Cùng thuộc một thể loại, bên cạnh những nét tương đồng truyện Nôm bác học và truyện Nôm bình dân lại có những nét khác nhau từ nội dung thể hiện đến tư duy nghệ thuật, trong đó loại hình
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LOẠI HÌNH NHÂN VẬT TRUYỆN NÔM BÁC HỌC
VÀ TRUYỆN NÔM BÌNH DÂN DƯỚI CÁI NHÌN SO SÁNH
VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
THÁI NGUYÊN - 2020
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LOẠI HÌNH NHÂN VẬT TRUYỆN NÔM BÁC HỌC
VÀ TRUYỆN NÔM BÌNH DÂN DƯỚI CÁI NHÌN SO SÁNH
Ngành: Văn học Việt Nam
Mã s ố: 822.01.21
VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: TS Ngô Thị Thanh Nga
THÁI NGUYÊN - 2020
Trang 3L ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong lu ận văn là trung thực Những kết luận khoa học trong luận văn chưa
t ừng được ai công bố trong bất cứ công trình nào khác
Tác gi ả luận văn
Hoàng Thị Tuyến
Trang 4L ỜI CẢM ƠN
Em xin bày t ỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới cô giáo hướng dẫn là
TS Ngô Th ị Thanh Nga - Người đã tận tình hướng dẫn, động viên và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho em trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Em xin chân thành c ảm ơn các thầy cô giáo, cán bộ khoa Ngữ Văn, đặc biệt
là các thầy cô đã nhiệt tình giảng dạy khóa 26 chuyên ngành Văn học Việt Nam, các cán b ộ khoa Sau đại học trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên đã tạo điều
ki ện thuận lợi cho em trong quá trình học tập
Tôi vô cùng c ảm ơn sự quan tâm và ủng hộ của gia đình, bạn bè Đó chính là nguồn động viên tinh thần rất lớn để tôi theo đuổi và hoàn thành luận văn
Tác gi ả luận văn
Hoàng Th ị Tuyến
Trang 5M ỤC LỤC
L ỜI CAM ĐOAN i
L ỜI CẢM ƠN ii
M ỤC LỤC iii
M Ở ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 1
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5 Ph ương pháp nghiên cứu 5
6 Đóng góp mới của luận văn 6
7 Cấu trúc của luận văn 6
NỘI DUNG 7
Ch ương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 7
1.1 Khái quát một số vấn đề về truyện Nôm 7
1.1.1 Khái niệm 7
1.1.2 Nguồn gốc 8
1.1.3 Phân l oại 11
1.2 Nhân vật và phân loại nhân vật trong tác phẩm văn học 13
1.2.1 Nhân vật 13
1.2.2 Phân loại nhân vật trong tác phẩm văn học 16
1.3 Khái niệm loại hình nhân vật 20
1.4 So sánh và so sán h văn học 20
1.4.1 So sánh 20
1.4.2 So sánh văn học 21
1.5 Khái qu át một số tác phẩm truyện Nôm bác học và truyện Nôm bình dân 22
1.5.1 “Truyện Kiều” của Nguyễn Du, “Sơ kính tân trang” của Phạm Thái, “Hoa tiên kí” của Nguyễn Huy Tự 22
1.5.2 Thạch Sanh, Thoại Khanh - Châu Tuấn, Tống Trân - Cúc Hoa 30
Tiểu kết chương 1 33
Trang 6Ch ương 2 NHÂN VẬT TRUYỆN NÔM BÁC HỌC VÀ TRUYỆN
NÔM BÌNH DÂN - NH ỮNG ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG 34
2.1 Đặc điểm của nhân vật 34
2.1.1 Nhân v ật chính diện 34
2.1.2 Nhân vật phản diện 50
2.2 K ết thúc của nhân vật 63
2.2.1 Kết thúc của nhân vật chính diện 63
2.2.2 K ết thúc của nhân vật phản diện 70
Tiểu kết chương 2 74
Ch ương 3 NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NÔM BÁC HỌC VÀ TRUY ỆN NÔM BÌNH DÂN - NHỮNG ĐIỂM DỊ BIỆT 75
3.1 Mở rộng về hệ thống nhân vật trong truyện Nôm bác học 75
3.2 Phát tri ển tính cách và tâm lý phức tạp ở nhân vật truyện Nôm bác học 82
3.3 Đổi mới kết thúc nhân vật ở truyện Nôm bác học 95
Ti ểu kết chương 3 101
K ẾT LUẬN 102
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 104
Trang 7và truyện Nôm bình dân Cùng thuộc một thể loại, bên cạnh những nét tương đồng truyện Nôm bác học và truyện Nôm bình dân lại có những nét khác nhau từ nội dung thể hiện đến tư duy nghệ thuật, trong đó loại hình nhân vật là một trong những phương diện thể hiện khá rõ nét tương đồng và dị biệt ấy
- Lí do thực tiễn:
Truyện Nôm được dạy nhiều trong chương trình phổ thông, nhất là Truyện Kiều
Vì thế, việc tìm hiểu vấn đề “Loại hình nhân vật truyện Nôm bác học và truyện Nôm bình
dân dưới cái nhìn so sánh” sẽ giúp cho người viết hiểu sâu sắc hơn về một thể loại đặc
sắc của văn học dân tộc, đặc biệt là Truyện Kiều Qua đó sẽ giúp cho việc dạy các tác
phẩm truyện Nôm ở trường phổ thông có chiều sâu và hiệu quả hơn
Với những lí do trên, tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài “Loại hình nhân vật truyện
Nôm bác học và truyện Nôm bình dân dưới cái nhìn so sánh” để nghiên cứu
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Truyện Nôm là một bộ phận văn học khá độc đáo và có giá trị của nền văn học trung đại Việt Nam Đây là một loại hình tự sự có khả năng phản ánh hiện thực với một phạm vi tương đối rộng Vì vậy, nghiên cứu truyện Nôm là cả “một chặng đường lịch sử” Bởi truyện Nôm là cả một thể loại lớn với quá trình phát triển lâu dài, việc nghiên cứu truyện Nôm là một vấn đề phức tạp nhưng rất được giới nghiên cứu quan tâm và tìm hiểu Trải qua một thời gian dài trên dưới 200 năm, việc tìm hiểu và nghiên cứu truyện Nôm đã đem đến cho chúng ta nhiều cách hiểu và nhiều góc độ nhìn nhận khác nhau để từ đó chúng ta thấy được nhiều phương diện khác nhau của nghệ thuật cũng như nhân sinh
Trang 8Các truyện Nôm bác học như Truyện Kiều, Sơ kính tân trang, Hoa tiên kí và các truyện Nôm bình dân như Thạch Sanh, Thoại Khanh - Châu Tuấn, Tống Trân -
Cúc Hoa đã được nhiều nhà nghiên cứu tìm hiểu nhưng trên phương diện “Loại hình
nhân vật truyện Nôm bác học và truyện Nôm bình dân dưới cái nhìn so sánh" thì thực
sự chưa có nhiều nghiên cứu chuyên sâu Sự nghiên cứu của giới nghiên cứu hầu hết
chỉ tập trung vào nhiều vấn đề cụ thể về ngôn ngữ, về hình tượng thiên nhiên,…hoặc khái quát về nội dung và nghệ thuật ở các tác phẩm riêng lẻ, hoặc cũng có những chuyên luận, luận án đặt các tác phẩm cụ thể trong dòng truyện Nôm để thấy được sự tiếp biến kế thừa những đặc trưng của thể loại
Truyện Nôm bác học là những tác phẩm có tên tác giả, số lượng những truyện Nôm bác học khuyết danh rất ít Đối tượng sáng tác của truyện Nôm bác học là tầng lớp quý tộc, những người có trình độ học vấn cao Điều này chi phối nội dung được phản ánh trong tác phẩm cũng như đặc trưng về trình độ nghệ thuật Nếu như truyện Nôm bác học là sản phẩm trí tuệ của những trí thức phong kiến thì truyện Nôm bình dân lại là những sáng tác của tầng lớp trí thức bình dân Họ có thể là những người cũng từng học đạo thánh hiền nhưng không đỗ đạt làm quan, đó có lẽ là những ông đồ làm nghề dạy học ở xã hội phong kiến Việt Nam xưa Trong luận văn này, tôi nghiên cứu tìm hiểu 6 tác phẩm tiêu biểu của truyện Nôm bình dân và truyện Nôm bác học là:
Truyện Kiều, Sơ kính tân trang, Hoa tiên kí và các truyện Thạch Sanh, Thoại Khanh - Châu Tuấn, Tống Trân - Cúc Hoa Nghiên cứu về những tác phẩm truyện Nôm trên,
chúng ta có thể gặp một số công trình đáng chú ý như:
Trong bài viết “Nhân vật Thuý Kiều trong đoạn kết Truyện Kiều nhìn theo quan điểm văn hoá giới thời trung đại” (Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 6/2010), tác giả Bùi Thị Hồng đã nghiên cứu về kết cục của nhân vật Thúy Kiều và khẳng định: “Truyện
Kiều được cấu trúc theo mô hình ba đoạn: hội ngộ, tai biến, đoàn viên Ai cũng biết là trong đoạn kết thúc đại đoàn viên, Thuý Kiều gặp lại Kim Trọng sau mười lăm năm lưu lạc của một thân phận kỹ nữ Câu chuyện thoạt nhìn có cái không khí của kiểu kết thúc có hậu, song thực ra, cuộc đời đau khổ của nàng Kiều vẫn còn tiếp tục Kiều một mực từ chối không sống như vợ chồng với Kim Trọng, dẫu cho chàng Kim tha thiết khẩn cầu nàng Rút cục, vị cay đắng vẫn thấm đượm tận đáy lòng Kiều” [22, tr.52]
Đoạn đại đoàn viên ghi lại chân thực quan niệm trinh tiết Nho giáo đã ăn sâu vào cả
Trang 9cách nghĩ của người phụ nữ, nó là một trong những nguyên nhân sâu xa dẫn đến tấn bi kịch của nàng Kiều ngay trong hồi đại đoàn viên Thuý Kiều tự nguyện gánh chịu tất
cả khổ nạn do quan niệm trinh tiết mà nam giới đã áp đặt cho người phụ nữ với một niềm xác tín là người đàn ông như Kim Trọng không thể sống với một người phụ nữ thất tiết Những lời xót xa của nàng Kiều đòi hỏi một sự suy nghĩ nghiêm túc về trách nhiệm của những người đàn ông đối với vấn đề trinh tiết của phụ nữ thay vì bình thản chứng kiến người phụ nữ phải gánh chịu hậu quả đến mức phải hy sinh cả hạnh phúc của họ Vấn đề là tại sao chỉ có người phụ nữ phải tuân thủ tiết hạnh? Và, tại sao người phụ nữ lại chỉ có giá trị với điều kiện bắt buộc là phải có tiết hạnh? Dường như nhà thơ
vĩ đại muốn đặt những câu hỏi khá bức bối này của tư tưởng nữ quyền trong phần đại
đoàn viên của Truyện Kiều Đó cũng là một phương diện mang giá trị lớn về nội dung
chủ nghĩa nhân đạo của Nguyễn Du
Trong bài viết Về cách xây dựng nhân vật trong truyện Nôm của tác giả Bùi Thị Ngọc Hà đã nhận định: “Các nhân vật trong truyện Nôm bình dân, truyện Nôm bác
học đều có sự phân tuyến đối lập về tính cách Cách xây dựng nhân vật phân tuyến là
sự lý giải cho quy luật nhân quả, một kiểu xây dựng nhân vật trong truyện kể dân gian Các nhân vật thiện với những đức tính, phẩm chất tốt đẹp sẽ được hưởng hạnh phúc xứng đáng Những nhân vật ác với những hành động xấu xa sẽ bị trừng trị thích đáng Gieo nhân nào thì gặt quả ấy là vấn đề cốt lõi trong việc xây dựng hành động nhân vật truyện Nôm” [9, tr.55]
Cũng trong bài viết này, tác giả cũng chỉ ra những đặc trưng bổi bật của hệ
thống nhân vật truyện Nôm nói chung Đó là “Thứ nhất nhân vật được xây dựng theo
khuôn mẫu Thứ hai, mỗi nhân vật, dù được miêu tả đạt tới bề dày tính cách thì cũng chỉ là tính cách nhất phiến Toàn bộ tính cách của nhân vật được ấn định một cách tiên nghiệm ngay từ trong ý đồ tác giả và cố định trong suốt tác phẩm Biến cố mà nhân vật trải qua chỉ là những sự kiện hầu như ngoại tại, thuần túy đối với tính cách, được gá hờ vào cốt truyện, làm thành những cơ hội để nhân vật phô ra những gì đã được tác giả chuẩn bị sẵn, từ trước khi hạ sinh ra nhân vật Đặc điểm thứ ba, trong tác phẩm, nhân vật bao giờ cũng được chia ra, xếp vào hai tuyến thiện - ác, chính - tà, tốt - xấu Một trong những nguyên nhân dẫn đến sự tương đồng giữa truyện Nôm bác học và truyện Nôm bình dân là sự quy định chung về đặc trưng của thể loại truyện
Trang 10Nôm như: mô hình cấu trúc, vấn đề kết thúc có hậu, nhân vật, các môtip dân gian, phong cách ngôn ngữ, phương thức sáng tác và lưu truyền… Các tác giả văn học trung đại khi đi vào sáng tác đã tuân thủ chặt chẽ những quy định chung đó Vì thế đã tạo nên tính tương đồng giữa truyện Nôm bác học và truyện Nôm bình dân trên một số phương diện, trong đó có cách xây dựng nhân vật” [9, tr.56]
Nhà nghiên cứu Kiều Thu Hoạch, trong Truyện Nôm - lịch sử hình thành và
bản chất thể loại đã chỉ rõ: “Dù là truyện Nôm bác học (hoặc hữu danh) hay truyện Nôm bình dân (hoặc khuyết danh), xét cho cùng, chúng cũng vẫn nằm trong khuôn hình của thể loại truyện Nôm, vẫn có chung một số thuộc tính nhất định của thể loại này Do đó, giữa chúng vẫn không thể không tồn tại một vùng giáp ranh tương đồng
g iữa hai vòng tròn phân loại” [17, tr.70]
“Nhân vật phụ nữ qua một số truyện Nôm” đăng trên Tạp chí Văn học, số 2/1968 cũng
đã tìm hiểu và nghiên cứu về phương diện nguồn gốc, bản chất, nghệ thuật và nhân vật nhưng chưa có được cái nhìn khái quát
Trong luận văn thạc sĩ ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam Thi pháp xây dựng nhân
vật phản diện trong một số truyện nôm bình dân, tác giả Triệu Thị Mỹ đã phân tích về
thi pháp xây dựng nhân vật phản diện trong một số truyện Nôm bình dân, đem đến cho người đọc những hiểu biết quý giá về nhân vật phản diện trong một số truyện Nôm bình dân
Như vậy có thể nói, truyện Nôm là tài sản lớn, là thành tựu xuất sắc của văn học dân tộc Chính vì thế thể loại này đã thu hút được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu với nhiều bài viết và chuyên luận giá trị Tuy nhiên, đặt loại hình nhân vật trong truyện Nôm bác học và truyện Nôm bình dân dưới cái nhìn so sánh để nghiên cứu thì chưa có một công trình nào đề cập đến Vì vậy, chúng tôi chọn lựa loại hình nhân vật trong truyện Nôm bác học và truyện Nôm bình dân dưới cái nhìn
so sánh làm đề tài nghiên cứu của luận văn này
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của chúng tôi khi thực hiện luận văn này là nhằm làm rõ những điểm tương đồng, khác biệt về phương diện nhân vật của truyện Nôm bác học
và truyện Nôm bình dân Qua đó khẳng định sự phong phú đa dạng của thể loại truyện
Trang 11Nôm nói chung và một phương diện cụ thể của truyện Nôm nói riêng - đó là loại hình nhân vật Từ đó góp phần giúp cho các giáo viên dạy tốt hơn về các tác phẩm thuộc thể loại truyện Nôm trong chương trình phổ thông
Nhiệm vụ nghiên cứu gồm:
- Vấn đề về truyện Nôm: Tìm hiểu chung về những vấn đề chung có liên quan tới đề tài như một số vấn đề truyện Nôm, loại hình nhân vật,vài nét khái quát về nội dung các truyện Nôm tiêu biểu
- Khái quát các tác phẩm truyện Nôm trong phạm vi nghiên cứu
- Tìm hiểu, phân tích những điểm tương đồng và dị biệt về loại hình nhân vật
trong ba truyện Nôm bác học gồm Truyện Kiều của Nguyễn Du, Sơ kính tân trang của Phạm Thái, Hoa tiên kí của Nguyễn Huy Tự và ba truyện Nôm bình dân gồm ba tác phẩm: Thạch Sanh, Thoại Khanh - Châu Tuấn, Tống Trân - Cúc Hoa
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
nhìn so sánh
+ Phạm vi vấn đề nghiên cứu: loại hình nhân vật
+ Phạm vi tư liệu nghiên cứu: Số lượng truyện Nôm rất lớn, trong luận văn này,
chúng tôi lựa chọn sáu tác phẩm tiêu biểu, trong đó truyện Nôm bác học gồm: Truyện Kiều của Nguyễn Du, Sơ kính tân trang của Phạm Thái, Hoa tiên kí của Nguyễn Huy Tự; truyện Nôm bình dân gồm: Thạch Sanh, Thoại Khanh - Châu Tuấn, Tống Trân - Cúc Hoa
Ngoài việc vận dụng lý luận về phương pháp nghiên cứu, đề tài này còn sử dụng các phương pháp và các thao tác cụ thể như sau:
- Phương pháp thống kê phân loại:
+ Thống kê các nhân vật nhằm cung cấp những số liệu chính xác, tạo cơ sở tin cậy cho những kết luận của luận văn
+ Phân loại nhân vật: Nhân vật chính diện, nhân vật phản diện và nhân vật trung gian
phương pháp nghiên cứu lịch sử - văn hóa học để xác định mối tương quan giữa hình
Trang 12tượng nhân vật trong tác phẩm và sự liên hệ với hiện thực đời sống, bối cảnh văn hóa -
xã hội đương thời
- Phương pháp phân tích tác phẩm văn học: Phân tích nhân vật trong tác phẩm truyện Nôm để thấy được sự giống và khác nhau giữa loại hình nhân vật trong truyện Nôm bác học và truyện Nôm bình dân
- Phương pháp so sánh: để chỉ ra sự tương đồng và sự khác biệt của nhân vật trong truyện Nôm bác học và truyện Nôm bình dân
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi vận dụng đan xen, phối hợp hài hòa các phương pháp trên để làm rõ nội dung vấn đề nghiên cứu
T ừ việc nghiên cứu truyện Nôm bác học và truyện Nôm bình dân dưới cái nhìn
so sánh thông qua các tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du, Sơ kính tân trang của Phạm Thái, Hoa tiên kí của Nguyễn Huy Tự; truyện Nôm bình dân gồm: Thạch Sanh,
Thoại Khanh - Châu Tuấn, Tống Trân - Cúc Hoa, luận văn là nghiên cứu khá đầy đủ
về vấn đề nhân vật, phân tích những điểm tương đồng và dị biệt về loại hình nhân vật giữa truyện Nôm bác học và truyện Nôm bình dân
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần xây dựng đánh giá về truyện Nôm Những đánh giá về tác giả, tác phẩm thuộc tiểu loại truyện Nôm cũng từ đó góp thêm một tiếng nói vào diễn trình nghiên cứu truyện Nôm vốn đã, đang và vẫn có sức hấp dẫn đối với những người quan tâm đến di sản văn học của ông cha
Ngoài ra, những vấn đề khoa học được nghiên cứu và trình bày trong luận văn này là tư liệu tham khảo có ý nghĩa thiết thực cho quá trình nghiên cứu, học tập, giảng dạy trong nhà trường các cấp
Luận văn ngoài Mở đầu, Kết luận và Thư mục tham khảo, Nội dung gồm ba chương:
Chương 1: Những vấn đề chung có liên quan đến đề tài
Chương 2: Nhân vật truyện Nôm bác học và truyện Nôm bình dân - Những
điểm tương đồng
Chương 3: Nhân vật trong truyện Nôm bác học và truyện Nôm bình dân
-Những điểm dị biệt
Trang 13NỘI DUNG Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1 Khái quát một số vấn đề về truyện Nôm
Truyện Nôm là thể loại thuộc loại hình tự sự, là thể loại tiêu biểu của văn học trung đại Việt Nam Những tác phẩm truyện Nôm xuất hiện vào khoảng thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX đều mang nội dung tư tưởng tiến bộ với hình thức nghệ thuật mang tính dân tộc như chữ Nôm, thể thơ lục bát Truyện Nôm thể hiện sâu sắc truyền thống nhân đạo của người dân Việt Nam và là thể loại có vị trí quan trọng trong nền văn học dân tộc nói chung và văn học trung đại nói riêng
sống bằng phương thức tự sự”, Đặng Thanh Lê xếp thể loại này vào “hệ thống tự sự -
tiểu thuyết”, “thể loại tiểu thuyết này sử dụng ngôn ngữ văn tự dân tộc: chữ Nôm và với tư cách tác phẩm tự sự bằng văn vần, đại bộ phận các tác phẩm đều sử dụng một thể loại thơ dân tộc - thể lục bát” [26, tr.55] Còn Lê Trí Viễn và một số tác giả khác
lại định nghĩa truyện Nôm “là những sáng tác văn học hầu hết có tính chất trung thiên
tiểu thuyết, và viết bằng thể thơ lục bát, có khi bằng thất ngôn bát cú” [64, tr.227]
Nhà nghiên cứu Kiều Thu Hoạch lại quan niệm: “Truyện Nôm cũng còn có thể
được gọi là truyện thơ Gọi là truyện Nôm chẳng qua là một cách gọi theo tập truyền,
và là gọi theo hình thức ghi chép đặc thù của thể loại - đó là ghi chép bằng chữ Nôm Còn gọi là truyện thơ là gọi theo bản chất thể loại - một loại hình tự sự” [17, tr.263]
Nguyễn Hồng Quang đưa ra cách hiểu “đây là một loại văn học viết theo văn
vần, có cốt truyện (tức là một loại tiểu thuyết văn vần) Truyện Nôm sử dụng thể thơ lục bát là chủ yếu, song cũng có một số ít tác phẩm dùng thể Đường luật” [53, tr.23]
Trang 14Nhóm biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam viết: “Truyện Nôm hoàn toàn
dùng các thể thơ dân tộc: lục bát, song thất lục bát” [21, tr.632]
loại sáng tác tiếng Việt (chữ Nôm) thời trung đại, phát triển mạnh từ nửa sau thế kỷ XVIII và suốt thế kỷ XIX Mỗi tác phẩm ở thể loại trước là một liên hoàn gồm một loạt bài thơ thất ngôn bát cú hoặc tứ tuyệt (thơ Đường luật)… Các tác phẩm thuộc loại sau hầu như hoàn toàn dùng thơ lục bát, chỉ đôi khi mới xen một vài đoạn ngắn các thể khác (như nói lối, thơ Đường luật, từ khúc)” [1, tr.491]
loại tự sự bằng thơ dài rất tiêu biểu cho văn học cổ điển Việt Nam, nở rộ vào cuối thế
kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, do viết bằng tiếng Việt ghi bằng chữ Nôm nên được gọi là truyện Nôm Truyện Nôm có tác phẩm viết bằng thể thơ Đường luật… nhưng phổ biến nhất là viết bằng thể thơ lục bát” [12, tr.315]
Như vậy, dù viết bằng những câu chữ khác nhau, nhưng tựu trung, những định nghĩa trên đã thể hiện được bản chất thể loại truyện Nôm và thống nhất ở mốt số điểm,
hình thức văn vần, theo thể lục bát (đôi khi xen đoạn thuộc thể thơ Đường luật, từ khúc…), thể Đường luật (thất ngôn bát cú hoặc tứ tuyệt) nhưng chủ yếu là thể lục bát dân tộc Ra đời và tồn tại với phương thức đầu tiên là truyện Nôm truyền khẩu, sau này các nhà nho bình dân và bác học dựa trên cơ sở cốt truyện đã có để tái tạo lại, vì thế truyện Nôm viết xuất hiện và phát triển Giá trị của thể loại được khẳng định qua sức mạnh trường tồn với sự hâm mộ của quần chúng nhân dân nhiều thế hệ, kéo dài đến ngày nay
1.1.2 Nguồn gốc
Về lịch sử, xã hội
Các nhà nghiên cứu đã xác định truyện Nôm ra đời vào giai đoạn XVI - XVII
và phát triển rực rỡ vào thế kỉ XVIII - nửa đầu thế kỉ XIX Đây là thời kì khủng hoảng trầm trọng, đi đến suy tàn của chế độ phong kiến Việt Nam Đó là vào khoảng đầu thế
kỉ XVI, nền chính trị của đất nước rơi vào khủng hoảng trầm trọng Vua chúa ăn chơi
sa đọa, nội bộ lục đục, tranh giành quyền lực Từ giữa thế kỉ XVII - đến hết thế kỉ XVIII, đất nước hai lần rơi vào cảnh chia cắt Hàng loạt các cuộc khởi nghĩa nông dân
Trang 15nổi lên, giường mối xã hội bị đe dọa nghiêm trọng Hoàn cảnh chính trị đó đã góp phần quan trọng vào việc thay đổi hình thái tư tưởng của thời đại Nó không chỉ làm suy yếu và sụp đổ hệ tư tưởng phong kiến mà còn nâng đỡ cho sự ra đời, phát triển của tinh thần dân chủ Quần chúng nhân dân và một bộ phận nho sĩ tiến bộ đã nhận thấy được sự thối nát của xã hội, ý thức được quyền sống và sức mạnh của nhân dân Đây chính là nguồn mạch tinh thần nuôi dưỡng cảm hứng sáng tạo và tư tưởng nhân văn trong truyện Nôm Trong thời đại đầy biến động ấy những cuộc đấu tranh trong nội bộ giai cấp phong kiến, những cuộc đấu tranh giữa nông dân với giai cấp phong kiến thống trị diễn ra liên miên, không dứt là minh chứng cho sự đảo lộn trật tự cũ trong xã hội phong kiến
Kinh tế công thương nghiệp nước ta giai đoạn này phát triển cũng là lý do thúc đẩy sự xuất hiện của truyện Nôm Giai đoạn từ thế kỉ XVI - thế kỉ XVIII, công thương nghiệp phát triển rộng khắp Trong thời đại có nhiều biến động về chính trị - xã hội, những xung đột nội bộ không thể giải quyết, kinh tế hàng hóa phát triển kéo theo đó là vai trò của đồng tiền, lối sống thị dân đã tác động vào sự băng hoại ý thức hệ của giai cấp thống trị Trong truyện Nôm có những chuyện như: vợ gian thông với đình trưởng
để hắn thừa cơ cướp tiền giành dụm của chồng sao bao nhiêu năm đi làm ăn xa (Tống
Trân - Cúc Hoa) chính là biểu hiện của của sự suy thoái đạo đức trong một xã hội vì đồng tiền
Đồng thời sự gia tăng của lối sống thị dân lại càng tác động mạnh mẽ vào sự băng hoại của ý thức hệ phong kiến Và vì thế, những tư tưởng dân chủ, tiến bộ như tinh thần đấu tranh chống lại những lễ giáo phong kiến nghiệt ngã, cùng với tinh thần đấu tranh đòi tự do hôn nhân, đồi quyền sống cho người phụ nữ… được biểu hiện trong truyện Nôm cũng chính là bắt nguồn từ nền tảng kinh tế - xã hội của thời đại lịch
sử này
Về văn hóa, nghệ thuật
Sự ra đời của truyện Nôm gắn liền với các tiền đề văn hoá, nghệ thuật Các loại hình dân gian phát triển mạnh mẽ nhất như nghệ thuật sân khấu cổ truyền, phù điêu dân gian, văn học dân gian được đề cao Nhìn chung những nét sinh hoạt đời thường trần tục, bình dân đầy tính hiện thực được đưa vào các loại hình nghệ thuật như một tất yếu lịch sử Trước đây, các nhà trí thức phong kiến cho rằng văn học dân gian chỉ là
Trang 16tài sản tinh thần của hạng thứ dân Đến thời kỳ này, do ảnh hưởng tư tưởng dân chủ, nhiều nghệ sĩ tìm đến phương thức biểu đạt của loại hình này mà cụ thể là thể thơ lục bát và thể loại truyện cổ tích Tất nhiên, trước khi dùng lục bát, truyện Nôm đã thể nghiệm ở thơ Đường luật trong vài ba tác phẩm nhưng không mấy thành công Do không bị gò bó chặt chẽ ở phương diện niêm luật nên lục bát đã trở nên phù hợp trong việc đảm nhiệm vai trò kéo dài văn bản, đáp ứng nhu cầu tự sự, gần gũi với tư duy số đông chúng dân đương thời Lục bát là thể thơ mà cha ông trong quá khứ đã chuẩn bị trước để ươm trồng truyện Nôm
Về mặt cốt truyện, liên quan chặt chẽ tới luồng gió dân chủ, thể loại tự sự dân gian có sẵn - truyện cổ tích trở thành nguồn cội của truyện Nôm Cốt truyện cổ tích được bác học hóa, có chỗ đứng riêng, sinh mệnh mới trong dòng chảy văn học viết Qua đó, có thể thấy, văn học trung đại Việt Nam có mối quan hệ mật thiết với văn học dân gian Truyện Nôm không đơn thuần là kết quả nội sinh của văn hóa tộc người Kinh ở Việt Nam mà nó còn được ra đời bởi sự giao lưu văn hóa Việt Nam nằm trong vùng văn hóa khu vực phương Đông, có mối quan hệ với “vài ba nền văn học già” như
Ấn Độ, Hi - La, đặc biệt với Trung Hoa Vì vậy, văn học nước nhà ít nhiều ảnh hưởng
từ những quốc gia này Sự giao lưu văn hóa diễn ra qua con đường chính trị, đường ngoại thương, qua con đường đi sứ hoặc di dân khẩn thực… Bên cạnh văn liệu, văn học Việt Nam trung đại còn ảnh hưởng không nhỏ từ các học thuyết tôn giáo như Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo “Cùng với văn học Trung Hoa, người Việt còn tiếp thu tinh
hoa từ nền văn học Ấn Độ, đặc biệt là hệ tư tưởng Phật giáo, các loại hình văn học Phật giáo Ngoài ra, chúng ta còn tiếp nhận những cái hay, cái đẹp từ nền văn hiến các dân tộc lân cận như Champa, Lào, Campuchia, Thái Lan,…” [62, tr.35]
Sự hình thành và phát triển của thể loại truyện Nôm không thể tách rời quá trình phát triển của văn học chữ Nôm và văn xuôi, văn vần nói riêng cũng như quá trình hình thành và phát triển của loại hình tự sự trong văn học Việt Nam nói chung Truyện Nôm còn được hình thành từ quan điểm sáng tác của người nghệ sỹ Từ đầu thế kỉ XVI đến thế kỉ XVIII, hiện thực xã hội thay đổi, ý thức hệ phong kiến suy tàn, phong trào đấu tranh của nông dân là cơ sở cho sự nảy sinh, khơi mào cho tinh thần dân chủ
Sự chuyển biến trong khuynh hướng tư tưởng xã hội, tư tưởng nhân văn của thời đại khúc xạ tới tư duy của người trí thức tiến bộ, từ đó, nhà văn có sự thay đổi quan niệm sáng tác, cách đánh giá con người và xã hội…
Trang 17Truyện Nôm hình thành và phát triển, kết thúc sinh mệnh qua bốn giai đoạn sau: Cuối thế kỉ XV - đầu thế kỉ XVI, thế kỉ XVII, thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX, cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX
1.1.3 Phân loại
Nghiên cứu truyện Nôm cùng với việc xác định bản chất của thể loại là một vấn
đề phức tạp, không dễ đạt được sự thống nhất trong quan niệm của các nhà nghiên cứu Cũng từ đó mà việc phân loại truyện Nôm trở nên hết sức khó khăn Các nhà nghiên cứu đã dựa vào những tiêu chí nhất định để phân loại, và trong một chừng mực nào đó đều có điểm thuyết phục Qua khảo cứu, chúng tôi nhận thấy việc phân loại truyện Nôm hiện nay tựu chung lại theo 4 hướng như sau:
Thứ nhất: Dựa vào mối quan hệ với tác giả, có thể chia truyện Nôm thành hai loại là truyện Nôm hữu danh và truyện Nôm khuyết danh Chẳng hạn: Thạch Sanh,
Thoại Khanh - Châu Tuấn,… thuộc loại truyện Nôm khuyết danh; truyện Hoa tiên của
Tiêu biểu cho cách phân chia này là nhà nghiên cứu Bùi Văn Nguyên Thực ra lối phân chia này thuần túy chỉ mang tính chất hình thức, việc phân loại chưa thật sự mang tính khoa học
Thứ hai: Dựa vào nguồn gốc và thể tài, có 3 loại truyện Nôm:
Truyện có nguồn gốc cổ tích, thần thoại (Tấm Cám, Tống Trân - Cúc Hoa…) Truyện có nguồn gốc từ kho tàng tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc (Song Tinh,
Hoa tiên, Nhị Độ Mai, Truyện Kiều…)
Truyện bắt nguồn từ thực tại đời sống xã hội Việt Nam hay sáng tạo trên sự hư
cấu cảnh ngộ cuộc đời của chính tác giả (Sơ kính tân trang, Mai Đình mộng ký…) Mặc dù ý kiến của tác giả phần nào mang tính thuyết phục, nhưng về cơ bản cách phân
loại ấy chưa giải quyết thật triệt để vấn đề đặc trưng thể loại của truyện Nôm
Thứ ba: Dựa vào nội dung và thể tài, có thể chia truyện Nôm thành năm loại: Loại truyện có tính chất lễ nghi, tôn giáo (Quan Âm Thị Kính, Sự tích Đức
Chúa Ba…)
Loại truyện lãng mạn hay còn gọi là truyện tài tử giai nhân (Hoa tiên, Phan
Trần, Sơ kính tân trang…)
Loại truyện thế sự có chủ đề hôn nhân và hạnh phúc gia đình, đấu tranh xã hội (Thoại Khanh - Châu Tuấn, Tống Trân - Cúc Hoa…)
Trang 18Loại truyện về các sự kiện lịch sử, nhân vật lịch sử (Ông Ninh cổ truyện, Chúa
Thứ tư: Dựa vào nội dung và hình thức sáng tác, truyện Nôm được chia thành
hai loại là truyện Nôm bình dân và truyện Nôm bác học Đây là ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu như Nguyễn Lộc, Kiều Thu Hoạch, Trần Đình Sử…
Mỗi cách phân loại truyện Nôm như đã thống kê trên đều có những ưu điểm và tồn tại nhất định, chỉ mang tính tương đối, không có cách phân loại nào là tuyệt đối Đồng thời, ranh giới giữa hai loại truyện Nôm bình dân và bác học không phải lúc nào cũng rạch ròi, dứt khoát bởi các tiêu chí phân loại vẫn còn có độ co dãn nhất định Song
rõ ràng cách phân loại này đã cho thấy tính ưu việt của nó trong việc nêu bật nét khu biệt cũng như tiến trình phát triển của thể loại Truyện Nôm Có lẽ vì vậy mà cách phân chia truyện Nôm thành hai loại truyện Nôm bình dân và truyện Nôm bác học trở nên có sức thuyết phục hơn cả, được nhiều nhà nghiên cứu và học giả ủng hộ Thực hiện đề tài, chúng tôi cũng xin được kế thừa việc phân loại truyện Nôm theo hướng này
Truyện Nôm bình dân hầu hết không có tên tác giả Song có thể phỏng đoán tác giả của nó là những nho sĩ bình dân bởi căn cứ vào trình độ học vấn, trình độ tu dưỡng nghệ thuật, căn cứ vào cách nhìn nhận các vấn đề nhân sinh và xã hội được thể hiện trong tác phẩm Cốt truyện trong các truyện Nôm bình dân thường dựa theo những câu chuyện cổ dân gian Việt Nam Truyện Nôm bình dân sáng tác để kể là chính, được lưu truyền trong dân gian trước khi được in ra thành văn bản Chính vì vậy, trong truyện Nôm bình dân, cách sử dụng ngôn ngữ, cách diễn đạt rất bình dị, dễ hiểu, gần với lời
ăn tiếng nói của nhân dân lao động, thể hiện tâm tư, tình cảm, quan niệm, và cả những ước mơ, khát vọng của nhân dân Truyện Nôm bình dân rất gần với truyện dân gian nhưng không phải là truyện dân gian Về một mặt nào đó, có thể nói, truyện Nôm bình dân là chiếc cầu nối liền giữa văn học dân gian với truyện Nôm bác học Những truyện
Nôm bình dân được phổ biến rộng rãi trong dân gian là: Thạch Sanh, Tống Trân - Cúc
Hoa, Lý Công, Tấm Cám, Thoại Khanh - Châu Tuấn,…
Trang 19Truyện Nôm bác học phần lớn là có tên tác giả, chỉ có một số ít tác phẩm là khuyết danh Tác giả của truyện Nôm bác học là những người thuộc giai cấp phong kiến quý tộc, trình độ học vấn uyên bác, có quá trình rèn luyện và tu dưỡng nghệ thuật Khác với truyện Nôm bình dân, cốt truyện trong những truyện Nôm bác học chủ yếu mượn từ văn học cổ Trung Quốc, chỉ một số rất ít là được hư cấu
Truyện Nôm bác học được sáng tác theo phương thức của văn học thành văn, chủ yếu là để đọc nên các tác giả khá cầu kì, tinh tế trong cách diễn đạt, sử dụng nhiều điển tích, điển cố, ngôn ngữ trau chuốt, giàu hình ảnh, đạt đến trình độ nghệ thuật cao
Các tác phẩm truyện Nôm bác học tiêu biểu có thể kể đến là Hoa tiên kí của Nguyễn Huy Tự, Sơ kính tân trang của Phạm Thái, kiệt tác Truyện Kiều của Nguyễn Du,
Qua sự phân loại như trên, ta có thể khẳng định, thể loại truyện Nôm đã thể hiện được những đặc trưng riêng và để lại dấu ấn đặc biệt trong nền văn học trung đại Việt Nam Những tác phẩm truyện Nôm thời trung đại đã góp phần quan trọng tạo nên sức sống, giá trị, bản sắc của văn học dân tộc Việt Nam trong mọi thời kì
1.2 Nhân vật và phân loại nhân vật trong tác phẩm văn học
1.2.1 Nhân vật
Văn học không thể thiếu nhân vật, bởi đó chính là phương tiện cơ bản để nhà văn khái quát hiện thực một cách hình tượng Nhà văn sáng tạo nhân vật để thể hiện nhận thức của mình về một cá nhân nào đó, một loại người, một vấn đề nào đó của hiện thực Vì thế, nhân vật chính là người dẫn dắt người đọc vào một thế giới riêng của đời sống trong một thời kì lịch sử nhất định
Thuật ngữ nhân vật xuất hiện từ rất sớm (tiếng Hy Lạp: persona, tiếng Anh: personage, tiếng Nga: personaj) Theo tiếng Hy Lạp cổ, persona lúc đầu có nghĩa là
"chiếc mặt nạ" - một dụng cụ biểu diễn của diễn viên trên sân khấu Về sau, từ này được dùng phổ biến hơn và trở thành thuật ngữ chỉ nhân vật văn học
Thứ nhất nhân vật là đối tượng (thường là con người) được miêu tả thể hiện trong tác phẩm văn học Thứ hai, đó là người có vị trí nhất định trong xã hội Tức thuật ngữ nhân vật được dùng phổ biến ở nhiều mặt cả trong đời sống xã hội, đời sống nghệ thuật lẫn trong đời sống sinh hoạt
Trang 20Theo T ừ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán chủ biên) nhân vật văn học là
con người cụ thể được miêu tả trong tác phẩm văn học Đó chính là nơi “tác giả
đầy tính ước lệ, không thể đồng nhất nó với con người có thật trong đời sống Chức năng cơ bản của nhân vật văn học là khái quát tính cách của con người Nhân v ật văn học còn thể hiện quan điểm nghệ thuật và lí tưởng thẩm mĩ của nhà văn về con người Vì thế, nhân vật luôn gắn chặt với chủ đề của tác phẩm
Theo cu ốn Lí luận văn học (tập 2) (Trần Đình Sử chủ biên), nhân vật văn
h ọc là khái niệm dùng để chỉ hình tượng các cá thể con người trong tác phẩm văn học - cái đã được nhà văn nhận thức, tái tạo, thể hiện bằng các phương tiện riêng c ủa nghệ thuật ngôn từ [57, tr.114] Nhân vật văn học luôn hiện hữu trong các tác ph ẩm văn học Đó là những nhân vật có tên như Tấm, Cám, bà Hiền, chị
Bơ hay những nhân vật không tên như chị vợ của Tràng trong Vợ nhặt của
Kim Lân, th ằng bán tơ trong Truyện Kiều, nhân vật bà cô trong Nếp nhà của
Nguy ễn Khải Nhân vật có thể được thể hiện bằng những hình thức khác nhau nhất Đó có thể là những con người được miêu tả đầy đặn cả ngoại hình lẫn nội tâm, có tính cách, có ti ểu sử như một khách thể thường thấy trong tác phẩm tự
s ự, kịch Đó có thể là những người thiếu hẳn những nét đó, nhưng lại có tiếng nói, gi ọng điệu, cái nhìn như nhân vật người trần thuật, hoặc chỉ có cảm xúc, nỗi
ni ềm, ý nghĩ, cảm nhận như nhân vật trữ tình trong thơ trữ tình
Nhân vật do đó không chỉ là hình thức cơ bản thể hiện quan niệm nghệ thu ật về con người mà còn là hình thức cơ bản để khái quát những qui luật của đời sống và là nơi tập trung mọi giá trị - tư tưởng của nghệ thuật Qua nhân vật, người đọc có thể hiểu được tư tưởng nghệ thuật của tác phẩm và cá tính sáng tạo
c ủa nhà văn Nhân vật là đứa con tinh thần, là sản phẩm, là vốn sống trực tiếp của nhà văn, là nơi thể hiện rõ nhất quan điểm nghệ thuật cũng như quan niệm
c ủa nhà văn về cuộc đời và con người.
Pautopxki đã nói rằng những nhân vật và những tính cách sinh động chính là
tấm huân chương cao quí của mỗi nhà văn Thực vậy, nhân vật giữ một vai trò hết
Trang 21sức quan trọng trong thành công của một tác phẩm, một tác giả văn học Một tác phẩm hay phải là tác phẩm có những nhân vật ấn tượng, cá tính, ám ảnh và thể hiện được sự sáng tạo của người nhào nặn ra chúng
quyết hết thảy trong cuộc sống của con người Nhân vật giữ vai trò đặt biệt trong tác phẩm văn học Nó không chỉ là nơi bộc lộ tư tưởng, chủ đề của tác phẩm mà còn là nơi tập trung các giá trị của tác phẩm, là mắt xích cơ bản xâu chuỗi, kết dính các yếu tố, sự kiện
Nhân vật trong tác phẩm văn học là một hiện tượng nghệ thuật mang tính ước lệ,
đó không phải là sự sao chụp đầy đủ mọi biểu hiện của con người mà chỉ là sự thể hiện của con người qua những đặc điểm về tiểu sử, tính cách và hành động, suy nghĩ của họ
Nhân vật văn học là con người được nhà văn miêu tả trong tác phẩm bằng phương tiện văn học Những con người này có thể được miêu tả kỹ hay sơ lược, sinh động hay không rõ nét, xuất hiện một hay nhiều lần, thường xuyên hay từng lúc, giữ vai trò quan trọng nhiều, ít hoặc không ảnh hưởng nhiều lắm đối với tác phẩm
Trong tác phẩm văn học, nhân vật có thể là con người có tên (như Tấm, Cám, Thúy Vân, Thúy Kiều, Từ Hải, Kim Trọng ), có thể là những người không có tên (như thằng bán tơ, viên quan, mụ quản gia ) hay có thể là một đại từ nhân xưng nào
đó (như một số nhân vật xưng tôi trong các truyện ngắn, tiểu thuyết hiện đại, như mình
cách ẩn dụ nhằm chỉ một hiện tượng nổi bật nào đó trong tác phẩm Chẳng hạn, người
ta thường nói đến nhân dân như là một nhân vật trung tâm trong Chiến tranh và hòa
bình của L Tônxtôi, ca cao là nhân vật chính trong Ðất dữ của G Amađô, chiếc quan tài là nhân vật trong tác phẩm Chiếc quan tài của Nguyễn Công Hoan Tô Hoài nhận
xét về Chiếc quan tài: "Trong truyện ngắn Chiếc quan tài của Nguyễn Công Hoan,
nhân vật không phải là người mà là một chiếc quan tài Nhưng chiếc quan tài ấy chẳng phải là vô tri mà là một sự thê thảm, một bản án tố cáo chế độ thảm khốc thời Pháp thuộc Như vậy, chiếc quan tài cũng là một thứ nhân vật" [18, tr.127] Tuy vậy,
nhìn chung, nhân vật vẫn là hình tượng của con người trong tác phẩm văn học
Nhân vật văn học là một hiện tượng nghệ thuật có tính ước lệ, thường có những dấu hiệu để nhận biết: tên gọi, những dấu hiệu về tiểu sử, nghề nghiệp, những đặc điểm riêng
Trang 22Những dấu hiệu đó thường được giới thiệu ngay từ đầu và thông thường, sự phát triển về sau của nhân vật gắn bó mật thiết với những giới thiệu ban đầu đó Việc giới thiệu Thúy Vân, Thúy Kiều khác nhau dường như cũng báo trước về số phận của mỗi người sau này:
"Vân xem trang trọng khác vời, Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang
Hoa cười ngọc thốt đoan trang, Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da
Kiều càng sắc sảo mặn mà,
So bề tài sắc lại là phần hơn
Làn thu thủy, nét xuân sơn, Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh."
Hay việc giới thiệu Hoạn Thư:
"Ở ăn thì nết cũng hay,
Nói điều ràng buộc thì tay cũng già."
gắn liền với những suy nghĩ, nói năng, hành động trong quá trình phát triển về sau của nhân vật
Nhân vật văn học không giống với các nhân vật thuộc các loại hình nghệ thuật khác Ở đây, nhân vật văn học được thể hiện bằng chất liệu riêng là ngôn từ Vì vậy, nhân vật văn học đòi hỏi người đọc phải vận dụng trí tưởng tượng, liên tưởng để dựng lại một con người hoàn chỉnh trong tất cả các mối quan hệ của nó
1.2.2 Phân loại nhân vật trong tác phẩm văn học
Nhân vật văn học là một hiện tượng hết sức đa dạng Những nhân vật được xây dựng thành công từ xưa đến nay bao giờ cũng là những sáng tạo độc đáo, không lặp lại Tuy nhiên, xét về mặt nội dung tư tưởng, kết cấu, chất lượng miêu tả, có thể thấy những hiện tượng lặp đi lặp lại tạo thành các loại nhân vật khác nhau Ðể nắm bắt được thế giới nhân vật đa dạng, phong phú, có thể tiến hành phân loại chúng ở nhiều góc độ khác nhau
Thứ nhất: Xét từ góc độ nội dung tư tưởng hay phẩm chất nhân vật
Có thể nói đến các loại nhân vật chính diện (nhân vật tích cực), nhân vật phản diện (nhân vật tiêu cực)
Trang 23Nhân vật chính diện là nhân vật đại diện cho lực lượng chính nghĩa trong xã hội, cho cái thiện, cái tiến bộ Khi nhân vật chính diện được xây dựng với những phẩm chất hoàn hảo, có tính chất tiêu biểu cho tinh hoa của một giai cấp, một dân tộc, một thời đại, mang những mầm mống lí tưởng trong cuộc sống có thể được coi là nhân vật lí tưởng Ở đây, cũng cần phân biệt nhân vật lí tưởng với nhân vật lí tưởng hóa Loại nhân vật sau là loại nhân vật được tô hồng, hoàn toàn theo chủ quan của nhà văn
sự phân biệt rạch ròi giữa nhân vật chính diện và nhân vật phản diện thì trong truyện
cổ tích, các truyện Nôm nhất là truyện Nôm bình dân, các nhân vật thường được xây dựng thành hai tuyến rõ rệt có tính chất đối kháng quyết liệt Ở đây, hễ là nhân vật chính diện thường tập trung những đức tính tốt đẹp còn nhân vật phản diện thì hoàn toàn ngược lại
Trong văn học hiện đại, nhiều khi khó phân biệt đâu là nhân vật chính diện, đâu
là nhân vật phản diện Việc miêu tả này phù hợp với quan niệm cho rằng hiện thực nói chung và con người nói riêng không phải chỉ mang một phẩm chất thẩm mĩ mà bao hàm nhiều phẩm chất thẩm mĩ khác nhau, cái nhìn của chủ thể đối với sự vật nhiều chiều, phức hợp chứ không đơn điệu Những nhân vật như Chí Phèo, Thị Nở, Tám Bính, Năm Sài Gòn là những nhân vật có bản chất tốt nhưng đó không phải là phẩm
chất duy nhất của nhân vật Bakhtin cho rằng: “cần phải thống nhất trong bản thân
mình vừa các đặc điểm chính diện lẫn phản diện, vừa cái tầm thường lẫn cái cao cả, vừa cái buồn cười lẫn cái nghiêm túc” [61,tr.47] Chính vì vậy, sự phân biệt nhân vật
thành chính diện hay phản diện chỉ có ý nghĩa tương đối Khi đặt nhân vật vào loại nào
để nghiên cứu, cần phải xét khuynh hướng chủ đạo của nó đồng thời phải chú ý đến các khuynh hướng, phẩm chất thẩm mĩ khác nữa Trong giai đoạn trước, những nhân vật như Kiều, Hoạn Thư, Thúc Sinh cũng được Nguyễn Du miêu tả ở nhiều góc độ, với nhiều phẩm chất khác nhau chứ không phải chỉ có một phẩm chất chính diện hoặc phản diện
Trang 24Thứ hai: Xét từ góc độ kết cấu (Tầm quan trọng và vai trò của nhân vật trong
ki ện chính trong cốt truyện và các nhân vật khác Họ chính là linh hồn của mỗi tác ph ẩm Qua nhân vật chính, nhà văn thường nêu lên những vấn đề và những mâu thuẫn cơ bản trong tác phẩm và từ đó giải quyết vấn đề, bộc lộ cảm hứng tư tưởng và tình điệu thẩm mĩ
Nhân vật chính có thể có nhiều hoặc ít tùy theo dung lượng hiện thực và những vấn đề đặt ra trong tác phẩm Với những tác phẩm lớn có nhiều nhân vật chính thì nhân vật chính quan trọng nhất xuyên suốt toàn bộ tác phẩm được gọi là nhân vật trung tâm Trong không ít trường hợp, nhà văn dùng tên nhân vật trung tâm để đặt tên
cho tác phẩm Ví dụ: Ðông Kisốt của Cervantes, Anna Karênina của L Tônxtôi, A.Q
chính truyện của Lỗ Tấn, Truyện Kiều của Nguyễn Du
Trừ một hoặc một số nhân vật chính, những nhân vật còn lại đều là những nhân vật phụ ở các cấp độ khác nhau Ðó là những nhân vật giữ vị trí thứ yếu so với nhân vật chính trong quá trình diễn biến của cốt truyện, của việc thể hiện chủ đề tư tưởng của tác phẩm
Nhân vật phụ phải góp phần hỗ trợ, bổ sung cho nhân vật chính nhưng không được làm mờ nhạt nhân vật chính Có nhiều nhân vật phụ vẫn được các nhà văn miêu
tả đậm nét, có cuộc đời và tính cách riêng, cùng với những nhân vật khác tạo nên một bức tranh đời sống sinh động và hoàn chỉnh
Thứ ba: Xét từ góc độ thể loại
N hân vật trữ tình là hình tượng người trực tiếp thổ lộ suy nghĩ, cảm xúc, tâm
trạng trong tác phẩm Nhân vật trữ tình không có diện mạo, hành động lời nói, quan hệ
cụ thể như nhân vật tự sự và kịch, mà được thể hiện cụ thể trong giọng điệu, cảm xúc, trong cách cảm, cách nghĩ Qua những trang thơ, ta như gặp tâm hồn người, lòng người, đó là nhân vật trữ tình
Trang 25Nhân v ật tự sự là nhân vật là nhân vật được miêu tả theo phương thức tự sự
truyện vừa, truyện thơ Đây là loại nhân vật có thể được miêu tả đầy đặn nhất, phong
cả điều nói ra và điều không nói ra, cả ý nghĩ và cái nhìn, cả tình cảm, cảm xúc, ý thức và
vô thức, cả quá khứ, hiện tại, tương lai Ta bắt gặp các chi tiết về chân dung ngoại hình, về tâm lí, sinh lí, phong cảnh, phong tục, về đồ vật, về đời sống văn hóa, sản xuất, … bao gồm
cả những chi tiết tưởng tượng, liên tưởng, hoang đường mà các nghệ thuật khác khó lòng tái hiện được (trừ điện ảnh)
Nhân vật kịch không thể được khắc họa với nhiều khía cạnh tỉ mỉ Hơn nữa những
tính cách ưa phức tạp như trong tiểu thuyết không thể nào thích hợp với việc thưởng thức liền mạch của một tập thể khán giả trong cùng một thời gian ngắn ngủi Nhân vật trong kịch cũng thường chứa đựng những cuộc đấu tranh nội tâm Dĩ nhiên, nhân vật trong các thể loại văn học khác cũng vậy nhưng trong kịch phổ biến hơn
Thứ tư: Xét từ góc độ chất lượng miêu tả
Có thể phân thành các loại: nhân vật, tính cách, điển hình…
Nhân vật là những con người nói chung được miêu tả trong tác phẩm Ở đây, nhà văn có thể chỉ mới nêu lên một vài chi tiết về ngôn ngữ, cử chỉ, hành động cũng
có thể miêu tả kĩ và đậm nét
Tính cách là nhân vật được khắc họa với một chiều sâu bên trong Nó như một điểm quy tụ mà từ đó có thể giải thích được mọi biểu hiện muôn màu, muôn vẻ sinh động bên ngoài của nhân vật
Tính cách điển hình là tính cách đã đạt đến độ thực sự sâu sắc, là sự thống nhất giữa cái chung và cái riêng, cái khái quát và cái cá thể Nói một cách nghiêm ngặt, thuật ngữ này chỉ được áp dụng từ chủ nghĩa hiện thực phê phán trở về sau
Ngoài những loại nhân vật được trình bày, có thể nêu lên một số khái niệm khác về nhân vật qua các trào lưu văn học khác nhau chẳng hạn, khái niệm nhân vật
bé nhỏ trong văn học hiện thực phê phán, khái niệm nhân vật - con vật người trong chủ nghĩa tự nhiên, nhân vật - phi nhân vật trong các trào lưu văn học hiện đại chủ nghĩa ở phương Tây
Trang 261.3 Khái niệm loại hình nhân vật
Cho đến nay có thể nói chưa có một công trình nghiên cứu nào đưa ra một khái niệm cụ thể về loại hình nhân vật trong Cấu trúc văn bản nghệ thuật của Lotman, tác giả cũng chỉ nghiên cứu nhân vật trong một chỉnh thể chung của tác phẩm văn học như không gian, thời gian và nhân vật hoạt động trong không gian, thời gian đó Trong các cuốn Lý luận văn học, Từ điển thuật ngữ văn học, những khái niệm được nhắc đến nhiều nhất là nhân vật, nhân vật văn học và phân loại nhân vật thành các loại như: chính diện, phản diện,…(chúng tôi đã trình bày ở trên) Chính vì thế trong luận văn này, bằng những hiểu biết của mình về nhân vật nói chung và nhân vật trong truyện Nôm nói riêng, chúng tôi dựa vào đặc tính của nhân vật để phân chia thành các kiểu loại nhân vật khác nhau (theo quan điểm của chúng tôi đó chính là loại hình nhân vật)
Từ những tìm hiểu chung về lý thuyết nhân vật và phân loại nhân vật trong tác phẩm văn học, chúng tôi nhận thấy trong truyện Nôm bình dân và truyện Nôm bác học
về cơ bản được xây dựng theo loại hình nhân vật của truyện cổ dân gian với có hai loại nhân vật là nhân vật chính diện và nhân vật phản diện Tuy nhiên có thể do cảm quan hiện thực hoặc tư tưởng và một vài yếu tố khác nên ở hai loại truyện này, kiểu nhân vật chính diện và phản diện bên cạnh những điểm tương đồng còn có những điểm khác biệt Chúng tôi sẽ triển khai và bàn luận kĩ ở chương 2 và chương 3 - hai chương chính của đề tài
1.4 So sánh và so sánh văn học
1.4.1 So sánh
Phi chủ biên), so sánh là: “phương thức biểu đạt bằng ngôn từ một cách hình tượng dựa
trên cơ sở đối chiếu hai hiện tượng có những dấu hiệu tương đồng nhằm làm nổi bật đặc điểm, thuộc tính của hiện tượng này qua đặc điểm, thuộc tính của hiện tượng kia”
[12, tr.190] Ví dụ:
Cổ tay em trắng như ngà Đôi mắt em liếc như là dao cau
(Ca dao)
Như vậy theo định nghĩa của các nhà nghiên cứu này thì so sánh chỉ là một biện pháp nghệ thuật và chỉ làm nổi bật các thuộc tính giống nhau của sự vật hiện tượng
Trang 27Điều này khác với định nghĩa về văn học so sánh, một phương pháp khoa học để tìm hiểu về các hiện tượng văn học trong một nền văn học, một gia đoạn văn học hay các nền văn học khác nhau
1.4.2 So sánh văn học
Theo tác giả Nguyễn Văn Dân thì “văn học so sánh ban đầu chỉ là một phương
pháp Trong cuộc sống hàng ngày, so sánh là một yêu cầu tự nhiên, là một trong những phương pháp để xác định sự vật về mặt định tính, định lượng hoặc ngôi thứ Còn trong nghiên cứu văn học, nó là một phương pháp dùng để xác định, đánh giá các hiện tượng văn học trong mối quan hệ giữa chúng với nhau” [4, tr.8]
Cũng theo tác giả Nguyễn Văn Dân, văn học so sánh trải qua ba chặng đường phát triển, đó là nửa cuối thế kỷ XIX (giai đoạn hình thành và khẳng định), nửa đầu thế kỷ XX (giai đoạn chú ý đến sự ảnh hưởng và vay mượn), nửa cuối thế kỷ XX (là giai đoạn hoàn chỉnh) Trong quá trình này cũng nảy sinh nhiều trường phái văn học so
văn học so sánh “chỉ là các xu hướng, chủ trương, ít nhiều có sự khác nhau về sắc thái
ứng dụng cũng như về mức độ nhất trí” [4, tr.24]
Ở Việt Nam lý luận văn học so sánh có thể có tiền đề từ trước thế kỷ XX, nhưng bắt đầu được thể hiện rõ và phát triển từ thế kỷ XX, chính xác từ năm 1971 (qua cuộc Hội thảo tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội I) Dù còn có những ý kiến chưa hẳn thống nhất, nhưng đến nay về cơ bản văn học so sánh đã được thống nhất ở một số điểm là khái niệm, mục đích và đối tượng
Khái niệm: Văn học so sánh thực chất “là một bộ môn khoa học có chức năng
so sánh một nền văn học này với một hay nhiều nền văn học khác, hoặc so sánh các hiện tượng của các nền văn học khác nhau” [4, tr.18]
Mục đích: Văn học so sánh hướng tới hai mục đích cơ bản là: “xác định tính khái quát của văn học nhân loại và chứng minh tính đặc thù của các nền văn học dân tộc” [4, tr.54]
Đối tượng của văn học so sánh là nghiên cứu những hiện tượng ảnh hưởng trong văn học, các điểm tương đồng và dị biệt
Từ những tìm hiểu về văn học so sánh, trong luận văn chúng tôi tiến hành so sánh
về loại hình nhân vật của một hiện tượng văn học trong nền văn học Việt Nam trung đại,
Trang 28đó là truyện Nôm bình dân và truyện Nôm bác học Từ đó chỉ ra sự ảnh hưởng của các yếu tố văn học đã tác động đến việc xây dựng các kiểu loại nhân vật trong truyện Nôm, đặc biệt làm rõ những điểm tương đồng và dị biệt về nhân vật của hai loại truyện Nôm bình dân và truyện Nôm bác học trong văn học Việt Nam trung đại
1.5 1 “Truyện Kiều” của Nguyễn Du, “Sơ kính tân trang” của Phạm Thái, “Hoa tiên kí” của Nguyễn Huy Tự
1.5 1.1 Khái quát về Nguyễn Du và Truyện Kiều
Nguyễn Du sinh ra trong một gia đình có truyền thống về học hành, văn chương
và khoa bảng Dòng họ Nguyễn ở Tiên Điền có nhiều người học hành đỗ đạt, nổi tiếng hay chữ và làm quan Dòng họ này lại định cư ở vùng đất nổi tiếng về văn hoá, thi thư (vùng đất dưới chân núi Hồng Lĩnh) Mẹ của nhà thơ lại vốn là người Kinh Bắc - mảnh đất có truyền thống văn hoá lâu đời Điều này góp phần hun đúc nên tài năng văn chương và học vấn của Nguyễn Du
Nguyễn Du sống trong một giai đoạn lịch sử có nhiều biến động lớn (cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX) Cuộc đời ông trải qua nhiều bước thăng trầm Tuổi trẻ của Nguyễn Du được sống trong cảnh sung túc, yên ổn nhưng cuộc sống đó không kéo dài Ông sớm mồ côi cha (năm 10 tuổi), mẹ (năm 13 tuổi) Việc học hành, thi cử của Nguyễn Du không được suôn sẻ (ông chỉ đỗ Tam trường) Đến tuổi trưởng thành, Nguyễn Du phải bôn ba lưu lạc nhiều nơi, từng trải qua cuộc sống nghèo khổ Ông đã chứng kiến sự sụp đổ của nhiều tập đoàn phong kiến: chúa Nguyễn, chúa Trịnh, nhà
Lê, nhà Tây Sơn Cuối đời, ông ra làm quan với nhà Nguyễn, được hai lần cử đi sứ Trung Hoa Vì vậy, kinh nghiệm sống của nhà thơ hết sức phong phú
Nguyễn Du sáng tác nhiều thể loại, nhưng đặc biệt thành công và nổi danh ở hai
thể loại là truyện Nôm với tác phẩm xuất sắc - Truyện Kiều và thơ chữ Hán bao gồm
254 bài trong ba tập: Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm, Bắc hành tạp lục Tác
phẩm của Nguyễn Du thể hiện cái nhìn hiện thực và nhân đạo, sự chiêm nghiệm về cuộc đời rất sâu sắc
Tác phẩm Truyện Kiều
Thứ nhất: Nguồn gốc cốt truyện: Nguyễn Du kế thừa cốt truyện từ cuốn tiểu thuyết chương hồi Kim Vân Kiều truyện của một tác giả Trung Quốc (không rõ lai
Trang 29lịch) có tên hiệu là Thanh Tâm Tài Nhân Bản thân Kim Vân Kiều truyện lại kế thừa
cốt truyện từ các tác phẩm truyện, kí của các tác giả Trung Quốc trước đó Hiện tượng vay mượn cốt truyện, môtip,… là một hiện tượng phổ biến của văn học trung đại toàn thế giới Tuy nhiên, Nguyễn Du không rập khuôn hoàn toàn nguyên tác Ông đã thay đổi tình tiết, diễn biến, tính cách nhân vật,… qua đó thay đổi chủ đề, cảm hứng sáng tác Ông cũng sử dụng loại hình tự sự dân tộc là truyện Nôm lục bát để tạo nên một kiệt tác cho văn học dân tộc
Thứ hai: Nội dung: Truyện Kiều tái hiện chân thực hiện thực xã hội phong kiến
trong giai đoạn suy tàn với tất cả những mặt tiêu cực của nó (quan tham lại nhũng cấu kết với bọn lưu manh áp bức dân lành, đồng tiền lên ngôi,…) Tác phẩm cũng thể hiện
sự cảm thương, bênh vực những số phận bất hạnh; lên án bọn cường quyền, lưu manh chà đạp nhân phẩm con người; ngợi ca, trân trọng vẻ đẹp thể chất và tinh thần của con người; cổ vũ cho những xu hướng tiến bộ của xã hội (giải phóng tình cảm, giải phóng tài năng)
Thứ ba: Nghệ thuật: Tác phẩm Truyện Kiều hội tụ nhiều thành tựu của văn học
Kiều đã đạt đến mức độ hoàn thiện, tinh tế, đủ khả năng thể hiện được những vấn đề
của đời sống và con người Thể loại truyện Nôm đến Truyện Kiều cũng đã đến đỉnh
cao về nhiều phương diện: thể thơ lục bát, nghệ thuật khắc hoạ tính cách và miêu tả tâm lí nhân vật, nghệ thuật kể chuyện, nghệ thuật miêu tả thiên nhiên, nghệ thuật tả cảnh ngụ tình,…
Với những thành công đó, Truyện Kiều được đánh giá là “tập đại thành”, kiệt
tác số một của văn học trung đại Việt Nam
1.5 1.2 Khái quát về Phạm Thái và Sơ kính tân trang
Phạm Thái còn gọi là Phạm Phụng hay Phạm Đan Phụng là người làng Yên Thị, xã Yên Thường, huyện Đông Ngàn, trấn Kinh Bắc (nay là huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh) Ông sinh ngày 19 tháng giêng năm Đinh Dậu (1777) đời vua Cảnh Hưng nhà Lê, trong một gia đình quan liêu quý tộc Cha của Phạm Thái là một tôi trung của
sau ông mới học văn và trở thành một thanh niên văn võ song toàn Khi Tây Sơn tiến
ra Bắc, Trạch Trung hầu mộ binh đánh lại Tây Sơn nhưng thất bại Gia đình Phạm
Trang 30Thái do việc thất trận của Trạch Trung hầu mà tan tác Phạm Thái mượn cớ đi du lãm các nơi danh lam thắng cảnh để tìm bè kết bạn mưu đồ sự nghiệp cần vương Phạm Thái cùng Nguyễn Đoàn định ra kế hoạch chống Tây Sơn Nhưng rồi Nguyễn Đoàn bị bại trận và bị giết, Phạm Thái phải trốn đi Bị nhà Tây Sơn truy nã, Phạm Thái phải cắt tóc đi tu và ở chùa Tiêu Sơn (huyện Yên Phong, trấn Kinh Bắc) với đạo hiệu Phổ Chiêu thiền sư Trốn tránh ở chùa Tiêu Sơn mấy năm, Phạm Thái nhận được thư của Thanh Xuyên hầu Trương Đăng Thụ (người làng Thanh Nê, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định) mời lên Lạng Sơn bàn mưu khởi binh đánh Tây Sơn Ở với Trương Đăng Thụ được ít lâu tại Lạng Sơn, Phạm Thái về Kinh Bắc thăm mẹ Trong thời gian ở quê nhà, được tin Trương Đăng Thụ mất ở Lạng Sơn, linh cữu được gia quyến đưa về nguyên quán, lập tức Phạm Thái xuôi nam đến nhà thân phụ Trương Đăng Thụ là Kiến Xuyên hầu để phúng viếng bạn Thấy Phạm Thái có tài và lại cùng một chí với con mình, Kiến Xuyên hầu rất mến, liền lưu Phạm Thái ở lại nhà mình Kiến Xuyên hầu có một tiểu thư tài sắc vẹn toàn tên là Trương Quỳnh Như Trong thời gian nán lại nhà bạn, Phạm Thái và Quỳnh Như đã nảy sinh tình yêu và yêu nhau say đắm Quỳnh Như bị
mẹ ép duyên với một người giàu có tên là Trịnh Nhị Đau khổ, bất lực và uất ức tận cùng, nàng tìm đến cái chết để bảo toàn mộng đẹp với Phạm Thái Khi người yêu chết, Phạm Thái bỏ nhà Kiến Xuyên hầu ra đi Năm 1802, đất nước lại một lần nữa thay đổi: chính quyền Tây Sơn bị diệt vong trước sự phản công quyết liệt của Gia Long Giấc
mơ phù Lê của Phạm Thái không thành Từ đấy, một nỗi u uẩn thất cơ lỡ vận và nhất
là nỗi đau tình vỡ, luôn đau đáu trong hồn ông Ông tìm quên đời trên những ngả đường giong ruổi lãng du, vùi chôn cả tuổi trẻ lẫn lý tưởng chính trị vào tận đáy của ly rượu sầu bi, yếm thế, vào những vần thơ cuồng phóng, ngang tàng và khinh ngạo đầy
cá tính, vào ảo ảnh của tình yêu tuyệt vọng Rồi cuối cùng, Phạm Thái mất khi tuổi đời chưa qua hết (lúc 37 tuổi ) tại Thanh Hóa (năm 1813) Nhìn chung, người đời sau viết
kịch về ông đã tổng kết: “Chẳng ưa Tây Sơn định ẩn non cao, Khoác cà sa lánh cảnh
đời phức tạp” và “Chí theo viễn ảnh xa vời, Tâm ghi khắc một bóng người tình thơ”
[50, tr.74] Những dòng thơ ấy đã diễn tả khá chính xác những quãng đời và tư tưởng chính trị của Phạm Thái
Phạm Thái là người có cá tính mạnh mẽ, đa tài, hào hoa, giàu tình cảm Qua
cuộc đời và thơ văn, cá tính Phạm Thái thể hiện rõ nhất với “lòng nhiệt thành, cuồng
Trang 31say trong khát vọng, hoài bão công danh sự nghiệp”[50,tr.105] Các sáng tác của ông
hầu hết bằng chữ Nôm và đa dạng về thể loại, bao gồm: Chiến tụng Tây hồ phú, truyện
Nôm Sơ kính tân trang, Văn tế Trương Quỳnh Như,…
Sơ kính tân trang gồm 1482 dòng thơ cơ bản viết theo thể thơ lục bát nhưng có
đan xen bằng những bài thơ Đường luật, song thất lục bát và từ khúc Sơ kính tân trang
(gương lược kiểu mới) đến nay vẫn được coi là một thiên tự truyện của Phạm Thái
Về nội dung, Sơ kính tân trang kể về cuộc tình duyên trắc trở giữa chàng Phạm
Kim với Trương Quỳnh Thư Nguyên trước kia ở Từ Sơn (nay thuộc Bắc Ninh) có một
người họ Phạm (Phạm công) là bạn học chí thân với người họ Trương (Trương công), quê ở Kiến Xương (nay thuộc Thái Bình) Hai người giao ước, hễ sau này một bên sinh trai, một bên sinh gái thì sẽ gả con cho nhau Và họ đã trao đổi lược gương (Sơ là cái lược, kính là cái gương) để làm tin Sau đó, vợ Phạm công sinh con trai, đặt tên là Phạm Kim Bất chợt xảy ra quốc biến, Phạm công lo việc cần vương thất bại, nhà cửa tan nát Phạm Kim lớn lên định nối chí cha, nhưng chẳng làm được gì, đành đi rong chơi Một ngày kia đến Thú Hoa Dương, thấy cảnh đẹp, chàng ở lại rồi tình cờ biết được Quỳnh Thư, con gái của một viên quan cũng họ Trương Nhờ có người giúp đỡ, Phạm Kim và Quỳnh Thư trao đổi thư từ, rồi sinh lòng yêu nhau tha thiết Sau đó, Phạm Kim có việc phải về quê Khi đó có viên đô đốc ở kinh kỳ nghe tiếng Quỳnh Thư xinh đẹp liền đến hỏi nàng làm vợ Gia đình Trương công không muốn gả, nhưng trước sức ép của người có quyền thế (tức viên đô đốc), cha Quỳnh Thư đành phải nhận lời Biết được, Quỳnh Thư liền viết thư gọi Phạm Kim đến, lẻn ra tâm sự Bế tắc, cả hai cùng thề hẹn sẽ lấy nhau ở kiếp sau Trước khi chia tay, nàng còn giơ bàn tay có in hai chữ "Quỳnh Nương" cho Phạm Kim xem để làm tin Về nhà, Quỳnh Thư tự tử
thân nơi cửa Phật, mong dịu vết thương lòng Trong lúc ấy, Trương công (bạn của cha Phạm Kim, không phải là viên quan họ Trương vừa nói trên) từ quan về nhà Người vợ
lẽ của ông sinh hạ được một gái, đặt tên là Thụy Châu Thụy Châu có nhan sắc, tính tình phóng khoáng Nàng cải dạng thành một đạo sĩ nay đây mai đó Đến Kim Sơn, Thụy Châu gặp nhà sư Phạm Kim Cả hai cùng đàm đạo, xướng họa với nhau Lúc vị
"đạo sĩ" ra đi, Phạm Kim ngờ người nói chuyện với mình là phụ nữ Từ đó, chàng không thiết gì tu hành nữa Nghe danh Trương công (bạn của cha Phạm Kim), chàng
Trang 32đến ra mắt và được mời làm gia sư Một hôm nhờ tiếng đàn xướng họa mà Phạm Kim
và Thụy Châu nhận ra nhau Sau khi dò hỏi lai lịch, hai người lấy gương lược ra so thì đúng với lời ước cũ giữa hai bên Trương công vui lòng cho hai người lấy nhau Tuy vui duyên mới, Phạm Kim vẫn buồn vì luôn thương nhớ Quỳnh Thư Bị vợ gặng hỏi, chàng phải thú thật Nghe kể xong, Thụy Châu giơ bàn tay có dấu chữ "Quỳnh Nương" cho chàng xem Bấy giờ Phạm Kim mới biết Thụy Châu chính là "hậu thân" của Quỳnh Thư [66, tr.68]
Về nghệ thuật, Hoàng Hữu Yên, người dày công nghiên cứu, hiệu đính, chú giải
Sơ kính tân trang khẳng định: “Tính độc đáo trước tiên của Sơ kính tân trang cần được nhấn mạnh là tính tự truyện của tác giả Phạm Thái không vay mượn cốt truyện
ở đâu cả Ông viết lại chuyện của chính bản thân mình” [67, tr.161] để giãi bầy nỗi
vui, buồn, được, mất, bi phẫn và giấc mộng đẹp của bản thân Điều này cho thấy, cốt
truyện Sơ kính tân trang không phải là hư cấu toàn bộ mà là được xây dựng trên cơ sở
hiện thực, chỉ bị thay đổi chút ít khi đi vào nghệ thuật để tăng tính hấp dẫn và thể hiện được ước mơ mà người nghệ sĩ tài hoa nhưng đầy bi kịch muốn gửi gắm
Xét mặt khác, trong khi phần lớn truyện Nôm cùng thời, thường viết theo cốt truyện
của Trung Quốc, thì Sơ kính tân trang là tác phẩm thuần túy Việt Nam Câu chuyện Việt
Nam diễn trên đất nước, xã hội Việt Nam Đây là nét đáng chú ý của tác phẩm
Một nét đáng chú ý nữa, là tác giả viết về đề tài tình yêu một cách rất lãng mạn Đôi trai gái trong truyện yêu nhau tự do, không bị giàng buộc về luân lý và lễ giáo phong kiến Tác giả không những đồng tình với mối tình ấy, mà còn say sưa miêu tả những tâm trạng yêu đương rất tính tế Tuy nhiên, tác phẩm còn bị hạn chế ít nhiều, thể hiện trong tâm lý chủ nghĩa thất bại ở hầu hết những nhân vật chính diện, mà chủ yếu là Phạm Kim và Quỳnh Thư Họ táo bạo trong tình yêu, nhưng khi gặp trở ngại, thì họ chỉ biết than thở, rồi cuối cùng lấy việc tự tử và hẹn gặp nhau ở kiếp sau để tỏ lòng chung thủy Câu chuyện tái thế tương phùng ở cuối tác phẩm không phải là một biểu hiện lạc quan, mà chẳng qua chỉ là một mơ ước buồn thảm, một điều bịa đặt để tự lừa dối mình, khi tác giả cảm thấy không còn một hy vọng nào trong thực tế
Sơ kính tân trang không phải là một tác phẩm thành công ở phương diện tự sự,
mà ở phương diện trữ tình và ở việc miêu tả tâm trạng nhân vật Nhất là khi khắc họa
Trang 33những nhân vật phản diện, tác giả sử dụng bút pháp khá sinh động, có tính chất hiện thực, pha thêm chất trào lộng, khôi hài Ngôn ngữ lục bát của Phạm Thái có những thể nghiệm cách tân táo bạo, kể cả dùng phương ngữ để tô đậm tính chất nhân vật
1.5 1.3 Khái quát về Nguyễn Huy Tự và “Hoa tiên kí”
Tác giả Nguyễn Huy Tự
Nguyễn Huy Tự còn có tên nữa là Yên, tự là Hữu Chi, hiệu là Uẩn Trai quê ở làng Trường Lưu, xã Thạch Lai, tổng Lai Thạch, huyện La Sơn (Can Lộc) tỉnh Hà Tĩnh
Quê hương ông được coi là một trong những cái nôi văn hóa của dân tộc với truyền thống lịch sử - văn hóa lâu đời Chính mảnh đất Can Lộc - Hà Tĩnh đã góp phần không nhỏ tạo nên con người và tài năng của Nguyễn Huy Tự Miền sông Lam, núi Hồng là quê hương của biết bao nhân tài trong suốt các thế kỷ như: Đời Trần (Đặng Dung, Đặng Tất…), Lê Sơ (Bùi Cầm Hổ,…), Hậu Lê (Nguyễn Văn Giai, Phan Kính, Nguyễn Thiếp,…) Đặc biệt trong vùng văn hóa ấy có hai dòng họ nổi tiếng là dòng họ Nguyễn ở Tiên Điền và dòng họ Nguyễn Huy ở Trường Lưu Bởi vậy dân gian mới có
câu ca ngợi: “Trường Lưu hàng xóm thanh bình/ Nguyễn Du xưa vốn nặng tình nơi
đây/ Nổi danh gái sắc trai tài/ Nghìn năm văn vật ngời ngời sử xanh”
Gia đình có truyền thống làm quan với nhiều người đỗ đạt và đặc biệt sự nở rộ của các tài năng văn học từ đời Nguyễn Huy Tựu trở đi (Nguyễn Huy Tự, Nguyễn Huy Hổ, Nguyễn Huy Vinh) cho thấy truyền thống văn hoá - văn học sâu sắc trong gia đình Nguyễn Huy Tự
Bản thân Nguyễn Huy Tự là người nổi tiếng ham học, học rộng biết nhiều Năm
1759 (16 tuổi), Nguyễn Huy Tự đậu kỳ thi Hương và theo cha đi trợ giảng, được bổ chức thị nội văn chức Từ đó, con đường công danh của Nguyễn Huy Tự khá thuận lợi Ông giữ nhiều chức quan trong triều đình Khi nạn kiêu binh xảy ra, (1784) ông lấy cớ xin về chịu tang rồi không ra làm quan nữa 1790, khi vua Quang Trung triệu ông vào Phú Xuyên để bổ chức Hữu thị lang thì ông bệnh nặng và qua đời vào ngày 27/7 năm
ấy Nguyễn Huy Tự có hai bà vợ là Nguyễn Thị Bành và Nguyễn Thị Đài đều là con gái của Nguyễn Khản Mối tình của Nguyễn Huy Tự với Nguyễn Thị Đài khá đặc biệt Sau khi vợ cả là bà Nguyễn Thị Bành qua đời, ông đã kết duyên với em gái của vợ là
bà Đài Bà Nguyễn Thị Đài là người đã có chồng nhưng vì mến mộ tài năng và phẩm chất của Nguyễn Huy Tự mà bà đã bỏ chồng và con theo về với ông Đây có thể coi là
hành động vượt ra ngoài lễ giáo phong kiến và “chắc đã làm thức tỉnh cái phần sâu
Trang 34sắc nhất trong tâm hồn nghệ sĩ của Nguyễn Huy Tự và có thể đây là một bản mẫu quan trọng giúp nhà thơ sáng tạo nên những hình ảnh đẹp đẽ trong truyện thơ Hoa tiên kí ” [61, tr.79]
Có thể thấy, gia đình và quê hương là những yếu tố hết sức quan trọng tạo nên con người và tài năng của Nguyễn Huy Tự - đó là con người mà theo sách Nguyễn Thị
Gia Tàng ca ngợi là “đọc rộng hiểu nhiều, tinh thông cả thư họa, thanh luật, thạo phép
d ùng binh, giỏi việc án thư Tính tình phóng khoáng, hòa nhã nhưng giữ gìn gia pháp rất nghiêm Khi chết xóm làng ai cũng thương tiếc” [7, tr.35] Chính tính cách, lối
sống và quan niệm đó đã hằn in trong các sáng tác của ông tạo nên dấu ấn đặc sắc cho
Tác phẩm Hoa tiên kí
Nằm trong mạch truyện Nôm viết về đề tài tình yêu giữa tài tử và giai nhân
trong lòng xã hội phong kiến, Hoa tiên kí là câu chuyện tình xoay quanh hai nhân vật
chính là Lương Phương Châu và Dương Dao Tiên Có thể thấy toàn bộ câu chuyện đều xoay quanh tình yêu của Lương Sinh và Dao Tiên Đó là tình yêu vượt ra ngoài lễ
giáo phong kiến là “sự đấu tranh giữa tình cảm và lý trí, giữa cái khát vọng yêu đương
tha thiết với những quan niệm chật hẹp của lễ giáo và đạo đức phong kiến” [6, tr.54]
cùng, chân trời tình yêu trong truyện dần thu gọn vào khuôn khổ của lễ giáo” [6, tr.55] Vì vậy Triệu Thùy Dương còn gọi đó là “một bài học gượng gạo về đạo đức
phong kiến” [6, tr.55]
Nội dung chính của Hoa tiên kí là câu chuyện tình yêu nhưng đó là tình yêu có
sự hài hòa giữa cảm xúc cá nhân và những chuẩn mực đạo đức phong kiến Người đọc cảm nhận được nét phóng túng, sôi nổi trong nhân vật Lương Sinh thì cũng cảm nhận được tiếng nói của giáo lý trong con người chàng Mọi suy nghĩ hành động của Dao Tiên trong tình yêu dù tha thiết, say đắm vẫn không thiếu sự ý nhị, đoan trang Còn Ngọc Khanh lại hiện lên như hình mẫu lý tưởng của đạo đức Nho gia Việc giải quyết những mâu thuẫn trong bản thân mỗi nhân vật một cách hài hòa chính là nội dung cơ bản nhất của tác phẩm và cũng chính điều đó đã xây dựng lên một nội dung tư tưởng rất riêng ở tác phẩm này
Về nghệ thuật, Hoa tiên kí là tác phẩm mở đầu cho sự phát triển của truyện
Nôm ở Đàng Ngoài Theo các nhà nghiên cứu thì trước kiệt tác Truyện Kiều của đại
Trang 35thi hào Nguyễn Du thì Hoa tiên kí của Nguyễn Huy Tự được coi là truyện Nôm thành
công hơn cả
Thứ nhất, về phương diện kết cấu: Hoa tiên kí có một kết cấu gọn gàng, chặt
chẽ và theo các nhà nghiên cứu thì tình tiết trong Hoa tiên kí khá phong phú mà không
rườm rà, câu chuyện nhẹ nhàng, mạch lạc, có ý vị trữ tình rõ rệt Truyện được chia làm
59 hồi có chi tiết, sự kiện, có đoạn tả cảnh, có đoạn tả tình đan xen hợp lý không có sự rối loạn mà khá tuần tự, mạch lạc và có sự chuyển ý tài tình mà gọn gàng mà đầy đủ
Thứ hai, về phương diện ngôn ngữ: Đây được coi là một thành công lớn của
Nguyễn Huy Tự Tác giả Đinh Thị Khang đã có bài chuyên luận nghiên cứu khá sâu
sắc và đầy đủ về Ngôn ngữ nhân vật trong Hoa tiên kí, từ ngôn ngữ đối thoại đến ngôn ngữ độc thoại đã tạo nên “hình thái nghệ thuật quan trọng trong truyện Hoa tiên” Qua
hệ thống ngôn ngữ nhân vật đó một mặt ta thấy được tính cách độc đáo của nhân vật
và chiều sâu tâm lý nhân vật, mặt khác ta còn thấy nét mới mẻ khác hẳn với ngôn ngữ
tự sự trong các tác phẩm truyện Nôm ra đời trước đó Tính trữ tình trong ngôn ngữ thơ được phát huy tạo nên hiệu quả nghệ thuật đặc sắc Song, thành công nhất của truyện
Hoa tiên kí phải kể đến hệ thống nhân vật Theo Võ Thị Thu Huế đã cho rằng Hoa tiên
dựng lên một thế giới nhân vật đa dạng, độc đáo Các nhân vật trong truyện không chỉ
có ngôn ngữ riêng, hành động riêng, cử chỉ riêng mà còn có một đời sống nội tâm vô
cùng phong phú Hiện lên trong tác phẩm là một Lương Sinh với “Gấm hoa tài mạo
gồm hai / Đua tay nhảy phượng sánh vai cưỡi kình” Đó là chàng công tử phóng túng
sôi nổi và hết sức chân thành trong tình cảm Đó còn là nàng Dao Tiên đoan trang, ý nhị, tinh tế, phức tạp nhưng cũng nồng nàn, tha thiết khi yêu Và một Lưu Ngọc Khanh cứng nhắc, khô khan trong vòng kiềm tỏa của chế độ phong kiến Nàng tỳ nữ Bích Nguyệt thì nét hồn nhiên, tinh nghịch, sắc sảo, thiết thực, một Vân Hương hiền lành, lạc quan, chân thành,… Những nhân vật này tạo cho người đọc những dấu ấn khó phai
đã trở thành một thành công lớn về nghệ thuật cho tác phẩm Mặc dù vẫn có những
mặt hạn chế nhất định nhưng Hoa tiên kí của Nguyễn Huy Tự vẫn tồn tại những mặt
Trang 36chúng ta vẫn thấy nó hấp dẫn và cuốn hút, rất nhiều cái hay, cái mới cần được người sau tiếp tục tìm hiểu và khám phá
1.5.2 Thạch Sanh, Thoại Khanh - Châu Tuấn, Tống Trân - Cúc Hoa
1.5 2.1 Thạch Sanh
Truyện Nôm Thạch Sanh có nguồn gốc diễn ca từ truyện cổ tích cùng tên, viết
dưới dạng lục bát, cốt truyện đã dung nạp nhiều mô típ khác nhau Hiện nay, có nhiều bản kể về truyện anh hùng Thạch Sanh, trong đó phổ biến ba bản tiêu biểu: Bản A,
xuất bản năm 1907 tại Sài Gòn, nhan đề Thạch Sanh - Lí Thông Bản B xuất bản năm
1916 tại Hà Nội, nhan đề Thạch Sanh truyện Bản C xuất bản năm 1912 tại Hà Nội, nhan đề Thạch Sanh tân truyện Văn bản chúng tôi sử dụng để so sánh dưới đây là Truyện Thạch Sanh do các tác giả Huỳnh Lí, Nguyễn Xuân Lân giới thiệu, hiệu đính, chú thích, nhà xuất bản Văn học ấn hành tại Hà Nội năm 1971, gồm 1812 dòng kể, viết bằng thể lục bát
Truyện xoay quanh hai nhân vật chính, một đại diện cho chính nghĩa là Thạch Sanh, một đại diện phi nghĩa là Lí Thông Vài nhân vật chính nghĩa hoặc phi nghĩa phụ khác như bố mẹ Thạch Sanh, công chúa, trăn tinh, xà tinh, thái tử mười tám nước chư hầu cũng chỉ như cái phông, bè đệm để tạo hoàn cảnh nổi bật tài năng đức độ của Thạch Sanh, và tạo điều kiện phơi bày bản chất xấu xa, đểu cáng của Lí Thông Cốt truyện Truyện Thạch Sanh khá đơn giản, dễ hiểu Kết cấu truyện có thể chia làm 3 phần, gồm 24 tình tiết, sự kiện chính:
Phần 1: Lai lịch siêu nhiên của Thạch Sanh Thạch Sanh vốn là Thái tử xuống đầu thai vào gia đình hiếm muộn Cha mẹ mất, Thạch Sanh sống ở gốc đa Hằng ngày, chàng kiếm củi nuôi thân, sau được tiên ông dạy phép
Phần 2: Kết bạn với Lí Thông, diệt mãng xà, diệt đại bàng, cứu công chúa Thạch Sanh và Lí Thông kết nghĩa anh em Lí Thông lập mưu đổi mạng Thạch Sanh chém xà tinh Lí Thông lừa bịp cướp công Công chúa kén chồng, bị đại bàng cắp đi Thạch Sanh giương cung bắn, đại bàng bị thương Thạch Sanh cứu công chúa, giết xà tinh, cứu hoàng tử chốn Thủy cung, diệt Hồ tinh
Phần 3: Kết hôn, chiến thắng quân chư hầu, lên ngôi Thạch Sanh kết duyên cùng công chúa Quan quân 18 nước chư hầu tiến đánh, nhờ tiếng đàn thần và niêu
Trang 37cơm thần kì, chúng khuất phục, lui binh Thạch Sanh thay vua trị nước Lí Thông bị Thiên lôi trị tội
Giá trị nội dung của truyện Nôm Thạch Sanh là đã xây dựng lên thế giới mơ
ước và khát vọng của nhân dân về điều thiện, điều tốt đẹp trong cuộc sống Các nhân vật trong truyện là đại diện cho cái ác, cái xấu nhưng đều dẫn đến chân lý của nhân
dân chính là cái thiện dành chiến thắng Nhân vật trong truyện Nôm Thạch Sanh là nhân vật loại hình mang đậm tính chất lý tưởng hóa Các chi tiết đắt như niêu cơm, cây
đàn, làm cho câu chuyện trở nên hấp dẫn, ấn tượng
1.5 2.2 Thoại Khanh - Châu Tuấn
Truyện Nôm Thoại Khanh - Châu Tuấn kể về Thoại Khanh, một người phụ nữ
xinh đẹp, có tài văn chương, tiết nghĩa là người vợ hiền, dâu thảo Năm nọ, chồng nàng là Châu Tuấn do khước từ hôn ý Công chúa mà bị đày đi sứ 17 năm, phải chịu cảnh “hôn nhân ép buộc” với công chúa lữ quốc Ngày đêm, nơi cung điện nhưng lại chịu cảnh “cầm giam”, hằng mong thương nhớ nơi quê nhà
Thương nhớ Châu Tuấn, Thoại Khanh và mẹ chồng lên đường đi tìm Châu Tuấn, băng qua những rừng sâu, nước độc Trên đường lưu lạc, đói rách, nhưng con dâu vẫn chăm chút, “nhường cơm sẻ áo” cho mẹ chồng Khi mẹ tuổi già, sức lực kiệt quệ vì đói, Thoại Khanh đã quyết định “lóc thịt” trên cánh tay mình cho mẹ chồng ăn nơi rừng thẳm Đây là hành động cảm động nhất câu chuyện, thể hiện tấm lòng hiếu thảo, quên đi sinh mạng của Thoại Khanh
Châu Tuấn thi đỗ Trạng nguyên, hai lần được hai vua Tống vương và Tề vương
gả con gái, nhưng chàng đều khước từ, không phụ người vợ thuở hàn vi Phẩm chất của Thoại Khanh, Châu Tuấn đã cảm hoá cả hai vị vua và hai nàng công chúa Châu Tuấn được lên ngôi vua, sống sung sướng cùng Thoại Khanh và hai người vợ thứ con Tề vương và Tống vương Truyện có giá trị tố cáo hiện thực, đồng thời mang màu sắc lí tưởng, tuyệt đối hoá nhân vật chính diện và có ít nhiều yếu tố kì ảo tiếp thu của cổ tích
1.5 2.3 Tống Trân - Cúc Hoa
Truyện Nôm Tống Trân - Cúc Hoa dài 1680 câu lục bát, hiện chưa rõ năm sáng
tác Tác phẩm có nguồn gốc từ truyện dân gian Việt Nam, được nhân dân yêu thích và truyền tụng
Trang 38Về văn bản, truyện Tống Trân - Cúc Hoa được viết chữ Nôm do Quan Văn
Đường khắc in năm Duy Tân Nhâm Tý (1912) và hiện được lưu trữ tại Thư viện
Nghiên cứu Hán Nôm có kí hiệu AB.217 với tên Tống Trân tân truyện
Về phiên dịch chữ Quốc ngữ, Tống Trân tân truyện đã được Nhà xuất bản Phổ thông Hà Nội in từ năm 1960 và đặt tên là Tống Trân - Cúc Hoa Chúng tôi chọn văn
bản này để khảo sát
Về nội dung, truyện kể theo kết cấu xâu chuỗi xoay quanh cốt truyện gặp gỡ, chia li và đoàn tụ với ba nhân vật chính: Tống Trân, nàng Cúc Hoa và cha nàng Cúc Hoa Truyện có 23 tình tiết sự kiện tạm chia làm 3 phần chính:
Phần 1: Nguồn gốc của Tống Trân, gặp gỡ Cúc Hoa, bước đột khởi của nhân vật (đỗ trạng, đi sứ) Hai vợ chồng ông lão đến tuổi sáu mươi mới sinh được một con
Trân phải dắt mẹ đi ăn xin Một lần, đến xin ăn nhà Trưởng giả, con gái út của hắn ta
là Cúc Hoa thương cảm, đem gạo ra cho, rồi xin lấy Tống Trân làm chồng Cúc Hoa chăm mẹ chồng, nuôi chồng ăn học Tống Trân thi đỗ Trạng nguyên Công chúa muốn lấy Tống Trân làm chồng, bị cự tuyệt, liền xin vua cha đầy Trạng đi sứ
Phần 2: Cúc Hoa bị cha ép gả Tống Trân được phong Lưỡng quốc trạng nguyên, kết duyên cùng công chúa Bạch Hoa Tại nước Tần, Tống Trân vượt qua mọi cuộc thử tài như đi qua thảm chông, xử án thông minh, giỏi giang Vua Tần khen ngợi,
gả công chúa Bạch Hoa cho chàng Ở quê nhà, Trưởng giả vì tiền bạc, ép con gái Cúc Hoa tái giá nhưng nàng cự tuyệt
Phần 3: Tống Trân giải thoát Cúc Hoa, cả nhà đoàn tụ Nhận được tin báo, Tống Trân xin vua về nước, giả làm ăn mày, giải cứu cho vợ và mẹ kh i tai ương Nàng Bạch Hoa nhớ chồng tìm đường sang nước Nam Trên đường đi, tàu nàng bị bão đánh chìm Nàng thoát chết, dạt vào đảo Đơn Hồng Vua sai Trạng đến đảo Đơn Hồng săn nai Tống Trân đưa Bạch Hoa về Cả gia đình đoàn tụ vui vẻ
Truyện Nôm Tống Trân - Cúc Hoa lên án những thế lực tàn bạo đã ngăn cản,
chà đạp lên tình yêu; đồng thời ngợi ca tấm lòng son sắt kiên trinh, ý chí phấn đấu vì hạnh phúc, vì tình yêu của những con người biết chống lại những thế lực vừa nêu và
những lễ tục khắc nghiệt Bên cạnh đó, Tống Trân - Cúc Hoa còn là câu chuyện đi sứ,
phản ánh mối bang giao phức tạp giữa Việt Nam và Trung Quốc Ngoài ra, tác phẩm
Trang 39cũng đã xây dựng tương đối thành công một số mẫu người Việt Nam truyền thống, đặc biệt là người phụ nữ
Về mặt nghệ thuật, Tống Trân - Cúc Hoa là câu chuyện thuần túy Việt Nam Khác với nhiều truyện Nôm khác, “truyện Nôm này hầu như không sử dụng điển cố
hoặc từ Hán Việt, nhưng lại sử dụng khá nhiều "môtíp" của truyện dân gian Việt Nam Ngôn ngữ trong truyện cũng rất giản dị, rất gần lời ăn tiếng nói của con người bình dân Thế nhưng, mạch đi của truyện còn rườm rà, do kết cấu chưa thật chặt chẽ, ngôn ngữ quá đơn giản, thiếu trau chuốt, chưa phải là thứ ngôn ngữ giàu nhạc điệu, hình ảnh Mặc dù vậy, truyện vẫn được quần chúng lúc bấy giờ yêu thích và phổ biến rộng rãi” [3, tr.1761]
Tiểu kết chương 1
Trong chương 1, chúng tôi đã tìm hiểu một số vấn đề chung như khái quát về truyện Nôm, về nhân vật trong tác phẩm văn học cũng như các tác phẩm truyện Nôm trong phạm vi nghiên cứu của luận văn Chúng tôi nhận thấy, truyện Nôm là một thành
tố có vị thế quan trọng trong nền văn học Việt Nam Là loại hình tự sự bằng thơ dùng văn tự Nôm, truyện Nôm có nhiều nguồn gốc cốt truyện khác nhau: một số tác phẩm
sử dụng cốt truyện dân gian hay lấy cốt truyện từ văn học viết Trung Quốc Một số khác lại lấy cốt truyện từ chính cuộc đời tác giả và thực tiễn đời sống Trong quá trình tìm hiểu, ta thấy rằng nhân vật là phương diện đáng chú ý và có sức ảnh hưởng lớn đến giá trị tác phẩm Chính vì vậy mà việc phân loại nhân vật theo tư duy nhân vật loại hình của văn học dân gian giúp ta nhận ra nét tương đồng và dị biệt trong các tác phẩm truyện Nôm bình dân và bác học Truyện Nôm bác học đã có những đóng góp lớn lao, đánh dấu bước phát triển của văn học quốc âm nói riêng và văn học trung đại nói chung với những tác phẩm có giá trị như: “Truyện Kiều” của Nguyễn Du, “Sơ Kính tân
trang ” của Phạm Thái, “Hoa tiên kí” của Nguyễn Huy Tự Còn truyện Nôm bình dân
lại khá phổ biến trong dân gian với những tác phẩm như: “Thạch sanh”, “Tống Trân -
Cúc Hoa”, “Thoại Khanh - Châu Tuấn” Có thể nối đây là những tiền đề quan trọng
để chúng tôi làm cơ sở triển khai các vấn đề nghiên cứu trong chương 2 và chương 3 của luận văn
Trang 40Chương 2
Có thể nói, khi tiếp cận các tác phẩm truyện Nôm bác học và truyện Nôm bình dân, điểm dễ nhìn thấy ở hai loại truyện này đó chính là sự tương đồng cơ bản về loại hình nhân vật Đó là các tác phẩm có sự phân loại nhân vật theo tư duy nhân vật loại hình của văn học dân gian Tư duy này được thể hiện ở việc các tác giả phân chia nhân vật thành hai tuyến nhân vật chính diện và phản diện với những đặc điểm về hình thức,
2.1 Đặc điểm của nhân vật
2.1.1 Nhân vật chính diện
Xuất hiện trong tác phẩm truyện Nôm, nhân vật được xem là phương tiện để
khái quát những hiểu biết, ước mơ, kỳ vọng về cuộc sống của người dân hay tác giả Đồng thời hình tượng nhân vật còn là đại diện cho những mặt bản chất của một loại người, một tầng lớp xã hội Chính vì vậy, trong quá trình sáng tác nói chung hay truyện Nôm nói riêng, nhân vật là một phần không thể thiếu Người nghệ sĩ sáng tạo nên nhân vật đều gửi gắm tư tưởng, quan điểm và nhận thức của mình về một cá nhân, một loại người hay một vấn đề nào đó trong cuộc sống Xuất hiện trong các tác phẩm văn học, dù được gọi tên hay không, dù được miêu tả một cách trau chuốt hay
sơ lược, dù sinh động hay mờ nhạt thì các nhân vật đều là một phần mật thiết thể hiện tư tưởng của tác phẩm
Cuộc sống vốn dĩ đa chiều và phức tạp, tác giả khai thác và thể hiện cuộc sống một cách rất riêng qua lăng kính chủ quan và đưa vào đứa con tinh thần của mình Trong khi đó, nhân vật văn học góp phần thể hiện tư tưởng tác phẩm Hay nói cách khác, nhân vật trong tác phẩm là phương tiện tái hiện cuộc sống Cuộc sống con người thường hiện diện hai thái cực thiện - ác, chính - tà thì nhân vật văn học về cơ bản cũng được chia thành hai loại hình chính diện - phản diện để khắc họa cuộc sống con người Trong truyện Nôm, bao gồm truyện Nôm bác học và truyện Nôm bình dân, nhân vật nhìn chung được chia thành nhân vật chính diện và nhân vật phản diện Hai loại hình