Yên Lập là một huyện miền núi nằm về phía Tây Bắc của tỉnh Phú Thọ, là vùng đất có bề dày truyền thống lịch sử và văn hóa.. Việc nghiên cứu về một thời kì lịch sử của Yên Lập nửa đầu thế
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa được sử dụng
để bảo vệ một học vị nào Các tài liệu tham khảo có nguồn gốc trích dẫn rõ ràng
Thái Nguyên, tháng 3 năm 2016
Tác giả
Hoàng Thị Nguyệt
Xác nhận của Trưởng Khoa Xác nhận của cán bộ hướng dẫn
Trang 4Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Đàm Thị Uyên cùng các thầy cô trong tổ Lịch sử Việt Nam – Khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm, Đại học Thái Nguyên đã chỉ bảo tận tình, động viên, khích lệ tôi trong thời gian học tập
và hoàn thành luận văn
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới bạn bè, đồng nghiệp và những người thân trong gia đình đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2016
Tác giả
Hoàng Thị Nguyệt
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 7
6 Đóng góp của luận văn 8
7 Cấu trúc của luận văn 8
Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN YÊN LẬP TỈNH PHÚ THỌ 9
1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 9
1.1.1 Vị trí địa lý 9
1.1.2 Điều kiện tự nhiên 10
1.2 Lịch sử hành chính huyện Yên Lập 14
1.3 Các thành phần dân tộc 17
1.4 Khái quát tình hình chính trị - xã hội huyện Yên Lập 23
Chương 2 KINH TẾ CỦA HUYỆN YÊN LẬP NỬA ĐẦU THẾ KỶ XIX 32
2.1 Tình hình sở hữu ruộng đất ở huyện Yên Lập nửa đầu thế kỉ XIX 32
2.1.1 Sở hữu ruộng đất huyện Yên Lập theo địa bạ Gia Long 4 năm (1805) 33
2.1.2 Sở hữu ruộng đất huyện Yên Lập theo địa bạ Minh Mệnh 21 (1840) 39
2.1.3 So sánh sở hữu ruộng đất ở Yên Lập theo địa bạ Gia Long 4 (1805) và Minh Mệnh 21 (1840) 45
2.2 Chế độ tô thuế 49
2.3 Tình hình kinh tế 51
Trang 62.3.1 Nông nghiệp 51
2.3.2 Thủ công nghiệp, thương nghiệp 54
Chương 3 VĂN HÓA HUYỆN YÊN LẬP NỬA ĐẦU THẾ KỈ XIX 57
3.1 Làng bản và nhà cửa 57
3.2 Ẩm thực 60
3.3 Y phục và trang sức 62
3.4 Tục lệ xã hội 65
3.5 Lễ tết 74
3.6 Quan hệ dòng họ, gia đình 78
3.7 Nghi lễ và tín ngưỡng liên quan đến nông nghiệp 81
3.8 Tín ngưỡng, tôn giáo 83
KẾT LUẬN 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 92 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BCH : Ban chấp hành
QSQTN : Quốc sử quán triều Nguyễn
TTLTQGI : Trung tâm lưu trữ Quốc gia I
TƯ : Trung Ương UBND : Uỷ ban nhân dân
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Thành phần các dân tộc huyện Yên Lập 18
Bảng 2.1 Tổng diện tích các loại ruộng đất của Yên Lậptheo địa bạ Gia Long 4 (1805) 33 Bảng 2.2 Sự phân hóa ruộng tư của Yên Lập 34
Bảng 2.3 Bình quân sở hữu và bình quân thửa 35
Bảng 2.4 Sự phân bố ruộng đất của các nhóm họ năm 1805 36
Bảng 2.5 Tình hình sở hữu ruộng tư của các chức sắc năm (1805) 38
Bảng 2.6 Sự phân bố các loại ruộng đất 40
Bảng 2.7 Quy mô tư hữu ruộng đất của chủ sở hữu năm 1840 41
Bảng 2.8 Bình quân sở hữu và bình quân thửa (năm 1840) 42
Bảng 2.9 Sự phân bố ruộng đất của nhóm họ năm (1840) 43
Bảng 2.10 Tình hình sở hữu ruộng tư của các chức sắc năm 1840 44
Bảng 2.11 Bảng so sánh sự phân bố các loại ruộng đất 45
Bảng 2.12 So sánh quy mô sở hữu ruộng tư 46
Bảng 2.13 So sánh tình hình sở hữu của các dòng họ của 5 xã 48
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Phú Thọ là một tỉnh nằm ở khu vực miền núi trung du phía Bắc, vị trí địa lý mang ý nghĩa trung tâm của tiểu vùng Tây - Đông - Bắc Cũng là tỉnh có vị trí chiến lược về chính trị, quốc phòng, kinh tế đối với cả nước Có thể nói Phú Thọ là cái nôi sinh thành của dân tộc Việt Nam - nơi mà cách đây hàng ngàn năm đã ra đời nhà nước đầu tiên của người Việt, cũng là nhà nước sớm nhất của vùng Đông Nam Á - Nhà nước Văn Lang của các vua Hùng Phú Thọ, nơi có Đền Hùng, cội nguồn linh thiêng của cả dân tộc Việt Nam, với sức hút tâm linh không phải dân tộc nào cũng có Đây cũng là nơi cư trú của 21 dân tộc anh em Ngay từ buổi sơ khai của lịch sử, Phú Thọ đã có người nguyên thủy sinh sống Hàng nghìn năm qua từ khi Vua Hùng dựng nước Văn Lang cho đến nay mảnh đất “địa linh nhân kiệt” này đã đón nhận nhiều dòng người xuôi ngược về đây quần tụ sinh sống
Yên Lập là một huyện miền núi nằm về phía Tây Bắc của tỉnh Phú Thọ, là vùng đất có bề dày truyền thống lịch sử và văn hóa Cũng giống như các huyện khác của tỉnh, với những điều kiện tự nhiên thuận lợi nên ngay từ rất sớm địa bàn huyện đã là nơi cư trú của một bộ phận người Việt cổ, về sau là một phần của quốc gia Văn Lang Trải qua hàng ngàn năm lịch sử các thế hệ người dân Yên Lập
đã kế tiếp nhau chung sức chung lòng cần cù sáng tạo trọng lao động, kiên trung bất khuất trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm, cùng nhau xây dựng bảo vệ quê hương ngày càng giàu đẹp
Tình hình cộng cư của nhiều thành phần dân tộc gắn liền với quá trình phát triển lâu dài của đất nước Việc xây dựng cộng đồng chính trị - xã hội trong lịch
sử không tách rời việc xây dựng cộng đồng quốc gia dân tộc Trong lịch sử, các triều đại phong kiến Việt Nam rất coi trọng và có những chính sách cụ thể để phát triển kinh tế, đoàn kết cư dân miền núi góp phần củng cố quốc gia, đẩy lùi các thế lực xâm chiếm từ bên ngoài
Công cuộc phát triển kinh tế - xã hội ở các vùng miền núi nói chung và Yên Lập nói riêng luôn được Đảng, Nhà nước quan tâm nhằm giảm dần sự cách biệt về đời sống
Trang 10vật chất cũng như đời sống tinh thần giữa các dân tộc, giữa miền ngược với miền xuôi, khai thác mọi tiềm năng của đất nước để đưa đất nước ta ngày một phát triển, vững mạnh toàn diện về kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, an ninh, quốc phòng Ngày nay trong công cuộc đổi mới đất nước, đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa, toàn Đảng, toàn dân ta đang tích cực thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Đây là sự nghiệp của toàn dân tộc, có sự chung tay đóng góp không nhỏ của nhân dân các dân tộc anh em trên khắp mọi miền Tổ quốc Huyện Yên Lập tỉnh Phú Thọ cũng nằm trong dòng chảy lịch sử đó
Việc nghiên cứu về một thời kì lịch sử của Yên Lập (nửa đầu thế kỷ XIX), không những góp phần khôi phục lại bức tranh lịch sử về hoạt động kinh tế cũng như đời sống văn hóa phong phú, độc đáo của các dân tộc nơi đây mà còn góp phần làm
cơ sở cho việc thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta: Đại đoàn kết dân tộc, đưa miền núi tiến kịp miền xuôi, xây dựng con người mới, cuộc sống mới trên mảnh đất Yên Lập
Là một người đang tìm hiểu về vai trò của lịch sử địa phương trong vận mệnh của lịch sử dân tộc, được sự giúp đỡ, hướng dẫn của giảng viên hướng dẫn khoa học
là PGS.TS Đàm Thị Uyên cùng các thầy cô giáo trong tổ bộ môn Lịch sử Việt Nam, Ban Chủ nhiệm khoa Lịch sử trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên, tôi đã quyết định chọn đề tài: “Kinh tế, văn hóa huyện Yên Lập tỉnh Phú Thọ nửa đầu thế
kỷ XIX” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong đề tài này, chúng tôi nghiên cứu một số tài liệu tham khảo có tính chất gợi mở, định hướng và là cơ sở để người nghiên cứu thực hiện đề tài:
Trước hết phải kể đến cuốn Địa chí tỉnh Hưng Hóa, của Nxb Đông Dương tạp
chí, năm 1899 Do dịch giả Nguyễn Xuân Lân (thư viện tỉnh Vĩnh Phú) dịch Cuốn sách gồm 6 phần, lần lượt từng phần đã đề cập tới hầu hết các lĩnh vực như hình thế, lịch sử chinh phục, cơ cấu xã hội - tổ chức chính trị và cai trị, vị trí kinh tế (nông nghiệp, kỹ công nghệ - thương mại), lực lượng quân sự và dự báo về tương lai Hưng Hóa Sách viết rất ít về một châu miền núi như Yên Lập nhưng đây cũng là nguồn tư liệu quan trọng để nghiên cứu về một địa phương của tỉnh Hưng Hóa xưa
Trang 11Năm 1986, Sở văn hóa và Thông tin Vĩnh Phú đã cho xuất bản tập địa chí Văn
hóa dân gian vùng Đất Tổ Trong tập địa chí này các tác giả đã đề cập một cách chi
tiết về thiên nhiên con người Vĩnh Phú, cũng như những giá trị văn hóa dân gian từng dân tộc từ ngàn xưa đã được cư dân vùng Đất Tổ gìn giữ phát huy cho đến tận ngày nay Sách mới chỉ giới thiệu những giá trị văn hóa vật chất, tinh thần tinh túy nhất của vùng Đất Tổ chứ không đi sâu nghiên cứu về một địa phương cụ thể trong tỉnh, nhưng đây là tư liệu quan trọng để tác giả hoàn thiện luận văn của mình
Tiếp theo là cuốn Phú Thọ tỉnh địa chí của tác giả Phạm Xuân Bộ, địa chí gồm
4 chương đã lần lượt giới thiệu về tổng thuyết (danh xưng, duyên cách), tự nhiên, nhân văn và các địa phương trong tỉnh Phú Thọ Đây là cẩm nang để tìm hiểu về Phú Thọ nói chung Huyện Yên Lập tác giả có đề cập đến nguồn gốc tộc người, mật độ dân cư, vùng đất dành cho di dân, khí hậu, kinh tế nông lâm nghiệp, thương mại của huyện nhưng rất ngắn gọn và khái quát Nhưng đây cũng là nguồn tài liệu quan trọng
giúp tác giả kế thừa trong quá trình thực hiện đề tài của mình
Luận án tiến sĩ Gia đình và hôn nhân của dân tộc Mường ở Phú Thọ của Nguyễn Ngọc Thanh viết năm 1999 Luận án là chuyên khảo đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống về cấu trúc, chức năng của gia đình và thể chế hôn nhân của người Mường ở hai huyện Thanh Sơn và Yên Lập Đây là dân tộc có số dân đông nhất ở huyện Yên Lập Đây là nguồn tư liệu gần gũi cho việc nghiên cứu về nguồn gốc tộc người, văn hóa người Mường ở Yên Lập đồng thời định hướng cho các chính sách văn hóa, gìn giữ và phát triển bền vững bản sắc văn hóa dân tộc trong sự nghiệp đổi mới hiện nay
Tác phẩm Tình hình ruộng đất, nông nghiệp và đời sống nông dân dưới
triều Nguyễn do Trương Hữu Quýnh và Đỗ Bang chủ biên của Nxb Thuận Hóa,
năm 1997 đã nghiên cứu một cách cụ thể về tình hình ruộng đất chủ yếu thông qua tài liệu địa bạ Bên cạnh đó tác phẩm còn nêu lên các chính sách về nông nghiệp đặc biệt là các chính sách về ruộng đất dưới triều Nguyễn Tác phẩm là nguồn tư liệu quan trọng định hướng phương pháp nghiên cứu cho tác giả luận văn về ruộng
Trang 12Luận văn thạc sĩ Kinh tế, văn hóa huyện Trấn Yên tỉnh Yên Bái thế kỷ XIX của
tác giả Trần Thị Thanh Xuyên, Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên, năm 2015 Luận văn đã nghiên cứu đặc điểm tự nhiên, thành phần dân tộc, tình hình chính trị xã hội, chế độ ruộng đất, kinh tế, cũng như văn hóa của nhân dân huyện Trấn Yên thế kỷ XIX Đây là một huyện cùng Phủ Quy Hóa, tỉnh Hưng Hóa với huyện Yên Lập từ thời Hậu Lê cho đến tận đầu thế kỷ XX Luận văn này giúp người nghiên cứu thấy được những nét tương đồng, khác biệt của các huyện trong phủ Quy Hóa ở nửa đầu thế kỷ XIX
Tập sách ảnh Người Mường trên đất Tổ Hùng Vương của nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin Hà Nội, phát hành năm 2001 Cuốn sách ảnh đã lưu lại những vẻ đẹp còn rất Mường từ diện mạo đến kiến trúc, tập quán, lễ hội, hoạt động kinh tế,
cơ cấu xã hội xưa của người Mường, dân tộc thiểu số có số dân đông nhất ở Phú Thọ cũng như ở Yên Lập Tuy tác giả mới đề cập ở mức độ khái quát nhất và tập trung vào phần hình ảnh của người Mường nhưng đây cũng là nguồn tài liệu quan trọng giúp tác giả có thêm nhận thức trong nghiên cứu văn hóa huyện Yên Lập nửa đầu thế kỷ XIX
Cuốn tổng tập Về miền lễ hội cội nguồn dân tộc Việt Nam do Sở Văn hóa thể
thao và du lịch tỉnh Phú Thọ xuất bản năm 2012 Cuốn sách đã trình bày khá đầy đủ
và chi tiết về các lễ hội trên địa bàn từng huyện, thị của tỉnh Phú Thọ, lịch một số lễ hội dân gian, lễ hội lịch sử trên địa bàn tỉnh Phú Thọ Trong cuốn sách, từ trang 853 đến trang 895 các tác giả đã trình bày rất chi tiết về các lễ hội của dân tộc Mường, dân tộc Dao xã Hưng Long, xã Ngọc Đồng, xã Nga Hoàng huyện Yên Lập Qua đó thấy được những giá trị văn hóa tinh thần và đời sống vật chất của xã hội cổ xưa được các thế hệ người dân vùng Đất Tổ bảo lưu và gìn giữ phát huy trong đời sống hiện tại
Cuốn sách Văn hiến làng xã vùng đất Tổ Hùng Vương, của tác giả Vũ Kim
Biên, Trung tâm UNESCO thông tin tư liệu lịch sử và văn hóa Việt Nam xuất bản, năm 1999 Cuốn sách đã mô tả, thống kê khá kỹ về những làng cổ ở Phú Thọ từ thời Hùng Vương cho đến nay, nêu lên những giá trị văn hóa vật chất cũng như những giá trị văn hóa tinh thần ở làng xã từ ngàn xưa, diện mạo làng xã thay đổi ra sao qua mỗi thời kì lịch sử Đặc biệt tác giả còn đưa ra những kiến nghị, bài học cơ bản về chính
Trang 13sách đối với làng xã trên cơ sở tôn trọng quyền tự quản và quyền làm chủ của làng xã Đây cũng là nguồn tài liệu tham khảo quý đối với tác giả trong quá trình hoàn thành luận văn của mình
Bản chúc thư bằng đồng của thổ lang Đinh Thế Thọ ở xã Tân Lập huyện Thanh Sơn hiện đang được lưu giữ và trưng bày tại bảo tàng Hùng Vương tỉnh Phú Thọ Chúc thư viết vào thời hậu Lê quy định 13 lệ của bản thôn đối với nhà lang như cách cai trị của nhà lang và những quyền lợi mà nhà lang được hưởng từ dân bản của mình Chúc thư có 3 tấm với khoảng 1000 chữ Hán đã được dịch sang tiếng Việt Đây là nguồn tài liệu cổ ít ỏi còn lại và rất có giá trị cho người nghiên cứu khi tìm hiểu về thiết chế chính trị, xã hội xưa của người Mường Phú Thọ Bản chúc thư cho thấy thiết chế chính trị của người Mường là chế độ tự trị, cha truyền con nối, chế độ của công xã, làng chạ cổ xưa
Ngày 28/12/ 2011 UBND huyện Yên Lập ban hành quyết định số 1697/ UBND về Phát triển sự nghiệp Văn hóa - Thông tin - Thể thao và Du lịch giai đoạn
QĐ-2011 - 2015, trong đó có đề án “Điều tra, nghiên cứu, phục dựng và đề xuất giải
pháp bảo tồn, phát huy giá trị một số lễ hội dân gian tiêu biểu dân tộc Mường huyện Yên Lập” Người Mường có số dân đông nhất ở Yên Lập chiếm 67,76% dân số toàn
huyện, việc nghiên cứu về văn hóa dân gian dân tộc Mường có ý nghĩa quan trọng về mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội đối với toàn huyện Đề án chỉ đi sâu vào lễ hội dân gian dân tộc Mường và đó là cơ sở cho tác giả tìm hiểu nghiên cứu về văn hóa người Mường cũng như sự giao thoa, văn hóa giữa người Mường với các dân tộc khác trên địa bàn huyện Yên Lập
Cuốn Lịch sử Đảng bộ huyện Yên Lập 1945-2005, xuất bản năm 2008 của BCH Đảng bộ huyện Yên Lập Đây là công trình nghiên cứu khoa học đầy đủ và có
hệ thống về huyện Yên Lập trong thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp và Đế quốc Mĩ, cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay Tác phẩm đã đề cập đến nhiều con người cụ thể, công việc cụ thể của huyện Yên Lập Đặc biệt trong phần đầu của chương 1 của tác phẩm đã nêu khái quát về vị trí địa lý, lịch sử và địa giới huyện Yên Lập từ khi thành lập huyện cho đến nay Ngoài ra còn có nhiều tranh ảnh về di tích lịch sử, cán bộ lão thành cách mạng
Trang 14của Yên Lập…Tuy nhiên, nội dung tập trung chủ yếu vào nghiên cứu lịch sử Đảng từ sau cách mạng tháng Tám, vì thế nên lịch sử huyện Yên Lập trong giai đoạn trước, nhất là thời kì trung đại chưa xuất hiện nhiều trong cuốn sách này
Ngoài ra còn có các khóa luận, luận văn có liên quan đến đề tài của tác giả Có
thể kể đến ở đây như: Biến đổi nhà ở của người Dao xã Nga Hoàng, huyện Yên Lập,
tỉnh Phú Thọ, của tác giả Trịnh Thị Ngọc, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Văn
hóa, Hà Nội, năm 2014 Luận văn thạc sĩ Kinh tế Nghiên cứu rủi ro trong sản xuất
nông nghiệp trên địa bàn huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ, Trường Đại học Kinh tế và
Quản trị kinh doanh Thái Nguyên, năm 2014
Tóm lại, đã có nhiều công trình nghiên cứu về vùng Đất Tổ Phú Thọ nói chung Trong đó có huyện Yên Lập Một số tác phẩm, dù không đề cập trực tiếp đến huyện Yên Lập nhưng những công trình nêu trên đã giúp cho tác giả tiếp cận nội dung, phương pháp luận, để làm sáng tỏ các vấn đề về huyện Yên Lập nửa đầu thế kỷ XIX
Như vậy, cho đến nay chưa có một công trình nghiên cứu nào nghiên cứu một cách toàn diện về huyện Yên Lập trong nửa đầu thế kỉ XIX Do đó còn nhiều vấn đề chưa được làm sáng tỏ như: vị trí địa lý, nguồn gốc dân tộc, chế độ sở hữu ruộng dất, văn hóa các dân tộc ở Yên Lập…cũng như những biến động chính trị qua các thời kì lịch sử Mặc dù vậy tác giả luôn xem những thành quả của các nhà nghiên cứu đi trước là những gợi mở quý báu, tạo điều kiện để tác giả thực hiện đề tài nghiên cứu của mình
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích, chọn đề tài “Kinh tế, văn hóa huyện Yên Lập tỉnh Phú Thọ nửa
đầu thế kỷ XIX” để nghiên cứu, tác giả mong muốn nêu lên một cách chân thực, khoa học về một thời kỳ lịch sử của huyện Yên Lập nửa đầu thế kỷ XIX Ngoài ra, có thể
bổ sung thêm nguồn tư liệu địa bạ góp phần lý giải một số vấn đề lịch sử Việt Nam trung đại, vấn đề ruộng đất, kinh tế nông nghiệp và mối quan hệ giữa các dân tộc Đồng thời trên cơ sở tư liệu hiện có, vấn đề văn hóa của huyện Yên Lập cũng được tác giả làm rõ
- Nhiệm vụ, bước đầu đề tài nghiên cứu tương đối toàn diện, đầy đủ về các
mặt: kinh tế và văn hóa của huyện Yên Lập tỉnh Phú Thọ nửa đầu thế kỷ XIX để qua
Trang 15đó thấy được bức tranh về một thời kì lịch sử trong quá khứ của mảnh đất và con người Yên Lập
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Bao gồm các chính sách về kinh tế, chế độ sở hữu
ruộng, hoạt động kinh tế, văn hóa của các dân tộc cùng chung sống ở Yên Lập tỉnh Phú Thọ nửa đầu thế kỉ XIX
- Phạm vi nghiên cứu:
Nội dung bao gồm những vấn đề cơ bản như: tình hình sở hữu ruộng đất, chế
độ tô thuế, các loại hình kinh tế (nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương ngiệp), cấu trúc làng bản, nhà cửa, ẩm thực, y phục trang sức, một số tục lệ xã hội, quan hệ dòng
họ gia đình, lễ tết và đời sống tôn giáo tín ngưỡng của tộc người Mường, Kinh, Dao ở Yên Lập nửa đầu thế kỷ XIX
Phạm vi thời gian: Tập trung nghiên cứu giai đoạn nửa đầu thế kỷ XIX, dưới triều Nguyễn
Phạm vi không gian: Huyện Yên Lập, phủ Quy Hóa, tỉnh Hưng Hóa theo địa giới hành chính nửa sau thế kỉ XIX với 5 tổng 23 xã thôn
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
- Nguồn tư liêu:
Trong luận văn tác giả đã khai thác và sử dụng một số sử sách và địa chí cổ:
Kiến Văn tiểu lục, Hưng Hóa phong thổ chí, Đại Nam thực lục, Đại Nam nhất thống chí, Đồng Khánh địa dư chí, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ…và nguồn tư liệu
địa phương gồm các sách: Địa danh và tài liệu lưu trữ về làng xã Bắc kỳ, Địa chí tỉnh
Hưng Hóa, Phú Thọ tỉnh địa chí, Địa chí Vĩnh Phú Văn hóa dân gian vùng đất Tổ, Người Mường trên đất Tổ Hùng Vương, Về miền lễ hội cội nguồn dân tộc Việt Nam, Văn hiến làng xã vùng Đất Tổ Hùng Vương…Những tư liệu trên đã ghi chép tên trấn,
tổng, xã, thôn thời Gia Long và Minh Mệnh, ghi lại số đinh tô thuế ở địa phương, miêu tả vị trí địa lý, thổ sản, phong tục tập quán…qua đó làm rõ tình hình kinh tế, văn hóa huyện Yên Lập nửa đầu thế kỉ XIX
Nguồn tư liệu địa bạ được sử dụng trong luận văn gồm 17 địa bạ có niên đại
) và 13 địa bạ thời Minh Mệnh 21 (1840) của huyện được khai thác
Trang 16tại TTLTQG I (Hà Nội)
Ngoài ra tác giả còn sử dụng nguồn tư liệu thực địa, điền dã: Tác giả đã thu thập được nhiều tài liệu do nhiều địa phương trên địa bàn huyện Yên Lập cung cấp, đến những làng bản của cộng đồng cư dân thiểu số quan sát, ghi chép về các phong tục tập quán của họ, thu thập các câu truyện dân ca, ca dao để bóc tách những vấn đề lịch sử
có thật trong quá khứ
- Phương pháp nghiên cứu: Trong giới hạn của đề tài chúng tôi đặc biệt chú ý
khâu giám định tư liệu Bên cạnh đó tác giả chú ý việc sử dụng phương pháp khai thác tài liệu thành văn với phương pháp điền dã lịch sử Đồng thời sử dụng phương pháp lịch sử, phương pháp lôgic, phân tích mô tả so sánh, đối chiếu các nguồn tài liệu, phương pháp tổng hợp bằng hệ thống bảng biểu
Chúng tôi đặt việc nghiên cứu lịch sử huyện Yên Lập trong mối quan hệ với lịch sử dân tộc (nửa đầu thế kỷ XIX) để thấy được mối quan hệ tác động qua lại giữa lịch sử địa phương với lịch sử dân tộc và ngược lại
6 Đóng góp của luận văn
Dựa trên những tài liệu có thể khai thác được, đề tài bước đầu khôi phục một cách có hệ thống lịch sử huyện Yên Lập nửa đầu thế kỷ XIX, mối quan hệ tộc người, loại hình kinh tế, xã hội, thiết chế chính trị xã hội, những nét văn hóa tiêu biểu gắn với môi trường sinh thái địa phương, những nhân tố thúc đẩy sự biến đổi kinh tế, văn hóa địa phương…trong thời kì lịch sử xã hội phong kiến Việt Nam
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được chia
thành ba chương:
Chương 1: Khái quát về huyện Yên Lập tỉnh Phú Thọ
Chương 2: Kinh tế của huyện Yên Lập nửa đầu thế kỷ XIX
Chương 3: Văn hóa huyện Yên Lập nửa đầu thế kỷ XIX
Ngoài ra trong luận văn còn có phần phụ lục với 42 ảnh minh họa, 5 bản đồ, 3 trang địa bạ
Trang 17Chương 1
KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN YÊN LẬP TỈNH PHÚ THỌ
1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
1.1.1 Vị trí địa lý
Yên Lập là một huyện miền núi nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Phú Thọ, có tọa
độ địa lý 210 12’ đến 210 31’ vĩ độ Bắc, 1040 10’ kinh tuyến Đông, có độ cao trung bình so với mực nước biển là 200m nơi cao nhất là 900m Huyện nằm trong thung lũng có chiều dài hơn 60km chiều rộng 8km Phía Đông giáp huyện Cẩm Khê và huyện Tam Nông (Phú Thọ), phía Tây giáp huyện Văn Chấn (Yên Bái), phía Nam giáp huyện Thanh Sơn, Tân Sơn (Phú Thọ) và phía Bắc giáp huyện Hạ Hòa (Phú
Thọ) Theo sách Đại Nam nhất thông chí: “ Huyện Yên Lập:đông tây cách nhau 105
dặm, nam bắc cách nhau 181 dặm, phía đông đến địa giới huyện Cẩm Khê tỉnh Sơn Tây 7 dặm, phía tây đến địa giới huyện Trấn Yên 98 dặm, phía nam đến địa giới huyện Thanh Sơn 101 dặm ,phía bắc đến địa giới huyện Hạ Hòa tỉnh Sơn Tây 80
dặm” [21, tr 236]
Sách Đồng Khánh địa dư chí cũng chép lại như sau: “Huyện Yên Lập do phủ
Quy Hóa thống hạt Huyện lỵ ở xã Vân Bán tổng Vân Bán, chu vi 80 trượng, bốn phía trồng rào tre, mở một cửa trước Huyện hạt phía đông giáp huyện Cẩm Khê tỉnh Sơn Tây, phía tây giáp huyện Văn Chấn, phía nam giáp huyện Thanh Sơn, phía bắc giáp huyện Hạ Hòa tỉnh Sơn Tây Đông tây cách nhau 105 dặm Nam bắc cách nhau
181 dặm” [39, tr 728]
Ngày nay, huyện Yên Lập có tổng diện tích tự nhiên là 43.783,62 ha chiếm 12,4% diện tích toàn tỉnh Phú Thọ Trung tâm huyện lỵ cách thành phố Việt Trì 70km, cách thủ đô Hà Nội 150km Do nằm ở vị trí khá xa trung tâm tỉnh lỵ, cùng với
hệ thống giao thông cơ bản chưa phát triển nên huyện Yên Lập có nhiều khó khăn, bất lợi so với các huyện lận cận trong giao lưu phát triển kinh tế, văn hóa đặc biệt là phát triển các nghành công nghiệp và dịch vụ
Trang 181.1.2 Điều kiện tự nhiên
Yên Lập là huyện miền núi cao có địa hình đa dạng và phức tạp, có nhiều dãy núi cao độ dốc lớn, hệ thống suối, khe, ngòi hẹp và dốc lại phân bố không đều làm cho địa hình bị phân cách mạnh Địa bàn huyện có thể chia làm ba tiểu vùng chính:
- Tiểu vùng 1: Các xã vùng hạ huyện (vùng thấp): Là vùng địa hình núi thấp, đồi cao bao gồm các xã: Minh Hòa, Đồng Lạc, Ngọc Đồng, Ngọc Lập, Phúc Khánh Tuy nhiên do địa hình phân cách, nên việc phát triển hệ thống thủy lợi gặp nhiều khó khăn
- Tiểu vùng 2: Các xã vùng trung huyện (vùng giữa): Gồm các xã Xuân Viên, Xuân Thủy, Hưng Long, Đồng Thịnh, Thượng Long và thị trấn Yên Lập Đây là vùng thung lũng được tạo bởi hai sườn núi phía đông và phía tây của huyện
- Tiểu vùng 3: Các xã vùng thượng huyện gồm: Mỹ Lung, Mỹ Lương, Xuân
An, Nga Hoàng và Trung Sơn Đây là vùng địa hình bị phân cách mạnh, một số vùng
có độ dốc cao trên 250, về mùa mưa thường sảy ra lũ quét, về mùa khô lại hay bị hạn
Trong huyện có một số dãy núi cao, hiểm trở sách Đại Nam nhất thống chí
chép như sau: “ Núi Quang Sơn: cách huyện Yên Lập hơn 10 dặm về phía bắc, bốn bên đều khe ngòi Núi Trầm Trĩ ở huyện Yên Lập: thế núi cao vót,tre gỗ um tùm, là trấn sơn của huyện Núi Tượng Khẩu: cách huyện Yên Lập 47 dặm về phía
nam.” [21, tr 359]
Yên Lập nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa Do điều kiện địa lý cảnh quan quy định nên: “ Địa thế của huyện gần núi, thời tiết phần nhiều là mưa gió lạnh rét Mây đùn ngang sườn núi, sương mù sát ngọn cây Mặt trời lên từ giờ Mão nhưng khuất mây, mới sang giờ Thân mà sương mù đã che tối Hơi lạnh bốc ào ào, bao phủ cả cây cối, phần nào có khí lam chướng” [39, tr 729]
Ngày nay, khí hậu Yên Lập nói riêng và tỉnh Phú Thọ nói chung mang những đặc điểm chung của khí hậu miền Bắc đó là nhiệt đới, gió mùa xích đạo Một năm có
4 mùa xuân, hạ, thu, đông, song hình thái hai mùa tương đối rõ rệt Mùa đông lạnh và khô hạn, kéo dài từ tháng 11 năm trước đến tháng 2 năm sau với nhiệt độ trung bình
là 140C - 180C, độ ẩm khoảng 62% thường vào tháng 12 hằng năm, thời tiết giá rét kèm theo sương muối Mùa hè nóng ẩm mưa nhiều, kéo dài từ tháng 6 đến 9, với
Trang 19nhiệt độ trung bình từ 280C - 300C Mùa nóng cũng chính là mùa mưa nhiều, lượng mưa trung bình đạt 1570mm / năm thường kèm theo dông, tố, lốc, gió giật mạnh gây
ra lũ ống, lũ quét ở vùng núi cao, ngập lụt ở vùng trũng thấp
Sự chênh lệch nhiệt độ giữa hai mùa nóng lạnh tương đối lớn Nhiệt độ trung bình hàng năm vào khoảng 22,50 C (gió thịnh hành là gió mùa đông bắc và gió mùa đông nam), nhiệt độ trung bình ở tháng nóng nhất (tháng 6) là 390 C ở tháng thấp nhất
là 50C Độ ẩm trung bình trong năm là 86% - 89% [44, tr 8]
Nơi có độ cao từ 1.500m trở lên hầu như không có mùa nóng, nhiệt độ trung bình ổn định dưới 20ºC, có nơi có hiện tượng sương muối, băng tuyết, thường bị hạn hán vào đầu mùa lạnh và cuối mùa thường có mưa phùn
Nhìn chung khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa đã tạo thuận lợi cho phát triển kinh
tế nhất là với sản xuất nông nghiệp Lượng bức xạ phong phú nền nhiệt lượng cao là thuận lợi đối với việc tạo ra sinh khối lớn giúp cho cây trồng phát triển, cây ăn quả và cây lương thực ngắn ngày quay vòng nhanh, các ngành khai thác và chế biến gặp nhiều thuận lợi, các ngành du lịch và giao thông có thể hoạt động quanh năm Khí hậu mát ở vùng cao (tiểu vùng 3) cho phép trồng cây dược liệu quý Đặc biệt Yên Lập là huyện miền núi cơ bản chưa bị ô nhiễm do khói bụi công nghiệp, cộng với diện tích rừng trồng lớn có khả năng tự làm sạch tốt nên môi trường khí hậu rất trong lành Bên cạnh những thuận lợi kể trên, địa phương cũng chịu nhiều hậu quả do đặc điểm của thời tiết gây ra Mùa đông nhiều đợt gió lạnh buốt tràn về gây ra sương muối, đầu mùa hè những đợt gió tây nóng tràn sang ảnh hưởng đến sức khỏe con người súc vật và cây trồng Các tai biến thiên nhiên như hạn hán, lũ lụt, mưa đá, sương muối đã gây ảnh hưởng đến đời sống và sản xuất của nhân dân trong huyện, đặc biệt là đối với nông, lâm nghiệp
Chế độ thủy văn phụ thuộc vào cấu tạo địa hình Mực nước trong các suối, khe, ngòi, hồ chứa nước trong địa bàn huyện lên xuống thất thường, đột ngột phụ thuộc vào các trận mưa lớn trong mùa mưa Mực nước tại các suối hằng năm là +25,45m, mực nước lũ lịch sử từng đạt đến +56,62m [44, tr 8] Hằng năm thường xảy ra lũ ống gây ngập lụt cục bộ, có thể kéo dài đến hai ngày tùy thuộc vào từng trận mưa lớn
Trên địa bàn huyện không có sông chảy qua, chủ yếu là các suối nhỏ đổ ra ngòi Toàn huyện có sáu suối và ngòi chính Ngòi Lao bắt nguồn từ mũi Kim (tỉnh
Trang 20Yên Bái) chảy qua địa phận các xã Mỹ Lung, Mỹ Lương Ngòi Giành bắt nguồn từ Nghĩa Tâm (tỉnh Yên Bái) chảy qua địa phận các xã Trung Sơn, Xuân An, Xuân Viên, Lương Sơn sang xã Phượng Vĩ (huyện Cẩm Khê) rồi đổ ra sông Thao Ngòi Cỏ bắt nguồn từ xã Minh Hòa chảy qua xã Đồng Lạc Ngoài ra còn có Suối Cái bắt nguồn từ xã Trung Sơn qua xã Thượng Long, thị trấn Yên Lập Tất cả các ngòi trên rồi đều đổ ra sông Thao ở Cẩm Khê Nhìn chung các ngòi, suối vùng này thường nông, nước trong, chảy xiết Do địa hình bị chia cắt đã tạo nên những thác lớn và đẹp như: thác Đá Thờ, thác Khỉ Dòm, thác Khe Châu…Đây cũng là nguồn cung cấp nước sinh hoạt cho đồng bào và tưới tiêu đồng ruộng Như vậy, tài nguyên nước của Yên Lập không lớn phụ thuộc phần lớn vào tự nhiên
Tài nguyên đất ở Yên Lập có nhiều loại, đất feralit màu vàng nhạt trên núi, chủ yếu các dãy núi cao, có độ ẩm lớn, độ mùn cao, phù hợp với cây lâm nghiệp, cây lấy gỗ và cây đặc sản có giá trị kinh tế cao Loại đất này phát triển chủ yếu ở các xã tiểu vùng 3 như: Trung Sơn, Nga Hoàng, Mỹ Lung, Mỹ Lương, Xuân An Đất được hình thành do bồi tụ trong quá trình phong hóa có thành phần cơ giới chủ yếu là đất thịt trung bình và thịt nặng, chủ yếu ở các xã tiểu vùng 2 Xuân Viên, Xuân Thủy, Hưng Long, Đồng Thịnh, Thượng Long Loại đất này phù hợp cho phát triển sản xuất cây lương thực như: lúa, ngô theo hướng chuyên canh và thâm canh cao, phát triển những giống lúa chất lượng cao như xôi nếp Gà Gáy Ngoài ra còn có đất phù sa suối, ngòi ở các xã Mỹ Lung, Mỹ Lương, Trung Sơn, Lương Sơn phù hợp với trồng cây lúa nước, lạc, mía
Hiện nay Yên Lập có tổng diện tích đất tự nhiên là 43.783,62ha bao gồm: đất nông nghiệp là 36.778,82 ha chiếm 84,07% tổng diện tích đất tự nhiên Trong tổng diện tích đất nông nghiệp, đất sản xuất nông nghiệp là 8382,54 ha chiếm 22,79%, đất lâm nghiệp là 27.987,99 ha chiếm 76,09% và đất nuôi trồng thủy sản là 408,17 ha chiếm 1,1% Trong diện tích đất sản xuất nông nghiệp, đất trồng cây hằng năm là 4334,19 ha chỉ chiếm 51,7% (và chiếm 9,9% tổng diện tích đất tự nhiên), còn lại là đất trồng cây lâu năm [44, tr 9]
Trang 21Với quỹ đất như trên, huyện Yên Lập có nhiều thuận lợi trong phát triển nông nghiệp, đặc biệt là cây lâm nghiệp và cây công nghiệp lâu năm Quỹ đất chưa sử dụng còn nhiều, có thể đáp ứng nhu cầu mở rộng quỹ đất chuyên dùng để xây dựng kết cấu
hạ tầng kinh tế xã hội của huyện trong tương lai
Đất đai vùng Yên Lập do các loại đá trầm tích phong hóa yếu cấu tạo, thảm mục chứa nhiều mùn, giàu đạm Từ chất đất còn rất tốt ấy, từ thuận lợi mưa nhiều
độ ẩm cao ấy, đã sinh thành nên một “rừng vàng” của Phú Thọ Tiềm năng về tài nguyên rừng của Yên Lập chỉ đứng sau huyện Tân Sơn Trong tập đoàn cây rừng trên địa bàn, có một số loài có giá trị kinh tế cao như đinh, lim, sến,táu, chò, lát,
gỗ xưa, gỗ hương, cây dược liệu quý như: đẳng sâm, sơn trà, hà thủ ô, hoài sơn, sa nhân… động vật hiếm (hổ, báo, cày hương, lợn rừng, hươu, khỉ, trăn) cùng nhiều khu rừng có cọ, măng, nấm hương, mộc nhĩ, trẩu, quế, chè Sản vật ở Yên Lập
được nhắc đến trong sách Đồng Khánh dư địa chí như sau: “ Rừng nhiều gỗ tạp, tre nứa Chim thú như gà rừng, hổ, hươu thi thoảng cũng có” [39, tr 729] Đặc
biệt là gà rừng có rất nhiều ở vùng núi rừng Yên Lập Sách Đại Nam nhất thống
chí có chép: “.Gà rừng: có tên nữa là “Trường Thanh” Châu Thuận và huyện Yên
Lập có rất nhiều”[21, tr 387]
Điều kiện tự nhiên đã đem lại cho Yên Lập nhiều lợi thế về tài nguyên khoáng sản cũng như thế mạnh sản xuất nông, lâm nghiệp Trên địa bàn huyện Yên Lập có 19
mỏ và điểm quặng với trữ lượng không lớn, nằm rải rác ở các xã trong huyện, trong đó
có 10 mỏ đá, 2 mỏ than bùn, 3 mỏ quặng sắt, 3 mỏ chì kẽm, 1 mỏ chì bạc Ngoài ra trên địa bàn huyện còn có một số khoáng chất công nghiệp, khoáng sản làm vật liệu xây dựng (như Đôlomit, Pirit, cát, sỏi…)
Về giao thông, Yên Lập không có đường quốc lộ, sông lớn chạy qua nên từ trước Cách mạng Tháng Tám, địa bàn Yên Lập ít có điều kiện giao lưu với các vùng khác Việc đi lại của nhân dân chủ yếu là những con đường mòn, vắt qua những sườn thung lũng để giao lưu với những vùng khác Trong đó:
“ Một đường nhỏ từ huyện lỵ đi về phía đông, qua xã Vân Bán đến giáp huyện
Trang 22lỵ đi về phía tây bắc, qua các xã Vân Thê, Quế Sơn, Yên Sào đến giáp huyện Văn Chấn, dài 33 dặm 115 trượng, rộng 4 thước Một đường nhỏ từ huyện lỵ đi về phía tây nam, qua các xã Vân Lung, Đông Lỗ, Ngọc Lập, Thu Ngạc đến giáp huyện Thanh
Sơn, dài 307 dặm 100 trượng, rộng 4 thước ” [39, tr 730]
Các tuyến đường này giữ vai trò quan trọng trong việc thông thương đi lại của
cư dân Yên Lập cũng như buôn bán trao đổi hàng hóa, tiếp xúc và giao lưu văn hóa của cư dân trong huyện với các địa phương lân cận Các tuyến đường này đều là đường đất nhỏ hẹp
Ngày nay Yên Lập có hệ thống giao thông đường bộ khá phát triển với 5 tuyến đường tỉnh lộ chạy qua, là các tuyến đường 313, 321, 321B, 313D, 321C Toàn bộ các tuyến đường tỉnh lộ ở Yên Lập có chiều dài 107,1 km tạo điều kiện thuận lợi cho
sự phát triển kinh tế, văn hóa của huyện Các tuyến đường liên huyện, liên xã phát triển mạnh, 100% các xã đã có đương rải nhựa tới Ủy ban Với chương trình Xây dựng nông thôn mới, các con đường bê tông đang được triển khai xây dựng tới tận thôn, xóm thúc đẩy sự phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục của các bản làng, góp phần nâng cao đời sống nhân dân trong huyện
Với điều kiện tự nhiên đặc thù của mình, Yên Lập đã sớm trở thành nơi sinh sống của cư dân Mường, và trong lịch sử là nơi đón nhận cư dân nhiều nơi đổ về quần tụ, sinh cơ lập nghiệp
1.2 Lịch sử hành chính huyện Yên Lập
Trong quá trình tồn tại, vùng đất Yên Lập có nhiều biến đổi Yên Lập trước khi trở thành một huyện của tỉnh Phú Thọ là một vùng đất nằm trong tỉnh Hưng Hóa - một tỉnh lớn về diện tích, trải rộng khắp vùng trung du và thương du Bắc Kỳ (khu vực Tây Bắc) Trong tiến trình lịch sử dân tộc, Hưng Hóa nói chung và huyện Yên Lập
nói riêng đã nhiều lần thay đổi tên gọi và địa giới hành chính Theo sách Đại Nam
nhất thống chí, mục tỉnh Hưng Hóa “đời Hùng Vương xưa là bộ Tân Hưng” [21, tr
308] là một trong 15 bộ hợp thành nhà nước Văn Lang Những dấu tích của thời đại
kim khí ở Yên Lập rất phong phú và khá độc đáo trong đó nổi bật lên là những trống đồng (loại II Hergo) mang phong cách Văn hóa Đông Sơn tại các xã Đồng Thịnh,
Trang 23Phúc Khánh, Ngọc Lập và Tân Long (nay là thị trấn Yên Lập) là những hiện vật thuộc thời đại Hùng Vương, thời đại đầu tiên ở nước ta thuộc nhà nước Văn Lang Trên trống đồng khắc hình người đánh trống, đánh chiêng, gõ mõ, nhảy múa và một
số hình ảnh khác phản ánh cảnh sinh hoạt văn hóa của cư dân thời đó Như vậy các di chỉ khảo cổ học đã chứng minh nền văn minh sông Hồng của thời đai Hùng Vương
đã có mặt trên các vùng đất mà sau này hình thành nên huyện Yên Lập
Sau thất bại của Thục Phán An Dương Vương, nước ta rơi vào tay của Triệu Đà,
mở đầu thời kì Bắc thuộc kéo dài 1117 năm mà lịch sử gọi là 1000 năm Bắc thuộc ( từ
179 TCN đến 938) Từ năm 179TCN, dưới sự thống trị của các triều đại phương Bắc: Triệu, Hán, Ngô, Ngụy, Tấn, Tống, Tề, Lương, Tùy, Đường tên địa danh hành chính
của cả nước và các bộ có những thay đổi và tên gọi khác nhau Theo sách Đại Nam
nhất thống chí: “Bộ Tân Hưng thời Tần thuộc Tượng Quận, đời Hán thuộc Nam Trung,
đời Ngô là đất huyện Tây Đạo của Lâm Tây, thuộc quận Tân Hưng Đời Đường là
huyện Tân Xương lệ vào Châu Phong” [21, tr 308-309] Trong chính sách cai trị đối
với nước ta lúc bấy giờ, một số bộ lạc ở miền núi phía bắc và tây bắc nước ta, nhà Đường vẫn để cho các tù trưởng cũ giữ bộ lạc của họ, châu Quy Hóa là một trong 40 châu “ky my” (ràng buộc lỏng lẻo) Sau khi họ Khúc khôi phục nền tự chủ, trải qua các đời Ngô, Đinh, Tiền Lê, các địa danh hành chính của nước ta hầu như không thay đổi Nhà Lý lên thay nhà Tiền Lê đã kế thừa những thành tựu của các triều đại trước, đồng thời bắt tay ngay vào việc củng cố, xây dựng nhà nước phong kiến trung ương tập quyền định đô ở Thăng Long, năm 1054 đổi tên nước là Đại Việt, chia nước làm 12 lộ Tỉnh Hưng Hóa đời Lý là đất đạo Lâm Tây và Châu Đằng Đời Trần đặt làm đạo Đà Giang, lại đặt làm trấn Cuối đời Trần lại đổi làm Trấn Thiên Hưng
Thời thuộc Minh, đặt 2 châu Quy Hóa và Gia Hưng “Đến thời Lê Thuận Thiên đặt hai lộ Gia Hưng và Quy Hóa thuộc tây đạo Bản đồ đời Hồng Đức, đổi 2 lộ làm phủ Năm Thuận Thiên thứ 5 đặt Hưng Hóa thừa tuyên, cũng gọi là xứ Hưng Hóa lãnh 3 phủ, 4 huyện, và 17 châu Trong đó phủ Quy Hóa lĩnh 3 huyện: Trấn Yên, Yên Lập, Văn Chấn và hai châu Văn Bàn, Thủy Vĩ” [21, tr 309] Theo đó, huyện Yên Lập xưa là đất Đăng Châu đời Lý Tên huyện Yên Lập đã có từ thời Trần, thuộc châu Quy Hóa, trấn Hưng Hóa lúc đầu có 23 sách, sau hợp lại còn 21 sách Thời nhà Nguyễn, địa giới hành chính các cấp có một số thay đổi Đời vua Gia Long (còn gọi
Trang 24là sách và chưa có tổng), huyện Yên Lập có 20 sách, thôn: Huyện An Lập thuộc phủ Quy Hóa, trấn Hưng Hóa có 20 sách, thôn, sách Đông Lỗ (có 2 thôn Văn Lũng và Hương Lan), sách Thu Ngạc, Hạ Lung, Sa Lung, Thượng Long, Mộ Lan, Quế Sơn, Quắc Thước, Vân Hoàng, An Sào, Bạn Lữ, Vân Bán, Nga My, Phượng Vỹ, Phục Cổ,
An Dưỡng, Đoài Lỗ, Sơn Lương, Khổng Tước, Đồ Thủy Năm Minh Mệnh thứ 12 (1831), trấn Hưng Hóa đổi thành tỉnh Hưng Hóa, năm Minh Mệnh thứ 14 (1833), đổi
sách thành xã (làng) và đặt tên tổng: huyện Yên Lập có 23 xã [3, tr 11]
Sau khi đánh chiếm nước ta, thực dân Pháp lập ra các tỉnh mới trên cơ sở chia cắt các tỉnh cũ thời phong kiến Năm 1903 chính quyền thực dân điều chỉnh địa giới tỉnh Hưng Hóa, chuyển tỉnh lỵ từ làng Trúc Phê (huyện Tam Nông) lên làng Phú Thọ
và sau đổi thành tỉnh Phú Thọ; còn các huyện miền núi trong tỉnh gọi là châu Châu Yên Lập trong thời kì Pháp thuộc có thay đổi vì có thêm, bớt một số làng Thời điểm năm 1903, châu Yên Lập có 3 tổng, 13 làng; năm 1931 có 1 phố, 3 tổng, 15 làng; năm 1939 có 16 làng Như vậy cho đến thời điểm này, châu Yên Lập giữ nguyên con
số 1 phố, 3 tổng, 16 xã, đó là tổng Đông Lỗ có 6 xã gồm Đoài Lỗ, Đông Phú, Phục
Cổ, Đồng Lạc, Đông Lỗ, Ngọc Lập; tổng Sơn Lương có 5 xã gồm Nga Mỹ, Sa Lung, Sơn Lương, Quế Sơn, Yên Sào; tổng Thượng Long có 5 xã gồm Đồ Thủy, Hạ Long,
Mộ Xuân, Thượng Khê, Thượng Long và phố Tân An (cụ thể xem phụ lục)
Từ sau cách mạng tháng Tám đến nay, huyện Yên Lập tiếp tục có một số thay đổi về đơn vị hành chính Sau khi đất nước được độc lập, nhà nước Việt nam quyết định xóa bỏ một số cấp trung gian như phủ, châu, tổng gọi chung là huyện, hợp nhất các làng nhỏ thành xã lớn Thực hiện chủ trương của chính phủ, châu Yên Lập đổi thành huyện Yên Lập; từ 16 xã cũ nhập thành 8 xã mới gồm xã Mỹ Lung, xã Minh Hòa, xã Ngọc Lập, xã Lương Sơn, xã Xuân Thủy, xã Thượng Long, xã Đồng Thịnh
và xã Phúc Khánh
Từ cuối năm 1953 đến đầu năm 1964, 8 xã của Yên Lập lại được chia thành 17
xã mới, trong đó xã Mỹ Lung chia thành 2 xã là Minh Hòa và Đồng Thịnh; xã Xuân Thủy chia thành 3 xã là xã Xuân An, xã Xuân Viên và xã Xuân Thủy Riêng xã Thượng Long chia thành 4 xã đó là: xã Thượng Long, xã Tân Long, xã Hưng Long
Trang 25và xã Trung Sơn; xã Đại La chia thành hai xã gồm xã Địch Quả (huyện Thanh Sơn)
và xã Ngọc Đồng Đến cuối năm 1964 xã Đồng Minh đổi tên thành xã Đồng Lạc
Về cấp huyện, ngày 05/7/1977, Hội đồng chính phủ ban hành quyết định số 178/CP về việc sáp nhập một số huyện thuộc tỉnh Vĩnh Phú, trong đó huyện Cẩm Khê hợp nhất với huyện Yên Lập và 10 xã của huyện Hạ Hòa thành lập huyện mới có tên là huyện Sông Thao Sau đó không lâu, ngày 22/12/1980 , Hội đồng Chính phủ ra tiếp Nghị quyết số 377/CP sửa đổi một số đơn vị hành chính cấp huyện của tỉnh Vĩnh Phú, trong đó chia huyện Sông Thao thành hai huyện như cũ là huyện Sông Thao và huyện Yên Lập Năm 1997 tỉnh Phú thọ được tái lập, huyện Yên Lập chính thức là một huyện trực thuộc tỉnh Phú Thọ cho đến nay Ngày 28/5/1997, Chính phủ ra Nghị định số 55/CP về việc thành lập thị trấn Yên Lập Phạm vi thị trấn bao gồm toàn bộ đất đai xã Tân Long Từ tháng 5 năm 1997, đơn vị hành chính huyện Yên Lập gồm
16 xã và 1 thị trấn Yên Lập Huyện lỵ: thị trấn Yên Lập, các xã: xã Mỹ Lung, xã Mỹ Lương, xã Lương Sơn, Xã Xuân An, xã Xuân Viên, xã Xuân Thủy, xã Trung Sơn, xã Hưng Long, xã Nga Hoàng, xã Đồng Lạc, xã Thượng Long, xã Đồng Thịnh, xã Phúc Khánh, xã Minh Hòa, xã Ngọc Lập và xã Ngọc Đồng
1.3 C ác thành phần dân tộc
Cũng như các huyện khác của tỉnh Phú Thọ, Yên Lập là vùng đất sớm có người Việt cổ đến sinh sống Các nhà khảo cổ đã phát hiện được ở một số địa phương trong huyện nhiều hiện vật bằng đồng, trong đó có trống đồng Tân Long, Đồng Thịnh, Ngọc Lập (loại II Hergơ) là những hiện vật thuộc thời đại hùng Vương Trên trống đồng có khắc hình người đánh trống, đánh chiêng, gõ mõ, nhảy múa và một số hình ảnh khác phản ánh cảnh sinh hoạt văn hóa của con người thời đó Trải qua hàng vạn năm, bằng bàn tay lao động và khối óc thông minh sáng tạo của mình, những cư dân sống ở Yên Lập ra sức khai phá đồi nương, dũng cảm chống chọi với thiên nhiên, thú dữ, giặc ngoại xâm để duy trì cuộc sống bảo vệ và xây dựng làng bản đông vui như ngày nay Chứng tỏ Yên Lập nằm trong địa bàn sinh tồn và phát triển liên tục của người Việt cổ trên đất nước ta Buổi đầu thưa thớt rồi sinh sôi nảy nở ngày một đông thêm Về sau lại tiếp nhận thêm các dòng người từ bốn phương tụ lại cứ như thế đến đầu thế kỷ XIX trên dải đất Yên Lập đã có nhiều tộc người cùng sinh sống Sự phân
Trang 26bố dân cư, dân tộc mang yếu tố xen kẽ, cao thấp khác nhau Sách Đồng Khánh địa dư
chí có ghi: “trong huyện dân số người Kinh, người Thổ xấp xỉ nhau Phong tục người
Kinh giống như các huyện khác Người Thổ thì quê mùa, chất phác, chỉ biết làm nghề
Nguồn: Phòng Dân tộc huyện Yên Lập, tính đến 31/10/2013
Bảng thống kê trên cho thấy, tại Yên Lập có nhiều dân tộc cùng sinh sống, trong
đó tập trung nhiều nhất là dân tộc Mường, Kinh thuộc nhóm ngữ hệ Việt - Mường, Dao thuộc nhóm ngữ hệ Hoa-Hán Các dân tộc ở đây cư trú thành nhóm khá rõ rệt
- Dân tộc Mường: Cư trú ở những thung lũng thấp, tương đối bằng phẳng
Hiện nay Mường là tộc danh chính thức, được nhà nước công nhận và sử dụng trong các văn bản pháp quy Nhưng trong đời sống và trong văn học dân gian, người Mường tự gọi mình là Mol, Mual, Mul hoặc Mon…tùy cách gọi từng địa phương Mol, Mual, Mul, Mon đều có nghĩa là người Các nhà nghiên cứu thống nhất cho rằng người Việt và người Mường có gốc “ Việt - Mường” chung trước khi trở thành người
“Việt” và người “Mường” sau thời kì Bắc thuộc Tiếng Mường thuộc nhóm ngôn ngữ
Việt - Mường (ngữ hệ Nam Á), rất gần với tiếng việt Theo sách Địa chí Vĩnh Phú
Văn hóa dân gian vùng Đất Tổ viết như sau: “Người Mường và người Việt vốn có
những quan hệ rất gần gũi nhau về văn hóa, tiếng nói và đều là con cháu người Lạc Việt Người Lạc Việt có bộ phận sống ở đồng bằng, có bộ phận sống ở miền núi Bộ
Trang 27phận người Lạc Việt ở đồng bằng đông hơn, có những điều kiện phát triển kinh tế văn hóa thuận lợi hơn, nên đã hình thành dân tộc Việt hiện đại, phân hóa với bộ phận
người Lạc Việt sống ở miền núi, tức là người Mường hiện nay”.[31, tr 40]
Yên Lập là địa bàn sinh tụ của 16 dân tộc với tổng dân số là 88.271 người được phân bố ở 223 khu dân cư của 17 xã, thị trấn trong huyện; trong đó dân tộc Mường là 59.821 người, chiếm 67,77%, còn lại là người Kinh, người Dao và các dân tộc khác Có những xã chiếm hơn 90% dân số là người Mường như xã Ngọc Lập, xã Minh Hòa
Vậy người Mường có mặt ở Phú Thọ từ bao giờ? Có ý kiến cho rằng từ đời Trần (thế kỷ XIII) người Mường mới di cư đến Phú Thọ làm ăn sinh sống Ý kiến
này căn cứ vào các bộ sử như Đại Việt sử kí toàn thư, Việt Sử thông giám cương
mục trong đó có ghi về cuộc kháng chiến chống quân Mông - Nguyên với sự tham
gia của các thủ lĩnh dân tộc thiểu số như Hà Đặc, Hà Bổng Trong khi chờ đợi những kết quả nghiên cứu mới, thì ý kiến về sự có mặt của người Mường vào thế
kỷ XIII trên cơ sở tài liệu thư tịch cổ là hoàn toàn có thể chấp nhận được Song đâu là quê hương gốc của người Mường Theo một câu chuyện sưu tầm được ở Thanh Sơn thì cách đây vài trăm năm tại một địa phương của tỉnh Hòa Bình, có
mở hội xuân thi tài tập luyện cho binh lính để bảo vệ dòng Lang của bản Mường Trong buổi thi tài đó, người em là Đinh Công Dũng đã thể hiện tài nghệ xuất sắc của mình được dân trong vùng quý mến Người anh là Đinh Công Hùng lo sợ sau này bị chiếm mất địa vị nên có ý định hại em Nhưng vợ của Hùng vì thương em chồng, đã tìm cách báo cho Dũng Dũng biết không thể nào ở lại với anh nên tìm cách đi tới một vùng đất khác Hôm ra đi Dũng đánh ba hồi cồng rồi nói với dân trong làng xóm ai muốn theo mình thì đi và sẽ đến một vùng đất mới để gây dựng bản làng Hưởng ứng lời kêu gọi của Dũng, dân làng đã đi theo Họ lên đường từ Mường Bi, Mường Thàng đến miền Phương Lâm (nay thuộc Kỳ Sơn, Hòa Bình) bèn nghỉ lại và đi săn bắn Dũng ngắm thấy núi Ba Vì hùng vĩ, Sơn thủy hữu tình, nên đã chuyển đến xóm Ba Trại (Ba Vì, Hà Tây) sinh cơ lập nghiệp Nhưng lại thấy bên kia sông Đà đất rộng, có vẻ phì nhiêu bèn dẫn đoàn người vượt sông Đà đến xóm Giai xã Cự Thắng rồi đến xóm Đồng Rê (nay là xã Tất Thắng) Từ đó họ
Trang 28sinh cơ lập nghiệp ở đây, sau này là xóm Chiềng xã Tất Thắng Nhớ ơn người có công đầu tiên, người ta dựng đình để thờ tổ tiên dòng họ Đinh, việc lập đình để thờ như vậy còn thấy ở xã Cự Thắng:
“Thủy nguyên thành tích Cao Phong động
Sơn thạch tài bồi Cự Thắng sinh”
Như vậy một bộ phận quan trọng của người Mường vốn có quê hương xưa là động Cao phong vùng Mường Thàng huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình Trước đây, và một phần nào cho đến ngày nay, người Mường ở Thanh Sơn vẫn có mối quan hệ bà con đi lại thăm hỏi đồng bào Mường ở Hòa Bình Còn cư dân Mường Yên Lập, theo truyền lại một bộ phận từ vùng Cự Thắng, Tất Thắng, huyện Thanh Sơn sang, còn số khác là ở Tu Lý, Hiền Lương (Đà Bắc, Hòa Bình)
Tóm lại người Mường đã có mặt ở Phú Thọ từ lâu và quá trình di cư diễn ra trong một thời gian khá dài mà Hòa Bình vốn là quê hương gốc của họ Nhiều thế kỷ trôi qua, cư dân Mường không chỉ tăng nhanh về dân số mà còn trải qua nhiều biến đổi do nhiều yếu tố tác động của môi sinh, lịch sử đã tạo nên những sắc thái văn hóa riêng thể hiện ở nhiều mặt như nếp sống, phong tục tập quán…nhưng vẫn giữ được nét chung của văn hóa Mường
- Dân tộc Dao: Người Dao là một trong 54 dân tộc anh em sinh sống ở Việt
Nam, với nhiều nhóm khác nhau, cư trú tại các bản động vùng sâu, vùng xa thuộc nhiều vùng miền khác nhau của tổ quốc, trong đó có nhóm Dao Tiền và Dao Quần Chẹt định cư ở Phú Thọ Theo các nhà nghiên cứu dân tộc học, người Dao cư trú ở Phú Thọ được di cư từ các tỉnh miền nam Trung Quốc: Hồ Nam, Quảng Đông, Quảng Tây và Vân Nam bằng đường thủy từ thế kỷ XIII đến thế kỷ XIX “Dao Quần Chẹt và Dao Tiền, hiện nay ở Vĩnh Phú, Hà Tây, Hòa Bình, Yên Bái và Tuyên Quang
đã từ Quảng Đông vào Quảng Yên rồi tới những địa điểm trên Câu chuyện vượt biển này được viết thành một cuốn “sử thi” có nhiều tình tiết lâm li nay còn được lưu
truyền rộng rãi trong nhân dân Dao” [10, tr 23] Cuộc thiên di của người Dao từ
Trung Quốc vào Phú Thọ có lẽ là cuộc thiên di tập trung, có tổ chức nhất mà dấu tích còn để lại trong tín ngưỡng, phong tục tập quán và qua những bản gia phả mà người Dao đương đại nhiều lần được đọc hoặc được nghe, nhìn ở các huyện Thanh Sơn, Yên Lập, Tân Sơn Người Dao ở địa phương, các dân tộc khác gọi người Dao bằng
Trang 29những tên gọi khác như: Mán, Động, Xá…Tên “Động” dùng phổ biến ở vùng Đông Bắc Tên “Xá” thấy ở vùng Tây Bắc Còn tên tự gọi của người Dao là “Kiềm Miền”:
“Kiềm” (Kìm, Kiềm) có nghĩa là “Rừng” và “Miền” (Mùn, Mửn) có nghĩa là
“Người” Như vậy, “Kiềm Miền” có nghĩa là “Người Rừng” Tên gọi này chỉ là một cái tên phiếm xưng, vì những người sống ở rừng rất nhiều không riêng gì người Dao
Về nguồn gốc của người Dao thì trong cộng đồng dân tộc Dao vẫn còn lưu truyền rộng rãi câu truyện Bàn Hồ Bàn Hồ không chỉ là câu truyện truyền khẩu, mà nó còn được ghi khá chi tiết trong các cuốn bảng văn và trong các cuốn sách cúng của người Dao Người Dao cư trú ở tây bắc Bắc Bộ, đến Việt Nam vào khoảng thế kỷ XIII và đi theo đường bộ Còn người Dao ở Đông Bắc Bắc Bộ và một số tỉnh trung du cũng bắt đầu đến Việt Nam vào khoảng thế kỷ XIII cho đến thế kỷ XX, họ đi bằng đường thủy
là chủ yếu Có nhiều nguyên nhân, thời gian và luồng di cư khác nhau Nguyên nhân chủ yếu là do sự chèn ép, áp bức của chế độ phong kiến Trung Quốc, các cuộc chiến tranh phong kiến liên miên Ngoài ra là nạn hạn hán, thiên tai, mất mùa… Khi định
cư ở Việt Nam, họ có nhiều tên gọi khác nhau: Dao Nhân, Kiềm Miền, Cần Đông, Cần Khau, Cần Téo Chèn…
Dân số người Dao ở Phú Thọ chỉ đứng thứ hai sau người Kinh và người Mường Đến nay 12/13 huyện, thị, thành có người Dao sinh sống Song chỉ có ba huyện Thanh Sơn, Tân Sơn, Yên Lập có người Dao sinh sống tập trung thành xóm bản Tại huyện Yên Lập, theo số liệu của phòng Dân tộc huyện cung cấp tính đến ngày 31/10/2013, số người Dao sinh sống trên địa bàn huyện là 3.990 người, tương đương 4,52% dân số toàn huyện
Dựa theo tiêu chí ngôn ngữ, tộc người, đặc điểm văn hóa và ý thức tự giác tộc người, các nhà nghiên cứu đã khẳng định: người Dao ở Phú Thọ hiện chỉ có mặt hai nhóm nhỏ trong một nhóm lớn Đó là người Dao Tiền thuộc nhóm Tiểu Bản và người Dao Quần Chẹt thuộc nhóm Đại Bản Nhóm Dao Tiền còn có tên là Dao đeo tiền hay Tiểu Bản Người Dao Tiền tâp trung cư trú ở 28 bản động vùng cao của huyện Thanh Sơn “Còn người Dao Quần Chẹt còn có tên là Mán Sơn Đầu, Dao Nga Hoàng, Đại Bản hay Dao Tam Đảo Trang phục nữ nhóm này có đặc điểm rất dễ nhận là quần ống hẹp, bó sát vào chân Trước đây nữ Dao Quần Chẹt còn có tục chải đầu bằng sáp ong, nên có tên là Mán Sơn Đầu Ở Hòa Bình, Sơn Tây và Phú Thọ, Dao Quần chẹt
Trang 30có tên là Dao Tam Đảo vì trước khi đến cư trú ở những địa phương trên, họ đã ở núi Tam Đảo ( Vĩnh Yên) Ở Yên Bái và Tây Bắc họ có tên là Dao Nga Hoàng vì trước
họ ở xã Nga Hoàng, huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ” [31, tr 42] Người Dao Quần
Chẹt tập trung cư trú tại 19 bản động vùng cao thuộc 8 xã của huyện Yên Lập là xã Nga Hoàng, xã Trung Sơn, xã Xuân Thủy, xã Xuân An, xã Mỹ Lương, xã Mỹ Lung,
xã Thượng Long, xã Đồng Thịnh Trình độ canh tác của người Dao ở Yên Lập còn thấp, nghề phụ không phát triển, chưa biết tận dụng khả năng của đất
- Dân tộc Kinh: Sống xen kẽ với các dân tộc khác trong huyện, họ sống ở
những khu vực trung tâm của xã, huyện Từ thế kỷ X trở đi đã có nhiều đơt, nhiều dòng người nhập cư vào Phú Thọ
Từ năm 980 đến năm 1905, vua Lê Đại Hành cho con thứ tư là Ngự man vương Long Đĩnh lên trấn giữ Phong Châu
Tháng 3 năm 1036, vua Lý Thái Tôn đem công chúa Kim Thành gả cho châu mục châu Chân Đăng Khoảng năm 1060, vua Lý Thánh Tông gả công chúa Ngọc Kiều cho châu mục châu Chân Đăng
Mỗi lần như vậy là một lần thê tử, gia nhân, quân lính đi theo, ngụ cư lâu dài rồi trở thành người địa phương
Mùa xuân năm 1044, nhà Lý đem quân đi đánh Chiêm Thành bắt được 5000 người, đem về cho ở châu Chân Đăng, đặt hương ấp theo tên của người Chiêm, làm ruộng quốc khố của nhà vua Số người này sau cũng trở thành người địa phương
Thời nhà Trần, nhiều vương hầu công chúa được phong đất ở các nơi Công chúa Thiên Thụy được ban thái ấp ở hương Bạch Hạc Công chúa và gia nhân cùng nhiều nông dân miền xuôi đã lên đây vừa cai quản vùng đất được phong vùa phát triển sản xuất Đến thời nhà Nguyễn, người Kinh ở các tỉnh miền xuôi lên Phú Thọ ngày một nhiều Đến thời Pháp thuộc Yên Lập vẫn là nơi đất rộng người
thưa “ở đây mỗi km vuông có 30 người là cùng” [7, tr 6] nên thống sứ Bắc kỳ là
Sa-ten đã cho di dân các làng Thái La huyện Vụ Bản, Thôi Ngôi, Vị Nhuế phủ Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định di dân lên châu Yên Lập, lập thành một ấp riêng, gọi
là ấp Trung Bằng “ ấp này ở phía bắc châu lỵ, cách 4km Từ châu lỵ đến đây phải
đi chân hay đi ngựa Trong ấp có 40 gia đình, 80 dân đinh, 180 nhân khẩu, kể cả nam, phụ, lão, ấu Các di dân đó ở vào một xóm trong làng Hạ Long này, vốn có
2000 mẫu đồi hoang, đất tốt tỉnh Phú Thọ dành riêng cho di dân [7, tr 14]
Trang 31Sau cách mạng tháng Tám, khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Phú Thọ được đón nhiều đồng bào thủ đô và các tỉnh miền xuôi tản cư lên, đến ngày thắng lợi, một số đã an cư lạc nghiêp không hồi hương nữa mà ở lại làm dân Phú Thọ
Hiện nay người Kinh ở Yên Lập đứng thứ 2 về dân số sau người Mường Theo thống kê cuối năm 2013 của Phòng Dân tộc huyện Yên Lập, số người Kinh là 23.907 người, tương đương 27,08% dân số toàn huyện Người Kinh sống rải rác khắp các địa bàn trong huyện, nhưng thường tập trung ở những khu vực trung tâm
Tóm lại, dù là người dân bản địa hay dân nhập cư, dù là người miền xuôi hay miền ngược nhưng khi cùng chung sống các dân tộc đã hòa đồng, quần tụ bên nhau tạo nên nét văn hóa đặc sắc, đa dạng phong phú
1.4 Khái quát tình hình chính trị - xã hội huyện Yên Lập
- Chính trị
Nhà Nguyễn được thiết lập năm (1802) đã nhận xét Bắc Hà là đất cũ của triều
Lê, phần lớn có dòng họ thổ tù, lang cun, lang đạo ở các trấn biên giới phía Bắc vẫn chịu nhiều ân sủng của nhà Lê Vì vậy Gia Long tuyên bố khẩu hiệu “Phù Lê” và phong cho con cháu nhà Lê làm diêm trợ công Ngoài ra Gia Long còn miễn thuế cho các phiên thần khai quốc thời Lê Các chính sách này nhằm ngăn chặn những cuộc nổi dậy hay chống đối của các phiên thần nhà Lê Khoảng 20 năm đầu thế kỷ XIX, nhà Nguyễn tiếp tục duy trì chế độ phiên thần cho các thổ tù biên giới đối với nhà nước, được gọi là thổ quan Năm 1802, các phủ, huyện, châu, thổ dân ở Hưng Hóa, Quảng Yên, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Lạng Sơn lấy quan người quản lãnh Trong
bộ máy chính quyền Gia Long còn đặt chức Man Phủ Sứ để chuyên trách công việc phủ dụ lôi kéo các tộc người miền núi
Năm 1820, Minh Mệnh lên kế tục sự nghiệp, một mặt ông tiếp tục duy trì chính sách của vua cha, mặt khác tăng cường sự kiểm soát của chính quyền trung ương đến địa phương đặc biệt là những vùng biên cương mà Yên Lập là một bộ phận không thể không chú ý
Nếu như đầu thời nhà Nguyễn vẫn duy trì chế độ “phiên thần”, thổ quan thì giờ đây Minh Mệnh từng bước xóa bỏ chế độ này và thực hiện biện pháp người Kinh
và người Thổ cùng cai trị Năm 1821, Minh Mệnh nghị chuẩn cho tạm đặt các chức cai châu biên giới Những chức này triều đình cho phép các quan đứng đầu trấn chọn người có năng lực ở địa phương đảm nhiệm
Trang 32Đến năm 1829, Minh Mệnh ban hành chính sách khá cứng rắn đối với tầng lớp thổ tù: Trong thành hạt theo công việc nhiều hay ít, dân số đông hay thưa nên đặt thổ tri châu, tri huyện, huyện thừa, lại mục thì định rõ ràng Không cứ thổ ty, hào mục cứ trong hạt ai là người có trách nhiệm, tài năng cần cán, vốn được nhân tin phục thì chọn cử tâu lên, không được theo trước xưng là tập quản Việc phân định chức vụ theo số dân hết sức rõ ràng: “đinh từ 5.000 người, ruộng từ 500 mẫu trở lên thì đặt 1 Thổ tri châu, huyện đặt 1 Thổ tri huyện cùng thổ lại mục đều 1 người: đinh từ 100 người, ruộng từ 100 mẫu trở lên thì đặt 1 Thổ tri châu, huyện đặt 1 Thổ huyện thừa;
đinh điền không đủ 100 thì đặt 1 thổ lại mục” [22, tr 862]
Năm 1831, Minh Mệnh giải thích rõ ràng việc bãi bỏ chế độ thổ ty thế tập ở các trấn biên giới vì: “Lệ thế tập đời xưa là để đền công nhưng con cháu công thần, nếu có người hư hỏng triều đình cũng phải truất bãi thì lại thương tổn đến ân điển Ví như nhà Hán phong tước hầu chỉ vạch núi thề sông mà thề nhưng mới chỉ vài đời chỉ còn ba, bốn người thì sách thề cũng chỉ là hão Chẳng gì bằng luận công phong tước cho công thần ấy, còn con cháu thì tùy tài chức, thế là giữ cho trọn vẹn cứ gì phải thế tập mới là đền công” [23, tr 224]
Có thể nói đây là cuộc cải cách lớn chia đặt các đơn vị hành chính ở địa phương trong phạm vi cả nước Minh Mệnh coi cuộc cải cách này “là một phen quy hoạch lớn lao khiến cho nước nhà có phên dậu giữ gìn, yêu nước thái sơn
Dưới tỉnh là phủ, huyện, châu và tổng, xã Chính quyền tổng - xã được tổ chức chặt chẽ nhằm đảm bảo quyền lực nhà nước và giải quyết những khó khăn một cách kịp thời
Đối với các châu miền núi, tri châu thường do các tù trưởng, thổ tù, lang đạo quản lãnh Ở miền thượng du, tình hình chính trị thường không ổn định nên các vua
Trang 33Nguyễn cử quan lại người Kinh lên, có nhiệm vụ chủ yếu là đề xuất việc thu thuế, dò thám và đàn áp âm mưu phản loạn Một số tù trưởng trung thành ở các địa phương xa xôi hiểm yếu được triều đình dựa vào và ban cho quyền hạn đặc biệt, phong làm ngự
sử Bên cạnh đó thường đặt một viên quan kinh gọi là chiêu thảo sứ hoặc man phủ sứ Các chức này gọi là Lưu quan Ông cho rằng đây là một biện pháp tích cực mà quyền hành nặng nhẹ kiềm chế lẫn nhau, chức tước lớn nhỏ rằng buộc lấy nhau thực chất là một chính sách hay trong việc trị dân, nếu mô phỏng mà làm thì nhiều lợi lắm [43, tr 157-158]
Sau đó vua lại ra chỉ dụ: Các thổ châu, huyện ở Hưng Hóa, Tuyên Quang,
Thái Nguyên, Lạng Sơn, Cao Bằng cho chọn bổ lưu quan, vì trước đây có vụ Nông Văn Vân châu huyện ở các tỉnh còn nhiều chỗ khuyết, nên không thể không đặt những viên chức sung vào, chứ không phải muốn đổi thổ quan và cho theo về lưu quan, nhất nhất theo y phong tục kinh đâu Chẳng những trong bọn thổ quan, những người quy thuận, hết lòng trung, yên phận mình, giữ phép nước, đều chuẩn cho vẫn
để giữ chức, mà cả đến thổ ty, thổ mục, hễ ai một dạ trung thành, kính cẩn, không có điều gì khác, cũng sẽ được tùy tài cất dùng, không sao cả Nay người Kinh, người Thổ cùng ở xen nhau, chính mong rằng lâu ngày, người Thổ sẽ tiêm nhiễm thói tục người Kinh, được hun đúc theo đường thiện, cùng hưởng phúc thái bình Các đốc phủ, bố, án ở Thượng Ty cũng nên để tâm răn bảo rõ lại, không nên sinh sự yêu cầu
hà khắc, cũng không nên hờ hững không quan tâm Nếu lưu quan thuộc tỉnh hạt mình
có xảy ra tình tệ nhũng nhiễu gì thì phải lập tức nghiêm ngặt tham hặc, không được tư
vị che đậy chút nào, quyết không nên coi nhau như kẻ Tần người Việt, làm ngơ như
không nghe thấy [24, tr 633-634]
Có thể nói chính sách Lưu quan đã đem lại những hiệu quả thiết thực thể hiện được sức mạnh của triều đình từ trung ương đến địa phương đặc biệt là góp một phần
để bình ổn biên cương đất nước Tuy nhiên chính sách này đã đụng chạm tới những quyền lợi của các thổ tù, tù trưởng Vì vậy nó vấp phải sự chống đối của một số tù trưởng mà nổi bật là Nông Văn Vân nên chế độ Lưu quan không phải được thực hiện ngay trong một lúc trong tất cả các địa phương miền núi khu vục phía Bắc mà phải trải qua nhiều giai đoạn khác nhau
Trang 34Đến năm 1838, chế độ Lưu quan mới được thực hiện triệt để Những viên Lưu quan này nằm trong bộ máy quan lại thống nhất, đại diện cho triều đình để quản đất, quản dân, thu tô thuế và bắt lính, lao dịch Tuy nhiên đến thời Thiệu Trị năm 1844, nhà Nguyễn vẫn phải cho đặt lại chức thổ quan ở các châu huyện biên cương phía Bắc, phải đến thời Tự Đức thì việc đặt thổ quan mới bị bãi bỏ trong cả nước
- X ã hội
Trước cách mạng tháng Tám 1945, xã hội người Mường nằm trong khuôn khổ một xã hội có đẳng cấp, trong đó mỗi con người được chính danh định phận chặt
chẽ Quý tộc Mường gọi là Lang, bình dân gọi là Dân Cai trị mường là nhà Lang cha
truyền con nối, gồm Lang cun (dòng trưởng), Lang đạo (dòng thứ) Cun ở xóm lớn nhất và xóm trung tâm, trực tiếp thu cống nộp, phu phen (xâu) Các lang đạo cai trị và hưởng quyền lợi ở các xóm còn lại và nộp lại cho Cun một ít sản phẩm vào ngày xâu nhất định Nhà lang nắm quyền phân chia ruộng đất cho mọi thành viên, nhưng không được biến thành của riêng ai Bản thân lang thường xí phần ruộng tốt và nhiều hơn dân Cũng có những gia đình không nhận ruộng, sống bằng nương rẫy hoặc nghề khác gọi là “nóc trọi” Lang sử dụng nhân công đi xâu vào các việc cầy cấy ruộng, làm nhà cửa, làm đường xá Lang phải có thái độ tôn trọng dân và phải khoản đãi khi nhà lang có việc nhờ dân Lang phải tuân theo tục lệ của mường như ngồi uống rượu cần ngang hàng với dân, con gái chửa hoang phải nộp vạ…Dân có quyền phế truất một lang kém đạo đức và đón lang tốt đến thay Thiết chế xã hội trong xã hội cổ
truyền ở người Mường nói chung là xóm và mường Mường là tổ chức xã hội trên
xóm và là tổ chức xã hội lớn nhất của người Mường, dùng để chỉ một địa vực cư trú, một vùng dân cư, hay để chỉ địa vực cai quản của một lang cun, lang đạo hay thổ tù nào đó Cũng giống như các vùng mường khác, tổ chức mường của người Mường tỉnh Phú Thọ không quy định phạm vi lớn bé và có bao nhiêu xóm hợp thành Nhưng điểm khác biệt ở tổ chức mường của người Mường tỉnh Phú Thọ đó là không có mường lớn bao trùm lên các mường nhỏ hơn như ở Thanh Hóa hay Hòa Bình, mà chỉ
có các mường do nhà lang quản lý trực tiếp đến các xóm Xóm là tổ chức xã hội dưới mường, là tập hợp dân cư thành cộng đồng theo một địa vực nhất định Mỗi xóm chỉ
Trang 35khoảng vài chục nóc nhà và đều có một con đường đất chạy thẳng qua giữa làng Trong xóm thường có nhiều dòng họ sinh sống, nhưng bao giờ cũng có một dòng họ
là hạt nhân, dòng họ ấy có thể chiếm tới một nửa hoặc quá nửa số nóc nhà trong xóm
Về tổ chức làng xóm, người Mường sống dưới chế độ dường như là tiền phong kiến, mỗi làng có một Thổ Tù, mỗi xóm có một Thổ Lang Những người này có thể coi như những chúa đất địa phương Họ được gọi là quan Lang Quyền hành cha truyền con nối Ở đó hình thành một bộ máy quản lý điều hành theo luật tục, mọi thành viên trong cộng đồng xóm, mường phải tuyệt đối tuân thủ Nơi cư trú của người Mường gọi là “quêl” hoặc xóm Quêl hay xóm đều có nghĩa là “làng” Làng là đơn vị xã hội
cơ sở của xã hội Mường gồm nhiều tiểu gia đình phụ quyền mà tế bào gia đình là cha
mẹ và con cái, trong đó quyền thế tập thuộc về con trưởng Khu vực đất đai thiên nhiên chung của làng đã được xác lập một cách bền vững, ngoài đất ở là đất sản xuất
và núi rừng được các thành viên của làng biết rõ, các thành viên của làng khác tôn trọng Ruộng đất của làng nào thuộc quyền quản lý của làng đó Người dân của làng này không thể sản xuất cũng như thu hái lâm thổ sản trên rừng của làng khác Người
di cư đi nơi khác không còn có quyền lợi về đất đai ở làng cũ Xưa kia hiếm thấy hiện tượng xâm chiếm đất đai giữa các làng ở liền kề nhau Luật tục Mường quy định: người làng khác đến bắn thú, nếu con thú trúng đạn, phải chia một nửa phía nằm dưới đất cho nhà Lang ở làng đó Hoặc một người làng khác bắt gặp một đàn ong làm tổ trên mặt đất, được quyền chiếm làm của riêng nhưng phải biếu Lang một ít sâu, lấy ở tầng dưới cùng trong lòng đất Những hiện tượng này phải chăng là biểu hiện của quyền chiếm hữu đất đai mà đại diện thuộc về nhà Lang
Cấu trúc bên trên của làng và xóm của người Mường trước kia cũng là Châu
và Tổng: châu Yên Lập có 3 tổng, 14 làng Xa xưa hơn nữa, cấu trúc xã hội vùng Mường Phú thọ được chia thành những sách…tùy theo cách chia và tên gọi đơn vị hành chính của các triều đình phong kiến nước ta
Việc quản lý ở làng xưa là Thổ Lang hay còn gọi là Lang Họ là anh em ruột thịt của dòng họ Ngài thuộc nghành thứ Giúp Thổ Lang hay Lang có Khán làm nhiệm vụ liên lạc Mọi công việc của Thổ Lang trong quản lý làng đều phải xin ý kiến Ngài và hằng năm Thổ Lang phải có nghĩa vụ đóng góp lễ vật cho ông ta Khi
Trang 36bố mẹ Ngài chết thì các Thổ lang phải chịu tang như cha mẹ mình Ngoài các chức
vụ trên đây trong hệ thống tự quản của làng còn có người già, các chủ gia đình, các trưởng họ
Mường là đơn vị tổ chức xã hội, tập hợp nhiều xóm (làng) trong cùng một thung lũng hay nhiều thung lũng liền kề nhau Đơn vị tổ chức này đặt dưới sự cai
quản của một dòng họ quý tộc mà người Mường vẫn gọi là nhà Lang Tầng lớp thống
trị Nhà Lang tập hợp thành những dòng họ phụ hệ, mỗi dòng họ chiếm lĩnh một mường Mỗi dòng họ tự phân biệt với các dòng họ khác không chỉ bằng mường mà
họ chiếm lĩnh mà còn bằng một tên họ (Đinh, Quách, Bạch, Hà, Hoàng…) Tầng lớp
bị trị thường có chung một tên họ là Bùi Như vậy, Bùi, thực ra không còn là tên họ nữa mà vô hình chung đã trở thành tên chỉ tầng lớp bị trị Dân Mường đương nhiên chịu sự thống trị của nhà Lang
Tổ chức bộ máy thống trị trong từng mường do nhà Lang thiết lập theo thể thức: con trai cả của chi nhánh cả trong dòng họ nhà Lang trên danh nghĩa quản toàn
mường dưới danh hiệu Ngài hoặc Thổ tù Mặc dầu trên thực tế ông ta chỉ trực tiếp
quản một số làng ở trung tâm mường mà người ta gọi là chiềng Giúp việc cho họ là một vài người thân tín Để duy trì quyền lợi, nhà Lang đề ra các quy định và quản lý dân theo các quy định đó Hằng năm nếu nhà Ngài hoặc Thổ tù có việc lớn như cưới xin, làm nhà dân trong mường phải có nghĩa vụ đến giúp Nếu làm nhà mới thì dân trong mường tự giác mang tre, nứa, lá cọ đến nộp cho nhà Lang Nhà Ngài cưới vợ,
gả chồng cho con gái, con trai thì dân mường có nghĩa vụ đến làm mọi việc phục dịch cho đám cưới, đồng thời tùy theo khả năng của mỗi gia đình mà có thể mang một, hai con gà hoặc vài lít rượu, một tấm vải gọi là góp cho nhà Ngài Trong trường hợp nếu nhà Ngài hoặc Thổ tù có bố, mẹ chết thì dân trong mường phải đến lo giúp việc chôn cất Nếu Ngài không may qua đời, trước hết các Lang xóm (làng) đều phải đến chịu tang như chính bố mẹ mình chết, ngoài ra họ còn phải đóng góp cho lễ tang Ngài Dân thường tùy theo khả năng của mình mà mang lễ vật gà hoặc gạo đến giúp đỡ nhà Ngài Mỗi khi trong làng, trong mường có gia đình nào làm nhà mới, tổ chức đám cưới hoặc có tang đều phải mời Ngài đến dự và khi ra về Ngài được biếu quà Dân có việc mổ trâu, bò, lợn cũng phải biếu Ngài một vai Săn được thú rừng cũng phải đem
đến biếu Ngài theo thể thức: “vác tru, lu nai”(trâu nộp vai, nai nộp đùi) Về ruộng
Trang 37đất, Ngài là người có nhiều ruộng đất nhất trong vùng Ruộng của ngài như người xưa nói, trâu kéo cày đến đâu ruộng Ngài đến đó, khi trâu kéo đứt chạc mới hết ruộng Ngài Điều này chứng tỏ Ngài là người chiếm nhiều ruộng đất nhất trong vùng Trước đây ruộng của ngài là do dân trong mường làm, toàn bộ sản phẩm thu hoạch được đều thuộc về Ngài, người dân chỉ được ăn một bữa hôm cày cấy
Nhà lang nói chung vẫn là những người giàu và có uy quyền Sự giàu có và uy quyền thể hiện ở số trống đồng và vạc đồng mà nhà lang chiếm giữ Chiếc trống đồng gia truyền quan trọng nhất, là linh hồn của nhà lang, phải chôn giấu kĩ, mất nó coi như dòng lang lụi bại
Cách cai trị của nhà lang, cũng như quyền lợi mà nhà lang được hưởng cũng
đã được ghi đầy đủ trong bản chúc thư của thổ lang Đinh Thế Thọ ở xã Tân Lập huyện Thanh Sơn viết vào thời hậu Lê quy định rõ 13 lệ của bản thôn đối với lang, đồng thời cũng cho thấy thiết chế chính trị của người Mường xưa là chế độ tự trị, cha truyền con nối, chế độ công xã làng chạ cổ xua
“ Thổ lang Đinh Thế Thọ thời Hậu Lê khắc chúc thư vào cuốn sách bằng đồng
lá, quy định 13 lệ như sau:
- Lệ lợp nhà: đầu tiên đến dân bản phải góp một con lợn, một con trâu, 4 thúng cơm, 10 hũ rượu
- Lệ thổ lang làm nhà ở: bản quê chung nhau phân bổ lợn một con, rượu 2 vò Khi hoàn thành xong xuôi tốt đẹp thì trâu một con, rượu 2 vò, gạo nếp 40 đấu cho bản quê ăn uống
- Lệ rào nhà thổ lang: bản thôn đem đến nhà thổ lang lợn một con, cơm 2 thúng, rượu 5 vò
- Lệ cày cấy ruộng hương hỏa: lợn một con, rượu cơm đủ dùng do bản thôn phải mang đến
- Lệ thổ lang có ruộng cấy lúa giống 2 thửa, mỗi vụ cấy hết 1800 con mạ, dân bản phải cấy
- Lệ bản thôn phải cử hai người nhiêu nhân hầu hạ do thổ lang chọn cắt lấy
- Lệ theo hầu thổ llang hai người
- Lệ thổ lang hàng năm vào ngày 16 tháng 11 cùng giỗ tổ tiên cùng ăn uống
- Lệ thổ lang sinh con trai lấy vợ: bản quê phải góp một con trâu, 10 vò rượu,
Trang 38- Hàng năm ngày 2 tháng 12 cầu phúc ở đình, lệ có hát xướng 3 chiều, thổ lang
1 chiều, ở đình 2 chiều, rước đi và về không được thiếu
- Lệ núi rừng thuộc địa phận quan lang: hễ ai săn bắt được chim thú phải biếu quan lang một vai liền chân không được thiếu (Đây nói khoảnh rừng của lang được chia chứ không phải toàn bộ rừng trong mường bản) [6, tr.35]
Ngài còn là người đứng đầu về mặt tôn giáo, dân coi ông là người đại diện cho mình tiếp xúc với thần thánh, vì thế trong nhiều nghi lễ của mường, xóm (làng) nhất thiết phải có mặt Ngài Lễ cầu cúng thành hoàng ở đình hàng năm cũng vậy Vào ngày
mùng 10 tháng giêng hằng năm, người Mường có lễ “Mở cửa rừng”, ngày đó Ngài đứng
ra hành lễ, sau lễ này dân làng mới được làm nương, cày cấy và săn bắn Hay trong lễ Hạ điền, nhà lang phải cấy trước sau đó dân làng mới được cấy Ngoài ra trong xã hội mường cổ truyền còn có các mối quan hệ láng giềng, dòng họ; uy tín và vị trí của các dòng họ trong mỗi mường phụ thuộc vào nề nếp, gia phong của dòng họ đó, quan hệ hôn nhân cũng phụ thuộc vào yếu tố này rất nhiều
Nhà Nguyễn sau khi thành lập phế bỏ chế độ lang đạo, đặt quan lại lên cai quản gọi là chế độ “lưu quan”, liền sảy ra sự chống đối như khởi nghĩa của Lê Duy Lương ở Hòa Bình Về sau vua Minh Mạng lại khôi phục chế độ lang đạo Đặc biệt khi bắt được người cầm đầu nhà nguyễn chỉ phủ dụ mà không thấy giết Sau này nhà Nguyễn vẫn đặt thêm chức lý trưởng, chức này vẫn sau lang cun Sau khoảng 3 năm thì bầu lại lý trưởng, lý trưởng phải được sự phê chuẩn của lang cun
Qua tìm hiểu thì thấy rằng thiết chế xã hội của người Mường ở Phú Thọ theo kiểu xóm, mường nhưng không có các mường nhỏ dưới quyền mường lớn Quan hệ giữa tầng lớp quý tộc thống trị với tầng lớp bị trị cũng rất rõ ràng, bộ máy cai trị của Thổ tù trong mường ở Phú Thọ được tổ chức đơn giản hơn, họ không có nhiều người giúp việc (các ậu) như ở Hòa Bình, Thanh Hóa Việc phân định dòng họ nhà lang
Trang 39không khắt khe như những mường ở nơi khác
Tóm lại, điểm nổi bật nhất trong xã hội vùng mường xưa là sự tồn tại của chế
độ nhà Lang
Người Dao thì có mán mục (chánh tổng), động trưởng, giáp trưởng Do điều kiện sinh sống phân tán và xen kẽ với các dân tộc khác nên xã hội của họ thường bị phụ thuộc
Tiểu kết: Yên Lập là một huyện miền núi nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Phú
Thọ Do đặc điểm địa hình với 3/4 diện tích toàn huyện là đồi núi, nên Yên Lập có diện tích rừng rộng lớn với các nguồn lợi từ rừng rất phong phú: các loại cây gỗ quý như nghiến, lát, chò chỉ, táu, sến, các loại cây nguyên liệu cho nghề thủ công đan lát như tre, nứa, giang, trúc, mây, song, các loại cây hương liệu như quế, sa nhân, nấm hương, mộc nhĩ…Đồng bào khai phá đất ven đồi, thung lũng, soi bãi để phát triển cây lương thực, cây nguyên liệu, chăn thả gia súc Huyện cũng có một số mỏ khoáng sản vừa và nhỏ Với đặc điểm tự nhiên như đã trình bày Yên Lập là địa phương có lợi thế trong phát triển kinh tế nông lâm nghiệp kết hợp
Trải qua những thăng trầm biến đổi của lịch sử dân tộc, cũng như lịch sử vùng đất phía Bắc Tổ quốc, địa giới huyện Yên Lập có nhiều biến đổi Đến nay Yên Lập là một đơn vị hành chính cấp huyện của tỉnh Phú Thọ gồm 1 thị trấn và 16 xã Là huyện miền núi đất rộng người thưa nên Yên Lập sớm đã là nơi quần tụ sinh sống của nhiều tộc người, trong đó cư dân nguyên thủy là người Mường, thuộc nhóm nhữ hệ Việt - Mường Trải qua các giai đoạn lịch sử, thành phần dân cư dân tộc của huyện Yên Lập có nhiều biến động Bên cạnh cư dân bản địa còn có các dân tộc khác di cư
từ nhiều nời khác đến, chủ yếu là người Kinh từ dưới xuôi lên, người Dao từ Trung Quốc xuống Song dù là người bản địa hay di cư từ nơi khác đến, có nguồn gốc và phong tục tập quán khác nhau nhưng khi cùng chung sống ở một quê hương mới (huyện Yên Lập) thì các dân tộc luôn yêu thương, đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau vượt qua mọi khó khăn, thử thách để xây dựng một cuộc sống tốt đẹp hơn, văn
minh hơn
Trang 40Chương 2 KINH TẾ CỦA HUYỆN YÊN LẬP NỬA ĐẦU THẾ KỶ XIX
2.1 Tình hình sở hữu ruộng đất ở huyện Yên Lập nửa đầu thế kỉ XIX
Cùng với quá trình phát triển và củng cố của các nhà nước quân chủ tập quyền, các vương triều phong kiến Việt Nam rất quan tâm đến việc lập địa bạ để nắm chắc tình hình ruộng đất, qua đó ra lệ thuế và thu thuế cho nhà nước Trong lịch sử Việt Nam, lần đầu tiên nhà nước lập điền tịch vào năm 1092 dưới triều Lý Năm
1428, Lê Lợi đã ra lệnh cho các địa phương tiến hành điều tra, khám xét về tình hình
sở hữu ruộng đất lập lại trong một năm Các thế kỉ sau công việc kê khai ruộng đất cũng được các triều đại quân chủ quan tâm
Cũng như các triều đại trước nhà Nguyễn ý thức được tầm quan trọng của việc lập địa bạ Vì vậy, ngay sau khi ổn định cả nước, năm 1803 Gia Long bắt đầu
cho lập địa bạ của các trấn ở Bắc Hà Năm 1804 Gia Long xuống chiếu “Chiếu theo
ruộng chiêm, ruộng mùa và ruộng chiêm mùa 2 vụ ở trong xã mà kê khai mẫu, sào,
thước, tấc, ở xứ sở nào và bốn bên đông tây cước trú rõ ràng, làm sổ để nộp” [19, tr
119] Việc lập địa bạ trong cả nước được Minh Mệnh tiến hành một cách triệt để cơ bản đã lập xong sổ địa bạ trên toàn quốc Từ thời vua Thiệu Trị (1841) đến vua Bảo Đại (1945), có làm bổ sung thêm ở một số địa phương vì nhiều lý do khác nhau việc làm địa bạ lớn chưa thực hiện được
Ruộng đất huyện Yên Lập (phủ Quy Hóa tỉnh Hưng Hóa) dưới triều Nguyễn
đã được kê khai rõ ràng trong địa bạ Các địa bạ nói trên hiện đang lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I (Hà Nội) mang ký hiệu từ 1822 đến 1853 Các địa bạ của huyện mà chúng tôi sưu tầm được lập ở đầu triều Nguyễn: Gia Long 4 (1805) và Minh Mệnh 21 (1840) với tổng số 30 địa bạ trong đó có 17 địa bạ được lập năm 1805
và 13 địa bạ được lập năm 1840 Trong tổng số 30 xã có 6 xã được lập địa bạ trong 2 thời điểm Gia Long 4 và Minh Mệnh 21: xã An Dưỡng, xã Vân Bán, xã Sa Lung, xã Thu Ngạc, xã Thượng Long, xã Bạn Lữ