình kể trên là những tài liệu quý, để tôi có thể tham khảo trong quá trình thực hiện luận văn của mình
* Tại Thị xã Sơn Tây cũng có một số công trình, sách báo liên quan đến vấn đề này: Cuốn“Lịch sử Đảng bộ Thị xã Sơn Tây 1930 - 1995” xuất bản năm 1999 và “Các kỳ Đại hội Đảng bộ Thị xã Sơn Tây” xuất bản năm
2010 đã giới thiệu và khái quát về quá trình xây dựng, phát triển đi lên của Thị xã
Ngoài ra còn các báo cáo tổng kết hàng năm của HĐND, UBND Thị xã Sơn Tây, các báo cáo của các sở, ban, ngành đặc biệt là Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Thị xã Sơn Tây (nay là Phòng Kinh tế Thị xã Sơn Tây)
Những công trình và những báo cáo trên về Thị xã Sơn Tây cũng đã nêu lên một vài khía cạnh hoặc khái quát được tình hình kinh tế xã hội của Thị xã Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu riêng và trình bày một cách tổng quát, hệ thống và chuyên sâu về vấn đề phát triển nông nghiệp theo hướng CNH, HĐH dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ thị xã Sơn Tây trong một giai đoạn cụ thể và vai trò của Đảng trong quá trình đó.
Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tư liệu Để hoàn thành luận văn của mình tôi đã sử dụng nguồn tư liệu chủ yếu: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc của ĐCSVN, Hồ Chí Minh toàn tập, các văn kiện, Nghị quyết, báo cáo của Đảng bộ Tỉnh Hà Tây và của Thị xã Sơn Tây trong những năm 1996- 2008, các báo cáo kinh tế của Phòng Kinh tế Thị xã Sơn Tây, các báo cáo tổng hợp của UBND Thị xã Sơn Tây và một số tư liệu trong lịch sử Đảng bộ Thị xã Sơn Tây Đây là nguồn tư liệu cơ bản để thực hiện đề tài này và những tài liệu đó được khai thác bằng nhiều nguồn khác nhau nhưng chủ yếu là tại Phòng Lưu Trữ của Thị ủy Sơn Tây, UBND
Thị xã Sơn Tây, Phòng Kinh tế Thị xã, Thư viện Thị xã, Phòng Thống kê Thị xã và Thư viện trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các công trình nghiên cứu khoa học, các luận văn, luận án, các bài nói, bài viết của các nhà khoa học, các lãnh đạo Đảng và Nhà nước xung quanh lĩnh vực kinh tế nông nghiệp
5.2 Phương pháp nghiên cứu Đề tài sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Marx- Lênin để xem xét, đánh giá các sự kiện, hiện tượng của kinh tế nông nghiệp ở Thị xã Sơn Tây Đây được coi là cơ sở lý luận của luận văn
Bên cạnh đó, có phương pháp nghiên cứu lịch sử, phương pháp logic và sự kết hợp hai phương pháp đó Các khía cạnh, các vấn đề có liên quan tới kinh tế nông nghiệp ở địa phương được trình bày theo trật tự thời gian, đồng thời được đặt trong mối quan hệ có tính hệ thống, tức là nghiên cứu những nét đặc thù của Thị xã Sơn Tây trong bối cảnh phát triển kinh tế chung của cả nước
Thêm vào đó, luận văn còn sử dụng phương pháp thống kê, phân tích, so sánh, đối chiếu để có thể đưa ra những kết quả xác đáng nhất nhằm góp phần làm sáng tỏ một giai đoạn kinh tế ở địa phương.
Đóng góp của luận văn
Luận văn nhằm hệ thống hóa các chủ trương, chính sách của Đảng bộ
Tỉnh Hà Tây về kinh tế nông nghiệp và cách thức mà Đảng bộ Thị xã Sơn Tây lãnh đạo thực hiện phát triển kinh tế nông nghiệp
Tổng kết, đúc rút những kinh nghiệm Đảng bộ Thị xã lãnh đạo thực hiện phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 1996 đến năm 2008
Bên cạnh đó, luận văn phần nào là nguồn tư liệu tham khảo để viết lịch sử địa phương, ngoài ra còn phục vụ cho nghiên cứu, giảng dạy lịch sử tại các trường Đảng, các trung tâm chính trị và các trường phổ thông địa phương.
Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1 : Đảng bộ Thị xã Sơn Tây lãnh đạo kinh tế nông nghiệp
Chương 2 : Đảng bộ Thị xã Sơn Tây lãnh đạo kinh tế nông nghiệp
Chương 3 : Nhận xét chung và một số kinh nghiệm chủ yếu
ĐẢNG BỘ THỊ XÃ SƠN TÂY LÃNH ĐẠO KINH TẾ NÔNG NGHIỆP (1996- 2000)
Khái quát điều kiện tự nhiên- kinh tế xã hội của Thị xã Sơn Tây 10
1.1.1 Khái quát điều kiện tự nhiên
Sơn Tây là vùng đất cổ, “địa linh nhân kiệt”, là trung tâm văn hóa xứ Đoài, nơi có bề dày và chiều sâu văn hóa, mang đậm bản sắc vùng và dấu ấn văn hóa truyền thống của dân tộc, nơi đây trưởng thành cùng với tiến trình phát triển của lịch sử đất nước và của Đảng Cộng sản Việt Nam
Thị xã Sơn Tây có vị trí thuận lợi trong phát triển kinh tế xã hôi nói chung, sản xuất nông nghiệp nói riêng Đây là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội của Tỉnh Hà Tây trước đây
Thị xã Sơn Tây là cửa ngõ phía Tây của thủ đô Hà Nội, nằm trên tọa độ từ 21 0 01 ’ 22 ’’ đến 21 0 10 ’ 20 ’’ vĩ độ Bắc và từ 105 0 24 ’ 52 ’’ – 105 0 32 ’ 14 ’’ kinh độ Đông, cách trung tâm Hà Nội 42 km về phía Tây Bắc theo quốc lộ 32 Ranh giới giáp với các đơn vị hành chính:
Phía Bắc giáp với tính Vĩnh Phúc qua sông Hồng
Phía Đông giáp với huyện Phúc Thọ và huyện Thạch Thất
Phía Nam giáp với huyện Phúc Thọ
Phía Tây giáp với huyện Ba Vì
Tổng diện tích tự nhiên (2010) là 11.345,85 ha (trong đó diện tích đất tự nhiên khu vực nông thôn là 92,44km 2 , chiếm 81,48% diện tích tự nhiên toàn thị xã); dân số khoảng 18 vạn người (trong đó có khoảng 5 vạn quân nhân các đơn vị quân đội, sinh viên các trường Đại học, Cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề)
Thị xã Sơn Tây hiện có 15 đơn vị hành chính gồm 9 phường và 6 xã (trong đó có 6 phường và 6 xã còn sản xuất nông nghiệp): Ngô Quyền, Quang
Trung, Sơn Lộc, Xuân Khanh, Phú Thịnh, Viên Sơn, Trung Sơn Trầm, Trung Hưng; 6 xã: Đường Lâm, Thanh Mỹ, Xuân Sơn, Kim Sơn, Sơn Đông Với
143 thôn, tổ dân phố; ngoài ra còn có 53 cơ quan, đơn vị doanh nghiệp, bệnh viện, trường học Trung ương, Thành phố Hà Nội và 32 đơn vị, doanh nghiệp, bệnh viện trên địa bàn Thị xã
Thị xã có vị trí thuận lợi là đầu mối giao thông và giao lưu thương mại ở cửa ngõ phía Tây thành phố, có các đường giao thông thủy, bộ quan trọng chạy qua như: tuyến đường thủy chạy dọc theo sông Hồng lên các tỉnh vùng Tây Bắc; đường quốc lộ 21 nối liền với đường Hồ Chí Minh và quốc lộ 32; cầu Vĩnh Thịnh nối giữa hai tỉnh Vĩnh Phúc với Thị xã Sơn Tây (hoàn thành 6/2014) Đặc biệt, trong tương lai khi các tuyến đường trọng điểm của thành phố được xây dựng và nâng cấp như: đường trục Hồ Tây- Ba Vì, trục phát triển Sơn Tây- Thạch Thất- Quốc Oai- Xuân Mai- Miếu Môn, đường vành đai
V liên kết các đô thị xung quanh Hà Nội, cộng thêm các công trình đầu mối hạ tầng kỹ thuật của Thành phố được đầu tư, khu đô thị Hòa Lạc được hình thành sẽ thúc đẩy quá trình đô thị hóa kéo theo sự chuyển biến toàn diện về kinh tế xã hội của Thị xã
Nằm sát với Sơn Tây là khu công nghệ cao và khu đô thị Hòa Lạc, khu trường Đại học Quốc gia Mặt khác, Sơn Tây còn thuộc khu vực định hướng phát triển văn hóa- nghệ thuật, vui chơi giải trí, dịch vụ cao cấp phía Tây thủ đô Hà Nội, nên Sơn Tây trở thành đô thị loại III, do đó, có điều kiện phát huy tối đa nội lực của mình và tranh thủ được sự tác động từ các nguồn vốn đầu tư bên ngoài
- Khí hậu: Điều kiện khí hậu ở khu vực Sơn Tây thuận lợi cho sự phát triển theo hướng đa dạng hóa cây trồng, vật nuôi do địa hình khu vực chia thành các dạng khác nhau (đồng bằng và chuyển tiếp) nên đã tạo ra nhiều vùng khí hậu thích hợp cho phát triển đa dạng sản xuất nông nghiệp
Thị xã Sơn Tây mang đặc điểm chung của vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, mưa và nóng vào mùa hè, khô và lạnh vào mùa đông; ngoài ra còn mang thêm khí hậu của cùng trung du bán sơn địa mát mẻ nên thuận tiện cho các cây ưa lạnh phát triển, thích hợp cho phát triển nền nông nghiệp nhiệt đới đa dạng và tạo ra các khu nghỉ dưỡng, các khu du lịch sinh thái khá tốt
Một năm chia làm hai mùa rõ rệt mùa nóng ẩm và mùa khô hanh Mùa nóng ẩm kéo dài từ tháng 5- tháng 10 hàng năm; mùa khô hanh kéo dài từ tháng 11- tháng 4 năm sau Giữa hai mùa nóng ẩm và khô hanh có các thời kỳ xen kẽ chuyển tiếp khí hậu vào cuối mùa tạo ra thời tiết đặc trưng gồm 4 mùa xuân- hạ- thu – đông
Nhiệt độ không khí trung bình là 22,3 0 C; mùa nóng nhiệt độ cao nhất có thể lên đến 39 0 – 40 0 C nhưng sáng và chiều mát mẻ; mùa hanh khô nhiệt độ thấp nhất có thể xuống đến 3 0 – 4 0 C, trời giá rét, khô hạn và có nhiều sương muối
Lượng mưa trung bình năm 1.830 mm Mưa nhiều nhất vào tháng 7-8-
9, trong các tháng này lượng mưa đạt 822,8mm, độ ẩm tương đối cao nhất trung bình năm đạt 84%, độ ẩm tương đối thấp nhất trung bình năm là 66%
Hướng gió chủ đạo trong năm là gió Đông Nam (vào mùa nóng ẩm mang theo nhiều hơi nước từ biển vào gây nên những trận mưa rào lớn kèm theo gió bão) và gió Đông Bắc (vào mùa lạnh gây lạnh và khô hanh ở những tháng 12- tháng 2 năm sau, sau đó lại gây mưa phùn lạnh và ẩm ướt + sương mù sương giá) Do vậy, khí hậu khu vực này tương đối khắc nghiệt tuy có gây khó khăn nhất định cho cuộc sống con người nhưng cũng chính nhờ đó tạo điều kiện phát triển nền nông nghiệp nhiệt đới đa dạng
Thị xã Sơn Tây là vùng có địa hình trung du đa dạng với 3/4 diện tích là đồi gò có: vùng đất đồi thấp, vùng đất bãi ven sông, vùng đồng bằng và vũng trũng thấp hay bị úng ngập khi mưa Đất đai khá đồng nhất về tính chất lý, hóa học Địa hình dốc dần từ Bắc xuống Nam theo hướng Tây Bắc- Đông Nam, được chia làm 2 dạng địa hình:
+ Dạng bán sơn địa: gồm các xã: Thanh Mỹ, Kim Sơn, Cổ Đông, Sơn Đông; phường Xuân Khanh, Trung Sơn Trầm có diện tích 7.867,63 ha
(69,33% diện tích tự nhiên toàn Thị xã)
+ Vùng đồng bằng: các xã, phường còn lại, diện tích tự nhiên chiếm 30,67% tổng diện tích toàn Thị xã, tuy nhiên sản xuất nông nghiệp chỉ chiếm 41,86% diện tích tự nhiên toàn vùng; phần còn lại là đất phi nông nghiệp
Tình hình kinh tế nông nghiệp của Thị xã Sơn Tây trước năm 1996
Cuối năm 1985, sau những cải cách về giá- lương- tiền thì tình hình kinh tế trong cả nước có biến động không thuận lợi, sự mất cân đối giữa tiền và hàng, giữa cung và cầu trở nên gay gắt, giá cả thị trường tăng nhanh Bên cạnh đó, tình hình thế giới có nhiều diễn biến phức tạp, không có lợi cho chủ nghĩa xã hội, cho phong trào cộng sản và công nhân quốc tế Sự sụp đổ của Liên Xô và một số nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu vào đầu những năm 90 đã tác động lớn đến tâm tư, tình cảm của cán bộ, Đảng viên và nhân dân Trước tình hình đó, tháng 12/1986, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI được tổ chức ở Hà Nội, đây là một điểm mốc quan trọng đánh dấu sự khởi đầu công cuộc đổi mới của Đảng, nhằm “đổi mới về quản lý kinh tế nhằm tiến tới xóa bỏ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp; phát huy tính chủ động, sáng tạo của các đơn vị và cá nhân người lao động” Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, Đại hội đã đánh giá đúng mức những thành tựu quan trọng về xây dựng chủ nghĩa xã hội mà nhân dân đã đạt được; đồng thời chỉ ra những khuyết điểm trên tất cả các mặt kinh tế xã hội, đời sống nhân dân khó khăn gay gắt, tiêu cực xã hội phát triển
Từ những bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn, Đại hội đã đề ra chủ trương đổi mới trên tất cả các lĩnh vực, trong đó tập trung vào ba chương trình kinh tế lớn “lương thực thực phẩm- hàng tiêu dùng- hàng xuất khẩu” Đường lối đổi mới và ba chương trình kinh tế của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI như một luồng sinh khí mới, động viên mạnh mẽ tinh thần lao động hăng say, sáng tạo của nhân dân cả nước Quán triệt đường lối đổi mới của Đảng do Đại hội Đảng toàn quốc lần VI đề ta, được sự chỉ đạo trực tiếp của Tỉnh ủy Hà Sơn Bình về phát triển kinh tế xã hội, cùng với cả nước, Đảng bộ và nhân dân Thị xã Sơn Tây bước vào thời kỳ đổi mới với niềm tin và sức mạnh mới
Thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng bộ toàn quốc lần thứ VI, Đảng bộ Thị xã Sơn Tây đã vận dụng các Nghị quyết của Đảng vào tình hình cụ thể của địa phương nhất là vấn đề kinh tế nông nghiệp của Thị xã
Tháng 9/1986, Đại hội Đại biểu Đảng bộ Thị xã lần thứ XIII đã được triệu tập Sau khi thảo luận, đóng góp ý kiến vào các dự thảo của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, Đại hội đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ của Đảng bộ nhiệm kỳ XII, đồng thời đề ra phương hướng, nhiệm vụ nhiệm kỳ 1986-1988 và phương hướng đến năm 1990 theo cơ cấu kinh tế công- nông nghiệp- dịch vụ xuất khẩu với những nhiệm vụ trung tâm là “ổn định phát triển sản xuất, khai thác tiềm năng và sử dụng tốt cơ sở vật chất hiện có, tổ chức tốt, phân phối lưu thông, mở rộng xuất khẩu, ổn định từng bước đời sống cho nhân dân, giải quyết việc làm cho người lao động, cung cấp ổn định những mặt hàng định lượng cho cán bộ, công nhân viên chức”.[4;95]
Tháng 4/1987, Thị ủy, UBND Thị xã đã chỉ đạo thực hiện mô hình quản lý kinh tế theo hình thức Hợp tác xã (HTX) nông – công- thương- tín
(thống nhất từ 3 HTX: nông nghiệp- mua bán- tín dụng) và lấy HTX Đường Lâm làm đơn vị điểm Qua một thời gian hoạt động, hình thức HTX nông- công- thương- tín được thừa nhận là mô hình phát huy được tính năng động trong tổ chức quản lý sản xuất, kinh doanh, tiềm năng nhiều mặt đạt được hiểu quả kinh tế tốt Nông nghiệp có điều kiện để phát triển, mua bán mở rộng được kinh doanh và tín dụng phát huy được hiệu quả, phục vụ thiết thực sản xuất và đời sống của bà con xã viên Thực tiễn và kinh nghiệm của HTX Đường Lâm là cơ sở để mở rộng mô hình HTX nông- công- thương- tín ra toàn xã
Tháng 4/1988, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 10- NQ/BCT (thường gọi là Nghị quyết khoán 10) nhằm giải phóng sức sản xuất, gắn việc sắp xếp, tổ chức lại sản xuất với cải tạo XHCN, tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật và đưa kỹ thuật tiến bộ vào sản xuất nông nghiệp, “chuyển nền kinh tế nước ta còn mang nặng tính chất tự cung, tự cấp ở nhiều vùng sang sản xuất hàng hóa” [23]
Bước vào vụ đông xuân 1988, dưới sự lãnh đạo của Thành ủy Hà Nội, sau khi làm điểm ở HTX Đường Lâm, Thị ủy Sơn Tây đã chỉ đạo tất cả các HTX nông nghiệp điều thực hiện khoán gọn cho hộ gia đình cả cây lúa và các cây, con, ngành nghề khác Gắn khoán với kế hoạch sản xuất và phân phối ngay từ đầu Tuy mới là bước đầu, song thực tiễn đã khẳng định tính đúng đắn, sức thuyết phục mạnh mẽ đối với chủ trương mới của Đảng Đảng bộ Thị xã đã có những chỉ đạo phù hợp thực hiện Chỉ thị 100 và thi hành Chỉ thị 12 của Thành ủy Hà Nội và Thị ủy Sơn Tây về “Khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động trong các HTX sản xuất nông nghiệp” [36; 215], phương thức khoán sản phẩm mới đã khơi dậy tiềm năng lao động và trách nhiệm của bà con xã viên trước các khâu công việc được giao, động viên được phong trào lao động, sản xuất ở nông thôn, khuyến khích được mọi người hăng hái lao động, chất lượng công việc được tốt hơn, xã viên chủ động đầu tư về lao động, phân bón, dụng cụ, sức kéo….vào sản xuất
Sau hơn một năm thực hiện Nghị quyết, kết quả đã thể hiện rõ nét: nông dân yên tâm phấn khởi sản xuất, chấm dứt được tình trạng trả bớt ruộng khoán (gần 200ha); khai thác được tiềm năng đất đai, lao động, vật tư, tiền vốn, cơ sở vật chất kỹ thuật của cả ba khu vực để tập trung đầu tư vào sản xuất, thực hiện có hiệu quả chương trình lương thực- thực phẩm đã đề ra: năng suất lúa năm 1988 so với năm 1986 tăng 2,2 tạ/ha; sản lượng lương thực đạt 12.820 tấn/12.000 tấn kế hoạch, tăng 12,6%; thịt lợn đạt 480 tấn/450 tấn kế hoạch Đời sống của nông dân giảm bớt khó khăn, mức ăn từ 14kg nâng lên 17,3kg/người/tháng Bộ máy quản lý HTX được kiện toàn theo hướng gọn nhẹ (giảm 42%)
“Chỉ thị 100 của Ban Bí thư (khóa IV) và nghị quyết số 10- NQ/BCT khóa VI là hai mốc lớn, góp phần rất quan trọng, tạo ra bước ngoặt trên con đường phát triển của nông nghiệp, nông thôn nước ta”[20; 4]
Nhìn chung, trên mặt trận nông nghiệp ở thời kỳ này bước đầu đã có sự chuyển biến Tuy nhiên, vẫn chưa khai thác hết tiềm năng, nhất là tiềm năng đất đai, chưa tự giải quyết cân đối được lương thực cho nông dân, thu nhập 3 lợi ích chưa hài hòa Nhiều HTX không thống nhất điều hành được theo kế hoạch Ngoài ra, đầu tư cho nông nghiệp chưa tương xứng với vị trí của ngành trong cơ cấu kinh tế, cơ sở vật chất phục vụ cho nông nghiệp nhiều nơi xuống cấp nghiêm trọng kể cả các công trình thủy lợi trọng điểm của Thị xã Vật tư kỹ thuật cũng chưa có dự trữ chiến lược, cung ứng không kịp yêu cầu sản xuất Nhiều HTX lúc này còn nặng tư tưởng bao cấp, còn lúng túng trong sản xuất kinh doanh theo cơ chế thị trường Việc chuyển giao tiến bộ kỹ thuật đến hộ xã viên chưa làm sâu rộng Sản xuất màu, sản xuất lương thực tăng chậm, một số cây công nghiệp như: mía, sắn, lạc và các ngành thủ công trong nông thôn giảm sút Sản xuất nông nghiệp còn nhỏ lẻ, mang tính chất hộ gia đình, ngành chăn nuôi trong cơ cấu ngành nông nghiệp cũng chưa cao, đặc biệt là chăn nuôi bò dựa trên thế mạnh các đồng cỏ ngoại vi Thị xã
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI(1986) cùng với những chủ trương, chính sách mới của Đảng và Nhà nước với sự lãnh đạo trực tiếp của Thành ủy Hà Nội đã động viên Đảng bộ và nhân dân Thị xã Sơn Tây quyết tâm phấn đấu đạt những mục tiêu kinh tế Tuy nhiên, trong những năm đầu của công cuộc đổi mới, cơ chế mới còn đang hình thành thể nghiệm, chưa đồng bộ, hậu quả của cơ chế tập trung quan liêu bao cấp vẫn tốn tại kéo dài, do vậy hoạt động kinh tế của Thị xã vẫn còn những khó khăn Song với những định hướng đúng đắn của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã từng bước làm bật dậy những tiềm năng của xã hội nói chung và của Thị xã Sơn Tây nói riêng
Công cuộc đổi mới của Đảng đã đem lại cho toàn xã hội bầu không khí dân chủ, sống động, làm phong phú không chỉ hàng hóa tiêu dùng mà còn khơi dậy nhiều năng lực tư duy sáng tạo của đất nước Cuộc sống của nhân dân sau những năm đầu đã khẳng định đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn và chính vì thế nó đã từng bước đi vào cuộc sống và thể hiện sinh động trên tất cả các mặt của đời sống xã hội Thị xã Sơn Tây mặc dù còn nhiều khó khăn, nhưng với thắng lợi bước đầu đạt được đã củng cố niềm tin và thúc đẩy cán bộ, đảng viên và nhân dân quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết của Đại hội Đảng bộ Thị xã lần thứ XIV
Qua 4 năm đổi mới (1986- 1990), đất nước ta đã có một số thành tựu, song vẫn chưa thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế xã hội Đứng trước tình hình đó, tháng 6/1991, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII được tổ chức ở Hà Nội Đại hội đã toát lên một tinh thần “trí tuệ, đổi mới, dân chủ, kỷ cương và đoàn kết” Đây là một Đại hội có ý nghĩa hết sức quan trọng Nếu như ở Đại hội VI đề ra phương hướng đổi mới toàn diện, đánh dấu bước ngoặt trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, thì Đại hội VII có nhiệm vụ trọng đại không chỉ tổng kết thực tiễn Nghị quyết Đại hội VI trên cơ sở đó đề ra phương hướng, nhiệm vụ 5 năm (1991- 1995), mà còn thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; bên cạnh đó còn vạch ra hệ thống những quan niệm, phương hướng cơ bản, bước đi của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta
Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, một khí thế mới sôi nổi, rộng khắp trong toàn xã hội với quyết tâm cao, tràn đầy tin tưởng để biến Nghị quyết Đại hội thành hiện thực Hòa chung với khí thế của cả nước, Đại biểu và nhân dân Thị xã Sơn Tây đã dấy lên phong trào thi đua trên tất cả các lĩnh vực xã hội chào mừng thành công của Đại hội, đồng thời lập thành tích chào mừng Đại hội Đại biểu Thị xã lần thứ XV (vòng 2) Đại hội Đại biểu Thị xã lần thứ XV xác định phương hướng, nhiệm vụ nhiệm kỳ (1991- 1995) Nghị quyết của Đại hội nhấn mạnh “quán triệt sâu sắc những tư tưởng, quan điểm cơ bản của Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Đảng bộ và nhân dân Thị xã Sơn Tây quyết tâm phấn đấu thực hiện những nhiệm vụ và mục tiêu do Đại hội đề ra, từng bước ổn định và phát triển sản xuất theo cơ cấu kinh tế: công- nông- thương nghiệp- dịch vụ- xuất khẩu và du lịch” [4; 109]
Tháng 10/1991, theo Nghị quyết của Chính phủ, Thị xã Sơn Tây cùng với một số huyện tái nhập về Tỉnh Hà Tây Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Tỉnh ủy Hà Tây, mặc dù tình hình thế giới lúc này có những diễn biến phức tạp, tình hình kinh tế xã hội trong nước có nhiều khó khăn, nhưng với khí thế và quyết tâm mới, đặc biệt có Nghị quyết của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII soi sáng, Đảng bộ và nhân dân Thị xã Sơn Tây tiếp tục thu được những kết quả quan trọng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Trong báo cáo Hội nghị giữa nhiệm kỳ của Đảng bộ Thị xã nêu rõ “trước những thử thách mới, trong 2 năm qua Đảng bộ và nhân dân Thị xã Sơn Tây đã tỏ rõ bản lĩnh chính trị vững vàng, tin tưởng vào đường lối đổi mới của Đảng Thông qua việc chỉ đạo thực hiện các Nghị quyết của Trung ương, của Tỉnh ủy và Thị ủy, Đảng bộ và nhân dân Thị xã đã vượt qua khó khăn, phấn đấu đạt được những kết quả tương đối toàn diện, tạo được bước chuyển dịch tích cực trên mọi lĩnh vực, tạo lòng tin về công cuộc đổi mới trong Đảng và trong nhân dân” [37; 4] Phát huy kết quả đạt được, những năm tiếp theo Đảng bộ tiếp tục đề ra những nhiệm vụ và các chỉ tiêu mà trong phương hướng của Hội nghị giữa nhiệm kỳ đề ra
Đảng bộ Thị xã Sơn Tây lãnh đạo, chỉ đạo kinh tế nông nghiệp từ năm 1996 đến năm 2000
1.3.1 Đường lối đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam và chủ trương của Đảng bộ Tỉnh Hà Tây
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quy luật của tất cả các nước khi tiến lên một nền kinh tế xã hội hiện đại và phát triển Đó là con đường tất yếu mà mọi quốc gia không thể bỏ qua để đạt được thành quả phát triển về kinh tế xã hội và thoát khỏi nguy cơ tụt hậu Do xuất phát điểm từ một nước nông nghiệp với hơn 80% dân số và 76,9% lực lượng lao động sống và làm việc ở nông thôn, Việt Nam coi CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là vấn đề đầu tiên và là trọng tâm Đây vừa là mục tiêu, vừa là động lực cho sự phát triển nền kinh tế xã hội của đất nước
CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là quá trình xây dựng, phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật, chuyển từ lao động thủ công là chủ yếu sang lao động sử dụng máy móc với kỹ thuật, công nghệ tiên tiến Chuyển dịch cơ cấu kinh tế xã hội nông thôn theo hướng tiến lên hiện đại gắn nông nghiệp với công nghiệp và dịch vụ; cho phép khai thác, phát huy có hiệu quả các nguồn lực và lợi thế so sánh đất nước trong sự mở rộng hợp tác quốc tế
1.3.1.1 Đường lối đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam
Nông nghiệp nông thôn có vai trò, vị trí quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia, mọi tiềm năng nguồn lực và thế mạnh của nông nghiệp, nông thôn có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi nước trong thời kỳ đầu của quá trình xây dựng, đưa nền kinh tế từ lạc hậu lên nền kinh tế tiên tiến, hiện đại Khi nông nghiệp phát triển bền vững sẽ tạo ra những bước phát triển ổn định cho nền kinh tế xã hội Ở nước ta, trong quá trình lãnh đạo xây dựng, phát triển đất nước, ĐCSVN luôn khẳng định tầm quan trọng của nông nghiệp, nông thôn và có những chủ trương đúng đắn thúc đẩy sản xuất phát triển đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng
Phát huy những thành tựu đạt được của công cuộc đổi mới nói chung, kết quả của nông nghiệp - nông thôn nói riêng Đại hội VII (6/1991) và Cương lĩnh xây dựng đất nước của Đảng đã cụ thể hóa nội dung công nghiệp hóa đất nước thể hiện qua những nội dung:
- Phát triển lực lượng sản xuất, đẩy mạnh công nghiệp hóa đất nước theo hướng hiện đại, gắn liền với phát triển một nền nông nghiệp toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm
- Phát triển nông- lâm- ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến, phát triển toàn diện kinh tế nông thôn và xây dựng nông thôn mới
- Phát triển một số ngành công nghiệp nặng với bước đi thích hợp, trước hết là các ngành công nghiệp trực tiếp phục vụ cho phát triển nông- lâm- ngư nghiệp, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu, thực hiện liên kết công nghiệp với nông nghiệp, thành thị với nông thôn Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII và Cương lĩnh xây dựng đất nước xác định và nhấn mạnh vị trí, vai trò của nông nghiệp và kinh tế nông thôn, một trong những nhiệm vụ trọng tâm của sự nghiệp công nghiệp hóa đất nước, có ý nghĩa quyết định đến ổn định tình hình kinh tế xã hội Những thành tựu trong lĩnh vực kinh tế đã khẳng định sự đúng đắn về đường lối đồng thời là điều kiện để Đảng ta tiếp tục cụ thể hóa đường lối CNH, HĐH đất nước trên từng lĩnh vực, kế thừa những quan điểm, chủ trương cơ bản về CNH, HĐH đất nước trong những năm 1991- 1995(Đại hội Đại biểu toàn quốc VII), đồng thời tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm về CNH của các quốc gia trên thế giới Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (6/1996) mở đầu thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, xây dựng nước Việt Nam độc lập dân chủ, xã hội công bằng văn minh theo định hướng XHCN Đại hội nhấn mạnh “phải đặc biệt coi trọng CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, ra sức phát triển nông- lâm- ngư nghiệp, các ngành công nghiệp chế biến nông- lâm- thủy sản” [24; 22] Đại hội đã bổ sung, phát triển, quyết định chọn CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn làm bước đi đầu tiên để thực hiện CNH, HĐH đất nước Đại hội xác định nội dung chủ yếu của CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn:
- Phát triển toàn diện nông nghiệp, hình thành các vùng tập trung chuyên canh, có cơ cấu hợp lý về cây trồng, vật nuôi, có sản phẩm hàng hóa với số nhiều lượng nhiều, chất lượng tốt, đảm bảo an toàn lương thực, đáp ứng được yêu cầu của công nghiệp chế biến và của thị trường trong cũng như ngoài nước
- Thực hiện thủy lợi hóa, hiện đại hóa, cơ giới hóa, sinh học hóa nông nghiệp
- Phát triển công nghiệp chế biến nông- lâm- thủy sản với công nghệ ngày càng cao gắn với nguồn nguyên liệu và liên kết với công nghiệp ở đô thị
- Phát triển các ngành nghề, làng nghề truyền thống và các ngành nghề mới, bao gồm thủ công nghiệp, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu và chế biến các nguồn nguyên liệu phi nông nghiệp, các loại hình dịch vụ cho sản xuất và đời sống nhân dân
- Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội ở nông thôn, từng bước hình thành nông thôn mới văn minh, hiện đại Trong 5 năm tới, xây dựng thêm đường sá, mạng lưới dây điện, cấp nước, điện thoại, trường học, cơ sở y tế văn hóa ở nông thôn để phát huy tiềm năng nguồn lực tự nhiên và con người ở nông thôn [24; 87]
Nội dung CNH, HĐH đất nước do Đại hội VIII xác định là phản ánh toàn diện tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó tiến hành CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn được đặt lên vị trí hàng đầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước trên cơ sở nhận thức đúng đắn về vị trí, vai trò quan trọng của nông nghiệp nông thôn và nông dân đối với sự nghiệp cách mạng
Nghị quyết Đại hội VIII khẳng định rõ hơn vai trò của kinh tế hộ và khuyến khích kinh tế hộ phát triển: kinh tế hộ gia đình ở nông thôn (làm nông- lâm- ngư nghiệp, diêm nghiệp, dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp… hoặc kết hợp làm nhiều ngành nghề) là loại hình sản xuất có hiệu quả về kinh tế xã hội, phát triển lâu dài, có vị trí quan trọng trong sản xuất nông nghiệp và quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Vì vậy, cần khuyến khích kinh tế hộ phát triển mạnh mẽ
Cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội lần thứ VIII, Quốc hội và Chính phủ ban hành nhiều chủ trương, chính sách thúc đẩy sự phát triển của nông nghiệp, nông thôn theo hướng CNH, HĐH như:
Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII (6/1996) về
“Định hướng chiến lược phát triển khoa học và công nghệ trong thời kỳ CNH,
HĐH và nhiệm vụ đến năm 2000” đã xác định nhiệm vụ, quan điểm chỉ đạo về CNH, HĐH nông nghiệp và kinh tế nông thôn trong giai đoạn tới; đẩy mạnh nghiên cứu tuyển chọn các loại giống cây, con có năng suất và chất lượng cao; áp dụng công nghệ sinh học hiện đại, để sản xuất ra các loại nông sản sạch, phục vụ nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao của xã hội và xuất khẩu
Bên cạnh đó, chú trọng phát triển chăn nuôi trên cơ sở đẩy mạnh các biện pháp sinh học vào sản xuất, tạo ra nhiều chủng loại tốt, hiệu quả cao, nâng cao trình độ chế biến và bảo quản nông sản hàng hóa; đẩy nhanh cơ giới hóa, điện khí hóa, sử dụng phương pháp tiên tiến trong tưới tiêu nước, phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, sử dụng và khai thác hợp lý vùng đất đai mới để phát triển sản xuất
Ngày 01/7/1997, Luật HTX ra đời đã chú trọng chuyển các HTX sản xuất nông nghiệp cũ sang làm chức năng dịch vụ theo mô hình HTX nông nghiệp kiểu mới Sau khi Luật có hiệu lực, Chính phủ ra Nghị định số 15- NĐ/CP và Nghị định số 16-NQ/CP (2/1997) về chính sách khuyến khích phát triển HTX nông nghiệp và thực hiện chuyển đổi đăng ký HTX Tháng 4/1997, Chính phủ ra Nghị định số 43- NQ/CP ban hành điều lệ mẫu cho các HTX nông - lâm nghiệp, thủy sản Tạo điều kiện cho các HTX nông nghiệp có sơ sở pháp lý để tiến hành đổi mới