1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Sử dụng phần mềm microsoft encarta trong dạy học địa lí lớp 11 trung học phổ thông theo định hướng phát triển năng lực​

115 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 2,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TR ƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HOÀNG MINH CH ẤN SỬ DỤNG PHẦN MỀM MICROSOFT ENCARTA TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ LỚP 11 - TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC N

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TR ƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

HOÀNG MINH CH ẤN

SỬ DỤNG PHẦN MỀM MICROSOFT ENCARTA TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ LỚP 11 - TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC

THÁI NGUYÊN - 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TR ƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

HOÀNG MINH CH ẤN

SỬ DỤNG PHẦN MỀM MICROSOFT ENCARTA TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ LỚP 11 - TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC

Ngành: LL và PP d ạy học Địa lí

Mã s ố: 8.14.01.11

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐỖ VŨ SƠN

THÁI NGUYÊN - 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu khoa học trong đề tài là kết quả nghiên cứu của cá nhân tôi Các số liệu và tài liệu được trích dẫn trong công trình này là trung thực Kết quả nghiên cứu này không trùng với bất cứ công trình nào đã được công bố trước đó Tôi chịu trách nhiệm với lời cam đoan của mình

Thái Nguyên, tháng 8 năm 2020

Tác giả

Hoàng Minh Chấn

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Khoa Địa lí, Phòng Đào tạo trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã tạo những điều kiện tốt nhất giúp đỡ em trong quá trình học tập và nghiên cứu

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Đỗ Vũ Sơn đã trực tiếp hướng dẫn và chỉ bảo tận tình em trong suốt quá trình thực hiện luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, quý thầy cô giáo và các em học sinh ở các trường thực nghiệm đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình thực nghiệm sư phạm

Thái Nguyên, tháng 8 năm 2020

Tác giả

Hoàng Minh Chấn

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC BẢNG vii

DANH MỤC HÌNH viii

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử phát triển của việc nghiên cứu, ứng dụng Encarta trong dạy học 3

3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 5

4 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 5

5 Đối tượng nghiên cứu 6

6 Phạm vi nghiên cứu 6

7 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu 6

8 Những đóng góp của đề tài 10

9 Cấu trúc luận văn 10

NỘI DUNG 12

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA SỬ DỤNG PHẦN MỀM MICROSOFT ENCARTA TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ 11 - TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC 12

1.1 Cơ sở lý luận 12

1.1.1 Hình thức tổ chức, phương pháp, phương tiện dạy học 12

1.1.2 Dạy học theo định hướng phát triển năng lực 19

1.2 Cơ sở thực tiễn 28

Trang 6

1.2.1 Chương trình sách giáo khoa Địa lí lớp 11 Trung học phổ thông

(hiện hành) 28

1.2.2 Tâm sinh lí của học sinh lớp 11 32

1.2.3 Thực trạng việc dạy học và ứng dụng Công nghệ thông tin trong dạy học môn Địa lí ở một số trường Trung học Phổ thông tỉnh Bắc Kạn 34

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 39

Chương 2: XÂY DỰNG QUY TRÌNH VÀ THIẾT KẾ BÀI GIẢNG SỬ DỤNG PHẦN MỀM MICROSOFT ENCARTA TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ 11 - TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC 40

2.1 Phần mềm Microsoft Encarta 40

2.1.1 Giới thiệu phần mềm Microsoft Encarta 40

2.1.2 Tính năng về địa lí của Microsoft Encarta 41

2.1.3 Lợi ích khi sử dụng Microsoft Encarta trong dạy học địa lí 47

2.2 Nguyên tắc, yêu cầu sử dụng phần mềm Microsoft Encarta trong dạy học Địa lí lớp 11 - Trung học phổ thông theo định hướng phát triển năng lực 48

2.2.1 Nguyên tắc 48

2.2.2 Yêu cầu 49

2.3 Quy trình sử dụng phần mềm Microsoft Encarta trong thiết kế bài giảng môn Địa lí 11-THPT theo định hướng phát triển năng lực 50

2.4 Xây dựng kế hoạch dạy học môn Địa lí 11-THPT có sử dụng phần mềm Microsoft Encarta trong dạy học Địa lí lớp 11 - Trung học phổ thông theo định hướng phát triển năng lực 52

2.4.1 Khả năng sử dụng Microsoft Encarta trong dạy học địa lí lớp 11 theo định hưởng phát triển năng lực 52

2.4.2 Xây dựng kế hoạch dạy học 55

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 64

Trang 7

Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 65

3.1 Mục đích thực nghiệm 65

3.2 Nguyên tắc thực nghiệm 65

3.3 Yêu cầu của thực nghiệm 65

3.4 Nhiệm vụ thực nghiệm 66

3.5 Tổ chức thực nghiệm 66

3.5.1 Chọn trường thực nghiệm 66

3.5.2 Chuẩn bị thực nghiệm 66

3.5.3 Nội dung thực nghiệm 67

3.6 Đánh giá kết quả thực nghiệm 68

3.6.1 Kiểm tra, đánh giá 68

3.6.2 Tổng hợp điểm kiểm tra 68

3.6.3 Đánh giá 71

3.7 Khảo sát ý kiến chuyên gia, giáo viên, học sinh 74

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 76

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 77

1 Kết luận 77

2 Khuyến nghị 78

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 79

TÀI LIỆU THAM KHẢO 80

PHẦN PHỤ LỤC 83

Trang 8

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

CNTT Công nghệ thông tin

CNTT&TT Công nghệ Thông tin và Truyền thông

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Thống kê kết quả khảo sát từ GV 35

Bảng 1.2 Thống kê kết quả khảo sát từ HS 36

Bảng 1.3 Thống kê cơ sở vật chất, trang thiết bị tại các trường THPT 37

Bảng 2.1 Một số bài học sử dụng hiệu quả Microsoft Encarta 52

Bảng 3.1 Trường, lớp và số HS tham gia thực nghiệm 67

Bảng 3.2 Tổng hợp điểm bài 6 - Hoa Kì (hoạt động trải nghiệm) 68

Bảng 3.3 Tổng hợp điểm bài 9 - Nhật Bản (lý thuyết) 69

Bảng 3.4 Tổng hợp điểm bài 12 - Ô-xtrây-li-a (thực hành) 70

Bảng 3.5 So sánh kết quả lớp đối chứng và lớp thực nghiệm 71

Bảng 3.6 Kết quả phân loại điểm của hai lớp 72

Trang 10

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Các thành phần cấu trúc của năng lực 20

Hình 1.2 Cấu trúc chương trình Địa lí lớp 11 30

Hình 2.1 Giao diện của Microsoft Encarta Premium 2009 41

Hình 2.2 Xác định khoảng cách bằng Microsoft Encarta 42

Hình 2.3 Giao diện bản đồ khí hậu khu vực Đông Nam Á 43

Hình 2.4 Giao diện tra cứu các thông tin về Nhật Bản 44

Hình 2.5 Giao diện tra cứu cờ và quốc ca của các nước châu Á 44

Hình 2.6 Giao diện thông tin núi Kilimanjaro 45

Hình 2.7 Giao diện tra cứu thông tin cầu Cổng Vàng (Mỹ) 46

Hình 2.8 Nhật Bản trong khu vực châu Á 57

Hình 2.9 Bản đồ Tự nhiên Nhật Bản 58

Hình 2.10 Bản đồ phân bố dân cư Nhật Bản 60

Hình 3.1 Biểu đồ so sánh kết quả thực nghiệm bài 6 - Hoa Kì (hoạt động trải nghiệm) 69

Hình 3.2 Biểu đồ so sánh kết quả thực nghiệm Nhật Bản (lý thuyết) 70

Hình 3.3 Biểu đồ so sánh kết quả thực nghiệm Ô-xtrây-li-a (thực hành) 71

Hình 3.4 Biểu đồ so sánh tần số xuất hiện điểm kiểm tra 73

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Trong bối cảnh toàn cầu hóa ngày càng tác động mạnh mẽ đến sự phát triển Kinh tế - Xã hội đã đặt ra những yêu cầu mới đối với người lao động, do vậy việc đào tạo nguồn lao động và giáo dục thế hệ trẻ cũng phải có những thay đổi phù hợp Định hướng cơ bản của nền giáo dục hiện nay là chuyển từ nền giáo dục mang tính hàn lâm, xa rời thực tiễn sang nền giáo dục thực hành, năng động, phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học, đó là việc cần thiết và không thể thiếu được

Dạy học theo lối “truyền thụ một chiều” sẽ không phát huy được tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh (HS) Chỉ có đổi mới phương pháp dạy học mới khắc phục được những hạn chế đó Mặt khác, việc hình thành năng lực HS, bên cạnh yếu tố nội dung chương trình thì phương pháp dạy học có vai trò đặc biệt quan trọng Cùng với đó, dạy học theo hướng phát triển năng lực người học đang là ưu tiên hàng đầu trong các văn bản chỉ đạo đổi mới giáo dục của nước ta hiện nay

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT đã chỉ rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức,

kỹ năng của người học khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng Công nghệ Thông tin và Truyền thông (CNTT&TT) trong dạy và học” [1]

Những thành tựu của khoa học kỹ thuật hiện đại, đặc biệt là sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin đã tác động mạnh mẽ đến tất cả các mặt kinh tế, văn hóa, giáo dục, đời sống xã hội,…

Trang 12

Trong lĩnh vực giáo dục, việc ứng dụng công nghệ thông tin đã trở nên không thể thiếu trong quá trình dạy học bởi nhiều tính năng ưu việt và những tiện ích nổi trội so với các phương tiện, thiết bị dạy học khác

Chỉ thị 29/2001/CT-BGD&ĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã nêu rõ: “Đối với giáo dục và đào tạo, công nghệ thông tin có tác động mạnh mẽ, làm thay đổi phương pháp, phương thức dạy và học Công nghệ thông tin là phương tiện để tiến tới một xã hội học tập” [6]

Cùng với sự phát triển của khoa học và công nghệ hiện đại, nhiều phương tiện dạy học trực quan đã ra đời và có khả năng ứng dụng hiệu quả trong dạy học, đặc biệt đối với đặc thù của bộ môn Địa lí liên quan nhiều đến hình ảnh, mô hình trực quan, trong đó có phần mềm Microsoft Encarta Phần mềm Microsoft Encarta

là bộ bách khoa toàn thư số hóa đa phương tiện của Microsoft Đây là sản phẩm công nghệ cao, phổ thông, nguồn mở, kỹ thuật sử dụng đơn giản, đã được ứng dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới Encarta giúp cho người dạy và học khai thác các thông tin về bản đồ, tư liệu hình ảnh, thông tin dạng văn bản, video clip, bảng số liệu thống kê,…Có thể sử dụng thành thạo phần mềm sau thời gian ngắn nghiên cứu như vậy, khai thác phần mềm Microsoft Encarta vào dạy học địa lí có

ý nghĩa rất thiết thực trong việc đổi mới phương pháp, ứng dụng khoa học, công nghệ vào trong giảng dạy và học tập của cả giáo viên (GV) và HS theo định hướng phát triển năng lực người học

Mục tiêu giáo dục của nhà trường phổ thông hiện nay nói chung và môn Địa lý nói riêng không chỉ nhằm cung cấp kiến thức, mà còn hướng đến việc phát triển những kỹ năng cần thiết cho HS để đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập của đất nước

Địa lí là một môn khoa học có phạm trù rộng lớn và có tính thực nghiệm, cần liên hệ thực tế và có tính thời sự rất cao Nên cần những bản đồ, hình ảnh,

mô hình, video clip,…, để HS có cái nhìn cụ thể, toàn diện về vấn đề đang học, Encarta đáp ứng được các yêu cầu đó

Trang 13

Với những lý do trên, tác giả lựa chọn “Sử dụng phần mềm Microsoft Encarta tro ng dạy học địa lí lớp 11 - Trung học phổ thông theo định hướng phát triển năng lực” làm đề tài luận văn tốt nghiệp

2 Lịch sử phát triển của việc nghiên cứu, ứng dụng Encarta trong dạy học

2.1 Trên Thế giới

Trên thế giới, đặc biệt ở các nước phát triển, Microsoft Encarta được sử dụng khá phổ biến trong giảng dạy các bộ môn khoa học, Toán học, Địa lý và

Lịch sử và mang lại hiệu quả tích cực

Một số nghiên cứu của tác giả trên thế giới về việc sử dụng Microsoft Encarta trong giáo dục, như Luận án Khoa đào tạo GV, Khoa tiếng Anh, Đại học Slamet Riyadi, Surakata, 2015 của tác giả Edtwin Sulispryanto: Improving sudents English writing ability by using intergration of Microsoft Encarta - Cải thiện khả năng viết tiếng anh của sinh viên bằng cách sử dụng tích hợp Micoroft Encarta Nghiên cứu này nhằm mục đích xác định việc tích hợp học tập dựa trên

Microsoft Encarta cải thiện khả năng viết của học sinh [22]

Tác giả Helen Drenoyianni (Ph.D), Trường Giáo dục Đại học Birmingham, Vương quốc Anh với công trình nghiên cứu Information retrieval with interractive multimedia: A study of secondary pupils searching strategies using

“Microsoft Encarta” - Chiến lược tìm kiếm, sử dụng Microsoft Encarta, tác giả

đã nghiên cứu về các chiến lược truy xuất thông tin sử dụng Microsoft Encarta của HS THCS [24]

Các tác giả Helen Drenoyianni, Ian Selwood1, Richard Riding thuộc Trường Giáo dục Arch và Thessaloniki Hy Lạp, Trường đại học xứ Wales,

Trường đào tạo Edgbaston, Birmingham với nghiên cứu: Aristotle Searching Using 'Microsoft® EncartaTM' A Study of Cognitive Style Effects on Secondary Students' - Tìm kiếm bằng Microsoft EncartaTM, một nghiên cứu về hiệu ứng phong cách nhận thức đối với học sinh trung học [25]

Trang 14

Microsoft Encarta được sử dụng để dạy HS về tọa độ địa lí bằng cách yêu cầu HS truy cập và ghi lại tọa độ các địa điểm GV cũng tạo các bài giảng phong phú để phục vụ cho công việc dạy học Sử dụng mạng thực tế ảo trong Encarta để tham quan du lịch thực tế ảo, Như vậy, Encarta đã được các nhà giáo dục trên thế giới đưa vào giảng dạy khá phổ biến và mang lại hiệu quả tích cực

2.2 Ở Việt Nam

Hiện nay ở Việt Nam, việc ứng dụng phần mềm Microsoft Encarta vào giảng dạy đã được nhiều trường cao đẳng, đại học quan tâm, triển khai nghiên cứu và thực hiện như: Đại học Sư phạm Hà Nội, Đại học Sư phạm Thái Nguyên, Đại học Sư phạm Huế, Đại học Sư phạm Đà Nẵng, Đại học Tây Bắc, Cao đẳng

Sư phạm Bắc Ninh, bước đầu đã mang lại những kết quả tích cực

Có một số tác giả đã nghiên cứu về lĩnh vực này:

- Tác giả Nguyễn Viết Thịnh Đại học Sư phạm Hà Nội với cuốn sách Sử dụng phối hợp các phần mềm khác nhau để nâng cao hiệu quả khai thác thông tin trong Microsoft En carta World Atlas, Nxb Sư phạm ấn hành năm 2006

- Tác giả Kiều Văn Hoan Đại học sư phạm Hà Nội với Khai thác phần mềm Microsoft Encarta 2005 để nghiên cứu giảng dạy Địa lí

- Tác giả Đặng Thị Nhuần Trường Đại học Tây Bắc với Vận dụng khai thác

phần mềm Encarta trong việc giảng dạy học phần khái quát địa lý kinh tế - xã hội thế giới, bài đăng tại Bản tin thông tin khoa học công nghệ số 7- 12.2011

- Tác giả Hồ Phong Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng với Sử dụng phần mềm Encarta Encyclopedia trong hoạt động tự học của sinh viên khoa Địa lý Bài đăng tại kỷ yếu Hội nghị Khoa học Địa lý toàn quốc lần thứ 10, trang

1485-1495

- Nhóm tác giả Đỗ Vũ Sơn, Hoàng Minh Chấn Trường Đại học Sư

phạm-ĐHTN với Sử dụng phần mềm Microsoft Encarta trong dạy học Địa lí lớp THPT theo định hướng phát triển năng lực người học, Bài đăng tại Tạp chí Giáo dục Việt Nam, Số đặc biệt tháng 4/2019

Trang 15

11-Tuy nhiên, việc ứng dụng phần mềm Encarta vào lĩnh vực giáo dục còn hạn chế, chủ yếu là việc tìm kiếm các thông tin cơ bản, video clip, hình ảnh, bản

đồ, biểu đồ, và đưa vào bài giảng

Như vậy, có thể nhận định rằng, việc ứng dụng Encarta vào dạy học bộ môn Địa lí ở bậc THPT mới chỉ khai thác các tính năng cơ bản, chưa khai thác được hết các tính năng vượt trội như chức năng 3D, mô hình hóa, làm bản đồ chuyên sâu, trong khi những chức năng này sẽ mang lại hiệu quả cao hơn trong giảng dạy do có tính trực quan, sinh động cao hơn Do vậy, việc đề xuất, nghiên cứu các hướng khai thác mới trong Encarta cần tiếp tục được nghiên cứu, phát triển

Qua nghiên cứu tổng quan khẳng định: việc nghiên cứu Sử dụng phần mềm Microsoft Encarta trong dạy học địa lí lớp 11 theo định hướng phát triển năng lực chưa có tác giả nào đi sâu nghiên cứu và công bố

Với việc kế thừa và phát huy các công trình đã công bố, luận văn sẽ đi sâu nghiên cứu về cơ sở lý luận và thực tiễn về ứng dụng phần mềm Encarta vào dạy học để nâng cao chất lượng dạy học, phát triển năng lực HS, đặc biệt với đối tượng HS THPT

3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Sử dụng phần mềm Microsoft Encarta vào dạy học môn địa lí lớp THPT học theo định hướng phát triển năng lực nhằm nâng cao chất lượng dạy

11-và học môn học, đáp ứng đổi mới căn bản 11-và toàn diện giáo dục 11-và Chương trình giáo dục phổ thông mới

4 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

- Nghiên cứu lí luận của việc sử dụng phần mềm Microsoft Encarta trong dạy học môn Địa lí lớp 11-THPT theo định hướng phát triển năng lực

- Nghiên cứu thực trạng dạy học môn Địa lí 11 và việc ứng dụng Encarta trong dạy học địa lí 11 ở một số trường THPT

- Phân tích khả năng sử dụng phần mềm Microsoft Encarta trong dạy học môn Địa lí lớp 11-THPT theo định hướng phát triển năng lực

Trang 16

- Xác định nguyên tắc, yêu cầu và xây dựng quy trình sử dụng phần mềm Microsoft Encarta trong dạy học địa lí lớp 11-THPT

- Thiết kế kế hoạch dạy học sử dụng Encarta trong dạy học địa lí 11-THPT theo định hướng phát triển năng lực

- Thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng tính khả thi và hiệu quả của việc

sử dụng phần mềm Encarta trong dạy học môn Địa lí lớp 11-THPT

5 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu việc sử dụng phần mềm Microsoft Encarta trong dạy học địa

lí 11-THPT theo định hướng phát triển năng lực

6 P hạm vi nghiên cứu

- Về phạm vi chương trình: Chương trình SGK Địa lí lớp 11 (chương trình hiện hành) năm 2006

- Về không gian: Một số trường THPT trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn;

- Về thời gian: Năm 2019, 2020;

7 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu

7.1 Quan điểm nghiên cứu

7.1.1 Quan điểm lịch sử

Quan điểm lịch sử là quan điểm nghiên cứu về lịch sử ra đời, quá trình phát triển,… của vấn đề nghiên cứu Vận dụng quan điểm này trong sử dụng phần mềm Encarta để dạy học địa lí lớp 11-THPT theo định hướng phát triển năng lực để thấy được những thay đổi của phương pháp, phương tiện dạy học trong từng giai đoạn phát triển và xu hướng đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục

và đào tạo Từ đó đánh giá được hiện trạng và xu hướng phát triển trong tương lai Dạy học bằng phần mềm Encarta cũng phải dựa trên lịch sử phát triển của phương pháp và hình thức dạy học có ứng dụng CNTT&TT

7.1.2 Quan điểm hệ thống

Nghiên cứu một cách toàn diện, nhiều mặt, trong toàn bộ các mối quan hệ của nó Việc nghiên cứu phần mềm dạy học Microsoft Encarta phải được đặt

Trang 17

trong mối quan hệ với các thành tố của quá trình dạy học như: mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện dạy học,…

7.1.3 Quan điểm tổng hợp

Dạy học là một quá trình tổng hợp, gồm nhiều nhân tố: Mục tiêu, nhiệm

vụ, nội dung, phương pháp (PP), phương tiện dạy học,…, tất cả tạo thành một thể hoàn chỉnh và có quan hệ chặt chẽ với nhau Vì vậy, muốn quá trình dạy học đạt kết quả tốt nhất thì việc nghiên cứu, phối hợp các nhân tố với nhau là điều rất quan trọng Với đề tài này, tác giả muốn đi sâu nghiên cứu về phương pháp

sử dụng phần mềm Microsoft Encarta trong dạy học Địa lí 11 Khi thực hiện đề tài này, tác giả đã luôn đặt phương pháp sử dụng phần mềm Microsoft Encarta trong mối quan hệ với các phương pháp dạy học khác tích cực khác

đề tài này nói riêng cần xem xét lãnh thổ nơi mà đối tượng nghiên cứu tồn tại Chỉ khi xem xét một cách toàn diện về lãnh thổ ta mới nhận xét, đánh giá phù hợp nhất, cũng như định hướng, hoàn thiện phương pháp sử dụng phần mềm Microsoft Encarta trong dạy học Địa lí để đạt hiệu quả cao nhất

7.1.5 Quan điểm dạy học tích cực

Dạy học theo định hướng phát triển năng lực (dạy học tích cực) không chỉ chú ý tích cực hoá HS về hoạt động trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện năng lực GQVĐ gắn với những tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp, đồng thời gắn hoạt động trí tuệ với hoạt động thực hành, thực tiễn Tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ GV - HS theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan

Trang 18

trọng nhằm phát triển năng lực xã hội Dạy học đảm bảo được nguyên tắc “HS

tự mình hoàn thành nhiệm vụ học tập với sự tổ chức, hướng dẫn của GV”

Sử dụng Microsft Encarta trong dạy học địa lí 11 sẽ giúp tích cực hóa các hoạt động của HS, giúp giải quyết các vấn đề về sử dụng đồ dùng trực quan, kênh hình cho GV, tăng cường các kĩ năng địa lí và giúp bài học đạt hiệu quả cao hơn Bên cạnh đó HS được đảm bảo thời gian tự học, tự nghiên cứu cho HS để các

em biết ứng dụng những điều đã học vào thực tế

7.1.6 Quan điểm công nghệ dạy học

Công nghệ dạy học là một khoa học đặt cơ sở lí luận cho việc ứng dụng những thành tựu hiện đại của khoa học kĩ thuật vào quá trình dạy học Công nghệ dạy học được xem như sự phối hợp hữu cơ giữa công nghệ tổ chức nhận thức và công nghệ trang thiết bị dạy học bao gồm các yếu tố mang tính đồng bộ, toàn diện

về nội dung dạy học, các hệ thống đánh giá nhằm tích cực hóa quá trình dạy học

Microsoft Encarta là sản phẩm công nghệ cao, kĩ thuật sử dụng đơn giản, phổ thông Thông qua Encarta có thể xác định được chính xác tọa độ địa lí, khoảng cách, địa danh, lịch sử lãnh thổ… Đây là công cụ hỗ trợ hiện đại đem lại nhiều hiệu quả tích cực trong công tác dạy học địa lí

7.2 Phương pháp nghiên cứu

7.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

Nghiên cứu cơ sở lý luận liên quan đến đề tài, trên cơ sở đó tiếp thu có chọn lọc để áp dụng vào đề tài nghiên cứu Cụ thể tác nghiên cứu các vấn đề lý luận về phương pháp dạy học, đặc biệt là lý luận về phương pháp dạy học hiện đại; nghiên cứu lý luận về dạy học theo định hướng phát triển năng lực HS; lý luận về đổi mới phương pháp dạy học thông qua các phương tiện dạy học hiện đại, ứng dụng CNTT&TT vào dạy học

7.2.2 Phương pháp thu thập, hệ thống hóa, phân tích tài liệu

Căn cứ vào mục đích nhiệm vụ của đề tài, tác giả đã tiến hành thu thập, phân tích tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau như trong các sách báo, tạp chí, các luận văn, các công trình đề tài nghiên cứu khoa học, các phần mềm nghiên cứu

Trang 19

ứng dụng vào học tập có liên quan

Để việc thiết kế bài giảng đảm bảo tính khoa học và tính giáo dục, tác giả chú ý đến việc nghiên cứu tài liệu chuẩn cho việc thiết kế bài giảng là SGK Địa

lí 11-THPT hiện hành thuộc ban cơ bản, các tài liệu về tâm lí học đại cương, tâm

lí học sư phạm, tâm lí học lứa tuổi để đảm bảo cho việc thiết kế bài giảng đạt hiệu quả cao nhất

7.2.3 Phương pháp sử dụng công nghệ dạy học hiện đại

Công nghệ dạy học hiện đại là các công nghệ dạy học gắn liền với việc sử dụng những thành tựu của công nghệ thông tin và truyền thông và các thiết bị kĩ thuật số nhằm thay đổi căn bản hoạt động truyền thụ và tiếp nhận tri thức, kỹ năng, không chỉ là trong giờ học lên lớp mà cả trong các hoạt động tự học, tự tìm hiểu, kiểm nghiệm, nghiên cứu của HS sau giờ lên lớp Điển hình nhất cho công nghệ dạy học hiện đại là việc sử dụng máy tính, mạng máy tính và các phần mềm ứng dụng vào trong tất cả các khâu của quá trình dạy học

Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, việc ứng dụng công nghệ hiện đại vào quá trình giáo dục là xu thế tất yếu Hiệu quả của việc sử dụng công nghệ, các trang thiết bị dạy học hiện đại trong quá trình giáo dục đã được khẳng định trong thực tế, nhất là khả năng làm cho bài giảng trở nên sinh động, GV có thể định hướng HS tiếp cận với một nguồn tri thức phong phú

Tuy nhiên, qua thực tiễn giảng dạy cho thấy, nếu lạm dụng quá mức, sử dụng không linh hoạt, phù hợp, các phương tiện dạy học hiện đại có thể gây ra những “tác dụng phụ” không mong muốn, làm giảm đi quá trình tương tác cần thiết giữa thầy và trò Do đó, cần sử dụng công nghệ, các phương tiện dạy học hiện đại sao cho phù hợp là vấn đề cần được quan tâm

7.2.4 Phương pháp điều tra quan sát, tổng kết kinh nghiệm

Việc áp dụng các phương pháp phương tiện dạy học cho phù hợp với khả năng của HS là một quá trình thử nghiệm lâu dài, đòi hỏi người GV phải có nhiều kinh nghiệm Để đạt hiệu quả trong việc ứng dụng Microsoft Encarta vào giảng

Trang 20

dạy ở trường phổ thông cần phải tìm hiểu kĩ về thái độ tiếp nhận của GV và HS, tìm hiểu thực tế việc dạy học Địa lí và thiết kế bài giảng Địa lí 11-THPT, đặc biệt là những chương trình có sử dụng CNTT trong dạy học

Tiến hành dự giờ một số giờ ở các trường THPT có sử dụng CNTT để từ đó rút ra kinh nghiệm và bổ sung những vấn đề có liên quan đến đề tài nghiên cứu

7.2.5 Phương pháp thực nghiệm

Tiến hành thiết kế một số bài giảng có sử dụng Microsoft Encarta và bước đầu tiến hành thực nghiệm bài giảng có ứng dụng Microsoft Encarta để dạy một

số tiết trong chương trình Địa lí 11-THPT

Sử dụng các phiếu thăm dò ý kiến GV và các phiếu kiểm tra kết quả học tập của HS để đánh giá những kết quả thu được và tính khả thi của đề tài

7.2.6 Phương pháp thống kê toán học

Sử dụng phương pháp thống kê toán học trong việc xử lí kiểm tra đánh giá kết quả đạt được qua tìm hiểu thực tế, qua thực nghiệm các bản thiết kế bài giảng Địa lí có sử dụng Microsoft Encarta đối với lớp 11-THPT

+ Góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Địa lí 11-THPT

+ Là tài liệu tham khảo cho GV, sinh viên sư phạm và các chuyên gia + Đóng góp cho giáo dục địa phương

9 Cấu trúc luận văn

Trang 21

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, tài liệu tham khảo, phần phụ lục, luận văn gồm các nội dung chính

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của sử dụng phần mềm Microsoft

Encarta trong dạy học Địa lí 11 - Trung học phổ thông theo định hướng phát triển năng lực

Chương 2: Xây dựng quy trình và thiết kế bài giảng sử dụng phần mềm

Microsoft Encarta trong dạy học Địa lí 11 - Trung học phổ thông theo định hướng phát triển năng lực

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 22

NỘI DUNG Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA SỬ DỤNG PHẦN MỀM MICROSOFT ENCARTA TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ 11 -

TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO ĐỊNH HƯỚNG

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC 1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Hình thức tổ chức, phương pháp, phương tiện dạy học

1.1.1.1 Hình thức tổ chức dạy học

* Khái niệm hình thức tổ chức dạy học

Hình thức tổ chức dạy học là hình thức tổ chức quá trình dạy học trong các cơ sở giáo dục diễn ra một cách thống nhất giữa hoạt động dạy với hoạt động học và sự tương tác trên mọi phương diện giữa người dạy và người học Mỗi hình thức tổ chức dạy học thực hiện một nội dung nhất định, được tổ chức theo một trình độ nhất định, với một chế độ học tập và trong một không gian và thời gian nhất định nhằm đạt được mục tiêu dạy học đề ra

Hình thức tổ chức dạy học thay đổi tùy theo mục đích, nhiệm vụ dạy học hay thời gian, thời điểm, số lượng người học Các nhiệm vụ dạy học, mục đích dạy học, phương pháp dạy học để được thực hiện trong hình thức tổ chức dạy học

* Phân loại hình thức tổ chức dạy học

Dựa vào lịch sử phát triển của các hình thức tổ chức dạy học, cách sắp xếp các hình thức tổ chức dạy học của một số tác giả, căn cứ vào kinh nghiệm của một số GV có thể quy ước chia các hình thức tổ chức dạy học ra làm ba loại tùy theo tính chất, chức năng của chúng Đó là các hình thức tổ chức dạy học sau:

Loại 1: Các hình thức tổ chức dạy học nhằm tìm tòi tri thức, rèn luyện kỹ

năng, kỹ xảo

- Theo số lượng HS tham gia: dạy học cá nhân, dạy học theo nhóm, dạy

Trang 23

học theo lớp

- Theo thời gian tiến hành: dạy học theo tiết và dạy học theo buổi

- Theo không gian tiến hành: dạy học trên lớp, dạy học ngoài lớp, dạy học ngoại khóa, dạy học tham quan cơ sở thực địa, dạy học qua mạng,

- Theo tính chất tương tác hoạt động của GV và HS: dạy học trực tiếp và dạy học gián tiếp

- Theo mục tiêu dạy học: dạy học hình thành kiến thức lí thuyết, giờ học hình thành kĩ năng, giờ học ôn tập, giờ học hình thành các giá trị sống,

Loại 2: Các hình thức tổ chức dạy học nhằm kiểm tra và đánh giá kỹ năng,

kỹ xảo

Kiểm tra, sát hạch, kiểm tra học kỳ, thi lên lớp, thi tốt nghiệp,

Loại 3: Các hình thức tổ chức dạy học có tính chất ngoại khóa, thực địa

* Hình thức tổ chức dạy học có sự hỗ trợ của CNTT&TT

Việc ứng dụng CNTT&TT trong dạy học là nâng cao một bước cơ bản chất lượng học tập cho HS, tạo ra một môi trường giáo dục mang tính tương tác cao chứ không đơn thuần chỉ là “thầy giảng giải, trò ghi chép” như kiểu truyền thống, HS được khuyến khích và tạo điều kiện để chủ động tìm kiếm tri thức, sắp xếp hợp lý quá trình tự học tập, tự rèn luyện của bản thân mình

Tuy nhiên việc khai thác, vận dụng CNTT&TT vào dạy học cũng có những

ưu điểm và thách thức nhất định như sau:

Về ưu điểm:

- Môi trường đa phương tiện kết hợp những hình ảnh video, camera… với

âm thanh, văn bản, biểu đồ…được trình bày qua máy tính theo kịch bản vạch sẵn nhằm đạt hiệu quả tối đa qua một quá trình học đa giác quan;

- Kĩ thuật đồ họa nâng cao có thể mô phỏng nhiều quá trình, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội trong con người mà không thể hoặc không nên để xảy ra trong điều kiện nhà trường;

- Công nghệ tri thức nối tiếp trí thông minh của con người, thực hiện những

Trang 24

công việc mang tính trí tuệ cao của các chuyên gia lành nghề trên những lĩnh vực khác nhau;

- Những ngân hàng dữ liệu khổng lồ và đa dạng được kết nối với nhau và với người sử dụng qua những mạng máy tính kể cả mạng internet,… có thể được khai thác để tạo nên những điều kiện cực kì thuận lợi và nhiều khi không thể thiếu để HS học tập trong hoạt động và bằng hoạt động tự giác, tích cực và sáng tạo, được thực hiện độc lập hoặc trong quá trình giao lưu

- Những thí nghiệm, tài liệu được cung cấp bằng nhiều kênh: kênh hình, kênh chữ, âm thanh sống động làm cho HS dễ thấy, dễ tiếp thu và bằng suy luận

có lý, HS có thể có những dự đoán về các tính chất, những quy luật mới Đây là một công dụng lớn của công nghệ thông tin và truyền thông trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học Có thể khẳng định rằng, môi trường công nghệ thông tin và truyền thông chắc chắn sẽ có tác động tích cực tới sự phát triển trí tuệ của

HS và điều này làm nảy sinh những lý thuyết học tập mới

Nhược điểm:

- Tuy máy tính điện tử mang lại rất nhiều thuận lợi cho việc dạy học nhưng trong một mức độ nào đó, thì công cụ hiện đại này cũng không thể hỗ trợ GV hoàn toàn trong các bài giảng của họ Nó chỉ thực sự hiệu quả đối với một số bài giảng chứ không phải toàn bộ chương trình do nhiều nguyên nhân, mà cụ thể là với những bài học có nội dung ngắn, không nhiều kiến thức mới, thì việc dạy theo phương pháp truyền thống sẽ thuận lợi hơn cho HS, vì GV sẽ ghi tất cả nội dung bài học đó đủ trên một mặt bảng và như vậy sẽ dễ dàng củng cố bài học từ đầu đến cuối mà không cần phải lật lại từng “slide” như khi dạy trên máy tính điện tử Những mạch kiến thức “vận dụng” đòi hỏi GV phải kết hợp với phấn trắng bảng đen và các phương pháp dạy học truyền thống mới rèn luyện được kĩ năng cho HS

Với GV, kiến thức, kỹ năng về công nghệ thông tin ở một số GV vẫn còn hạn chế, chưa thực sự đam mê và sáng tạo, thậm chí còn né tránh

Việc sử dụng công nghệ thông tin để đổi mới phương pháp dạy học đôi

Trang 25

khi chưa được nghiên cứu kỹ lưỡng, dẫn đến việc ứng dụng nó không đúng chỗ, không đúng lúc, nhiều khi lạm dụng nó

Việc đánh giá một tiết dạy có ứng dụng công nghệ thông tin còn nhiều tranh cãi, chưa xác định hướng rõ ràng việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Chính sách, cơ chế quản lý còn nhiều bất cập, chưa tạo được sự đồng

bộ trong thực hiện Các phương tiện, thiết bị phục vụ cho việc đổi mới phương pháp dạy học bằng phương tiện hiện đại như máy tính, projector, còn thiếu, chưa đồng bộ và chưa được hướng dẫn sử dụng đầy đủ nên chưa triển khai được rộng khắp và có hiệu quả

Việc kết nối và sử dụng mạng internet chưa được thực hiện triệt để và có chiều sâu; sử dụng không thường xuyên do thiếu kinh phí, nhân lực bảo trì và do tốc độ đường truyền còn hạn chế Công tác đào tạo, công tác bồi dưỡng, tự bồi dưỡng đội ngũ GV về tin học còn chưa thường xuyên nên GV chưa đủ kiến thức, mất nhiều thời gian và công sức để sử dụng công nghệ thông tin trong lớp học một cách có hiệu quả

Giải pháp để hình thức tổ chức dạy học có hỗ trợ CNTT&TT đạt hiệu quả

- Mỗi GV cần mạnh dạn, không ngại khó, chủ động thiết kế và sử dụng bài giảng điện tử của mình sẽ giúp cho GV rèn luyện được nhiều kỹ năng và phối hợp tốt các phương pháp dạy học tích cực khác;

- Khi thiết kế bài giảng điện tử cần chuẩn bị trước kịch bản, tư liệu (videos, hình ảnh, bảng đồ, ….), chọn giải pháp cho sử dụng công nghệ, sau đó mới bắt tay vào soạn giảng

- Nội dung bài giảng điện tử cần cô đọng, súc tích, hình ảnh, các mô phỏng cần xác chủ đề (trong 1 slide không nên có nhiều hình hay nhiều chữ), những nội dung HS ghi bài cần có quy ước (có thể dùng khung hay màu nền) sẽ khắc phục được việc ghi bài của HS; nội dung bài giảng chứa nhiều liên kết nhất là liên kết đến hệ thống câu hỏi để khắc phục những tình huống sư phạm phát sinh (như

nhắc lại kiến thức, dàn bài,… các liên kết này có thể đặt trong slide chủ), cần

Trang 26

(củng cố bài cần hướng đến các câu hỏi mang tính vận dụng hay các hình thức trắc nghiệm);

- Không lạm dụng công nghệ nếu chúng không tác động tích cực đến quá trình dạy học và sự phát triển của HS, công nghệ mô phỏng nếu không phản ánh đúng nội dung, giá trị nghệ thuật và thực tế thì không nên sử dụng, chuẩn kiến thức ở mức độ vận dụng cần kết hợp bảng và sử dụng các phương pháp dạy học khác mới có hiệu quả; GV cần tích cực học, tập huấn các lớp soạn, giảng bài giảng điện tử, thường xuyên truy vào các website và thành viên của diễn đàn: bachkim.vn, dayhocintel.org, giaovien.net, moet.edu.vn, … mỗi trường cần có câu lạc bộ “Bài giảng điện tử” để trao đổi và rút kinh nghiệm, tiếp thu những công nghệ mới trao đổi những các làm hay

- Các chuyên gia, các nhà quản lý giáo dục cần ban hành các tiêu chí đánh giá tiết dạy có sử dụng công nghệ thông tin, chuẩn bài giảng điện tử để có cơ sở thẩm định, tạo ra ngân hàng bài giảng điện tử có chất lượng

1.1.1.2 Phương pháp dạy học

* Khái niệm Phương pháp dạy học

Theo giáo trình lí luận dạy học địa lí phần đại cương do PGS.TS Đặng Văn Đức chủ biên:

“PPDH là tổng hợp các cách thức làm việc phối hợp thống nhất của thầy

và trò nhằm thực hiện các nhiệm vụ dạy học Phương pháp dạy học bao gồm cả phương pháp dạy và phương pháp học

- Phương pháp dạy là cách thức GV trình bày tri thức, tổ chức và kiểm tra hoạt động nhận thức và thực tiễn của HS nhằm đạt được các nhiệm vụ dạy học

- Phương pháp học là cách thức tiếp thu, tự tổ chức và kiểm tra hoạt động nhận thức và thực tiễn của HS nhằm đạt được các nhiệm vụ dạy học

Mỗi phương pháp thường gồm các yếu tố như: mục đích định trước, hệ thống những hành động liên tiếp tương ứng, phương pháp hành động, quá trình biến đổi của đối tượng bị tác động và kết quả thực tế đạt được PPDH bao gồm

Trang 27

phương pháp dạy, phương pháp học có quan hệ chặt chẽ với phương pháp khoa học và tâm lí học của sự lĩnh hội” [8]

* Phân loại các phương pháp dạy học

Phương pháp dạy học rất đa dạng vì hoạt động dạy và học chịu sự chi phối của nhiều yếu tố, mục tiêu, nội dung Có nhiều cách phân loại phương pháp dạy học, nhìn chung đều dựa vào các quan điểm sau:

- Căn cứ vào mục đích của lí luận dạy học M.A Đanhilốp và B.P Exipốp…

đã phân ra các nhóm sau đây: Nghiên cứu tài liệu mới hình thành kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo; củng cố, hoàn thiện kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo; ứng dụng kiến thức,

kĩ năng, kĩ xảo; kiểm tra, đánh giá kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo

- Căn cứ vào nguồn kiến thức và tính đặc trưng của tri giác thông tin: Với quan điểm này E.I.Prôpxki, E.I.Golant,…đã phân ra các nhóm sau đây: Phương pháp dùng ngôn ngữ; phương pháp trực quan; phương pháp thực hành

- Căn cứ vào đặc trưng hoạt động nhận thức của HS: I.A.Lerơne chia thành: Giải thích minh họa tái hiện; trình bày nêu vấn đề; tìm tòi từng thành phần; nghiên cứu

- Căn cứ vào mức độ tích cực, sáng tạo của HS: R.C.Sharmar phân loại phương pháp dạy học thành hai loại: Dạy học lấy GV làm trung tâm, tức là vai trò và hoạt động của GV là chủ yếu, hoạt động của HS là thụ động; Dạy học lấy

HS làm trung tâm, ở đây quá trình dạy học hướng vào nhu cầu, khả năng, hứng thú của HS nhằm phát triển năng lực tự nhận thức, năng lực độc lập, khả năng phát triển tư duy GV và HS cùng khảo sát những vấn đề, từng khía cạnh của vấn

đề, GV đóng vai trò chỉ dẫn, HS tích cực, chủ động nắm tri thức,…

1.1.1.3 Phương tiện dạy học

Theo Từ điển tiếng Việt: "Phương tiện là cái dùng để làm một việc gì, để đạt một mục đích nào đó và thiết bị là tổng thể nói chung những máy móc, dụng

cụ, phụ tùng cần thiết cho một hoạt động nào đó” [12]

Hiện nay, trong giáo dục đã và đang sử dụng một số thuật ngữ khác nhau

Trang 28

khi nói về phương tiện, thiết bị phục vụ cho quá trình dạy học như: cơ sở vật chất, phương tiện dạy học, thiết bị dạy học, thiết bị trường học, dụng cụ học tập, giáo

cụ trực quan, đồ dùng dạy học, tài liệu, học liệu v.v Trong đó có thể hiểu:

- Cơ sở vật chất bao gồm phòng thí nghiệm, vườn trường, phòng học, bàn ghế, các thiết bị kĩ thuật phục vụ các hoạt động của nhà trường như máy tính, máy in, máy photocopy, máy ảnh

- Phương tiện dạy học là toàn bộ những trang thiết bị, đồ dùng, dụng cụ được sử dụng phục vụ trực tiếp cho việc giảng dạy và học tập trong nhà trường

Ví dụ: hệ thống tăng âm, loa, micro; ti vi và các đầu đọc VIDEO, VCD, DVD; các loại máy chiếu phim dương bản, máy chiếu qua đầu, máy chiếu đa phương tiện, máy vi tính; các loại tranh, ảnh, tranh giáo khoa, bản đồ, bảng biểu; các loại

mô hình, vật thật; các dụng cụ, thiết bị thí nghiệm; máy móc, thiết bị, dụng cụ dạy học thực hành v.v Đôi khi, người ta coi tất cả các phương tiện kể trên cũng thuộc về cơ sở vật chất của trường học

Theo tác giả, sử dụng khái niệm theo Từ điển Bách khoa Việt Nam là thích

hợp hơn cả: “Phương tiện dạy học là một vật thể hoặc một tập hợp các vật thể

mà GV sử dụng trong quá trình dạy học để nâng cao hiệu quả của quá trình này, giúp HS lĩnh hội khái niệm, định luật, hình thành các tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, thái độ cần thiết” [9]

* Phân loại Phương tiện dạy học:

Có nhiều cách để phân loại, sau đây là một số cách phân loại:

- Phân loại theo các kênh thu nhận thông tin của con người:

+ Phương tiện nghe: Băng âm, CD âm,…

+ Phương tiện nhìn: Loại hai chiều (chữ viết và hình ảnh), loại ba chiều (mô hình)

+ Phương tiện nghe nhìn: Phim, clip dạy học

- Phân loại theo hình thức lưu trữ:

+ Phương tiện dạy học số

Trang 29

+ Đa phương tiện

+ Phương tiện kĩ thuật

1.1.2 Dạy học theo định hướng phát triển năng lực

1.1.2.1 Khái niệm năng lực

Theo từ điển Bách khoa Việt Nam: “Năng lực là đặc điểm của cá nhân thể hiện mức độ thông thạo, tức là có thể thực hiện một cách thành thục và chắc chắn một hay một số dạng hoạt động nào đó” [9]

Theo từ điển Tiếng Việt: “Năng lực là phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo

cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao” [12]

Theo cách hiểu của Trần Trọng Thủy và Nguyễn Quang Uẩn: “Năng lực

là tổng hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu

đặc trưng của một hoạt động nhất định, nhằm đảm bảo việc hoàn thành có kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động ấy”

Theo Tài liệu giới thiệu chương trình giáo dục phổ thông (GDPT) tổng thể trong chương trình giáo dục phổ thông mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo (Bộ

GD&ĐT) đã giải thích khái niệm năng lực: “Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí … thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể” [3]

Như vậy phạm trù năng lực thường được hiểu theo nhiều cách khác nhau

và mỗi cách hiểu có những thuật ngữ tương ứng, theo tác giả có thể hiểu năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể

1.1.2.2 Khái niệm dạy học theo định hướng phát triển năng lực

Dạy học theo định hướng phát triển năng lực là khả năng thực hiện có

Trang 30

trách nhiệm và hiệu quả các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, các vấn đề trong những tình huống khác nhau trên cơ sở hiểu biết, kỹ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động

Năng lực người học cần đạt là cơ sở để xác định các mục tiêu, nội dung, hoạt động, phương pháp… dạy học mà người dạy cần phải căn cứ vào để tiến hành các hoạt động giảng dạy và giáo dục (lấy người học làm trung tâm)

1.1.2.3 Cấu trúc của năng lực

Hình 1.1 Các thành phần cấu trúc của năng lực

Các năng lực được thể hiện trong hình 1.1 gồm:

- Năng lực chuyên môn (Professional competency) : Là khả năng thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn cũng như khả năng đánh giá kết quả chuyên môn một cách độc lập, có phương pháp và chính xác về mặt chuyên môn Trong đó bao gồm cả khả năng tư duy lô gic, phân tích, tổng hợp, trìu tượng hóa, khả năng nhận biết các mối quan hệ hệ thống và quá trình

Năng lực chuyên môn hiểu theo nghĩa hẹp là năng lực “nội dung chuyên môn”, theo nghĩa rộng bao gồm cả năng lực phương pháp chuyên môn

- Năng lực phương pháp (Methodical competency): Là khả năng đối với những hành động có kế hoạch, định hướng mục đích trong việc giải quyết các

Trang 31

nhiệm vụ và vấn đề Năng lực phương pháp gồm năng lực phương pháp chung

và phương pháp chuyên môn Trung tâm của phương pháp nhận thức là những khả năng tiếp nhận, xử lý, đánh giá, truyền thụ và trình bày tri thức

- Năng lực xã hội (Social competency): Là khả năng đạt được mục đích trong những tình huống xã hội cũng như trong những nhiệm vụ khác nhau trong

sự phối hợp chặt chẽ với những thành viên khác

- Năng lực cá thể (Induvidual compentency): Là khả năng xác định, đánh giá được các cơ hội phát triển cũng như những giới hạn của cá nhân, phát triển năng khiếu, xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển cá nhân, những quan điểm, chuẩn giá trị đạo đức và động cơ chi phối các thái độ và hành vi ứng xử

Từ cấu trúc của khái niệm năng lực cho thấy giáo dục định hướng phát triển năng lực không chỉ nhằm mục tiêu phát triển năng lực chuyên môn bao gồm tri thức, kỹ năng chuyên môn mà còn phát triển năng lực phương pháp, năng lực

xã hội và năng lực cá thể Những năng lực này không tách rời nhau mà có mối quan hệ chặt chẽ Năng lực hành động được hình thành trên cơ sở có sự kết hợp các năng lực này

1.1.2.4 Năng lực học sinh

Năng lực của HS là khả năng làm chủ những hệ thống kiến thức, kĩ năng, thái độ… phù hợp với lứa tuổi và vận hành (kết nối) chúng một cách hợp lí vào thực hiện thành công nhiệm vụ học tập, giải quyết hiệu quả những vấn đề đặt ra cho chính các em trong cuộc sống

Có ba dấu hiệu quan trọng cần lưu ý về năng lực của HS:

- Năng lực không chỉ là khả năng tái hiện tri thức, thông hiểu tri thức,

kĩ năng học được…, mà còn là khả năng hành động, ứng dụng/vận dụng tri thức, kĩ năng học được để giải quyết những vấn đề của cuộc sống đang đặt ra với các em

- Năng lực không chỉ là vốn kiến thức, kĩ năng, thái độ phù hợp với lứa tuổi mà là sự kết hợp hài hòa của cả ba yếu tố này, thể hiện ở khả năng hành

Trang 32

động (thực hiện) hiệu quả muốn hành động và sẵn sàng hành động đạt mục đích

đề ra (gồm động cơ, ý chí, sự tự tin, trách nhiệm xã hội…)

- Năng lực được hình thành, phát triển trong quá trình thực hiện các nhiệm

vụ học tập ở trong lớp học và ở ngoài lớp học Nhà trường là môi trường giáo dục chính thống giúp HS hình thành những năng lực chung, năng lực chuyên biệt phù hợp với lứa tuổi, song đó không phải là nơi duy nhất Những môi trường khác như gia đình, cộng đồng… cùng góp phần bổ sung và hoàn thiện các năng lực của các em

Theo Nguyễn Thị Minh Phương (2007): “ Năng lực cần đạt của học sinh THPT là tổ hợp nhiều khả năng và giá trị được cá nhân thể hiện thông qua các hoạt động có kết quả ”

Trong tiếng Anh có một số từ chỉ năng lực: Ability, competency, competence, capacity, capability, attribute Trong đề tài này, chúng tôi quan niệm năng lực cần đạt của học sinh THPT thuộc phạm trù của thuật ngữ “competency”,

là tổ hợp nhiều kĩ năng và giá trị được cá nhân thể hiện để mang lại kết quả cụ thể

Theo đó, kĩ năng có bản chất tâm lí, nhưng có hình thức vật chất là hành

vi hoặc hành động Vì vậy kĩ năng mà chúng ta nhìn thấy, nghe thấy, cảm nhận được chính là biểu hiện đang diễn ra của năng lực

Theo cách hiểu này, kĩ năng chung là sự tổng hòa nhiều kĩ năng riêng biệt

có thể chuyển biến linh hoạt tùy theo bối cảnh Chúng được hình thành và phát triển qua nhiều hoạt động tích cực (học tập, vui chơi), qua việc ứng xử hoặc xúc tiến quan hệ nào đó

1.1.2.5 Quá trình hình thành năng lực

Dirk Schnekenberg và Johannes Widt (2006) đã mô hình hóa các nét đặc trưng đại diện cho một chuỗi các nhân tố ảnh hưởng tương ứng đến sự hình thành năng lực trong quá trình thực hiện hành động Theo các giả này có một quá trình

có tính chu kỳ trong đó những nhân tố này được kết nối vào quá trình hình thành năng lực và ở mỗi giai đoạn đều có sự phụ thuộc vào giai đoạn trước đó, bao

Trang 33

gồm các bước tăng tiến hình thành năng lực:

1) Tiếp nhận thông tin

2) Xử lí thông tin (thể hiện hiểu biết/kiến thức)

3) Áp dụng/vận dụng kiến thức (thể hiện khả năng)

4) Thái độ và hành động

5) Sự kết hợp đầy đủ các yếu tố trên để tạo thành năng lực

Sự kết hợp 5 bước trên tạo thành năng lực ở người học Tuy nhiên cần kết

hợp nhiều năng lực mới tạo ra sự chuyên nghiệp, kết hợp với học hỏi kinh nghiệm

mới có thể hình thành NL nghề nghiệp

6) Tính trách nhiệm, thể hiện sự chuyên nghiệp/thành tạo

7) Kết hợp với kinh nghiệm/trải nghiệm thể hiện năng lực nghề

1.1.2.6 Các năng lực cốt lõi của học sinh

Năng lực cốt lõi (còn gọi là năng lực chung) là năng lực cơ bản, thiết yếu

cần có để sống, học tập và làm việc Tất cả các hoạt động giáo dục (bao gồm các

môn học và hoạt động trải nghiệm sáng tạo) với khả năng khác nhau nhưng đều

hướng tới mục tiêu hình thành và phát triển các năng lực cốt lõi của HS Có nhiều

hệ thống năng lực cốt lõi khác nhau, tuy nhiên trong các hệ thống này thường

gồm có:

- Kĩ năng sống và kĩ năng nghề nghiệp

- Kĩ năng học tập và kĩ năng đổi mới

- Kĩ năng về thông tin, đa phương tiện và công nghệ

Các năng lực cốt lõi của HS trong thế kỉ XXI, gồm:

- Năng lực làm chủ kiến thức các môn học cốt lõi bậc phổ thông

- Năng lực nhận thức về các chủ đề của thế kỉ XXI: nhận thức về thế giới;

kiến thức về tài chính, kinh tế, kinh doanh, doanh nghiệp; kiến thức về chăm sóc

sức khỏe và kiến thức dân sự

- Các năng lực tư duy và năng lực học tập: năng lực GQVĐ và năng lực

tư duy phê phán, năng lực giao tiếp, năng lực đổi mới và sáng tạo, năng lực hợp

Trang 34

- Năng lực về CNTT và truyền thông

- Năng lực nghề nghiệp và kĩ năng sống: năng lực thích ứng, năng lực thúc đẩy và năng lực tự định hướng, năng lực lãnh đạo và trách nhiệm xã hội…

Những năng lực cốt lõi của HS trong thế kỉ XXI cần được nhận diện như

là kết quả đầu ra (chuẩn đầu ra) của quá trình dậy và học Vì vậy nhất thiết phải phát triển được các chương trình giáo dục và vận dụng các chiến lược dạy học, các kiểu tổ chức dạy học phù hợp để nuôi dưỡng, hình thành các năng lực này

Theo Chương trình giáo dục phổ thông mới của Việt Nam sẽ được cấu trúc theo định hướng phát triển năng lực; các năng lực của HS khi kết thúc chương trình giáo dục phổ thông được xác định là:

1.1.2.7 Một số phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực

* Phương pháp dạy học đặt và giải quyết vấn đề (GQVĐ)

Phương pháp dạy học nêu vấn đề hay còn gọi là phương pháp dạy học đặt và GQVĐ là phương pháp GV đưa ra một chuỗi “tình huống có vấn đề”, “tình huống học tập” và hướng dẫn (điều khiển) HS giải quyết một loạt các vấn đề đó để nhận thức kiến thức địa lí Tình huống có vấn đề hay tình huống học tập là trạng thái tâm

lí khi HS gặp phải một vấn đề cần giải quyết dựa vào các tri thức đã có hoặc là quá

Trang 35

trình GQVĐ nảy sinh Thực chất của phương pháp này là sự tập hợp nhiều phương pháp, kết hợp với nhau một cách chặt chẽ xoay quanh việc tạo ra và giải quyết một tình huống hoặc chuỗi liên tiếp các tình huống có vấn đề

Phương pháp này phát huy được tính sáng tạo trong học tập của HS, phát triển trí tuệ, rèn luyện kĩ năng quan sát, phân tích, tổng hợp ở người học Nâng cao khả năng nhận biết các đối tượng, hiện tượng địa lí từ đó phát triển năng lực

cá nhân Phương pháp này còn giúp HS liên hệ và sử dụng những tri thức đã học

để tiếp thu tri thức mới; đồng thời tạo ra các mối liên hệ giữa hình đang học với các hình khác và bản đồ HS có cơ hội vận dụng tri thức đã học vào thực tiễn, trước nhất là thực tiễn học tập, giải quyết mâu thuẫn giữa cái đã biết và cái chưa biết, phát huy năng lực giao tiếp xã hội

Dạy học PH và GQVĐ là một quan điểm dạy học nhằm phát triển năng lực tư duy sáng tạo, năng lực GQVĐ của HS Học sinh được đặt trong một tình huống có VĐ, thông qua việc GQVĐ giúp HS lĩnh hội tri thức, kỹ năng và PP nhận thức

* Phương pháp đàm thoại gợi mở

Phương pháp này đòi hỏi sự khéo léo của GV đặt ra các câu hỏi cho HS trả lời dựa vào sự tái hiện tri thức đã có Phương pháp đàm thoại gợi mở giúp HS

mở rộng đào sâu kiến thức, củng cố và hệ thống hoá kiến thức đã tiếp thu được Đồng thời giúp HS tự kiểm tra, đánh giá việc lĩnh hội tri thức, kĩ năng, kĩ xảo trong quá trình học tập của bản thân Như vậy, thực chất của phương pháp đàm thoại gợi mở là GV sử dụng hệ thống câu hỏi để vừa mở rộng, vừa đào sâu kiến thức, vừa củng cố kiến thức cho HS

Phương pháp này đặt HS vào vị trí vừa là người tìm tòi, thu thập, phân

tích, tổng hợp; HS có cơ hội phát triển kĩ năng hợp tác với bạn bè, kĩ năng nói,

kĩ năng viết báo cáo về một nội dung khoa học Nó còn bồi dưỡng phương pháp

tự học, tự nghiên cứu; kĩ năng trình bày quan điểm của mình một cách lôgic trước công chúng, kĩ năng giao tiếp, tăng tính tự tin, mạnh dạn

Trang 36

đàm thoại ơrixtic, đàm thoại gợi mở) là PP trao đổi giữa GV với HS, trong đó

GV nêu ra hệ thống câu hỏi “dẫn dắt” gắn bó logic với nhau để HS suy lí, phán đoán, quan sát, tự đi đến kết luận và qua đó lĩnh hội kiến thức”

* Phương pháp thảo luận

Phương pháp thảo luận là phương pháp mà GV tổ chức cho HS thảo luận, trao đổi ý kiến về một vấn đề được đặt ra dưới dạng câu hỏi hoặc bài tập nhận thức Mục đích của thảo luận là để đánh giá được mức độ nắm kiến thức, kĩ năng, khả năng diễn đạt và thái độ học tập của HS

Hình thức thảo luận: thảo luận theo nhóm, thảo luận theo cặp, thảo luận chung cả lớp

Phương pháp này là phương pháp mà GV là người tổ chức thảo luận, HS

là chủ thể nhận thức, thảo luận, trao đổi ý kiến về một vấn đề được đặt ra dưới dạng câu hỏi hay bài tập nhận thức Đây là phương pháp hoạt động nhận thức tích cực, chủ động; là cơ hội để HS tự thể hiện mình, phát triển kĩ năng giao tiếp

và trình độ tư duy; kĩ năng GQVĐ, kĩ năng diễn đạt, kĩ năng tập hợp và ghi chép

tư liệu

Theo tác giả Phan Trọng Ngọ, “Thảo luận nhóm là phương pháp trong đó nhóm lớn (lớp học) được chia thành những nhóm nhỏ để tất cả các thành viên trong lớp đều được làm việc và thảo luận về một chủ đề cụ thể và đưa ra ý kiến chung của nhóm mình về vấn đề đó”

* Phương pháp dạy học phát triển năng lực

Phương pháp dạy giáo dục phát triển năng lực là:

- Phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của người học, hình thành và phát triển năng lực tự học (sử dụng sách giáo khoa, nghe, ghi chép, tìm kiếm thông tin, ), trên cơ sở đó trau dồi các phẩm chất linh hoạt, độc lập, sáng tạo của

Trang 37

thức với sự tổ chức, hướng dẫn của GV”

- Sử dụng phương pháp dạy học gắn chặt với các hình thức tổ chức dạy học Tuỳ theo mục tiêu, nội dung, đối tượng và điều kiện cụ thể mà có những hình thức tổ chức thích hợp như học cá nhân, học nhóm; học trong lớp, học ở ngoài lớp Cần chuẩn bị tốt về phương pháp đối với các giờ thực hành để đảm bảo yêu cầu rèn luyện kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn, nâng cao hứng thú cho người học

- Sử dụng đủ và hiệu quả các thiết bị dạy học môn học tối thiểu đã qui định Có thể sử dụng các đồ dùng dạy học tự làm nếu xét thấy cần thiết với nội dung học và phù hợp với đối tượng HS Tích cực vận dụng công nghệ thông tin trong dạy học

Phương pháp dạy học theo quan điểm phát triển năng lực không chỉ chú ý tích cực hoá HS về hoạt động trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện năng lực GQVĐ gắn với những tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp, đồng thời gắn hoạt động trí tuệ với hoạt động thực hành, thực tiễn Tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ GV- HS theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội Bên cạnh việc học tập những tri thức và kỹ năng riêng lẻ của các môn học chuyên môn cần bổ sung các chủ đề học tập phức hợp nhằm phát triển năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp

Theo quan điểm phát triển năng lực, việc đánh giá kết quả học tập không lấy việc kiểm tra khả năng tái hiện kiến thức đã học làm trung tâm của việc đánh giá Đánh giá kết quả học tập cần chú trọng khả năng vận dụng sáng tạo tri thức trong những tình huống ứng dụng khác nhau

* Phương pháp dạy học sử dụng công nghệ hiện đại

Với tất cả tính năng của công nghệ hiện đại thì việc truyền thụ kiến thức không còn đơn thuần chỉ là bảng đen phấn trắng nữa Sử dụng công nghệ hiện đại vào dạy học đang dần trở thành một trào lưu mạnh mẽ và là xu hướng của giáo dục thế giới Khi sử dụng công nghệ hiện đại, GV đề ra được nhiều hoạt động giúp HS tìm tòi khám phá và tự hình thành kiến thức mới thông qua hoạt động của bản thân, từ đó HS có niềm tin và hứng thú trong học tập hơn Thông

Trang 38

qua các công nghệ hiện đại HS được rèn luyện kĩ năng thực hành và củng cố kiến thức đã học một cách đầy đủ và liên hệ thực tiễn dễ dàng hơn

Để vận dụng hiệu quả PPDH sử dụng công nghệ hiện đại người GV hiểu rõ được chức năng của phần mềm sử dụng, tìm hiểu kĩ nội dung bài dạy, phát huy hết chức năng phần mềm, tạo cho HS cảm giác đang xem một cuốn phim hấp dẫn, hình thành phương thức học tập mới, một ý thức tự giác tích cực cho mỗi HS Ngoài ra khi sử dụng PPDH này còn phải phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất của trường và đối tượng HS Chú ý phối hợp chặt chẽ, linh hoạt các PPDH

Các phương pháp trên không sử dụng một cách đơn lẻ mà được kết hợp một cách nhuần nhuyễn trong cùng một giờ giảng phù hợp với nội dung bài học

và để đạt được hiệu quả cao nhất

Phương pháp giảng dạy cần phải đổi mới mạnh mẽ, mạnh dạn sử dụng các công cụ như internet, giáo dục trực tuyến, sử dụng công nghệ điện toán đám mây,… cho phép người dạy có thể cung cấp tài liệu cho người học và thu thập lại kết quả của người học trong quá trình dạy học một cách linh hoạt và liên tục, ngoài ra phương pháp giảng dạy này sẽ linh hoạt về thời gian cũng như tạo ra một không gian phù hợp với điều kiện và nhu cầu của người học [10]

- Về kiến thức: Hiểu, trình bày và giải thích được:

+ Một số đặc điểm của nền kinh tế thế giới đương đại và một số vấn đề đang được nhân loại quan tâm

+ Đặc điểm tự nhiên, dân cư, kinh tế - xã hội của một số khu vực, quốc gia trên thế giới

- Về kĩ năng: Củng cố và phát triển các kĩ năng:

+ Nhận xét, phân tích, tổng hợp, so sánh các sự vật, hiện tượng địa lí, xây

Trang 39

dựng biểu đồ, sử dụng và khai thác bản đồ, số liệu thống kê liên quan đến địa lí kinh tế - xã hội thế giới, khu vực và một số quốc gia tiêu biểu

+ Thu thập, trình bày các thông tin địa lí về một số khu vực hay quốc gia tiêu biểu trên thế giới

+ Vận dụng kiến thức ở mức độ nhất định để giải thích các sự vật, hiện tượng địa lí đang diễn ra trên thế giới

+ Quan tâm đến những vấn đề liên quan đến Địa lí như dân số, môi trường

1.2.1.2 Cấu trúc và nội dung chương trình

Chương trình Địa lí 11 là một phần của chương trình Địa lí THPT, nó kế thừa, nâng cao kiến thức đã có ở bậc THCS Chương trình lớp 11 ban cơ bản được cấu tạo bởi hai phần: Khái quát nền kinh tế - xã hội thế giới và Địa lí khu vực và quốc gia (xem hình 1.9)

Trang 40

Hình 1.2 Cấu trúc chương trình Địa lí lớp 11

Về nội dung cụ thể:

* Phần Khái quát nền kinh tế - xã hội thế giới:

- Về lý thuyết: Phần này tập trung vào bốn nội dung:

+ Sự tưởng phản về trình độ phát triển kinh tế - xã hội của các nhóm nước: Các nội dung chính được đưa vào là sự tưởng phản về trình độ phát triển kinh tế

- xã hội của các nhóm nước, đặc điểm nổi bật của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ

+ Xu hướng toàn câu hóa, khu vực hóa kinh tế: Ở phần này, nội dung chính gồm các biểu hiện, hệ quả của toàn cầu hóa và khu vực hóa kinh tế; lí do hình thành tổ chức liên kết kinh tế khu vực và một số tổ chức liên kết kinh tế khu vực

+ Một số vấn đề mang tính toàn cầu: Ở phần này, các nội dung kiến thức

Ngày đăng: 12/06/2021, 19:53

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w