Trong công tác kiểm tra giáo dục, vai trò kiểm tra nội bộ trường học đóng vai trò hết sức quan trọng, mang tính pháp chế, lần đầu tiên được cụ thể hóa tại Quyết định số 478/QĐ-BGD&ĐT ngà
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN TRỌNG VĂN
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA NỘI BỘ Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH THEO YÊU CẦU
ĐỔI MỚI GIÁO DỤC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN TRỌNG VĂN
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA NỘI BỘ Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH THEO YÊU CẦU
ĐỔI MỚI GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Quản lý Giáo dục
Mã số: 60.14.01.14
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS MAI CÔNG KHANH
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả trong luận văn là hoàn toàn trung thực chƣa từng đƣợc công bố trong một công trình khoa học nào khác
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Trọng Văn
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm sâu sắc tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo Khoa Tâm lý giáo dục, trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu luận văn
Xin chân thành cảm ơn TS Mai Công Khanh, thầy đã tận tình hướng dẫn,
giúp đỡ, cung cấp tài liệu học tập và nghiên cứu giúp tôi hoàn thành luận văn
Xin chân thành cảm ơn lãnh đạo, chuyên viên Phòng GD&ĐT; Ban giám hiệu, thầy cô giáo các trường THCS huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình đã động viên tạo điều kiện giúp tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Thái Nguyên, ngày 10 tháng 4 năm 2015
Học viên
Nguyễn Trọng Văn
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 4
3 Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Đóng góp của luận văn 5
7 Kết cấu của luận văn 5
Chương 1 CƠ KIỂM TRA NỘI BỘ TRƯỜNG THCS THEO YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC 6
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 6
1.1.1 Các nghiên cứu của thế giới 6
1.1.2 Nghiên cứu trong nước 7
1.2 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài 10
1.2.1 Quản lý 10
1.2.2 Quản lý Giáo dục 12
1.2.3 Quản lý Nhà trường 14
Trang 61.2.4 Quản lý trường THCS 15
1.3 Cơ sở lý luận quản lý kiểm tra nội bộ trường học 18
1.3.1 Kiểm tra nội bộ trường học 18
1.3.2 Đối tượng, mục đích kiểm tra nội bộ trường học 20
1.3.3 Chức năng, nhiệm vụ kiểm tra nội bộ trường học 21
1.3.4 Nội dung kiểm tra nội bộ trường học 21
1.3.5 Nguyên tắc kiểm tra nội bộ trường học 23
1.3.6 Phương pháp kiểm tra nội bộ trường học 24
1.3.7 Quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ trường học 25
1.4 Quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ trường THCS 26
1.4.1 Kiểm tra nội bộ trường trung học cơ sở 26
1.4.2 Nội dung quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ ở các trường THCS 30 1.4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động KTNB ở trường THCS 32 1.4.4 Tầm quan trọng của quản lý hoạt động KTNB ở trường THCS theo yêu cầu đổi mới giáo dục 33
Kết luận chương 1 35
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA NỘI BỘ Ở CÁC TRƯỜNG THCS HUYỆN HƯNG HÀ TỈNH THÁI BÌNH 36
2.1 Khái quát về kinh tế - xã hội, văn hóa - giáo dục 36
2.1.1 Về kinh tế - xã hội 36
2.1.2 Về văn hóa - Giáo dục 38
2.2 Giáo dục trung học cơ sở huyện hưng hà tỉnh thái bình 40
2.2.1 Đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên 40
2.2.2 Chất lượng giáo dục THCS 43
2.3 Thực trạng quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ ở các trường THCS 44
2.3.1 Thực trạng hoạt động kiểm tra nội bộ trường ở các THCS 44
Trang 72.3.2 Đánh giá chung thực trạng quản lý hoạt động KTNB ở các
trường THCS 57
Kết luận chương 2 60
Chương 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA NỘI BỘ Ở CÁC TRƯỜNG THCS HUYỆN HƯNG HÀ TỈNH THÁI BÌNH THEO YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC 61
3.1 Một số nguyên tắc đề xuất các biện pháp 61
3.1.1 Bảo đảm tính đồng bộ 61
3.1.2 Bảo đảm tính thực tiễn 61
3.1.3 Bảo đảm tính kế thừa 61
3.1.4 Bảo đảm tính khả thi 62
3.2 Biện pháp quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ ở các trường THCS huyện Hưng Hà tỉnh Thái Bình theo yêu cầu đổi mới giáo dục 62
3.2.1 Nâng cao nhận thức của đội ngũ giáo viên, CBQL về tầm quan trọng của quản lý hoạt động KTNB trong nhà trường 62
3.2.2 Tăng cường bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ quản lý, giáo viên làm nhiệm vụ KTNB nhà trường 64
3.2.3 Xây dựng nội dung và phương pháp KTNB ở các trường THCS theo yêu cầu đổi mới giáo dục 68
3.2.4 Xây dựng kế hoạch KTNB của Hiệu trưởng các trường THCS gắn với chất lượng và hiệu quả quản lý 76
3.2.5 Tăng cường công tác động viên khen thưởng hoạt động KTNB ở các trường THCS 78
3.3 Mối quan hệ của các biện pháp 80
3.4 Khảo nghiệm sự cần thiết và tính khả thi của biện pháp 81
3.4.1 Khảo nghiệm sự cần thiết của các biện pháp quản lý 81
3.4.2 Khảo nghiệm tình khả thi của các biện pháp quản lý 83
Kết luận chương 3 84
Trang 8KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 85 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89 PHỤ LỤC 1
Trang 9DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
5 GD&ĐT Giáo dục và Đào tạo
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Thống kê số lượng và trình độ chuyên môn của đội ngũ giáo
viên trường THCS 40 Bảng 2.2: Thống kê đội ngũ CBQL trường THCS năm học 2013-2014 41 Bảng 2.3 Khảo sát phẩm chất đạo đức, năng lực quản lý, kinh nghiệm
quản lý của đội ngũ CBQL 42 Bảng 2.4 Thống kê chất lượng giáo dục văn hóa của học sinh 43 Bảng 2.5 Thống kê chất lượng giáo dục đạo đức của học sinh 44 Bảng 2.6: Nhận thức của đội ngũ CBQL, Giáo viên về hoạt động kiểm
tra nội bộ trường học 46 Bảng 2.7: Phẩm chất, trình độ, năng lực của đội ngũ thực hiện nhiệm
vụ KTNB 51 Bảng 2.8 Bảng so sánh kết quả kiểm tra hoạt động sư phạm của GV cấp
THCS do Phòng giáo dục & đào tạo và các trường thực hiện 53 Bảng 3.1 Thăm dò sự cần thiết của các biện pháp quản lý 82 Bảng 3.2 Thăm dò tính khả thi của các biện pháp quản lý 83
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Hoạt động quản lý 12
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Từ năm 1986, Đảng, Nhà nước ta chủ trương thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện trong cả nước Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nền kinh tế nước ta ngày một khởi sắc và đạt được nhiều thành tựu to lớn, trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII khẳng định: „„Nhiệm vụ và
mục tiêu cơ bản của giáo dục là đào tạo con người Việt Nam XHCN, có tri thức, kỹ năng vừa hồng vừa chuyên; giữ vững mục tiêu XHCN; thực sự xem giáo dục là quốc sách hàng đầu; Giáo dục và Đào tạo là sự nghiệp của toàn Đảng, Nhà nước và toàn dân" [10] Đại hội lần thứ IX của Đảng (2001) là Đại
hội mở đầu thế kỷ XXI ở nước ta, Đảng đã xác định mục tiêu chung của Việt Nam trong giai đoạn này là “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”[11], hoạch định chiến lược phát triển giáo dục 10 năm 2001 - 2010 với việc khẳng định lại một lần nữa các quan điểm: „„Giáo dục là quốc sách hàng đầu; xây dựng nền giáo dục
có tính nhân dân, dân tộc, khoa học, hiện đại, theo định hướng XHCN, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng; phát triển giáo dục gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, tiến bộ Khoa học và Công nghệ, củng cố quốc phòng, an ninh; giáo dục là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân‟‟[5] Đảng ta coi phát triển giáo dục là giải pháp đột phá chiến lược với các quan điểm: Phát triển giáo dục phải thực sự là quốc sách hàng đầu, là
sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, triệt để đổi mới quản lý nhà nước về giáo dục Nâng cao vai trò các đoàn thể nhân dân, tổ chức kinh tế, xã hội trong phát triển giáo dục
Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa 11 đã thông qua Nghị quyết 29 về “Đổi mới căn bản, toàn diện Giáo dục và Đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường
Trang 12định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” với mục tiêu tổng quát “Tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào; sống tốt và làm việc hiệu quả” [7]
Để đạt được mục tiêu trên, Nghị quyết 29/NQ-TW đã chỉ rõ hệ thống các nhiệm vụ, giải pháp, trong đó nhấn mạnh “Thực hiện giám sát của các chủ thể trong nhà trường và xã hội; tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra của cơ quan quản lý các cấp; bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch” [7]
Về tầm quan trọng của chức năng kiểm Hồ Chủ Tịch : Sự kiểm tra việc thực hiện được đặt ra một cách đúng đắn là ngọn đèn pha giúp cho làm sáng
tỏ tinh thần hoạt động bộ máy trong bất kỳ thời gian nào, chín phần mười những chỗ hỏng, chỗ hở đều do thiếu sự kiểm tra Thanh tra và kiểm tra thường xuyên đúng đắn, chắc chắn những chỗ hỏng, chỗ hở đều có thể ngăn ngừa được
Với vai trò đặc biệt như vậy, chức năng kiểm tra không chỉ đơn thuần là chức năng cuối cùng trong một quá trình quản lý mà còn là tiền đề cho một quá trình quản lý mới tiếp theo Chức năng kiểm tra là một trong những chức năng hết sức quan trọng của quá trình Quản lý, có nhiều vai trò trong việc giúp hoàn thành các nhiệm vụ của các đối tượng quản lý
Trong công tác kiểm tra giáo dục, vai trò kiểm tra nội bộ trường học đóng vai trò hết sức quan trọng, mang tính pháp chế, lần đầu tiên được cụ thể hóa tại Quyết định số 478/QĐ-BGD&ĐT ngày 11/3/1993 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục
và Đào tạo về việc ban hành “Quy chế về tổ chức và hoạt động của thanh tra giáo dục và đào tạo”, trong đó khoản 1, điều 22 chương VI “Công tác kiểm tra
nội bộ trong các trường học và các đơn vị trong ngành” đã nêu: “Hiệu trưởng
các trường, thủ trưởng các cơ sở giáo dục trong ngành có trách nhiệm sử dụng
bộ máy quản lý và các cán bộ trong đơn vị để kiểm tra việc thực hiện chính sách
Trang 13pháp luật, nhiệm vụ, kế hoạch của cá nhân và các bộ phận thuộc quyền, xét và giải quyết các khiếu nại tố cáo về các vấn đề thuộc quyền quản lý của mình Các hoạt động kiểm tra được thực hiện thường xuyên, công khai, dân chủ, kết quả kiểm tra được ghi nhận bằng biên bản và được lưu trữ Hiệu trưởng hay thủ trưởng phải chị trách nhiệm về các kết luận kiểm tra này, ”[24]
Thông tư 39/2013/TT-BGDĐT ngày 04/12/2013 của Bộ Giáo dục và Đào tạo hướng dẫn về thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực giáo dục đã chỉ rõ trách nhiệm của các cơ sở giáo dục: Các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên xây dựng kế hoạch và tổ chức kiểm tra nội bộ; thực hiện chế độ báo cáo về công tác kiểm tra nội bộ theo quy định
Trong những năm qua hoạt động thanh tra, kiểm tra giáo dục nói chung, hoạt động kiểm tra nội bộ của các trường THCS trên địa bàn huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình đã đi vào nền nếp và cơ bản đáp ứng được yêu cầu; các nội dung kiểm tra nội bộ trường học đã được Phòng Giáo dục và Đào tạo hướng dẫn và thống nhất Tuy nhiên trong quá trình triển khai thực hiện hoạt động kiểm tra nội bộ vẫn còn tồn tại các hạn chế thiếu sót, ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả của công tác kiểm tra nội bộ:
- Nhận thức của một số CBQL về tầm quan trọng của hoạt động KTNB chưa đầy đủ dẫn đến việc quản lý hoạt động KTNB còn hời hợt, hình thức, có hiệu trưởng còn có biểu hiện buông lỏng quản lý hoạt động KTNB
- Trình độ, nghiệp vụ trong hoạt động kiểm tra còn hạn chế, việc đánh giá, kết luận kiểm tra không đảm bảo tính chính xác, không có khả năng tư vấn, thúc đẩy, việc xử lý sau kiểm tra không đảm bảo yêu cầu, hiệu quả kiểm tra yếu;
- Hoạt động kiểm tra nội bộ thiếu tính kế hoạch, toàn diện
Để thực hiện yêu cầu của việc “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và
đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa - hiện đại hóa trong điều kiện kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” [7] theo tinh
thấn Nghị quyết 29/NQ-TƯ Hội nghị BCH TW lần thứ VIII khóa XI, cần phải
Trang 14có sự đổi mới một các mạnh mẽ cả về nội dung và hình thức hoạt động thanh tra, kiểm tra giáo dục nói chung, hoạt động kiểm tra nội bộ cơ sở giáo dục nói
riêng, đó cũng chính là lý do để tôi lựa chọn đề tài: “Quản lý hoạt động kiểm
tra nội bộ ở các trường THCS huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình theo yêu cầu đổi mới giáo dục” để nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động KTNB ở trường THCS, nhằm góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả quản lý ở các trường THCS huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình theo yêu cầu đổi mới giáo dục
3 Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Quản lý hoạt động KTNB của hiệu trưởng ở trường THCS
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp quản lý hoạt động KTNB tại các trường THCS huyện Hưng
Hà, tỉnh Thái Bình
3.3 Phạm vi nghiên cứu
KTNB của trường THCS huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận quản lý hoạt động KTNB ở các trường THCS;
- Nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động KTNB ở các trường THCS huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình;
- Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động KTNB ở các trường THCS huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình theo yêu cầu đổi mới giáo dục
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích và tổng hợp sách, các bài báo khoa học, các đề tài nghiên cứu, các luận văn, luận án có liên quan để tổng quan và xây dựng cơ sở lý luận của đề tài
Trang 155.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp Nghiên cứu sản phẩm: Phân tích các hồ sơ quản lý hoạt động KTNB của Hiệu trưởng, phân tích các số liệu, hồ sơ thi đua, tổng hợp của Phòng giáo dục và đào tạo đối với các trường để thu thập các thông tin về tình hình quản lý hoạt động KTNB của Hiệu trưởng trường THCS
- Phương pháp điểu tra bằng phiếu hỏi: Lập phiếu điều tra, câu hỏi trắc nghiệm, điền khuyết với nội dung cần tìm hiểu Đối tượng điều tra: Hiệu trưởng, phó Hiệu trưởng, tổ trưởng, tổ phó tổ chuyên môn, giáo viên trường THCS
- Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn các Hiệu trưởng trường THCS tập trung vào các vấn đề liên quan đến công tác quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ trường THCS
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: tổng hợp kết quả nghiên cứu về lý luận và thực tiễn trước khi đưa ra kết luận và đề xuất các biện pháp
5.3 Nhóm phương pháp bổ trợ
- Phương pháp toán thống kê: Dùng các công cụ toán học để xử lý các số liệu điều tra
6 Đóng góp của luận văn
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận về quản lý hoạt động KTNB trường THCS
- Đánh giá được thực trạng về quản lý hoạt động KTNB ở các trường THCS huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình
- Xây dựng các biện pháp quản lý hoạt động KTNB ở các trường THCS
ở huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình theo yêu cầu đổi mới giáo dục
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận - kiến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ trường trung học cơ sở theo yêu cầu đổi mới giáo dục
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ ở trường trung học cơ sở huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình
Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ ở các trường THCS huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình theo yêu cầu đổi mới giáo dục
Trang 16Chương 1
HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA NỘI BỘ TRƯỜNG THCS
THEO YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC 1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Các nghiên cứu của thế giới
Quản lý có một vai trò hết sức quan trọng trong mọi lĩnh vực từ chính trị, kinh tế, văn hoá đến mọi hoạt động của đời sống xã hội Ngay từ thời xa xưa để chống chọi với sự khắc nghiệt của thiên nhiên và để duy trì sự tồn tại của mình con người đã phải kết thành từng nhóm, cũng từ đây trong quá trình lao động đòi hỏi có sự tổ chức, điều khiển và phối hợp hành động tức là cần có sự quản
lý Quản lý nhằm tạo ra một hiệp lực, một môi trường thuận lợi, một thuộc tính
mới, đạt được mục tiêu của nhóm, của tập thể Các Mác đã khẳng định: “Tất cả
mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung chừng nào tiến hành trên quy
mô tương đối lớn thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những
cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ CSVC, khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm thì tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”[4]
Thời cổ đại, tư tưởng đức trị của Khổng Tử với triết lý Đạo Nhân đã chi phối hoạt động quản lý, chủ yếu đối với việc quản lý xã hội, đất nước “Trị quốc, bình thiên hạ” bởi lẽ nền kinh tế thời đó chỉ là tiểu nông, thủ công nghiệp
và buôn bán nhỏ Cặp phạm trù Nhân - Lợi đã có ảnh hưởng nhất định đến quản lý qua tư tưởng nhân bản “Làm cho dân giàu, nước mạnh” được các đời sau kế thừa và phát triển Đến thời Chiến quốc (280 - 233 trước công nguyên), kinh tế khá phát triển song lại kém ổn định về chính trị - xã hội, Hàn Phi Tử đã chủ xướng tư tưởng pháp trị, coi trọng pháp chế nghiêm khắc và đề cao thuật dùng người Đó là tư tưởng duy lý, duy lợi được tái hiện sau hơn 2000 năm ở phương Tây trong triết lý “Con người kinh tế”
Trang 17Giáo dục và đào tạo có vị trí, vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc Nhiều quốc gia trên thế giới đã đạt được những thành tựu to lớn trong quá trình phát triển nhờ sớm coi trọng vai trò của giáo dục và đào tạo như Nhật Bản với quan điểm coi Giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu; cần kết hợp hài hoà giữa bản sắc văn hóa lâu đời phương Đông với những tri thức Phương Tây hiện đại; Singapore với phương châm: Thắng trong cuộc đua về giáo dục sẽ thắng trong cuộc đua về phát triển kinh tế; cường quốc
Mỹ cũng luôn chú trọng đến việc: Tập trung cho đầu tư giáo dục - đào tạo và thu hút nhân tài; Liên xô trước đây cũng đã khẳng định: Chính sách về con người là điểm bắt đầu và là điểm kết thúc của mọi chính sách kinh tế - xã hội
Với sự phát triển thương mại (thế kỷ XVI) và cách mạng công nghiệp ở châu
Âu (thế kỷ XVIII), hoạt động quản lý được tách ra thành một chức năng riêng như một nghề chuyên nghiệp từ sự phân công lao động xã hội Quản lý từng bước tách
ra khỏi triết học để trở thành một khoa học độc lập, khoa học quản lý
Đã có rất nhiều công trình tiêu biểu trong và ngoài nước nghiên cứu lý luận về quản lý nói chung và quản lý trong lĩnh vực GD và Đào tạo nói riêng như: Rober Owen, Chaler Babbage, H Fayol, W Taylor, các công trình nghiên cứu của các nhà GD Nga như P.V.Zimin, M.I.K.Konđacôp, N.I.Saxerđôtôp đi sâu nghiên cứu Những vấn đề về quản lý trường học; M.I.Cônđacốp - Cơ sở lý luận khoa học quản lý giáo dục…
1.1.2 Nghiên cứu trong nước
Sinh thời, chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng căn dặn thế hệ trẻ Việt Nam:
Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang sánh vai cùng các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em Lời dạy của Người chứa
đựng toàn bộ giá trị chân lý của thời đại mang tên Người Để không bị tụt hậu,
để xây dựng và phát triển thành công một đất nước độc lập tự do theo định hướng xã hội chủ nghĩa thì rất cần phải nhận thức rõ hơn nữa vị trí và vai trò của giáo dục và đào tạo
Trang 18Ngay từ khi giành được chính quyền (tháng 8/1945), Đảng và Nhà nước ta
đã rất quan tâm đến giáo dục, coi sự dốt nát nguy hiểm như giặc ngoại xâm, ngày nay càng coi trọng giáo dục hơn, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành trung ương Đảng khoá VIII đã khẳng định: “Phải thực sự coi giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu”[10] toàn xã hội chăm lo đến sự nghiệp giáo dục Giáo dục ngày nay được coi là nền tảng cho sự phát triển khoa học kỹ thuật, là cội nguồn để dân giàu - nước mạnh - xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Trong thư gửi ngành giáo dục nhân ngày khai trường năm học mới 2013-2014, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã nhắn gửi các em học sinh: Các em là những chủ nhân tương lai của đất nước Tôi mong các em chăm chỉ học tập, rèn luyện và tích cực tham gia các hoạt động xã hội, sử dụng thời gian quý giá trong quãng đời học sinh, sinh viên để chuẩn
bị tốt hành trang lập thân, lập nghiệp, sau này phụng sự quê hương, đất nước
Nhận thức được vai trò to lớn của giáo dục trong tiến trình xây dựng và phát triển đất nước, các nhà nghiên cứu giáo dục trong và ngoài nước đã có nhiều công trình nghiên cứu về lý luận giáo dục, đặc biệt là về quản lý giáo dục: Trần Kiểm - Những vấn đề cơ bản của khoa học quản lý giáo dục; Khoa học quản lý nhà trường phổ thông; Đặng Quốc Bảo - Một số khái niệm về quản
lý giáo dục - đào tạo; Các công trình trên cung cấp cho các nhà quản lý giáo dục các cấp về lý luận cũng như thực tiễn quản lý giáo dục, quản lý nhà trường
Về quản lý nhà trường, các tác giả đã nêu lên những nguyên tắc chung của việc quản lý hoạt động dạy - học, từ đó chỉ rõ một số biện pháp quản lý nhà trường Một trong số các biện pháp hữu hiệu để duy trì, điều chỉnh hoạt động của hệ quản lý đi đúng mục tiêu, kế hoạch đó là các biện pháp kiểm tra, thanh tra, đánh giá kết quả công việc trong từng giai đoạn nhất định
Tác giả Hà Sỹ Hồ đã khẳng định: "Chức năng kiểm tra đặc biệt quan
trọng vì quá trình quản lý đòi hỏi những thông tin chính xác, kịp thời về thực trạng của đối tượng quản lý, về việc thực hiện các quyết định đã đề ra, tức là
Trang 19đòi hỏi những liên hệ ngược chính xác, vững chắc giữa các phân hệ quản lý…Quản lý mà không kiểm tra thì quản lý sẽ ít hiệu quả và trở thành quản lý quan liêu" [19]
Theo Nguyễn Ngọc Quang trong cuốn "Những khái niệm cơ bản về lý
luận, quản lý giáo dục" cho rằng: «Quá trình quản lý diễn ra qua năm giai
đoạn: chuẩn bị kế hoạch hoá; kế hoạch hoá; tổ chức; chỉ đạo và kiểm tra, trong đó, giai đoạn 5 - kiểm tra, là giai đoạn cuối cùng, kết thúc một chu trình quản lý Kiểm tra giúp cho việc chuẩn bị tích cực cho kỳ kế hoạch tiếp theo Kiểm tra tốt, đánh giá được sâu sắc và chuẩn bị trạng thái cuối cùng của hệ (nhà trường) thì đến kỳ kế hoạch (năm học) tiếp theo việc soạn thảo kế hoạch năm học mới sẽ thuận lợi, kế thừa được các mặt mạnh để tiếp tục phát huy, phát hiện được lệch lạc để uốn nắn, loại trừ » [28] Tác giả kết luận: "Như vậy, theo lý thuyết xibecnêtic, kiểm tra giữ vai trò liên hệ nghịch trong quá trình quản lý Nó giúp cho chủ thể quản lý điều khiển một cách tối ưu hệ quản lý Không có kiểm tra, không có quản lý"[28] Hiện nay các văn bản pháp quy đề
cập đến hoạt động kiểm tra nội bộ trường học chưa nhiều, các văn bản chỉ đạo của cơ quan quản lý giáo dục các cấp liên quan đến hoạt động thanh tra, kiểm tra giáo dục mới chủ yếu tập trung đề cập đến các hoạt động thanh tra giáo dục (Hướng dẫn thi hành Luật thanh tra; Nghị định của Chính phủ về thanh tra Giáo dục, Thông tư của Bộ GD-ĐT hướng dẫn thi hành Nghị định của Chính phủ về thanh tra Giáo dục, Hướng dẫn của Bộ giáo dục và đào tạo về công tác thanh tra từng năm học…), chưa có nhiều nội dung chỉ đạo, hướng dẫn nội dung, quy trình, cách thức tổ chức hoạt động kiểm tra nội bộ của các cơ sở giáo dục vì vậy việc tổ chức tập huấn, triển khai công tác kiểm tra nội bộ tới các nhà trường gặp không ít khó khăn Tính đến nay đã có một số đồng nghiệp có đề tài nghiên cứu về công tác kiểm tra nội bộ trường học như: Nguyễn Ngọc Huynh với đề tài « Một số giải pháp quản lý nâng cao chất lượng hoạt động kiểm tra nội bộ trường Trung học cơ sở ở huyện Quan Sơn Thanh Hóa »; Lại Thị Thanh Huyền
Trang 20với đề tài «Quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ ở các trường tiểu học thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc»; các tác giả đã đề cập đến một số vấn đề chung
về công tác thanh tra giáo dục, kiểm tra nội bộ trường học và các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ tại cơ sở giáo dục Những tài liệu đã dẫn viết về công tác thanh tra, kiểm tra, đánh giá trong giáo dục của các nhà nghiên cứu lý luận giáo dục; những đề tài của các đồng nghiệp đi trước là những tư liệu quý, thiết thực giúp chúng tôi tham khảo trong quá trình thực hiện đề tài này Vấn đề nghiên cứu “Quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ ở các trường THCS huyện Hưng Hà tỉnh Thái Bình theo yêu cầu đổi mới giáo dục” là bước tiếp tục làm phong phú thêm lý luận về quản lý
GD, đồng thời cũng là để đề ra các biện pháp cụ thể nhằm nâng cao chất lượng
GD của huyện Hưng Hà, góp phần thực hiện thắng lợi nghị quyết 29/NQ-TƯ Hội nghị BCH TW lần thứ VIII khóa XI đã đề ra
1.2 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài
1.2.1 Quản lý
Có rất nhiều định nghĩa và cách diễn đạt khác nhau về quản lý: Trần
Kiểm trong cuốn Những vấn đề cơ bản của khoa học quản lý giáo dục đã viết
“Quản lý là nghệ thuật hoàn thành công việc thông qua người khác”[20];
“Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra công tác của các
thành viên trong tổ chức và sử dụng mọi nguồn lực sẵn có của tổ chức để đạt
những mục tiêu của tổ chức” [20]
Theo F.W Taylor (1856 - 1915), quản lý là biết chính xác các điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất
Theo James Stiner, quản lý là tiến trình hoạch định, tổ chức, lãnh đạo
và kiểm soát những hoạt động của các thành viên trong tổ chức và sử dụng tất cả các nguồn lực khác của tổ chức nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra
Trang 21Theo Harold Koontz, trong tác phẩm "Những vấn đề cốt yếu của quản lý",
"Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó bảo đảm phối hợp những nỗ lực cá nhân
nhằm đạt được các mục đích của nhóm Mục tiêu của của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất"[16]
Theo Từ điển Tiếng việt của Viện Ngôn ngữ học do nhà xuất bản Giáo dục
xuất bản năm 1994: “Quản lý là trông coi, giữ gìn theo những yêu cầu nhất định,
là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những điều kiện nhất định” [35]
Theo Trần Quốc Thành: “Quản lý là quá trình tác động có ý thức của chủ
thể vào một bộ máy (đối tượng quản lý) bằng cách vạch ra mục tiêu cho bộ máy, tìm kiếm các biện pháp tác động để bộ máy đạt tới mục tiêu đã xác định”[32]
Quản lý bao gồm các yếu tố như: phải có chủ thể quản lý, có vai trò đề ra mục tiêu, tạo ra tác động đến đối tượng quản lý và khách thể quản lý (đối tượng quản lý), là những bộ phận tiếp nhận tác động quản lý Bên cạnh đó phải xác định được mục tiêu quản lý và trên cơ sở đó, chủ thể quản lý tạo ra các tác động tới đối tượng quản lý bằng một quy trình cụ thể để đạt mục tiêu Chủ thể quản lý tạo ra các tác động lên đối tượng quản lý; còn đối tượng quản lý tự vận động để tạo ra các giá trị vật chất, tinh thần có giá trị sử dụng để đáp ứng với mục tiêu của quản lý Nói cách khác, quản lý là một quá trình cùng làm việc giữa nhà quản lý với người bị quản lý thông qua hoạt động của cá nhân, của nhóm huy động các nguồn lực khác để đạt mục tiêu của nhóm
Mỗi khái niệm nêu trên đều có một cách tiếp cận và trình bày khác nhau
về vấn đề quản lý nhưng có thể khái quát: Quản lý là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý trong tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt được mục tiêu đề ra Hay nói một cách khác: Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng việc thực hiện các chức năng quản lý, lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra
Trang 22Theo Trần Khánh Đức “Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có kế
hoạch, có ý thức, có mục đích của các chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống nhằm đảm bảo việc giáo dục cộng sản chủ nghĩa cho thế hệ trẻ, đảm bảo sự phát triển toàn diện và hài hòa của họ trên cơ sở nhận thức và sử dụng các quy luật của giáo dục, của sự phát triển cũng như các quy luật khách quan của quá trình dạy học và giáo dục, của sự phát triển thể chất và tâm lý của trẻ em”[12]
Quản lý giáo dục là những tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức
và hướng đích của chủ thể quản lý ở mọi cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của toàn bộ hệ thống nhằm mục đích đảm bảo sự hình thành nhân cách cho thế
hệ trẻ trên cơ sở quy luật của quá trình giáo dục về sự phát triển thể lực, trí lực
và tâm lực trẻ em
Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lý, nhằm làm cho hệ thống vận hành theo đường lối giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của Nhà trường Xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục đến mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất
Trang 23Theo Trần Kiểm thuật ngữ quản lí giáo dục có ít nhất có 2 cấp độ: Vĩ mô
và cấp vi mô
- Đối với cấp vĩ mô:
+ Quản lí giáo dục được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tất
cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu của xã hội Hoặc:
+ Quản lý giáo dục là sự tác động liên tục, có tổ chức, có hướng đích của
chủ thể quản lý lên hệ thống giáo dục nhằm tạo ra tính trội/ tính trồi (emergence)
của hệ thống; sử dụng một cách tối ưu các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống nhằm đưa hệ thống đến mục tiêu một cách tốt nhất trong điều kiện bảo đảm sự cân bằng với môi trường bên ngoài luôn luôn biến động Hoặc:
+ Quản lý giáo dục là hoạt động tự giác của chủ thể quản lý nhằm huy động, tổ chức, điều phối, điều chỉnh, giám sát,… một cách có hiệu quả các nguồn lực giáo dục (nhân lực, vật lực, tài lực) phục vụ cho mục tiêu phát triển giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội
- Đối với cấp vi mô:
+ Quản lý vi mô là quản lý hoạt động giáo dục trong nhà trường bao gồm
hệ thống những tác động có hướng đích của hiệu trưởng dến các hoạt động giáo dục, đến con người (giáo viên, cán bộ nhân viên, học sinh), đến các nguồn lực (cơ sở vật chất, tài chính, thông tin …) đến các ảnh hưởng ngoài nhà trường một các hợp quy luật (quy luật quản lý, quy luật giáo dục, quy luật tâm lý, quy luật kinh tế, quy luật xã hội ) nhằm đạt mục tiêu giáo dục
+ Quản lý giáo dục được hiểu là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý, đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường
Trang 24Đối với đất nước ta hiện nay có thể hiểu: Quản lý giáo dục là những tác động có hệ thống, có ý thức, hợp quy luật của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống giáo dục nhằm đảm bảo cho hệ thống giáo dục vận hành bình thường và liên tục phát triển, mở rộng cả về số lượng cũng như chất lượng, thực hiện mục tiêu của nền giáo dục: nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước
1.2.3 Quản lý Nhà trường
Ở góc độ vi mô, chủ thể quản lý giáo dục là chủ thể quản lý nhà trường, đối tượng của quản lý là các quá trình dạy học, giáo dục và các thành tố tham gia vào các quá trình đó (giáo viên, học sinh, các lực lượng khác, cơ sở vật chất, tài chính )
Theo Trần Kiểm: „„Quản lý Nhà trường thực chất là việc xác định vị trí
của mỗi người trong hệ thống xã hội, quy định chức năng, quyền hạn, nhiệm
vụ, quan hệ cùng vai trò xã hội của họ mà trước hết là trong phạm vi Nhà trường với tư cách là một tổ chức xã hội’’[20]
Theo Phạm Minh Hạc: „„Quản lý Nhà trường là thực hiện đường lối giáo
dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa Nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và từng học sinh’‟[13]
Có thể thấy Quản lý nhà trường ở Việt Nam là hệ thống các tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhà trường là cho nhà trường vận hành theo đường lối, quan điểm giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học
- giáo dục, đưa nhà trường tới mục tiêu dự kiến tiến lên trạng thái mới về chất, góp phần thực hiện mục tiêu chung của giáo dục là hình thành, phát triển nhân cách người học theo yêu cầu của xã hội
- Quản lý Nhà trường bao gồm các nội dung:
+ Quản lý toàn bộ cơ sở vật chất và thiết bị nhà trường nhằm phục vụ tốt nhất cho việc giảng dạy, học tập và giáo dục học sinh Quản lý tốt CSVC không
Trang 25đơn thuần chỉ là bảo quản tốt, mà phải phát huy tốt giá trị của chúng cho dạy học và giáo dục Quản lý tốt còn làm sao để có thể thường xuyên bổ sung thêm những thiết bị mới, chuẩn hóa, hiện đại và có giá trị sử dụng cao
+ Quản lý tốt nguồn tài chính hiện có của Nhà trường theo đúng nguyên tắc quản lý tài chính của Nhà nước và của ngành giáo dục Đồng thời biết động viên thu hút các nguồn tài chính khác nhằm xây dựng CSVC, mua sắm thiết bị phục vụ cho các hoạt động giáo dục và dạy học
+ Tổ chức đội ngũ các thầy giáo, cán bộ công nhân viên và tập thể HS thực hiện tốt các nhiệm vụ trong chương trình công tác của Nhà trường Động viên, giáo dục tập thể sư phạm thành một tập thể đoàn kết, nhất trí, gương mẫu
và hợp tác, tương trợ nhau trong công việc Giáo dục học sinh phấn đấu học tập
và tu dưỡng trở thành những công dân ưu tú
+ Chỉ đạo tốt các Hoạt động giáo dục theo chương trình giáo dục của Bộ GD&ĐT, của cơ quan QLGD các cấp
+ Quản lý hoạt động học tập của học sinh theo quy chế của Bộ Giáo dục
và Đào tạo Trong đó, quản lý thời gian và chất lượng học tập, quản lý thái độ
và phương pháp học tập của học sinh
Tóm lại: Quản lý Nhà trường là quản lý các lĩnh vực: quản lý chuyên môn, quản lý tổ chức nhân sự, quản lý CSVC tài chính và quản lý môi trường giáo dục, quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá
1.2.4 Quản lý trường THCS
1.2.4.1 Mục tiên giáo dục của trường THCS
Theo Luật giáo dục 2005, giáo dục THCS là một cấp học nằm trong phân
hệ giáo dục phổ thông giáo dục THCS được thực hiện trong bốn năm học, từ lớp sáu đến lớp chín Học sinh vào học lớp sáu phải hoàn thành chương trình Tiểu học, có độ tuổi là 11 tuổi [30]
Điều 2 chương I Điều lệ trường phổ thông đã quy định rõ vị trí: “Trường
trung học là cơ sở giáo dục của bậc trung học, bậc học nối tiếp bậc Tiểu học của hệ thống giáo dục quốc dân nhằm hoàn chỉnh học vấn phổ thông, trường Trung học có tư cách pháp nhân và có con dấu riêng”[3]
Trang 26Trường THCS là đơn vị cơ sở chịu sự quản lý và chỉ đạo trực tiếp của Phòng giáo dục và đào tạo Trường THCS là một cấp học tương đối độc lập, là cầu nối giữa hai bậc học, tiếp nhận kết quả giáo dục của bậc Tiểu học để thực hiện nhiệm vụ của mình, xây dựng bước đầu cho giáo dục trung học phổ thông
Mục tiêu của giáo dục THCS nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục tiểu học; có học vấn phổ thông ở trình độ cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học trung học phổ thông, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động
1.2.4.2 Nhiệm vụ của trường THCS
Điều 3 chương 1, Điều lệ Trường THCS, trường Trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học ban hành kèm theo thông tư 12/2011/TT-BGDĐT ngày 28/3/2011 của Bộ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo Nhiệm vụ và quyền hạn của trường trung học được quy định:
"- Tổ chức giảng dạy học tập và các hoạt động giáo dục khác theo mục tiêu, chương trình giáo dục phổ thông dành cho cấp THCS và cấp trung học phổ thông do Bộ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo ban hành Công khai mục tiêu, nội dung các hoạt động giáo dục, nguồn lực tài chính, kết quả đánh giá chất lượng giáo dục
- Quản lý giáo viên, cán bộ nhân viên theo quy định của pháp luật
- Tuyển sinh và tiếp nhận học sinh; vận động học sinh đến trường; quản
lý học sinh theo quy định của Bộ giáo dục và đào tạo
- Thực hiện phổ cập giáo dục trong phạm vi được phân công
- Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực cho hoạt động giáo dục Phối hợp với gia đình học sinh, tổ chức và cá nhân trong hoạt động giáo dục
- Quản lý, sử dụng và bảo quản cơ sở vật chất, trang thiết bị theo quy định của nhà nước
- Tổ chức cho giáo viên, nhân viên, học sinh tham gia các hoạt động xã hội
- Thực hiện các hoạt động về kiểm định chất lượng giáo dục
- Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật" [3]
Trang 271.2.4.3 Hiệu trưởng và quản lý trường THCS
Theo Trần Kiểm: xét về bản chất, quản lý con người trong nhà trường là tổ chức một cách hợp lý lao động của giáo viên và học sinh, là tác động đến họ sao cho hành vi, hoạt động của họ đáp ứng được yêu cầu của việc đào tạo con người
Theo Kiều Nam “Hiệu trưởng là thủ trưởng của Nhà trường là người tổ chức
chính quá trình dạy học Với tư cách vừa là nhà giáo dục vừa là nhà quản lý, Hiệu trưởng có trách nhiệm bảo đảm sự phát triển toàn bộ công tác Nhà trường” [23]
Theo Điều 19 mục 1, Điều lệ Trường THCS, trường Trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học Nhiệm vụ và quyền hạn của Hiệu trưởng được quy định:
"- Xây dựng, tổ chức bộ máy Nhà trường
- Thực hiện các quyết nghị của Hội đồng trường
- Xây dựng quy hoạch phát triển Nhà trường; xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch nhiệm vụ năm học; báo cáo, đánh giá kết quả thực hiện trước Hội đồng trường và các cấp có thẩm quyền
- Thành lập các tổ chuyên môn, tổ văn phòng và các hội đồng tư vấn trong Nhà trường; bổ nhiệm tổ trưởng, tổ phó; đề xuất các thành viên của Hội đồng trường trình cấp có thẩm quyền quyết định
- Quản lý giáo viên, nhân viên; quản lý chuyên môn; phân công công tác, kiểm tra, đánh giá xếp loại giáo viên, nhân viên; thực hiện công tác khen thưởng, kỉ luật đối với giáo viên, nhân viên; thực hiện việc tuyển dụng giáo viên, nhân viên; ký hợp đồng lao động; tiếp nhận, điều động giáo viên, nhân viên theo quy định của Nhà nước
- Quản lý học sinh và các hoạt động của học sinh do Nhà trường tổ chức; xét duyệt kết quả đánh giá, xếp loại học sinh, ký xác nhận học bạ, ký xác nhận hoàn thành chương trình Tiểu học cho học sinh Tiểu học (nếu có) của trường phổ thông có nhiều cấp học và quyết định khen thưởng, kỷ luật học sinh
Trang 28- Quản lý tài chính, tài sản của Nhà trường
- Thực hiện các chế độ chính sách của Nhà nước đối với giáo viên, nhân viên, học sinh; tổ chức thực hiện quy chế dân chủ trong hoạt động của Nhà trường; thực hiện công tác xã hội hoá giáo dục của Nhà trường
- Chỉ đạo thực hiện các phong trào thi đua, các cuộc vận động của ngành; thực hiện công khai đối với Nhà trường
- Được đào tạo nâng cao trình độ, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ và hưởng các chế độ, chính sách theo quy định của pháp luật
- Chịu trách nhiệm trước cấp trên về toàn bộ những nhiệm vụ được giao"[3]
1.3 Cơ sở lý luận quản lý kiểm tra nội bộ trường học
1.3.1 Kiểm tra nội bộ trường học
1.3.1.1 Kiểm tra nội bộ
- Kiểm tra là xem xét thực chất, thực tế sự việc; là quá trình đo nghiệm giữa mục tiêu đề ra với trình độ đạt thực chất trên thực tế của đối tượng nhằm thu nhận thông tin ngược dựa trên cơ sở đó có thể điều khiển, điều chỉnh quá trình dạy học, giáo dục và quá trình quản lý Đồng thời thông qua kết quả kiểm tra có thể giúp người dạy, người học và khách thể quản lý tự điều khiển, điều chỉnh quá trình học tập, công tác của mình
Với khái niệm trên, kiểm tra là quá trình: Thu thập thông tin ngược; Tạo lập kênh thông tin phản hồi; Điều chỉnh thông tin; Tự điều chỉnh thông
tin của đối tượng
Kiểm tra nội bộ là việc điều tra, theo dõi, xem xét, kiểm soát, phát hiện, kiểm nghiệm diễn biến và kết quả các hoạt động trong phạm vi nội bộ cơ quan đơn vị được thực hiện bởi ban kiểm tra nội bộ, đối chiếu, so sánh các kết quả thực tế với kết quả dự kiến phải đạt được theo kế hoạch, qua đó có thể điều khiển, điều chỉnh quá trình quản lý nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả quản
lý trong đơn vị
Trang 291.3.1.2 Kiểm tra nội bộ trường học
Kiểm tra nội bộ trường học là hoạt động nghiệp vụ quản lý của người hiệu trưởng (thủ trưởng cơ sở giáo dục) nhằm điều tra, theo dõi, xem xét, kiểm soát, phát hiện, kiểm nghiệm sự diễn biến và kết quả các hoạt động giáo dục trong phạm vi nội bộ nhà trường hay trong nội bộ cơ sở giáo dục và đánh giá kết quả các hoạt động giáo dục có phù hợp với mục tiêu, kế hoạch, chuẩn mực, quy chế đề ra hay không ? Qua đó kịp thời động viên, khích lệ các mặt tốt, điều chỉnh, uốn nắn những mặt chưa đạt chuẩn nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục - đào tạo của nhà trường, của cơ sở giáo dục
Hoạt động kiểm tra nội bộ trường học đã được quy định tại điều 22 Quyết định 478/QĐ của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, ngày 11-3-1993 về việc ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của hệ thống thanh tra giáo dục và
đào tạo: «Hiệu trưởng các trường, Thủ trưởng các cơ sở giáo dục, đào tạo
trong ngành có trách nhiệm sử dụng bộ máy quản lý và các cán bộ trong đơn vị
để kiểm tra việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, kế hoạch của cá nhân và các bộ phận thuộc quyền xét và giải quyết các khiếu nại, tố cáo về các vấn đề thuộc trách nhiệm quản lý của mình
Các hoạt động kiểm tra được thực hiện thường xuyên, công khai, dân chủ; kết quả kiểm tra được ghi nhận bằng văn bản và được lưu trữ Hiệu trưởng hay thủ trưởng phải chịu trách nhiệm về các kết luận kiểm tra này Trường hợp cần thiết, Hiệu trưởng hay Thủ trưởng đơn vị lập tổ kiểm tra để tiến hành kiểm tra
Ở các trường và các đơn vị có nhiều cán bộ giáo viên, công nhân viên, Hiệu trưởng hay Thủ trưởng đơn vị cử một cán bộ chuyên trách hay kiêm nhiệm làm trợ lý giải quyết khiếu nại, tố cáo
Hiệu trưởng các trường phổ thông, các trường và các cơ sở giáo dục Mầm non tổ chức kiểm tra định kỳ các giáo viên của trường» [24]
Trang 301.3.2 Đối tượng, mục đích kiểm tra nội bộ trường học
1.3.2.1 Đối tượng kiểm tra nội bộ trường học
Đối tượng kiểm tra nội bộ của nhà trường bao gồm: Hoạt động tổ chức, quản lý của đơn vị; hoạt động sư phạm của giáo viên, cán bộ công chức, viên chức, nhân viên trong đơn vị; hoạt động học tập, rèn luyện của người học về các mặt: tri thức, kỹ năng, thái độ, tình cảm…; kiểm tra về tổ chức, quản lý cơ
sở vật chất kỹ thuật, tài chính của đơn vị; mối tương tác giữa các thành tố trong quá trình dạy học: Mục đích, nhiệm vụ dạy học, nội dung dạy học, phương pháp phương tiện dạy học, hình thức tổ chức dạy học, giáo viên, học sinh, kết quả
1.3.2.2 Mục đích kiểm tra nội bộ trường học
Hoạt động KTNB trường học phải đảm bảo tính thường xuyên, toàn diện, trực tiếp đến đối tượng:
- Đối với giáo viên, thông qua việc kiểm tra theo kế hoạch hoặc kiểm tra thường xuyên, nhà trường đánh giá được thực trạng năng lực của mỗi cá nhân
từ đó tư vấn, thúc đẩy, giúp đỡ đội ngũ từng bước hoàn thiện năng lực sư phạm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục
- Đối với các tổ chức, bộ phận trong nhà trường, thông qua việc kiểm tra các nội dung, đối chiếu với các quy định để Hiệu trưởng đánh giá mức độ thực hiện nhiệm vụ từ đó điều chỉnh kế hoạch, tư vấn, thúc đẩy các cá nhân, tập thể; hiệu trưởng tự kiểm tra và tự điều chỉnh quá trình công tác…góp phần thực hiện các nhiệm vụ, hoàn thành mục tiêu, nhiệm vụ được giao của nhà trường
Hoạt động KTNB trường học tại cơ sở phải được thực hiện trên nguyên tắc: Thủ trưởng vừa là chủ thể kiểm tra (kiểm tra cấp dưới theo chức năng nhiệm vụ quản lý nhà nước về giáo dục, tự kiểm tra) vừa là đối tượng kiểm tra (công khai hoá các hoạt động, các thông tin quản lý nhà trường để tổ KTNB trường học kiểm tra)
Trang 311.3.3 Chức năng, nhiệm vụ kiểm tra nội bộ trường học
1.3.3.1 Chức năng kiểm tra nội bộ trường học
- Tạo lập kênh thông tin phản hồi vững chắc, cung cấp thông tin đã được
xử lý chính xác để hiệu trưởng thực hiện hoạt động quản lý có hiệu quả;
- Kiểm soát, phát hiện và phòng ngừa những sai phạm có thể xảy ra;
- Động viên, phê phán, uốn nắn, điều chỉnh, giúp đỡ;
- Đánh giá và xử lý cần thiết;
1.3.3.2 Nhiệm vụ kiểm tra nội bộ trường học
Hoạt động kiểm tra có 4 nhiệm vụ cơ bản: Kiểm tra, đánh giá, tư vấn và thúc đẩy
- Kiểm tra: Là xem xét việc thực hiện nhiệm vụ của đối tượng kiểm tra
so với các quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật và các hướng dẫn của các cấp quản lý
- Đánh giá: Là xác định mức độ đạt được trong việc thực hiện các nhiệm vụ theo quy định, phù hợp với bối cảnh và đối tượng để xếp loại đối tượng kiểm tra
- Tư vấn: Là nêu được những nhận xét, gợi ý giúp cho đối tượng kiểm tra thực hiện ngày càng tốt hơn nhiệm vụ của mình
- Thúc đẩy: Là hoạt động kích thích, phát hiện, phổ biến các kinh nghiệm tốt, những định hướng mới và kiến nghị với các cấp quản lý nhằm hoàn thiện dần hoạt động của đối tượng kiểm tra, góp phần phát triển hệ thống giáo dục quốc dân
1.3.4 Nội dung kiểm tra nội bộ trường học
- Về tổ chức cơ sở giáo dục:
Số lượng, chất lượng cán bộ quản lý, nhà giáo, nhân viên đối chiếu với định mức; số lượng và tỷ lệ cán bộ, nhà giáo chưa đạt chuẩn, đạt chuẩn, trên chuẩn; công tác đào tạo, bồi dưỡng
- Về cơ sở vật chất kỹ thuật:
+ Diện tích khuôn viên, cảnh quan, môi trường sư phạm; số lượng phòng học, phòng làm việc, phòng thí nghiệm thực hành, phòng bộ môn, thư viện, phòng đa chức năng, phòng y tế, bếp ăn tập thể, khu nội trú, bán trú, khu vực để
xe, vệ sinh, sân chơi, bãi tập, nhà đa chức năng;
Trang 32+ Trang thiết bị dạy học, sách thư viện;
+ Việc bảo quản và sử dụng cơ sở vật chất kỹ thuật
- Về thực hiện kế hoạch giáo dục:
+ Tuyển sinh: thực hiện chỉ tiêu, số lượng học sinh từng khối, lớp;
+ Tổ chức giảng dạy, học tập, thực hiện chương trình, nội dung, kế hoạch dạy học;
+ Thực hiện quy chế chuyên môn về kiểm tra, thi, đánh giá xếp loại học lực học sinh;
+ Xác nhận hoặc cấp văn bằng, chứng chỉ của cơ sở giáo dục;
+ Hoạt động sư phạm của nhà giáo;
+ Thực hiện nội dung, chương trình giáo dục đạo đức, thẩm mỹ, thể chất, quốc phòng, lao động hướng nghiệp, dạy nghề, chăm sóc, nuôi dưỡng theo quy định bao gồm hoạt động theo kế hoạch lên lớp, ngoài giờ, hoạt động xã hội;
+ Thực hiện nhiệm vụ phổ cập giáo dục được giao
- Hiệu trưởng tự kiểm tra, đánh giá nề lối làm việc, phong cách tổ chức
và quản lý của chính mình ở một số nội dung sau:
+ Xây dựng kế hoạch giáo dục; kế hoạch nghiên cứu khoa học, phục vụ
xã hội;
+ Quản lý cán bộ, nhà giáo, nhân viên và người học: tuyển dụng; quản lý
hồ sơ nhà giáo, cán bộ, nhân viên, người học; việc bố trí, sử dụng; kế hoạch bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo;
+ Thực hiện quy chế dân chủ, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong cơ sở giáo dục;
+ Công tác kiểm tra của thủ trưởng cơ sở giáo dục theo quy định;
+ Tổ chức cho nhà giáo, cán bộ, nhân viên và người học tham gia các hoạt động xã hội; thực hiện chế độ chính sách đối với nhà giáo và người học;
+ Quản lý hành chính, tài chính, tài sản: hồ sơ, sổ sách; thu chi và sử dụng các nguồn tài chính; đầu tư xây dựng, sử dụng cơ sở vật chất kỹ thuật, bảo quản tài sản công;
Trang 33+ Công tác tham mưu với cơ quan quản lý cấp trên, với chính quyền địa phương và công tác xã hội hóa giáo dục;
+ Phối hợp công tác giữa cơ sở giáo dục với các đoàn thể quần chúng, Ban đại diện cha mẹ học sinh
1.3.5 Nguyên tắc kiểm tra nội bộ trường học
- Nguyên tắc pháp chế: Phải dựa trên chuẩn mực có tính pháp quy, các
kế hoạch hay nghị quyết của tập thể, các quy định của nhà trường Không ai có thể can thiệp và không thể có tuỳ tiện trong tổ chức và hoạt động kiểm tra
- Nguyên tắc tập trung dân chủ: Nguyên tắc tập trung dân chủ được quán triệt trong kiểm tra, Hiệu trưởng có quyền quyết định chương trình, kế hoạch kiểm tra và có quyền phủ quyết những kết luận của những bộ phận, cá nhân tham gia lực lượng kiểm tra Mặt khác đối tượng kiểm tra có quyền khiếu nại,
đề xuất, kiến nghị để hiệu trưởng xem xét giải quyết, có quyền bảo lưu ý kiến của mình khi hiệu trưởng đưa ra kết luận cuối cùng, tuy nhiên vẫn phải thực hiện kết luận của hiệu trưởng
- Nguyên tắc khách quan: Kiểm tra phải bảo đảm tính khách quan, trung thực công khai, công bằng Việc đánh giá kết quả kiểm tra phải căn cứ vào các chuẩn mực đã quy định và có các minh chứng cụ thể, xác đáng, tránh áp đặt quan điểm chủ quan, cảm tính của người kiểm tra
- Nguyên tắc hiệu quả: Công tác kiểm tra nội bộ được tiến hành thường xuyên trong cả năm học, kiểm tra toàn diện các lĩnh vực quản lý, vì vậy yêu cầu của việc kiểm tra nội bộ là phải đảm bảo tốn ít thời gian, nhân lực nhưng vẫn phát hiện và giải quyết được vấn đề và thúc đẩy các hoạt động phát triển theo chiều hướng tiến bộ
- Nguyên tắc kế hoạch hóa: Hoạt động KTNB phải được xác định trong toàn bộ năm học hỗ trợ tích cực cho việc triển khai các chức năng quản lý khác Mặt khác kiểm tra phải có kế hoạch triển khai cụ thể phù hợp với từng giai đoạn nhằm đạt tới mục tiêu đề ra
Trang 34- Nguyên tắc giáo dục: Mục đích của kiểm tra nhằm giúp đỡ, động viên giáo dục con người, người kiểm tra cần hiểu đối tượng, phải có uy tín, năng lực, nhằm giúp đối tượng tiến bộ
- Nguyên tắc chủ động: Kiểm tra cần phải được thực hiện trên cơ sở kế hoạch xây dựng, có các phương án kiểm tra và dự kiến các tình huống, các biện pháp xử lý, tránh tình trạng bị động dẫn đến lúng túng trong việc thực hiện hoạt động kiểm tra
1.3.6 Phương pháp kiểm tra nội bộ trường học
- Dự giờ là phương pháp đặc trưng của kiểm tra hoạt động sư phạm của giáo viên Căn cứ vào thời khóa biểu và chuyên môn đào tạo của giáo viên xác định số giờ dự, môn dự và thông báo cho cán bộ, giáo viên biết trước Quan sát giờ dạy trên lớp; ghi lại các hoạt động giảng dạy của thầy, hoạt động học tập của trò và các mối quan hệ trong hoạt động dạy học; ghi nhận các thông tin, các tình huống xảy ra trong tiết dạy Khảo sát kết quả học tập của học sinh để đánh giá kết quả, hiệu quả giờ dạy
- Kiểm tra hệ thống hồ sơ minh chứng cho các hoạt động chuyên môn của giáo viên
- Trao đổi, đàm thoại trực tiếp với giáo viên về các nội dung kiểm tra
- Kiểm tra thông qua việc tham gia hoạt động học của học sinh qua các giờ học hoặc hoạt động Xem xét mức độ tiếp thu nắm vững bài học tại lớp của học sinh thông qua kết kiểm tra của giáo viên đầu giờ hoặc trong tiết dạy
- Kiểm tra vở ghi của học sinh, xem các bài kiểm tra mà giáo viên đã chấm; thống kê kết quả kiểm tra của học sinh, so sánh với các lớp khác cùng môn/cùng khối
- Kiểm tra kỹ năng của học sinh trong việc làm bài tập, hoạt động hợp tác nhóm và các hoạt động tập thể khác
Trong quá trình dự các hoạt động này, người kiểm tra quan sát mức độ
và hiệu quả việc tham gia của học sinh vào các hoạt động
Trang 351.3.7 Quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ trường học
Quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ được hiểu là những tác động có hệ thống, khoa học, có ý thức và có mục tiêu của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý là quá trình kiểm tra ở các cơ sở giáo dục Quá trình quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ trường học gồm 4 giai đoạn cơ bản sau:
Giai đoạn 1 Xác định nhu cầu quản lý hoạt động kiểm tra: Xác định nhu cầu quản lý hoạt động kiểm tra chính là xác định cái đã có, cái đang diễn ra và cái phải có trong tương lai Từ đó đặt ra những nội dung và hoạt động quản lý kiểm tra cần thiết
Giai đoạn 2 Xây dựng kế hoạch quản lý hoạt động kiểm tra: Chính là thiết kế một tương lai mong muốn việc xác lập các bước phải làm gì, làm thế nào và làm ở đâu, ai làm, bao giờ hoàn thành và điều kiện để hoàn thành
Giai đoạn 3 Thực hiện kế hoạch của quản lý hoạt động kiểm tra Thực hiện kế hoạch quản lý hoạt động kiểm tra bao gồm các công việc sau:
- Xác định chuẩn mực trong quản lý hoạt động kiểm tra nhà trường (chuẩn đánh giá một trường, chuẩn đánh giá một giờ dạy, chuẩn đánh giá các hoạt động khác)
- Tổ chức việc đo lường việc thực hiện các nhiệm vụ của trường học (Xây dựng lực lượng, quy định kiểm tra, xử lý thông tin)
- So sánh sự phù hợp của thành tích với các chuẩn mực xác định giá trị của các thành tích (xác định mặt định tính, xác định mặt định lượng)
Phát hiện những ưu điểm và tồn tại (những sai lệch so với chuẩn) của các đối tượng kiểm tra (phát hiện kịp thời những ưu điểm, khuyết điểm tồn tại trong thực tiễn, mức độ các ưu khuyết điểm nguyên nhân của ưu điểm, khuyết điểm)
Ra các quyết định điều chỉnh cần thiết trong kiểm tra: (quyết định mức
độ phát huy các thành tích xuất sắc; quyết định mức độ sửa chữa, uốn nắn; quyết định cần phải xử lý những vi phạm nghiêm trọng)
Trang 36Giai đoạn 4 Đánh giá kết quả quản lý hoạt động kiểm tra:
Đánh giá kết quả quản lý hoạt động kiểm tra là giai đoạn cuối cùng của hoạt động kiểm tra, đây là đánh giá kết quả đạt được so với mục tiêu đặt ra từ trước Từ
đó giúp cho nhà quản lý có các quyết định phù hợp với công tác kiểm tra
Trên cơ sở chức năng chung đó, quản lý hoạt động kiểm tra phải thực hiện 4 chức năng cụ thể sau:
- Kế hoạch hoá: đây là hoạt động cơ bản nhất của quản lý hoạt động kiểm tra, kế hoạch đặt cơ sở cho vấn đề tổ chức, định biên lực lượng, lựa chọn nội dung, phương pháp, điều kiện phương tiện, kiểm tra đánh giá kết quả
- Tổ chức: chính là phương thức bố trí, sắp xếp, sử dụng một cách tối ưu nguồn lực con người, phương tiện vật chất kỹ thuật để đạt mục tiêu quản lý mong muốn
- Chỉ huy điều hành: chức năng này mang tính chất tác nghiệp, phối hợp với các lực lượng kiểm tra, tập trung thống nhất điều kiện hoạt động
- Kiểm tra: chính là hệ thống những hoạt động đánh giá, phát hiện điều chỉnh mục tiêu
1.4 Quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ trường THCS
1.4.1 Kiểm tra nội bộ trường trung học cơ sở
1.4.1.1 Kiểm tra thực hiện kế hoạch phát triển giáo dục và phổ cập giáo dục
- Kiểm tra việc thực hiện chỉ tiêu về số lượng học sinh từng khối lớp và của toàn trường: Đối chiếu thực tế với kế hoạch phát triển giáo dục của nhà trường đã được UBND huyện phê duyệt về số lớp, số học sinh được huy động (tuyển sinh)
- Kiểm tra việc duy trì sĩ số, tỉ lệ học sinh lưu ban, bỏ học, chuyển đi, chuyển đến
- Kiểm tra việc thực hiện chỉ tiêu, kế hoạch về số lượng và chất lượng phổ cập giáo dục THCS (Dân số độ tuổi, diện phải phổ cập, tỷ lệ học sinh trong
độ tuổi đang học THCS, hoàn thành chương trình THCS, tốt nghiệp THCS, hiệu quả giáo dục, )
Trang 371.4.1.2 Kiểm tra thực hiện nhiệm vụ giáo dục
- Kiểm tra việc thực hiện chương trình, nội dung, kế hoạch dạy học, giáo dục của tập thể sư phạm nhà trường
- Kiểm tra chất lượng dạy học và giáo dục gồm:
+ Kiểm tra việc thực hiện chương trình giảng dạy môn giáo dục công dân, giáo dục đạo đức, kỹ năng sống ở các khối lớp thông qua các giờ lên lớp, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, giáo dục truyền thống, công tác chủ nhiệm lớp, hoạt động Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh, Hiệu quả giáo dục đạo đức thông qua kết quả xếp loại hạnh kiểm học sinh
+ Chất lượng giảng dạy các bộ môn văn hóa: Kiểm tra việc thực hiện kế hoạch dạy học theo khung chương trình và chuẩn kiến thức kỹ năng của Bộ giáo dục và đào tạo; Kiểm tra việc thực hiện quy chế chuyên môn, nền nếp dạy học: Thực hiện chương trình kế hoạch giảng dạy, giáo dục; thực hiện các yêu cầu về soạn bài theo quy định; kiểm tra và chấm bài, quan tâm giúp đỡ các đối tượng học sinh; tham gia sinh họat tổ chuyên môn; sử dụng đồ dùng dạy học, thực hiện các tiết thực hành theo quy định; đảm bảo đầy đủ các yêu cầu về hồ
sơ và các quy định về chuyên môn; tự bồi dưỡng và tham gia bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ; tuân thủ các quy định về dạy thêm, học thêm trong và ngoài nhà trường ; kiểm tra việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh, dạy học theo chủ đề, dạy học tích hợp liên môn, việc áp dụng các phương pháp dạy học hiện đại, tiên tiến vào quá trình dạy học, việc thực hiện các chuyên đề chuyên môn trong tâm trong năm học; kiểm tra kết quả học tập của học sinh (Kiến thức, kỹ năng, thái độ) so với đầu vào và chỉ tiêu kế hoạch đã xây dựng, kết quả xếp loại học lực, xếp loại thi đua hàng kỳ, hàng năm học (học sinh giỏi, học sinh tiên tiến); tỷ lệ học sinh lên lớp, thi đỗ vào trung học phổ thông, học sinh đạt giải tại các kỳ thi năng khiếu về văn hóa, nghệ thuật, thể dục thể thao,
- Kiểm tra các hoạt động giáo dục toàn diện: thể chất, thẩm mỹ, đoàn đội, lao động sản xuất- hướng nghiệp, dạy nghề, hoạt động nhân đạo, từ thiện, các hoạt động xã hội khác
Trang 381.4.1.3 Kiểm tra phát triển đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý
- Kiểm tra việc xây dựng đội ngũ: Số lượng và cơ cấu (đối chiếu với định biên tổng thể, định biên theo môn học);
- Kiểm tra phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống của đội ngũ: việc chấp hành chủ trương chính sách của Đảng, Pháp luật của nhà nước, các quy định của ngành, địa phương, mối quan hệ với nhân dân, đồng nghiệp, học sinh, việc thực hiện các cuộc vận động, các phong trào thi đua,
- Kiểm tra chất lượng đội ngũ: Nguồn đào tạo, trình độ chuyên môn đào tạo (chưa đạt chuẩn, đạt chuẩn, trên chuẩn), thâm niên, các danh hiệu thi đua đã đạt (chiến sỹ thi đua, giáo viên dạy giỏi các cấp, );
- Kiểm tra các hoạt động phối hợp của tập thể sư phạm trong việc thực hiện nhiệm vụ giáo dục, giảng dạy của trường;
- Kiểm tra nền nếp hoạt động (tổ chức, trật tự kỷ cương, kế hoạch);
- Kiểm tra việc phân công lao động trong đội ngũ;
- Kiểm tra công tác bồi dưỡng và tự bồi dưỡng;
- Kiểm tra việc thực hiện các chế độ chính sách, quy chế chuyên môn, cải thiện đời sống cho cán bộ, giáo viên, nhân viên
1.4.1.4 Kiểm tra quản lý hoạt động chuyên môn
- Kiểm tra công tác quản lý của tổ trưởng, tổ phó chuyên môn: nhận thức, vai trò, tác dụng, uy tín, khả năng lãnh đạo chuyên môn ;
- Kiểm tra hồ sơ chuyên môn: kế hoạch, biên bản, chất lượng giảng dạy, các chuyên đề bồi dưỡng chuyên môn, sáng kiến kinh nghiệm ;
- Kiểm tra chất lượng dạy - học của tổ chuyên môn (việc thực hiện chương trình, chuẩn bị bài, chất lượng dạy học, việc thực hiện đổi mới phương pháp, sử dụng phương tiện, đồ dùng dạy học, việc kiểm tra, đánh giá học sinh, tác dụng, uy tín của tổ, chuyên môn trong trường );
- Kiểm tra nền nếp sinh hoạt chuyên môn: soạn bài, kiểm tra đánh giá, dự giờ thăm lớp, làm chuyên đề, hội giảng, chế độ hội họp theo quy định, ;
Trang 39- Kiểm tra kế hoạch bồi dưỡng và tự bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ;
- Kiểm tra chỉ đạo phong trào học tập của học sinh: Đảm bảo chất lượng đại trà; mũi nhọn phát hiện, bồi dưỡng học sinh năng khiếu; phụ đạo thúc đẩy chất lượng học sinh có học lực yếu, kém
1.4.1.5 Kiểm tra hoạt động sư phạm của giáo viên
- Kiểm tra phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, tư tưởng; chấp hành pháp luật; chấp hành qui chế của ngành, nội qui của cơ quan; ý thức đấu tranh chống các biểu hiện tiêu cực, tham nhũng; sự tín nhiệm của đồng nghiệp, học sinh và nhân dân; tinh thần đoàn kết, trung thực trong công tác, quan hệ đồng nghiệp, thái độ phục vụ nhân dân và học sinh; không bạo hành và không xâm phạm nhân phẩm học sinh
- Kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao: thực hiện qui chế chuyên môn; quy chế thi cử, kiểm tra; kết quả giảng dạy; thực hiện các nhiệm vụ khác được giao
+ Kiểm tra trình độ chuyên môn, nghiệp vụ (tay nghề): Xem xét và đánh giá hai mặt là trình độ nắm kiến thức, kỹ năng, thái độ cần xây dựng cho học sinh thể hiện qua việc giảng dạy và trình độ vận dụng phương pháp giảng dạy
và giáo dục thông qua kiểm tra giờ dạy trên lớp của giáo viên theo yêu cầu, quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo đối với cấp THCS
+ Thực hiện quy chế chuyên môn: Thực hiện chương trình kế hoạch giảng dạy, giáo dục; thực hiện các yêu cầu về soạn bài theo quy định; kiểm tra
và chấm bài, quan tâm giúp đỡ các đối tượng học sinh; tham gia sinh hoạt tổ chuyên môn; sử dụng đồ dùng dạy học, thực hiện các tiết thực hành theo quy định; đảm bảo đầy đủ các yêu cầu về hồ sơ và các quy định về chuyên môn; tự bồi dưỡng và tham gia bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ; tuân thủ các quy định về dạy thêm, học thêm
+ Kết quả giảng dạy, giáo dục: Kết quả học tập, rèn luyện của học sinh qua các lần kiểm tra chung của khối lớp; kết quả lên lớp, tốt nghiệp của các bộ môn mà giáo viên dạy; kết quả kiểm tra, khảo sát kết quả học tập của học sinh ngay sau tiết học, qua đó đánh giá kết quả giờ dạy của giáo viên
Trang 40+ Tham gia các công tác khác: Công tác chủ nhiệm; tham gia giáo dục đạo đức cho học sinh; tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật; tham gia công tác đoàn thể; thực hiện các công tác khác được phân công
1.4.1.6 Kiểm tra quản lý cơ sở vật chất, thiết bị dạy học
- Kiểm tra cơ sở vật chất, kỹ thuật, các điều kiện đảm bảo chất lượng giáo dục, trật tự, vệ sinh, an toàn, cảnh quan, môi trường sư phạm; thiết bị dạy học, phương tiện làm việc; số lượng, chất lượng phòng học, phòng làm việc, phòng thiết bị dạy học, phòng học bộ môn, thư viện, sân chơi, bãi tập…
- Kiểm tra việc bảo quản và sử dụng có chất lượng thiết bị, đồ dùng dạy học, dụng cụ thể dục thể thao, thư viện, vườn trường…
1.4.2 Nội dung quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ ở các trường THCS
- Xây dựng và bồi dưỡng lực lượng làm nhiệm vụ KTNB đảm bảo đủ về
số lượng, có trình độ chuyên môn vững vàng, nghiệp vụ kiểm tra tinh thông, việc tiếp cận và xử lý tình huống trong kiểm tra nhạy bén; có uy tín trong tập thể sư phạm nhà trường
- Xây dựng chuẩn kiểm tra : Căn cứ văn bản quy phạm pháp luật, văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của các cơ quan quản lý có thẩm quyền ( Luật giáo dục ; Điều lệ trường THCS, Chuẩn nghề nghiệp giáo viên THCS, hướng dẫn kiểm tra hoạt động sư phạm của giáo viên, ) để xây dựng chuẩn kiểm tra nhằm
để so sánh, đối chiếu, đo lường, đánh giá kết quả thực hiện các nhiệm vụ của đối tượng kiểm tra
- Xây dựng kế hoạch KTNB chính là thiết kế một tương lai mong muốn việc xác lập các bước phải làm gì, làm thế nào và làm ở đâu, ai làm, bao giờ hoàn thành và điều kiện để hoàn thành Kế hoạch kiểm tra nội bộ của nhà trường là một bộ phận hữu cơ của kế hoạch năm học, đồng thời là mắt xích trọng yếu của chu trình quản lý Hiệu trưởng xây dựng kế hoạch kiểm tra phải phù hợp với tình hình, điều kiện cụ thể của trường, có tính khả thi và được công bố công khai đến tất cả các đối tượng được kiểm tra ngay từ đầu năm học Trong kế hoạch Hiệu trưởng phải tập trung thực hiện tốt các nội dung sau: