1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thiết kế tình huống dạy học hợp tác trong dạy học phương trình và bất phương trình mũ logarit cho học sinh lớp 12 THPT​

105 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 1,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu cơ sở lý luận của phương pháp dạy học hợp tác, chủ yếu là hình thức dạy học hợp tác theo nhóm để thiết kế các tình huống dạy học hợp tác một số b

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

TẠ THÚY VÂN

THIẾT KẾ TÌNH HUỐNG DẠY HỌC HỢP TÁC

TRONG DẠY HỌC PHƯƠNG TRÌNH

VÀ BẤT PHƯƠNG TRÌNH MŨ - LOGARIT

CHO HỌC SINH LỚP 12 THPT

THÁI NGUYÊN - 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

TẠ THÚY VÂN

THIẾT KẾ TÌNH HUỐNG DẠY HỌC HỢP TÁC

TRONG DẠY HỌC PHƯƠNG TRÌNH

VÀ BẤT PHƯƠNG TRÌNH MŨ - LOGARIT

CHO HỌC SINH LỚP 12 THPT

Ngành:Lý luận và Phương pháp dạy học bộ môn Toán

Mã số: 8.14.01.11

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Kiều

THÁI NGUYÊN - 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi hoàn thành dưới sự hướng dẫn, giúp đỡ tận tình của PGS.TS Trần Kiều và nhiều thầy cô giáo Các số liệu, kết quả nghiên cứu của luận văn là khách quan, trung thực và chưa từng được ai công

bố trong bất kỳ một công trình nào khác

Thái Nguyên, tháng 11 năm 2020

Tác giả luận văn

Tạ Thúy Vân

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Luận văn được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Trần Kiều Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc về sự hướng dẫn tận tình chu đáo của thầy trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành luận văn

Tác giả xin chân thành cảm ơn, các thầy giáo, cô giáo bộ môn Phương pháp giảng dạy Toán - Khoa Toán - Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên; Ban chủ nhiệm khoa Toán, bộ phận Sau đại học- Phòng Đào tạo trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên

- Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong suốt quá trình quá trình học tập, nghiên cứu đề tài luận văn ở trường

Tác giả cũng xin chân thành cám ơn Ban giám hiệu, quý Thầy, Cô giáo tổ Toán, trường THPT Bế Văn Đàn, Thành phố Cao Bằng, Tỉnh Cao Bằng đã nhiệt tình giúp

đỡ, trao đổi và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình nghiên cứu và thực nghiệm tại trường

Đặc biệt, tác giả muốn bày tỏ lòng biết ơn đối với gia đình, người thân, bạn bè đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên tác giả trong quá trình học tập và thực hiện đề tài

Dù đã rất cố gắng, song luận văn không thể tránh khỏi những hạn chế thiếu sót Tác giả mong được sự đóng góp của thầy cô và các bạn

Thái Nguyên, tháng 11 năm 2020

Tác gi ả

Tạ Thúy Vân

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ vi

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Giả thuyết khoa học 3

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

6 Phương pháp nghiên cứu 3

7 Cấu trúc của luận văn 4

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5

1.1 Nhu cầu và định hướng đổi mới phương pháp dạy học 5

1.2 Dạy học hợp tác 8

1.2.1 Quan niệm về dạy học hợp tác 9

1.2.2 Các yếu tố cơ bản của dạy học hợp tác 10

1.2.3 Đặc điểm của dạy học hợp tác 12

1.2.4 Kỹ năng dạy học hợp tác của giáo viên 13

1.2.5 Tình huống dạy học hợp tác 14

1.2.6 Tổ chức dạy học hợp tác 19

1.3 Vai trò của tình huống DHHT đối với việc nâng cao hiệu quả dạy học Toán ở trường phổ thông 25

1.4 Dạy học phương trình, bất phương trình mũ - logarit ở trường THPT 29

1.4.1 Nội dung phương trình, bất phương trình mũ - logarit trong chương trình THPT 29

1.4.2 Mục đích, yêu cầu khi dạy học chủ đề phương trình, bất phương trình mũ- logarit ở trường THPT 30

1.5 Thực trạng về việc vận dụng dạy học hợp tác nhằm nâng cao hiệu quả dạy học trong dạy học môn Toán ở nhà trường phổ thông 30

Trang 6

1.5.1 Mục đích và phương pháp khảo sát 30

1.5.2 Nội dung và kết quả khảo sát 31

Kết luận chương 1 40

Chương 2: THIẾT KẾ TÌNH HUỐNG DẠY HỌC HỢP TÁC TRONG DẠY HỌC PHƯƠNG TRÌNH, BẤT PHƯƠNG TRÌNH MŨ - LOGARIT NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY HỌC MÔN TOÁN TRONG TRƯỜNG PHỔ THÔNG 41

2.1 Một số yêu cầu khi thiết kế các tình huống gợi vấn đề trong dạy học hợp tác 41

2.2 Thiết kế một số tình huống DHHT theo các nội dung hợp tác 44

2.3 Thiết kế một số tình huống DHHT theo quy mô các nhóm 51

2.3.1 Tình huống theo quy mô hợp tác cặp đôi 51

2.3.2 Tình huống theo quy mô hợp tác nhóm nhỏ 55

2.3.2 Tình huống theo quy mô hợp tác nhóm lớn 60

Kết luận chương 2 62

Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 63

3.1 Mục đích thực nghiệm 63

3.2 Nội dung thực nghiệm 63

3.3 Tổ chức thực nghiệm 63

3.3.1 Đối tượng thực nghiệm 63

3.3.2 Phương pháp thực nghiệm 64

3.3.3 Thời điểm thực nghiệm 65

3.4 Đánh giá kết quả thực nghiệm 65

3.4.1 Phân tích định tính kết quả thực nghiệm 65

3.4.2 Phân tích định lượng kết quả thực nghiệm 70

Kết luận chương 3 75

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 77

T ÀI LIỆU THAM KHẢO 78

PHỤ LỤC 80

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Trang 8

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ Bảng

Bảng 3.1 Kết quả kiểm tra 15 phút tại lớp TN và ĐC 72

Toán 32Biểu đồ 1.5 Kết quả điều tra sự khó khăn của GV khi dạy các tình huống dạy học 33Biểu đồ 1.6 Kết quả điều tra mức độ quan tâm của GV tới việc sử dụng các PP

dạy học tích cực để nâng cao hiệu quả dạy học môn Toán 33Biểu đồ 1.7 Kết quả điều tra hiệu quả của việc tổ chức DHHT ở trường THPT

đối với người học 34

Biểu đồ 1.8 Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy học môn Toán 34Biểu đồ 1.9 Kết quả điều tra mức độ tự tin trình bày ý kiến của bản thân trước

các bạn trong lớp 35Biểu đồ 1.10 Kết quả điều tra mức độ muốn học tập hợp tác theo nhóm thường

xuyên của HS 35Biểu đồ 1.11 Kết quả điều tra hiệu quả của học tập hợp tác 36Biểu đồ 1.12 Kết quả điều tra về những khó khăn của HS khi HTHT 36Biểu đồ 1.13 Kết quả điều tra về mức độ hứng thú khi học tập hợp tác của HS

trong môn Toán 37Biểu đồ 1.14 Kết quả điều tra các hoạt động tiến hành của GV khi tổ chức DHHT 37Biểu đồ 1.15 Kết quả điều tra khả năng tự giải quyết vấn đề Toán học của HS 38

Biểu đồ 1.16 Kết quả điều tra về kỹ năng hoạt động nhóm của HS 38Biểu đồ 1.17 Mức độ của GV thực hiện học tập hợp tác 38Biểu đồ 3.1 Biểu đồ cột so sánh kết quả kiểm tra 15 phút của hai lớp TN và ĐC 72

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực người học, trên

cơ sở lấy người học làm trung tâm đang là định hướng chủ yếu trong hoạt động dạy

học của các trường phổ thông nước ta

Hiện nay đổi mới trong giáo dục đã và đang được toàn xã hội qua tâm, đặc biệt vấn đề đổi mới nội dung và phương pháp dạy học rất được chú trọng Xu hướng dạy học hiện nay là phải hướng vào người học, tập trung vào rèn luyện và phát triển khả năng giải quyết vấn đề một cách năng động, độc lập sáng tạo cho học sinh ngay trong quá trình học tập ở nhà trường phổ thông Bởi vậy, người giáo viên cần phải áp dụng những phương pháp dạy học tích cực để phát triển cho học sinh năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề Mỗi phương pháp với đặc điểm riêng đều có thể góp phần phát huy một hoặc một số năng lực nào đó được quy định trong mục tiêu chương trình DHHT hiện đang được các giáo viên, các nhà trường ở nước ta quan tâm cũng đang đi theo xu thế đó

1.2 DHHT là cách thức hoạt động và giao lưu hợp tác của thầy gây nên hoạt động

và giao lưu hợp tác của trò nhằm đạt được mục tiêu dạy học về kiến thức và kỹ năng DHHT không những giúp HS hiểu bài sâu hơn mà còn rèn luyện cho các em kỹ năng làm việc hợp tác và bồi dưỡng năng lực xã hội

Trong thực tiễn dạy học ở trường THPT, đa số giáo viên có nhu cầu dạy học bằng phương pháp DHHT Tuy nhiên, còn nhiều GV khi được hỏi còn chưa rõ về phương pháp này, vận dụng phương pháp này vào quá trình dạy học

1.3 Hiện nay, định hướng đổi mới PPDH nói chung và với môn Toán nói riêng

là tích cực hóa hoạt động học tập nhằm hình thành cho HS tư duy tích cực, độc lập, sáng tạo, nâng cao năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề Để nâng cao hiệu quả giảng dạy, người GV cần hỗ trợ HS tìm hiểu sâu nội dung kiến thức, rèn luyện kỹ năng, củng

cố ôn tập kiến thức cũ, rèn luyện và phát triển tư duy logic toán học Để đổi mới phương pháp và hình thức dạy học môn Toán, người GV cần thiết kế các tình huống dạy học với mục đích: thay đổi vai trò của GV thành người tổ chức, điều khiển, tác động lên HS; kiểm soát và đánh giá quá trình học tập của HS kịp thời; góp phần hình thành phẩm chất, đạo đức, tác phong hiện đại cho HS

Trang 10

Theo Hoàng Lê Minh [5], một tình huống dạy học hợp tác cần thỏa mãn 3 điều kiên:

- Tình huống phải có tác dụng gợi ra vấn đề

- HS nhận thấy nhu cầu cần hợp tác, trao đổi, sự hợp tác có thể mang lại kết quả tốt

- Tạo môi trường học tập hợp tác, có mối quan hệ mật thiết giữa vai trò của các nhân với vai trò của tập thể

1.4 Chủ đề “Phương trình, bất phương trình mũ logarit” trong chương trình Giải tích 12 là một trong những nội dung trình bày các kiến thức toán học có sự liên kết, xâu chuỗi, khái quát hóa các nội dung kiến thức về phương trình, bất phương trình của chương trình Đại số lớp 10, và một số kiến thức mà học sinh đã nghiên cứu như: hàm

số logarit, hàm số mũ Vì vậy thông qua dạy học chủ đề này, giáo viên có thể thiết kế được nhiều tình huống dạy học hợp tác, đồng thời người học sẽ có cơ hội cùng hợp tác bàn bạc, thảo luận, xem xét, nghiên cứu giải quyết nhiều vấn đề trong việc giải quyết các bài toán về phương trình, bất phương trình mũ -logarit cũng các bài toán về thực

tế

1.5 Vấn đề mà luận văn quan tâm chưa được nghiên cứu một cách tương đối trọn vẹn trong các đề tài, luận văn, luận án thuộc lĩnh vực lí luận dạy học và phương pháp dạy học toán ở nước ta

Xuất phát từ những lí do trên, đề tài được lựa chọn là: Thiết kế tình huống dạy

học hợp tác trong dạy học phương trình, bất phương trình mũ - logarit cho học sinh lớp 12 THPT

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu cơ sở lý luận của phương pháp dạy học hợp tác, chủ yếu là hình thức dạy học hợp tác theo nhóm để thiết kế các tình huống dạy học hợp tác một số bài thuộc chủ đề ‘‘Phương trình, bất phương trình mũ - logarit” lớp 12 ở trường THPT nhằm góp phần phát huy tính tích cực, tăng cơ hội để học sinh giao lưu, học hỏi lẫn nhau, góp phần phát triển sự tự tin, tính đoàn kết, gắn bó, nâng cao hiệu quả dạy học môn Toán ở trường THPT

3 Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học Toán lớp 12 THPT

- Đối tượng nghiên cứu: nghiên cứu phương pháp, kỹ năng dạy học hợp tác và thiết kế tình huống dạy học hợp tác theo nhóm trong dạy phương trình, bất phương trình mũ - logarit

- Phạm vi nghiên cứu: HS lớp 12 THPT

Trang 11

4 Giả thuyết khoa học

Trong dạy học môn toán nói chung, dạy học chủ đề phương trình, bất phương trình mũ nói riêng, nếu giáo viên quan tâm sử dụng phương pháp dạy học hợp tác trong quá trình tổ chức dạy học thì sẽ góp phần đổi mới phương pháp dạy học và nâng cao chất lượng dạy học môn Toán ở trường Trung học phổ thông

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về dạy học hợp tác Điều tra, đánh giá thực trạng tổ chức dạy học hợp tác trong dạy học phương trình, bất phương trình mũ - logarit lớp 12 ở trường THPT

- Vận dụng phương pháp dạy học hợp tác vào thiết kế một số tình huống dạy học một số nội dung trong “Phương trình, bất phương trình mũ - logarit” lớp 12 ở trường THPT

- Thực nghiệm sư phạm để đánh giá tính khả thi của các tình huống dạy học hợp tác đã thiết kế

Trong đó, “thiết kế một số tình huống dạy học hợp tác nhằm nâng cao hiệu quả

dạy học môn Toán” như là nhiệm vụ chủ yếu khi thực hiện luận văn

6 Phương pháp nghiên cứu

- Nghiên cứu lí luận: Nghiên cứu lí luận về DHHT, về thiết kế tình huống dạy học hợp tác trong dạy học toán, về nâng cao hiệu quả dạy học môn Toán và một số vấn đề khác liên quan tới đề tài qua một số văn bản, tài liệu liên quan đến phương pháp dạy học, tâm lí học, giáo dục học và lí luận dạy học bộ môn Toán…

- Nghiên cứu thực tiễn (quan sát, điều tra, phỏng vấn): Điều tra hoạt động dạy của giáo viên, hoạt động học tập của học sinh bằng phiếu hỏi và phỏng vấn nhằm đánh giá thực trạng tổ chức DHHT, thiết kế các tình huống DHHT trong quá trình dạy học môn Toán ở trường THPT

- Phương pháp thống kê toán học: Xử lí kết quả điều tra trước và sau thực nghiệm

- Phương pháp nghiên cứu trường hợp: Nghiên cứu trên một số đối tượng học sinh cụ thể để thấy được rõ hơn sự phát triển của năng lực học sinh đó sau tác động của biện pháp sư phạm

- Thực nghiệm sư phạm: thực nghiệm dạy một số tiết trong chủ đề phương trình, bất phương trình mũ - logarit bằng các tình huống DHHT để kiểm nghiệm giả thuyết

và tính khả thi của một số biện pháp đã đề xuất

Trang 12

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục nội dung luận văn được trình bày theo ba chương:

Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn

Chương 2.Thiết kế một số tình huống dạy học hợp tác trong dạy học phương trình, bất phương trình mũ - logarit nhằm nâng cao hiệu quả dạy học môn Toán

Chương 3 Thực nghiệm sư phạm

Trang 13

Do đó, định hướng cho việc đổi mới phương pháp dạy học ở nước ta hiện nay là phương pháp dạy học cần tạo cơ hội cho người học học tập trong hoạt động và bằng hoạt động tự giác, tích cực, chủ động và sáng tạo

Việc sử dụng phương pháp dạy học tích cực trong dạy học đã được sử dụng từ rất sớm ở nhiều nước trên thế giới và mang lại hiệu quả rất cao Ở Việt Nam, việc sử dụng phương pháp dạy học tích cực đã được vận dụng từ lâu nhưng vẫn chưa được sử dụng

và vận dụng một cách linh hoạt, hợp lý; một bộ phận giáo viên vẫn chưa nhận thấy hết được vai trò của phương pháp dạy học tích cực trong hoạt động giảng dạy, những hiệu quả do phương pháp dạy học tích cực mang lại … Vì thế mà chất lượng dạy học chưa được nâng cao Do đó, một trong những vấn đề cấp thiết đặt ra là mỗi người giáo viên phải hiểu và biết vận dụng một cách linh hoạt, hợp lý các phương pháp dạy học tích cực vào trong từng bài học sao cho đem lại hiệu quả cao nhất cho từng bài học, cho học sinh

Để thiết kế và tổ chức dạy học hiệu quả, giáo viên cần suy nghĩ về những vấn đề sau [1]:

- Đâu là mối quan tâm hàng đầu của học sinh?

- Học sinh nên học như thế nào để hiệu quả?

- Điều gì tạo nên động cơ thúc đẩy học sinh học tích cực?

Như vậy, vấn đề quan trọng không chỉ là “Học sinh nên biết gì?” mà còn là “Điều

gì xảy ra với học sinh?” khi các em tham gia vào quá trình học tập Giáo viên cần quan tâm đến quá trình học tập và việc xây dựng kiến thức của người học Khi lấy người học làm trung tâm, giáo viên phải xác định thế nào là quá trình học tập hiệu quả nhất Trên

Trang 14

cơ sở đó điều chỉnh các hoạt động dạy học sao cho phù hợp với năng lực, sở thích và nhu cầu của người học Điều này đòi hỏi giáo viên có một cách nhìn nhận mới, cách suy nghĩ mới về công việc, về mối quan hệ giữa giáo viên và học sinh cùng những vấn

đề liên quan

Hai yếu tố cốt lõi của định hướng đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng tích cực là sự tham gia và cảm giác thoải mái [2]:

Sự tham gia của người học vào quá trình dạy và học tích cực

Sự tham gia cho thấy học sinh tận dụng và khai thác môi trường học tập và kiến thức như thế nào Khi quan sát, nếu thấy học sinh tập trung cao độ, miệt mài, say sưa giải quyết các nhiệm vụ học tập, bỏ qua yếu tố thời gian thì có thể khẳng định quá trình học tập tích cực đang diễn ra, học sinh tiếp thu kiến thức ở mức độ sâu

Dạy và học tích cực thực sự có hiệu quả khi giáo viên thực hiện tốt năm yếu tố tăng cường sự tham gia của học sinh:

1 Không khí học tập và các mối quan hệ trong nhóm, lớp: được thể hiện thông

qua nội dung, nhiệm vụ và các hoạt động phù hợp với mức độ phát triển của học sinh, gần gũi với thực tế; đa dạng về hình thức; tạo điều kiện cho học sinh tự do sáng tạo; môi trường học tập thân thiện, mang tính kích thích thể hiện qua việc bố trí bàn ghế, trang trí trên tường, cách sắp xếp không gian lớp học, quan tâm tới sự thoải mái về tinh thần, không căng thẳng, không nặng nề, không gây phiền nhiễu, có các hoạt động giải trí nhẹ nhàng, truyện vui, hài hước trong quá trình thực hiện nhiệm vụ; hỗ trợ cá nhân một cách tích cực; tạo cơ hội để học sinh giao tiếp, thể hiện quan điểm, giá trị, mơ ước, chia sẻ kinh nghiệm,… và hợp tác trong các hoạt động học tập

2 Sự phù hợp với mức độ phát triển của học sinh: Nhiệm vụ, các hoạt động học

tập cần có sự phân hóa, quan tâm đến sự khác biệt về nhịp độ học tập, trình độ phát triển giữa các đối tượng học sinh khác nhau; có sự thỏa thuận cam kết rõ ràng về những mong đợi của thầy đối với trò và ngược lại; các yêu cầu đối với học sinh cần rõ ràng, tránh mơ hồ, đa nghĩa; Khuyến khích học sinh giúp đỡ lần nhau; quan sát học sinh học tập để tìm ra phong cách và sở thích học tập của từng em, có sự hỗ trợ phù hợp, yêu cầu học sinh động não và hỗ trợ cá nhân, tạo điều kiện để học sinh trao đổi về nhiệm

vụ học tập

Trang 15

3 Sự gần gũi với thực tế: nhiệm vụ học tập gắn với các mối quan tâm của học

sinh và với thế giới thực tại xung quanh; tận dụng mọi cơ hội để học sinh tiếp xúc với vật thực, tình huống thực; Sử dụng các công cụ dạy học hấp dẫn (trình chiếu, video, tranh ảnh,…) để “đưa” HS lại gần đời sống thực tế; giao các nhiệm vụ vận dụng kiến thức, kĩ năng vào thực tế; khai thác các đề tài vượt ra ngoài giới hạn của các môn học

riêng lẻ

4 Mức độ và sự đa dạng của hoạt động:Trong các hoạt động học tập, hạn chế tối

đa thời gian chết và thời gian chờ đợi; tạo ra các thời điểm hoạt động và trải nghiệm tích cực; tích cực các hoạt động học mà chơi (các trò chơi giáo dục), thay đổi xen kẽ các hoạt động và nhiệm vụ học tập; tăng cường các trải nghiệm thành công; tăng cường

sự tham gia tích cực; đảm bảo hỗ trợ đúng mức (học sinh hỗ trợ lẫn nhau và hỗ trợ từ

giáo viên); đảm bảo đủ thời gian thực hành

5 Phạm vi tự do sáng tạo:HS được tạo điều kiện lựa chọn hoạt động theo sở

thích, được tham gia xây dựng kế hoạch và đánh giá bài học (tự đánh giá, đánh giá đồng đẳng); Trong khuôn khổ một số nhiệm vụ nhất định, học sinh được khuyến khích

tự do xác định quá trình thực hiện và xác định sản phẩm; Học sinh được tạo điều kiện

tham gia vào các hoạt động học tập

Cảm giác thoải mái:

Dạy học tích cực chỉ thực sự diễn ra khi học sinh có được cảm giác thoải mái - cảm giác như được ở nhà, được quan tâm, cảm thấy an toàn, được thể hiện bản thân và cảm giác yên bình bên trong Cảm giác thoải mái là dấu hiệu thể hiện sự phát triển tâm

lý tốt Cảm giác này tồn tại khi học sinh tự tin vào bản thân, nghĩa là có lòng tự tôn cao Biết rõ mình có thể mắc lỗi là yếu tố quan trọng có thể mang lại sự tiến bộ và sự phát triển, giúp học sinh đương đầu với khó khăn tốt hơn Sự hỗ trợ, phản hồi tích cực

và mong đợi thực tế cần trở thành một phần của cuộc sống trong nhà trường

Một trong những yếu tố để tạo ra cảm giác thoải mái là tính hài hước Tính hài hước giúp nhìn rõ mọi sự việc trong khả năng nhận thức, giúp vượt qua những tình huống khó khăn, mang lại sức mạnh và tầm nhìn để tìm ra giải pháp mới Chúng ta đã làm cho trẻ cười đủ chưa? Giáo viên đã cười đủ với học sinh và đồng nghiệp chưa? Đó

là những câu hỏi đặt ra đối với mỗi giáo viên khi thực hiện dạy học tích cực

Trang 16

Học sinh học tập hiệu quả nhất khi có một cộng đồng học tập gắn kết và có sự quan tâm lẫn nhau Đây chính là nền tảng cho cảm giác thoải mái của học sinh Những giáo viên dạy học có hiệu quả thường quan tâm đến từng học sinh với tư cách là những

cá nhân độc lập và với tư cách người học Họ biết về cuộc sống, những sở thích, nơi ở

và hoàn cảnh gia đình của học sinh, nắm bắt được khó khăn trong học tập của từng em Để tạo ra một môi trường học tập tích cực, các hoạt động học tập cần được liên hệ với những kiến thức đã biết của học sinh

Những giáo viên dạy học có hiệu quả thường quan tâm đến quá trình học tập của học sinh và coi những lỗi các em mắc phải là một phần tự nhiên của quá trình này Trong môi trường học tập tích cực, an toàn, có sự hỗ trợ và quan tâm của giáo viên, học sinh có thể thoải mái thể hiện nhận thức của mình, đặt câu hỏi mà không lo sợ bị chế nhạo hay coi thường

Cảm giác thoải mái gắn liền với môi trường học tập và cách thức tổ chức dạy học phù hợp với những nhu cầu của người học Có thể nhận thấy cảm giác thoải mái của một học sinh thông qua sự cởi mở và tiếp thu kiến thức tốt Học sinh dễ dàng thích nghi, hòa nhập với môi trường, không bị băn khoăn hay chán nản Học sinh bộc lộ sự nhận thức về bản thân - sự tự tin và có khả năng bênh vực, bảo vệ cái đúng, lẽ phải, coi trọng bản thân và những người xung quanh Như vậy, cảm giác thoải là điều kiện để đạt được mức độ tham gia cao và tham gia tích cực của học sinh vào quá trình học tập Cảm giác thoải mái và sự tham gia tích cực có thể trở thành tiêu chuẩn cơ bản để đánh giá chất lượng của quá trình giáo dục Điều đó có nghĩa là, giáo viên cần phải thiết kế những hoạt động học tập nhằm đảm bảo mức độ tham gia cao và tham gia tích cực của học sinh; đồng thời, tác động đến tình cảm, thái độ và đem đến niềm vui cũng như hứng thú trong học tập cho học sinh

Những định hướng này sẽ làm thay đổi vai trò của người dạy và người học, trong đó, giáo viên giữ vai trò là người tạo môi trường học tập thân thiện, tư vấn, chỉ dẫn, động viên, kèm cặp, đưa đến những thông tin phản hồi cần thiết, định hướng quá trình lĩnh hội tri thức và cuối cùng là người thể chế hóa kiến thức

1.2 Dạy học hợp tác

Trang 17

1.2.1 Quan niệm về dạy học hợp tác

Theo nghĩa từ điển Tiếng Việt (2008) [6], “Hợp tác có nghĩa là cùng chung sức với nhau để tiến hành một công việc nhằm một mục đích chung Hợp tác là điều rất quan trọng đóng góp vào sự thành công của bất kỳ tổ chức hay cá nhân nào; là điều không thể thiếu được trong mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, giữa các

tổ chức kinh tế xã hội”

Sự hợp tác trong dạy học thể hiện thông qua các mối quan hệ hợp tác tích cực giữa thầy và trò, và giữa trò với trò Vì vậy quan niệm DHHT được xem xét ở cả hai góc độ: người dạy và người học Xét trên góc độ người học, DHHT là cách thức học tập của HS được thực hiện thông qua sự hợp tác tích cực của các thành viên trong các nhóm để hoàn thành nhiệm vụ học tập chung mà người ta thường gọi là “học tập hợp tác” Xét trên góc độ người dạy, DHHT có thể xem là một phương pháp dạy học mà

GV tổ chức các hoạt động học tập hợp tác để học sinh cùng tham gia tìm hiểu và chia

sẻ kiến thức

Ở thế giới, xu thế DHHT được khởi xướng vào đầu những năm 1900 do nhà giáo dục John Dewey và đã được rất nhiều nhà giáo dục quan tâm nghiên cứu như: D.W.Johnson, RogerT.Johnson & Holubec,… Tiếp thu hình thức dạy học này ở Việt Nam trong những năm gần đây cũng đã xuất hiện rất nhiều công trình nghiên cứu về DHHT của các nhà giáo dục và lí luận dạy học như: Hoàng Lê Minh, Nguyễn Hữu Châu, Hoàng Công Kiên, Nguyễn Trọng Sửu, Nguyễn Thị Thanh, Mỗi nhà giáo dục khi nghiên cứu về dạy học hợp tác đều có cách nhìn nhận và quan niệm khác nhau phương pháp dạy học này Vì thế mà DHHT được gọi theo nhiều tên khác nhau như: học hợp tác, học tập hợp tác, dạy học theo nhóm,…

Theo Hoàng Lê Minh [5]:“Phương pháp dạy học hợp tác là cách thức hoạt động

và giao lưu hợp tác của thầy gây nên hoạt động và giao lưu hợp tác của trò nhằm đạt được mục tiêu dạy học về kiến thức và kĩ năng xã hội”

Theo Nguyễn Hữu Châu [7]: “Học hợp tác là việc sử dụng các nhóm nhỏ để học sinh làm việc cùng nhau nhằm tối đa hóa kết quả học tập của bản thân mình cũng như người khác”

Trang 18

Theo Nguyễn Trọng Sửu (2007) [8]: “DHHT là một hình thức xã hội của dạy học Trong đó học sinh một lớp được chia thành các nhóm nhỏ, trong khoảng thời gian giới hạn, mỗi nhóm tự lực hoàn thành nhiệm vụ học tập trên cơ sở phân công và hợp tác làm việc Kết quả làm việc của nhóm được trình bày và đánh giá trước lớp”

Theo Hoàng Công Kiên (2013) [9]: “DHHT là một phương pháp dạy học trong

đó mỗi học sinh được học tập trong một hoặc nhiều nhóm có sự hợp tác giữa các thành viên, giữa các nhóm và với sự hướng dẫn của giáo viên để đạt được mục đích chung”

Xuất phát từ những quan niệm trên, ta có thể thấy cho dù các tác giả tiếp cận theo góc độ nào thì khi đưa ra quan niệm về DHHT đều có sự thống nhất với nhau ở một số

- Kết quả đạt được của mỗi cá nhân thể hiện qua kết quả đạt được của cả nhóm

Trong luận văn này, chúng tôi quan niệm DHHT: “DHHT là một phương pháp dạy học dưới sự thiết kế, tổ chức và điều khiển của GV gây nên việc học của học sinh thông qua học tập hợp tác, mỗi học sinh sẽ được học tập theo nhóm, có sự hợp tác giữa các thành viên trong nhóm, giữa các nhóm với nhau để đạt được mục đích chung Kết quả đạt được của mỗi thành viên thể hiện qua kết quả đạt được của cả nhóm”

DHHT là một chiến lược dạy học tích cực, trong đó các thành viên tham gia hoạt động và học tập cùng nhau trong các nhóm nhỏ (mỗi nhóm bao gồm các thành viên có trình độ và khả năng khác nhau) nhằm mục đích phát triển sự hiểu biết và chiếm lĩnh một nội dung học tập nào đó

1.2.2 Các yếu tố cơ bản của dạy học hợp tác

Hợp tác vừa là phương tiện, vừa là mục tiêu dạy học, hoạt động trong giờ dạy học hợp tác bao gồm: Hợp tác giữa các HS trong một nhóm, hợp tác giữa các nhóm và hợp tác giữa HS với GV

Trang 19

So với các phương pháp dạy học truyền thống, DHHT mang những yếu tố cơ bản sau:

Th ứ nhất, sự phụ thuộc lẫn nhau một cách tích cực giữa các TV thông qua làm việc nhóm trên cơ sở cùng hướng đến mục đích chung

Trong DHHT, GV cần phải tạo ra cho HS sự phụ thuộc về mục đích học tập - sản phẩm chung; sự phụ thuộc về thành tích của các thành viên trong nhóm; sự phụ thuộc

về phân công công việc; sự phụ thuộc về vai trò của mỗi cá nhân; sự phụ thuộc về môi trường… Sự phụ thuộc này sẽ khuyến khích các TV trong nhóm cùng nhau làm việc, chia sẻ thông tin và giúp đỡ nhau để các cá nhân và cả nhóm đều hoàn thành công việc một cách tốt nhất, góp phần quan trọng vào việc nâng cao hiệu quả hoạt động học tập của HS, phát triển các mối quan hệ tình cảm giữa các cá nhân và xây dựng một tập thể đoàn kết trên cơ sở hướng đến những mục đích chung

Thứ hai, sự tương tác qua lại trực tiếp tác động đến sự thành công của nhau

Sự tương tác qua lại trực tiếp giúp HS dành cho nhau những sự hỗ trợ và cộng tác có ý nghĩa và hiệu quả, trao đổi thông tin, kiến thức và cách lập luận về kiến thức Lắng nghe và phản hổi, bác bỏ hay bảo vệ các ý kiến nhằm đưa ra được kết luận đúng đắn

về nội dung học tập Thông qua sự tương tác này, HS được đánh giá, nhận xét ý kiến của bạn đồng thời tự đánh giá, nhận xét kiến thức của bản thân Trong sự tương tác không tránh khỏi những ý kiến đối lập, song qua thảo luận vì lợi ích chung, những ý kiến đối lập dễ dàng tìm được tiếng nói chung Sự tương tác trực tiếp có tác dụng tốt đối với HS như: tăng cường động cơ học tập, kích thích sự giao tiếp, lập luận và kết quả Tăng cường bản năng xã hội như: thái độ, cách biểu đạt, khích lệ các thành viên tham gia phát triển mối quan hệ gắn bó, quan tâm đến nhau

Thứ ba, kết hợp giữa trách nhiệm cá nhân và tập thể

Trách nhiệm cá nhân được thể hiện thông qua ý thức tự giác của mỗi cá nhân trong việc thực hiện các nhiệm vụ học tập của nhóm Trách nhiệm của cá nhân chỉ tồn tại khi có sự đánh giá nhóm, mỗi cá nhân phải nhận thấy được vai trò và trách nhiệm của bản thân để từ đó nỗ lực đóng góp sức mình trong việc thực hiện công việc chung

và góp phần vào sự thành công của nhóm Trách nhiệm của tập thể là giúp cho các thành viên phát huy được tối đa khả năng học tập của bản thân

Trang 20

Thứ tư, đòi hỏi ở người học kĩ năng giao tiếp và khả năng hợp tác

DHHT yêu cầu HS phải có kĩ năng giao tiếp và khả năng năng hợp tác Kĩ năng giao tiếp của HS giúp cho HS có thể truyền đạt được toàn bộ thông tin liên quan tới vấn đề nghiên cứu tới người khác, để người khác hiểu vấn đề và có được những chia

sẻ cần thiết Khả năng hợp tác của HS giúp mỗi cá nhân xây dựng và duy trì bầu không khí tin tưởng lẫn nhau, giải quyết các bất đồng quan điểm trong học tập góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động nhóm Để hình thành các kĩ năng trên, người học không chỉ cần nắm vững cách thức hành động mà còn phải hiểu mục đích, phương tiện và điều kiện hành động

Thứ năm, kết quả đạt được của mỗi cá nhân phụ thuộc vào hiệu quả làm việc của nhóm

Trong quá trình HTHT, sự tác động qua lại trực tiếp giữa các cá nhân đòi hỏi người học phải nỗ lực không ngừng để hoàn thành phần việc của mình vì sự thành công của cá nhân tạo nên thành công của cả nhóm Ngược lại, thông qua hiệu quả làm việc

của nhóm giúp cho mỗi cá nhân có những sự tiến bộ nhất định trong nhận thức, thái

độ, hành động và kĩ thuật học tập, cá nhân được rèn luyện khả năng giao tiếp và trang

bị thêm những kĩ năng xã hội cần thiết

1.2.3 Đặc điểm của dạy học hợp tác

Theo quan điểm của lí luận dạy học hiện đại, quá trình tổ chức DHHT có một số đặc điểm cơ bản như sau:

- Về nhiệm vụ học tập: DHHT không chỉ truyền thụ cho HS những kiến thức quy

định trong chương trình, mà còn hướng vào việc phát triển tư duy, hình thành các kỹ năng thực hành sáng tạo, chuẩn bị cho HS sớm thích ứng và hòa nhập với đời sống xã hội

- Về nội dung: Nội dung quá trình tổ chức DHHT không chỉ là những tri thức, mà

còn bao gồm các dạng bài tập nhận thức dưới dạng các tình huống, các dạng thực hành tìm tòi, phát hiện và giải quyết vấn đề

- Về phương pháp: DHHT coi trọng rèn luyện cho HS thói quen tự học, hoạt động

độc lập cá nhân hoặc hợp tác tập thể thông qua thảo luận nhóm và thực hành Vận dụng DHHT thông thường qua các pha dạy học cho nên cần phối hợp với các phương pháp dạy học khác

Trang 21

- Về đánh giá: HS tự chịu trách nhiệm về kết quả học tập của mình, cho nên cùng

với việc kiểm tra đánh giá của GV, HS được tham gia vào quá trình đánh giá, tự đánh giá và đánh giá đồng đẳng

1.2.4 Kỹ năng dạy học hợp tác của giáo viên

Để đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học ở cấp THPT, người GV cần phải đổi mới cách dạy DHHT là một trong những hướng tiếp cận quan trọng trong đổi mới phương pháp dạy học hiện nay ở nước ta Nó có ảnh hưởng tích cực đến kết quả học tập cũng như phát triển năng lực người đọc, đồng thời cũng tác động mạnh mẽ tới

sự phát triển nghề nghiệp của GV

Theo Trịnh Văn Biều [10]: Muốn DHHT thành công, GV cần có những kỹ năng dạy học nhất địnhvà những kỹ năng ấy đều thích hợp với các nguyên tắc và yêu cầu DHHT bao gồm:

- Kỹ năng thiết kế mục tiêu bài học theo mô hình DHHT: Tìm hiểu mục tiêu môn

học, vị trí của bài học trong chương trình và kế hoạch và dạy học Xác định mục tiêu môn học sẽ giúp cho GV không bị chệch hướng, GV sẽ có cái nhìn tổng thể để lựa chọn các tri thức cần dạy, xác định mối liên hệ giữa kiến thức đã học và kiến thức cần dạy tạo ra những tình huống dạy học hợp lý, phát huy sự sáng tạo độc lập suy nghĩ của

HS

- Kỹ năng thiết kế nội dung bài học theo mô hình DHHT: Phân tích nội dung bài

học, xác định những tư tưởng chính trong bài học, xây dựng cấu trúc nội dung bài học Người GV cần xác định rõ các tri thức chính và tri thức phụ trong bài học, tìm ra mối liên hệ giữa các đơn vị tri thức theo một trình tự hợp lý về cấu trúc bài học; xác định trình độ và năng lực nhận thức của HS để xây dựng tình huống phù hợp, khi thiết kế vật cản cần quan tâm đến mức độ từ thấp đến cao giúp cho tư duy HS thích ứng với cách giải quyết vấn đề, GV thiết kế vật cản nên biết rõ những khó khăn mà HS phải vượt qua

- Kỹ năng phối hợp các PPDH theo mô hình DHHT: GV cần kết hợp DHHT với

nhiều PPDH khác một cách khéo léo, nhuần nhuyễn Một tiết học 45' cần có sự kết hợp của nhiều PPDH, trong đó có PPDH chủ yếu và PPDH phụ trợ Vì mỗi phương pháp đều có ưu điểm, nhược điểm khác nhau, việc kết hợp giữa các PPDH nhằm phát huy

Trang 22

ưu điểm và hạn chế nhược điểm của nhau Mặt khác, trong một tiết học, nếu chỉ sử dụng duy nhất một PPDH sẽ dẫn đến nhàm chán, HS không tập trung, từ đó sẽ ảnh hưởng xấu đến kết quả học tập

- Kỹ năng thiết kế phương tiện dạy - học tập theo mô hình DHHT: Để đạt được

hiệu quả dạy học trong một thời gian ngắn cần sự hỗ trợ của các phương tiện dạy học như: phiếu học tập được chuẩn bị trước, máy chiếu để HS các nhóm trình bày được nhanh chóng, máy tính để GV thể chế hóa kiến thức và các phương tiện dạy học khác như giấy khổ lớn, trang vẽ chuẩn bị trước Mặt khác, việc sử dụng các phần mềm dạy học sẽ trợ giúp cho HS dễ dàng có cái nhìn trực quan để công nhận kiến thức mà GV không tốn nhiều thời gian để giải thích

- Kỹ năng thành lập nhóm học tập hợp tác: Để tiến hành thành lập nhóm, GV cần

phân loại HS theo 5 mức: giỏi, khá, trung bình khá, trung bình, yếu, kém; nhóm gồm các thành viên có năng lực đa dạng va khả năng nhận thức ở các mức độ khác nhau

- Kỹ năng điều hành các hoạt động học tập hợp tác: Trong giờ học hợp tác, để

cho các hoạt động nhịp nhàng và có hiệu quả, người GV cần khé léo dẫn dắt các hoạt động của HS sao cho họ luôn cảm thấy mình tự tìm ra được kiến thức mà không có sự

áp đặt của GV, hướng dẫn HS cách học tập hợp tác, cách tổ chức và phân công nhiệm

vụ của từng thành viên trong nhóm, các vai trò chính trong nhóm như nhóm trưởng, thư ký

- Kỹ năng tổng kết giờ học: đây là khâu cuối cùng trong giờ học hợp tác: GV có thể dùng các phương tiện dạy học để củng cố, khắc sâu kiến thức nhằm nâng cao sức thuyết phục đối với HS đồng thời tiết kiệm được thời gian Ngoài ra GV cần nhận xét

về các hoạt động hợp tác của các nhóm Trong giờ học hợp tác, các khí cạnh GV đưa

ra không phải giờ học nào, cá nhân nào cũng có thể tiếp thu và giải quyết được hết trong thời gian 45' nên kết luận của GV là sự gợi ý, dẫn dắt HS tự học và ôn tập ở nhà có trọng tâm

1.2.5 Tình huống dạy học hợp tác

1.2.5.1 Khái niệm về tình huống dạy học

Xét về mặt khách quan, tình huống dạy học là tổ hợp những mối quan hệ xã hội

cụ thể được hình thành trong quá trình dạy học, khi mà người học đã trở thành chủ thể

Trang 23

hoạt động của đối tượng nhận thức trong môi trường dạy học, nhằm mục đích dạy học

cụ thể Xét về mặt chủ quan, tình huống dạy học chính là trạng thái bên tròn được sinh

ra do sự tương tác giữa chủ thể với đối tượng nhận thức

Một tình huống thông thường chưa phải là một tình huống dạy học Nó chỉ trở thành tình huống dạy học khi người GV đưa những nội dung cần truyền thụ vào trong các sự kiện tình huống và cấu trúc các sự kiện sao cho phù hợp với logic sư phạm, để khi người học giải quyết nó sẽ đạt được mục tiêu dạy học

Theo Trịnh Văn Biểu [10], "dạy học tình huống là phương pháp dạy học được tổ chức theo những tình huống có thực của cuộc sống, trong đó người học được kiến tạo tri thức qua việc giải quyết các vấn đề có tính xã hội của việc học tập"

Theo Phan Trọng Ngọ [11], " dạy học bằng tình huống là thông qua việc giải quyết những tình huống, người học có những khả năng thích ứng tốt nhất với môi trường xã hội đầy biến động, dạy học bằng tình huống rất gần với dạy học giải quyết tình huống có vấn đề nhưng vẫn có nhiều điểm khác nhau Dạy học bằng tình huống

có cơ sở lý luận và phạm vi ứng dụng rộng hơn"

1.2.5.2 Khái niệm tình huống dạy học hợp tác

Tình huống DHHT là một dạng tình huống gợi vấn đề mà GV thiết kế nhằm tạo

ra các hoạt động hợp tác của HS Mỗi tình huống DHHT thể hiện ý đồ sư phạm của người dạy nhằm gợi động cơ cho HS trong quá trình phát hiện và GQVĐ

Theo Hoàng Lê Minh[5], một tình huống dạy học hợp tác cần thỏa mãn 3 điều kiện:

- Tình huống phải có tác dụng gợi ra vấn đề

- HS nhận thấy nhu cầu cần hợp tác, trao đổi, sự hợp tác có thể mang lại kết quả tốt

- Tạo môi trường học tập hợp tác, có mối quan hệ mật thiết giữa vai trò của các nhân với vai trò của tập thể

Nhiệm vụ cơ bản của của việc xây dựng tình huống DHHT là phải tạo ra cơ hội để HS được suy nghĩ cá nhân, cùng thảo luận trong nhóm để khẳng định mình và rèn luyện tư duy hội thoại, phê phán Các tình huống DHHT phải vưa sức, phù hợp với mục đích và nội dung bài học; tình huống phải chính xác, đưa ra đúng lúc, đúng chỗ nhằm thu hút sự chú ý của HS; tình huống phải có tác dụng gợi động cơ và dẫn dắt HS hoạt động để phát triển một số kỹ năng trình bày, diễn đạt, tư duy hội thoại, tư duy phê

Trang 24

phán Để tạo tình huống DHHT trong dạy học phương trình và bất phương trình logarit nên dựa vào một số hoạt động trí tuệ như: Dự đoán kết quả nhờ nhận xét trực quan và thực nghiệm, lật ngược vấn đề, xem xét tương tự, khái quát hóa, giải bài tập

mũ-mà HS chưa biết thuật giải, tìm sai lầm trong lời giải, phát hiện nguyên nhân và sửa chữa sai lầm trong giải toán, tìm nhiều cách giải cho một bài toán

1.2.5.3 Cấu trúc của tình huống dạy học hợp tác

Cấu trúc của một tình huống DHHT gồm các hoạt động dạy của GV, hoạt động học của HS qua các pha hợp tác hoạt động được thể hiện thông qua sơ đồ sau:

Giáo viên Học sinh

Thành lập nhóm và giao nhiệm

vụ học tập cho HS

Ra nhập nhóm và tiếp cận nhiệm vụ học tập

Hướng dẫn HS hoạt động

học tập

Hoạt động cá nhân (trong nhóm)

Tổ chức thảo luận nhóm Thảo luận, hợp tác trong nhóm

Tổ chức thảo luận lớp Thảo luận, hợp tác với các bạn

trong lớp, giữa các nhóm

Kết luận và đánh giá kết quả

nhóm học hợp tác Kiểm tra, đánh giá kết quả Mặc dù có cấu trúc nhìn chung như trên, tuy nhiên, trong từng tình huống cụ thể, các hoạt động có thể được lồng ghép vào nhau, có thể được giảm bớt đi (tùy vào mức

độ phức tạp của nội dung kiến thức)

1.2.5.4 Quy trình thiết kế tình huống dạy học hợp tác

Để thiết kế một tình huống dạy học hợp tác, GV cần thực hiện các bước sau:

Bước 1 Xác định mục tiêu dạy học:

Trong mỗi tình huống DHHT được thiết kế GV cần phải xác định được rõ mục tiêu dạy học Nó bao gồm: mục tiêu chiếm lĩnh tri thức (kiến thức, kĩ năng, tư duy, thái độ) và mục tiêu rèn luyện cách học và cách giao tiếp cho học sinh

Trang 25

Bước 2 Chọn nội dung dạy học:

Nội dung thiết kế tình huống DHHT thường là: Nội dung gợi mở nhiều hướng suy nghĩ khác nhau; khối lượng kiến thức lớn mà cần giải quyết trong một thời gian ngắn; các nội dung có tác dụng hình thành nhu cầu hợp tác, tạo tình huống cần tranh luận trong tập thể Trong dạy học môn Toán, nội dung có thể thiết kế được các tình huống dạy học hợp tác là: tình huống tiếp cận khái niệm, định lí,hệ thống kiến thức cho

ôn tập chương, đề xuất các phương pháp giải cho một bài toán, giải bài toán theo nhiều cách khác nhau, tìm sai lầm trong lời giải và sửa chữa,…

Bước 3.Thiết kế các tình huống cụ thể:

Sau khi đã lựa chọn các nội dung thích hợp để dạy học hợp tác, GV cần phải thiết các nội dung thành các tình huống hợp tác cụ thể Tình huống đó có thể được thiết kế thông qua một tình huống thực tế, một bài toán, một video, một câu chuyện,…nhằm hướng người học theo dụng ý của GV Tình huống có thể được thiết kế trên phiếu học học tập dưới dạng bảng, sơ đồ, câu hỏi, bài tập, hình vẽ… hoặc sử dụng máy chiếu Khi thiết kế tình huống dạy học hợp tác, GV cần phải thực hiện các công việc sau:

- Đề ra nhiệm vụ cho học sinh và chuẩn bị các câu hỏi phụ gợi ý khi cần thiết -Dự kiến được phương án trả lời và các cách giải quyết

- Dự kiến được các mẫu thuẫn có thể xảy ra trong thảo luận nhóm

Bước 4 Dự kiến cách tổ chức học tập hợp tác:

Tùy vào đặc điểm của nội dung, mục tiêu bài học và tình huống được thiết kế mà giáo viên GV lựa chọn các hình thức tổ chức dạy học hợp tác hợp để tất cả các HS trong nhóm đều có cơ hội trao đổi, thảo luận, chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau trong suốt quá trình học tập hợp tác

Ví dụ 1: Thiết kế tình huống DHHT rèn luyện cho HS giải phương trình, bất phương trình mũ bằng phương pháp đặt ẩn phụ:

Bước 1 Xác định mục tiêu dạy học: rèn luyện cho HS giải phương trình, bất

phương trình mũ bằng phương pháp đặt ẩn phụ

Bước 2 Chọn nội dung dạy học: đưa ra một số phương trình, bất phương trình sử

dụng cách giải đặt ẩn phụ nhằm luyện tập cho HS kỹ năng giải thuần thục

Trang 26

Bước 3 Thiết kế tình huống cụ thể: Tình huống được thể hiện qua phiếu học tập

với nội dung học tập hợp tác

Chỉ có 𝑡1 = 9 thỏa mãn điều kiện 𝑡 > 0

Do đó 3𝑥 = 9 Vậy 𝑥 = 2

b Chia cả 2 vế phương trình cho 12𝑥 (12𝑥 > 0), ta được:

4 (34)𝑥 + 1 − 3 (43)𝑥 = 0 Đặt 𝑡 = (34)𝑥, 𝑡 > 0

Trang 27

c Đặt 𝑡 = 4𝑥 (𝑡 > 0), ta có hệ bất phương trình:

{𝑡2− 𝑡 − 6 ≤ 0𝑡 > 0 ⇔{−2 ≤ 𝑡 ≤ 3𝑡 > 0 ⇔0 < 𝑡 ≤ 3

⇒ 0 < 4𝑥 ≤ 3 ⇔ 𝑥 ≤ log43

Bước 4 Dự kiến cách tổ chức học tập hợp tác:

- Dự kiến thời gian thực hiện: 15 phút

- Dự kiến hình thức thực hiện: Làm việc theo nhóm khoảng 4-6 HS

1.2.6 Tổ chức dạy học hợp tác

1.2.6.1 Các điều kiện để tổ chức dạy học hợp tác

Để tổ chức DHHT thành công cần phải quan tâm tới ba yếu tố: người dạy, người học và môi trường học tập

- Đối với GV cần phải có kiến thức sâu rộng về môn học; năng lực giao tiếp tốt; biết cáchthiết kế các tình huống hợp tác; có năng lực và kinh nghiệm trong việc tổ chức DHHT như: có khả năng điều khiển tốt, có kinh nghiệm trong việc lựa chọn hình thức

tổ chức DHHT sao cho phù hợp với từng nội dung bài học, kinh nghiệm trong việc lựa chọn các thành vào một nhóm, chia nhóm, phân công nhiệm vụ cho các thành trong nhóm, kinh nghiệm trong việc tổ chức các hoạt động học tập, theo dõi và điều chỉnh tiến trình hợp tác nhóm;…

- Đối với HS: khi tổ chức dạy học hợp tác cần phải đảm bảo được sự tự nguyện tham gia của các thành viên; Các thành viên phải có ý thức tổ chức kỉ luật và có thái

độ tích cực và tinh thần trách nhiệm cao trong việc thực hiện nhiệm vụ của nhóm đảm bảo mỗi người đều có được lợi ích trong học tập; Xác định được quyền hạn và vai trò lợi ích của nhóm và cá nhân

- Môi trường học tập: cần phải đảm bảo đầy đủ phương tiện học tập (thiết bị dạy

và học, phòng, điều kiện về nhiệt độ, ánh sáng, không khí …); Không khí làm việc giữa các thành viên trongnhómthân thiện, cởi mở trên tinh thần giúp đỡ, tôn trọng lẫn nhau

và khuyến khích các thành viên hoạt động

1.2.6.2.Một số hình thức tổ chức DHHT

Dựa trên qui mô nhóm, mức độ yêu cầu của vấn đề cần được giải quyết, các yếu

tố tương tác trong quá trình dạy học Các hình thức tổ chức DHHT trong một số nghiên cứu của các tác giả Hoàng Lê Minh [5], Nguyễn Thị Thu Trang [15], Nguyễn Trung

Trang 28

Dũng [17], Nguyễn Thùy Dung [14], theo tôi có ba hình thức tổ chức DHHT cơ bản sau:

- Làm việc theo cặp đôi:Gồm các bước sau:

Bước 1 Suy nghĩ: GV đặt câu hỏi hoặc một vấn đề kết hợp với bài hoc để HS suy

nghĩ trong vài phút cho câu trả lời về vấn đề

Bước 2 Làm việc theo cặp: GV giao nhiệm vụ và yêu cầu HS làm việc theo cặp

và thảo luận những gì HS suy nghĩ Việc tương tác trong suốt quá trình này có thể giúp

HS chia sẻ câu trả lời cho câu hỏi hoặc ý kiến cho một tình huống cụ thể

Bước 3 Chia sẻ: GV yêu cầu các cặp đôi chia sẻ với cả lớp những gì HS đã thảo luận

Khi tổ chức DHHT thì hình thức trên thường được sử dụng khi vấn đề đưa ở mức

độ đơn giản cần giải quyết trong thời gian ngắn, tạo điệu kiện thuận lợi cho viêc HTHT trong điều kiện không gian lớp học chật hẹp Đặc biệt cách tổ chức làm viêc theo cặp thường được sử dụng nhiều khi giao cho học sinh chấm bài, sửa bài nhau qua phiếu học tập qua các bài tập lựa chọn trong sách giáo khoa,…

- L àm việc theo nhóm: Hình thức này được thực hiện trên qui mô lớn hơn, việc

phân chia số lượng nhóm và số lượng thành viên trong nhóm phụ thuộc vào sĩ số của lớp (thông thường mỗi nhóm khoảng từ 4-10 HS) GV có thể lựa chọn một hoặc một

số cách thức tổ chức làm việc theo nhóm trong quá trình DHHT như sau:

+ Thi kiến thức theo đội: Hình thức này được tổ chức trong cả giờ học hoặc trong

một khoảng thời gian nhất định Gồm các bước thực hiện như sau:

Bước 1 Thành lập các đội chơi tùy theo số lượng thành viên trong lớp để đảm

bảo mỗi thành viên đều có cơ hội tham gia

Bước 2 Thông báo thể lệ cuộc thi, thời gian thực hiện, cách chấm điểm đối với từng nội dung thi, phần thưởng dành cho đội chiến thắng

Bước 3 Đưa ra các nội dung kiến thức liên quan tới bài học để mỗi đội suy nghĩ hợp tác thực hiện và trả lời Đồng thời giáo viên nhận xét, chính xác hóa kết quả trả lời của từng đội

Bước 4 Tổng kết thi đua, xếp hạng giữa các nhóm để động viên thi đua

Việc tổ chức cho HS thi kiến thức theo đội sẽ giúp xây dựng tính cạnh tranh tích cực, tạo môi trường học tập thoải mái dễ chịu, kích thích sự ham hiểu biết, khả năng tìm tòi và tạo sự hứng thú cho HS trong quá trình GQVĐ

Trang 29

+ Thảo luận hợp tác: Hình thức này liên quan tới việc nhiều học sinh cùng nghiên

cứu nội dung bài học Việc thảo luận hợp tác có thể được thực hiện giữa các TV trong nhóm hoặc giữa HS các nhóm với nhau trong quá trình GQVĐ từ việc nhận diện vấn

đề, phân tích vấn đề, trao đổi bàn bạc để tìm giải pháp cho vấn đề, thảo luận để thống nhất phương án chung,…Để tổ chức cho học sinh thảo luận hợp tác thì GV cần phải thực hiện các bước sau:

Bước 1.Thành lập nhóm thảo luận hợp tác, mỗi nhóm có khoảng từ 4-10 TV Bước 2 Giao nhiệm vụ thảo luận:GV đưa ra vấn đề thảo luận cho HS bằng cách đặt một hoặc một số câu hỏi Các câu hỏi có thể hỏi trực tiếp hoặc hỏi thông qua phiếu học tập Việc đặt câu hỏi hay nhiệm vụ học tập cho các nhóm dựa theo hai hoạt động: hoạt động trao đổi và hoạt động so sánh Trong hoạt động trao đổi, mỗi nhóm thảo luận để giải quyết một vấn đề khác nhau nhưng cùng một chủ đề; sau đó trao đổi vấn đề và GQVĐ của nhóm mình với nhóm khác Trong hoạt động so sánh, tất cả các nhóm thảo

luận cùng giải quyết một vấn đề; sau đó so sánh cách giải quyết khác nhau giữa các nhóm

Bước 3 Cùng nhau suy nghĩ:Nhiệm vụ học tập sau khi được giao cho các nhóm, tùy theo mức độ các yêu cầu GV đưa ra là dễ hay khó mà các TV trong nhóm có thể trực tiếp thảo luận với nhau hoặc phân công cho từng TV trong nhóm làm việc độc lập sau đó trình bày cho nhóm Nhóm thảo luận, tổng kết để tìm ra đáp án chính xác cho câu trả lời

Bước 4 Trả lời: GV gọi một hoặc một số học sinh đại diện cho các nhóm trình bày câu trả lời trước lớp Học sinh trong nhóm hoặc ngoài nhóm cùng GV đánh giá phần trình bày, nội dung kiến thức để chính xác hóa kết quả làm việc của nhóm

+Học ghép: Đây là sự kết hợp giữa học tập cá nhân và học tập hợp tác Hình thức

này gồm các bước như sau:

Bước 1 Thành lập nhóm và phân công cụ thể cho từng thành viên trong nhóm nghiên cứu một phần trong nội dung nhiệm vụ của nhóm

Bước 2 Mỗi cá nhân trong nhóm trình bày kết quả làm việc trước cả nhóm Bước 3 Các thành viên trong nhóm thảo luận, hợp tác, tổng kết kết quả làm việc của mỗi cá nhân thành thành kiến thức chung

Trang 30

Bước 4 Nhóm trình bày kết quả tổng kết trước lớp trước sự đánh giá của các học sinh trong lớp và GV

Bước 5 Mỗi thành viên có trách nhiệm học toàn bộ nội dung đã được tổng kết Đảm bảo cho mọi thành viên của nhóm đều nắm vững nội dung

Việc tổ chức cho HS học ghép tạo điều kiện cho mỗi cá nhân HS đều tham gia giải quyết vấn đề khác nhau trong nhiệm vụ chung của nhóm, các cá nhân có cơ hội xem xét lại các vấn đề đã giải quyết thông qua sự đánh giá và phản biện của các TV trong nhóm Nó không chỉgiúp cho mỗi cá nhân hiểu sâu sắc vấn đề,mà còn giúp họ thấy được vai trò, trách nhiệm của bản thân trong việc giải quyết vấn đề chung của nhóm Hình thức này đề cao tương tác bình đẳng và tầm quan trọng của từng thành viên trong nhóm, loại bỏ gần như triệt để hiện tượng ăn theo, có thể áp dụng trong giờ

ôn luyện, luyện tập, tổng hợp kiến thức

+ Kiểm tra theo nhóm: đây là hình thức GV tổ chức để cho học sinh trong nhóm

hợp tác tự kiểm tra kiến thức của nhau Hình thức này giúp cho mỗi HS có thể chia sẻ kiến thức, bổ sung các kiến thức chưa biết vào hệ thống tri thức của bản thân Từ đó, nâng cao khả năng phân tích, giải quyết các vấn đề học tập

- Làm việc chung cả lớp:

Đây là hình thức GV tổ chức cho HS cả lớp hợp tác Trong DHHT hình thức này

ít được sử dụng hơn bởi nó khó phát huy được vai trò và trách nhiệm của tất cả các thành viên của nhóm trong việc giải quyết nhiệm vụ học tập bởi số lượng thành viên nhóm tương đối lớn

Trong quá trình dạy học, căn cứ vào nội dung bài học, đối tượng học sinh, điều kiện học tập mà giáo viên có thể lựa chọn các hình thức thích hợp để có thể nâng cao hiệu quả của việc tổ chức dạy học hợp tác

Ví dụ 2: Tình huống DHHT tiếp cận phương pháp giải phương trình mũ bằng cách đưa về cùng cơ số (Giải tích 12-CB, trang 80)

Tình huống 1: Tiếp cận phương pháp giải phương trình mũ bằng cách đưa về

cùng cơ số:

Bước 1 Mục tiêu: HS tiếp cận được cách giải phương trình mũ bằng cách đưa về cùng cơ số

Trang 31

Bước 2 Nội dung tình huống: Giải phương trình mũ bằng cách biến đổi phương

trình đưa về dạng 𝑎𝑓(𝑥) = 𝑎𝑔(𝑥) và giải phương trình 𝑓(𝑥) = 𝑔(𝑥)

Bước 3 Thiết kế tình huống:

Cho bài toán: Giải phương trình: 𝟔𝟐𝒙−𝟑 = 𝟏

Bạn Lan giải bài toán trên như sau:

𝟔𝟐𝒙−𝟑 = 𝟏⇔𝟐𝒙 − 𝟑 = 𝒍𝒐𝒈𝟔𝟏⇒𝟐𝒙 − 𝟑 = 𝟎⇔𝒙 =𝟑𝟐

V ậy phương trình có nghiệm duy nhất 𝒙 =𝟑𝟐

Bạn Nam nói: khi nhìn vào kết quả của bạn Lan ta thấy:

Nếu vế phải của phương trình được viết dưới dạng 𝟔𝟎 thì ta có:

𝟔𝟐𝒙−𝟑 = 𝟔𝟎⇒𝟐𝒙 − 𝟑 = 𝟎⇔𝒙 = 𝟑𝟐

Em có nhận xét gì về bài giải của bạn Lan và nhận xét của bạn Nam?

- Dự kiến cách thực hiện của HS: phân tích, thảo luận tình huống và đưa ra câu trả lời hợp lý nhất Có thể xảy ra mâu thuẫn giữa ý kiến của từng cặp HS, có HS sẽ cho là cả

2 cách giải đều đúng nhưng cũng có thể có HS ý kiến chỉ có cách của bạn Lan là đúng

- Kết quả mong đợi: Thay vì giải phương trình dựa vào định nghĩa logarit ta có thể biến đổi phương trình sao cho 2 vế của phương trình có cùng cơ số

- GV tổng hợp ý kiến:

Câu hỏi: Em hãy nêu quy trình giải phương trình mũ bằng cách đưa về cùng cơ số?

GV: Tổ chức, hướng dẫn, hỗ trợ cả lớp thảo luận chung để hoàn thành câu hỏi

Bước 4 Dự kiến cách tổ chức học tập hợp tác:

- Dự kiến thời gian thực hiện: 5 phút

- Dự kiến hình thức thực hiện: GV trình chiếu tình huống, HS làm việc theo cặp đôi, 2 HS cùng thảo luận đưa ra câu trả lời GV gọi đại diện bất kỳ trả lời câu hỏi

Tình huống 2: Củng cố phương pháp giải

Bước 1 Mục tiêu: HS nắm được cách giải phương trình mũ bằng cách đưa về cùng cơ số và có thể vận dụng vào bài tập cụ thể

Bước 2 Nội dung tình huống: Giải phương trình mũ bằng cách biến đổi phương

trình đưa về dạng𝑎𝑓(𝑥) = 𝑎𝑔(𝑥) và giải phương trình 𝑓(𝑥) = 𝑔(𝑥)

Trang 32

Bước 3 Thiết kế tình huống:

PHIẾU HỌC TẬP

Câu hỏi 1: Giải các phương trình sau bằng cách đưa 2 vế của phương tình

về cùng cơ số:(1,5)5x−7 = (23)x+1

Câu hỏi 2: Tính tổng tất cả các nghiệm của phương trình:

2𝑥2−𝑥−4 =161

- Dự kiến cách thực hiện của HS:

+ Câu hỏi 1: HS sẽ phát hiện ra 1,5 và 23 là nghịch đảo của nhau nên có thể biến đổi qua nhau bằng cách áp dụng công thức lũy thừa đã học 𝑎−𝑛 =𝑎1𝑛 Tuy nhiên sẽ xảy

ra 2 luồng ý kiến là biến đổi bài toán về cơ số 1,5 hoặc đưa về cơ số 23 GV sẽ định hướng cho HS tùy vào sự thống nhất của cả nhóm có thể đưa về cơ số nào cũng được

và sẽ có kết quả như nhau

+ Câu hỏi 2:Vì cách là tương tự câu hỏi 1 nên HS có thể dễ dang thực hiện được

- Kết quả mong đợi:

Trang 33

+ Dự kiến thời gian thực hiện tình huống: 10 phút

+ Dự kiến hình thức tổ chức: chia lớp thành 4 nhóm, mỗi HS được phát riêng từng phiếu và làm bài tập trong phiếu học tập Sau đó mỗi nhóm cùng thảo luận và tổng và trình bày kết quả chung ra phiếu A0, nhóm nhanh nhất sẽ cử đại diện lên trình bày Đại diện nhóm sẽ trả lời trước sự đánh giá và nhận xét của HS trong và ngoài nhóm, GV tổng kết và chính xác hóa kết quả

1.3 Vai trò của tình huống DHHT đối với việc nâng cao hiệu quả dạy học Toán ở trường phổ thông

Để nâng cao hiệu quả dạy học, người GV cần xây dựng được những tình huống dạy học nhằm vào tính hiệu quả của hoạt động học tập Tuy nhiên điều đó cần đến hiểu biết của GV về tình huống dạy học hiệu quả

Tình huống dạy học hiệu quả là tình huống dạy học làm cho HS hứng thú học tập thông qua các hoạt động học tập bằng trải nghiệm, không những kiến tạo được kiến thức,

kỹ năng cần thiết mà còn hình thành thói quen và khả năng tích hợp vận dụng kiến thức vào các vấn đề trong thực tiễn, tạo điều kiện để HS đạt được những mục tiêu dạy học với

sự tác động phù hợp của GV cũng như các điều kiện dạy học khác

Như vậy một tình huống dạy học hiệu quả cần có những đặc điểm sau:

- Mục tiêu dạy học được xác định một cách đúng đắn, đầy đủ và được thể hiện qua nội dung, cách thức tổ chức hoạt động học, đảm bảo kết quả học tập tốt cho HS;

- Lôi cuốn được người học tập trung vào các hoạt động thực hành hướng tới mục tiêu bài học Có nghĩa là nhiệm vụ học tập giao cho HS phải thú vị tạo ra được động lực học tập, đồng thời có tính thách thức, khó khăn nhất định

- Tạo môi trường học tập thân thiện, ở đó mọi ý tưởng đều được tôn trọng Sự chủ động của HS thể hiện tích tích cực khi tham gia các hoạt động trải nghiệm, được đưa

Trang 34

ra những ý tưởng sáng tạo trong môi trường hợp tác, tạo cơ hội phát triển những năng lực cần thiết cho HS

Theo PISA (2015) [13]: “năng lực của một cá nhân tham gia tích cực và hiệu quả

v ào một quá trình mà hai hay nhiều người nỗ lực cùng giải quyết một vấn đề bằng cách chia s ẻ sự hiểu biết và nỗ lực cần có để đưa ra giải pháp và sử dụng các kiến thức, kĩ năng và nỗ lực để có được giải pháp đó”

Một tình huống dạy học hiệu quả trong môn Toán ở trường phổ thông cần thỏa mãn các yêu cầu:

- Tạo được mối liên kết giữa tri thức mới trong môn Toán cần hình thành theo mục tiêu bài học với hệ thống tri thức và kinh nghiệm vốn có của HS cách nhuần nhuyễn, tự nhiên nhằn gây hứng thú, tạo nhu cầu nhận thức của HS, từ đó HS tích cực tham gia phát hiện và GQVĐ học tập;

- Tích hợp một cách linh hoạt các kiến thức và kỹ năng của môn Toán với các môn học khác có liên qua cũng như các kinh nghiệm thực tế trong đời sống hàng ngày của HS, tạo điều kiện gắn môn Toán với nguồn gốc và ứng dụng của Toán học trong thực tiễn;

- Có những hoạt động của HS trong môi trường hợp tác để hình thành kiến thức,

kỹ năng và phát triển các năng lực chung, tròn đó chú trọng phát triển năng lực GQVĐ, năng lực tự học, năng lực vận dụng Toán học vào thực tiễn;

- Làm cho HS thấy được ý nghĩa thiết thức của các tri thức môn Toán và hình thành thói quen khả năng vận dụng kiến thức Toán học vào giải quyết các vấn đề thực tiễn (trong

nội bộ môn Toán, trong các môn học khác có liên quan, trong đời sống)

Tình huống dạy học hợp tác trong Toán học giúp người học tham gia vào quá trình học tập một cách chủ động, phát huy được tính sáng tạo trong nhận thức và tư duy, người học được làm việc hợp tác với nhau theo các nhóm để giải quyết các vấn

đề, các tình huống dạy học mà GV đưa ra Vì vậy tham gia vào tình huống DHHT không chỉ giúp người học lĩnh hội được các kiến thức môn học mà còn phát triển ở HS được một hoặc một số năng lực quan trọng cần thiết như năng lực GQVĐ, năng lực tự học Trong quá trình thực tiễn dạy học ở nhà trường THPT, tôi nhận thấy việc tổ chức dạy học thông qua các tình huống DHHT có thể góp phần nâng cao hiệu quả dạy học môn Toán vì các lí do sau đây:

Trang 35

Thứ nhất, việc tổ chức dạy học theo tình huống DHHT giúp cho người học có sự

chia sẻ các thông tin, kiến thức liên quan tới vấn đề toán học cần quan tâm, làm cho thông tin liên quan tới vấn đề trong nhiệm vụ của nhóm được mỗi cá nhân hiểu một cách đầy đủ hơn, từ đó giúp hình thành ở mỗi cá nhân các giả thiết cho vấn đề, hỗ trợ quá trình phân tích và tìm giải pháp

Thứ hai, qua các tình huống DHHT có rất nhiều ý tưởng và lời giải giúp cho việc

giảm thời gian cũng như có nhiều cách để lựa chọn trong giải quyết vấn đề

Thứ ba, trong quá trình trình bày giải pháp, thông qua học tập hợp tác dưới dạng

các tình huống mà các thành viên trong nhóm học tập có thể đưa ra các ý kiến, bác bỏ các phương án không tối ưu, phương án sai; có sự lựa chọn và sắp xếp các thông tin cho từng bước thực hiện giải pháp một cách logic và chặt chẽ

Thứ tư, qua tổ chức dạy học theo tình huống DHHT, giải pháp của vấn đề mà mỗi

nhóm học tập đưa ra sẽ được đại diện nhóm phát biểu, hoặc trình bày có sự đánh giá, phản biện của các thành viên trong lớp từ đó giúp cho học sinh nhìn lại, rút kinh nghiệm để chính xác hóa kết quả giải quyết vấn đề

Thứ năm, một số vấn đề giáo viên đưa ra có thể cung cấp cho HS các cách giải

quyết theo những phương án khác nhau và khai thác nó theo nhiều khía cạnh khác nhau

Vì vậy, việc tổ chức cho học sinh học tập thông qua các tình huống DHHT sẽ hỗ trợ các em trong việc nghiên cứu sâu giải pháp, linh hoạt hơn trong việc vận dụng vấn đề vừa giải quyết trong các tình huống tương tự hoặc nghiên cứu vấn đề mới

Từ những phân tích trên, chúng ta thấy so với các phương pháp dạy học khác, DHHT cũng như việc thiết kế các tình huống DHHT trong Toán học góp phần rất lớn trong việc nâng cao hiệu quả dạy học môn Toán trong trường phổ thông

Để các tình huống DHHT góp phần nâng cao hiệu quả dạy học môn Toán cần phải đảm bảo những yêu cầu sau:

+ GV cần lựa chọn, xây dựng một hệ thống tình huống DHHT có tính khoa học, thiết thực, hấp dẫn: tình huống DHHT phải phù hợp và phục vụ cho việc thực hiện mục đích, nội dung của bài học, nội dung tình huống phải đảm bảo chính xac, khoa học, bám sát kiến thức chuẩn của sách giáo khoa; tình huống phải hấp dẫn, khơi dạy sự hứng thú, khơi dạy khả năng hợp tác giữa các thành viên trong nhóm Ngoài ra tình huống

Trang 36

còn phải mang tính khả thi, bảo đảm những điều kiện cần và đủ để đưa đến giải pháp hợp lý, dễ chấp nhận

+ GV cần chuẩn bị tốt các câu hỏi dẫn dắt gợi mở: khi đưa ra tình huống, câu hỏi dẫn dắt gợi mở là hết sức quan trọng, nhiều khi là một trong những yếu tố quyết định chất lượng của tình huống và khả năng lĩnh hội kiến thức của người học Câu hỏi thường chứa đựng phương hướng giải quyết vấn đề, có định hướng rõ ràng, logic, phù hợp với trình độ người học

+ GV cần khéo léo dẫn dắt, điều khiển, sử dụng thời gian hợp lý, không để thời gian chết, không để cho người học từ tâm trạng háo hức muốn tìm ra lời giải đáp chuyển sang bế tắc, chán nản Bên cạnh đó, GV phải luôn theo dõi, bám sát mọi hoạt động hợp tác của HS để có sự tác động kịp thời trong việc hỗ trợ những khó khăn HS trong quá trình giải quyết vấn đề

+ Phát huy tối đa tính tích cực, sáng tạo của người học, tạo điều kiện cho người học hoạt động, tạo bầu không khí thân thiện, thoải mái nhưng nghiêm túc cho người học cùng hợp tác giải quyết vấn đề

+ Cần đảm bảo cho từng thành viên trong nhóm không trốn tránh công việc và

tạo điều kiện để họ thấy rõ trách nhiệm của mình với tập thể và vai trò của tập thể với từng cá nhân Việc tối ưu hóa hoạt động học tập của từng thành viên sẽ giúp GV có thể phát hiện khả năng của HS từ đó có những biện pháp thích hợp giúp đỡ các em để đạt được kết quả học tập cao nhất

+ Yêu cầu mỗi HS phải được trang bị các kĩ năng cần thiết để có thể hoạt động nhóm có hiệu quả trong giải quyết vấn đề như:kĩ năng giao tiếp với các bạn bè trong lớp trong việc trao đổi và chia sẻ thông tin cho vấn đề, giao tiếp với giáo viên khi gặp

khó khăn cần sự hỗ trợ giúp đỡ, kĩ năng hợp tác giải quyết vấn đề, kĩ năng lãnh đạo để điều khiển hoạt động nhóm trong suốt quá trình giải quyết vấn đề, kĩ năng đưa ra quyết định để thống nhất giải pháp cho vấn đề, …

Để dạy học hợp tác một cách hiệu quả, ngoài công tác chuẩn bị, khâu thiết kế và

tổ chức các hoạt động cho HS của GV thì yếu tố người học rất quan trọng Nếu người học không có thái độ hợp tác tích cực, thiếu một số kĩ năng cần thiết, đặc biệt hạn chế

về năng lực giải quyết vấn đề thì quá trình hợp tác của mỗi cá nhân trong nhóm học tập

Trang 37

sẽ không đạt được kết quả cao Ngược lại, mỗi cá nhân có năng lực giải quyết vấn đề tốt thì mọi vấn đề giáo viên đưa ra cho các nhóm sẽ luôn luôn được trao đổi thảo luận

và giải quyết một cách triệt để Từ đó sẽ giúp nâng cao hiệu quả của quá trình dạy học hợp tác

1.4 Dạy học phương trình, bất phương trình mũ - logarit ở trường THPT

1.4.1 Nội dung phương trình, bất phương trình mũ - logarit trong chương trình THPT

Trong chương trình THPT, theo phân phối chương trình chuẩn lớp 12, nội dung phương trình, bất phương trình mũ và logarit được thực hiện cụ thể như sau:

Phân phối

Tiết 30, 31 §3.Phương trình mũ,

phương trình logarit

- Nêu dạng phương trình cơ bản

- Giúp HS nhận dạng và giải được phương trình mũ và logarit cơ bản

- Hướng dẫn HS giải phương trình mũ và logarit bằng một số phương pháp được đề cập Bước đầu giúp HS nhận dạng, giải thành thạo những phương trình mẫu mực Tiết 32 Luyện tập phương

trình mũ, phương trình logarit

- Tạo cơ hội cho HS vận dụng các tính chất của hàm số mũ và logarit để giải những bài toán không mẫu mực

Tiết 33,34 §3 Bất phương trình

mũ, bất phương trình logarit và luyện tập

- Nêu dạng bất phương trình cơ bản

- Giúp HS nhận dạng và giải được bất phương trình mũ và logarit cơ bản

- Hướng dẫn HS giải bất phương trình mũ và logarit bằng một số phương pháp được đề cập Bước đầu giúp HS nhận dạng, giải thành thạo những bất phương trình mẫu mực

- Tạo cơ hội cho HS vận dụng các tính chất của hàm số mũ và logarit để giải những bài toán không mẫu mực

Trang 38

- Hệ thống lý thuyết, phân dạng bài tập

- Luyện tập giải các phương trình, bất phương trình mẫu mực lẫn phương trình, bất phương trình không mẫu mực

- Có thể mở rộng, đưa vào thêm một số phương pháp giải mà trong sách chưa đề cập tới, chẳng hạn dùng bất đẳng thức

1.4.2 M ục đích, yêu cầu khi dạy học chủ đề phương trình, bất phương trình mũ- logarit ở trường THPT

- Giải được một số PT, BPT mũ bằng cách đưa về cùng cơ số, lôgarit hóa, đặt ẩn phụ, phương pháp đồ thị và sử dụng tính chất đồng biến nghịch biến của hàm số mũ, phương pháp đoán nghiệm và chứng minh nghiệm duy nhất

- Giải được một số PT, BPT lôgarit bằng cách đưa về cùng cơ số, lôgarit hóa, đặt

ẩn phụ, phương pháp đồ thị và sử dụng tính chất đồng biến nghịch biến của hàm số lôgarit

Với mục đích giảm tải của chương trình sách giáo khoa mới thì nội dung PT và BPT mũ, lôgarit ở trường trung học phổ thông không yêu cầu HS giải những PT và BPT mũ, lôgarit có chứa ẩn ở cơ số hay những PT và BPT quá phức tạp

1.5 Thực trạng về việc vận dụng dạy học hợp tác nhằm nâng cao hiệu quả dạy học trong dạy học môn Toán ở nhà trường phổ thông

Trang 39

1.5.2 Nội dung và kết quả khảo sát

1.5.2.1 N ội dung khảo sát

Chúng tôi đã tiến hành khảo sát như sau:

- Tiến hành điều tra với 30 GV và 120 HS của các trường THPT Bế Văn Đàn, THPT Cao Bình, trường THPT Thành phố Cao Bằng nằm trên địa bàn tỉnh Cao Bằng

- Dự giờ một số tiết dạy của một số GV tại trường THPT Bế Văn Đàn

02/11/2019 30 Phương trình mũ - logarit Trần Thị Trúc Quỳnh 11/11/2019 34 Luyện tập Bất phương trình mũ - logarit Nguyễn Hồng Ngân

- Phỏng vấn và trò chuyện với một số GV và HS

1.5.2.2 K ết quả khảo sát

a K ết quả thu được từ phiếu khảo sát GV và phiếu khảo sát HS

Phiếu khảo sát GV -HS được trình bày trong phụ lục 2

Qua kết quả khảo sát GV- HS, chúng tôi rút ra một số kết luận sau:

- Đối với giáo viên:

+ Các GV được điều tra đã có những hiểu biết nhất định về DHHT Phần lớn GV

đều thống nhất với quan điểm là: Trong DHHT, bên cạnh yếu tố hợp tác giữa các HS

v ới nhau trong việc giải quyết các nhiệm vụ được giao thì cần sự tương tác của người

d ạy từ việc thiết kế các tình huống gợi vấn đề, tổ chức và điều khiển việc học của HS thông qua học tập hợp tác

Bi ểu đồ 1.1 Kết quả điều tra sự hiểu biết của GV về DHHT

Trang 40

+ Đa số GV được điều tra đều đã từng vận dụng DHHT trong dạy học môn Toán nhưng chưa ở mức thường xuyên mặc dù theo nhận thức của GV là thích phương pháp dạy học này

Biểu đồ 1.2 Kết quả điều tra mức độ vận dụng dạy học hợp tác của GV trong dạy

học môn Toán ở trường THPT

+ Đa số GV cảm thấy thực sự cần thiết khi tổ chức DHHT trong giảng dạy

Bi ểu đồ 1.3 Kết quả điều tra mức độ cần thiết về việc tổ chức DHHT

+ Khi vận dụng DHHT trong dạy học môn Toán, GV luôn gặp những khó khăn

từ việc thiết kế các tình huống học tập, tổ chức các hoạt động của HS, tổng kết đánh giá sản phẩm Và khó khăn chủ yếu nhất đó là việc xây dựng kế hoạch dạy học sao cho phù hợp và tổ chức các hoạt động và giao lưu trên lớp

Bi ểu đồ 1.4 Kết quả điều tra những khó khăn của GV khi tổ chức DHHT môn Toán

Rất Thường xuyên 10%

Thường xuyên 33%

thi thoảng 57%

Chưa bao giờ

0%

Không cần thiết 0% Cần thiết

17%

Rất cần thiết 83%

Ngày đăng: 12/06/2021, 19:58

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w