Trong các trung tâm dạy nghề có một nghịch lý là, số lượng học sinh tốt nghiệp tại không tìm được việc làm ngày càng tăng, trong khi đó, các cơ sở SDLĐ rất khó khăn trong việc tuyển ngườ
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
HỒ SỸ SÙNG
PHỐI HỢP TỔ CHỨC DẠY THỰC HÀNH NGHỀ
Ở TRUNG TÂM DẠY NGHỀ TÂN SƠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - 2016
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
HỒ SỸ SÙNG
PHỐI HỢP TỔ CHỨC DẠY THỰC HÀNH NGHỀ
Ở TRUNG TÂM DẠY NGHỀ TÂN SƠN
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60.14.01.14
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TSKH Nguyễn Kế Hào
THÁI NGUYÊN - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu sử dụng trong luận văn có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, đảm bảo tính khách quan và trung thực Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình
Thái nguyên, ngày 10 tháng 4 năm 2016
Tác giả luận văn
Hồ Sỹ Sùng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Sau hai năm học tập và nghiên cứu tại trường Đài học Sư phạm thuộc Đại học Thái Nguyên, được các thầy giáo, cô giáo tận tình chỉ bảo, trang bị kiến thức các môn học, được sự hướng dẫn khoa học của PGS.TSKH Nguyễn Kế Hào, đến nay luận văn đã hoàn thành, nhân dịp này em xin trân trọng cảm ơn các giảng viên của Trường Đại học sư phạm thuộc Đại học Thái Nguyên đã tận tình giảng dạy, giúp đỡ em trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Em xin chân thành cảm ơn các giảng viên Khoa Sau đại học, Khoa Tâm
lý Giáo dục của Trường Đại học sư phạm thuộc Đại học Thái Nguyên, cảm ơn lãnh đạo, cán bộ, các thầy giáo, cô giáo thuộc các trung tâm dạy nghề trên địa bàn tỉnh Phú Thọ đã tạo điều kiện, giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót, tác giả kính mong nhận được sự quan tâm, chỉ dẫn, góp ý xây dựng của các nhà khoa học, các thầy giáo, cô giáo và của các bạn đồng nghiệp
Xin trân trọng cảm ơn!
Thái nguyên, ngày 10 tháng 4 năm 2016
Tác giả luận văn
Hồ Sỹ Sùng
Trang 5MỤC LỤC
L ỜI CAM ĐOAN i
L ỜI CẢM ƠN ii
M ỤC LỤC iii
D ANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv
D ANH MỤC BẢNG v
M Ở ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2
4 Giả thuyết khoa học 2
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Phạm vi nghiên cứu của đề tài 3
7 Phương pháp nghiên cứu 3
8 Cấu trúc của luận văn 4
C hương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHỐI HỢP TỔ CHỨC DẠY THỰC HÀNH NGHỀ Ở TRUNG TÂM DẠY NGHỀ TÂN SƠN 5
1.1 Một số nghiên cứu về dạy nghề 5
1.1.1 Một số công trình nghiên cứu ở nước ngoài 5
1.1.2 Một số công trình nghiên cứu ở Việt Nam 5
1.2 Một số khái niệm cơ bản 9
1.2.1 Phối hợp 9
1.2.2 Phối hợp tổ chức dạy thực hành nghề 9
1.2.3 Biện pháp phối hợp tổ chức dạy thực hành nghề 10
1.3 Dạy thực hành nghề ở trung tâm dạy nghề 11
1.3.1 Mục tiêu dạy thực hành nghề 11
1.3.2 Nội dung dạy thực hành nghề 12
Trang 61.3.3 Phương pháp dạy thực hành nghề 13
1.3.4 Hình thức tổ chức DTH nghề 13
1.3.5 Kiểm tra, đánh giá trong dạy thực hành 16
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả phối hợp tổ chức DTH nghề ở trung tâm dạy nghề 17
1.4.1 Các yếu tố bên ngoài mối quan hệ 17
1.4.2 Các yếu tố bên trong mối quan hệ 18
Kết luận chương 1 20
C hương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHỐI HỢP TỔ CHỨC DẠY THỰC HÀNH NGHỀ Ở TRUNG TÂM DẠY NGHỀ TÂN SƠN 21
2.1 Kế hoạch đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực tại địa bàn khảo sát 21
2.2 Thực trạng phối hợp tổ chức DTH nghề ở trung tâm dạy nghề Tân Sơn 22
2.2.1 Tổ chức nghiên cứu thực trạng 22
2.2.2 Thực trạng dạy học ở trung tâm dạy nghề Tân Sơn gắn với xu hướng tăng cường DTH nghề 23
2.2.3 Thực trạng phối hợp tổ chức DTH nghề ở trung tâm dạy nghề 26
2.2.4 Nguyên nhân của thực trạng phối hợp tổ chức trong DTH nghề ở trung tâm dạy nghề 40
Kết luận chương 2 42
C hương 3 BIỆN PHÁP PHỐI HỢP TỔ CHỨC DẠY THỰC HÀNH NGHỀ Ở TRUNG TÂM DẠY NGHỀ TÂN SƠN 44
3.1 Các nguyên tắc xây dựng biện pháp phối hợp tổ chức trong DTH ở trung tâm dạy nghề 44
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu 44
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống, tính đồng bộ trong quá trình phối hợp DTH nghề 45
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 45
3.2 Các biện pháp phối hợp tổ chức DTH nghề ở trung tâm dạy nghề Tân Sơn 46
Trang 73.2.1 Phối hợp cải tiến chương trình DTH theo chuẩn đầu ra 46
3.2.2 Phối hợp xây dựng kế hoạch DTH nghề phù hợp với trung tâm dạy nghề và cơ sở SDLĐ 51
3.2.3 Phối hợp thực hiện cơ chế di chuyển học sinh trong học tập tại trung tâm dạy nghề và tại các cơ sở SDLĐ 54
3.2.4 Phối hợp khai thác và sử dụng có hiệu quả các phương tiện, thiết bị sản xuất vào DTH 56
3.2.5 Phối hợp đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả DTH nghề 60
3.2.6 Nâng cao kiến thức chuyên môn, kỹ năng nghề và nghiệp vụ cho GV và cán bộ dạy nghề tại cơ sở SDLĐ 64
3.3 Khảo nghiệm các biện pháp phối hợp DTH và thực nghiệm một số biện pháp phối hợp DTH nghề ở trung tâm dạy nghề 68
3.3.1 Khảo nghiệm mức độ cần thiết và khả thi của các biện pháp phối hợp DTH ở trung tâm dạy nghề 68
3.3.2 Thực nghiệm một số biện pháp phối hợp tổ chức DTH nghề ở trung tâm dạy nghề Tân Sơn 71
Kết luận chương 3 87
K ẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 89
1 Kết luận 89
2 Khuyến nghị 90
T ÀI LIỆU THAM KHẢO 92 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Ký hiệu, viết tắt Viết đầy đủ
CB : Cán bộ CBQL : Cán bộ quản lý CNH : Công nghiệp hóa CSTN1 : Cơ sở thực nghiệm 1 CSTN2 : Cơ sở thực nghiệm 2
ĐC : Đối chứng
DN : Dạy nghề DTH : Dạy thực hành
GV : Giáo viên HĐH : Hiện đại hóa
HS : Học sinh
KN : Kỹ năng SDLĐ : Sử dụng lao động
TN : Thực nghiệm
Trang 9nghề Tân Sơn 28 Bảng 2.6 Các bước cán bộ kỹ thuật, GV thực hiện trong tổ chức bài học
thực hành 31 Bảng 2.7 Đánh giá của cán bộ, GV và HS về mức độ đáp ứng các điều kiện vật
chất, trang thiết bị phục vụ cho DTH nghề 33 Bảng 2.8 Tỷ lệ giáo viên, cán bộ kỹ thuật đánh giá các khía cạnh khác nhau
trong DTH nghề 35 Bảng 2.9 Tỷ lệ GV, CB kỹ thuật sử dụng các loại công cụ đánh giá 35 Bảng 2.10 Mức độ sử dụng các hình thức phối hợp DTH nghề của GV, cán bộ
kỹ thuật 37 Bảng 2.11 Thực trạng về các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động phối hợp DTH ở
trung tâm 39 Bảng 3.1 Đánh giá của GV, CBQL các trung tâm dạy nghề, cán bộ kỹ thuật
của cơ sở SDLĐ về mức độ cần thiết và khả thi của các biện pháp 69 Bảng 3.2 Thang điểm đánh giá KN thực hành nghề của HS 74 Bảng 3.3 Nội dung đánh giá KN nghề hàn điện 76 Bảng 3.4 Nội dung đánh giá KN nghề may công nghiệp 77
Trang 10Bảng 3.5 Phân phối tần số điểm kiểm tra KN nghề đầu vào của nhóm thực
nghiệm và nhóm đối chứng 78 Bảng 3.6 Kết quả kiểm tra KN nghề của HS nhóm thực nghiệm và nhóm đối
chứng khi chưa có tác động sư phạm 79 Bảng 3.7 Phân phối tần số điểm kiểm tra sau thực nghiệm lần 1 80 Bảng 3.8 Điểm kiểm tra KN nghề của 2 nhóm sau thực nghiệm lần 1 81 Bảng 3.9 Bảng phân phối tần số điểm đánh giá KN nghề của HS sau thực
nghiệm lần 2 83 Bảng 3.10 Mức độ KN nghề của hai nhóm sau thực nghiệm sư phạm lần 2 84 Bảng 3.11 Bảng tổng hợp phân phối kết quả của HS nhóm thực nghiệm và
nhóm đối chứng sau 3 lần kiểm tra 85
Trang 11M Ở ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ngày nay khi cuộc Cách mạng khoa học và công nghệ đang diễn ra rất nhanh chóng và toàn diện trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, vai trò quan trọng của nguồn nhân lực càng được khẳng định rõ ràng, nó trở thành nguồn lực giữ vai trò quyết định quá trình phát triển kinh tế - xã hội
Đặc biệt đối với nước ta, đang bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế thì vấn đề nguồn lực lại càng có ý nghĩa quan trọng hơn
Nhận thức được tầm quan trọng của nguồn nhân lực đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, trong những năm qua được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và mọi tầng lớp nhân dân, giáo dục đào tạo được xem là yếu tố then chốt trong việc phát triển nguồn nhân lực và có những chuyển biến rõ
rệt: cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân được mở rộng và dần phù hợp giữa các cấp học, bậc học; số lượng học sinh tăng nhanh, chất lượng đào tạo học sinh có những chuyển biến tích cực Giáo dục đã đáp ứng được cơ bản nhu cầu nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Tuy nhiên, xét về cơ cấu nguồn nhân lực, đã xuất hiện một vấn đề đang đặt ra là: chất lượng trình độ tay nghề của học sinh đã qua đào tạo tại các trung tâm chưa đáp ứng tốt yêu cầu của cơ sở sử dụng lao động (SDLĐ) Trong các trung tâm dạy nghề có một nghịch lý là, số lượng học sinh tốt nghiệp
tại không tìm được việc làm ngày càng tăng, trong khi đó, các cơ sở SDLĐ
rất khó khăn trong việc tuyển người có kỹ năng lao động phù hợp đáp ứng yêu cầu công việc
Vấn đề cấp thiết được đưa ra để giải quyết tình trạng thiếu lao động có kỹ
năng tay nghề là phải thiết lập mối liên kết chặt chẽ, phù hợp giữa các chương trình giáo dục đào tạo của trung tâm với các yêu cầu về kỹ năng mà các cơ sở SDLĐ đang cần
Trang 12Hiện nay có không ít các cơ sở SDLĐ dường như đứng ngoài quá trình đào tạo, mà phó mặc cho các trung tâm dạy nghề, họ tuyển dụng các lao động sẵn có do nhà trường, các trung tâm đào tạo ra Tình trạng người tốt nghiệp các cơ sở đào tạo không đáp ứng đầy đủ những yêu cầu của các cơ sở SDLĐ là tương đối phổ biến và nhiều nơi phải đưa đi đào tạo bổ sung ít nhiều Suy cho cùng, thì nguyên nhân của tình trạng đó là do không có sự phối hợp, gắn kết giữa cơ sở đào tạo và cơ sở SDLĐ Điều đó đã gây ra sự hao tốn về thời gian và kinh phí cho các bên tham gia vào thị trường lao động
Từ thực tế trên đã và đang đặt ra yêu cầu đối với dạy nghề ở nước ta là làm sao phải tạo ra được sự gắn kết, sự phối hợp trong quá trình đào tạo, dạy học với các cơ sở SDLĐ, phải xem sự phối hợp như một quá trình không thể tách rời và không ngừng phải mở rộng và đa dạng hóa cả về nội dung, hình
thức phối hợp
Từ những lý do trên tôi chọn vấn đề "Phối hợp tổ chức dạy thực hành
nghề ở trung tâm dạy nghề Tân Sơn” làm đề tài nghiên cứu của mình
Quá trình tổ chức DTH nghề ở trung tâm dạy nghề Tân Sơn
Biện pháp phối hợp tổ chức DTH nghề ở trung tâm dạy nghề Tân Sơn
4 Giả thuyết khoa học
Nếu triển khai được các biện pháp phối hợp tổ chức trong DTH nghề như: Phối hợp cải tiến chương trình DTH theo chuẩn đầu ra; phối hợp trong
Trang 13xây dựng kế hoạch trong việc thực hiện cơ chế di chuyển học sinh trong học tập; phối hợp tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các phương tiện,
thiết bị sản xuất vào DTH nghề; phối hợp trong đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả dạy thực hành nghề và phối hợp trong nâng cao kiến thức chuyên môn, kỹ năng nghề và nghiệp vụ cho giáo viên và cán bộ dạy nghề tại cơ sở sử dụng lao động thì chất lượng DTH nghề sẽ được nâng cao
5 Nhi ệm vụ nghiên cứu
5.1.Xây dựng cơ sở lý luận của hoạt động phối hợp tổ chức DTH nghề
5.2. Đánh giá thực trạng phối hợp tổ chức DTH nghề ở trung tâm dạy nghề Tân Sơn
5.3. Đề xuất các biện pháp phối hợp tổ chức DTH nghề ở trung tâm dạy nghề Tân Sơn
6 Ph ạm vi nghiên cứu của đề tài
- Nội dung nghiên cứu: Phối hợp tổ chức DTH nghề ở trung tâm dạy nghề Tân Sơn trong xây dựng chương trình, kế hoạch, triển khai quá trình
dạy học và khai thác các nguồn lực phục vụ cho hoạt động dạy học để nâng cao năng lực kỹ năng nghề cho học sinh học nghề
- Địa bàn khảo sát: Đề tài chỉ khảo sát thực trạng phối hợp tổ chức trong DTH nghề giữa các Trung tâm dạy nghề và các cơ sở SDLĐ được giới hạn bởi các doanh nghiệp, công ty có đào tạo và sử dụng lao động nghề Hàn, May công nghiệp thuộc tỉnh Phú Thọ
- Địa bàn thực nghiệm: Tổ chức thực nghiệm biện pháp phối hợp tại trung tâm dạy nghề Tân Sơn và Công ty cổ phần may Sông Hồng, Công ty cổ phần Sông Đà 6
7 P hương pháp nghiên cứu
Sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, các văn kiện, tài liệu, Nghị quyết của Đảng, Nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Tổng cục dạy nghề và các tài liệu có liên quan đến đề tài để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu
Trang 147.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Điều tra bằng phiếu hỏi để đánh giá thực trạng phối hợp tổ chức trong DTH nghề
- Phỏng vấn sâu một số đối tượng như: các nhà khoa học, các cán bộ quản lí, giáo viên, cán bộ kỹ thuật của các trung tâm dạy nghề và các cơ sở
SDLĐ và học sinh học nghề nhằm thu thập thông tin để đánh giá thực trạng,
bổ sung, củng cố những kết luận khoa học
- Phương pháp chuyên gia nhằm đánh giá tính cấp thiết và khả thi của các biện pháp phối hợp tổ chức đã xác định
- Thực nghiệm sư phạm để khẳng định tính hiệu quả, tính khả thi của
một số biện pháp phối hợp tổ chức DTH nghề ở trung tâm dạy nghề Tân Sơn
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài mở đầu, kết luận, danh mục các bảng biểu, luận văn này được bố
cục bằng các chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về phối hợp tổ chức dạy thực hành nghề ở
Trung tâm dạy nghề Tân Sơn
Chương 2: Thực trạng công tác phối hợp tổ chức dạy thực hành nghề
ở Trung tâm dạy nghề Tân Sơn
Chương 3: Biện pháp phối hợp tổ chức dạy thực hành nghề ở Trung
tâm dạy nghề Tân Sơn
Kết luận và Khuyến nghị
Trang 15Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHỐI HỢP TỔ CHỨC
D ẠY THỰC HÀNH NGHỀ Ở TRUNG TÂM DẠY NGHỀ TÂN SƠN
1.1 Một số nghiên cứu về dạy nghề
Vào giữa thế kỷ XIX (1894) do sự phát triển của công nghiệp, ở Pháp
xuất hiện nhiều cuốn sách viết về sự phát triển đa dạng của nghề nghiệp Các tác giả đã ý thức được rằng hệ thống nghề trong xã hội rất đa dạng và phức tạp,
sự chuyên môn hóa được chú trọng Do vậy, nội dung các cuốn sách khẳng định tính cấp thiết phải hướng nghiệp, trang bị cho thế hệ trẻ đi vào lao động sản xuất, có nghề nghiệp phù hợp với năng lực của mình và phù hợp với yêu cầu của xã hội [26]
Đối với giáo dục phổ thông, C Mác đã chỉ ra các nhiệm vụ cơ bản: "một là,
Các nước phát triển trên thế giới luôn đề cao công tác đào tạo nghề nên
học sinh được định hướng nghề nghiệp rất tốt ngay khi còn học phổ thông
Ở Nhật, Mỹ, Đức đã xây dựng nên các bộ công cụ để kiểm tra giúp phân hóa năng lực, hứng thú nghề nghiệp ở trẻ nhằm có sự định hướng nghề nghiệp đúng đắn từ sớm Cho nên, với họ giáo dục không chỉ phát triển trí
tuệ thuần túy mà còn chủ ý định hướng cho học sinh về nghề nghiệp phù
hợp với năng lực bản thân, đồng thời trang bị cho học sinh kỹ năng làm việc để thích ứng với xã hội
Các nghiên cứu về dạy học thực hành nghề
Ở nước ta, những công trình nghiên cứu về lý luận dạy thực hành nghề
còn ít Năm 1981, tác giả Nguyễn Đức Trí đã dịch tài liệu “Lý luận DHTH
nghề”[29] từ bản gốc của Đức và được xem là tài liệu đầu tiên về lý luận
dạy thực hành nghề
Trang 16Năm 1989, trong đề tài cấp Bộ “Nghiên cứu phương pháp dạy thực
hành một số nghề cơ khí”[30] tác giả Nguyễn Đức Trí đã đề xuất các hình
thức tổ chức DHTH một số nghề đặc trưng như: nghề cơ khí chế tạo, nghề cơ khí động lực… v.v và phương hướng ứng dụng các hình thức đó ở các trường
dạy nghề Đề tài phân tích vai trò của người hướng dẫn, người học và các cơ
sở đào tạo trong việc tổ chức DHTH nghề Tuy nhiên, cơ chế và mô hình tác động giữa các tác nhân người dạy, người học và môi trường dạy học trong quá trình tổ chức dạy học chưa được xác định một cách cụ thể
Năm 2001, tác giả Nguyễn Văn Khôi viết cuốn “Một số vấn đề cơ bản
giai đoạn tổ chức DHTH kỹ thuật Tuy nhiên, tác giả vẫn chưa đề cập đến vai trò của người hướng dẫn và người học trong các giai đoạn đó
Điều 2 Luật Giáo dục năm 2005 [20]: Phát triển giáo dục hướng đến:
“Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài” nhằm nâng cao
chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng cho sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Trong ba mục tiêu phát triển giáo dục hướng đến thì đào tạo nhân lực được coi là mục tiêu quan trọng vì nâng cao dân trí cuối cùng cũng không ngoài mục đích nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, còn bồi dưỡng nhân tài chính
là một dạng của nhân lực đặc biệt Riêng đối với dạy nghề „„Mục tiêu dạy
điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự
trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất Dạy nghề nhằm cung cấp cho người học những kiến thức, kĩ năng tay nghề, hình thành ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp là hành trang cho người lao động vào đời, vào cuộc sống
Trang 17Về sự phối hợp giữa trường dạy nghề và các cơ sở SDLĐ
Sự phối hợp trong đào tạo giữa trường nghề và các cơ sở SDLĐ đã có từ lâu Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu về sự phối kết hợp, sự liên kết
giữa trường nghề và cơ sở SDLĐ trong đào tạo và dạy học nghề chỉ mới xuất
hiện trong những năm gần đây Một số công trình nghiên cứu, các bài báo khoa học tiêu biểu có liên quan đến sự phối hợp giữa trường dạy nghề và cơ sở
SDLĐ như:
Đề tài “Nghiên cứu các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo
Ngọc Trí đã phân tích và đưa ra vấn đề tăng cường mối quan hệ giữa nhà trường và các đơn vị sản xuất là một trong những giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo Song, do hướng nghiên cứu của đề tài nên tác giả chưa phân tích các cơ sở khoa học, chỉ đề cập tới cách thức tiến hành tăng cường quan hệ
của nhà trường với các đơn vị sản xuất một cách đơn phương, chưa đề cập phương thức kết hợp đào tạo tổng quát ở Việt Nam, chưa đưa ra các giải pháp đồng bộ để thực hiện kết hợp đào tạo nghề tại trường và doanh nghiệp sản xuất (do nhiệm vụ đề tài là tập trung giải quyết các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo công nhân kỹ thuật xây dựng ở Thủ đô Hà Nội, nên không đi sâu vào giải quyết lý luận và thực tiễn kết hợp đào tạo nghề)
Đề tài nghiên cứu: "Nghiên cứu khả năng và điều kiện nhằm vận dụng
mã số: CB 2004-02- 03, trong đề tài này đã phân tích mô hình dạy nghề kép (Dual System) ở Đức và vận dụng một số yếu tố phù hợp vào các trường dạy nghề trực thuộc xí nghiệp ở Việt Nam Tuy nhiên, vấn đề đưa ra chỉ tập trung
phạm vi các trường trực thuộc xí nghiệp
Đề tài nghiên cứu: "Các giải pháp gắn đào tạo với sử dụng lao động của
Trang 18binh và Xã hội Hà Nội (2004, Đề tài NCKH: 01X - 06/ 05 - 2004 - 1, Hà Nội
Đề tài đã nêu lên "kinh nghiệm trên thế giới về gắn đào tạo với sử dụng lao động của hệ thống dạy nghề", điển hình là hệ đào tạo luân phiên ở Pháp, đưa ra
một số mô hình tổ chức đào tạo nghề cơ bản, và đưa ra một số giải pháp để gắn đào tạo và sử dụng (trong đó có một số ý tưởng kết hợp đào tạo nghề tại trường và doanh nghiệp) Tuy nhiên, do hướng nghiên cứu của đề tài không
tập trung vào kết hợp đào tạo nghề nên chưa đề cập tới các cơ sở khoa học của
kết hợp đào tạo nghề mà tập trung giải quyết các mối quan hệ giữa nhà trường
và doanh nghiệp Trong đó, có cả quan hệ về "liên kết đào tạo", chưa đi nghiên
cứu sâu, cụ thể vấn đề kết hợp đào tạo nghề và các giải pháp để kết hợp đào tạo nghề trong giai đoạn hiện nay
Đề tài nghiên cứu khoa học: "Xây dựng mô hình liên kết dạy nghề giữa
nhất vào "mô hình liên kết" giữa nhà trường và doanh nghiệp trong giai đoạn
hiện nay Đề tài đã giải quyết được những vấn đề cơ bản đáng quan tâm liên quan đến kết hợp đào tạo nghề như: cơ sở thực tiễn để xây dựng mô hình liên
kết, đánh giá các mô hình liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp, đề xuất các mô hình liên kết khả thi, đề xuất một số giải pháp chung thực hiện mô hình liên kết Tuy nhiên, do giới hạn về điều kiện thời gian nên đề tài chưa đi sâu vào nghiên cứu nội dung các thành tố kết hợp, các cơ sở khoa học luận, các
giải pháp đề xuất cần được bổ sung và cụ thể hơn Nên đề xuất phương thức kết hợp tổng quát hơn trong mối quan hệ biện chứng và trạng thái động, linh
hoạt nhằm đạt mục tiêu cao nhất
Các công trình nghiên cứu của các tác giả trình bày trên đã đề cập một số nội dung liên quan đến công tác phối hợp đào tạo, dạy học giữa trường dạy nghề và các cơ sở SDLĐ, các giải pháp nâng cao chất lượng dạy nghề Tuy nhiên, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu về phối hợp tổ chức DTH nghề giữa trường dạy nghề hay giữa các trung tâm dạy nghề và các cơ sở
Trang 19SDLĐ Phối hợp tổ chức DTH nghề tại trung tâm dạy nghề và cơ sở SDLĐ là vấn đề quan trọng, bức thiết nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo nghề, gắn đào tạo với giải quyết việc làm là cần thiết phải nghiên cứu, hoàn thiện và áp dụng vào đào tạo các ngành nghề khác nhau trên phạm vi vùng,
miền và đặc biệt huyện nghèo đang thụ hưởng chương trình 30a
1.2 Một số khái niệm cơ bản
Trong giáo trình quản lý đào tạo trong nhà trường tác giả Nguyễn Đức Trí quan niệm phối hợp là “dùng vào cùng một mục đích và trong cùng một
Về phối hợp trong dạy nghề có nhiều quan niệm được hiểu với nhiều góc
độ khác nhau Một số tác giả cho rằng phối hợp là một hình thức gửi học sinh đến thực tập tại các cơ sở SDLĐ có điều kiện về trang thiết bị để học sinh làm quen với trang thiết bị, công nghệ và môi trường lao động trong một khoảng thời gian nhất định của kế hoạch đào tạo Các tác giả khác cho rằng phối hợp là một hình thức đào tạo theo địa chỉ sử dụng, theo yêu cầu của đầu ra hoặc phối hợp là việc triển khai nội dung của quá trình đào tạo và được chia làm 2 phần: Một phần trong nội dung đào tạo được thực hiện tại cơ sở đào tạo và một phần nội dung tiến hành tại các cơ sở SDLĐ hoặc phối hợp là sắp xếp, bố trí
Đối với Luận văn này, khái niệm phối hợp được hiểu là sự sắp xếp, bố trí các hoạt động đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực sau đào tạo nhằm đạt được mục đích chung
Phối hợp tổ chức DTH nghề hiện nay đang được hiểu với nhiều ý nghĩa, khía cạnh khác nhau ở những mức độ khác nhau
Một số tác giả đã có nghiên cứu về sự phối hợp dạy học này ở trong
nước và cho rằng: Kết hợp dạy học tại cơ sở dạy nghề và cơ sở SDLĐ là hệ thống
Trang 20dạy và học có hai chỗ học Sự tích hợp chức năng của hai chỗ học tạo thành
chức năng chung của hệ thống Quan điểm này nhấn mạnh tới việc liên kết, quan
hệ tổ chức công tác đào tạo nghề
Một số nhà quản lý hiện nay quan niệm phối hợp tổ chức dạy học giữa trường, trung tâm dạy nghề và cơ sở SDLĐ là hợp tác gửi học sinh đi
thực tập sản xuất ở các đơn vị sản xuất, hay “đào tạo theo địa chỉ" Nếu như vậy thì chỉ mới thực hiện với một bình diện của việc phối hợp dạy học đang được đề cập tới
Trong phạm vi luận văn này tôi quan niệm phối hợp tổ chức DTH nghề là quá trình trung tâm dạy nghề và các cơ sở SDLĐ cùng tham gia phối hợp với nội dung và hình thức như sau:
Nội dung phối hợp: Phối hợp trong xây dựng chương trình dạy thực hành nghề; phối hợp xây dựng kế hoạch DTH; phối hợp trong việc tổ chức giảng dạy; phối hợp trong việc sử dụng thiết bị thực hành, thực tập; phối hợp trong việc kiểm tra, đánh giá kết quả DTH nghề; phối hợp trong việc nâng cao năng lực, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, giáo viên tham gia công tác giảng dạy
Hình thức phối hợp: Trung tâm dạy nghề và cơ sở SDLĐ cùng nhau tham gia vào tất cả các khâu của quá trình dạy thực hành; trung tâm dạy nghề và cơ sở SDLĐ mỗi bên làm một việc; Trung tâm dạy nghề đảm nh ận việc giảng dạy, cơ
Biện pháp không chỉ là những hành động chủ thể thực hiện khi giải quyết các nhiệm vụ, công việc mà bao gồm mục tiêu mà nó hướng tới, nội dung và cách thức để thực hiện nó
Trang 21Theo chúng tôi, biện pháp phối hợp tổ chức DTH là cách thức mà trung tâm dạy nghề và các cơ sở SDLĐ cùng sắp xếp, bố trí và tổ chức hoạt động DTH nhằm đạt được mục tiêu chung Cách thức sắp xếp, bố trí các yếu tố của DTH là do trung tâm dạy nghề và các cơ sở SDLĐ cùng đề xuất, thực hiện và giám sát quá trình thực hiện để đạt mục đích chung, trong đó quy định trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi của mỗi bên nhằm đảm bảo hài hòa về lợi ích
1.3 Dạy thực hành nghề ở trung tâm dạy nghề
Dạy thực hành nghề giúp người học vận dụng kiến thức vào thực hiện các công việc nghề nghiệp qua đó hình thành kỹ năng nghề theo tiêu chuẩn của bên sử dụng lao động Như vậy, mục tiêu dạy thực hành là hình thành năng lực nghề nghiệp cho người học, ngoài ra DTH còn nhằm mục tiêu củng cố và mở rộng kiến thức, rèn luyện các phẩm chất nghề nghiệp và tác phong công nghiệp, tạo cơ hội để người học làm quen với môi trường lao động thực tế
Mục tiêu về lĩnh vực kiến thức trong dạy học thực hành là những mục tiêu về phạm trù tri thức, nhận thức, và trí nhớ như:
- Kể tên, liệt kê, mô tả, phát biểu, tái hiện lại quy trình nào đó;
- Giải thích, minh họa, nhận biết, phán đoán về sơ đồ hay bản vẽ kỹ thuật;
- Phân biệt, chỉ rõ, phương án xử lý, phát triển về chi tiết hay linh kiện;
- Xác định, phân biệt, so sánh, phân loại về bộ phận hay cơ cấu nào đó;
- Tóm tắt, kết luận, phương án xử lý về trạng thái hoạt động của động cơ;
- Phán xử, quyết định, lựa chọn về đối tượng nào đó
- Thực hiện đúng trình tự thao tác của hành động đã được quan sát,
hướng dẫn trước đó để lắp ráp về đối tượng nào đó;
- Hành động hợp lý, không có động tác thừa, tự điều chình hành động với đối tượng nào đó;
- Tự phân chia hành động thành các yếu tố hay thao - động tác đúng trình tự, hợp lý với hoàn cảnh nào đó;
Trang 22- Chuyển tiếp linh hoạt các thao tác, động tác theo hướng tự động hóa
- Phòng ngừa, ngăn chặn mất an toàn trong lao động (cho người, thiết
bị và môi trường);
- Có ý thức rèn luyện, vận dụng kiến thức đã học vào thực tế
* Mục tiêu về tạo cơ hội để người học làm quen với môi trường lao động
Thực hành là quá trình áp dụng lý thuyết vào thực tế Thực hành kỹ thuật nghề nghiệp là những hoạt động của người học nhằm vận dụng những hiểu
biết kỹ thuật và rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo cần thiết Cụ thể là đảm bảo cho HS:
- Lập được kế hoạch, quy trình sản xuất (hiểu nhiệm vụ, chuẩn bị vật liệu, phương tiện kỹ thuật, quy trình công nghệ, các thao tác lao động)
- Có kỹ năng, kỹ xảo để chuẩn bị quá trình sản xuất (chọn vật liệu, dụng
- Nắm được kỹ năng, kỹ xảo phục vụ quá trình sản xuất và duy trì trạng thái làm việc của thiết bị chuyên dùng
Tại Điều 34, Khoản 1 của Luật giáo dục năm 2005 qui định yêu cầu về nội dung giáo dục nghề nghiệp như sau: “Nội dung giáo dục nghề nghiệp
phải tập trung đào tạo năng lực thực hành nghề nghiệp, coi trọng giáo dục đạo đức, rèn luyện sức khoẻ, rèn luyện kỹ năng theo yêu cầu của từng nghề, nâng cao trình độ học vấn theo yêu cầu đào tạo”
- Nội dung dạy học phải phù hợp với mục tiêu đào tạo Mục tiêu đào
tạo nghề là đào tạo nguồn nhân lực lao động có kỹ thuật, nội dung dạy học
Trang 23phải đảm bảo tính toàn diện, tính hệ thống, liên tục giữa các môn học, tỷ lệ
giữa lý thuyết và thực hành; kỹ năng, kỹ xảo cần có của ngành đào tạo
- Nội dung dạy học phải đảm bảo tính cân đối và toàn diện giữa các
mặt: Thể hiện ở chỗ bên cạnh việc cung cấp kiến thức kỹ năng, kỹ xảo cần coi trọng việc giáo dục chính trị, tư tưởng đạo đức
- Nội dung đào tạo phải gắn liền với thực tế sản xuất, gắn với chuẩn đầu ra
- Nội dung dạy học phải đảm bảo tính khoa học, cơ bản, hiện đại phù
hợp với trình độ người học, đáp ứng chuẩn đầu ra Từ chuẩn đầu ra của ngành đào tạo thiết lập ma trận xây dựng nội dung đào tạo
Phương pháp DTH phải hướng vào việc hình thành kiến thức, kỹ năng
và thái độ nghề nghiệp, trong đó trọng tâm là hình thành kỹ năng
Phương pháp DTH là phương pháp hướng dẫn của GV và luyện tập
của học sinh dựa trên các nội dung thực hành
Phương pháp dạy học phải phát huy được tính tích cực học tập của
người học, rèn luyện kỹ năng tự học và tác phong công nghiệp
Phương pháp dạy thực hành là phương pháp dạy học dựa vào sự quan sát giáo viên làm mẫu và thực hành tự lực của học sinh dưới sự hướng dẫn của giáo viên thể hiện bằng lời nói, câu hỏi hay bài tập thực hành, nhằm giúp cho học sinh rèn luyện kỹ năng thực hành
1.3.4.1 Dạy thực hành cơ bản
*Đặc điểm của dạy thực hành cơ bản
DTH cơ bản có đầy đủ các đặc điểm của DTH nói chung nhưng có đặc
Trang 24- Có mục đích hình thành những KN nghề để giải quyết các thành
phần cơ bản của một công việc (công việc trong trường hợp này được hiểu như sau: có khởi đầu, kết thúc rõ ràng, có thể chia thành các bước công việc, nếu
1 công việc được giải quyết sẽ tạo ra một bán thành phẩm hoặc một sản phẩm
có thể mang trao đổi, bán mua mà thị trường chấp nhận) Ví dụ: KN lót bìa cách điện vào rãnh stato động cơ điện không đồng bộ ba pha
- DTH cơ bản được thực hiện trước và là tiền đề đối với DTH nâng cao
- DTH cơ bản có ý nghĩa quan trọng đối với việc hình thành những
KN nghề cơ bản cho HS, đây là những kỹ năng nghề đầu tiên của hệ thống KN
mà họ cần có Những KN nghề có tính chất cơ bản này giúp HS có thể thực hiện những nhiệm vụ thành phần của một công việc hay những cả một công
việc có tính chất nền tảng của những công việc tiếp theo
- DTH cơ bản nhằm giải quyết những nhiệm vụ luyện tập thuộc môn học
thực hành cơ bản đã quy định trong chương trình đào tạo, nên nó có vai trò là
tiền đề để trong việc hình thành KN nghề để HS có thể tiếp tục học tập trong DTH nâng cao
- DTH cơ bản giúp HS tiếp tục hình thành và phát triển thái độ nghề nghiệp trong hoàn cảnh luyện tập với thiết bị, máy móc… của môi trường
thực hành; xét theo quá trình luyện tập thì đó là những môi trường phát triển thái độ đầu tiên trong tổng số các môi trường thực hành, thực tập
DTH nâng cao có đầy đủ các đặc điểm của DTH nói chung nhưng có đặc trưng là:
- Nội dung là những bài học thuộc môn học thực hành nâng cao đã được xác định rõ trong chương trình đào tạo
- Mục đích để hình thành những KN nghề để giải quyết các công việc một cách trọn vẹn
Trang 25- DTH nâng cao được thực hiện sau DTH cơ bản, huy động các KN nghề có được từ DTH cơ bản và tiếp tục bổ sung, phát triển KN nghề đáp ứng
việc giải quyết các công việc một cách trọn vẹn thuộc hệ thống nhiệm vụ của DTH nâng cao
Việc tổ chức thực hiện luyện tập loại bài này có ảnh hưởng quyết định đến sự thành thạo nghề nghiệp trong lao động của người công nhân tương lai,
vì thế sự lựa chọn sắp xếp các bài trong tiến trình, sự chuẩn bị các điều kiện luyện tập và triển khai luyện tập các KN cho HS qua các bài tập này cần dựa trên những cơ sở khoa học và điều kiện thuận lợi nhất
* Đặc điểm của thực tập sản xuất
Thực tập sản xuất về cơ bản cũng diễn ra theo ba giai đoạn hướng dẫn:
- Giai đoạn hướng dẫn mở đầu, người hướng dẫn thường tiến hành
những công việc: giao việc, thông báo định mức công việc luyện tập, định
mức sản phẩm phải tạo ra và biện pháp đảm bảo định mức, yêu cầu về chất
lượng sản phẩm, cung cấp tài liệu có liên quan cho HS tìm hiểu Nêu các sai hỏng thường xảy ra trong luyện tập và các biện pháp phòng ngừa, khắc phục Công bố các yêu cầu về kỹ thuật, an toàn lao động và vệ sinh công nghiệp Trao đổi kinh nghiệm nghề nghiệp Tạo cơ hội để HS làm quen môi
trường và tập thể lao động sản xuất
- Giai đoạn hướng dẫn thường xuyên: HS thực hiện lao động sản xuất,
người hướng dẫn theo dõi, đôn đốc, cảnh báo về mất an toàn, định hướng
hoặc trực tiếp giúp đỡ để HS hoàn thành nhiệm vụ một cách an toàn
- Giai đoạn hướng dẫn kết thúc: nhận xét, đánh giá về năng lực thực hiện
của HS và sản phẩm đã tạo ra Giải đáp thắc mắc của HS Rút kinh nghiệm, trao đổi thêm về kinh nghiệm nghề nghiệp để HS thực hiện nhiệm vụ của ca sau tốt hơn Thông báo nhiệm vụ của ca tiếp theo và tuyên bố kết thúc
Trang 26* Ý nghĩa của thực tập sản xuất
Thực tập sản xuất là cơ hội để HS phát triển hướng tới hoàn thiện về năng lực nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động
Tiếp tục phát triển lý tưởng nghề nghiệp, tinh thần yêu lao động và sẵn sàng lao động
Cho HS tham gia thực tập sản xuất là một trong những điều kiện quan trọng tạo mối quan hệ gắn kết giữa quá trình giáo dục đào tạo với lao động sản xuất
Kiểm tra đánh giá có tầm quan trọng đặc biệt nhằm xác định và đánh giá kết quả học tập Đây là khâu cuối cùng trong bất cứ quá trình dạy học nào (bài học,
môđun, học phần, cả môn học hay toàn khóa học) Thông thường người ta tiến hành kiểm tra đánh giá một cách thường xuyên ngay trong quá trình dạy học đối
với một mô đun nào đó
Bài kiểm tra thực hành (tên đầy đủ là bài kiểm tra thực hành kỹ năng) được thiết kế để đánh giá/đo lường năng lực của học sinh thực hiện các quy trình/hoặc sản xuất ra một thành phẩm Thời gian cho kiểm tra cũng được sắp xếp phù hợp Thông qua kiểm tra thực hành học sinh phải chứng minh
năng lực của mình trong việc thực hiện các công việc hoặc việc làm nhất định bằng việc sử dụng dụng cụ, vật liệu, thiết bị đặc trưng cho nghề mà bài thi đã thiết kế
dựng theo các nội dung sau:
Ngoài ra tiêu chí phối hợp hoạt động với người khác trong nhóm trong quá trình đánh giá kỹ năng cũng được quan tâm: đây 1à tiêu chí nhằm đánh giá
sự nhận thức cũng như sự thể hiện về tính cộng đồng trong công việc với
Trang 27người khác và trong nhóm Nhờ đó họ nhận thức được sự lệ thuộc lẫn nhau đặc biệt trong những công việc mang tính tập thể nhiều người mới có thể hoàn thành được Biết cách phân tích, phân công công việc một cách hợp lý
nhất trong nhóm để hoàn thành có năng suất, chất lượng đối với công việc mà
họ thực hiện
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả phối hợp tổ chức DTH nghề ở trung tâm dạy nghề
Hệ thống Dạy nghề Việt Nam được đặt dưới sự quản lý nhà nước của
Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội Cơ chế chính sách của nhà nước ảnh hưởng rất lớn đến quan hệ hợp tác giữa trung tâm
với các cơ sở SDLĐ, nó thúc đẩy hoặc kìm hãm mối quạn hệ này bằng việc tạo ra cơ chế, chính sách để điều chỉnh Việc phối hợp giữa trung tâm dạy nghề và cơ sở SDLĐ có tính khả thi hay không, yếu tố quyết định không phải
là nhu cầu hay khả năng của các bên mà sự phối hợp đó có được luật pháp cho phép hay chưa Nếu cho phép thì nằm ở trong phạm vi nào, do vậy khi
thiết lập quan hệ phối hợp, cả hai bên cần tính đến những giới hạn cho phép trong khuôn khổ của pháp luật
Để hoạt động phối hợp dạy học đạt hiệu quả thì Nhà nước cần có sự hỗ trợ, tạo điều kiện để các trung tâm hưởng ưu đãi, chính sách khuyến khích xã
hội hóa đầu tư giáo dục và đào tạo theo quy định chung, hỗ trợ đào tạo giáo viên, kết nối với cơ sở SDLĐ, tạo điều kiện để các trung tâm có các hợp đồng đào tạo Hỗ trợ xây dựng và công bố các chương trình khung, các soạn giáo trình dùng chung
Về phía các trung tâm dạy nghề và cơ sở SDLĐ trong quá trình phối hợp, cả hai bên cần phải thường xuyên có những đề xuất, kiến nghị phù hợp
với thực tiễn của sản xuất đến các cấp quản lý để cơ chế chính sách được nghiên cứu bổ sung hoàn thiện, có lợi cho phối hợp như: tạo cơ hội cho thuê
Trang 28các cơ sở hạ tầng ưu đãi; một số thủ tục miễn thuế; các khoản ưu đãi bảo hiểm; tiếp cận vốn vay ưu đãi
* Môi trường phối hợp
Môi trường đặt ra yêu cầu đối với chất lượng nguồn nhân lực ngày càng cao và khắt khe, nếu trung tâm dạy nghề vẫn theo quan điểm cũ là dạy những cái mình có, ngại mở rộng quan hệ với cơ sở SDLĐ thì số lượng HS học nghề
ra trường sẽ không có việc làm hoặc làm không đúng chuyên ngành đã được đào tạo Mặt khác về phía các cơ sở SDLĐ cùng với việc đổi mới và phát triển
về công nghệ để tạo ra các sản phẩm tốt đáp ứng yêu cầu cầu cầu xã hội thì lực lượng lao động hiện tại chưa thể đáp ứng tốt cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, do đó cơ sở SDLĐ phải chủ động bắt tay liên kết đào tạo với trung tâm
Như vậy, có thể thấy sự phát triển của môi trường một mặt tạo cơ hội cho sự phát triển của trung tâm dạy nghề và cơ sở SDLĐ Tuy nhiên, nó cũng đặt ra yêu
cầu cho trung tâm dạy nghề và cơ sở SDLĐ phái xích lại gần nhau trong quá trình đào tạo nguồn nhân lực
Khi phối hợp xây dựng chương trình thì chương trình sẽ sát hơn với yêu
cầu thực tiễn của những người sử dụng lao động, của nơi sản xuất - nơi mà HS tốt nghiệp sẽ làm việc Đây là bước đổi mới trong đào tạo nói chung và dạy nghề nghề nói riêng Đào tạo những cái mà xã hội cần, chứ không phải đào tạo những cái mà mình có Tuy nhiên, khi phối hợp xây dựng chương trình dạy học thì
trường nghề và cơ sở SDLĐ phải đảm bảo các yếu tố: đảm bảo sự quản lý và theo một chương trình khung cứng 70% do Nhà nước quy định nên khi muốn xây dựng chương trình theo yêu cầu thực tiễn của sản xuất, thị trường lao động
kỹ thuật chỉ có 30%, với thời lượng ít như vậy sẽ khiến cho việc xây dựng
chương trình là rất khó khăn, không đủ thời gian đưa các nội dung dạy học mà hai bên cần giảng dạy vào, còn phần nội dung cứng 70% quy định lại không phù hợp với người học, với cơ sở SDLĐ
Trang 29* Đội ngũ giáo viên, cán bộ kỹ thuật và cán bộ quản lý
Đội ngũ giáo viên trong các trung tâm dạy nghề được đào tạo cơ bản, đạt chuẩn tại các trường đại học sư phạm kỹ thuật đúng theo qui định của Nhà nước
đề ra Song, kinh nghiệm sản xuất trực tiếp và thực tiễn thì còn nhiều hạn chế
Ngược lại các bộ kỹ thuật tại cơ sở SDLĐ thường có trình độ tay nghề cao, kỹ năng thực hành thành thạo, nhưng về kỹ năng và trình độ nghiệp vụ sư phạm thì hầu như không có nên khi tham gia giảng dạy sẽ khó truyền đạt được cho HS
những nội dung kiến thức, kỹ năng cần thiết
Cơ sở vật chất là một trong những yếu tố cơ bản đảm bảo chất lượng
dạy học nghề Nếu thiếu cơ sở vật chất thì không thể tiến hành quá trình dạy học nghề có chất lượng
Trang thiết bị dạy nghề (thiết bị dùng chung và thiết bị chuyên môn) là
tất cả các chủng loại thiết bị, trang bị, mô hình học cụ, đồ dùng, phương tiện
dạy học dùng cho dạy lý thuyết và thực hành tại cơ sở đào tạo nghề
Trang 30Kết luận chương 1
Phối hợp tổ chức DTH nghề về bản chất là quá trình trung tâm dạy nghề
và cơ sở SDLĐ cùng tham gia hoạt động dạy học như xây dựng chương trình,
kế hoạch, tổ chức dạy học và đánh giá kết quả dạy học; phối hợp khai thác các điều kiện về cơ sở vật chất, đội ngũ nhằm nâng cao chất lượng DTH nghề đáp ứng nhu cầu sử dụng Các đặc trưng cơ bản nhất của DTH nghề: là hình thành kỹ
năng, năng lực nghề nghiệp cho người học Trong DTH g i á o v i ê n cần kết hợp sử dụng nhiều phương pháp dạy học đơn lẻ khác nhau tùy theo mục đích và nội dung của từng giai đoạn như phương pháp làm mẫu - quan sát, huấn luyện - luyện tập
Việc phối hợp DTH giữa trung tâm dạy nghề và cơ sở SDLĐ phải được
thống nhất và thực hiện trên cơ sở các yêu cầu sau:
Về mục tiêu phối hợp nhằm cung cấp những kiến thức, kĩ năng mà người
học cần và phải hướng vào nhu cầu và nâng cao trách nhiệm của các cơ sở SDLĐ trong việc đào tạo và sử dụng Đồng thời qua phối hợp giúp phát triển đội ngũ giáo viên của trung tâm dạy nghề và cán bộ kỹ thuật của cơ sở SDLĐ cả về số lượng và chất lượng
Các nội dung phối hợp mà trung tâm dạy nghề và cơ sở SDLĐ đã thực hiện bao gồm: Phối hợp xây dựng và phát triển chương trình DTH nghề, xây dựng kế hoạch, tổ chức giảng dạy, kiểm tra đánh giá và phối hợp trong
việc sử dụng, khai thác các điều kiện về cơ sở vật chất, đội ngũ
Hình thức phối hợp giữa trung tâm dạy nghề và cơ sở SDLĐ gồm: cùng tham gia các khâu của quá trình DTH nghề; mỗi bên làm một việc; trung tâm
dạy nghề giảng dạy còn cơ sở SDLĐ tham gia đánh giá
Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của hoạt động phối hợp tổ chức DTH nghề và cơ sở SDLĐ bao gồm cơ chế chính sách của Đảng, Nhà nước, môi trường phối hợp; các yếu tố về chương trình và nguồn lực về nhân lực, cơ
sở vật chất của trung tâm dạy nghề và cơ sở SDLĐ
Trang 31Ch ương 2
TH ỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHỐI HỢP TỔ CHỨC
D ẠY THỰC HÀNH NGHỀ Ở TRUNG TÂM DẠY NGHỀ TÂN SƠN
2.1 Kế hoạch đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực tại địa bàn khảo sát
Để có cơ sở thực tiễn đề xuất các biện pháp phối hợp tổ chức DTH nghề
ở trung tâm dạy nghề Tân Sơn Chúng tôi triển khai khảo sát trên địa bàn của tỉnh Phú Thọ Tỉnh Phú Thọ là địa phương có số lượng các trường, các trung tâm, các cơ sở đào tạo nghề và các doanh nghiệp chiếm một tỉ lệ lớn và tình hình đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực trong những năm qua đã đem lại
những kết quả cao góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội của địa
phương, số liệu thống kê được dựa theo “Báo cáo tổng hợp quy hoạch phát
Dân số tỉnh Phú Thọ thời điểm 1/7/2015 là 1.371.000 người, hiện nay, trên địa bàn tỉnh Phú Thọ có trên 50 đơn vị, cơ sở (trường, trung tâm ) làm nhiệm vụ đào tạo nhân lực với danh mục ngành nghề đào tạo rộng khắp từ các nghề nông, lâm, ngư, công nghiệp, văn hóa xã hội, tài chính kế toán đến tin học, ngoại ngữ Riêng hệ thống dạy nghề đã có 46 đơn vị, trong đó 44 đơn vị đang trực tiếp dạy nghề các cấp trình độ (sơ, trung cấp, cao đẳng nghề), trong đó có 11 trường cao đẳng nghề (công lập), 3 trường trung cấp nghề (công lập) 13 trung tâm dạy nghề (công lập ), 2 trường đại học có dạy nghề và
17 cơ sở khác có tham gia dạy nghề
Nhu cầu lao động qua đào tạo của tỉnh năm 2015 khoảng 406,5 nghìn người, trong đó lao động qua đào tạo nghề 295,6 nghìn người Năm 2020 khoảng 544,7 nghìn người, trong đó qua đào tạo nghề 389 nghìn người Phấn đấu đạt tỷ lệ 01 kỹ sư/ 3 - 5 cao đẳng, trung cấp/10 - 15 công nhân (tùy theo từng ngành, nghề và loại hình doanh nghiệp)
Trang 322.2 Thực trạng phối hợp tổ chức DTH nghề ở trung tâm dạy nghề Tân Sơn
Khảo sát thực trạng DTH nghề và phối hợp tổ chức giữa trung tâm dạy nghề và các cơ sở SDLĐ trong DTH nghề qua đó đánh giá được thực tế và cách thức phối hợp làm căn cứ thực tiễn để đề xuất một số biện pháp phối hợp tổ chức phù hợp
- Nhóm 1: Gồm 45 giáo viên dạy thực hành nghề tại các trung tâm
dạy nghề có đào tạo nghề hàn điện; nghề may công nghiệp
- Nhóm 2: Gồm 39 cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật tại các cơ sở SDLĐ được giới hạn bởi các doanh nghiệp, công ty có lĩnh vực sản xuất sử dụng lao động nghề May công nghiệp, nghề Hàn
- Nhóm 3: Gồm 96 học sinh tốt nghiệp từ các trung tâm dạy nghề hiện đang tham gia sản xuất tại các doanh nghiệp, công ty
- Thực trạng dạy học tại các trung tâm dạy nghề gắn với xu hướng
tăng cường dạy học thực hành
- Thực trạng về nhận thức, các nội dung, hình thức và các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động phối hợp trong DTH nghề ở trung tâm dạy nghề Tân Sơn
- Đánh giá về nguyên nhân của thực trạng
2.2.1.4 Phương pháp và kĩ thuật khảo sát
Các phương pháp được sử dụng để nghiên cứu thực trạng phối hợp tổ chức DTH bao gồm: Quan sát, phỏng vấn, điều tra bằng bảng hỏi, tổng kết kinh nghiệm Các phương pháp này được sử dụng cụ thể như sau:
Điều tra thực trạng phối hợp DTH thông qua bỏ phiếu trưng cầu ý kiến đối với các đối tượng: cán bộ kỹ thuật tại các doanh nghiệp, công ty, GV các trung tâm dạy nghề, học sinh học nghề (Phụ lục 1, 2, 3)
Trang 33Phỏng vấn các đối tượng là CB, GV, HS về tầm quan trọng của phối hợp tổ chức DTH, các nội dung và biện pháp phối hợp, về nguyên nhân của
thực trạng để bổ sung, củng cố những kết luận khoa học
Lấy ý kiến chuyên gia là các nhà khoa học ở các trung tâm dạy nghề,
cơ sở SDLĐ; các cán bộ quản lý tại các cơ sở dạy nghề về thực trạng phối hợp
tổ chức DTH
Tuy nhiên, trên cơ sở khảo sát tại các cơ sở đào tạo nghề tôi nhận thấy
chương trình vẫn còn chưa phù hợp với thực tiễn trong sản xuất ít thời gian
thực tiễn cho HS Mặt khác chương trình dạy nghề chưa xây dựng được chuẩn đầu ra chặt chẽ cho các cấp độ đào tạo nghề, bảo đảm chương trình dạy học đáp ứng nhu cầu sử dụng lao động của xã hội
Kết quả khảo sát về việc bố trí tỷ lệ giữa thời lượng thực hành, thực tế với giảng dạy lý thuyết trong chương trình dạy học ở các trung tâm dạy nghề, kết quả được trình bày ở bảng 2.1
Bảng 2.1 Thời lượng thực hành, thực tế trong chương trình
0
Phân tích kết quả bảng 2.1 cho thấy có tới 65,5% cán bộ kỹ thuật của cơ
sở SDLĐ và GV các trung tâm nghề được hỏi cho rằng việc bố trí tỷ lệ thời lượng thực hành, thực tế nghề nghiệp so với việc học lý thuyết trong
Trang 34chương trình dạy học của các môdun hiện nay là chưa đủ, chưa cân đối Trong khi thực tế luôn đòi hỏi HS ra trường phải có năng lực thực hành, có
kỹ năng nghề giỏi để nhanh chóng thích ứng với nhiệm vụ của cơ sở SDLĐ
Như vậy, mặc dù nội dung chương trình dạy học đã được đổi mới tương đối phù hợp với yêu cầu sản xuất của cơ sở SDLĐ Tuy nhiên mức độ phù hợp còn chiếm tỉ lệ thấp đặc biệt là sự phù hợp về lý thuyết, thực hành và thực
tế nên khi HS tốt nghiệp ra trường kỹ năng tay nghề còn rất hạn chế
2.2.2.2 Kết quả dạy học đạt được của trung tâm dạy nghề
Để đánh giá kết quả dạy học (chất lượng HS học nghề) tại trung tâm
dạy nghề trong những năm quan tôi dựa vào việc đánh giá của GV, cán bộ tại cơ sở SDLĐ và các HS đã tốt nghiệp hiện đang làm việc tại cơ sở SDLĐ
bằng cách cho điểm các mức độ (1 - Rất kém, 2 - Chưa đạt, 3 - Trung bình, 4- Tốt, 5 - Rất tốt) kết quả thu được trình bày ở bảng 2.2
Bảng 2.2 Chất lượng học sinh học nghề tại các trung tâm dạy nghề
hiện đang làm việc tại cơ sở SDLĐ
Mức độ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ
(đơn vị tính %) Rất
thiết bị, công nghệ mới 3,33 33,33 51,11 11,11 1,12
4 Khả năng lao động sáng tạo và
giải quyết các tình huống 0,56 15,56 55,00 27,78 1,10
5 Khả năng phối hợp, làm việc
6 Khả năng tự học, tự nghiên cứu 3,89 32,78 49,44 14,43 0,56
7 Kỹ năng giao tiếp và hoạt động
Trang 35Kết quả khảo sát ở bảng 2.2 cho thấy: Đánh giá của GV, cán bộ kỹ thuật,
HS về chất lượng đào tạo ở các trung tâm dạy nghề với các nội dung được hỏi đều được đánh giá đáp ứng chủ yếu ở mức dưới trung bình Trong đó có nội dung được đánh giá đáp ứng tốt gồm: “ Kiến thức chuyên môn” có 55,00% được đánh giá là tốt vì theo các cán bộ của cơ sở SDLĐ thì các HS được đào tào tại các trường nghề thì về phần kiến thức chuyên môn về mặt lý thuyết rất
cơ bản và đầy đủ “Kỹ năng giao tiếp và hoạt động xã hội” có 35,00 ý kiến
Các nội dung được đánh giá chất lượng đào tạo đáp ứng ở mức rất kém và chưa đạt gồm: “Kỹ năng thực hành” 37,78% ý kiến; “Khả năng tiếp cận và ứng dụng thiết bị, công nghệ mới” 36,66% ý kiến; “Khả năng phối
hợp, làm việc theo nhóm” 36,11% ý kiến; “Khả năng tự học, tự nghiên cứu” 36,67% ý kiến
Qua số liệu đánh giá về chất lượng HS học nghề tại bảng 2.2 và qua
phỏng vấn chúng tôi nhận thấy, có nhiều nguyên nhân ảnh hưởng đến chất
lượng dạy nghề nói chung và việc tổ chức dạy học để hình thành kỹ năng tay nghề cho HS học nghề nói riêng và một trong những nguyên nhân có ảnh hưởng mạnh mẽ đó là hoạt động cùng tham gia vào đào tạo nghề của cơ sở SDLĐ, nguyên nhân này có thể nói đến bao gồm hai nguyên nhân khách quan
và chủ quan:
* Nguyên nhân khách quan
Do hiện nay đào tạo nghề chưa thực sự gắn kết cùng sự phát triển với sản xuất công nghiệp theo từng vùng, miền lãnh thổ Đào tạo nghề chủ yếu phát triển theo yêu cầu của cấp Trung ương, Chính phủ
Chính sách qui định về quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ của cơ sở SDLĐ (tổ chức, cơ quan, người sử dụng lao động) đối với việc đào tạo đội ngũ lao động kỹ thuật và trung tâm dạy nghề còn chưa cụ thể, chưa có hiệu lực trong thực tiễn
Trang 36Chưa có cơ quan xuyên suốt từ Trung ương xuống địa phương chuyên
về tư vấn, thiết lập, điều tiết sự phối hợp đào tạo giữa trung tâm dạy nghề và
cơ sở SDLĐ Hiện nay, Dự án Giáo dục kỹ thuật và Dạy nghề Quốc gia, Tổng cục Dạy nghề, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đang xúc tiến công tác tư
vấn trường - ngành Song, mới chỉ là những triển khai ở giai đoạn đầu, chưa có tác động tích cực, hiệu quả đến thực tiễn kết hợp đào tạo nghề nói trên
* Nguyên nhân ch ủ quan
Các nguyên nhân thuộc về các trung tâm dạy nghề: Các trung tâm dạy
nghề chưa chủ động thiết lập phát triển phối hợp tổ chức dạy học với cơ sở SDLĐ; thiếu đội ngũ cán bộ có năng lực thực hiện phối hợp dạy học tại trung tâm dạy nghề và cơ sở SDLĐ; một số trung tâm dạy nghề có nhận thức được lợi ích của việc hợp tác đào tạo nói trên, nhưng chưa có khả năng, điều kiện, cũng như các giải pháp để tiến hành phối hợp dạy học như đã đề cập ở trên
Từ những đánh giá về kết quả dạy học và những nguyên nhân ảnh hưởng
đến chất lượng DTH nghề ở trên cho thấy: các trung tâm dạy nghề cần quan
SDLĐ muốn có đội ngũ cán bộ lao động lành nghề đáp ứng tốt nhiệm vụ sản xuất kinh doanh cần chủ động, tích cực phối hợp với các trung tâm dạy nghề
ở trung tâm dạy nghề
Từ kết quả đánh giá về chất lượng học sinh học nghề đang làm việc tại các cơ sở SDLĐ tôi tiến hành khảo sát nhận thức của cán bộ kỹ thuật, giáo viên, học sinh về tầm quan trọng của việc phối hợp trong đào tạo nói chung và DTH nghề nói riêng giữa các trung tâm dạy nghề và các cơ sở
SDLĐ, kết quả thu được trình bày ở bảng 2.3
Trang 37Bảng 2.3 Nhận thức về tầm quan trọng của hoạt động
ph ối hợp tổ chức DTH nghề ở trung tâm dạy nghề Chủ thể đánh giá Mức độ quan trọng (đơn vị tính %)
Không cần thiết Bình thường Rất cần thiết
Cán bộ kỹ thuật,
Khi bàn về chất lượng dạy nghề của các trung tâm, các cơ sở SDLĐ
thường phàn nàn về nhân lực lao động không đáp ứng nhu cầu cả về chất lượng lẫn cơ cấu ngành nghề, cung, cầu lao động không gặp nhau Lý do mà các trung tâm dạy nghề và cơ sở SDLĐ đưa ra đó là mối quan hệ, sự phối hợp không tốt giữa hai bên là nguyên nhân cơ bản Do vậy khi được hỏi về tầm quan trọng của phối hợp DTH thì các cán bộ kỹ thuật tại cơ sở SDLĐ và giáo viên, học sinh của các trung tâm dạy nghề cho rằng phối hợp trong DTH nghề
là rất cần thiết: cán bộ kỹ thuật chiếm tỉ lệ 97,50%; giáo viên chiếm tỉ lệ 92,31%; học sinh chiếm tỉ lệ 84,62%
Sự tin tưởng về phối hợp tổ chức DTH giữa trung tâm dạy nghề và cơ sở SDLĐ
- Câu hỏi đặt ra: Anh, chị tin tưởng như thế nào về phối hợp tổ chức DTH giữa trung tâm dạy nghề và các cơ sở SDLĐ trong thời gian tới nhằm nâng cao chất lượng dạy nghề, kết quả được trình bày ở bảng 2.4
Bảng 2.4 Kết quả thăm dò sự tin tưởng về phối hợp trong DTH nghề Mức độ tin tưởng về phối hợp
Trang 38Sự phối hợp giữa trung tâm dạy nghề và cơ sở SDLĐ nhằm nâng cao
chất lượng dạy nghề là còn nhiều bất cập Tuy nhiên, theo kết quả khảo sát đa
số ý kiến được hỏi 81,66% đều tin tưởng hoặc rất tin tưởng về công tác phối hợp tổ chức DTH nghề giữa trung tâm dạy nghề và cơ sở SDLĐ trong những
năm tới sẽ tốt hơn
Để tìm hiểu về những nội dung phối hợp tổ chức của trung tâm dạy nghề và các cơ sở SDLĐ, với câu hỏi đặt ra: Ông (bà) đánh giá theo mức độ các nội dung phối hợp trong DTH nghề giữa trung tâm dạy nghề và cơ sở
SDLĐ, kết quả khảo sát được trình bày ở bảng 2.5
B ảng 2.5 Thực trạng nội dung phối hợp tổ chức trong DTH
ở trung tâm dạy nghề Tân Sơn
Mức độ phối hợp (%)
Chưa thực hiện
Rất ít khi
Thỉnh thoảng
Thường xuyên
Rất thường xuyên
1 Phối hợp trong xây dựng chương
Ph Phối hợp trong việc nâng cao
năng lực, nghiệp vụ cho đội ngũ
cán bộ, giáo viên tham gia công
tác giảng dạy
0,0 9,44 55,56 30,00 5,00
Trang 39Qua kết quả t r ì nh b à yở bảng 2.5 cho thấy các nội dung phối hợp được đưa ra thì trung tâm dạy nghề và các cơ sở SDLĐ đều đã thực hiện ở các mức độ khác nhau, không có nội dung nào là chưa thực hiện Về kết quả
khảo sát từng nội dung phối hợp tổ chức DTH nghề cụ thể như sau:
DTH nghề
Chương trình dạy học được xem là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến
chất lượng đào tạo Có 35,55% ý kiến cho rằng thường xuyên và rất thường xuyên trung tâm dạy nghề và các cơ sở SDLĐ tham gia cùng xây dựng
chương trình dạy học
Sau khi hiệu chỉnh, bổ sung; chương trình dạy học được đưa vào giảng
dạy cho khóa mới và chương trình tiếp tục được hiệu chỉnh, bổ sung nếu như
xuất hiện những hạn chế, bất cập Thường thì sau một năm hoặc một khóa đào tạo chương trình đào tạo lại tiếp tục được hiệu chỉnh, bổ sung
Để có kế hoạch DTH, trung tâm dạy nghề và cơ sở SDLĐ phải xây dựng những dự kiến về thời gian, người thực hiện, điều kiện thực hiện và lựa chọn PPDH cụ thể phù hợp với đối tượng điều kiện Tuy nhiên thực tế nghiên cứu chúng tôi thấy việc xây dựng kế hoạch chủ yếu do GV của trung tâm dạy nghề thực hiện từ kế hoạch chi tiết cho từng giờ thực hành đến kế hoạch cho cả khóa học Cán bộ kỹ thuật của cơ sở SDLĐ được phân công chỉ tham gia xây dựng một phần của kế hoạch chung dài hạn cho cả khóa học Điều này dẫn đến một thực tế là khi thực hiện nhiệm vụ phối hợp các trung tâm nghề sẽ chủ động hơn, các đầu việc được thực hiện đầy đủ hơn và trung tâm nghề còn dự kiến được các tình huống có thể này sinh trong khi triển khai
kế hoạch và có phương án giải quyết
Một thực tế khác khi phỏng vấn các cán bộ, giáo viên chúng tôi thấy rằng khi tham gia xây dựng kế hoạch DTH, cơ sở SDLĐ thường cử những cán
bộ đang nhàn rỗi trong sản xuất tham gia cùng trung tâm dạy nghề, các cán bộ
Trang 40này không nắm được tổng thể các hoạt động, các điều kiện về nhân lực, cơ sở vật chất của đơn vị Nên kế hoạch khi được xây dựng thường không khai thác được tối đa mọi nguồn lực: Ví như: cán bộ kỹ thuật nào tham gia giảng
dạy modun thực hành đó được tốt nhất ? thời điểm dạy tại trung tâm và cơ sở lúc nào là phù hợp? tại cơ sở SDLĐ có những thiết bị gì? tình trạng ra sao?
áp dụng cho modun nào?
thời gian nhất (từ 4 đến 6 tuần) tại các cơ sở SDLĐ để tham gia thực tập
và đây là cơ hội tốt nhất để HS được cọ sát với thực tế
Qua khảo sát người lao động đã tốt nghiệp các trung tâm nghề, các ý kiến cho rằng trong quá trình học thực hành nghề cần phải được tổ chức học tập, thực tập tại vị trí làm việc tương lai: 56,1% là rất cần thiết, 36,4% cần thiết Trong khi thực tế tỷ lệ HS thực tập tại cơ sở sản xuất còn thấp (7,50%) Ngoài ra, có đến 30,2% học sinh tốt nghiệp khi đi làm gặp khó khăn về kỹ năng quan hệ hợp tác trong công việc, 32,1% gặp khó khăn về tổ chức lao động nơi làm việc khác lạ với khi học ở trung tâm
+ Việc chuẩn bị hồ sơ giảng dạy gồm lịch trình giảng dạy, giáo án theo
mẫu quy định, đề cương bài giảng, các loại sổ sách ghi chép mà trung tâm
và cơ sở SDLĐ quy định thì 100% giáo viên tại các trung tâm dạy nghề có
chuẩn bị đầy đủ, đúng theo biểu mẫu và hiểu biết sâu sắc về nội dung bước