Văn xuôi có nhiều đổi m ới về nghệ thuật tự sự, từ sự thay đổi điểm nhìn trần thuật đến xây dựng nhân v ật, độc thoại nội tâm và dòng ý thức, tính đa thanh, đa dọng điệu…” Như vậy, tá
Trang 1–––––––––––––––––––
NGUYỄN HUY THÔNG
TRONG CHƯƠNG TRÌNH, SÁCH GIÁO KHOA
Chuyên ngành: LL & PPDH Văn - Tiếng Việt
Mã ngành: 60 14 01 11
Người hướng dẫn khoa học: TS Hoàng Hữu Bội
THÁI NGUYÊN - 2016
Trang 2Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân, được
thể hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Hoàng Hữu Bội
Các số liệu và kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung
thực và chưa từng công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Các thông tin, số liệu trích dẫn trong luận văn đều đã được trích rõ nguồn gốc Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2016
TÁC GI Ả LUẬN VĂN
Nguy ễn Huy Thông
Trang 3Với tất cả tấm lòng kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành
cảm ơn sự hướng dẫn khoa học, tận tình và độ lượng của thầy giáo TS Hoàng
Hữu Bội trong quá trình thực hiện luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên và các thầy giáo, cô giáo trường Đại học Sư
phạm Hà Nội đã tận tình, tạo điều kiện thuận lợi, hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu đề tài này
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, đồng nghiệp và bạn bè đã luôn ở bên tôi, động viên, giúp đỡ, khích lệ tôi trong những ngày học tập tại trường
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2016
Tác gi ả luận văn
Nguy ễn Huy Thông
Trang 4Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
M Ở ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài: 1
2 Lịch sử vấn đề: 2
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 6
4 Mục đích nghiên cứu: 6
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 6
6 Phương pháp nghiên cứu 6
7 Cấu trúc luận văn 7
PH ẦN NỘI DUNG 8
Chương 1 Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của phương pháp dạy học các tác ph ẩm truyện thời đổi mới 8
1.1 Cơ sở lí luận 8
1.2 Cơ sở thực tiễn của việc dạy học truyện thời kì đổi mới 20
C hương 2 Định hướng dạy học các tác phẩm truyện th ời đổi mới trong sách giáo khoa ng ữ văn b ậc trung học 44
2.1 Giới thiệu khái quát nội dung và nghệ thuật của bốn tác phẩm 44
2.2 Định hướng dạy học từng tác phẩm 52
2.2.1 Định hướng dạy học “Bến quê” 52
2.2.2 Định hướng dạy truyện “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu 59
2.2.3 Định hướng dạy học truyện ngắn “Một người Hà Nội” 67
2.2.4.Định hướng dạy học tiểu thuyết “Mùa lá rụng trong vườn” của Ma Văn Kháng 74
Trang 53.1 Thiết kế bài học “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu ở lớp 12 80
3.2 Quá trình và kết quả dạy thực nghiệm bài học: 85
3.2.1 Mục đích thực nghiệm: 85
3.2.2 Đối tượng, địa điểm, thời gian thực nghiệm: 85
3.2.3 Kết quả thực nghiệm 86
3.2.4 Kết luận chung về thực nghiệm 89
PH ẦN KẾT LUẬN 91
THƯ MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
Trang 6học đã khẳng định vai trò to lớn cũng như ý nghĩa quan trọng của việc dạy học theo đặc trưng thể loại trong môn Ngữ văn ở PTTH đối với quá trình nhận thức cũng như hoàn thiện nhân cách ở học sinh Chính vì vậy, dạy học Ngữ văn theo đặc trưng thể loại đã trở thành xu thế tiếp cận và giải mã văn bản mà nhiều giáo viên quan tâm Chúng tôi muốn vận dụng lí luận về phương pháp dạy học tác
phẩm văn chương theo thể loại vào một loại hình cụ thể Vì vậy, chúng tôi chọn
đề tài “Dạy học các tác phẩm TRUYỆN thời đổi mới trong chương trình, sách giáo khoa Ng ữ văn bậc Trung học theo đặc trưng thể loại” mong đóng góp một
tiếng nói nhỏ bé để làm sáng tỏ thêm lí luận về phương pháp dạy học tác phẩm theo thể loại
thấu đáo những vấn đề đó là việc không phải dễ dàng đối với giáo viên Chính vì vậy, mà chúng tôi chọn đề tài này nhằm góp thêm một tiếng nói vào việc giải quyết những vấn đề ấy
Trang 72 L ịch sử vấn đề
2.1 Nh ững công trình nghiên cứu truyện thời kì đổi mới
Truyện thời kì đổi mới là một trong những chặng đường phát triển vượt
bậc của truyện Việt Nam hiện đại Chặng đường này, truyện đã đi sâu vào việc
phản ánh hiện thực đời sống con người Bởi vậy đã có nhiều nhà nghiên cứu văn học quan tâm
* Cuốn “Giáo trình văn học Việt Nam hiện đại tập II, từ sau cách mạng tháng Tám 1945” (Do Nguyễn Văn Long chủ biên, (Nhà xuất bản Đại học Sư
phạm 2010) Ở chương IX, phần 3, nói về những đặc điểm cơ bản của Văn học
Việt Nam từ sau 1975, tác giả Nguyễn Văn Long đã viết như sau:
thu“… Từ sau 1975, nhất là từ giữa những năm 80 trở đi, dân chủ hóa là
xu th ế lớn của xã hội và trong đời sống tinh thần của con người… dân chủ hóa
đã thấm sâu và được thể hiện ở nhiều cấp độ và bình diện của đời sống văn học Văn học thời này cũng không hề từ bỏ vai trò vũ khí tinh thần – tư tưởng
c ủa nó, nhưng nó được nhấn mạnh trước hết ở sức mạnh khám phá thực tại và
th ức tỉnh ý thức về sự thật, ở vai trò dự báo, dự cấm Thêm nữa, trong xu hướng dân chủ hóa của xã hội, văn học còn được xem là một phương tiện cần thi ết để tự biểu hiện, bao gồm cả việc phát biểu tư tưởng, quan niệm, chính
ki ến của mỗi người nghệ sĩ về xã hội của con người… Cùng với những thay đổi trong quan ni ệm về nhà văn thì quan niệm về hiện thực như là đối tượng khám phá của văn học cũng được mở rộng và mang tính toàn diện… Xu hướng dân
ch ủ hóa cũng đưa đến sự nở rộ của các phong cách, bút pháp, bộc lộ hết mình các cá tính Sáng t ạo của nhà văn cùng với việc ra sức tìm kiếm, thử nghiệm nhi ều hình thức và thư pháp thể hiện mới, kể cả tiếp thu và vận dụng những yếu
t ố của các trường phái nghệ thuật hiện đại phương Tây.” [ Tinh thần nhân bản
và sự thức tỉnh ý thức cá nhân là nền tảng tư tưởng và cảm hứng chủ đạo, bao trùm trong nền văn học giai đoạn này] (28, tr233 – 234)
“… Sự thức tỉnh trở lại ý thức cá nhân đã mở ra cho văn học nhiều đề tài
và ch ủ đề mới, làm đổi thay quan niệm về con người Văn học ngày càng đi tới
Trang 8m ột quan niệm toàn vẹn và sâu sắc hơn về con người… Con người là điểm xuất phát, là đối tượng khám phá chủ yếu, vừa là đích cuối cùng của văn học, đồng
th ời cũng là điểm quy chiếu, là thước đo giá trị mọi vấn đề xã hội, mọi sự kiện
và biến cố lịch sử.” [28, tr234,235]
“… Văn học đã ngày càng gia tăng tính hiện đại Văn xuôi có nhiều đổi
m ới về nghệ thuật tự sự, từ sự thay đổi điểm nhìn trần thuật đến xây dựng nhân
v ật, độc thoại nội tâm và dòng ý thức, tính đa thanh, đa dọng điệu…”
Như vậy, tác giả Nguyễn Văn Long đã khái quát những thay đổi của văn học thời đổi mới và khẳng định:
Văn học Việt Nam từ sau 1975, nhất là giữa những năm 80 trở lại đây, đã
đi những bước tiếp xa hơn trên con đường hiện đại hóa nền văn học dân tộc, đã hòa nhập đầy đủ vào tiến trình văn học thế giới
* Cuốn “Văn học Việt Nam 1975-1985, tác phẩm và dư luận ”, (NXB Hội
nhà văn, 1997) tác giả Phan Cư Đệ cho rằng:
“Cách khai thác những vấn đề chiến tranh trong mối tương quan quá khứ
- hi ện tại như thế làm cho truyện ngắn của ta sau 1975 có một bước phát triển
m ới, ngày càng hiện đại hơn, đáp ứng nhu cầu của bạn đọc ngày càng tốt hơn
B ởi nó không dừng lại ở trực giác mà đi sâu vào tâm lí, tiềm thức”
* Cuốn “Văn học Việt Nam hiện đại – nhận thức và thẩm định”, (NXB khoa học xã hội, 2001) tác giả Nguyễn Tuấn Anh khi ghi nhận công lao của truyện ngắn trong thời kì đầu của quá trình đổi mới văn học đã cho rằng:
“Truyện ngắn mở ra những mũi thăm dò, khai thác và đặt ra nhiều vấn đề đạo đức thế sự nhanh chóng đạt đến độ chín cả trong hình thức và nội dung”
* Cuốn “Văn học Việt nam thế kỉ X đến thế kỉ XX ”, (NXB Đại học quốc gia Hà Nội, 1999) tác giả Phạm Mạnh Hùng cũng đã nhận định:
“Truyện ngắn vẫn xuất hiện đều đặn trong các báo, tạp chí văn nghệ trong Nam ngoài B ắc với một số lượng không nhỏ Trong khoảng 5 năm đầu
c ủa thời kỳ hòa bình, truyện ngắn vẫn tiếp tục những đề tài và chủ đề phong
Trang 9cách, bút pháp và gi ọng điệu như đã thấy trong văn học trước đó Nhưng từ năm 80 bắt đầu xuất hiện nhiều truyện ngắn có dấu hiệu mới về tư tưởng, về ngh ệ thuật… Các tác phẩm đã đi vào những đề tài mới của cuộc sống sau chi ến tranh, hay vẫn viết về chiến tranh, nhưng với cách nhìn mới với những
m ối quan tâm, suy tư, trăn trở mới Số phận con người trong cuộc sống được chú ý khai thác ở góc độ không chỉ ở cái phi thường mà còn ở cái bình thường”
* Trong bài “Những thành tựu của truyện ngắn sau 1975” (tạp chí văn học
tháng 9-1996) tác giả Bích Thu cho rằng:
“Trong một thời gian không dài truyện ngắn đã làm được nhiều vấn đề mà
ti ểu thuyết chưa kịp làm, đã tạo ra nhiều phong cách sáng tạo có giọng điệu riêng Xét trong h ệ thống chung các loại hình văn xuôi, nghệ thuật truyện ngắn đã đạt được nhiều những thành tựu đáng kể trong nghệ thuật xây dựng cốt truyện, trong cách nhìn ngh ệ thuật về con người và trong sáng tạo ngôn ngữ… Truyện ngắn có
xu hướng tự nối mở, đa dạng hơn trong cách thức diễn đạt…”
* Sách giáo khoa Ng ữ văn lớp 12, tập I – Bộ cơ bản (NXB Giáo dục,
2008) đã có những nhận định về văn xuôi đổi mới như sau:
“… Một số cây bút văn xuôi đã có cách tiếp cận mới với hiện thực đời
s ống Nguyễn Minh Châu có “Bến quê”, “Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành”, Nguyễn Mạnh Tuấn có “Đứng trước biển”, “Cù lao tràm”, Nguyễn Khải có “Gặp gỡ cuối năm”, Lê Lụa có “Thời xa vắng” và thực sự khởi sắc ở giai đoạn từ năm 1986 – 2000 với những tác phẩm có hướng viết mới mẻ mà trước đó chưa hề có: “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu,
“Tướng về hưu” của Nguyễn Huy Thiệp, “Mảnh đất lắm người nhiều ma” của Nguy ễn Khắc Trường, “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh…”
Văn xuôi nói chung và truyện nói riêng viết về thời kì đổi mới đã được nhiều các nhà nghiên cứu trăn trở, tìm hiểu để khẳng định giá trị Các công trình nghiên cứu đó đã góp những kiến thức bổ ích, quý báu giúp người thực hiện luận văn có những hiểu biết về truyện thời kì đổi mới Trong luận văn này,
Trang 10người làm luận văn sẽ đặt trọng tâm vào việc khảo sát: “Dạy học các tác phẩm
thời kì đổi mới trong sách giáo khoa bậc phổ thông theo đặc trưng thể loại”
2.2.Nh ững tài liệu nghiên cứu về phương pháp dạy học TRUYỆN thời kì đổi mới
* Sách giáo viên:
- Bộ sách giáo viên Ngữ văn bậc THCS (Tác giả Nguyễn Khắc Phi tổng
chủ biên, Nhà xuất bản Giáo dục, 2006)
- Sách giáo viên Ngữ văn 12, tập II Bộ nâng cao (Tác giả Trần Đình Sử
tổng chủ biên, Nhà xuất bản giáo dục, 2005)
* Sách tham khảo:
- Bộ sách “Thiết kế bài học Ngữ văn 9 theo hướng tích hợp” (Tác giả
Hoàng Hữu Bội, Nhà xuất bản Giáo dục, 2004)
- Bộ sách “Thiết kế hệ thống câu hỏi Ngữ văn” (Tác giả Trần Đình
Chung, Nhà xuất bản Giáo dục, 2006)
- Bộ sách “Thiết kế dạy học Ngữ văn theo hướng tích hợp” (Tác giả
Trương Dĩnh, Nhà xuất bản Giáo dục, 2005)
- “Thiết kế dạy học Ngữ văn 12” Nâng cao (Tác giả Hoàng Hữu Bội, Nhà
- Bộ sách “Hướng dẫn chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Ngữ văn ” của Bộ
giáo dục và đào tạo, 2010
Ở mỗi cuốn sách, các tác giả có cách nhìn khác nhau, lí giải khác nhau Nhưng đều có chung một mục đích: Giúp người dạy văn biết được điều cốt lõi
của đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn trong nhà trường phổ thông
hiện nay
Trang 11Các công trình nghiên cứu trên đã là những gợi dẫn rất quý báu cho chúng tôi trong quá trình làm đề tài Tuy nhiên, chúng tôi mong muốn có cái nhìn tổng quát hơn về truyện viết về thời đổi mới trong nhà trường để tìm ra được phương án dạy học phù hợp với đặc điểm truyện viết về thời kì đổi mới và việc
tiếp nhận của thế hệ trẻ ngày nay Bởi thế chúng tôi mạnh dạn lựa chọn vấn đề này để nghiên cứu
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
-Các tác phẩm TRUYỆN thời kì đổi mới, được lựa chọn vào sách giáo khoa Ngữ văn bậc Trung học và phương pháp dạy học các tác phẩm ấy theo đặc trưng thể loại
4 M ục đích nghiên cứu
- Tìm ra những đặc trưng thể loại ở những tác phẩm TRUYỆN thời kì đổi mới
- Đề xuất phương án dạy học vừa phù hợp với đặc trưng thể loại, vừa phù
hợp với năng lực tiếp nhận của học sinh lớp 12 đối với các tác phẩm TRUYỆN
thời kì đổi mới được lựa chọn vào sách giáo khoa Ngữ văn
5 Nhi ệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên c ứu trên bình diện lí thuyết
- Đặc trưng của truyện thời đổi mới
- Phương pháp dạy học các tác phẩm truyện thời kì đổi mới theo đặc trưng
thể loại
5.2 Kh ảo sát thực tiễn dạy và học của giáo viên và học sinh
5.3 Đề xuất phương pháp dạy học các tác phẩm truyện thời kì đổi mới theo đặc trưng thể loại
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
Sử dụng phương pháp nghiên cứu lí thuyết, chúng tôi nhằm làm rõ đặc trưng của truyện thời kì đổi mới, phương pháp dạy các tác phẩm truyện theo
Trang 12đặc trưng thể loại và dạy các tác phẩm truyện thời kì đổi mới theo hướng tích
hợp và tích cực
7 C ấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương I: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc dạy học các tác phẩm truyện thời kì đổi mới
Chương II: Định hướng dạy học các tác phẩm truyện thời kì đổi mới theo đặc trưng thể loại
Chương III: Thực nghiệm sư phạm
Trang 13PH ẦN NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA PHƯƠNG PHÁP DẠY
H ỌC CÁC TÁC PHẨM TRUYỆN THỜI ĐỔI MỚI 1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Th ời kì đổi mới trong văn xuôi Việt Nam hiện đại
* Sách giáo khoa Ng ữ văn 12 (Bộ cơ bản) NXB Giáo dục viết:
“………ngày 30/4/1975, cuộc chiến tranh ái quốc vĩ đại chống đế quốc Mĩ
đã kết thúc thắng lợi Lịch sử dân tộc lại mở ra một thời kì mới, thời kì độc lập
t ự do và thống nhất đất nước Tuy nhiên, từ năm 1975 – 1985, đất nước ta lại gặp những thử thách khó khăn mới, nhất là khó khăn về kinh tế… Tình hình đó đòi hỏi đất nước phải đổi mới… Công cuộc đổi mới đòi hỏi nền văn học cũng
ph ải đổi mới…”
T ừ sau năm 1975, thơ không tạo được sự lôi cuốn hấp dẫn như ở giai đoạn trước… Nhìn chung các nhà thơ vẫn viết theo lối tư duy cũ
Nhưng sau 1975, văn xuôi có nhiều khởi sắc hơn thơ ca Một số cây bút
đã bộc lộ ý thức muốn đổi mới cách viết về chiến tranh, cách tiếp cận hiện thực đời sống… Từ sau đại hội Đảng lần thứ VI, văn học chính thức bước vào chặng đường đổi mới Do vấn đề đổi mới tư duy, phương châm nhìn thẳng vào hiện thực được coi trọng nên phóng sự điều tra có điều kiện phát triển mạnh mẽ, tiêu bi ểu là phóng sự của Phùng Gia Lộc, Trần Huy Quang, Hoàng Hữu Các,
Tr ần Khắc, Hoàng Minh Tường… văn xuôi thực sự khởi sắc với những truyện
ng ắn của Nguyễn Minh Châu: “Bức tranh”, “Chiếc thuyền ngoài xa”, “Cỏ lau”…, truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp: “Tướng về hưu”… và tiểu thuyết với các tác phẩm tiêu biểu: “Mảnh đất lắm người nhiều ma” của Nguyễn Khắc Tường, “Bến không chồng ” của Dương Hướng, “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh…” (4, tr16)
Trang 14Có thể nói từ năm 1975 – 1985 là chặng đường văn học trăn trở tìm kiếm con đường đổi mới Còn từ năm 1986 trở đi là chặng đường văn học đổi mới sâu sắc và khá toàn diện
* “Giáo trình văn học Việt Nam hiện đại” tập II – (Nhà xuất bản Đại học
Sư phạm) viết
“… Từ năm 1975 đến năm 1985 là chặng đường khởi động chuẩn bị cho cao trào đổi mới Khoảng 5 năm đầu, dư âm của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước và tác động của hai cuộc chiến tranh biên giới khiến cho văn xuôi cơ bản “trượt theo quán tính cũ” (Nguyên Ngọc)… Đến nửa đầu thập kỉ 80, nhu
c ầu đổi mới rõ dần Năm 1982, sự xuất hiện truyện ngắn “Bức tranh” đánh
d ấu bước ngoặt thật sự trên hành trình sáng tạo của Nguyễn Minh Châu Ở
m ột loạt truyện tiếp theo (được tập hợp thành 2 tập: “Người đàn bà trên chuy ến tàu tốc hành” 1983, “Bến quê” năm 1985) Nhà văn sẽ tiếp tục dòng
m ạch tư tưởng đặt ra từ tác phẩm này “Bức tranh” đã khiến dư luận đông đảo coi Nguy ễn Minh Châu như một “hiện tượng của truyện ngắn lúc đó… Có thể nói Nguy ễn Minh Châu đã tự đổi mới mình một cách lặng lẽ và quyết liệt… Ông ch ọn hướng tiếp cận đời sống từ góc độ đạo đức – thế sự, dùng thước đo nhân b ản để soi ngắm con người… Tiếp theo đó là Ma Văn Kháng với “Mưa mùa h ạ”, “Mùa lá rụng trong vườn” Nguyễn Khải với “Gặp gỡ cuối năm”,
“Thời gian của người”, Nguyễn Mạnh Tuấn với “Đứng trước biển”, “Cù lao tràm” đã mở rộng biên độ cho bức tranh đời sống và quan niệm nghệ thuật về con người…”
Từ năm 1986 đổi mới văn xuôi đạt đến cao trào, sau đó lắng lại
Nhu cầu đổi mới bùng nổ trong văn xuôi thành cao trào sôi nổi, với hàng
loạt cá tính nghệ sĩ độc đáo, nhiều tác phẩm làm xôn xao dư luận trong nước và
ngoài nước… Dư luận nói nhiều đến các bút kí phóng sự: “Cái đêm hôm ấy đêm gì” của Phùng Gia Lộc, “Câu chuyện về một ông vua Lốp”, “Lời khai của
b ị can” của Trần Huy Quang, “Suy nghĩ trên đường làng” của Hồ Trung Tú,
Trang 15“Người đàn bà quỳ” của Trần Khắc, “Làng giáo có gì vui” của Hoàng Minh
Tường… Các phóng sự trên đã mổ xẻ phanh phui mặt trái, mặt bất cập, bất công do sự lỗi thời của cơ chế cũ, do những định kiến lạnh lùng hoặc lối nghĩ giáo điều phiến diện… (văn xuôi trước kia không ai dám viết như vậy)
Tinh thần trên cũng thấm đẫm trong nhiều truyện ngắn và tiểu thuyết
“Đám cưới không có giấy giá thú” của Ma Văn Khang, “Truyện như đùa” của
Mai Ngữ, “Kẻ sát nhân lương thiện” của Lại Văn Long, “Mảnh đất lắm người
nhi ều ma” của Nguyễn Khắc Trường, “Bước qua lời nguyện” của Tạ Duy
Anh.v.v
Cùng với cảm hứng chống tiêu cực là cảm hứng phản biện, nhận thức lại
một số giá trị của thời đã qua và cảnh báo những ảo tượng ngộ nhận của con
người thời hiện đại Điều đó có trong các tác phẩm: “Mảnh vườn xưa hoang
v ắng” của Đỗ Chu, “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh, “Thiên sứ” của
Phạm Thị Hoài, “Bến không chồng” của Dương Hướng.v.v
Cảm hứng chiêm nghiệm triết lí là điểm mạnh của ngòi bút Nguyễn Khải (Một người Hà Nội) Cảm hứng triết luận trở thành một nét quan trọng của văn xuôi đương đại
* Báo văn nghệ số 23 ra ngày 7 tháng 6 năm 2014 Có bài viết “Văn học đổi mới trong hệ hình phản ánh ” của Trần Thiện Khanh
Tác giả viết: “… Lâu nay, khi nói đến văn học Việt Nam từ 1986 trở về sau người ta mặc định đây là thời kì văn học đã thực sự có những đổi mới sâu
s ắc và toàn diện… Nhưng, có thể nói rằng, văn học trong bối cảnh đổi mới của đất nước, ở dòng chính và giai đoạn đầu của nó, về cơ bản không có sự thay đổi quan trọng về mặt hệ hình, mà chỉ là sự điều chỉnh quy ước, quy chế phát ngôn v ề hiện thực, sự chuyển đổi từ cực này sang cực khác trong khuôn khổ
c ủa hệ hình phản ánh luận Cần nhận diện đúng điều này để tránh những ngộ nhận đáng tiếc”
Trang 16Chúng tôi nhận thấy rằng sự chuyển động mạnh mẽ của văn học trong bối
cảnh 1986 được ghi nhận trước hết ở văn xuôi, mà điểm nhấn của nó là các thể loại văn học báo chí, tập trung phản ánh các vấn đề xã hội nóng bỏng, tiêu cực,
bức xúc, (kí sự, phóng sự…) đề cao sự dũng cảm, trung thực, thẳng thắn trong ngòi bút Bằng cách gắn bó với đời sống nhiều mặt, không tô hồng né tránh cái sai, cái đúng, văn học đã thực sự chứng minh được nó đang tham gia tích cực vào đời sống, vào công cuộc đổi mới Ranh giới giữa các tác phẩm văn học và báo chí trong trạng thái ấy cũng ngày càng mờ dần, hiện tượng pha trộn thể loại này được nhiều người gọi là: “Văn học hóa báo chí”, “Báo chí hóa văn học”
Hiện tượng ấy cũng phần nào cho thấy tư duy phản ánh hiện thực, thể hiện hiện
thực, gai góc, thô ráp khác nhiều so với hiện thực lí tưởng hóa trước kia, trở thành nét ưu trội của tư duy đổi mới văn học Trong loại hình văn học phản ánh
những vấn đề nóng bỏng của đời sống, “Cái đêm hôm ấy đêm gì” của Phùng
Gia Lộc, “Câu truyện về một ông vua Lốp” của Nhật Linh, “Người đàn bà
qu ỳ” của Trần Khắc, “Lỗi khai của bị can” của Trần Huy Quang, “Làng giáo
có gì vui” của Hoàng Minh Tường, “Thủ tục để làm người còn sống” của Minh
Chuyên… thường được nhắc đến như những trường hợp tiêu biểu, một thành
quả của đổi mới ở phóng sự, kí sự Một số trường hợp khác, thành tựu khác trong văn xuôi ở thể loại tiểu thuyết và truyện ngắn mà lâu nay chúng ta khẳng định như những hiện thân của thời kì đổi mới cũng đều là sự tìm tòi sáng tạo, đổi chiều trong khuôn khổ của hệ hình phản ánh luận (phản ánh hiện thực đương đại và phản ánh đầy đủ nhiều chiều hiện thực đã qua)…
Trở lại bối cảnh đổi mới dưới ánh sáng đường lối đổi mới của Đại hội VI, nghị quyết số 05-NQ/TW ngày 28/11/1987 của Bộ chính trị, đời sống văn học
Việt Nam có nhiều chuyển biến quan trọng, tư tưởng nói thật, nhìn thẳng vào
sự thật, đổi mới cách nhìn, cách nghĩ trở thành tư tưởng chủ đạo, tạo điều kiện thuận lợi cho tư duy nhận thức lại hiện thực, nhu cầu phản ánh hiện thực nhiều chiều phát triển mạnh mẽ Tinh thần và cũng là một thứ triết lí về sự đổi mới
Trang 17văn học là thể hiện cách nghĩ, cách nhìn mới đối với sự thật, với hiện thực nói chung Cởi trói văn học, phá rào trong văn học, ở ý nghĩa ban đầu của nó là
hướng tới sự tự do trong phản ánh hiện thực và nhận thức kiến thức
“Đối với văn học ở giai đoạn đầu của bối cảnh đổi mới đất nước , nếu nhìn t ừ góc độ hệ hình, là không có đổi mới nền tảng, không thực sự tạo ra bước ngoặt mới, nếu có bước ngoặt thì đó là một bước ngoặt trong hệ hình chính thống, làm giàu có hơn, phong phú hơn Khung tri thức của hệ hình đó, gia tăng sức mạnh kiến tạo và diễn giải tác phẩm trong nó”
* Từ những tài liệu trên, người làm luận văn có được những hiểu biết sau đây về thời kì đổi mới trong văn xuôi đương đại Việt Nam
Thời gian xảy ra việc đổi mới trong văn học từ đầu những năm 80 của thế kỷ XX và nở rộ từ năm 1986 đến năm 1990 sau đó thì lắng lại
Biểu hiện cụ thể của sự đổi mới trong văn xuôi là:
+ Sự ra đời của hàng loạt phóng sự, kí sự làm xôn xao dư luận chẳng hạn:
“Cái đêm hôm ấy đêm gì” của Phùng Gia Lộc, “Câu chuyện về một ông vua
L ốp” của Trần Huy Quang, “Suy nghĩ trên đường làng” của Hồ Trung Tú,
“Người đàn bà quỳ” của Trần Khắc, “Làng giáo có gì vui” của Hoàng Minh
Tường.v.v
+ Sự ra đời của các truyện ngắn như : “Bức tranh” của Nguyễn Minh Châu, “Tướng về hưu” của Nguyễn Huy Thiệp v.v
+ Sự ra đời của các tiểu thuyết như: “Mảnh đất lắm người nhiều ma” của
Nguyễn Khắc Trường, “Bến không chồng” của Dương Hướng.“Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh.v.v
Tinh thần cốt lõi của việc đổi mới văn xuôi ở thập niên 80 là:
+ Đổi mới cách nhìn, cách nghĩ trong phản ánh hiện thực Dám nhìn thẳng vào sự thật và nói thẳng sự thật trong miêu tả đời sống và con người
+ Văn học thời kì đổi mới hướng tới tự do trong việc phản ánh hiện thực
và nhận thức hiện thực, một sự tự do có định hướng rộng
Trang 18 Người có công đầu trong việc đổi mới văn học ở thập kỉ 80 của thế kỉ trước là nhà văn Nguyễn Minh Châu
+ Nguyễn Minh Châu là một trong những nhà văn tiêu biểu của văn học
Việt Nam giai đoạn chiến tranh chống Mĩ, với những thành công về tiểu thuyết “Cửa sông”, “Dấu chân người lính” và truyện ngắn “Mảnh trăng cuối rừng”, sáng tác của Nguyễn Minh Châu trong thời kì này là thể hiện sự khát vọng
của nhà văn “đi tìm những hạt ngọc ẩn giấu trong bề sâu tâm hồn con người” Sau cuộc kháng chiến chống Mĩ, Nguyễn Minh Châu lại là một trong
những cây bút đi tiên phong trong công cuộc đổi mới văn học, để đáp ứng
những đòi hỏi của cuộc sống ở một thời kì mới Tác phẩm của ông, đặc biết là truyện ngắn, đã thể hiện những tìm tòi đổi mới về tư tưởng và nghệ thuật, gây
tiếng vang rộng rãi trong công chúng và giới văn học
+ Nói đến nhà văn Nguyễn Minh Châu là nói đến truyện ngắn “Bức tranh”
của ông, một tác phẩm gây xôn xao dư luận thời bấy giờ và được coi là tác
phẩm mở đầu cho việc đổi mới sáng tác văn học sau 1975
Truyện ngắn “Bức tranh” có cốt truyện khá đơn giản Một họa sĩ đang công tác ở chiến trường trong những năm chiến tranh, được lệnh ra hậu phương
để chuẩn bị cho một cuộc triển lãm tranh ở nước ngoài Trên đường ra một binh
trạm, một chiến sĩ ngỏ ý nhờ họa sĩ vẽ bức chân dung, nhưng bị từ chối Hôm sau lại chính anh lính ấy đã tận tình và độ lượng giúp họa sĩ vượt qua một
chặng đường nguy hiểm Cảm động trước người chiến sĩ, họa sĩ đã vẽ một bức chân dung ký họa về anh và hứa sau khi ra hậu phương sẽ đem đến cho người
mẹ của anh lính đang mong mỏi tin con Ra đến hậu phương, bận rộn vào các
việc khác Và kí họa về anh chiến sĩ “thồ” tranh được giới họa sĩ đánh giá cao, họa sĩ đã không nghĩ gì đến lời hứa của mình Nhiều năm sau, tình cờ ông gặp
lại người chiến sĩ năm xưa đã giúp mình nay là anh thợ cắt tóc Một cuộc đấu tranh nội tâm căng thẳng diễn ra trong con người họa sĩ, ông tự vấn lương tâm, dũng cảm nhìn sâu vào bộ mặt bên trong của mình và dồn tâm sức thể hiện nó
Trang 19trong bức chân dung tự họa có vẻ lạ lùng, kì dị nhưng đúng là “Khuôn mặt bên trong” của họa sĩ
Chủ đề và tư tưởng của truyện ngắn “Bức tranh” là gì?
Tác giả thông qua câu chuyện của người họa sĩ và anh thợ cắt tóc, muốn nêu lên:
- Lời đề nghị rụt rè của anh thợ cắt tóc (mà người kể chuyện tự nhận ra):
“Xin mọi người tạm ngừng một phút cái nhịp sống bận bịu chen lấn để tự suy nghĩ về chính mình”, phải chăng đây cũng chính là lời đề nghị tha thiết của tác giả? Qua bức chân dung tự họa kì quái của người họa sĩ, tác giả muốn đưa ra
một khám phá về thế giới bên trong của con người, cái thế giới còn chứa đựng nhiều bí ẩn, có cả bóng tối và ánh sáng, cả rồng phượng và rắn rết, thiên thần
và ác quỷ
Nhưng không chỉ đưa ra bức chân dung khuôn mặt bên trong của con người, Nguyễn Minh Châu là nhà văn của niềm tin chắc chắn vào con người, vào sự phấn đấu của con người vươn tới cái thiện cái đẹp Cuộc đấu tranh với cái xấu, cái ác để hướng thiện là cuộc đấu tranh trong nội tâm của con người để
khắc phục, để chiến thắng cái xấu ngay trong bản thân mình
Tiếp sau truyện ngắn “Bức tranh”, nhà văn Nguyễn Minh Châu đã cho ra
đời hàng loạt tác phẩm làm nên một “Nguyễn Minh Châu thuộc số những nhà văn mở đường tinh anh và tài năng nhất của văn học ta hiện nay” ( Nguyên
Ngọc) Đó là các tác phẩm “Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành”, “Bến quê”, “Phiên Chợ Giát”, “Cỏ lau”
1.1.2 N ội dung của sự đổi mới trong văn học
Cuốn “giáo trình văn học Việt Nam hiện đại ” tập II (Nhà xuất bản Đại
học Sư phạm) đã viết về những đổi mới về tư tưởng nghệ thuật của văn xuôi
thời đổi mới như sau:
* Đổi mới về quan niệm hiện thực:
“…Giai đoạn 1945-1975; do sự quy định của hoàn cảnh lịch sử, văn học
d ồn trong tâm cho nhiệm vụ tuyên truyền lí tưởng, cổ vũ chiến đấu Hiện thực
Trang 20được lựa chọn thường là hiện thực lớn lao trong xu thế phát triển lạc quan
M ột hiện thực tuyệt đối hợp lí… Sự khen chê của một tác phẩm thường xuất phát từ nguyên tắc đối chiếu nội dung đời sống được phản ánh vào tác phẩm
v ới cái hiện thực được nhận thức, được quan niệm theo mô hình định trước Nhà văn Nguyễn Minh Châu nhận xét “hiện thực của văn học có khi không phải là cái
hi ện thực đang tồn tại mà là cái hiện thực con người đang mơ ước” Đó là hiện
thực trong cái nhìn lí tưởng hóa, nó đẹp nhưng có phần đơn giản, dễ dãi
Vai trò “người mở đường” cho văn học thời đổi mới của Nguyễn Minh Châu gắn liền với việc ông thay đổi quan niệm và cách tiếp cận hiện thực Từ
hiện thực của các sự kiện, biến cố lịch sử đến hiện thực đã mở rộng, khả năng chiếm lĩnh đời sống của văn xuôi tăng lên Những mặt trái, mặt khuất lấp, cái tiêu cực, cái xấu, cái bất hợp lí được phát triển Biến cố lịch sử trở thành đường
viền cho số phận cá nhân, thành cái cớ ban đầu để nhà văn khảo sát hành trình
tự ý thức của nhân vật Như vậy lịch sử đã trở thành phương tiện để khám phá con người lịch sử theo kinh nghiệm cộng đồng trở thành lịch sử theo kinh nghiệm cá nhân Vai trò chủ thể nhà văn tăng lên, năng lực “sáng tạo” được coi
trọng hơn năng lực “phản ánh”
“ Những truyện “giả cổ tích”, “giả lịch sử”, “giả liêu trai” của Nguyễn Huy Thi ệp, Phạm Thị Hoài, Phạm Hải Vân, Hồ Anh Thái… là sự khẳng định
m ối quan hệ tự do giữa nhà văn với hiện thực Hiện thực không nhất thiết phải
là mục đích phản ánh của nhà văn, nó có thể chỉ là phương tiện để nhà văn trình bày tư tưởng, cách nhìn, sự chiêm nghiệm của riêng mình Bên cạnh kiểu
hi ện thực “kiểm chứng được” xuất hiện hiện thực của ảo giác, của tâm linh,
hi ện thực được tạo ra bằng trí tưởng tượng của người viết Cái kì ảo, cái ngh ịch dị xuất hiện khá đậm đặc trong các tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp như: “Giọt máu”, “Sói trả thù”, “Con thú lớn nhất” hay “Thân phận tình yêu” của Bảo Ninh, “Thiên sứ” của Phạm Thị Hoài và nhiều tác phẩm của Hồ Anh Thái, Nguy ễn Bình Phương… đòi hỏi người đọc phải thay đổi kinh nghiệm
m ột chiều về hiện thực…” [25, tr.247]
Trang 21* Đổi mới quan niệm về con người:
“… Quan niệm về con người chính là cơ sở chi phối những nguyên tắc chi ếm lĩnh, cắt nghĩa đời sống của nhà văn… Văn xuôi giai đoạn trước chịu tác động của hoàn cảnh thời chiến đã tập trung vào nhiệm vụ giáo dục con người
m ới, con người cộng đồng… Đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người trong văn xuôi sau 1975 bắt đầu với việc lấy con người làm tâm điểm để soi chiếu
l ịch sử Con người từ điểm nhìn lí tưởng hóa được đặt vào điểm nhìn thế sự, đời tư con người hiện diện với các quan hệ nhân sinh cụ thể, nhiều chiều, đó là cách x ử lí phổ biến… Ở “Bức tranh” của Nguyễn Minh Châu dùng một nhân
v ật kiểu tự thú để công bố niềm tin về tính phức tạp của con người
Nguy ễn Huy Thiệp làm chấn động dư luận khi ông nhìn con người như
m ột bản thể tự nhiên Từ trước đến nay, văn học thường viết về con người như
m ột ý thức xã hội Rõ ràng ý thức giữ vị trí vô cùng quan trọng đối với cuộc
s ống của con người, nhưng làm sao có thể phủ định được sức mạnh của bản năng tự nhiên, tình cảm tự nhiên
S ự đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người đã đem lại chiều sâu nhận
th ức thẩm mĩ cho văn học Sáng tác của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng… quan tâm nhiều đến hành trình tự ý thức của con người Nguyễn Huy Thi ệp, Phạm Thị Hoài, Chu Lai … có những phát hiện sắc sảo về con người bản năng, vô thức Bảo Ninh, Hồ Anh Thái… lại nhiều trăn trở với đời sống tâm linh của con người Những khám phá đa dạng đó sẽ dẫn tới sự đổi
m ới [trong thế giới nhân vật…”.(28, tr.249)
* Đổi mới quan niệm trần thuật:
Mỗi tác phẩm thường chỉ có một điểm nhìn Sự trần thuật từ nhiều điểm nhìn là bằng chứng quan trọng về đổi mới, quan niệm văn xuôi… Câu chuyện anh họa sĩ, quên lời hứa trong “Bức tranh” của Nguyễn Minh Châu sẽ được phán xét hoàn toàn khác nhau khi được đặt vào hai điểm nhìn một điểm nhìn
của chính anh ta và một điểm nhìn của người thợ cắt tóc Hay trong tác phẩm
Trang 22“Chiếc thuyền ngoài xa” cũng được Nguyễn Minh Châu đánh giá theo nhiều quan điểm: Quan điểm của Đẩu và Phùng là quan điểm của người ngoài cuộc, còn những người như bà ta nhìn bằng con mắt người trong cuộc…Như vậy
cuộc đối thoại giữa các nhân vật về tư tưởng trở thành cuộc đối thoại với chính
bạn đọc
“ Văn xuôi sau 1975 cũng có sự mở rộng đáng kể các phạm trù thẩm mĩ… Nhãn quan ngôn ngữ của văn xuôi sau 1975 là nhãn quan dân chủ cởi mở… với Nguyễn Huy Thiệp, Hồ Anh Thái, Tạ Duy Anh, Phạm Thị Hoài… ngôn t ừ hiện thực – đời thường, đậm chất khẩu ngữ được gia tăng tính tốc độ
và lượng thông tin đã chuyển tải một cách hiệu quả trạng thái vận động mãnh
li ệt mà phức tạp xô bồ của đời sống đương đại… giọng điệu văn xuôi cũng trở nên đa dạng Nhìn chung, nếu so sánh văn xuôi giai đoạn 1945 – 1975, văn xuôi sau 1975 n ổi rõ hai sắc thái giọng điệu mới: đó là giễu nhại và hoài nghi…” [28, tr.250-252]
1.1.3 Phương pháp tiếp cận các tác phẩm truyện theo đặc trưng thể loại
* Ý kiến của tác giả Trần Thanh Đạm trong cuốn “Vấn đề giảng dạy tác
ph ẩm văn học theo loại thể” (Nhà xuất bản Giáo dục HN -1971)
Về đặc trưng của truyện là: Truyện là một khái niệm rộng bao gồm các thể tài chủ yếu thuộc loại hình tự sự Tự sự có nghĩa là kể truyện và có kể chuyện
ắt là có truyện… Truyện bao giờ cũng có tình tiết, tức là có một sự tham gia
của những con người với những hành động, tính cách… Sự tồn tại của tình tiết (hay còn gọi là cốt truyện) là một đặc trưng căn bản của truyện Tâm của sự
việc, biến cố là con người, trung tâm tình tiết là nhân vật Đối tượng chủ yếu
của văn học là những con người với cuộc sống bên trong và cuộc đời bên ngoài
của họ Đã là truyện thì phải có cốt truyện, có nhân vật… Truyện bao giờ cũng
là truyện kể (hoặc kể bằng lời nói hoặc kể bằng văn viết) Lời kể chuyện là một
yếu tố rất quan trọng của truyện Cốt truyện, nhân vật, toàn bộ hình tượng của truyện được dệt nên qua lời kể của truyện Lời kể một mặt là phương tiện để
Trang 23phản ánh cuộc sống hình tượng trong truyện, mặt khác cũng là phương tiện để
biểu hiện thái độ, tình cảm, tư tưởng, sự đánh giá của tác giả đối với đời
cảm thụ và nắm vững hình tượng trong truyện, cần chú ý ba yêu cầu sau về mặt phương pháp:
Yêu c ầu thứ nhất: Làm cho học sinh nắm vững được sự phát triển của tình
tiết trong tác phẩm tức là nắm được cốt truyện [36, tr.177]
Yêu c ầu thứ hai: Làm cho học sinh cảm thụ được sâu sắc, đánh giá được
đúng đắn nhân vật trong tác phẩm [36, tr.183]
Yêu c ầu thứ ba: Làm cho học sinh cảm thụ và hiểu được cái ý trong lời kể
của tác giả (hay của người kể truyện) [36, tr.194]
* Ý kiến dạy truyện của tác giả Nguyễn Viết Chữ trong cuốn “Phương pháp
d ạy học tác phẩm văn chương theo thể loại” (NXB Đại học Quốc gia HN – 2001)
Về loại truyện: “Truyện là một loại thể tác phẩm văn học tiêu biểu cho loại hình tự sự… Trong quan niệm và lí luận về thể loại truyện là ở nội dung câu truyện được kể cùng với các biến cố và số phận của nhân vật Do vậy yếu tố cốt truyện và nhân v ật trở thành yếu tố trung tâm của tác phẩm truyện [29, tr.137]
Về vấn đề giảng dạy truyện: “Những yếu tố về thi pháp truyện như nghệ thu ật miêu tả, khắc họa tính cách nhân vật, nghệ thuật chọn lựa các chi tiết và tình ti ết, kĩ thuật xây dựng cốt truyện, tình huống… hầu như đều đã được quan tâm và gi ải quyết về lí luận một cách khá đầy đủ… [29, tr.140], khi giảng dạy
truyện cần liên hệ với ba vấn đề quan trọng sau:
Trang 241 Lời văn nghệ thuật
2 Thời gian và không gian nghệ thuật
3 Mối liên kết của các yếu tố thi pháp
* Ý kiến của người làm luận văn:
Truyện là một thể loại văn học thuộc loại tự sự Theo từ điển thuật ngữ văn học, NXB Giáo dục 2004, “Tác phẩm tự sự phản ánh hiện thực khách quan qua bức tranh mở rộng của đời sống trong không gian, thời gian, qua các sự
kiện, biến cố xảy ra trong cuộc đời con người Trong tác phẩm tự sự nhà văn cũng thể hiện tư tưởng và tình cảm của mình…
Tác phẩm tự sự bao giờ cũng có cốt truyện Gắn liền với cốt truyện là hệ
thống nhân vật được khắc họa đầy đủ… và đòi hỏi nhà văn phải sáng tạo ra hình tượng người trần thuật…”
Như vậy, về nội dung, một tác phẩm truyện bao giờ cũng có hai mặt, bức tranh đời sống và tư tưởng tình cảm của nhà văn Về hình thức nghệ thuật có ba
yếu tố; cốt truyện, nhân vật và lời kể Dạy một tác phẩm truyện là đưa học sinh vào hai thế giới: Thế giới hình tượng trong tác phẩm và thế giới tâm hồn của tác giả Hai yếu tố đó được biểu đạt qua cốt truyện, nhân vật và lời kể…
Bởi vậy, dạy học một tác phẩm truyện (truyện ngắn, truyện dài, tiểu thuyết) theo đặc trưng thể loại là sẽ tiếp cận văn bản từ ba yếu tố hình thức để dẫn hai mặt nội dung của tác phẩm Luận văn đề xuất định hướng dạy học một tác phẩm truyện là như vậy, theo định hướng ấy, tiến trình hoạt động của thầy
và trò ở trên lớp là lần lượt tìm hiểu từ cốt truyện đến nhân vật, đến lời kể Và ở mỗi yếu tố như vậy thì thầy và trò sẽ tìm hiểu tác phẩm theo hai bước: bước 1
là phát hiện sáng tạo của nhà văn về nghệ thuật xây dựng cốt truyện, nhân vật
và lời kể, bước 2 là phân tích ý nghĩa của những sáng tạo đó đối với việc thể
hiện nội dung tư tưởng của tác phẩm
Sơ đồ về hướng khai thác các văn bản truyện do luận văn đề xuất như sau:
1 Cốt truyện:
Bước 1: Phát hiện nghệ thuật xây dựng cốt truyện
Trang 25Bước 2: Bức tranh về sự thật cuộc sống nổi lên qua cốt truyện (mặt thứ
nh ất của nội dung tác phẩm)
Bước 2: Khám phá tư tưởng tình cảm của tác giả trước hiện thực cuộc
sống mà tác giả miêu tả Tuy nhiên, vì mỗi tác phẩm có sự độc đáo riêng nên chúng tôi vận dụng linh hoạt cách tiếp cận trên để phù hợp với đặc điểm từng tác phẩm Ví dụ: Với truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” chúng ta sẽ khai
thác văn bản ở 3 khía cạnh:
- Bức tranh đời sống những người dân chài
- Câu chuyện của Phùng và Đẩu
- Phong cách nghệ thuật Nguyễn Minh Châu thời đổi mới
1.2 Cơ sở thực tiễn của việc dạy học truyện thời kì đổi mới
1.2.1 Các tác ph ẩm truyện thời kì đổi mới được đưa vào chương trình sách giáo khoa b ậc trung học
Theo cuốn “chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ Văn”, NXB GD&ĐT,
2006, các tác phẩm truyện viết về thời kì đổi mới có các tác phẩm sau:
STT Tác ph ẩm Tác gi ả Năm sáng
tác Kh ối Ti PPCT ết theo
1 Bến quê (Đọc thêm) Nguyễn Minh Châu 1985 9 136
2 Chiếc thuyền ngoài
Trang 261.2.2 Hi ểu biết của học sinh về các tác phẩm truyện thời đổi mới:
Để nắm được tình hình học sinh đọc các tác phẩm truyện thời kì đổi mới chúng tôi đã khảo sát tại các lớp 12A3 của Trường Văn hóa I – Bộ Công an Chúng tôi đã sử dụng “Phiếu khảo sát vốn hiểu biết của học sinh về các tác
phẩm truyện thời đổi mới”
Câu h ỏi: Vào những năm 80 của thế kỉ trước đã diễn ra một sự đổi mới
m ạnh mẽ trong sáng tác văn học nhất là văn xuôi Một số tác phẩm tiêu biểu
c ủa sự đổi mới đó được tuyển chọn vào chương trình sách giáo khoa Ngữ văn
b ậc trung học Đó là truyện ngắn “Bến quê” của Nguyễn Minh Châu (lớp 9),
“Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu (lớp 12), “Một người Hà
N ội” của Nguyễn Khải (lớp 12), tiểu thuyết “Mùa lá rụng trong vườn” của Ma Văn Kháng (lớp 12)
- Em đã đọc tác phẩm nào trong các tác phẩm kể trên?
- Em thích tác ph ẩm nào nhất? Vì sao?
Sau khi khảo sát bằng phiếu, chúng tôi thu được những kết quả sau:
Số học sinh khảo sát: 35
Về đọc sách: Số học sinh đọc toàn bộ tác phẩm: Không có
- Số học sinh đọc trích truyện về thời kì đổi mới trong sách giáo khoa là: 35 Qua khảo sát chúng tôi thấy rằng: điều kiện đầu sách, tư liệu truyện viết
về thời kì đổi mới ở thư viện của nhà trường còn thiếu Trong số 4 tác phẩm chỉ
có hai tác phẩm là “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu và “Một
người Hà Nội” của Nguyễn Khải
Thời gian cho việc đọc các tác phẩm truyện của các em còn hạn chế do còn phải dành thời gian cho các môn học khác và những hoạt động ngoài giờ lên lớp của nhà trường và còn phần nhiều các em chưa có hứng thú với đọc các tác phẩm truyện
Về cảm nhận:
Qua khảo sát chúng tôi thấy các em học sinh đều yêu thích, và nắm rõ được những tác phẩm truyện thời kỳ đổi mới được đưa vào trong chương trình
Trang 27sách giáo khoa bậc trung học Có 28 học sinh thích tác phẩm: “chiếc thuyền ngoài xa”, 2 học sinh thích tác phẩm “Bến quê”, 3 học sinh thích tác phẩm
“Một người Hà Nội”, 2 học sinh thích tác phẩm “Mùa lá rụng trong vườn” Các
em đã đưa ra những lí do yêu thích của mình như sau:
- Em Lý A Chứ cho rằng: “Bến quê” của Nguyễn Minh Châu không chỉ là
một miền quê gần gũi mà còn là một niềm mơ ước xa xôi mang ý nghĩa triết lí
về con người và cuộc đời Cái triết lí ấy không cần phải nói dài dòng mà chỉ được gợi lên qua những tình huống đầy nghịch lí Thông qua đó nhà văn giúp chúng ta nhận thức sâu sắc về cuộc đời một cách nhẹ nhàng và thấm thía
- Em Vi Văn Nghị cho rằng: “Bến quê” chứa đựng sự tủi thân của một con
người, khi còn trẻ đi khắp mọi nơi trên trái đất Nhưng khi về già không đủ khả năng đi nữa thì ông mới nhận ra rằng đi khắp nơi đâu không bằng bến đỗ bên kia mình sống và muốn nhìn ngắm sang bên kia trước khi nhắm mắt Ông đã
bảo người con trai sang bên kia sông nhưng ông không đành lòng khi nhìn thấy người con của mình vui chơi cũng như ngày xưa ông đi khắp mọi nơi Thông qua truyện ngắn tác giả muốn gửi gắm người đọc dù đi đâu chăng nữa không nơi nào đẹp và mang lại hạnh phúc như vùng quê nơi mình sinh ra
- Em Bế Thu Thảo khi viết về lí do thích tác phẩm “Một người Hà Nội”
của Nguyễn Khải cho rằng: Truyện ngắn “Một người Hà Nội” đã phát hiện vẻ
đẹp trong chiều sâu tâm hồn, tính cách con người Việt Nam qua bao biến động, thăng trầm của đất nước Qua nội dung và ý nghĩa của truyện ngắn này nó làm cho người đọc cảm thấy hào hùng về lịch sử Hà Nội, về bà Hiền một hạt bụi vàng của Hà Nội
- Em Lý Nam Sơn cho rằng: “Một người Hà Nội” nói lên phẩm cách cao
đẹp, tác giả cũng đã khắc họa và ca ngợi bản lĩnh, cốt cách của người Hà Nội tự
trọng với lối sống văn hóa, thanh lịch, sang trọng “thuần túy Hà Nội Tác giả đã cho người đọc tự cảm nhận chứ không đưa ra đánh giá của mình Giọng điệu nghệ thuật của tác giả là giọng điệu từng trải, vừa tự nhiên, dân dã, vừa trĩu
nặng ưu tư, vừa giàu chất khái quát triết lí”
Trang 28- Em Vàng A Hồng với tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa” thì cho rằng:
“Qua tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa Nguyễn Minh Châu muốn gửi gắm mỗi con người chúng ta luôn phải có cái nhìn đa chiều, nhìn từ nhiều phía khác nhau về cuộc sống bởi nó không xuôi chiều đơn giản Chúng ta không thể đánh giá một sự vật hiện tượng chỉ qua cái nhìn cảm nhận mà cần có sự trải nghiệm
Đó là điều rất cần thiết với bản thân mỗi con người chúng ta nhất là khi cuộc
sống ngày càng phức tạp”
- Em Giàng A Vảng cho rằng: “Chiếc thuyền ngoài xa là phát hiện độc
đáo của nghệ sĩ Phùng và sự phát hiện của anh là những sự đối lập nghiệt ngã giữa cái vẻ bề ngoài lung linh hào nhoáng với cái hiện thực tàn khốc ở bên trong”
- Em Lê Viết Tùng cho rằng “Chiếc thuyền ngoài xa đã nêu lên những
cách nhìn nhận cuộc sống và tác phẩm cũng rung lên một hồi chuông báo động
về tình trạng bạo lực gia đình và hậu quả khôn lường của nó”
- Em Chẩu Văn Minh khi nói về tác phẩm “Mùa lá rụng trong vườn”
cho rằng: “Tác phẩm đã thể hiện được sự quan sát và cảm nhận tinh nhạy của tác giả về những biến động trong tư tưởng và tâm lí của con người Việt Nam Tác giả bày tỏ sự lo lắng sâu sắc cho các giá trị truyền thống đang bị đánh mất”
1.2.3 Giáo viên v ới việc dạy các tác phẩm truyện thời đổi mới
Để nắm được tình hình dạy học của giáo viên đối với các tác phẩm truyện thời đổi mới ở một số trường THCS và THPT tại Thái Nguyên; Chúng tôi đã
khảo sát một số giờ dạy ở Trường THCS Đồng Quang, thành phố Thái Nguyên
và Trường Văn hóa I – Bộ Công an đóng tại Thái Nguyên Thực tiễn giờ dạy được phản ánh qua các giáo án sau đây:
* Giáo án bài học truyện ngắn “Bến quê” của Nguyễn Minh Châu do cô giáo Trần Thị Nguyệt, Trường THCS Đồng Quang, thành phố Thái Nguyên biên soạn
* Giáo án bài học truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu do cô giáo Nguyễn Ngọc Thủy, Trường Văn hóa I – Bộ công an biên soạn
Trang 29TU ẦN 29 Ngày so ạn:
HDĐT: BẾN QUÊ Nguy ễn Minh Châu
A M ục tiêu cần đạt:
- Cảm nhận được ý nghĩa triết lí mang tính trải nghiệm về cuộc đời, con người
mà tác giả gửi gắm trong truyện
B Ki ến thức, kĩ năng, thái độ:
1 Ki ến thức:
- Những tình huống nghịch lí, những hình ảnh giàu ý nghĩa biểu tượng trong truyện
- Đọc – hiểu một văn bản tự sự có tính triết lí về con người và cuộc đời, những
vẻ đẹp bình dị, quý giá từ những gì gần gũi, xung quanh ta
2 Kĩ năng:
- Nhận biết và phân tích những đặc sắc về nghệ thuật tạo tình huống, miêu tả tâm lí nhân vật, hình ảnh biểu tượng, … trong truyện
3 Thái độ:
-Giúp h ọc sinh biết trân trọng giá trị của cuộc sống gia đình và vẻ đẹp bình dị
của quê hương
C Phương pháp: Đàm thoại, nêu và giải quyết vấn đề, thuyết trình, …
D Ti ến trình dạy học:
1 Ổn định: Kiểm tra sĩ số: 9A4
2 Bài cũ: Kiểm tra, chấm vở soạn của 2 HS
3 Bài m ới:
* Gi ới thiệu bài:
Ai cũng có một miền quê nhưng không phải tất cả mọi người đều cảm nhận được ý nghĩa của quê hương – nơi ta được sinh ra, nơi có gia đình, người
Trang 30thân Truy ện ngắn Bến quê của Nguyễn Minh Châu là những suy ngẫm, trải nghi ệm sâu sắc của nhà văn về con người và cuộc đời, thức tỉnh sự trân
tr ọng giá trị của cuộc sống gia đình và những vẻ đẹp bình dị của quê hương
- Yêu cầu đọc giọng trầm tĩnh, suy tư,
xúc động và đượm buồn, trong tâm thế
của nhân vật đang bị bệnh hiểm
phương thức biểu đạt nào?
? Thử tìm hiểu tình huống truyện? Có
nhờ con trai thực hiện khát khao của
Trang 31- GV tích hợp với NT xây dựng tình
huống ở truyện Chiếc lược ngà, từ đó
khẳng định ý nghĩa của việc sáng tạo
tình hu ống trong Nt viết truyện
- GV yêu cầu HS theo dõi đoạn đầu
văn bản, tìm hiểu cảm nhận của nhân
vật Nhĩ về vẻ đẹp của thiên nhiên
bản thân? Về người vợ của mình?
Th ảo luận: ? Trong hoàn cảnh ấy Nhĩ
khao khát điều gì? Khao khát ấy có
thực hiện được không? Ý nghĩa của
những chi tiết truyện thể hiện khao
mình nhưng cậu để lỡ chuyến đò ->Tình huống trớ trêu như một nghịch
lí
b C ảm nhận của Nhĩ về vẻ đẹp của thiên nhiên:
- Bông bằng lăng…
- Con Sông Hồng…
- Vòm trời…
- Nhĩ nhận ra mọi vẻ đẹp của một bãi
bồi sông Hồng ngay từ bên kia
-> Hình ảnh mang ý nghĩa biểu tượng,
Trang 32khát của Nhĩ?
? Chi tiết thể hiện hành động kì quặc
của Nhĩ cố thu nhặt hết mọi sức lực …
Khẩn thiết ra hiệu cho một người nào
đó? Có ý nghĩa như thế nào?
? Em cảm hiểu được gì về phong cách
viết truyện, nghệ thuật miêu tả tâm lí
nhân vật của Nguyễn Minh Châu qua
đoạn kể về khao khát của Nhĩ?
? Từ đó, Nhĩ hay chính tác giả muốn
nói lên qui luật nào trong cuộc đời con
người? Đó có phải là chủ đề của văn
bản không?
- Tích hợp với tính triết lí trong truyện
C ố hương của Lỗ Tấn
? Em hiểu thêm điều gì nữa qua đoạn
truyện kể về khao khát của Nhĩ nhờ
con thực hiện nhưng con bỏ lỡ?
-> Hai thế hệ ruột thịt yêu thương
nhau nhưng chưa hiểu nhau
- GV giới thiệu thêm: Nhĩ thuộc kiểu
nên nhờ con -> Không thực hiện được
những việc bình thường nhất trong
cuộc sống
- Hối hả giục cậu con trai đang mải xem cờ thế -> Sợ con không kịp đò -> Ham muốn xảy ra ngoài dự định, bỏ qua cơ hội
- “Anh đang cố thu nhặt hết mọi chút
sức lực…”
-> Thức tỉnh mọi người không sa vào
những cái vòng vèo trên đường đời để hướng tới những giá trị đích thực, bền
Trang 33nhân vật tư tưởng Tác giả gửi gắm
vào đây nhiều điều quan sát, suy
ngẫm, triết lí về cuộc đời và con
người
? Khái quát giá trị nghệ thuật và giá trị
nội dung của tác phẩm?
HS đọc ghi nhớ sgk/108
- GV hướng dẫn HS luyện tập:
Bài 1: Thiên nhiên vừa mang ý nghĩa
hình ảnh thực vừa mang ý nghĩa biểu
tượng; màu sắc biến đổi tinh tế: Hình
ảnh hoa bằng lăng, bầu trời, bãi bờ,
sống gia đình và những vẻ đẹp bình dị
của quê hương
4 Luy ện tập
III Hướng dẫn tự học:
- Tóm tắt truyện, nắm được tình huống
và ý nghĩa của truyện
- Nhận xét về nghệ thuật miêu tả thiên nhiên, miêu tả tâm lí nhân vật
- Học bài, thuộc ghi nhớ
- Soạn bài ôn tập Tiếng Việt: Nắm lại các khái niệm: Khởi ngữ và các thành
phần biệt lập; liên kết câu và liên kết đoạn văn; nghĩa tường minh và hàm ý
Trang 34Ti ết: 67 Đọc văn
Ngày so ạn:
Ngày d ạy:
CHI ẾC THUYỀN NGOÀI XA
(Nguyễn Minh Châu)
A M ỤC TIÊU BÀI HỌC
1 Kiến thức: Những chiêm nghiệm sâu sắc của nhà văn về cuộc đời và nghệ thuật: Phải nhìn nhận cuộc sống và con người một cách đa diện; nghệ thuật chân chính luôn gắn với cuộc đời, vì cuộc đời Tình huống truyện độc đáo, mang ý nghĩa khám phá, phát hiện về đời sống Điểm nhìn nghệ thuật đa chiều Lời văn giản dị mà sâu sắc, dư ba
2 Kĩ năng: Đọc – hiểu truyện ngắn hiện đại
3 Thái độ: Hoàn thiện và nâng cao phương pháp đọc hiểu tác phẩm truyện
B TI ẾN TRÌNH DẠY HỌC
1 Ổn định lớp
2 Kiểm tra bài cũ: Cảm nhận của em về nhân vật Việt và Chiến trong tác
phẩm Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi?
3 Bài mới
H ọat động của GV và HS N ội dung bài dạy
+ GV: Em đã biết được những gì về
Nguyễn Minh Châu và sáng tác của
ông, nhất là chặng đường sau năm
1975?
+ HS: Dựa vào phần Tiểu dẫn và các
tài liệu tham khảo khác để trả lời
+ GV: Trên cơ sở những ý trình bày
của HS, nhấn mạnh những nét chính
cần lưu ý về tác giả
I Gi ới thiệu chung:
1 Tác gi ả:
- Nguyễn Minh Châu (1930 – 1989)
- Quê ở làng Thơi, xã Quỳnh Hải, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An
- Là một trong những cây bút tiên phong của văn bản Việt Nam thời kì
đổi mới, “thuộc trong số những nhà văn mở đường tinh anh và tài năng
Trang 35+ GV: Giới thiệu xuất xứ và hoàn
2 Truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài
cuốn lịch năm sau
- Sau nhiều ngày “phục kích”, anh đã
phát hiện và chụp được cảnh một chiếc thuyền ngoài xa đang ẩn hiện trong biển sớm mờ sương
- Nhưng khi chiếc thuyền vào bờ, anh
đã kinh ngạc hết mức khi chứng kiến cảnh từ trong thuyền bước ra một gã
Trang 36+ GV: Từ những ý chính trên, em hãy
xác định bố cục của tác phẩm?
chồng vũ phu đánh đập người vợ dã man, đứa con vì muốn bảo vệ mẹ đã đánh trả lại cha mình
- Những ngày sau, cảnh tượng đó lại
tiếp diễn và lần này anh phải can thiệp…
- Theo lời mời của Chánh án Đẩu (đồng đội cũ của anh), người đàn bà hàng chài đã đến tòa án huyện Tại đây, người đàn bà đã từ chối sự giúp
đỡ của Đẩu và Phùng, nhất quyết không bỏ lão chồng vũ phu
- Chị đã kể câu chuyện về cuộc đời mình và đó là lí do cho sự từ chối trên
- Rời vùng biển với khá nhiều ảnh, Phùng đã chọn được một tấm ảnh về
“Thuyền và biển” cho tờ lịch năm ấy
Tuy nhiên, mỗi lần đứng trước tấm ảnh, anh bao giờ cũng thấy hình ảnh người đàn bà lam lũ, nghèo khổ bước
ra từ bức tranh
* B ố cục: 2 đoạn
- Đoạn 1: Từ đầu… đến “Chiếc
thuy ền lưới vó đã biến mất”: Hai phát
hiện của người nghệ sĩ nhiếp ảnh
- Đoạn 2: Phần còn lại: Câu chuyện
của người đàn bà hàng chài ở tòa án huyện và tấm ảnh được chọn
Trang 37+ GV: Nghệ sĩ phát hiện ra điều gì
trong buổi sáng tinh sương?
+ GV: Cảnh được miêu tả thế nào?
II Đọc – hiểu văn bản:
1 Hai phát hi ện của người nghệ sĩ nhi ếp ảnh:
a Phát hi ện thứ nhất về khung cảnh thiên nhiên hoàn mĩ:
một cảnh thật ưng ý
- Người nghệ sĩ đã phát hiện ra một vẻ
đẹp trên mặt biển mờ sương, như “một
b ức tranh mực tàu của một danh họa
th ời cổ”:
+ “Mũi thuyền in một nét mơ hồ lòe nhòe vào b ầu sương mù màu trắng
s ữa có pha đôi chút màu hồng do ánh
m ặt trời chiếu vào”
+ “Vài bóng người lớn lẫn trẻ con ngồi im phăng phắc như tượng trên chi ếc mui khum khum, đang hướng
Trang 38+ GV: Vì sao Phùng gọi đây là một
“Cảnh đắt trời cho”?
+ GV: Người nghệ sĩ đã có những
cảm nhận gì khi được chiêm ngưỡng
bức ảnh nghệ thuật của tạo hóa?
+ GV: Vì sao trong lúc cảm nhận vẻ
đẹp của bức tranh, anh lại nghĩ đến
câu nói: “bản thân cái đẹp chính là
hi ện ra bản thân cái đẹp chính là đạo đức”
Hạnh phúc chất ngất, cảm nhận được cái Thiện, cái Mĩ của cuộc đời,
cảm thấy tâm hồn mình như được thanh lọc, trở nên trong trẻo, tinh khiết
b Phát hi ện thứ hai về hiện thực nghi ệt ngã của con người:
- Phùng đã chứng kiến cảnh tượng:
một người đàn ông đánh vợ dã man
- Cảnh chiếc thuyền ngư phủ đẹp như
mơ >< gia đình thuyền chài:
+ Từ chiếc thuyền bước ra một người đàn bà: khắc khổ, xấu xí, mệt mỏi và
chỉ biết “cam chịu đầy nhẫn nhục”
+ Lão đàn ông: thô kệch, dữ dằn, độc
ác, quật tới tấp vào lưng vợ như một
Trang 39+ GV: Vì sao anh lại kinh ngạc khi
chứng kiến cảnh tượng trên?
+ GV: Qua hai phát hiện của nghệ sĩ
Phùng, Nguyễn Minh Châu muốn
người đọc nhận thức được điều gì về
cuộc đời?
+ HS: Thảo luận 2 HS và phát biểu
cách để giải tỏa uất ức, khổ đau
+ Thằng bé Phác: “như một viên đạn
trên đường lao tới đích” nhảy xổ vào
gã đàn ông, đánh lại cha vì thương
mẹ…
- Thái độ của người nghệ sĩ:
+ “Chết lặng”, không tin vào những
gì đang diễn ra trước mắt: “kinh ngạc đến mức, trong mấy phút đầu, tôi cứ đứng há mồm ra mà nhìn”
Anh không ngờ đằng sau cái đẹp
của tạo hóa lại có cái xấu, cái ác đến mức không thể tin được
+ Không thể chịu được khi thấy cảnh
ấy, Phùng đã “vứt chiếc máy ảnh
xu ống đất, chạy nhào tới”
Bản chất của người lính khiến anh không thể làm ngơ trước sự bạo hành
c Ý nghĩa
- Phùng đã cay đắng nhận ra những ngang trái, xấu xa trong gia đình kia
đã làm cho những điều huyền diệu mà anh đã phát hiện hiện hình ra thật
khủng khiếp, ghê sợ
- Cuộc đời không đơn giản, xuôi chiều, không phải bao giờ cũng đẹp, cũng là nghệ thuật, mà chứa đựng nhiều nghịch lí, mâu thuẫn giữa cái
Trang 40+ GV: Trước hết, em hãy tìm hiểu vì
sao người đàn bà hàng chài lại xuất
- Cuộc đời không đơn giản, xuôi chiều
mà chứa đựng nhiều nghịch lí Cuộc
sống luôn tồn tại những mặt đối lập,
những mâu thuẫn: đẹp – xấu, thiện –
cách ch ạy trốn”
Coi đó là lẽ đương nhiên, sẵn sàng
chịu đựng tất cả
- Người đàn bà đã từ chối lời đề nghị
và sự giúp đỡ của chánh án Đẩu và nghệ sĩ Phùng: van nài tòa “Quý tòa