Bên cạnh một số khuynh hướng nghiên cứu văn học đã và đang được quan tâm trong thời gian qua như: phê bình phân tâm học, phê bình ký hiệu h ọc, nghiên cứu văn học dưới góc nhìn văn hóa,
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
VÀ NGHI L Ễ CỦA LESLIE M.SILKO TỪ GÓC
NHÌN PHÊ BÌNH SINH THÁI
THÁI NGUYÊN, 2019
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
VÀ NGHI L Ễ CỦA LESLIE M.SILKO TỪ GÓC
NHÌN PHÊ BÌNH SINH THÁI
Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM
Mã s ố: 8220121
Hướng dẫn khoa học: TS BÙI LINH HUỆ
THÁI NGUYÊN, 2019
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Tôi cam đoan những luận điểm được trình bày trong Luận văn này là kết
quả của quá trình học tập và nghiên cứu của tôi Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước những luận điểm khoa học mà tôi nêu ra trong Luận văn này
Tác gi ả luận văn
Nguy ễn Thị Trang
Trang 4Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
L ỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được sự động viên, giúp đỡ của nhiều cá nhân và tập thể
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Bùi Linh Huệ đã
tận tình chỉ bảo, hướng dẫn tôi thực hiện và hoàn thành luận văn
Tôi xin cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Khoa học Thái Nguyên, khoa Báo chí truyền thông và các thày cô trong khoa đã đào tạo và tạo điều
kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn
Tôi cũng xin cảm ơn đơn vị công tác, đồng nghiệp, gia đình và bạn bè đã khuyến khích, động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn!
Tác gi ả luận văn
Nguy ễn Thị Trang
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 11
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12
5 Phương pháp nghiên cứu 12
6 Đóng góp mới của luận văn 13
7 Cấu trúc luận văn 13
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 14
1.1 Khái lược về tác giả Hà Thị Cẩm Anh và Đứa con trai 14
1.1.1 Khái lược về tác giả Hà Thị Cẩm Anh 14
1.1.2 Khái lược về truyện dài Đứa con trai 18
1.2 Khái lược về tác giả Leslie M Silko và Nghi lễ 19
1.2.1 Khái lược về tác giả Leslie M Silko 19
1.2.2 Khái lược về truyện dài Nghi lễ 20
1.3 Khái lược về phê bình sinh thái 23
1.3.1 Phê bình sinh thái là gì? 23
1 3.2 Phê bình sinh thái ở Việt Nam 27
1.4 Phê bình sinh thái nữ quyền và việc nghiên cứu văn học dân tộc thiểu số 31
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 36
CHƯƠNG 2: KHÔNG GIAN TRONG ĐỨA CON TRAI VÀ NGHI LỄ TỪ GÓC NHÌN PHÊ BÌNH SINH THÁI 37
2.1 Vấn đề không gian trong phê bình sinh thái 37
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
2.1.1 Bước ngoặt không gian trong nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn 37
2.1.2 Diễn ngôn về không gian trong phê bình sinh thái 39
2.2 Sự tương đồng giữa văn minh đô thị và người đàn ông 41
2.2.1 S ự tương đồng giữa hình ảnh kẻ ác và đô thị 41
2.2.2 S ự tương đồng giữa sự suy biến của nông thôn/vùng hoang dã với sự sa đọa của người đàn ông 50
2.3 Sự tương đồng giữa người phụ nữ với thiên nhiên 59
2.3.1 S ự tàn phá thiên nhiên và bi kịch người phụ nữ 59
2.3.2 Thiên tính n ữ và sự bao dung của thiên nhiên 63
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 75
CHƯƠNG 3: CHẤT LIỆU DÂN GIAN TRONG CỐT TRUYỆN CỦA ĐỨA CON TRAI VÀ NGHI L Ễ TỪ GÓC NHÌN PHÊ BÌNH SINH THÁI 76
3.1 Cốt truyện đơn huyền thoại 76
3.1.1 S ự tái sinh cốt truyện đơn huyền thoại 76
3.1.2 S ự cải biến, sáng tạo cốt truyện đơn huyền thoại 78
3.2 Sự lồng ghép truyền thuyết và thần thoại 85
KẾT LUẬN 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Bên cạnh một số khuynh hướng nghiên cứu văn học đã và đang được quan tâm trong thời gian qua như: phê bình phân tâm học, phê bình ký hiệu
h ọc, nghiên cứu văn học dưới góc nhìn văn hóa, nghiên cứu văn học từ bình
di ện xã hội học… hiện nay, các nhà nghiên cứu cũng không ngừng tìm tòi
những cách tiếp cận mới nhằm chiếm lĩnh một cách tối ưu những vỉa tầng giá
trị ẩn chứa trong các tác phẩm văn học Một trong những cách tiếp cận ấy là khuynh hướng nghiên cứu văn học dưới góc nhìn phê bình sinh thái Bởi lẽ, chưa bao giờ con người phải đối mặt với nhiều nguy cơ sinh thái như hiện nay Cùng với các vấn đề nóng của thế giới hiện đại (quá trình công nghiệp hóa, đô
th ị hóa, nạn phân biệt chủng tộc, sự dịch chuyển dân cư, chiến tranh…), môi
trường cũng đang là vấn đề nóng bỏng được người dân trên toàn cầu đặc biệt quan tâm Nhân loại sửng sốt bởi chưa bao giờ phải đối mặt với những thảm
họa nặng nề từ môi trường đến thế Văn học là tấm gương phản ánh cuộc sống,
do vậy ngày càng có nhiều văn nghệ sĩ đưa những vấn đề liên quan tới môi trường vào trong tác phẩm của mình với mong muốn thay đổi nhận thức, thức
tỉnh hành động của con người trước các vấn đề liên quan đến thảm họa môi trường và biến đổi khí hậu
Theo tác giả Cheryll Glotfelty: “Bản chất của phê bình sinh thái là nghiên
c ứu mối quan hệ giữa văn học với môi trường tự nhiên” Trào lưu này được
khởi phát từ Anh – Mĩ và trở thành một trào lưu năng động, thu hút sự quan tâm
của không chỉ các nhà nghiên cứu phương Tây mà còn cả các quốc gia ở Châu Á (trong đó có Việt Nam) Sống ở một quốc gia thường xuyên phải đối mặt với
những đổi thay lớn lao của môi trường, các nhà văn Việt Nam cũng không tránh được những xúc cảm trắc ẩn, suy tư khi nghĩ về môi trường và sự sống Đây là lý
do hình thành khuynh hướng tìm về biểu hiện mối quan hệ giữa con người và tự
Trang 8Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
nhiên trong lối tư duy sinh thái Lối tư duy này được các tác giả sử dụng khi nhìn
nhận, phân tích và thể hiện những nỗi đau môi trường, số phận con người trong
cuộc khủng hoảng môi sinh cũng như hướng con người sống có trách nhiệm với thiên nhiên, cân bằng trong cuộc sống trong các tác phẩm văn học giàu giá trị…
1.2 Nếu như văn học là tấm gương phản ánh đời sống thì văn hoá lại được coi là tấm gương nhân loại Bởi đặc trưng tâm hồn, tính cách của mỗi quốc gia, dân tộc đều được in dấu trong các khía cạnh vănhóa Dù ở lãnh thổ nào, phương Tây hay phương Đông, khi xã hội ngày càng phát triển thì vấn đề bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc của quốc gia càng có ý nghĩa cấp thiết Không
ai có thể phủ nhận việc giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc có liên quan mật thiết tới sự tồn tại và phát triển của một dân tộc nói riêng và của một quốc gia nói chung Đánh mất bản sắc văn hoá dân tộc thì nền văn học của dân tộc đó cũng không thể tồn tại Vì vậy, một trong những tiêu chí quan trọng để xác định giá trị của tác phẩm văn học đó chính là bản sắc dân tộc của nó
1.3 Như đã phân tích ở trên, môi trường sinh thái có sự chi phối trực tiếp
và lâu dài đến sự sống của toàn nhân loại Đó là lý do mà các nhà văn tuy sống
ở những nền văn hóa khác nhau, vùng lãnh thổ cách xa nhau nhưng vẫn có thể
gặp gỡ nhau trong quan điểm và cách nhìn về những vấn đề nhân bản có tính
chất thời đại Đây cũng là lý do chúng tôi lựa chọn so sánh tác phẩm Đứa con
trai của Hà Thị Cẩm Anh và Nghi lễ của Leslie M Silko dưới góc nhìn phê
bình sinh thái nhằm chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt trong hai khía cạnh nổi bật đó là: cách nhìn nhận và thể hiện không gian, kết cấu cốt truyện
để thể hiện những triết lý sinh thái mà mỗi nhà văn muốn gửi gắm trong tác phẩm của mình Có thể nói, Hà Thị Cẩm Anh tuy là nhà văn thuộc thế hệ sau nhưng đã mang một phong cách sáng tác rất riêng, đậm hương sắc Mường Tác
phẩm Đứa con trai là một trong những truyện ngắn tái hiện không gian sinh
thái núi rừng của người Mường cùng những quan niệm nhân sinh về môi trường
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
sinh thái được gửi gắm kín đáo trên từng trang viết Còn Leslie Marmon Silko – nhà văn Mỹ gốc da đỏ lại lấy phong cảnh tuyệt đẹp của quê hương New Mexico làm bối cảnh cho tiểu thuyết Nghi lễ (Ceremony) – một tác phẩm mê
hoặc được đông đảo bạn đọc và được giới phê bình đánh giá rất cao Nghi lễ
là một cuốn “tiểu thuyết đầy nhạc tính” được cấu trúc trên nền các nghi thức
chữa bệnh của người Da đỏ Nó cũng ẩn chứa trong mình những hình ảnh về không gian sinh tồn của cộng đồng người Da đỏ cùng những triết lý sâu xa của tác giả cũng như cộng đồng này với vấn đề môi trường sinh thái nói trên
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1 Những nghiên cứu về sự nghiệp của Hà Thị Cẩm Anh và tác phẩm “Đứa con trai”
Hà Thị Cẩm Anh là một nhà văn Việt Nam đương đại và là một nhà văn
nữ dân tộc thiểu số tiêu biểu với nhiều tác phẩm được giải thưởng văn học Tuy nhiên, các nghiên cứu về tác phẩm của bà chưa nhiều kể cả về số lượng và chiều sâu nội dung
Trong một số bài viết đăng trong lời tựa Khi đá cũng được giải oan, hay
tập truyện ngắn Nước mắt của đá, Lã Thanh Tùng nhận xét: những niềm vui và
nỗi đau cũng mang nét riêng biệt trong truyện ngắn Hà Thị Cẩm Anh Tác giả
viết: “Trên tay các bạn đang là máu thịt chị, bảy truyện ngắn tròn trịa, ấm nóng,
bảy tiếng thở dài và bảy bài ca u buồn…Bảy truyện ngắn trong tập Nước mắt
của đá giống như bảy chú lùn siêng năng kết đoàn cùng xây đắp một tổ ấm ngăn
nắp mời gọi, để mỗi độc giả khi lạc vào có thể tự mình thể nghiệm một vai
Bạch Tuyết ê chề mà hạnh phúc” [4]
Tác giả Hoả Diệu Thuý đã nhận xét: “Quả là tình yêu đối với văn chương
của cô thôn nữ này rất lớn Tình yêu đã dẫn đường cho chị Tình yêu đã khiến
chị nỗ lực Và chị đã rất nỗ lực để trở thành một nhà văn như bây giờ” [5]
Trang 10Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Nguyên Tĩnh trong bài “Hà Thị Cẩm Anh và thung lũng Si Dồ” nhận định
rằng: “Có một thung lũng Sì Dồ trong tác phẩm của Hà Thị Cẩm Anh đang rõ nét được khắc họa Nó là hình bóng quê nhà bản Mường mà nhà văn gửi gắm
Là những câu chuyện của trai Mường yêu gái Mường gặp bao trắc trở phản bội nhưng vượt lên số phận để có tình yêu hồn hậu thủy chung của người Mường
Hà Thị Cẩm Anh đã có thung lũng Sì Dổ trong tác phẩm của mình đó là quê hương không có ở ngoài đời” [57] Nguyên Tĩnh đã chỉ ra “cái Mường trong văn học” rất riêng của Hà Thị Cẩm Anh Ông cho rằng Hà Thị Cẩm Anh rời quê hương Cẩm Sơn của mình từ khá sớm nhưng cái sợi dây nối kết con người và văn hoá cội nguồn truyền thống giữa nhà văn với quê hương chưa bao giờ đứt Theo tác giả, chính vốn sống phong phú của nữ nhà văn đã khiến cho những câu chuyện của bà đậm chất văn hoá Mường mà không hề gượng
ép, khiên cưỡng
Khi đọc tập truyện ngắn Một nửa người đàn bà của Hà Thị Cẩm Anh, Thy
Lan đã nhận xét :“Văn chương chị trong trẻo, tự nhiên như nước suối, lại phong phú mượt mà như lá rừng, dung dị như nhà sàn, bếp lửa, đôi khi cũng dữ dội như suối dâng, thác đổ và trần trụi, hoang dã như cây cổ thụ ngàn năm Đọc truyện ngắn Hà Thị Cẩm Anh ta có được cái say của hương rượu cần, ta nhìn
thấy cái bảng lảng của gió thổi, mây bay, cái trùng điệp và vững trãi của núi cao, rừng rậm” [29]: “Chín truyện ngắn của Hà Thị Cẩm Anh trong tập Một
n ửa của người đàn bà là chín cung bậc tình yêu núi rừng, yêu con người Nhà
văn đã phóng bút bằng tâm hồn, ký ức và trải nhiệm” [29]
Nghiên cứu về phong cách của nhà văn Hà Thị Cẩm Anh, tác giả Đỗ Đức
trong lời tựa Đọc truyện ngắn Hà Thị Cẩm Anh viết cho tập truyện Bài xường
ru từ núi đã nhận xét: “Chị viết dữ dội, không mập mờ và luôn rạch ròi giữa
thiện và ác Thái độ của chị là thẳng băng rõ ràng Trong truyện ngắn của chị, cái ác không ít lần thắng thế, nhưng chỉ là thắng thế nhất thời Cái thiện nhỏ
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
nhoi nhiều khi bị lép vế, bị bóp nghẹt nhưng cái thiện luôn là mầm sống bất diệt”[2]
Tác giả Nguyễn Thị Thu Hiền trong bài viết “Văn học hiện đại dân tộc
Mường: những khuôn mặt” đã khẳng định sức sáng tạo bất ngờ và mạnh mẽ,
dữ dội của Hà Thị Cẩm Anh như sau: “Năm 1998, Hà Thị Cẩm Anh cầm bút trở lại và lần này thì quyết liệt Có ai ngờ người phụ nữ đã bước vào tuổi “lục thập hoa giáp” lại có một trận maratông trong văn chương và gây bất ngờ như vậy Những gì chất chứa trong con người chị đã bung như nham thạch núi lửa tuôn trào Chị viết liên tục, sôi động và trầm lắng những gì đã quan sát, trải nghiệm, để những Đêm Khua Luống dành cho người chết, Ngôi nhà sàn cũ kĩ, Gốc gội xù xì…để lại nhiều dư ba trong bạn đọc” [19]
Trong bài viết “Nhìn ra được mất - nhận xét về tập truyện Một nửa của
người đàn bà”, Trọng Miễn cũng có những nhận định chính xác về giọng văn
của Hà Thị Cẩm Anh: “Văn của Hà Thị Cẩm Anh thấm đẫm hồn cốt của người Mường…Phải là người hiểu văn hoá Mường, yêu quý văn hoá Mường mới viết
được như thế” [5; 8] Hoả Diệu Thuý trong bài viết “Hà Thị Cẩm Anh với những
chuy ện ở thung lũng Si Dồ” đã nhận định: “Người con của xứ sở mụ Dạ Dần
của ậu mo, 5 của Xường của Rang cũng đã gánh vác sứ mệnh mà tổ tiên và cội nguồn giao phó Đó là phô diễn vẻ đẹp của sức sống quê hương bằng những tác
phẩm văn chương”
Trong luận án Văn xuôi Việt Nam hiện đại về dân tộc và miền núi (2010),
Phạm Duy Nghĩa đã có những đánh giá về Hà Thị Cẩm Anh từ một khía cạnh nội dung cụ thể đó là thông điệp bảo vệ thiên nhiên trong các sáng tác của bà:
“Trong văn xuôi miền núi, cùng với Nguyễn Huy Thiệp, La Quán Miên và Hoàng Thế Sinh, Hà Thị Cẩm Anh là cây bút có ý thức tuyên ngôn về mối quan
hệ hoà hợp con người - tự nhiên và đặt ra vấn đề bảo vệ thiên nhiên một cách
rõ ràng, kiên quyết Truyện ngắn của nhà văn dân tộc Mường này có môtíp:
Trang 12Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Con người đến với thiên nhiên để tìm một chỗ dựa tinh thần khi bản thân bị cộng đồng xa lánh, hắt hủi và khi đó họ trở thành người tình nguyện bảo vệ thiên nhiên” [36; 94]
Đề tài cấp Bộ Bản sắc dân tộc trong sáng tác của một số nhà văn dân tộc
thi ểu số và sau này phát triển thành cuốn sách Bản sắc văn hóa dân tộc trong văn xuôi của các nhà văn dân tộc thiểu số (2014) do tác giả Đào Thủy Nguyên
(chủ biên) là công trình công phu và có nhiều ý nghĩa Cuốn sách đề cập một cách hệ thống về các vấn đề lí luận, lý thuyết cơ bản làm cơ sở khoa học cho công trình nghiên cứu rồi từ đó đi đến việc nghiên cứu sự thể hiện bản sắc văn hóa tộc người trong các tác phẩm văn xuôi dân tộc thiểu số ở phương diện nội dung và nghệ thuật Trong sách, nhóm tác giả đã đề cập đến những tên tuổi quen thuộc đã làm nên diện mạo của văn xuôi dân tộc thiểu số trong đó có nhà văn Hà Thị Cẩm Anh
Tuy ển tập Văn xuôi Hà Thị Cẩm Anh do tác giả Trần Thị Việt Trung và
Hà Thị Cẩm Anh biên soạn cũng được coi là một công trình công phu tập hợp các tác phẩm và phê bình về tác phẩm của Hà Thị Cẩm Anh Cuốn sách gồm 2
phần: phần I là tuyển tập các sáng tác của Hà Thị Cẩm Anh; phần II là những
ý kiến, đánh giá, phê bình về sáng tác của bà Cuốn sách tập trung giới thiệu
những sáng tác văn xuôi của Hà Thị Cẩm Anh, đó là những sáng tác mang đậm
bản sắc Mường Trong tác phẩm, bản sắc Mường được nhà văn thể hiện ở ba
mạch nguồn cảm hứng cơ bản: (1) Con người mang đặc trưng tâm hồn, tính cách dân tộc Mường (đặc biệt là qua hình tượng nhân vật người phụ nữ Mường); (2) Những phong tục, tập quán truyền thống mang đậm bản sắc văn hóa Mường; (3) Thiên nhiên tươi đẹp mang đặc trưng vùng miền
Luận văn Bản sắc văn hóa Mường trong sáng tác của Hà Thị Cẩm Anh
của tác giả Nguyễn Thị Bích Dậu đã tiến hành khảo sát 7 tập truyện của Hà Thị
Cẩm Anh từ đó phân tích làm rõ những nét đặc sắc của văn hoá Mường trong
Trang 13Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
sáng tác của bà ở các phương diện nội dung và hình thức nghệ thuật Chẳng
hạn, luận văn đã chỉ ra các khía cạnh của phương diện nội dung (cảm hứng về con người, phong tục tập quán, thiên nhiên mang đặc trưng, tính cách dân tộc Mường), phương diện nghệ thuật (cốt truyện, yếu tố ngoài cốt truyện, nghệ thuật xây dựng nhân vật, nghệ thuật ngôn từ) Nguyễn Thị Bích Dậu đã nhận xét: “Có thể nói các sáng tác của Hà Thị Cẩm Anh đậm đà bản sắc văn hoá Mường Những trang viết của nhà văn chan chứa nỗi niềm đối với mảnh đất quê hương Tuy bây giờ Hà Thị Cẩm Anh đã sống ở thành phố nhưng mảnh đất
xứ Mường vẫn gắn bó máu thịt với nhà văn Hình bóng của quê hương bản Mường in dấu trong tuổi thơ của tác giả ngày nào vẫn hiện lên tươi nguyên chất
sống Phải nặng tình với quê hương sâu sắc đến mức nào thì trang viết của nhà văn mới đằm sâu tình cảm đến thế khi viết về cuộc sống, con người và thiên nhiên xứ Mường Thanh Hoá” [9; 25] Luận văn là công trình nghiên cứu đầu tiên có tính chất hệ thống toàn diện và khái quát sâu sắc về vấn đề bản sắc văn hoá Mường trong sáng tác của Hà Thị Cẩm Anh Kết quả nghiên cứu đã góp
phần khẳng định những nét riêng trong cách khám phá và thể hiện bản sắc văn hoá dân tộc của nhà văn so với nhiều nhà văn dân tộc thiểu số khác cũng như
vị trí của nữ nhà văn trong nền văn học dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại Hầu hết những tác giả nghiên cứu về Hà Thị Cẩm Anh đều có một quan điểm trùng hợp đó là họ đều nhận ra chất văn hoá Mường rất riêng và một sức hút diệu kì trong trang văn của bà Đọc những truyện ngắn của Hà Thị Cẩm Anh, những ai chưa từng đặt chân đến mảnh đất của xứ sở người Mường đều ít nhiều hiểu được cuộc sống và phong tục của con người nơi đây Chính vì có một tình yêu máu thịt với quê hương mà những trang viết của bà đậm đà bản sắc dân tộc đến thế Nhìn chung các ý kiến nghiên cứu đều khẳng định vị trí của nữ nhà văn Hà Thị Cẩm Anh - nhà văn dân tộc thiểu số tiêu biểu, có những đóng góp đối với nền văn xuôi các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại Giá trị
Trang 14Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
nổi bật làm nên dấu ấn Hà Thị Cẩm Anh đó là chất văn hoá Mường rất riêng - sức hút diệu kì trong những trang văn của bà
2.2 Những nghiên cứu về tác phẩm của Leslie M Silko và Nghi lễ
Ở Việt Nam, có rất ít nghiên cứu về tác phẩm của Leslie M Silko nói
chung và tác phẩm Nghi lễ nói riêng Qua tìm hiểu, tác giả luận văn xin được
điểm qua một số nghiên cứu về vấn đề này như sau:
Trần Hữu Thục trong bài viết Nhìn qua một số nền văn học da màu ở
Hoa Kỳ: Văn chương thổ dân có đề cập đến một số sáng tác và đóng góp của
nhà văn Leslie M Silko trong nền văn học da màu ở Mỹ Điều này cũng được thể hiện trong bài viết “Văn xuôi Mỹ từ 1845: Chủ nghĩa hiện thực và sự thể nghiệm” của tác giả [63]
Bài viết Chủ nghĩa hiện thực trong văn chương Mỹ đương đại cũng đưa
ra một số nhận định khẳng định giá trị nội dung cũng như sức ảnh hưởng của
tác phẩm Nghi lễ trong dòng chảy văn chương Mỹ đương đại: "một đất nước
mà sự kì thị và phân biệt chủng tộc lớn như Mỹ, nhưng văn chương của các tộc người thiểu số Da đen, Da đỏ vẫn có đất để tồn tại và phát triển là một điều hết
sức ngạc nhiên Không những thế nó còn là nguồn lực quí báu bổ sung vào sự
phong phú đa dạng vốn có của dòng văn học hiện thực Mỹ đương đại Nghi lễ
(Ceremony) là cuốn tiểu thuyết viết về người Mỹ Da đỏ của nữ nhà văn Da đỏ Leslie Marmon Silko đã được giới phê bình đánh giá rất cao và đã được dịch
Trang 15Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
người với nhau; nghệ thuật tả cảnh xuất sắc, nghệ thuật phân tích tâm lý nhân vật tinh tế, nghệ thuật phối hợp tài tình giữa thơ và văn [48]
Cuốn Phác thảo Văn học Mỹ của tác giả Kathryn Vanspanckeren do Lê
Đình Sinh và Hồng Chương dịch đã ca ngợi “chất thơ” và tính nhạc của cuốn tiểu thuyết cũng như chỉ ra nghi lễ là một nhân tố cấu trúc tác phẩm Tác giả cũng đã đưa ra nhận định về phong cách của Leslie Marmon Silko đó là: “Leslie Marmon Silko có một phần gốc gác là bộ lạc Laguna Bà ưa sử dụng ngôn ngữ nói và những câu chuyện truyền thống để sáng tác những bài thơ trữ tình, có
sức ám ảnh khó quên” [72]
Trong bài giới thiệu cuốn Văn xuôi hư cấu Mỹ hậu hiện đại – Tuyển tập
của Norton (Postmodern American Fiction: A Norton Anthology) của Paula
Geyh, Fred G Leebron và Andrew Levy, Phan Tấn Hải nhiều lần dẫn chứng
tiểu thuyết Nghi lễ như một tác phẩm hậu hiện đại Mỹ đặc thù và chỉ ra một
đặc điểm cấu trúc của tiểu thuyết này: “Văn chương hậu hiện đại Mỹ ảnh hưởng
từ các nền văn hóa hợp chủng, bên cạnh các quan tâm về bút pháp phi truyền thống… Khi văn hóa Mỹ càng trở nên phân mảnh hơn, văn chương của nó càng
thêm đa dạng… Cuốn Ceremony của Silko kết hợp hình thức của một cuốn tiểu
thuyết với hình thức của một bài ca Laguna Pueblo” [12; 9] Các tác giả cuốn tuyển tập cũng khẳng định sự phối kết những chất liệu và kĩ thuật kể chuyện truyền thống và hiện đại, châu Âu và văn hóa ngoài châu Âu là nét đặc sắc của dòng văn học mới mẻ này
Trong luận văn Kết cấu tiểu thuyết Pháp lễ của Leslie Marmon Silko,
tác giả Bùi Linh Huệ đã có những đánh giá và nhận định về vị trí cũng như phong cách sáng tác của nữ tác giả này như sau: “Leslie M Silko (1948 - ) được coi là một trong những người tiên phong mở ra một thời kỳ “Phục hưng” cho văn học của cộng đồng mình – nền văn học dưới những áp lực của văn minh châu Âu trên đất Mỹ đã bị lãng quên và cớm nắng” [27; 1] Trong luận văn
Trang 16Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
này, tác giả Bùi Linh Huệ đã phân tích nghệ thuật kết cấu tiểu thuyết này để chỉ
ra sự tiếp thu và sáng tạo từ sự kết hợp truyền thống văn hóa, văn học Mỹ da
đỏ và châu Âu Qua đó, luận văn góp phần hình dung thế giới sống động của văn học đa văn hóa hiện đại – muôn màu sắc và đầy nhựa sống Đây cũng là những gợi dẫn cho chúng tôi trong quá trình thực hiện luận văn này Cũng trong luận văn này, tác giả Bùi Linh Huệ đã có công trong việc hệ thống hóa một số nghiên cứu khác (bằng tiếng Việt và tiếng Anh) về tác giả L M Silko và tiểu
thuyết Pháp lễ - một trong những tác phẩm rất nổi tiếng của nữ nhà văn
2.3 Những nghiên cứu về văn học dân tộc thiểu số từ góc nhìn phê bình sinh thái
Phê bình sinh thái gần đây đã được giới thiệu và bước đầu ứng dụng vào nghiên cứu văn học Việt Nam Tuy nhiên, việc ứng dụng phương pháp phê bình này vào nghiên cứu văn học thiểu số Việt Nam vẫn còn rất hạn chế
Luận văn thạc sĩ Cái tự nhiên từ điểm nhìn phê bình sinh thái (Qua tác
phẩm của Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Ngọc Tư) (2012,
Đại học Sư phạm Hà Nội) của Đặng Thị Thái Hà là một trong những nghiên cứu chuyên sâu đầu tiên ứng dụng phương pháp phê bình sinh thái vào nghiên cứu văn học Việt Nam [14]
Luận án Con người và tự nhiên trong văn xuôi Việt Nam sau năm 1975
từ góc nhìn phê bình sinh thái (2015) của Trần Thị Ánh Nguyệt và sau này
được tác giả phát triển lên thành cuốn sách Con người và tự nhiên trong văn
xuôi Việt Nam sau năm 1975 từ góc nhìn phê bình sinh thái (2018) đã hệ thống
hóa khuynh hướng và phương pháp phê bình sinh thái cũng như diện mạo sự thể hiện vấn đề sinh thái trong văn học Việt Nam Công trình tuy có đề cập tới một số nhà văn dân tộc thiểu số nhưng mới mở mức độ giới thiệu mà chưa có
sự phân tích sâu sắc về tác phẩm của các nhà văn này
Trang 17Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Tuy nhiên, đến nay, vẫn chưa có nhiều công trình nghiên cứu văn học dân tộc thiểu số Việt Nam từ góc nhìn phê bình sinh thái Một trong những
công trình ít ỏi đó là luận văn thạc sĩ Tiểu thuyết Vi Hồng từ góc nhìn phê bình
sinh thái Luận văn này đã phân tích sự thể hiện sinh thái tự nhiên và sinh thái nhân văn trong tiểu thuyết Vi Hồng cũng như những thủ pháp nghệ thuật góp phần thể hiện triết lí sinh thái trong tiểu thuyết của ông
Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu nào có tính hệ thống về văn xuôi của Hà Thị Cẩm Anh từ góc nhìn phê bình sinh thái nói chung và so sánh
tác phẩm Đứa con trai của bà với tác phẩm Nghi lễ của Leslie Marmon Silko
từ góc nhìn này Đây là một trong những lý do để chúng tôi quyết định lựa chọn
đề tài này để nghiên cứu
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Băn khoăn với câu hỏi: “Liệu các nhà văn dân tộc thiểu số, đặc biệt là các nhà văn nữ người dân tộc thiểu số trên thế giới có găp gỡ nhau trong cách nhìn tự nhiên và cũng như trong cách thể hiện vấn đề đó?”, chúng tôi đã lựa chọn so
sánh một tác phẩm tiêu biểu của Hà Thị Cẩm Anh và Leslie Silko là Đứa con
trai và Nghi lễ Luận văn của chúng tôi sẽ làm rõ ảnh hưởng của văn hóa dân
tộc thiểu số và thiên tính nữ tới cách nhìn nhận và thể hiện vấn đề mối quan hệ
giữa con người và tự nhiên trong hai tác phẩm
3 2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Khảo sát hai tác phẩm Đứa con trai của Hà Thị Cẩm Anh và Nghi lễ của
Leslie M Silko từ đó vận dung phương pháp phê bình sinh thái để tiến hành so sánh, phân tích sự giống và khác nhau trong cách quan niệm và thể hiện vấn đề sinh thái trong hai tác phẩm
- Khẳng định giá trị của hai tác phẩm cũng như vị trí của hai nhà văn trong
Trang 18Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
dòng chảy văn học của mỗi dân tộc
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Tác phẩm Đứa con trai của Hà Thị Cẩm Anh và Nghi lễ của Leslie M.Silko từ góc nhìn phê bình sinh thái
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu diễn ngôn: Từ góc nhìn văn bản văn học là
những diễn ngôn, chúng tôi nghiên cứu hai tác phẩm Đứa con trai của Hà Thị
Cẩm Anh và Nghi lễ của Leslie M.Silko trong bối cảnh văn hóa, chính trị và
đặc biệt là cuộc khủng hoảng sinh thái và bản sắc văn hóa mà tác phẩm ra đời
- Phương pháp phê bình sinh thái: Tác giả luận văn sử dụng phương pháp này để chỉ ra cái nhìn sinh thái đã chi phối cách hai nhà văn tổ chức không gian,
cốt truyện và các yếu tố kì ảo như thế nào Từ đó, luận văn đưa ra những nhận định về giá trị của tác phẩm từ góc nhìn phê bình sinh thái
- Phương pháp của văn học so sánh: Tác giả sử dụng phương pháp này để
so sánh những điểm tương đồng và khác biệt về sự tổ chức không gian và sử
dụng chất liệu dân gian trong cốt truyện và các yếu tố kỳ ảo được thể hiện thông qua hai tác Đứa con trai của Hà Thị Cẩm Anh và Nghi lễ của Leslie M.Silko
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Để đạt được được mục đích
nghiên cứu, luận văn còn sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành đó là
Trang 19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
kết hợp góc nhìn của các lĩnh vực văn học, xã hội học, lịch sử, địa lý,văn hóa
học để soi chiếu hai tác phẩm
6 Đóng góp mới của luận văn
- Tổng thuật các nghiên cứu về phê bình sinh thái và triển vọng ứng dụng phê bình sinh thái vào nghiên cứu văn học thiểu số Việt Nam
- Phân tích không gian, cốt truyện từ góc độ diễn ngôn và phê bình sinh thái
- Chỉ ra sự gặp gỡ và khác biệt của hai nhà văn nữ dân tộc thiểu số thuộc hai quốc gia khác nhau trong sự quan niệm và cách thể hiện vấn đề sinh thái dưới ảnh hưởng văn hóa dân tộc trong bối cảnh đa văn hóa
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm
3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận
Chương 2: Không gian trong Đứa con trai và Nghi lễ từ góc nhìn phê bình sinh
thái
Chương 3: Chất liệu dân gian trong cốt truyện của Đứa con trai và Nghi lễ từ
góc nhìn phê bình sinh thái
Trang 20Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Khái lược về tác giả Hà Thị Cẩm Anh và Đứa con trai
1.1.1 Khái lược về tác giả Hà Thị Cẩm Anh
Hà Thị Cẩm Anh (tên thật là Hà Thị Ngọ) sinh ngày 10 tháng 10 năm
1948, Quê ở Cẩm Sơn, Cẩm Thủy, Thanh Hóa, bà là nữ nhà văn dân tộc
Mường cả cuộc đời gắn bó sâu nặng với quê hương xứ Mường yêu dấu Bà công tác tại Hội Văn học – Nghệ thuật Thanh Hoá, là hội viên Hội Nhà văn
Việt Nam, hội viên Hội Văn học – Nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam
Nữ nhà văn được biết đến như một cây bút văn xuôi tiêu biểu của văn học DTTS Việt Nam thời kỳ Đổi mới với mười tập truyện ngắn và ký đã xuất
bản Hà Thị Cẩm Anh thể hiện là người có năng khiếu sáng tác từ nhỏ Tác
phẩm đầu tay - Thím Cò Khoai được ra đời khi nữ văn sĩ mới 13 tuổi Sau
đó, bà đã theo học lớp Bổ túc văn hoá Công Nông và được giới thiệu đi học khoá VI Trường Viết văn Nguyễn Du Nhưng sau một thời gian, vì hoàn
cảnh quá khó khăn, bà không thể tiếp tục theo học nữa Khi trở về quê nhà,
bà được giới thiệu vào Ban vận động thành lập Hội Văn nghệ Thanh Hoá và
trở thành một trong những hội viên tham gia sáng lập của Hội Văn học Nghệ thuật Thanh Hoá
Từ năm 2000 đến nay, khi công tác tại Hội Văn học - Nghệ thuật tỉnh Thanh Hoá, Hà Thị Cẩm Anh cầm bút trở lại và đã cho ra đời nhiều tác phẩm
chứa đựng những nét đặc trưng hồn cốt của một cây bút Mường hiện đại Bà được đánh giá là một trong những gương mặt tiêu biểu của xứ Mường đã có nhiều tác phẩm đề lại ấn tượng sâu sắc trong lòng bạn đọc Với cảm hứng bất
tận về thiên nhiên, con người quê hương xứ Mường, bà không chỉ xuất bản sách
mà còn viết cả kịch bản điện ảnh Có thể kể đến các tác phẩm chính của bà như:
Trang 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Thím Cò khoai (tập truỵên ngắn, 1964); Người con gái Mường Biện (tập truyện
và ký, NXB Văn hoá dân tộc, 2002); Những đứa trẻ mồ côi (truyện dài, NXB Kim Đồng, 2003); Bài xường ru từ trong hang núi (tập truyện ngắn, NXB Văn
hoá dân tộc, 2004); Nước mắt của đá (tập truyện ngắn, NXB Văn hoá dân tộc,
2005); Lão th ần rừng nhỏ bé (truyện dài, NXB Kim Đồng, 2007); Mưa bụi (tập
truyện ngắn NXB Văn hoá dân tộc, 2008); Một nửa của người đàn bà (tuyển
tập truyện ngắn, NXB Văn hoá dân tộc, 2014); Chẫu chàng Cóc tía và Cư dân
xóm B ờ Ao (truyện thiếu nhi NXB Kim Đồng, 2014); Bình Minh Xanh (tập
truyện ngắn NXB QĐND, 2017)
Ngoài ra, bà còn viết các tác phẩm kịch bản điện ảnh như: Con đường dài
l ắm (kịch bản phim truyện, đề tài thiếu nhi năm 2005); Bài xường ru từ trong hang đá (kịch bản phim truyện nhựa - Cục điện ảnh Việt Nam đã sản xuất năm
2007); Huy ền thoại Hàm rồng (kịch bản phim truyện nhựa, phát sóng ngày 4
tháng 4 năm 2015); Ngọc trạo mùa thu 1941 (kịch bản phim truyện nhựa, đề
tài chiến tranh về hai cuộc kháng chiến chống Pháp và đế quốc Mỹ, sản xuất năm 2017)
Các các sáng tác của Hà Thị Cẩm Anh thường đi sâu phản ánh cuộc sống
của con người xứ Mường Thanh Hoá Bà không chỉ say sưa viết về vẻ đẹp văn hoá truyền thống, về cảnh sắc thiên nhiên, về phong tục tập quán của dân tộc mình bằng một tình yêu mãnh liệt, thẳm sâu “Tác giả vẫn đi về cùng quê hương, quan sát lắng nghe, chia sẻ Trái tim của tác gải thấp thỏm quặn thắt mỗi lần
chứng kiến một phong tục, một tập quán – một nét văn hoá của dân tộc mình đang dần dần bị mai một, bị biến dạng đi” [5] mà khi viết về cuộc sống con người nơi xứ Mường, bà còn kín đáo gửi gắm đó thái độ trân trọng, tấm lòng yêu thương, cảm thông sâu sắc với từng hoàn cảnh, từng số phận của những con người bất hạnh nhưng lúc nào cũng giàu nghị lực sống Nhà văn viết nhiều
về hình tượng người phụ nữ Mường những người luôn phải chịu nhiều nỗi
Trang 22Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
buồn, nỗi khổ đau cùng bao oan khuất trong cuộc đời; về những đứa trẻ sống
vất vưởng tuy ít tuổi nhưng đã phải lăn lộn với cuộc sống thậm chí trở thành
chỗ dựa cho mế khi mế của em bị bệnh Các truyện ngắn của Hà Thị Cẩm Anh
đi sâu khẳng định vẻ đẹp của lòng nhân ái, vị tha, đức hy sinh và tình đoàn kết
của đồng bào dân tộc Mường Dường như chính những câu chuỵên cổ tích của người Mường do người mẹ gieo vào tâm hồn từ thời thơ bé đã thấm sâu vào máu thịt của nhà văn để mỗi trang viết của bà sau này luôn chứa chan niềm tin vào những điều kì diệu trong cuộc sống như lời chia sẻ của chính tác giả: “Khi các em tôi đã ngủ say Mẹ bắt đầu dọn cho tôi một mâm cơm đầy và những món ăn thịnh soạn mà mẹ biết tôi rất thích: Đó là những câu chuyện cổ tích có
hậu của bà” [3; ?],“Tôi tin tưởng vào cuộc sống này Tôi tin tưởng vào bạn bè
Tôi tin tưởng từ lẽ công bằng” [2; ?]
Truyện ngắn của Hà Thị Cẩm Anh có lời văn tự nhiên giàu hình ảnh, giàu
chất thơ Trong nghệ thuật xây dựng cốt truyện và khắc hoạ nhân vật, nhà văn
vừa kể thừa những yếu tố truyền thống của văn học các dân tộc thiểu số (DTTS) (sử dụng ngôn ngữ theo lối diễn đạt của dân tộc mình), vừa có sự bứt phá để sáng tạo Đó là trong cách xây dựng cốt truyện được sắp xếp theo lối kết cấu
thời gian đảo ngược, (kết thúc có hậu hoặc không có hậu) Nhiều truyện ngắn
dựa trên các tình huống xác thực nên cốt truyện của nhà văn thường rõ ràng và lôi cuốn người đọc Trong cách xây dựng nhân vật, sự phân cực giữa cái thiện
và cái ác cũng được coi là một nét đặc sắc trong truyện ngắn của bà bởi nó
chứng tỏ lối viết mạnh bạo, bản lĩnh, khai thác hiện thực ở cả hai mảng sáng –
tối, bộc lộ thẳng thắn quan điểm của chính nhà văn Ngoài ra, cách xây dựng nhân vật của bà cũng thể hiện sự ảnh hưởng của thi pháp xây dựng nhân vật
của các cây bút văn xuôi DTTS giai đoạn trước đổi mới ở chỗ: chú ý khắc hoạ miêu tả nội tâm nhân vật vừa chân thực vừa sinh động vừa đa chiều Trong cách
dựng truyện và xây dựng tình huống truyện, nhà văn Hà Thị Cẩm Anh cũng có
Trang 23Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
những dấu ấn sáng tạo riêng Đó là những tình huống truyện hấp dẫn, ly kỳ, lôi
cuốn người đọc với nhiều cảm xúc cung bậc khi đi theo tiến trình, diễn biến của câu chuyện
Đặc biệt, Hà Thị Cẩm Anh đã khẳng định phong cách riêng của mình qua nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ lấy chất liệu từ sử thi dân gian Đó là việc sử dụng các câu những câu thành ngữ, tục ngữ, những câu hát dân ca (xường), cách sử
dụng biện pháp tu từ so sánh, phóng đại và câu văn trùng điệp, sóng đôi trong nghệ thuật sử thi Chính cách sử dụng đầy sáng tạo và hiệu quả những nét đặc trưng của ngôn ngữ dân tộc và cách tư duy, cách diễn đạt theo lối nói của dân
tộc mình đã giúp bà viết lên những trang văn đầy duyên dáng và hấp dẫn… Hàng loạt giải thưởng của Trung ương và địa phương dưới đây đã khẳng định vị trí của nữ nhà văn Hà Thị Cẩm Anh trong nền văn học các dân tộc thiểu
số hiện đại: Giải thưởng của Hội Nhà văn và Uỷ ban toàn quốc các Hội VHNT
Việt Nam Giải nhất cuộc thi truyện ngắn Báo Văn nghệ, Hội Nhà văn Việt Nam năm 2004- 2005, Giải B cuộc thi viết về môi trường: Qua thơ và truyện: Hành tinh xanh mãi xanh do Hội Nhà văn Việt Nam cùng Báo Thiếu niên Tiền Phong tổ chức năm 2001, Giải thưởng đặc biệt của UBTQ các hội Văn học – nghệ thuật Việt Nam tặng cho tác giả là Hội viên Hội Văn học – nghệ thuật các Dân tộc Thiểu số Việt Nam (đạt giải cao nhất – giải A) cho tập truyện ngắn
Một nửa người đàn bà, Giải B cuộc vận động Sáng tác và công bố các tác phẩm Văn học – Nghệ thuật có tư tưởng và chất lượng cao về hai cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ giai đoạn 1930 – 1975 do UBTQ các Hội
VH – NT Việt Nam phát động năm 2014 – 2015 Giải thưởng của Hội VHNT các dân tộc thiểu số Việt Nam: Giải B năm 2000, Giải C năm 2002, Giải B năm
2003, Giải B năm 2004, Giải B năm 2005, Giải C năm 2007, Giải B năm 2008, Giải A năm 2014 Giải thưởng của bộ ngành Trung ương: Giải C cho kịch bản Phim truyện Tiếng hát 20 trong hang núi của Bộ Văn hoá thông tin, Giải B cuộc thi viết về: “Sự hy sinh thầm lặng” của bộ Y tế, năm 2012, Giải B cuộc thi viết
Trang 24Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
về Giao thông vận tải của Bộ Giao thông vận tải, năm 2014 Giải thưởng của
Hội Văn học – Nghệ thuật & các ban ngành tỉnh Thanh Hoá: Giải thưởng 5 năm của UBND tỉnh Thanh Hoá về VHNT năm 2005, Giải thưởng Lê Thánh Tông của Hội VHNT Thanh Hoá năm 2003, 2004, 2007, 2008
Bằng ngòi bút sáng tạo đầy say mê, Hà Thị Cẩm Anh được đánh giá là gương mặt nữ hiếm hoi, tiêu biểu của người dân tộc thiểu số trong làng văn xuôi Việt Nam đương đại Đặc biệt, bà là một trong những nhà văn dân tộc Mường hiện đại đã có những khám phá độc đáo về hiện thực cuộc sống và con người miền núi Các truyện ngắn của bà được viết nên thật tự nhiên - như hơi
thở - như là chính cuộc sống vậy
Ngay từ những tác phẩm đầu tay của mình nhà văn Hà Thị Cẩm Anh đã
để lại ấn tượng sâu sắc về không gian, thời gian, con người vùng đất xứ Mường,
để những chất men làm say lòng người cứ thể ngầm dần, ngấm dần vào những
ai đang bước vào nơi ấy Với những dòng chữ, những câu văn giản dị nhưng
lại để lại ấn tượng khó phai trong lòng người đọc
1.1.2 Khái lược về truyện dài Đứa con trai
Đứa con trai là một truyện dài được sáng tác năm 2006, in trong tập
truyện ngắn Mưa bụi của Hà Thị Cẩm Anh, xuất bản năm 2008 Câu chuyện kể
về cuộc đời của cậu bé In In là kết quả tình yêu giữa một chàng trai miền núi nhưng lại say mê nghề thủy sản với một cô gái xinh đẹp, khỏe khoắn Họ đến với nhau, xây dựng cuộc sống sung túc, đủ đầy Nhưng sự đời nghiệt ngã, việc nhanh chóng thành công, chóng vánh trở nên giàu có đã biến bố In thành một con người tha hóa, biến chất, bị những cám dỗ làm cho xa đọa Ông lấy người
phụ nữ khác, mang theo tất cả tài sản và đẩy mẹ con In vào cuộc sống khốn cùng, đau khổ Mẹ In tuyệt vọng, đau đớn đến phát điên Chứng kiến gia cảnh chia lìa, gia đình khánh kiệt, bố bỏ đi, mẹ phát bệnh, cậu bé In nghỉ học, tìm
mọi cách kiếm sống để nuôi mẹ qua ngày Ở Mường Dồ có Ông Gấu Ngựa- kẻ luôn tỏ ra thương người, giúp người nhưng trong thâm tâm luôn mưu đồ lợi
Trang 25Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
dụng từ người già đến thanh niên, trẻ nhỏ ở Mường Dồ để thực hiện những mưu
đồ làm giàu bất chính của hắn Tàn ác hơn, hắn thò mãi bàn tay như móng vuốt
để bóc lột sức lao động của người dân trong bản, để khai thác đến cạn kiệt nguồn tài nguyên rừng, tài nguyên sông suối, tài nguyên đất đai ở Mường Dồ
Hắn không từ bất kỳ một thủ đoạn nào hòng bóc lột được nhiều nhất sức lao động, khai thác được nhiều nhất nguồn tài nguyên thiên nhiên Hắn biết cậu bé
In khó khăn lại hiếu thảo nên đã đưa cho mẹ con cậu bé ít gạo, ít cá sau đó đe
dọa và bắt cậu phải làm theo yêu cầu của hắn Cậu bé In không bằng lòng cung
cấp các thông tin về nơi trú ẩn của các muông thú, nơi ấn chứa nguồn khoáng
sản quý hiếm vì cậu yêu rừng, yêu muôn loài Tuổi thơ của cậu, kỷ niệm của cha mẹ cậu gắn với với vẻ đẹp của núi rừng nơi đây Cậu hiểu rằng, rừng không
chỉ là nơi trú ngụ của muôn loài mà rừng còn là nơi nuôi sống con người, mất
rừng, mất sông là mất đi sự sống Cậu bé In đã cố gắng gạt đi nỗi sợ hãi, cả
những cơn đói cồn cào cùng lòng thương mẹ đến quặn thắt để không tiết lộ
những tin “tốt lành” về rừng cho Ông Gấu Ngựa Vượt qua những đau khổ và thù hận, In và Mế đã quyết định ra đi để nhường lại căn nhà cho bố, Dì hai và
cô em gái cùng cha khác mẹ về sinh sống Nhờ sự giúp đỡ của Bá chẻm Cao
mà Mế con In đã có những ngày yên ổn ở Rừng Pù Có Kết thúc tác phẩm là khung cảnh nghi lễ ăn mừng của bầy voọc chào đón sự ra đời của chú voọc con
và những xúc cảm nghẹn ngào của mẹ con In cũng như Bá chẻm Cao khi chứng
kiến khung cảnh ấy!
1.2 Khái lược về tác giả Leslie M Silko và Nghi lễ
1.2.1 Khái lược về tác giả Leslie M Silko
Leslie M Silko (1948 -) sinh ra và lớn lên tại vùng đất Albuquerque, New Mexico, miền Tây Nam nước Mỹ, vùng đất tự trị (reservation) mà chính phủ
Mỹ đã cắt cho các bộ lạc da đỏ còn sót lại của vùng này cư ngụ Bà mang trong mình cả dòng màu da đỏ Laguna, da nâu Mexico và da trắng Dường như chính điều đặc biệt này đã góp phần hình thành trong văn chương của bà cảm hứng
Trang 26Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
bất tận về vấn đề dân tộc cũng như góp phần tạo nên một phong cách nghệ thuật độc đáo có sự đan xen giữa giữa truyền thống và hiện đại, giữa di sản nghệ thuật của nhiều dân tộc trong ngòi bút của bà Leslie M Silko được coi là một trong những nhà văn tiên phong mở ra một bước ngoặt mới cho văn học của cộng đồng mình – văn học của người Mỹ bản địa
Với những sáng tác độc đáo mang phong cách và nội dung tư tưởng rất riêng, Silko đã nhận được nhiều giải thưởng quý như: giải thưởng từ Quỹ Bảo trợ nghệ thuật Quốc gia Mỹ (1974), giải Pushcart cho thơ (1977), giải MacArthur (1981), giải thưởng Văn học Lannan (2000)… Bà còn được Hiệp hội Khoa học Nhân văn New Mexico tôn vinh như một di sản văn hóa còn sống Bởi vậy, nghiên cứu tác phẩm của Leslie Marmon Silko, sẽ góp phần tìm hiểu nền văn học đa văn hóa đặc sắc của Mỹ Hơn nữa, cùng là nhà văn nữ người dân tộc thiểu số, liệu Silko và Hà Thị Cẩm Anh có gặp nhau ở điểm nào trong cách nhìn vấn đề bản sắc dân tộc và vấn đề khủng hoảng môi trường Luận văn này hi vọng sẽ trả lời được câu hỏi đó thông qua việc so sánh hai tác phẩm tiêu
biểu của hai nhà văn
1.2.2 Khái lược về truyện dài Nghi lễ
Truyện dài Nghi lễ còn được dịch với một số tiêu đề khác như: Pháp lễ,
Lễ hội mặt trời Trên cơ sở đối chiếu với nguyên bản tiểu thuyết Ceremony của
Leslie Marmon Silko do nhà xuất bản Penguin Books ấn hành năm 1986, tác giả luận văn khảo sát tác phẩm dựa trên bản dịch của dịch giả Linh Thụy, sách
do NXB Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh phát hành năm 2002 dưới tên Lễ
hội mặt trời Tuy các trích dẫn chủ yếu dựa trên bản dịch này song chúng tôi
không sử dụng tên tác phẩm theo ý của dịch giả vì thấy rằng tên gọi trên gây nhầm tưởng về nội dung của tác phẩm (viết về lễ hội) Tác giả Bùi Linh Huệ
trong luận văn “Kết cấu tiểu thuyết Pháp lễ của Leslie Marmon Silko” đã chọn tên gọi Pháp lễ Tuy nhiên, chúng tôi cũng không sử dụng tên gọi Pháp lễ mà
Trang 27Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
dùng tên gọi Nghi lễ để đúng hơn với tinh thần của nguyên tác và cũng dễ hiểu
với độc giả
Truyện dài Nghi lễ được xuất bản lần đầu tiên năm 1977 đã thu hút sôi nổi
sự quan tâm, đánh giá của đông đảo bạn đọc và các nhà phê bình Từ điển Bách
khoa trực tuyến Wikipedia đánh giá: “cho đến nay khó mà gặp một lời phê bình
không hay nào về cuốn tiểu thuyết này Đó vẫn là cuốn tiểu thuyết của văn học người Mỹ bản địa thường được các trường cao đẳng và đại học đem vào giảng dạy nhiều nhất và nghiên cứu nhiều nhất…Trên một đất Mỹ đang tràn ngập những cựu chiến binh Việt Nam khủng hoảng, thông điệp của cuốn sách về hàn gắn và hòa hợp giữa các dân tộc và con người nói chung khiến cho nó đạt được những thành công ngay lập tức và lâu dài”[78]
Trong lời giới thiệu, dịch giả Linh Thụy đã tóm lược nội dung tác phẩm này như sau: Tác phẩm là câu chuyện về một cựu chiến binh da đỏ bị vong thân sau Thế chiến II, và tìm cách hồi phục, tìm lại con người thực của mình Nhưng nhìn khía cạnh khác, câu chuyện lại rất phức tạp và lớn lao: Vong thân là một
sự kiện cực kỳ vi tế, phức tập và tìm lại con người thực là một đề tài to tát Ở đây, nhân vật chính đã tìm con người thực của mình qua cái nhìn và triết lý của người Mỹ Nguyên thủy, tức người da đỏ Lễ hội đã được dùng để đưa nhân vật vong thân về nguồn gốc thực của mình, rất gần gũi, hòa hợp cùng thiên nhiên, nhất là mặt trời Tayo là nhân vật đầy phức cảm, anh ta bị vong thân từ khi còn bé: là một đứa trẻ lai không có cha, với người mẹ da đỏ hư thân và bị đàn ông
da trắng dụ dỗ - và chết sớm – sống trong gia đình của bà ngoại, cùng bà dì rất ghét anh, và ông cậu Nơi đó, Tayo là một người “bán xa lạ” đã bị lạc loài cùng cội nguồn ngay từ đầu Tayo bị dì và các bạn trong cộng đồng da đỏ ghét bỏ khi còn bé, luôn luôn mang mặc cảm về nguồn gốc con hoang và màu da nửa vời của mình, cho nên thiếu tự tin và tự trọng ngay từ khi còn bé Tác phẩm này không chỉ chứa chất những tiếng than vãn của một bộ tộc mất nước mà còn trình bày rất nhiều khía cạnh đẹp đẽ trong đời sống và nhân sinh quan của người
Trang 28Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
da đỏ Một thứ triết lý dầy dung hợp, hòa diệu cùng thiên nhiên, và rất giàu tính nhân bản Thông điệp lớn nhất mà tác giả thể hiện trong tiểu thuyết này đó là cái nhìn tâm linh, sâu sắc về chiến tranh và kẻ hủy diệt gắn với những huyền thoại của người Da đỏ
Robert Lee trong cuốn Văn học đa văn hóa Mỹ cũng khẳng định tác phẩm
Nghi lễ “xứng đáng là cuốn tiểu thuyết trung tâm của văn học người Mỹ bản
địa” [77; 105] Sức hấp dẫn ấy của thiên tiểu thuyết được nhiều lời ngợi ca này đến từ những ý nghĩa nội dung tư tưởng phong phú, sâu sắc được chuyển tải bằng một thứ nghệ thuật đầy tính sáng tạo và tinh tế Nhà nghiên cứu này cũng
dành một số trang đáng kể cho Silko và tiểu thuyết Nghi lễ: “Những câu thơ
mở đầu trong tiểu thuyết Nghi lễ (1977) của Leslie M Silko đã đưa ra điểm
mấu chốt để hiểu tiểu thuyết Đó là cách thức nối kết vấn đề nhân vật người cựu chiến binh Tayo bị chiến tranh hủy diệt tinh thần, huyết thống pha tạp với cơn hạn hán trên cùng tự trị Laguna cùng những vụ thí nghiệm hạt nhân gần Los Alamos trong tính đương đại của chúng Cứ mỗi bước chuyển, trong cái khung khổ thời gian từ bình minh tới bình minh, Silko lại hòa trộn tiểu thuyết của mình và đặt nó song song với câu chuyện về huyền thoại sáng tạo và trợ giúp của vùng Laguna, chuyện kể về phù thủy, chuyện về những cuộc tìm kiếm
và hàn gắn Kĩ thuật đó duy trì sự tương tác, tạo cảm giác giống như một cuốn tiểu thuyết đúp được kể hai lần, và khiến cho tác phẩm giành vị trí trung tâm trong văn học của người Mỹ bản địa một cách xứng đáng” [77; 105] Trang
web từ điển trực tuyến Wikipedia cũng đánh giá: “Nghi lễ thường được gọi là một cuốn tiểu thuyết Chén Thánh (Grail Fiction), trong đó người anh hùng vượt
qua một loạt các thử thách để đạt tới một mục đích đã xác định)” [79]
Như vậy, có thể thấy các công trình trên đều nhấn mạnh vai trò của các
chất liệu và kĩ thuật kể chuyện dân gian tới kết cấu của tiểu thuyết Nghi lễ và
các tác phẩm văn học cùng dòng với nó Tuy nhiên, những nội dung mà tiểu thuyết này đề cập đến còn rất nhiều điều mà chúng ta có thể khai thác Do đó,
Trang 29Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
việc vừa soi chiếu tác phẩm này dưới lăng kính của phê bình sinh thái, vừa đặt
nó trong sự đối sánh với các tác phẩm khác là hướng nghiên cứu mới mẻ và thú
vị mà chúng tôi lựa chọn để thực hiện luận văn này Bằng những khảo sát cụ thể, chúng tôi sẽ phân tích và chỉ ra những tương đồng và khác biệt trong cách quan niệm và thể hiện vấn đề sinh thái trong hai tác phẩm đã nêu đồng thời
khẳng định giá trị của hai tác phẩm cũng như vị trí của hai nhà văn trong dòng
chảy văn học của mỗi dân tộc
1.3 Khái lược về phê bình sinh thái
1.3.1 Phê bình sinh thái là gì?
Sinh thái (oikos) theo nghĩa gốc tiếng Hy Lạp cổ là nhà ở, nơi cư trú Thuật ngữ sinh thái học (ecology) có nguồn gốc từ chữ Hy Lạp, bao gồm oikos (chỉ nơi
sinh sống) và logos (học thuyết, khoa học) Thuật ngữ “sinh thái học” chỉ thật
sự ra đời vào năm 1869 do nhà sinh vật học Ernst Haecker đưa ra Trải qua hàng trăm năm phát triển, sinh thái học đã có rất nhiều định nghĩa nhưng chung
nhất vẫn là học thuyết nghiên cứu về nơi sinh sống của sinh vật, mối tương tác
giữa cơ thể sinh vật sống và môi trường xung quanh Ngày nay, sinh thái học không chỉ tồn tại trong sinh học mà nó còn là khoa học của nhiều ngành khác, trong đó có khoa học xã hội và nhân văn
Trong lời giới thiệu cuốn Phê bình sinh thái là gì? tác giả Nguyễn Đăng
Điệp đã nhận định: “Văn học sinh thái là cách định danh thời nay đối với những tác phẩm văn học ra đời trong bối cảnh môi trường sinh thái ngày càng xấu đi,
nội dung của chúng thể hiện trách nhiệm xã hội của người viết đối với vấn nạn này Dòng văn học này được tính từ thời kỳ văn học lãng mạn với các tác phẩm
kinh điển như: Frankenstein của Mary Shlley (1818), Walden của Henry David Thoreu (1854), Niên giám x ứ cát của Aldo Leopold (1949), Dòng suối im lặng
của Rachel Louise Carson (1962)… Đó là thời kỳ chủ nghĩa tư bản với sự phát triển vũ bão của công nghiệp đã làm hé lộ dần những mặt trái đen tối: sự tàn
Trang 30Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
phá, hủy hoại môi trường tự nhiên một cách khủng khiếp Các nhà lãng mạn đã
sớm dự cảm về những hư tổn mất mát này và đưa chúng vào văn học đương
thời… Văn học sinh thái không chỉ hướng đến các tác phẩm văn học thời kỳ lãng mạn và sau này mà nó còn rọi cái nhìn xa hơn để tìm hiểu cả mối quan hệ
giữa con người với tự nhiên trong văn học của những giai đoạn trước đó So
với văn học sinh thái, thuật ngữ phê bình sinh thái ra đời muộn hơn và gây nhiều thắc mắc hơn cho độc giả” [31; tr5,6]
Nếu như ở Anh người ta thường sử dụng thuật ngữ “phê bình xanh” (green criticism) thì ở Mỹ lại thích sử dụng thuật ngữ “phê bình sinh thái” (ecocritism) Nhiều thuật ngữ khác cũng thường được sử dụng như “thi pháp sinh thái” (ecopoetics), “phê bình văn học môi trường” (environmental literary criticism), “nghiên cứu xanh” (green study) hay “nghiên cứu (văn hóa) xanh” (green (cultural) studies), sáng tác tự nhiên (nature writing), sinh thái học lãng
mạn (Romantic Ecology)… Hiểu một cách đơn giản, nói như Cheryll Glofelty, người khởi xướng phê bình sinh thái ở Mỹ: “Phê bình sinh thái là nghiên cứu văn học gắn liền với chủ đề môi trường”
Cũng theo tác giả Nguyễn Đăng Điệp: “Phê bình sinh thái (ecocritisim)
là một bước chuyển ngoạn mục, đầy tính thích ứng của một bộ phận phê bình văn học trong bối cảnh khủng hoàng môi trường toàn cầu Sự chuyển làn bất thường này được hiểu như là nỗ lực của các nhà nghiên cứu mong muốn tìm
kiếm trong văn học nghệ thuật những thông điệp môi trường hiển lộ hay ngầm
ẩn, từ đó khơi ngợi nhu cầu tìm hiểu và khắc phục những thương tổn mà con người đã gây ra cho giới tự nhiên Trong thế kỷ XX, nhiều ngành nghiên cứu nhân văn liên quan mật thiết tới nội dung bảo vệ môi trường liên tục xuất hiện: triết học môi trường, thuyết giải phóng động vật, mỹ học sinh thái…Và như
một sự tiếp nối những hoạt động nghiên cứu sinh thái mang tính liên ngành này, phê bình sinh thái phát triển và gặp gỡ với nhiều diễn ngôn khác liên quan
Trang 31Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
đến như: hậu hiện đại sinh thái, nữ quyền luận sinh thái, hậu thuộc địa sinh thái…” [31; tr5]
Vào năm 1978, Wiliam Rueckert được coi là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ phê bình sinh thái trong chuyên luận Văn học và sinh thái học: một
th ử nghiệm mới trong phê bình sinh thái (Literature and Ecology: An Experiment in Ecocritism) Ông sử dụng thuật ngữ này với mong muốn ứng
dụng sinh thái học và các thuật ngữ sinh thái học vào nghiên cứu văn học
Các nhà phê bình sinh thái đã công bố các tác phẩm nghiên cứu về vấn
đề này vào cuối những năm 1960 và 1970 Trong thời gian này, công trình của
Joseph Mecker là Bi k ịch của sự sống sót (The Comedy of Survial, 1974) đã
đưa ra được một vấn đề mà sau này trở thành cốt yếu của phê bình sinh thái và triết học môi trường: cuộc khủng hoảng môi sinh chủ yếu bắt nguồn từ truyền
thống văn hóa phương Tây vốn chia tách văn hóa ra khỏi tự nhiên và dành cho văn hóa thế ưu trội
Giữa thập kỉ 80 của thế kỉ XX, các học giả đã cộng tác với nhau xây dựng phê bình sinh thái trở thành một phong trào mạnh mẽ Người có công phát triển phong trào phê bình sinh thái là Cheryll Glotfelty Ông cùng Harold Fromm đồng biên tập tuyển tập cốt yếu các bài viết có tính định hướng quan trọng là
Tuy ển tập Phê bình sinh thái: Các mốc quan trọng trong Sinh thái học Văn học
(The Ecocriticism Reader: Landmarks in Literary Ecology, University of Georgia Press, 1996) Năm 1992, Cheryll Glotfelty cũng là nhà sáng lập ra ASLE (the Association for the Study of Literature and Environment) – Hiệp
hội Nghiên cứu Văn học và Môi trường ASLE có một tờ báo riêng là ISLE (Interdisciplinary Studies in Literature and Environment – Nghiên cứu Liên
ngành Văn học và Môi trường) ra đời năm 1993 Nhờ đó phê bình sinh thái đã
chính thức trở thành một phong trào nghiên cứu hàn lâm vào đầu thập niên
1980 Thông qua nghiên cứu văn học để nhìn nhận lại toàn bộ văn hóa của con
Trang 32Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
người Chính thái độ ngạo mạn của con người đối với tự nhiên đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sinh thái Phê bình sinh thái đã thay đổi
một cách cơ bản cách nhìn nhận, tiếp cận đối tượng, tất cả các phong trào nghiên cứu văn học từ trước đến nay đều lấy con người làm trung tâm, còn phê bình sinh thái lấy sinh thái làm trung tâm Để giải quyết vấn đề sinh thái, đòi hỏi con người phải nhìn nhận lại phương thức sống của mình, xem xét lại văn minh, văn hóa của mình để đề xuất và điều chỉnh, đánh giá lại thái độ của mình đối
với tự nhiên Đây là cuộc cách mạng về thế giới quan của con người: Sự sống phát triển khi con người được sống hài hòa, thân mật, hợp với tự nhiên
Được manh nha vào những năm 70 của thế kỷ XX nhưng phải đến những năm 90 của thế kỷ XX phê bình sinh thái mới thực sự trở thành một khuynh hướng nghiên cứu văn học ở Mỹ và tiếp đó lan ra toàn thế giới Theo Scott Slovic, phê bình sinh thái khảo sát cặn kẽ những ngụ ý về môi trường sinh thái
và quan hệ giữa con người - tự nhiên trong bất kỳ văn bản văn chương nào, kể
cả những văn bản (thoạt nhìn) dường như không để ý gì đến thế giới con người Tuy nhiên, về sau, đối tượng của phê bình sinh thái không chỉ giới hạn trong văn học, nó còn mở rộng ra các ngành nghệ thuật khác như: hội họa, kiến trúc, điện ảnh…
Sang thế kỷ XXI, để tương thích hơn nữa với những diễn biến của thời
cuộc, diện mạo phê bình sinh thái đã có những thay đổi đáng kể Khuynh hướng này thiên về nhân chủng học và lấy trung tâm là bình diện xã hội Giới nghiên
cứu phê bình sinh thái ngày càng quan tâm nhiều hơn đến vấn đề đô thị và quá trình công nghiệp hóa, vấn đề công bằng/ bất công môi trường, vấn đề về sắc
tộc, các nhóm thiểu số, cộng đồng bản địa, chủ nghĩa hậu thực dân, cộng đồng lưu vong và chủ nghĩa thế giới trở thành mối quan tâm hàng đầu Hay nói cách khác, phê bình sinh thái chuyển mối quan tâm từ phạm vi địa phương sang
phạm vi xuyên quốc gia/toàn cầu Như vậy, đối tượng của phê bình sinh thái
Trang 33Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
giờ đây là “tất cả những hình thức truyền thống biểu hiện, từ các văn bản in đến
sự trình diễn thị giác, âm nhạc, điện ảnh cũng như các tài liệu pháp lý và các báo cáo của các tooro chức phi chính phủ” [31; 7,8]
1.3.2 Phê bình sinh thái ở Việt Nam
Ở Việt Nam đến thời điểm hiện nay chưa có một dòng văn học được gọi là văn học sinh thái, văn học bảo vệ môi trường” [20] Vấn đề đặt ra là liệu có thể áp
dụng nó để phân tích các tác phẩm văn học Việt Nam không? Giải pháp được các nhà phê bình sinh thái đưa là: không nhất thiết phê bình sinh thái chỉ có thể áp
dụng để phân tích dòng văn học sinh thái, mà có thể sử dụng để phân tích bất kì tác phẩm nào có “những nhân tố thể hiện ý thức sinh thái” [20] Vì “trên thực tế,
tư tưởng sinh thái đã manh nha từ lâu, Trung Quốc cổ đại có tư tưởng “thiên nhân
hợp nhất”, “đạo pháp tự nhiên”, châu Âu thế kỉ XVIII - XIX có trào lưu triết học
trở lại với tự nhiên” [21] Những tư tưởng triết học đó hoặc ít hoặc nhiều đều in
dấu trong sáng tác văn học cổ kim Đông Tây, có điều trong nghiên cứu văn học trước kia chưa thực sự chú ý đến hàm ý sinh thái trong đó Vì thế việc vận dụng lí thuyết mới để nghiên cứu những vấn đề, hiện tượng trong văn học Việt Nam mang đến nhiều triển vọng về những kết quả mới
Từ sau đổi mới, giới nghiên cứu khá cởi mở trong việc tiếp thu các luồng
tư tưởng, học thuyết mới nhưng đối với phê bình sinh thái thì vẫn còn nhiều dè
dặt Lí giải hiện tượng đó, Đỗ Văn Hiểu trong bài viết Phê bình sinh thái –
khuynh hướng nghiên cứu văn học mang tính cách tân đã chỉ ra những đặc điểm
riêng khiến phê bình sinh thái gặp trở ngại cho sự phát triển, mở rộng ở Việt Nam như: sự cách tân về tư tưởng nòng cốt, chuyển đổi từ tư tưởng “nhân loại trung tâm luận” sang lấy “sinh thái trung tâm luận” làm nền tảng, mang sứ
mệnh mới là “nhìn nhận lại văn hóa nhân loại”, đồng thời có nguyên tắc mỹ
học riêng và xác lập đối tượng, phạm vi nghiên cứu riêng
Theo một số nhà nghiên cứu, những dẫn nhập về phê bình sinh thái được
Trang 34Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
giới thiệu ở Việt Nam chủ yếu là qua các bài dịch của Đỗ Văn Hiểu và dịch giả
Hải Ngọc và bài viết Phê bình sinh thái tinh thần trong nghiên cứu văn học
hi ện nay Trần Đình Sử Qua đó, tư tưởng sinh thái đã được vận dụng để xem
xét quan hệ giữa văn học và môi trường văn hóa, tinh thần xã hội Những bài
viết trên là nguồn tư liệu quan trọng cho giới nghiên cứu Việt Nam vận dụng
những lí thuyết của phê bình sinh thái vào nghiên cứu văn học Đến nay, nghiên
cứu văn học dưới góc nhìn sinh thái học ở nước ta đã có những thử nghiệm với các bài viết như: “Đọc cánh đồng bất tận từ điểm nhìn phê bình sinh thái” và
“Bước đầu tìm hiểu truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp” của Đặng Thị Thái Hà,
“Khí quyển thơ sinh thái” của Mai Văn Phấn, “Thơ, bầu trời và những linh
hồn” của Nhã Thuyên… trình bày tại một số hội thảo và một số nghiên cứu khác như chúng tôi đã dẫn ở phần lịch sử vấn đề Những nghiên cứu này đó có
ý nghĩa như một thử nghiêṃ cho việc tìm tòi một hướng nghiên cứu mới và khá triển vọng ở Việt Nam
Trong bài viết “Phê bình sinh thái – vài nét phác thảo”, tác giả Trần Thị Ánh Nguyệt đã phác thảo về vấn đề này như sau: Từ năm 2011 đến nay, phê bình sinh thái bắt đầu được chuyển dịch, giới thiệu và thực hành nghiên cứu
ngày một nhiều hơn ở Việt Nam Điều đó, xuất phát từ nhu cầu bức thiết của dân tộc, nó cũng chứng tỏ sự hòa chung vào xu hướng toàn cầu hóa trong nghiên
cứu văn học Việt Nam Năm 2011, Viện Văn học tổ chức buổi thuyết trình về
vấn đề phê bình sinh thái Karen Thronber sang Việt Nam trong khuôn khổ Hội
thảo quốc tế 2011 “Tiếp cận văn học châu Á từ lý thuyết phương Tây hiện đại:
vận dụng, tương thích, thách thức và cơ hội” Tại Viện Văn học, bà cũng đã có
buổi giảng về Ecocriticism giới thiệu một cách tổng quan về bản chất, ý nghĩa
và tiến trình của nghiên cứu văn chương môi trường và sau đó phân tích 6 điểm
cơ bản mà phê bình sinh thái quan tâm Từ đó, phê bình sinh thái đã được giới thiệu, ứng dụng nghiên cứu tại Việt Nam với các tác giả như: Đỗ Văn Hiểu,
Trang 35Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Huỳnh Như Phương, Nguyễn Đăng Điệp, Nguyễn Thị Tịnh Thy, Trần Thị Ánh Nguyệt, Đặng Thị Thái Hà… Hiện tại, có hai cuốn sách về phê bình sinh thái
đã được xuất bản: Con người và tự nhiên trong văn xuôi Việt Nam sau 1975 từ
góc nhìn phê bình sinh thái (Trần Ánh Nguyệt và Lê Lưu Oanh, 2018), Rừng
khô su ối cạn, biển độc và văn chương (Nguyễn Thị Tịnh Thy, 2017) Các
trường đại học, các Viện nghiên cứu cũng đã quan tâm đến phê bình sinh thái nhiều hơn, bằng chứng là tại các hội thảo khoa học trong nước và quốc tế, phê bình sinh thái đã xuất hiện trên diễn đàn trao đổi, đó cũng là khuynh hướng mà nhiều học viên cao học, nghiên cứu sinh lựa chọn
Tuy nhiên, thành tựu về dịch thuật phê bình sinh thái còn khá khiêm tốn
Bài Phê bình sinh thái - c ội nguồn và sự phát triển [21] của Đỗ Văn Hiểu đã
tổng hợp, giới thiệu phong trào phê bình sinh thái trên thế giới, đồng thời chỉ ra
cội nguồn tư tưởng của các nhà triết học phương Tây làm tiền đề xuất hiện phê bình sinh thái Trần Ngọc Hiếu với bản dịch Những tương lai của phê bình sinh
thái và văn học [60] đã cung cấp cho chúng ta một cái nhìn nhiều gợi ý về triển
vọng của phong trào Các bản dịch của Đặng Thị Thái Hà (Phê bình sinh thái,
Kate Rigby, 2014), Trần Thị Ánh Nguyệt (Nghiên cứu văn học trong thời đại
kh ủng hoảng môi trường, Cheryll Glotfelty, 2014) từ những văn bản khá quan
trọng của phê bình sinh thái thể hiện sự nỗ lực giới thiệu phê bình sinh thái ở
Việt Nam Gần đây là cuốn Phê bình sinh thái là gì? Đã được Viện Văn học chủ
trì dịch, Hoàng Tố Mai chủ biên Tuy nhiên, thành tựu dịch thuật mới chỉ dừng
lại ở những bài viết, bài tổng thuật, cần có những công trình dịch dài hơi hơn về phê bình sinh thái
Cuối năm 2017, đầu 2018 có 3 hội thảo về phê bình sinh thái: Hội thảo khoa học quốc tế “Phê bình sinh thái: tiếng nói bản địa, tiếng nói toàn cầu” của
Viện Văn học tổ chức (12/2017); Hội thảo khoa học quốc tế lần thứ 2 “Sinh thái
học trong văn học Đông Nam Á: Lịch sử, Huyền thoại và Xã hội” của Hiệp hội
Trang 36Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
nghiên cứu liên ngành Văn học và Môi trường Đông Nam Á (ASLE ASEAN)
diễn ra tại Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội (01/ 2018); Hội thảo khoa học “Phê bình sinh thái: Lí thuyết và ứng dụng” của Khoa Ngữ Văn, Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh (01/2018) chứng tỏ sự quan tâm ngày càng nhiều hơn với phê bình sinh thái của giới nghiên cứu Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng phê bình sinh thái cần được dịch thuật, giới thiệu và nghiên
cứu một cách nghiêm túc, bài bản và toàn diện hơn nữa; các nhà văn cần có nhiều tác phẩm viết về đề tài này để thúc đẩy tương lai sinh thái trong văn học Văn
học quan tâm đến sự sống, sự khủng hoảng sinh thái ngày càng ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống, vậy nên văn học cần có những tiếng nói mạnh mẽ hơn để bảo vệ sự sống trên Trái đất
Qua tìm hiểu về phê bình sinh thái trên thế giới và ở Việt Nam, tác giả Nguyễn Đăng Điệp đã chỉ ra những nét đặc thù riêng của khuynh hướng này như sau:
1 Nhà phê bình luôn tìm kiếm mối quan hệ giữa “văn hóa” và “tự nhiên” (hay “văn minh” và “hoang dã”)
2 Lấy sinh thái làm trung tâm và coi đó là kim chỉ nam hoạt động của phê bình sinh thái cũng như văn học sinh thái Xu hướng này muốn xem con người như một nhân tố nằm trong hệ sinh thái, xem thiên nhiên là một thực thể
có tiếng nói, có quyền lợi riêng chứ không chỉ là đối tượng để con người khai thác, áp đặt giá trị của mình vào nó
3 Trong nền tảng lý thuyết phê bình sinh thái: Nội hàm căn bản của phương pháp phê bình sinh thái này là tính giải cấu trúc mạnh mẽ, biểu hiện ở các đặc điểm như lệch tâm, tản quyền, cái chết của chủ thể, chất vấn và tái thiết… Về bản chất, phê bình sinh thái vẫn là một phần của lý thuyết phương Tây hiện dại và hậu hiện đại Nó thực sự là một hướng nghiên cứu văn họ, nghệ thuật mà điểm khác biệt lớn nhất so với các hướng nghiên cứu khác là sự định
Trang 37Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
hướng về chủ đề môi trường [31; 10]
Đây là những khung lý thuyết và định hướng nghiên cứu quan trọng giúp chúng tôi triển khai luận văn này
1.4 Phê bình sinh thái nữ quyền và việc nghiên cứu văn học dân tộc thiểu số
Một số sự tương đồng giữa phê bình sinh thái và phê bình nữ quyền đã dẫn đến việc kết hợp chúng để tạo thành một khuynh hướng gọi là phê bình
sinh thái nữ quyền (ecofeminism)
Phê bình nữ quyền là một trường phái phê bình văn học thoát thai từ phong trào chính trị xã hội, phát triển mạnh mẽ vào giữa thế kỷ XX, chủ trương xác lập một nền mỹ học, lý luận văn học và sáng tác văn học riêng cho nữ giới Cũng như các trường phái phê bình khác, phê bình nữ quyền được xây dựng trên một hệ thống các khái niệm như: nữ quyền (feminism), giới tính (gender), phái tính (sex), chủng tộc (race) và giai cấp (class) Nữ quyền (Feminism, women’s right) hiểu một cách khái quát là khái niệm chỉ quyền lợi về chính trị
và xã hội của người phụ nữ Thông qua những hoạt động đấu tranh chính trị và
xã hội, giới nữ đòi lại những lợi ích chính đáng của mình để đạt đến sự bình đẳng với nam giới Bên cạnh đó, dưới tư cách là một trào lưu chính trị - xã hội, theo quan điểm của các nhà xã hội học thì chủ nghĩa nữ quyền được hiểu
là “sự ủng hộ tính bình đẳng xã hội của hai phái, dẫn đến sự phản đối chế độ gia trưởng và phân biệt đối xử giới tính” Trong khi giới tính (sex) là đặc điểm sinh học trời sinh, thì giới (gender) lại là một khái niệm động, được hình thành dưới những định kiến khác nhau ở những cộng đồng, xã hội khác nhau Đó là
“những kiểu hành vi, quan điểm, thái độ mà được xã hội trông đợi tạo nên mỗi giới tính Những vai trò này bao gồm các quyền và các trách nhiệm được chuẩn hóa đối với từng giới tính trong một xã hội cụ thể”
Trang 38Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
N ếu như phê bình sinh thái là nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học và
môi trường tự nhiên thì phê bình nữ quyền xem xét ngôn ngữ và văn học từ góc
độ giới Góp phần nghiên cứu về mối quan hệ giữa phê bình sinh thái và phê
bình nữ quyền, tác giả Nguyễn Thị Tịnh Thy trong bài viết: Phê bình từ chủ
nghĩa nữ quyền sinh thái: Sự kết hợp giữa “cách mạng giới” và “cách mạng xanh” trong nghiên cứu văn học đã đưa ra những kiến giải một cách khá sâu
sắc Theo tác giả bài viết, mối quan hệ giữa phê bình sinh thái và phê bình nữ quyền đã tạo ra “một hệ hình phê bình mới: phê bình văn học từ chủ nghĩa nữ quyền sinh thái - kết tinh của cuộc hôn phối giữa “cách mạng giới” và “cách
mạng xanh” trong phê bình văn học” Những điểm cơ bản về chủ nghĩa nữ quyền sinh thái được tác giả Tịnh Thy nêu ra trong bài viết như sau:
Chủ nghĩa nữ quyền sinh thái (Ecofeminism) là một phong trào chính trị
- xã hội ra đời ở phương Tây cuối thập niên 70 và phát triển thành cao trào vào thập niên 90 của thế kỷ XX Đây là hợp lưu của hai dòng chảy sinh thái học và chủ nghĩa nữ quyền Đại biểu tiêu biểu gồm có: Françoise d'Eaubonne (1920 - 2005), Karen J Warren (1947 - ), Val Plumwood (1939 – 2008), Karolyn Merchant (1936 - ), Vandana Shiva (1952 - )
Qua hàng loạt các nghiên cứu, các tác giả theo chủ nghĩa nữ quyền sinh thái khẳng định: 1/ Phụ nữ gần gũi với tự nhiên, nam giới thì luôn coi tự nhiên
là thù địch 2/ Các sinh mệnh trên trái đất là một mạng lưới gắn kết với nhau, không phân chia cao thấp 3/ Xây dựng một hệ thống sinh thái lành mạnh, bền vững bao gồm con người và các chủng loài khác 4/ Tuyên chiến với quan điểm đối lập nhị nguyên, với sự phân tách con người và tự nhiên, nam và nữ
Chủ nghĩa nữ quyền sinh thái phân thành ba trường phái chính: Chủ nghĩa
nữ quyền sinh thái văn hóa lấy việc xây dựng và chấn hưng văn hóa nữ giới
làm con đường căn bản của việc giải quyết nguy cơ sinh thái Chủ nghĩa nữ
quyền sinh thái triết học cho rằng trong mô hình phát triển kinh tế của chế độ
Trang 39Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
gia trưởng, phụ nữ và giới tự nhiên bị áp bức và cưỡng đoạt Vì vậy, chỉ dựa vào mô hình kinh tế xã hội xây dựng theo nguyên tắc nữ giới mới có thể phát
triển bền vững, có thể giải phóng phụ nữ và giới tự nhiên Chủ nghĩa nữ quyền
sinh thái xã hội nghiên cứu quan hệ giữa việc thống trị phụ nữ và tự nhiên từ
quan niệm thứ bậc, cho rằng áp bức giới và nguy cơ sinh thái đều có nguồn gốc
từ thế giới quan của chế độ gia trưởng
Cũng theo tác giả Tịnh Thy, tiếp thu tinh hoa của sinh thái học và lý luận của chủ nghĩa nữ quyền, các nhà nữ quyền sinh thái đã tích cực tìm kiếm và xây dựng một phương thức tư duy, thế giới quan và luân lý đạo đức mới Điểm
có ý nghĩa cách mạng nhất của các nhà nữ quyền sinh thái là họ sớm tiếp thu quan điểm khoa học hiện đại phương Tây để đề xuất sự hoài nghi và khiêu chiến, lật đổ quan niệm giá trị cơ bản được thừa nhận lâu nay Chủ nghĩa nữ quyền sinh thái đưa ra một góc nhìn mới mẻ cho việc giải quyết nguy cơ sinh thái Đó là sự kết hợp, tương tác gữa tự nhiên và nữ giới; hai vấn đề này không nên tách rời nhau, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa Nhân loại nên đưa cả hai vấn đề này kết hợp với nhiều vấn đề xã hội khác để giải quyết nguy cơ sinh thái từ gốc rễ nhằm giảm bớt áp lực nguy cơ môi trường đối với xã hội
Phê bình văn học từ chủ nghĩa nữ quyền sinh thái tiến hành phê bình văn học từ điểm nhìn đa trùng của tự nhiên, môi trường và giới tính; đặt phê bình văn học trong ngữ cảnh của phân biệt giới và nguy cơ sinh thái, liên kết các nhân tố như giới tính, tự nhiên, văn học, văn hóa để tiến hành khảo sát và phản đối sự phân biệt giống loài và phân biệt giới tính; hoài nghi và giải cấu trúc quan niệm đối lập nhị nguyên tồn tại phổ biến trong văn hóa phương Tây; phê phán chủ nghĩa nhân loại trung tâm và văn hóa chế độ phụ quyền trung tâm Mục đích của nó là thông qua nghiên cứu văn học để tiến hành nhìn nhận lại và phê phán văn hóa nhân loại, thay đổi vị trí “kẻ khác” và “bên lề” của tự nhiên
và nữ giới, thức tỉnh ý thức chỉnh thể sinh thái và ý thức nam nữ bình đẳng của
Trang 40Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
mọi người, xây dựng một xã hội bình đẳng, hài hòa giữa nam và nữ, giữa các giống loài, giữa xã hội loài người với vạn vật trong tự nhiên, một thế giới rực
rỡ phồn vinh với đa dạng văn hóa, đa dạng sinh vật Nội hàm của phê bình văn học từ chủ nghĩa nữ quyền sinh thái rất phong phú Nó vận dụng các quan điểm của chủ nghĩa nữ quyền sinh thái như thuyết hữu cơ, quan điểm coi trọng mẹ
tự nhiên và đề xướng xây dựng xã hội lý tưởng sinh thái, phê bình thuyết cơ giới và “cái chết của tự nhiên” vào phê bình văn học nghệ thuật
Cũng như phê bình sinh thái, phê bình văn học từ chủ nghĩa nữ quyền sinh thái thuộc phạm trù nghiên cứu văn hóa Nghiên cứu văn hóa vốn có tính liên ngành, tính mở và tính phê phán Phê bình văn học từ chủ nghĩa nữ quyền sinh thái là một nhánh của phê bình hậu hiện đại, nó thách thức, giải cấu trúc và phê phán chủ nghĩa trung tâm Điều này biểu hiện ở hai phương diện: ở phương diện quan hệ giữa con người và tự nhiên, chủ nghĩa nữ quyền sinh thái phê phán, giải cấu trúc chủ nghĩa nhân loại trung tâm; ở phương diện quan hệ giữa quyền lực và trật tự, chủ nghĩa nữ quyền sinh thái phê phán, giải cấu trúc “chủ nghĩa dương vật trung tâm”
Trong luận án về phê bình sinh thái của mình, Trần Thị Ánh Nguyệt đã dành một phần nhỏ để giới thuyết phê bình sinh thái nữ quyền và ứng dụng góc nhìn này để phân tích văn học Việt Nam:
“Phê bình sinh thái chỉ ra “những văn bản sáng tác đã hòa quyện như thế nào diễn ngôn về phụ nữ và môi trường với các dạng bất công xã hội” [111] Điều này trước hết thể hiện qua cách người đàn ông và người phụ nữ đối xử với tự nhiên Người phụ nữ mang trong mình thiên tính giữ gìn và bảo vệ sự
sống nên có thái độ chăm sóc, nâng đỡ, che chở cho mọi sinh linh, trái lại, người đàn ông thường đối xử một cách độc đoán, chuyên quyền với tự nhiên và phụ
nữ Điều này tạo nên những bất công trong xã hội Các nhà phê bình sinh thái cho rằng “Sự gắn kết truyền thống của phụ nữ với thế giới tự nhiên, được coi