Gi ản lược về phê bình sinh thái và những khả năng của nó trong nghiên cứu văn học Việt Nam Con người vốn có nguồn gốc tự nhiên.. Sống cách chúng ta hàng trăm năm, Ănghen đã sớm nhận
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LÊ THỊ THẢO
TÌM HIỂU THIÊN NHIÊN TRONG
“QUỐC ÂM THI TẬP” VÀ “ỨC TRAI THI TẬP”
C ỦA NGUYÊN TRÃI TỪ GÓC NHÌN SINH THÁI
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 01 21
LU ẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ
VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Hải Yến
Trang 2L ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và nội dung này chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào trước đó
Thái Nguyên, tháng 09 năm 2015
Trang 3L ỜI CẢM ƠN
B ằng sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn TS
Tr ần Hải Yến - người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình
th ực hiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, các thầy cô giáo khoa Ngữ văn, khoa Sau đại học trường Đại học Sư phạm – Đại học Thái Nguyên đã hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu
t ại trường
Cu ối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè đã động viên, quan tâm, chia sẻ và tạo điều kiện giúp tôi hoàn thành tốt luận văn này
Thái Nguyên, tháng 09 năm 2015
TÁC GIẢ
Lê Thi ̣ Thảo
Trang 4DANH M ỤC VIẾT TẮT
Trang 5
M ỤC LỤC
L ỜI CAM ĐOAN i
L ỜI CẢM ƠN iii
DANH M ỤC VIẾT TẮT iv
M ỤC LỤC iv
M Ở ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 1
3 Đối tượng và pha ̣m vi nghiên cứu 4
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Kết cấu đề tài 5
N ỘI DUNG 6
Chương 1 6
NH ỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 6
1.1 Giản lược về phê bình sinh thái và những khả năng của nó trong nghiên cứu văn học Việt Nam 6
1.2 Thiên nhiên trong đời sống tinh thần Việt Nam thời trung đại 13
1.3 Hai thi tập và những chặng đời của Nguyễn Trãi 19
Ti ểu kết 23
Chương 2 24
MÔI TRƯỜNG THIÊN NHIÊN TRONG QATT VÀ UTTT 24
2.1 Hệ sinh vật trong QATT và UTTT 24
2.2 Những chuyển vâ ̣n của thế giới tự nhiên 39
2.3 Nơi chốn trong thơ Nguyễn Trãi 47
Ti ểu kết 63
Chương 3 64
TRI ẾT LÍ MÔI SINH CỦA NGUYỄN TRÃI 64
3.1 Thiên nhiên – một môi sinh thuần khiết, lý tưởng 64
3.2 Thiên nhiên - chuẩn mực đa ̣o đức, thẩm mỹ 68
3.3 Thiên nhiên - đối tượng tu ̣ng ca, thưởng ngoa ̣n 72
Ti ểu kết 80
K ẾT LUẬN 81
T ÀI LIỆU THAM KHẢO 83
PH Ụ LỤC 87
[1] BẢNG THỐNG KÊ THỰC VẬT, ĐỘNG VẬT VÀ ĐỊA DANH TRONG UTTT 87
[2] BẢNG THỐNG KÊ THỰC VẬT, ĐỘNG VẬT VÀ ĐỊA DANH TRONG QATT 96
Trang 6[3] THỐNG KÊ TỪ “QUÊ” TRONG QATT 109
Trang 7M Ở ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nguyễn Trãi là một tác gia lớn của văn học Việt Nam Được coi là người
mở đầu cho nền thi ca cổ điển Viê ̣t Nam, thơ của Nguyễn Trãi đã được nhiều
nhà nghiên cứu tìm hiểu Mảng thơ về thiên nhiên của Nguyễn Trãi cũng nằm trong số đó Tình yêu thiên nhiên, mối tri kỷ giữa tác giả và thiên nhiên, giá tri ̣
thẩm mỹ đạo đức qua hình ảnh thiên nhiên là những kết luâ ̣n được nhiều nhà nghiên cứu rút ra Đó là kết quả của phương thức tiếp cận thiên nhiên từ góc
nhìn chủ đề/đề tài
Phê bình sinh thái - Phê bình bàn về mối quan hệ giữa văn học và môi
trường - là một trong những hướng nghiên cứu mới của phê bình văn học Kế
thừa những kết luận của các nhà nghiên cứu đi trước, vận dụng lí thuyết mới,
chúng tôi sẽ khảo sát la ̣i mảng sáng tác về thiên nhiên của Nguyễn Trãi theo
cách hình dung thiên nhiên như mô ̣t môi sinh của thi nhân Cụ thể hơn, theo hướng tiếp câ ̣n phê bình văn học sinh thái, thiên nhiên trong thơ của Nguyễn Trãi sẽ được tìm hiểu trong mối quan hê ̣ tương tác với quan niê ̣m của tác giả về
vũ trụ, quan niê ̣m đa ̣o đức và mỹ học của ông về hê ̣ sinh thái
2 Lịch sử vấn đề
Nguyễn Trãi là tác gia có tầm ảnh hưởng lớn đến nền văn học Việt Trong
kho tàng tác phẩm mà Nguyễn Trãi để lại thì UTTT (Ức Trai thi tập) và QATT
(Qu ốc âm thi tập) là hai thi tập xuất sắc thể hiện được tài năng và nhân cách
của tác giả Trong QATT và UTTT thì thơ thiên nhiên chiếm phần phong phú
nhất và đa dạng Vì vậy mà bên cạnh rất nhiều công trình nghiên cứu về hai tập thơ nói chung, có một số chuyên luận, phê bình đã đề cập đến thiên nhiên trong thơ của Nguyễn Trãi với tư cách là đối tượng nghiên cứu chính Có thể kể đến
một số tác giả như: Bùi Văn Nguyên, Pha ̣m Luâ ̣n, Đinh Gia Khánh, Nguyễn
Trang 8Huê ̣ Chi, Trần Đình Sử…Những bài viết của các tác giả này được in trong cuốn Nguyễn Trãi về tác gia và tác phẩm của Nhà xuất bản Giáo dục, năm 2007 Trong Pha ̣m vi luâ ̣n văn, chúng tôi chỉ phân tích những tác giả và bài viết có liên quan trực đến nô ̣i dung nghiên cứu Cụ thể là bài viết của các tác giả Mai Trân, Nguyễn Thiên Thụ, Đặng Thanh Lê, N.I Niculin, Lã Nhâm Thìn, Phạm Luận
Trong bài viết “Thiên nhiên trong thơ Nguyễn Trãi”, tác giả Nguyễn Thiên
Thụ đã trình bày rất khúc triết về vai trò của thiên nhiên trong thơ của Nguyễn Trãi Thiên nhiên vừa là nguồn mỹ cảm vừa là người bạn thân của thi nhân đồng thời cũng là biểu tượng của chân thiện mỹ Với viê ̣c chỉ ra và phân tích những hình ảnh thiên nhiên quen thuộc thường được các nhà nho ưa dùng để thể hiện quan điểm đạo đức của người quân tử: Nhân-nghĩa-lễ-trí-tín (như tùng
-trúc-cúc-mai); hay triết lý Lão giáo và Phật giáo (được thể hiện qua bài Hoàng
tinh, Hòe, Mộc cận, Lão hạc, Miêu…) Nguyễn Thiên Thụ khẳng đi ̣nh: Nguyễn
Trãi không đi chệch khỏi khuynh hướng: “văn dĩ tải đạo, thi dĩ ngôn chí” của văn học Viê ̣t cổ Bên ca ̣nh đó, “Tả cảnh ngụ tình” cũng là điểm dễ nhâ ̣n qua
các bài thơ viết về thiên nhiên của Nguyễn Trãi [16, 778]
Đă ̣t thiên nhiên của Nguyễn Trãi trong dòng văn học yêu nước, nhà nghiên
cứu Đă ̣ng Thanh Lê nhâ ̣n đi ̣nh: “Thơ thiên nhiên của Nguyễn Trãi kết tinh khá
đầy đủ những khuynh hướng thẩm mỹ của văn hóa cổ Việt Nam đối với đề tài này: nhãn quan tôn giáo của nhà Phật, tâm trạng thoát ly của nhà nho, truyền
th ống yêu nước anh hùng và cảm hứng nhân đạo chủ nghĩa của nhân dân lao động, của dân tộc Việt Nam” [16, 798] Đă ̣c biê ̣t, tác giả đã chỉ ra những nét
bút hùng tráng của Nguyễn Trãi khi miêu tả thiên nhiên qua những đi ̣a danh
li ̣ch sử gắn liền với những trâ ̣n thắng lớn của dân tộc Tuy nhiên đi ̣a danh được
tác giả tâ ̣p trung chủ yếu trong tác phẩm “Bình Ngô đa ̣i cáo” và “Ba ̣ch Đằng ải khẩu” chứ chưa khảo sát trong UTTT và QATT
Trang 9Trong cuốn “Thơ Nôm đường luật”, tác giả Lã Nhâm Thìn đã có sự thống
kê cũng như phân tích khá tỉ mỉ về hê ̣ thống đề tài, chủ đề thiên nhiên của các
tác giả thơ Nôm, mà người giữ vi ̣ trí “khai sơn phá tha ̣ch” là Nguyễn Trãi Tác
giả đã chỉ ra những điểm khác biê ̣t giữa thơ thiên nhiên trong thơ chữ Hán và thơ chữ Nôm của các tác giả nói chung và Nguyễn Trãi nói riêng Tác giả cũng
chỉ ra những loài động vật, thực vâ ̣t chưa từng xuất hiê ̣n trong thơ ca trước đó (niềng niễng, đòng đong, núc nác, mồng tơi, muống, mùng, đậu kê, bèo…) để
khẳng đi ̣nh phong cách bình di ̣, đậm tính dân tộc trong thơ thiên nhiên của Ức Trai Nhà nghiên cứu Lã Nhâm Thìn đánh giá rất cao thơ thiên nhiên trong
QATT c ủa Nguyễn Trãi: “Những bức tranh thiên nhiên của Nguyễn Trãi
phong ph ú và nhiều tới mức phòng tranh thiên nhiên không đủ chỗ trưng bày,
nh à thơ đã phải treo sang cả những phòng tranh dành cho mảng đề tài khác”
[27, 57] QATT cũng là nơi chất trữ tình, chất thi sĩ của Nguyễn Trãi được bộc
lô ̣ đâ ̣m nét nhất Hoă ̣c: “Thơ thiên nhiên là một thể tài độc lập của thơ ca, lấy
thiên nhiên làm đối tượng thẩm mỹ chủ yếu thông qua miêu tả cảnh vật để bộc
l ộ tâm tình” [30] Nói cách khác, theo nhà nghiên cứu Lã Nhâm Thìn thiên
nhiên là tình yêu rộng lớn của Ngyễn Trãi; đồng thời hình ảnh đó đã được Nguyễn Trãi thể hiê ̣n theo đúng tinh thần “tả cảnh ngụ tình” truyền thống [27]
Có thể thấy các công trình đi trước đã khẳng đi ̣nh được: tình yêu thiên nhiên, sự hòa cảm với thiên nhiên cũng như vai trò đă ̣c biê ̣t của thiên nhiên trong viê ̣c truyền tải tư tưởng và là phương tiê ̣n để bày tỏ, bộc lộ cảm xúc, tâm
tư của Nguyễn Trãi Đă ̣c biê ̣t đă ̣t hai thi tâ ̣p ở thế đối sánh thì nhâ ̣n thấy rõ ràng: khi miêu tả thiên nhiên, Nguyễn Trãi đã “trung hòa” được hai phương diện tưởng như đối cực với: thiên nhiên trong UTTT là thiên nhiên hùng vĩ, hoành tráng, với những địa danh nổi tiếng gắn với lịch sử hào hùng của dân tộc với
những hình ảnh ước lệ, quen thuộc qua đó thấy tâm hồn cao rộng, khoáng đạt,
phong tình và tinh tế; còn thiên nhiên trong QATT là thiên nhiên mang phong
Trang 10vị dân tộc, phong vị đồng quê với những hình ảnh giản dị, mộc mạc lần đầu tiên xuất hiện trong thơ ca cổ điển Có thể nói, những tiếp câ ̣n đó đã cha ̣m đến thiên nhiên với tư cách một môi trường sống, nhưng về căn bản đó vẫn là cách
nhìn thiên nhiên như một đề tài
3 Đối tươ ̣ng va ̀ pha ̣m vi nghiên cứu
- Đối tượng của đề tài là những thi phẩm viết về thiên nhiên hoặc mang
hình ảnh của thế giới tự nhiên trong hai thi tâ ̣p QATT và UTTT của Nguyễn Trãi
- Pha ̣m vi vấn đề: Viê ̣c khảo sát này sẽ tập trung tìm hiểu thiên nhiên như
một môi trường sống và sự tác động qua lại giữa thiên nhiên và tác giả
- Pha ̣m vi tư liê ̣u: Chúng tối sử du ̣ng các bài thơ trong hai công trình sau:
Qu ốc âm thi tập - Nguyễn Trãi, phiên âm và chú giải, của nhà nghiên
cứu Pha ̣m Luận, Nxb Giáo dục – Hà Nội, năm 2012
Nguy ễn Trãi toàn tập, Nxb Văn hóa thông tin – Hà Nội, năm 2011
4 Ý nghi ̃a khoa ho ̣c và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
Mu ̣c đích của chúng tôi khi thực hiê ̣n đề tài này là tìm hiểu thiên nhiên trong hai tâ ̣p thơ của Nguyễn Trãi từ cách nhìn của Phê bình sinh thái Hướng đi này hứa he ̣n mở ra cách hiểu mới cho những tác phẩm văn ho ̣c đã
trở thành kinh điển của nền văn ho ̣c cổ; đồng thời đưa la ̣i những bài học, gợi ý cho viê ̣c bảo vê ̣ và ta ̣o lâ ̣p ý thức về một môi sinh tốt đe ̣p cho con người
cả về vâ ̣t chất và tinh thần Đó chính là những đóng góp mà chúng tôi hy
vo ̣ng có thể mang lại sau khi thực hiện đề tài này
5 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết tốt mục tiêu của công trình, trong quá trình thực hiê ̣n
úng tôi tiến hành kết hợp các phương pháp sau:
Trang 11- Phương pháp văn ho ̣c sử
- Phương pháp hê ̣ thống-cấu trúc
- Phương pháp phân tích tổng hợp
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp thống kê, phân loa ̣i
- Phương pháp Phê bình sinh thái trong văn ho ̣c
6 Kết cấu đề ta ̀i
Ngoài phần Mở đầu, Kết luâ ̣n, Tài liê ̣u tham khảo, luận văn “Tìm hiểu
thiên nhiên trong Quốc âm thi tập và Ức Trai thi tập của Nguyễn Trãi từ góc
nh ìn sinh thái” gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề liên quan đến đề tài
Chương 2: Môi trường thiên nhiên trong QATT và UTTT
Chương 3: Triết lí môi sinh của Nguyễn Trãi
Trang 12N ỘI DUNG
Chương 1
NH ỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1 Gi ản lược về phê bình sinh thái và những khả năng của nó trong nghiên cứu văn học Việt Nam
Con người vốn có nguồn gốc tự nhiên Trải qua quá trình tiến hóa, con người đã dần thoát khỏi giới tự nhiên để trở thành một cá thể độc lập Đó cũng
là quá trình biến đổi mối quan hê ̣ con người-tự nhiên
Ở thời kì đầu, vì chưa hiểu rõ về sự vận hành của trời đất, quy luật của các hiện tượng tự nhiên cũng như sống hoàn toàn phụ thuộc vào tự nhiên nên con người nguyên thủy luôn nhìn tự nhiên bằng ánh mắt khiếp sợ và thành kính
Th ần thoại suy nguyên với ý thức hệ thần linh chủ nghĩa hoàn toàn phù hợp với
việc phản ánh trình độ tư duy, khả năng phân tích và cung cách ứng xử của con người với tự nhiên thời kì đó
Dần dần quá trình lao động sản xuất giúp con người ngày mô ̣t hiểu rõ hơn về tự nhiên Thay vì việc khiếp sợ tự nhiên, con người học cách chung sống hài hòa với tự nhiên
Có thể nói, con người thời cổ trung đại không tách rời mình ra khỏi tự nhiên là do con trong thời kì đó còn sống chủ yếu vào nông nghiệp, họ chưa nhìn nhận tự nhiên như là một đối tượng để khai thác, chiếm hữu mà chủ yếu sống hài hòa trong quan hệ “nhất thể” Văn học trung đại với mảng sáng tác
đồng quê đã thể hiện rõ quan hệ “thiên nhân tương dữ”, “thiên địa vạn vật nhất
thể” đó
Trang 13Sự xuất hiện bước đầu của khoa học kĩ thuật ở thời kì Phục hưng, chính thức đánh dấu bước phát triển nhảy vọt của con người trong việc khai phá thiên
giới Cho phép con người thoát khỏi nỗi sợ hãi thế giới thần linh; cho phép con người nhìn ra những khả năng của chính mình và đă ̣t mình vào trung tâm của
các giá tri ̣ Cách ứng xử với tự nhiên cũng theo đó mà thay đổi Tuy nhiên chỉ
đến thế kỷ Ánh sáng, khi tư duy lý tính lên ngôi, do khoa học kỹ thuâ ̣t phát triển
thêm một bước thì mối quan hê ̣ con người-tự nhiên mới thực sự có biến đổi lớn Con người coi thiên nhiên là khách thể mà mình có thể chiếm lĩnh, trinh phục
và thống trị
Gurevits đã viết rất thuyết phục như sau: Sự phát triển của dân cư thành thị với mọt phong cách tư duy mới, duy lí hơn bắt đầu làm biến đổi cách cảm thụ thiên nhiên truyền thống Con người sống trong những điều kiện của văn minh đô thị đã hình thành ít phụ thuộc hơn vào những nhịp độ của tự nhiên, nó tách mình ra khỏi tự nhiên dứt khoát hơn, nó bắt đầu quan hệ với tự nhiên như
là với khách thể [9, 96]
Nhưng càng ngày, thực tế càng cho thấy, sự tác động của con người lên
thế giới tự nhiên đã dẫn đến hàng loạt những hiện tượng biến đổi đang có nguy
cơ đe dọa đến chính sự tồn tại của con người Đó chính là “sự trả thù của giới
tự nhiên” với sự tàn phá khốc liệt của con người
Sống cách chúng ta hàng trăm năm, Ănghen đã sớm nhận ra được vị trí cũng như những sai lầm của con người trong mối quan hệ với tự nhiên: Chúng
ta hoàn toàn không thống trị được giới tự nhiên như một kẻ xâm lược đi thống
trị một dân tộc khác Bởi lẽ: Chúng ta nằm trong lòng giới tự nhiên và tất cả sự thống trị của chúng ta đối với tất cả các sinh vật khác là chúng ta nhận thức được các quy luật của giới tự nhiên và có thể sử dụng được những quy luật đó
một cách chính xác Và quan trọng hơn cả là con người “không nên quá tự hào
Trang 14về những lần thắng lợi của chúng ta với giới tự nhiên Bởi vì, cứ mỗi lần ta đạt được thắng lợi là một lần giới tự nhiên trả thù lại chúng ta” [14, 187]
Nguy cơ sinh thái được xem là một trong những đe dọa nghiêm trọng
nhất đối với sự sống của con người ở thế kỉ XX được đưa lên bàn nghị sự Cốt lõi của vấn đề nằm ở chỗ, nguy cơ sinh thái có nguồn gốc không phải ở bản thân hệ sinh thái mà chính là ở hệ thống văn hóa của con người Cụ thể là ở cách ứng xử, cách tương tác của con người với môi trường thiên nhiên Đây là nguyên do dẫn đến sự ra đời của khoa sinh thái học mà phê bình sinh thái là
một bộ phận cấu thành
Sinh thái học (Ecology) được hình thành từ giữa những năm 30 của thế
kỉ XX Thuật ngữ này có nguồn gốc từ chữ Hy Lạp, bao gồm hai phần là
“Oikos” chỉ nơi sinh sống và “Logos” là học thuyết Sinh thái học được hiểu theo nghĩa hẹp là khoa học về nơi ở Phát triển rộng ra là khoa học nghiên cứu
mối quan hệ giữa sinh vật với môi trường xung quanh Như vậy sinh thái học là
h ọc thuyết về nơi sinh sống của sinh vật, là môn học về quan hệ tương hỗ sinh
v ật và môi trường hay chính là khoa học về môi sinh (Environmental Biology)
[14, 18] Vai trò của môn khoa học này nhanh chóng được khẳng định ở cả lí
luận và thực tiễn Cụ thể là:
Về lí luận: sinh thái học giúp con người hiểu biết sâu hơn về bản chất của sự sống trong mối tương tác với các yếu tố của môi trường Từ đó, tạo ra nguyên tắc và định hướng cho các hoạt động của con người với thiên nhiên để phát triển nền văn minh ngày càng hiện đại
Về thực tiễn: sinh thái học giúp nâng cao năng suất, hạn chế, tiêu diệt dịch bệnh, bảo vệ đời sống sinh vật, khai thác hợp lí tài nguyên thiên nhiên, đảm bảo cho sự phát triển bền vững của sinh vật (trong đó có con người)
Trang 15Hệ sinh thái được cấu thành bởi sinh thái học tự nhiên và sinh thái học nhân văn Con người trong hệ sinh thái tự nhiên được nghiên cứu về nguồn gốc,
sự thích nghi cũng như sự tương tác của con người với các yếu tố tự nhiên Con người trong hệ sinh thái nhân văn được nghiên cứu ở mối quan hệ qua lại và sự tác động lẫn nhau giữa con người với nhau trong môi trường sống và giữa môi trường xã hội và môi trường tự nhiên Tính nhân văn của môi trường được thể hiện ở dấu ấn của con người ảnh hưởng lên thế giới tự nhiên
Đến những năm 70 của thế kỉ, trước cuộc khủng hoảng sinh thái mang
tính toàn cầu, Chủ nghĩa Sinh thái đã được ra đời đánh dấu mốc bởi Tuyên
ngôn môi trường nhân loại Tuyên ngôn được Hội nghị môi trường Liên Hợp
Quốc thông qua năm 1972 với nội dung chính nói về nguy cơ của cuộc khủng hoảng môi trường chưa từng có trong lịch sử nhân loại Tiếp đó khi khái niệm
“deep ecology” – “sinh thái học sâu” được Naess phát minh ra thì vấn đề về sinh thái tinh thần của con người đã có một tư tưởng sâu sắc Từ đó Sinh thái học được xuyên qua rất nhiều những nhánh nghiên cứu nhỏ: triết học sinh thái, chính trị sinh thái, luân lí học sinh thái, tâm lí học sinh thái , nhân loại nhân văn sinh thái… Người đầu tiên được coi là học giả phê bình sinh thái là Chery Glotfelty Bà đã đưa ra một đi ̣nh nghĩa về phê bình văn học sinh thái và được nhiều người chấp nhâ ̣n là: “phê bình bàn về mối quan hệ giữa văn học và tự nhiên” [34] Chery Glotfelty đã trở thành học giả đầu tiên được mang danh hiệu
“giáo sư môi trường”
Như vâ ̣y, Phê bình văn ho ̣c sinh thái là sự kết hợp giữa Sinh thái học với Văn học nghệ thuật giống như Phê bình Văn hóa học hay Phê bình Phân tâm học Nhưng “Phê bình sinh thái không phải đem phương pháp nghiên cứu sinh thái học, sinh vật hóa học, toán học hoặc phương pháp nghiên cứu của bất kì khoa học tự nhiên nào khác vào phân tích văn học, “nó chỉ dẫn nhập quan
ni ệm cơ bản nhất của triết học sinh thái vào phê bình văn học mà thôi” [34]
Trang 16Mă ̣t khác, khái niê ̣m Phê bình văn học sinh thái cũng mă ̣c nhiên xác đi ̣nh đối tượng của nó là văn học sinh thái
Ở thời kì đầu của phê bình văn ho ̣c sinh thái thì các tác phẩm được coi là Văn học sinh thái là những tác phẩm miêu tả phong cảnh tự nhiên, hay sự gắn
kết của con người với nơi chốn qua đó thể hiện tình yêu thiên nhiên của tác giả Nhưng qua quá trình phát triển, thấy rõ được vai trò của phê bình sinh thái trong việc thay đổi cũng như tái hình thành quan hệ hòa hợp giữa con người với
tự nhiên thì nô ̣i hàm của văn học sinh thái được mở rộng Văn học sinh thái có
thể hiểu là những tác phẩm văn học viết về mối quan hệ giữa con người với môi trường, cách con người tương tác với môi trường, và về nguy cơ sinh thái
do phương thức tác động không tương thích của con người đến môi trường
sống Cách hiểu này cho phép những tác phẩm thoạt nhìn không có hình tượng con người hay không miêu tả về tự nhiên nhưng chỉ cần có căn nguyên văn hóa tư tưởng dẫn đến nguy cơ sinh thái, chỉ cần có ảnh hưởng đến quan hệ
giữa con người với tự nhiên có thể “gia nhâ ̣p” vào văn học sinh thái
Như vậy, phê bình văn ho ̣c sinh thái được ra đời trước yêu cầu cấp thiết
của nguy cơ khủng hoảng môi trường sinh thái, và có nhiê ̣m vụ phân tích các tác phẩm văn chương và đưa ra cảnh báo về môi trường Bằng cách phân tích các diễn ngôn về thiên nhiên và môi trường để tác động đến tâm thức cũng như điều chỉnh nhận thức của con người Khắc phục những ngộ nhận về môi trường để từ đó có những hành động đúng đắn hơn, hướng đến sự phát triển bền vững Đồng thời và quan trọng hơn cả là xây dựng một chủ nghĩa nhân văn mới mà ở
đó con người biết nghe tiếng nói của thiên nhiên ta ̣o ra mô ̣t mối quan hê ̣ hài
hòa cho con người và tự nhiên Ngoài ra, phê bình văn học sinh thái cũng góp
phần giúp cho các tác phẩm văn học của quá khứ được nhìn nhận mới mẻ và đầy đủ hơn
Trang 17Trong những năm gần đây, ở Việt Nam, phê bình sinh thái đã được các nhà nghiên cứu phê bình văn ho ̣c bước đầu tiếp cận thông qua một số các bản dịch để thu hoạch những điểm căn bản với tư cách là một phương pháp lí thuyết mới của lí luận phê bình Phê bình sinh thái gần đây đã được giới thiê ̣u
vào đời sống học thuâ ̣t Viê ̣t Nam qua một số bản di ̣ch, như: Văn chương và môi
tr ường của Lawrence Buell, Ursula K Heise, Karen Thornber (Nguyễn Hạnh
Quyên dịch, Trần Hải Yến hiệu đính), Những tương lai của phê bình sinh thái
và văn học Phê bình sinh thái của tác giả Karen Thornber (Hải Ngọc dịch) [34], Phê bình sinh thái - Khuynh hướng văn học mang tính cách tân và Phê bình sinh thái-Cội nguồn và phát triển của học giả Trung Quốc Đồng Khánh Bính (Đỗ Văn Hiểu di ̣ch) [1],[2] Hoă ̣c những nhìn nhâ ̣n ban đầu như: tham luâ ̣n của Trần Hải Yến “Nghiên cứu, phê bình hiện đại và di sản văn hóa: nhìn từ cách
Sinh thái học tìm lại tam giáo” trình bày ta ̣i Hội thảo Phát triển văn học Việt Nam trong b ối cảnh đổi mới và hội nhập quốc tế (tháng 5/2014), Phê bình sinh thái – Nhìn từ lí thuyết giải cấu trúc của Nguyễn Thị Tịnh Thy [31] Bên cạnh
đó là xự suất hiện của những bài viết mang tính thực hành, sử dụng lí thuyết
Phê bình sinh thái vào tìm hiểu các tác phẩm cụ thể như: Bước đầu tìm hiểu
truy ện ngắn Nguyễn Huy Thiệp từ điểm nhìn phê bình sinh thái của Đặng Thái
Hà Trong bài viết, tác giả đã phát hiện và trình bày những phản ứng cụ thể của diễn ngôn văn học đương đại của Nguyễn Huy Thiệp trước thực trạng môi trường Mọi xem xét trong bài viết được bắt đầu từ sự đối sánh những cách
“phản ứng”, “kiến tạo”, “trình hiện” trong văn xuôi Nguyễn Huy Thiệp với chính hệ thống phân cấp nhị nguyên luận đã trở thành cố hữu Qua đó đưa ra một cái nhìn chung nhất về sự dịch chuyển của hệ giá trị trong tiến trình đổi mới văn học, được mang lại từ sự thức nhận các vấn đề sinh thái [7]
Tiếp nữa là bài viết Những ngọn gió Hua Tát của Nguyễn Huy Thiệp
nhìn từ lí thuyết phê bình sinh thái của tác giả Vũ Minh Đức [5] Tác giả tiến
Trang 18hành đọc tập truyện Những ngọn gió Hua Tát của Nguyễn Huy Thiệp với mong
muốn khám phá thêm về tác giả tác phẩm qua đó tác giả thấy được giá trị tích cực của Phê bình sinh thái, và sự cần thiết trong việc tìm hiểu và phát triển, áp
dụng lí thuyết này trong nghiên cứu văn học với mục tiêu định hướng cho văn
học hướng tới nhiệm vụ bức thiết đối với đời sống: góp phần gìn giữ sự cân bằng của môi trường sinh thái [5] Gần đây nhất là bài viết Biến đổi môi trường
s ống – nhân tố thúc đẩy không gian văn hóa mới trong thơ Tú Xương của tác
giả Dương Thu Hằng [8] Trong nghiên cứu này, sử dụng lí thuyết Phê bình sinh thái vào phân tích tác phẩm văn học trung đại Đặc biệt lại là với Tú Xương, một tác giả rất ít thơ viết về thiên nhiên Hình ảnh thiên nhiên gần như vắng bóng trong thơ ông Tác giả bài viết đã một lần nữa tái khẳng định địa hạt rộng mở của văn học sinh thái
Có thể thấy so với các khuynh hướng nghiên cứu văn học khác thì phê bình văn ho ̣c sinh thái vẫn là một khuynh hướng nghiên cứu mới, có sự phát triển rất đa dạng trong các lĩnh vực và đặc biệt là không bị gò bó, khuôn ép trong bất kỳ một phương pháp đơn lẻ nào Học giả Timothy Clark đã nhận định:
“Phê bình sinh thái đã tạo được một khu vực hoạt động rất năng động, chưa đánh giá hết được, nơi các vấn đề, các chuyên ngành học thuật chính trị giao cắt nhau Sức mạnh tiềm tàng của nó không phải chỉ như một nhánh phê bình văn học khác, được đặt bên trong những biên giới thiết chế đã có sẵn mà ở chỗ
nó là một cách tiếp cận mang tính khiêu khích cả trong việc phân tích văn học
lẫn những vấn đề vừa động hiện, vừa che khuất lẫn nhau của khoa học, đạo đức, chính trị và thẩm mỹ [34] Như vậy, hiện tại Phê bình sinh thái vẫn còn ở trạng thái “trăm hoa đua nở” Đây vừa là khó khăn, thách thức nhưng đồng thời cũng tạo cơ hội để các nhà nghiên cứu phê bình khám phá và thử nghiệm Không chỉ
nền văn học phương Tây mà cả nền văn học phương Đông cũng sẽ là một mảnh đất hứa hẹn khai phá được nhiều nguồn lợi cho Phê bình sinh thái
Trang 191.2 Thiên nhiên trong đời sống tinh thần Việt Nam thời trung đại
Ở thời kì trung đại Việt Nam, con người sống chủ yếu bằng nông nghiệp nên phải dựa vào thiên nhiên để tồn tại và phát triển Bởi thế họ luôn sống hòa
hợp với thiên nhiên Tra ̣ng thái và nguyên tắc chi phối mối quan hê ̣ này được
thể hiê ̣n rất rõ trong hệ thống tư tưởng của Phâ ̣t giáo, Nho giáo và Đa ̣o giáo -
ba hệ tư tưởng đă ̣c biê ̣t quan trọng đối với các hoa ̣t động tinh thần, trong đó có văn chương nghê ̣ thuâ ̣t của con người Đông Á thời trung đa ̣i
Trước hết là Phâ ̣t giáo: đây là hê ̣ tư tưởng, tôn giáo có vị trí tối trọng ở
Việt Nam với nhánh Thiền tông Khả năng dung hòa với những tín ngưỡng, tôn giáo khác giúp cho Phật giáo Thiền tông có số lượng môn đệ đông đảo nhất Tư tưởng chủ đạo của Phật giáo là dạy con người hướng thiện, sống yên vui trong
thực tại Triết học Phật giáo coi các hiện tượng trong vũ trụ này là tương tác và
tương hỗ nhau Kinh Tạp a hàm đưa ra khái niê ̣m “Duyên khởi” và định nghĩa là: Cái này có nên cái kia có, cái này sinh nên cái kia sinh…cái này không nên
cái kia không, cái này diệt nên cái kia diệt [25] Trong đó, Duyên là điều kiện
và nguyên nhân của cái kia Như vậy, mọi sự vật đều do điều kiện và nguyên
nhân mà tồn tại, và biến mất khi điều kiện và nguyên nhân mất đi: Có nhân có
duyên tập thành thế gian, có nhân có duyên thế gian tập thành, có nhân có duyên diệt thế gian, có nhân có duyên thế gian diệt [25] Mọi vật đều “vô
thường” (luôn luôn vận động biến đổi) trong vũ trụ và tồn tại trong mối quan hệ nhân-quả Tất cả các sự vật đều là quá trình luôn thay đổi không ngừng và tồn
tại nhờ vào nhân duyên
Phật giáo cũng là tôn giáo đặc biệt không công nhận có một đấng tối cao chi phối đời sống của con người, không ban phúc hay giáng họa cho ai mà trong cuộc sống mỗi người phải tuân theo luật Nhân – Quả Nhân là nguyên nhân, Quả là kết quả, quả báo Như vậy con người làm việc thiện thì được
Trang 20hưởng phúc còn làm việc ác thì phải chịu báo ứng Nếu mọi vật trong vũ trụ đều nương tựa vào nhau thì cũng đều chịu sự chi phối của luật Nhân – Quả
Con người giống như bao sinh vật khác là một thành phần của thế giới tự nhiên Là “cái này” trong trường hợp này nhưng cũng là “cái kia” trong trường
hợp khác Con người không thể tồn tại tách biệt với thiên nhiên mà phải có sự quan hệ gắn bó khăng khít Như đã nói, Duyên khởi là một quá trình biến đổi không ngừng và phụ thuộc vào nhân duyên nên con người là một thành phần
phải tham gia vào sự biến đổi đó và tham gia với mục đích tối thượng phải là duy trì mối quan hệ hài hòa, nương tựa vào nhau
Mô ̣t quan niê ̣m khác cũng có vai trò quan trọng trong tư tưởng của Phật
giáo là quan điểm bình đẳng phổ biến thông qua ý niê ̣m: “Chúng sinh tuy
không giống nhau nhưng đều có phật tính” Sự bình đẳng bao gồm cả bình
đẳng giữa người với người, giữa người với sinh loài khác, giữa người với vâ ̣t
cảnh Có thể nói khái quát là mọi vật tồn tại trong vũ trụ (có sinh mệnh hay không có sinh mệnh) đều bình đẳng với nhau bởi giá trị tồn tại ở bên trong, ở
Phật tính Quan điểm Bình đẳng phổ biến của Phật giáo có thể coi là nguyên tắc
cân bằng của hệ sinh thái [25]
Bàn về mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên được đề cập trong Phật giáo không thể bỏ qua chủ trương “Phá ngã chấp, đoạn tham dục” của đạo Phật Giáo luật được xây dựng xuất phát từ thực tế điều hành Tăng đàn với
những quy định, điều cấm nhằm hướng mọi người tới Chân – Thiện – Mỹ để giác ngộ và giải thoát Chi tiết hóa điều này, Phâ ̣t giáo đưa ra khái niê ̣m “Ngũ
giới” và “Thập thiện” Điều đáng nói là cả “Ngũ giới” và “Thập thiện” đều đề cập đến nguyên tắc đầu tiên là: Không sát sinh Đây vừa coi là điều cấm vừa coi là đạo đức “Ngã chấp” được coi là nguồn gốc của mọi điều ác, là căn nguyên của mọi sự sai lầm vì vậy mà phải “phá” “Tham dục” cũng là nguyên
Trang 21nhân căn bản khiến chúng sinh đau khổ vì vậy mà phải “đoạn” Như vậy có thể coi việc “không sát sinh” là chuẩn mực đạo đức quan trọng hàng đầu của Phật
giáo Đặt trong mối quan hệ với thuyết Duyên khởi và luật nhân - quả thì quan
điểm của Phật giáo về mối quan hệ của con người với sinh vật càng trở nên sáng rõ Bên cạnh việc không sát sinh ăn chay niệm phật thì việc phóng sinh,
hộ sinh luôn được đạo Phật khuyến khích đề cao
Như vậy, theo cái nhìn của Phật giáo về mối quan hệ với con người và tự nhiên: Con người trước tiên là một phần của thế giới tự nhiên Con người vừa
là “quả” của tự nhiên vừa là “nhân” tham gia vào quá trình biến đổi của tự nhiên Con người giống như tất cả các thành phần khác của tự nhiên phải có trách nhiệm và nghĩa vụ trong việc bảo vệ và duy trì trạng thái cân bằng của tự nhiên thông qua cách ứng xử bình đẳng và hòa hợp
Trong nền văn học trung đại Việt Nam, thơ ca thời Lý chủ yếu là thơ
Phật giáo Trong thơ Thiền, thiên nhiên có vai trò vô cùng quan trọng trong việc phát biểu các triết lý Thiền Bởi lẽ các thi sĩ Thiền thường không mấy khi phát biểu triết lý và quan niệm Phật giáo bằng những lời lẽ khô khan, trực tiếp
Họ gián tiếp thông qua thiên nhiên để bày tỏ những “bùng vỡ giác ngộ tâm
phật” Tuy nhiên vẫn có những tài năng vượt thoát ra khỏi chức năng đó để sinh tạo những tác phẩm nghệ thuật đặc biệt Tiêu biểu như “Cáo tật thị chúng” của Mãn Giác thiền sư:
Xuân khứ bách hoa lạc, Xuân đáo bách hoa khai
Sự trục nhãn tiền quá, Lão tùng đầu thượng lai
M ạc vị xuân tàn hoa lạc tận,
Trang 22Đình tiền tạc dạ nhất chi mai
Hình ảnh thiên nhiên mà thiền sư lựa chọn là hình ảnh một nhành mai
thanh cao, tao nhã “Và nếu như cái lý trí mà nhà thơ Mãn Giác hướng tới là
nh ằm “biểu hiện tinh thần vô úy và phi cứu cánh của đạo Phật” thì hình tượng cành mai tươi đẹp trong thơ đã phơi bày tất cả sự đam mê, ham sống
c ủa con người giữa thế giới hữu hạn, đầy siêu thoát và bí ẩn như thực lại như hư” [11, 57]
Được hỏi về một vấn đề chính trị quốc gia rất trừu tượng nhưng nhà sư Pháp Thuận đã trả lời nhà vua Lê Đại Hành bằng những câu thơ rất dung dị,
tự nhiên
Qu ốc tộ như đằng lạc, Nam thiên lí thái bình
Vô vi cư điện các,
X ứ xứ tức đao binh
(Qu ốc tộ )
Di ̣ch nghĩa
Trang 23Vận nước như dây leo quấn quít, Trời Nam mở nền thái bình
Hãy dùng phép vô vi ở nơi cung đình, Thì mọi chốn đều dứt hết đao binh
Nhà sư ví vận nước như cây đằng lạc sum suê, vững chãi, cũng có nghĩa là nền thái bình của xã tắc mãi mãi dài lâu Như vậy, hai tác phẩm trên cho thấy thiên nhiên có mô ̣t vai trò nghệ thuâ ̣t rất quan tro ̣ng trong văn chương Phâ ̣t giáo nhưng sự tồn ta ̣i trong tra ̣ng thái tự thân thì ít có
Sang thời Trần, văn chương tiếp tục phát triển với những điều kiện mới
là sự tham gia của đội ngũ trí thức nhà Nho Sự dung hòa tam giáo và không
khí đánh giă ̣c, thắng giă ̣c ngoa ̣i xâm là điều kiện để văn chương đời Trần phát triển “Trong thời Thịnh Trần, tâm hồn các thi sĩ luôn mở rộng để giao cảm với non sông đất nước, dân tộc và thời đại Do đó mà lời ca say sưa của những tâm
hồn hòa đồng niềm vui chung của dân tộc trong công cuộc xây dựng đất nước, trong các kỳ tích lừng lẫy làm nên “hào khí Đông A” một thời” [9,78]
Tuy nhiên, bắt đầu từ đây Nho giáo dần chiếm lĩnh được đời sống tinh
thần người Đa ̣i Viê ̣t Nho g iáo vốn là học thuyết đa ̣o đức đề cao việc “tu thân”
để đảm bảo tôn ti trật tự, thứ bậc trong xã hội Nói cách khác, mối quan tâm của Nho giáo là trật tự xã hội con người Tuy nhiên con người, hay xã hội của loài người, không thể nằm ngoài những tương tác với thế giới ngoài nó Đó là vũ trụ,
là thế giới tự nhiên Vì vậy dần dà Nho giáo cũng mở rộng hê ̣ thống triết lý của
mình, dung nạp các triết thuyết khác, và đến thế kỉ XI thì có một thế giới quan
hoàn chỉnh
Trong bô ̣ ba thiên-đi ̣a-nhân mà Nho giáo thường đề câ ̣p, nhân (con người)
là khách thể của hai yếu tố còn la ̣i - thuộc thế giới tự nhiên Trong quan hê ̣ chủ
Trang 24khách này, con người được “trời che, đất chở” con người phải kính sợ trời đất,
tức là quan hê ̣ bất bình đẳng Thế nhưng, Nho giáo la ̣i đưa ra một quan niê ̣m
khác “thiên-nhân tương cảm, thiên nhân tương dữ” khẳng đi ̣nh sự tương tác của con người với thế giới bên ngoài Như vâ ̣y, trong cách nhìn nhâ ̣n mối quan hê ̣
này, quan niê ̣m Nho giáo đã thể hiê ̣n tính lưỡng phân Tự nhiên vừa là khách thể tồn tại bên ngoài con người, nhưng đồng thời con người lại tương cảm với thiên nhiên bởi trạng thái “trung hòa” Đỗ Duy Minh mô ̣t ho ̣c giả gốc Hoa nổi
tiếng trong bài viết “Tính liên tục của tồn ta ̣i” cho rằng “trung” là một trạng thái của “tâm” – tuyệt đối bình lặng trước những tác động của bên ngoài, đi vào
mỗi con người tạo nên được sự thống nhất thiên-địa-nhân thì lúc đó “hòa” xuất
hiện Nghĩa là, dù giữa con người và thiên-địa luôn có một khoảng cách nhất định song con người không tách khỏi tự nhiên mà cần hòa hợp với thiên nhiên
Có thể thấy, dù đề cao trật tự thứ bậc nhưng Nho giáo cũng luôn hướng
tới sự hài hòa giữa âm dương, ngũ hành Vì vậy trong quan hệ với thiên nhiên, nguyên lí “thiên địa vạn vật nhất thể” luôn được thể hiện trong suy nghĩ và thực hành
Cuối cùng là Đạo giáo: Trước tiên sự xuất hiê ̣n của Đa ̣o giáo được coi
như một phản ứng với Nho giáo với chủ trương xuất thế - vô vi Tuy nhiên, về
vũ trụ quan thì Đạo giáo lại gặp gỡ Nho giáo ở quan niệm “trung hòa” Trung hòa là trạng thái cân bằng của trời-đất, là trật tự của tự nhiên Lão Tử trong Đa ̣o Đức kinh đã trình bày: Trời-đất lại có gốc rễ từ âm-dương, hai yếu tố chính để
tạo nên muôn loài trong vũ trụ Trật từ này, vòn chuyển hóa này sẽ chỉ bất ổn,
rối loạn khi con người có những hành vi bất thiện
Như vậy, “trung hòa” là khái niệm then chốt của cả Đạo giáo và Nho giáo Cả hai đều coi “trung hòa” là sự hài hòa giữa con người với trời và đất, thiên-địa-nhân có chung bản nguyên là “khí” vì vậy mà thiên-địa-nhân nhất thể
Trang 25là vốn có của tự nhiên, sự trung hòa là một trật tự của tự nhiên, con người có thể làm cho nó tốt lên hoặc xấu đi tùy thuộc vào hành vi thiện hay ác của mình Tuy nhiên, nếu Nho giáo coi Trung hòa là trạng thái con người tạo nên giữa mình và thiên-địa, vì vậy, con người vẫn luôn có một khoảng cách nhất định
với trời-đất, thì Đạo giáo la ̣i nhấn ma ̣nh vi ̣ trí tiên khởi, vai trò chuẩn mực của
tự nhiên đối với mọi hoa ̣t động của con người (nhân vi) Vì vậy mà Lão Tử chủ trương con người phải “vô vi”, không làm gì trái với tự nhiên: “người bắt chước đất, đất bắt chước trời, trời bắt chước đạo, đạo bắt chước tự nhiên” Như
vậy con người trong Đạo giáo không được nhấn ma ̣nh ở khả năng kết nối địa như trong Nho giáo mà chỉ nên làm theo lẽ tự nhiên Nhưng đến Trang Tử,
thiên-với quan niê ̣m “tề vâ ̣t” – coi va ̣n vâ ̣t là ngang bằng nhau, nhìn sự hữu ha ̣n của nhân sinh trong tương quan với sự vô ha ̣n của ta ̣o hoá, tư tưởng Đa ̣o giáo đã được bổ sung thêm tính chất phóng túng, đă ̣c biê ̣t là những ý niê ̣m ban đầu cho
sự thoả mãn nhân dục Từ đó, quan hê ̣ thiên-nhân cũng có một bước chuyển
đô ̣c đáo so với tư tưởng Nho gia Đó là sự tìm kiếm an la ̣c, thái độ thưởng ngoa ̣n, thâ ̣m chí là hưởng thụ cảch sắc tự nhiên của con người
Từ các dẫn chứng trên, chúng tôi nhâ ̣n thấy điểm riêng khác của tam
giáo trong quan niê ̣m về sinh thái tập trung ở quan niê ̣m về vi ̣ thế và vai trò của con người trong mối quan hê ̣ với thế giới bên ngoài Còn chỗ gă ̣p nhau của ba
hệ tư tưởng là ở việc trao cho thiên nhiên một vi ̣ trí đă ̣c biê ̣t quan trọng trong đời sống của muôn loài Đồng thời, con người phải thiết lâ ̣p và duy trì mối quan hê ̣ hài hòa với thiên nhiên vì sự tồn ta ̣i của chính bản thân mình Đó chính
là Đa ̣o đức sinh thái mà cả Phâ ̣t giáo, Nho giáo và Đa ̣o giáo đều hướng con người đi tới
1.3 Hai thi t ập và những chặng đời của Nguyễn Trãi
Trang 26Nguyễn Trãi (1380-1442) xuất thân trong một gia đình có truyền thống Nho học Năm 20 tuổi thi đỗ Thái học sinh Khi Hồ Quý Ly lên ngôi, Nguyễn Trãi cùng cha là Nguyễn Phi Khanh ra làm quan cho nhà Hồ Nguyễn Trãi giúp
Hồ Quý Ly thực thi những chính sách cải cách mới Trong khi những cải cách còn dang dở thì nhà Hồ bi ̣ giặc Minh cướp mất (1407) Cha bị bắt sang Trung Quốc, Nguyễn Trãi theo hầu cha để cho chữ hiếu vẹn tròn Đi được nửa đường
thì ông được cha khuyên“Con lập chí, rửa thẹn cho nước, trả thù cho cha như
th ế mới là đại hiếu” Nguyễn Trãi khắc sâu lời dặn dò của cha, trở về lập chí
trả thù cho nước báo thù cho cha Đứng trước một bên là cuộc khởi nghĩa của phái hậu Trần, một bên là sự dụ dỗ, mua chuộc của giặc Minh, Nguyễn Trãi rơi vào trạng thái vô định
Quãng thời gian “Mười năm tìm minh chúa” (1407-1416) là khoảng thời gian vô cùng khó khăn với Nguyễn Trãi Cha bị bắt, giang sơn bị tàn phá, gia quyến bị giết hại, và đặc biệt là lí tưởng trung quân không được thực thi Sự bế tắc khiến Nguyễn Trãi tìm về với thú điền viên UTTT có số lượng lớn các bài thơ được viết trong giai đoạn này với lời thơ đa phần buồn nhưng cũng không kém phần tráng chí
Cuối cùng Nguyễn Trãi cũng tìm được minh chúa khi đến với cuộc khởi nghĩa Lam Sơn của người anh hùng Lê Lợi Sự lựa chọn đó khẳng định ý thức dân tộc, tinh thần yêu nước căm thù giặc sâu sắc của Nguyễn Trãi Tìm đến
khởi nghĩa Lam Sơn, Nguyễn Trãi được sống những ngày vinh quang, ý nghĩa, đẹp đẽ nhất của cuộc đời ông Nguyễn Trãi dâng “Bình Ngô sách” với chiến
lược “tâm công – đánh vào lòng người – đánh bằng nhân nghĩa” Lê Lợi chấp
nhận chiến lược của Nguyễn Trãi và xem Nguyễn Trãi là tâm phúc, luôn giữ bên mình Trong suốt 10 năm khởi nghĩa, Nguyễn Trãi giúp Lê Lợi thảo thư từ,
mệnh lệnh, triệt để thực hiện chiến lược tâm công, thuyết phục giặc quy hàng
Trang 27Kết thúc khởi nghĩa Lam Sơn, Nguyễn Trãi thay Lê Lợi viết “Bình Ngô đại cáo” trong niềm tự hào vô biên, và trở thành một áng văn thiên cổ
Những tưởng rằng, chiến tranh kết thúc, những ngày tháng còn lại sẽ chỉ
còn ngập tràn trong niềm vui, nào ngờ Nguyễn Trãi lại là nạn nhân của trò “hết
chim b ẻ ná” vô cùng nghiệt ngã Vị lãnh tụ Lê Lợi của 10 năm kháng chiến nay
trở thành vua Lê Thái Tổ nắm trong tay cả gấm vóc giang sơn Vị vua ấy xưa coi Nguyễn Trãi là vật báu bên mình thì nay nghe theo lời bọn nịnh thần mà nghi ngờ tấm lòng như sao khuê của Nguyễn Trãi
Trước tiên, triều đình sát hại các công thần như Trần Nguyên Hãn, Phạm Văn Xảo, và cuối cùng là giam ngục vị tôi trung Nguyễn Trãi Tuy không bị giam lâu nhưng kể từ đó Nguyễn Trãi không được vua tin dùng như xưa nữa Khoảng thời gian làm “quan danh”, sống nhàn tản, ông chỉ đọc sách, làm thơ, đốt hương, uống trà, trồng cúc, ngắm hoa, ngắm trăng, ngẫm chuyện đời, ngao
du sơn thủy, di tích lịch sử… Tất cả được ghi lại trong UTTT vừa cho thấy niềm tự hào về non sông và lịch sử hào hùng của dân tộc vừa là những tâm sự bất đắc của một bậc kì tài bị bỏ rơi
Nguyễn Trãi mặc dù vẫn tận tâm với xã tắc nhưng chẳng đóng góp được
gì quan trọng Theo mô ̣t số tài liê ̣u thì đến khoảng cuối năm 1437 đầu năm
1438 không thể chịu được cảnh: “Nhà quan lại ngỡ cảnh chùa sâu”, Nguyễn
Trãi về Côn Sơn ẩn dâ ̣t Sự lựa chọn này, có lẽ là sự lựa chọn khó khăn và đau đớn nhất trong cuộc đời Nguyễn Trãi Bất lực trước cuộc đời tráo trở đen bạc, người anh hùng như đã rơi vào bế tắc Trở về quê hương, người anh hùng dân
tộc lẩn mình vào cây cỏ, muông thú, lẩn mình vào đời sống nông thôn với những người lao động nghèo nàn nhưng trong sạch, chất phác Đời sống đói nghèo mà thanh bạch, giản dị, mộc mạc như chính bản chất vốn có của chính con người Ức Trai Với tình yêu thiên nhiên, cây cỏ, với tâm hồn rộng mở
Trang 28phong phú của người nghệ sĩ đa cảm, trong thời gian ở Côn Sơn Nguyễn Trãi sáng tác rất nhiều thơ ca mà chủ yếu là sử dụng chữ Nôm để sáng tác QATT ra đời trong hoàn cảnh này
Thế rồi, khi vua Lê Thái Tông lên ngôi, hiểu việc nước, việc đời, hiểu được tài năng và nhân cách của Nguyễn Trãi thì Nguyễn Trãi lại được vời ra
làm quan Mừng vui, hăm hở như “con ngựa già được thương, như cây khô
tươi lại”, ông viết “Biểu tạ ơn” để thể hiện nỗi lòng “Cảm mà chảy nước mắt,
m ừng mà trong lòng sợ” của mình Những ngày tháng tươi đẹp như thế chẳng
được bao thì mô ̣t vu ̣ án oan nghiệt đổ xuống đầu Nguyễn Trãi Nói về vụ án oan Lệ Chi viên, nói về nguyên nhân cái chết của con người toàn đức vẹn toàn
ấy, Phạm Văn Đồng luận một cách xác đáng như sau: “Đối với triều đình nhà
Lê lúc bấy giờ, sau khi “bốn biển đã yên lặng”, Nguyễn Trãi nhân nghĩa quá, trung tr ực quá, thanh liêm quá! Nguồn gốc sâu xa của thảm án vô cùng đau thương của Nguyễn Trãi, tru di ba họ là ở đó” [3 12]
Đặt riêng UTTT và QATT trong chuỗi biến cố thămg trầm của cuộc đời Nguyễn Trãi, ta thấy một tập thơ thể hiê ̣n quãng thời gian huy hoàng, oanh liệt
của vị anh hùng; một tập lại cho thấy quãng đời bị quên lãng, buồn tủi của một trung thần quan mà vẫn không nguôi lòng trung hiếu Nhưng hai thi tập riêng khác mà không đối lập bởi nó thống nhất trong việc thể hiện một bậc vĩ nhân
với sự hòa hợp của nhiều tư cách trong mô ̣t nhân cách cao đe ̣p
Trang 29Hai trường hợp được lựa chọn cho khảo sát này của chúng tôi là QATT
và UTTT của Nguyễn Trãi Mỗi thi tâ ̣p được viết ở thời điểm khác nhau với
hoàn cảnh khác nhau, thể hiê ̣n bằng chất liê ̣u ngôn ngữ khác nhau nhưng có chung mô ̣t trong những điểm gă ̣p gỡ là thiên nhiên với tư cách một hình ảnh quan tro ̣ng trong đời sống tinh thần và nghê ̣ thuâ ̣t của tác giả
Trang 30Chương 2 MÔI TRƯỜNG THIÊN NHIÊN TRONG QATT VÀ UTTT
Trong chương này, chúng tôi khảo sát môi trường thiên nhiên trong QATT và UTTT qua hê ̣ sinh vâ ̣t, qua những biến đổi của thiên nhiên theo vòng chu chuyển của vũ trụ và những nơi chốn được nhắc đến Bởi đây là những phương diê ̣n cơ bản, quan trọng để nhâ ̣n xét về vị trí của tác giả trong quan hệ
với thiên nhiên cũng như cách cư xử, sự tương tác, gắn kết của tác giả với môi trường thiên nhiên
2.1 H ệ sinh vật trong QATT và UTTT
Có thể tìm thấy một cuốn từ điển nhỏ về các loài sinh vâ ̣t vừa la ̣ la ̣i vừa quen trong hai tâ ̣p thơ của Nguyễn Trãi Nguyễn Trãi không phải trường hợp đặc biệt khi hệ sinh vật được tác giả ưu tiên lựa chọn nhắc đến trong thơ là hệ sinh vâ ̣t quen thuộc mang tính biểu tượng, ước lê ̣ trong văn học trung đại Tuy nhiên, bên ca ̣nh hê ̣ sinh vâ ̣t quen thuô ̣c đó là sự xuất hiê ̣n của những “sinh vâ ̣t
la ̣” La ̣ so với thư ti ̣ch nhưng lại gần gũi với đời sống thường nhâ ̣t và hoạt động lao đô ̣ng sản xuất của người bình dân Hơn nữa, mỗi tâ ̣p thơ được sáng tác ở
những thời điểm sáng tác, hoàn cảnh, tâm thế khác nhau nên cách tác giả phản ánh mang tính riêng biê ̣t
2.1.1 H ê ̣ thực vâ ̣t trong QATT và UTTT
Điểm trùng hợp về hê ̣ thực vâ ̣t trong QATT và UTTT chính là những
loa ̣i cây mang tính biểu tượng thường gă ̣p trong văn học cổ Nói đến
tùng-trúc-cúc-mai là nói đến những phẩm chất cao quý, tốt đe ̣p của người quân tử Đây là
mô ̣t đă ̣c điểm thi pháp của văn học trung đa ̣i, các tác giả thường đồng nhất
hoàn toàn các hiê ̣n tượng cuộc sống vào một số hình ảnh tiêu biểu Trong QATT, trúc được nhắc 20 lần; tùng: 3 lần; cúc: 10 lần; mai: 19 lần Trong
Trang 31UTTT, trúc: 17 lần; tùng: 7 lần; cúc: 6 lần; mai: 6 lần còn la ̣i là sen, rêu, cỏ, liễu…
Nếu như trong UTTT có 17 lần Nguyễn Trãi nhắc tới trúc thì cả 17 lần được nhắc đến trong tập thơ, trúc đều là một nét vẽ trong bức tranh của tác giả
về phong cảnh Đó có thể là phong cảnh tác giả chứng kiến, ghi la ̣i hay tưởng tượng trong mơ, hoă ̣c khi xa nhớ về
Trong bài Du sơn tự, trúc là một nét vẽ được ta ̣o ra với ba không gian:
nước-chùa-mây:
Đoản trạo hệ tà dương
Thông thông yết thượng phương
Vân quy thiền tháp lãnh
Hoa l ạc giản lưu hương
Nh ật mộ viên thanh cấp
Sơn không trúc ảnh trường
C á trung chân hữu ý,
D ục ngữ hốt hoàn vương
Di ̣ch nghĩa
Thuyền nhỏ ánh xiên quai,
Chùa non chóng tới nơi
Mây về hơi chiếu la ̣nh,
Suối ngát hương hoa rơi
Vượn tối tiếng kêu gấp,
Trúc cao bóng ngả dài
Cảnh trông như có ý,
Muốn nói, bỗng quên lời
Mô ̣t bức tranh đa cảnh được vẽ ra để ghi la ̣i cảm xúc của tác giả khi đi thăm chùa Ở nơi đó sơn thủy hữu tình với thuyền nhỏ với mây bay với suối
Trang 32chảy, với hương hoa rơi với vượn kêu gấp với trúc cao ngả bóng… Tất cả làm cho tác giả cảm thấy “cảnh trông như có ý”, đắm chìm vào cảnh vâ ̣t làm tác giả
bồi hồi “muốn nói, bỗng quên lời”
Tương tự như vậy, tác giả đã vẽ ra bức tranh về cuộc sống an bần la ̣c đa ̣o,
có núi non, cây cỏ, chim thú, để “ngày gột tâm trần chè giọng mát/Trưa nằm
tỉnh giấc tiếng chim ran”:
Giai kh ách tương phùng, nhật bão cầm,
C ố sơn quy khứ hứng hà thâm
Hương phù ngõa đỉnh phong sinh thụ, Nguy ệt chiếu đài cơ, trúc mãn lâm
T ẩy tận trần khâm hoa ngoại mính,
Ho án hồi ngọ mộng chẩm biên cầm
Nh ật trường ẩn kỷ kỵ ngôn xứ, Nhân dữ bạch vân thùy hữu tâm
(UTTT- Đề Trình xử sĩ Vân Oa đồ)
Trang 33Chung tiêu thính vũ thanh
Tiêu tao kinh khách chẩm, Điểm trích sổ tàn canh
C ách trúc xao song mật,
H òa chung nhập mộng thanh
Ngâm dư hồn bất mi ̣, Đoạn tục, đáo thiên minh
(UTTT - Th ính vũ)
Di ̣ch nghĩa
Hiu qua ̣nh thư trai vắng,
Suốt đêm lắng gio ̣t tranh
Tiêu điều khách tựa gối,
Thánh thót điểm tàn canh
Trúc mọc, song như kín, Chuông hồi, mô ̣ng chẳng thành
Ngâm rồi, mắt cứ tỉnh,
Thức ngủ tới bình minh
Những bài thơ trong thi tâ ̣p, đôi khi gây cảm thấy dường như tác giả ta ̣o
ra những tấm phông cảnh vâ ̣t để bộc tả tâm tư mà ít lưu tâm đến cảnh sắc thực
của chúng:
Th ế lộ sa đà tuyết thượng điên,
Nh ất sinh lạc phách, cánh kham liên
Nhi tôn chủng phúc lưu tâm địa, Ngư điểu vong tình, lạc tính thiên
T ảo tuyết chử trà, hiên trúc hạ,
Ph ần hương đối án ổ mai biên
C ố sơn tạc dạ triền thanh mộng,
Trang 34Nguy ệt mãn Bình Than, tiểu mãn thuyền
(UTTT - M ạn hứng)
Di ̣ch nghĩa
Khúc khuỷu đường đời, tuyết phủ trên,
Mô ̣t đời lưu la ̣c nghĩ thêm phiền
Cháu con gây phúc cần nơi ở, Chim cá vô tình mới tự nhiên
Quét tuyết nấu chè, hiên trúc ngả, Đốt trầm tựa án vách mai liền
Non xưa đêm trước nhìn trong mộng, Giăng ngâ ̣p Bình Than, rượu ngập thuyền
Trong bài thơ có sự xuất hiê ̣n của tuyết - hiê ̣n tượng tự nhiên rất hiếm khi xuất hiện trong khí hâ ̣u của một nước nhiê ̣t đới như nước ta Chính điều này
làm cho cảnh vật trở nên “phi hiê ̣n thực” và mang hơi hướng sách vở nhiều
Nếu “tuyết” không có thật thì “hiên trúc ngả” cũng không thể dám chắc là thực hay hư? Thể thơ, ngôn ngữ của thi tập vẫn được xem là thứ văn chương bác
học, viết cho những người được đào ta ̣o bài bản nên cách tác giả thể hiê ̣n cũng mang tính “điển cố, điển tích” Chỉ cần nhắc đến trúc thì đối tượng đọc, nghe
cũng đã hiểu mu ̣c đích thể hiê ̣n của tác giả rồi Vì vâ ̣y, cũng không thể không
có nghi vấn về trường hợp tác giả chỉ mượn hình ảnh của trúc để nói lên quan điểm, tư tưởng của mình Dường như có một “thế giới ý niê ̣m” đã được tác giả xây dựng trong thi tâ ̣p bằng chất liê ̣u của thế giới tự nhiên
Trong QATT cũng có những bài thơ mang dáng dấp tương tự Hình ảnh tuyết được lă ̣p la ̣i ở nhiều bài:
Đường tuyết, thông còn giá in
(QATT – Thời lệnh môn – Tảo xuân đắc ý)
Trang 35Hay: Sóc phong, bạch tuyết hãy đeo đai
(QATT – Thời lệnh môn – Trừ tịch) Tuyết sóc leo cây điểm phấn
(QATT – Ngôn chí – bài 13) Không chỉ tuyết là của Đường thi mà thâ ̣m chí trúc cũng là hình ảnh mang đă ̣c trưng nghê ̣ thuâ ̣t của thơ Đường Như trong các bài “Ngôn chí” - bài
4, bài 12, bài 15, “Tự thán” - bài 7, đă ̣c biệt là bài “Đề hiên mai tuyết của
Hoàng ngự sử”, Nguyễn Trãi dường như liệt kê đầy đủ bộ tứ quý kèm điển tích
về chúng như những phương tiê ̣n hữu hiê ̣u để thể hiện tư tưởng thường thấy
trong thơ chữ Hán của tác giả
Mũ trĩ uy nghi mặt tựa sắt
Không chỉ yêu mai yêu cả tuyết
Yêu mai, yêu tuyết cớ duyên gì,
Cớ duyên tuyết trắng mai thanh khiết Thiên nhiên mai tuyết nghĩ đã kỳ,
La ̣i thêm cây bách thành tam tuyê ̣t
La Phù Tử tâm thần như băng, Thoáng biến ngọc quỳnh thành hột cát
Đêm khuya lanh lảnh tiếng ngọc rơi,
Gió cửa trăng hiên gây gấy rét
Vó không có gió đưa hương theo, Đều đều mô ̣t sắc không phân biê ̣t
Lầu ngo ̣c la ̣nh, Đông Pha có nga ̣i đâu,
Bể ba ̣c sóng, lắng trong là hết,
Cửu trùng thương xót đến dân xa,
Những điều sai lầm là được bớt
Trang 36Gió sương thổi ma ̣nh, chuyển hơi may, Thân ở phương nam, lòng cửu khuyết
Phương nam, tháng hợi, ấm như xuân, Trong mô ̣ng chỉ hoa là còn thiết
Tâm tình sáng vật xưa có người,
Lần trần ở la ̣i theo tiên triết
Đông Pha nghĩ trúc không thể không, Liêm Khê yêu sen thêm mô ̣t thuyết
Từ xưa trời đất khi thu tới,
Nhớ Tây Hồ Bá Kiều vịnh nguyê ̣t
Bên ca ̣nh những bài thơ mang dáng dấp quen thuộc kể trên, trong QATT
có riêng mục: “Cầm thú môn” và “Hoa mộc môn” viết về các loa ̣i con vật, cây
cối Mu ̣c thơ này có cách viết, cách thể hiện hình ảnh rất đă ̣c biê ̣t; trong mục Hoa mộc môn có chùm bài thơ liên hoàn về tùng, trúc, cúc, mai Điểm khác
biê ̣t với hình ảnh trúc được nói đến trong UTTT là trúc được khắc họa nổi bâ ̣t
những đặc trưng về hình thức đồng thời được tác giả thể hiê ̣n như một sinh thể
có tâm hồn, có cốt cách Nói cách khác, trúc được lựa chọn là nhân vâ ̣t trung tâm, đối tượng chính được nói đến trong bài thơ Người đọc dù bác học hay
bình dân đều hiểu được vì sao tác giả lựa chọn trúc làm đối tượng thể hiê ̣n tư
tưởng, quan điểm của mình
Tr úc thi
Hoa liễu chiều xuân cũng hữu tình
Ưa mày vì bởi tiết mày thanh Đã từng có tiếng trong đời nữa, Quân tử ai chẳng mắng danh
Danh quân tử tiếng nhiều ngày,
Trang 37Bảo khách tri âm mới biết hay
Huống la ̣i dưng dưng chăng bén tục, Trượng phu tiết cứng khác người thay
Trượng phu tiết cứng khác người thay
Dưỡng dỗ trời có ý vay
Từ thủa hóa rồng càng la ̣ nữa,
Chúa xuân gẫm càng xưa hay
Theo đó hai câu thơ đầu có ý nghĩa: kẻ sĩ cũng như trúc, dù có la ̣c vào
chốn phồn hoa đô hô ̣i, sống giữa xa hoa phú quý1 vẫn giữ được khí tiết thanh cao của mình, không vướng bâ ̣n lợi danh như cây trúc dáng thẳng, ruột rỗng Đây cũng là lí do mà tác giả thích trúc, yêu trúc: “ưa mày vì bởi tiết mày thanh”
Cách thể hiê ̣n tình cảm của tác giả với trúc trong QATT có nét khác với thơ
chữ Hán Tác giả trực tiếp bày tỏ sự “thiên ái” của mình, nêu cụ thể lí do của
tình cảm ấy chứ không đơn thuần chỉ là một ám dụ
Không chỉ bởi cấu ta ̣o ruột rỗng, dáng thẳng mà trúc còn ở sự cứng cỏi, kiên cường Đó là việc tu dưỡng, rèn luyê ̣n đạo đức để “chăng bén tục” để tâm
hồn cao rô ̣ng thực hiện lý tưởng vì nước vì dân:
Huống la ̣i dưng dưng chăng bén tục, Trượng phu tiết cứng khác người thay
Trượng phu tiết cứng khác người thay
Dưỡng dỗ trời có ý vay
Hình ảnh trúc trong ba bài thơ liên hoàn như là một ẩn dụ của người quân tử, có chí, có khí tiết Tác giả như đã hóa thân vào trúc, để sống cùng và
1 C ó những cách hiểu khác nhau về câu thơ đầu tiên của bài, song cách hiểu: “hoa liễu” chỉ
m ột thứ bệnh hoa tình thường mắc ở những nơi kỹ viện, lầu xanh được xem là được nhiều người tán thành hơn
Trang 38cảm nhâ ̣n sâu sắc ve ̣n toàn, cũng vì thế đã hiê ̣n lên một khóm trúc thâ ̣t với đầy đủ hình dáng, đă ̣c điểm thâ ̣t
Chúng ta sẽ bắt gặp hiê ̣n tượng tương tự khi tìm hiểu về hình ảnh “tùng”,
“cúc”, “mai” ở hai thi tâ ̣p Ở UTTT hình ảnh tứ quý hiê ̣n lên một cách kín đáo, sâu sắc Đôi khi tác giả chỉ nhắc tên và kèm theo điển mà không bàn luâ ̣n nhưng trong QATT, đă ̣c biê ̣t trong mu ̣c “Hoa mô ̣c môn” hình ảnh tứ quý hiê ̣n lên rất cu ̣ thể, rõ ràng, sinh động Không chỉ nhắc tên trong những bài thơ mà
tùng-trúc-cúc-mai được lựa chọn là đối tượng trung tâm được phản ánh trong thi phẩm Tác giả rất ha ̣n chế trong viê ̣c dùng điển thay vào đó là lối diễn đa ̣t
rất trong sáng, dễ hiểu Phải chăng, trong thâm tâm tác giả có một sự phân chia ranh giới nhất đi ̣nh cho cách thể hiê ̣n trên? Thơ chữ Hán phải chăng là thơ viết
cả cho mình, cả cho người nên không thể nói thẳng, nói thâ ̣t còn thơ chữ Nôm
là nhâ ̣t kí của riêng nên bày tỏ theo cách cũng rất riêng
Nguyễn Trãi đọc nhiều thơ văn Trung Hoa nên làm thơ vẫn “lưu luyến” thiên nhiên Đường luật cũng có thể thông cảm Đây cũng là biểu hiện mang tính thi pháp của thơ trung đại Theo nhà nghiên cứu Trần Đình Sử trong “Thi
pháp văn học trung đa ̣i”2 thì đă ̣c điểm thứ năm của loa ̣i hình văn học trung đa ̣i
là tính chất ước lê ̣ nổi bâ ̣t của hình thức biểu hiê ̣n Đó là tính chất tâ ̣p cổ, tính quy pha ̣m, tính công thức, tính trang trí gắn chă ̣t với truyền thống và nê ̣ truyền
thống rất nă ̣ng Trong đó tính tâ ̣p cổ được đă ̣c biết chú ý trong viê ̣c mô phỏng
các mẫu mực có trước, thích dùng điển là một biểu hiê ̣n rất phổ biết ở hầu hết
các tác gia văn học trung đa ̣i Như vâ ̣y, Nguyễn Trãi không phải là trường hợp điển hình, tiêu biểu như Nguyễn Du sáng ta ̣o “Truyê ̣n Kiều” cũng là một cách
diễn đa ̣t mới trang nhã, điêu luyê ̣n dựa trên những chuyê ̣n đã biết hay “Chinh
2 Trần Đình Sử (1999), Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà
N ô ̣i
Trang 39phu ̣ ngâm khúc” của Đă ̣ng Trần Côn…Tuy nhiên, bên cạnh những hình ảnh về
các loài cây mang màu sắc truyền thống chúng ta thấy một hê ̣ thực vâ ̣t chưa bao giờ đặt chân đến địa hạt của thơ ca trung đại trước đó Hê ̣ thực vâ ̣t đó đã
ta ̣o ra mô ̣t môi trường thiên nhiên kì thú, bình dị, có mối quan hệ chặt chẽ với đời sống sản xuất của những người lao động và hoàn toàn mang bản sắc của dân tộc Việt Nam Những loại rau củ, sản vật nông thôn: khoai, kê, muống, mùng tơi, dọc mùng, mấu ấu… những thứ cây có “thân phận” thấp bé: bèo, núc
nác Điều đáng nói hơn cả là hình ảnh những loài thực vâ ̣t dân dã, bình di ̣ được đưa vào thơ không chỉ là đối tượng phản ánh mà còn là đối tượng thẩm mỹ Nó
thể hiện tình cảm thầm kín, tinh tế của người Việt Hê ̣ thực vâ ̣t nói trên được
tìm thấy trong QATT còn UTTT thì ti ̣nh nhiên không có Đó là lí do giải thích
ta ̣i sao người đọc thấy rõ sự khác biê ̣t về đối tượng được trình hiê ̣n trong bức tranh thiên nhiên của Nguyễn Trãi ở hai tâ ̣p thơ Ở UTTT đó là bức tranh được
vẽ theo khuôn mẫu, với những nét chấm phá tài tình, với những hình ảnh ước lê ̣, tượng trưng ta ̣o cho người xem cảm giác quen thuộc bởi điển cố, điển tích Ngược la ̣i, trong QATT, bức tranh thiên nhiên được vẽ ra bởi những hình ảnh
hết sức bình di ̣ và thân thuộc với đời sống hàng ngày la ̣i tao ra một cảm giác rất tươi mới đối với thi ca trung đa ̣i thời đó
Nguyễn Trãi đã phát hiê ̣n ra chất thơ trong những cảnh vật rất bình thường, phát hiê ̣n ra tính biểu tượng của những sinh vâ ̣t rất nhỏ bé:
Mô ̣t cày, một cuốc thú nhà quê Áng cúc lan xen vãi đâ ̣u kê
Khách đến chim mừng hoa xẩy rụng
Chè tiên, nước ghín, nguyê ̣t đeo về
(Bài 25, Thuâ ̣t hứng)
Trang 40Tác giả đã hiện lên trong hình ảnh của một lão nông thực sự vui thú với
ruô ̣ng vườn:
Vun đất ải lảnh mùng tơi
(QATT – Ngôn chí – bài 9)
Ao quan, thả gửi hai bè muống Đất bụt ương nhờ một luống mùng
(QATT – Thuật hứng – bài 23)
Ao cạn vớt bèo cấy muống, Đìa thanh, phát cỏ ương sen
(QATT – Thuật hứng – bài 24)
Những hình ảnh trên là những hình ảnh thiên nhiên bình dị có mối quan
hệ mật thiết với đời sống sản xuất của những người nông dân Ao bèo, rau
muống, núc nác, mồng tơi, lảnh mùng, củ ấu, củ khoai, ha ̣t kê, ha ̣t đâ ̣u… những
sản vật do sức lao động của người nông dân Việt Nam làm ra để chăm lo cho cuộc sống đã được bước vào thơ như một nỗi niềm bình dị Thiên nhiên không phân biệt loại sang hèn mà tất cả đều trở thành cảm hứng sáng tạo nghệ thuật cho tác giả Các loa ̣i sinh vâ ̣t bình thường không chỉ là đối tượng phản ánh mà
còn trở thành đối tượng thẩm mỹ trong thơ Đây là một khía ca ̣nh đă ̣c biê ̣t cho
việc phát biểu triết lí môi sinh: chúng sinh bình đẳng, cân bằng sinh thái của Nguyễn Trãi
Đặc biê ̣t nhất trong QATT là bài thơ “Côn Sơn ca” (Bài ca Côn Sơn) Đây
là bài thơ cho thấy tâm hồn giao cảm, hòa đồng của tác giả với thiên nhiên Ta
thấy bên ca ̣nh “thế giới ý niê ̣m” có một thế giới thâ ̣t hiê ̣n hữu, cụ thể, sống động:
Côn Sơn hữu tuyền,