1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đặc điểm và một số yếu tố nguy cơ hạ đường máu ở trẻ sơ sinh tại bệnh viện trung ương thái nguyên

99 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 884,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1 TỔNG QUAN (12)
    • 1.1. Đặc điểm hạ đường máu sơ sin h (12)
    • 1.2. Nguyên nhân và một số yếu tố nguy cơ gây hạ đường máu sơ sinh (19)
    • 1.3. Các nghiên cứu về hạ đường máu (28)
    • 2.1. Đối tượng nghiên cứu (32)
    • 2.2. Địa điểm, thời gian nghiên cứu (32)
    • 2.3. Phương pháp nghiên cứu (32)
    • 2.4. Tổ chức nghiên cứu và thu thập số liệu (44)
    • 2.5. Xử lý và phân tích số liệu (44)
  • Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (32)
    • 3.1. So sánh m ộ t s ố đặc điểm sơ sinh sớ m h ạ đường máu và sơ sinh sớ m không h ạ đườ ng máu (47)
    • 3.2. Đặc điểm hạ đường máu ở trẻ sơ sinh sớm (48)
    • 3.3. Một số yếu tố nguy cơ gây hạ đường máu ở trẻ sơ sinh sớm (56)
  • Chương 4 BÀN LUẬN (62)
    • 4.1. Đặc điểm hạ đường máu ở trẻ sơ sinh sớm (62)
    • 4.2. Một số yếu tố nguy cơ gây hạ đường máu ở trẻ sơ sinh sớm (68)
    • 4.3. Hạn chế của đề tài (80)
  • KẾT LUẬN (81)
  • PHỤ LỤC (0)

Nội dung

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn ĐẶT VẤN ĐỀ Hạ đường máu hạ glucose máu ở trẻ sơ sinh là tình trạng giảm nồng độ glucose trong máu, đây

TỔNG QUAN

Đặc điểm hạ đường máu sơ sin h

1.1.1 Định nghĩa hạ đường máu sơ sinh

Theo Nguyễn Công Khanh, gọi là hạ đường máu (HĐM) khi đường máu dưới 0,4 g/l, trừ ở trẻ sơ sinh mấy ngày đầu khi đường máu dưới 0,3 g/l với trẻ sơ sinh đủ tháng và dưới 0,2 g/l với trẻ sơ sinh thiếu tháng [6]

Trong lịch sử, người ta định nghĩa HĐM dựa vào các triệu chứng lâm sàng nhưng không có giới hạn cụ thể như dễ kích thích, co giật, li bì Các triệu chứng này có giá trị hướng đến HĐM Có nhiều cách tiếp cận chẩn đoán HĐM khác nhau, trong đó, đặc biệt ở người lớn, bộ ba Whipple thường được sử dụng, bao gồm: có các triệu chứng HĐM, nồng độ glucose huyết thanh thấp và hết triệu chứng khi nồng độ glucose huyết thanh trở về bình thường Tuy nhiên, ở trẻ sơ sinh, các triệu chứng này thường không rõ ràng [40]

Có rất nhiều định nghĩa của HĐM trẻ sơ sinh, từ điển y khoa Stedman đã định nghĩa HĐMlà sự sụt giảm bất thường của glucose trong máu, các câu hỏi đã được đặt ra là: so với cái gì hay giảm như thế nào, liên quan với những gì: chẳng hạn như lưu lượng máu não, nồng độ hemoglobin hoặc hematocrit, mức oxygen, tình trạng thiếu oxy hay thiếu máu cục bộ, tình trạng nhiễm khuẩn Thuật ngữ HĐM cũng liên quan đến sử dụng glucose ở các mô, tế bào, cơ quan Thuật ngữ HĐM được định nghĩa lần đầu tiên vào năm 1937 với mức nhẹ là từ 2,2-3,3 mmol/l, vừa là 1,1-2,2 mmol/l, nặng là 33 - 37 tuần.

- Dựa vào cân nặng so với tuổi thai có thể phân thành:

+ Sơ sinh non tháng cân nặng tương ứng với tuổi thai < 28 tuần, 28

+ Sơ sinh non tháng 33-37 tuần cân nặng tương ứng vớituổi thai

+ Sơ sinh non tháng 33-37 tuần cân nặng thấp hơn so vớituổi thai

+ Sơ sinh non tháng 33-37 tuần cân nặng lớn hơn so với tuổi thai

+ Và /hoặc Da bong khi miết nhẹ hoặc bong tự nhiên, rốn héo vàng hoặc xanh thẩm, hoặc móng tay, móng chân dài vàng hoặc xanh.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Bảng 1.1 Phân độ già tháng Cliffort Độ già tháng Độ 1 Độ 2 Độ 3

Da bong Khi miết Bong tự nhiên Bong từng mảng nhiều vị trí Cuống rốn Héo Vàng úa Xanh thẫm phân su

Móng tay móng chân Dài Dài, vàng Dài, xanh thẫm màu phân su

- Dựa vào cân nặng so với tuổi thai có thể phân thành 3 loại:

+ Sơ sinh già tháng cân nặng tương ứng so vớituổi thai

+ Sơ sinh già tháng cân nặng thấp so với tuổi thai

+ Sơ sinh già tháng cân nặng lớn sovới tuổi thai

Các nghiên cứu về hạ đường máu

1.3 1 Các nghiên cứu ở Việt Nam Ở Việt Nam, theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Kiều Nhi tại Huế năm

2003, HĐM sơ sinh gặp chủ yếu ở nhóm sơ sinh đủ tháng, cân nặng lớn hơn so với tuổi thai với tỷ lệ là 10,8% [7]

Cũng theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Kiều Nhi năm 2010 trên trẻ sơ sinh giai đoạn sớm, tỷ lệ HĐM cao nhất ở loại SSNT 4000g (44,6%), thấp nhất ở nhóm trẻ có cân nặng từ 2500gram đến 3999gram (15,3%) Tỷ lệ hạ glucose máu ở nhóm trẻ đẻ non là cao nhất 49%, thấp nhất ở nhóm trẻ đủ tháng 16,9% Tỷ lệ hạ glucose máu cao nhất trong nhóm trẻ vào viện < 24 giờ (47%) [2]

Theo Nguyễn Thu Hằng, nghiên cứu năm 2016 ở 395 trẻ sơ sinh nhỏ hơn tuổi thai, tỷ lệ HĐM ở trẻ nhỏ so với tuổi thai chiếm tỷ lệ 18,7% Tỷ lệhạ glucose máu giảm dần theo độ tăng dần của tuần tuổi HĐM chiếm tỷ lệ cao nhất ở nhóm trẻ < 28 tuần tuổi và thấp nhất ở nhóm trẻ > 37 tuần [3]

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Theo nghiên cứu của Lê Thị Thanh Tâm năm 2017 trên các bà mẹ có đái tháo đường thai kỳ tại Vinh (Nghệ An) từ năm 2013 – 2015 cho thấy tỷ lệ HĐMsơ sinh là 3,9% Nếu phân chia theo nhóm điều trị thì tỷ lệ HĐM sơ sinh trong nhóm điều trị insulin cao nhất là 36,4%; nhóm không tuân thủ phối hợp insulin chiếm 22,2% và nhóm điều trị bằng chế độ ăn và luyện tập chiếm 1,4% [9]

Theo Hoàng Thị Trang và Hoàng Thị Thủy Yên nghiên cứu trên 108 trẻ sơ sinh nhẹ cân từ 2016 – 2018 tại Huế, tỷ lệ HĐM ở trẻ sơ sinh nhẹ cân là 38%, tỷ lệ hạ glucose máu cao ở nhóm trẻ sơ sinh có cân nhỏ hơn tuổi thai và đẻ non là 52,6%, cao hơn nhóm cân nặng phù hợp với tuổi thai, cao nhất ở nhóm nhiễm khuẩn sơ sinh 63,4% [12]

1.3.2 Các nghiên cứu trên thế giới

Trên thế giới có nhiều nghiên cứu về hạ đường máu ở trẻ sơ sinh.

Nghiên cứu của Croke năm 2009 trên trẻ sơ sinh đủ tháng có cân nặng lớn hơn so với tuổi thai và nhỏ hơn so với tuổi thai, có 26% trẻ sơ sinh đủ tháng Nhẹ cân so với tuổi thai bị HĐM và 17% trẻ sơ sinh đủ tháng Lớn cân so với tuổi thaicó nồng độ thấp hơn 2,6 mmol/l [29]

Nghiên cứu của Mejri và cộng sự nghiên cứu năm 2010 trên 187 sơ sinh nhẹ cân so với tuổi thai tỷ lệ hạ đường máu là 26% [55]

Nghiên cứu của Najati và Saboktakin năm 2010 trên 14168 trẻ sơ sinh, tỷ lệ HĐM là 6,1% trong số trẻ nằm trong phòng chăm sóc đặc biệt, 59,6% ở trẻ sinh non, 59,6% ở trẻ thấp cân so với tuổi thai, 40,4% ở trẻ có cân nặng rất thấp [58]

Nghiên cứu của Jonas và cộng sự năm 2012 trên 145 trẻ có nguy cơ HĐM sàng lọc từ 1074 cho thấy có 17 trẻ HĐMdưới 40 mg/dl (2,2 mmol/l), tương ứng với tỷ lệ là 11,7% Không có sự khác biệt giữa tỷ lệ HĐMgiữa trẻ có một yếu tố nguy cơ với trẻ có hai yếu tốnguy cơ [49]

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Nghiên cứu của Singh và cộng sự năm 2014 trên 125 trẻ sơ sinh cho thấy tỷ lệ HĐM là 15,2%, trong đó gặp ở nam (32,7%) nhiều hơn so với nữ

(13,33%), thường gặp từ 0-24 giờ sau đẻ ( 63,15%) so với 48-72 giờ (15,78%) [73]

Nghiên cứu của Edwin Dias và Sandeep Gada năm 2014 trên 100 trẻ sơ sinh cho thấy giá trị đường máu thấp nhất ở lúc 6 giờ và cao nhất ở lúc 24 giờ sau sinh Đường máu ở trẻ sinh đường dưới luôn cao hơn ở cùng thời điểm so với trẻ được MLT ở cùng thời điểm, có gần 19,6% trẻ MLT HĐM so với tỷ lệ 14,2% ở trẻ đẻ đường dưới [34]

Nghiên cứu của Nihan Hilal Hosagasi và cộng sự năm 2018 trên 207 trẻ sơ sinh, tỷ lệ HĐMở các nhóm sơ sinh có nguy cơ bao gồm mẹ tiểu đường thai kỳ, nhỏ hơn so với tuổi thai, lớn hơn so với tuổi thai và sơ sinh non muộn lần lượt là 16,6%, 12,7%, 12,2% và 34% [47]

Nghiên cứu của Bromiker năm 2019 trên 3595 trẻ, có 3,4% trẻ có đường máu < 40mg/dl, 12,1% trẻ có đường máudưới 47 mg/dl Phân tích đơn biến cho thấy thai đủ tháng, tiểu đường của mẹ, cân nặng lúc sinh thấp ( 3800 g) thì không có mối liên quan Trong phân tích đa biến, chỉ có tuổi thai là biến có liên quan mạnh nhất, trong khi mẹ có tiểu đường thai kỳvà cân nặng lúc sinh thấp không có ý nghĩa thống kê [26]

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Bao gồm các bệnh nhân sơ sinh có đặc điểm sau

- Tất cả trẻ sơ sinh vào điều trị tại Phòng Chăm sóc đặc biệt (Intensive Care Unit – ICU), khoa Sơ sinh - Cấp cứu nhi, Trung tâm Nhi khoa, Bệnh viện Trung Ương Thái Nguyên

- Tuổitrẻ sơ sinh từ 1 - 7 ngày tuổi.

- Mẹ của các trẻ sơ sinh trên.

Chỉ lựa chọn trong số bệnh nhân nói trên, được lấy máu và làm xét nghiệm đường máu tại thời điểm vào điều trị tại phòng ICU, khoa Sơ sinh -

Cấp cứu nhi, Trung tâm Nhi khoa, Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên

Trong quá trình nghiên cứu loại trừ các bệnh nhân sau:

- Sơ sinh không được làm xét nghiệm đường máu hoặc được làm xét nghiệm đường máu nhưng kết quả đường máu có sự sai lệch do kỹ thuật.

- Gia đình không đồng ý lấy máu làm xét nghiệm hay không đồng ý tham gia nghiên cứu.

- Hồ sơ bệnh án của con hoặc mẹ không rõ, thiếu dữ liệu nghiên cứu.

Địa điểm, thời gian nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện tại khoa Sơ sinh – Cấp cứu Nhi, Trung tâm Nhi khoa, Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên

Thời gian nghiên cứu được thực hiện từ tháng 6/2018 đến tháng 6/2019

Phương pháp nghiên cứu

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

+ Đối với mục tiêu một là nghiên cứu mô tả: mô tả đặc điểm hạ đường máu sơ sinh(bao gồm các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của con và một số đặc điểm của mẹ).

+ Đối với mục tiêu hai là nghiên cứu bệnh - chứng: phân tích mối liên quan giữa các yếu tố nguy cơ từ mẹ và con với hạ đường máu.

- Thiết kế nghiên cứu được trìnhbày bằng sơ đồ sau:

Sơ đồ 2.1: Sơ đồ thiết kế nghiên cứu

SƠ SINH BỆNH LÝ NHẬP KHOA

XÉT NGHIỆM ĐƯỜNG MÁU LÚC VÀO VIỆN

KHÔNG HẠ ĐƯỜNG MÁU Đặc điểm hạ đường máu sơ sinh:

Lựa chọn bệnh nhân tương đồng đặc điểm nuôi dưỡng, cách sinh, giới tính

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

2.3 2 Cỡ mẫu nghiên cứu Để tính cỡ mẫu nghiên cứu, chúng tôi sử dụng công thức tính cỡ mẫu áp dụng cho việc ước tính tỷ lệ trong quần thể.

  n: Cỡ mẫu nghiên cứu. α: Là mức ý nghĩa thống kê, chọn α= 0,05 (tương ứng với độ tin cậy 95%).

Z (1-α/2) : Tra giá trị bảng, tương ứng với các giá trị của α = 0,05.

Kết quả là: Z(1-α/2) = 1,96 p: Các nghiên cứu khác nhau cho thấy trẻ sơ sinh hạ đường máu có triệu chứng chiếm tỷ lệ từ 2% - 8% tùy các nghiên cứu khác nhau [47],

Trong nghiên cứu này, chúng tôi chọn 5% d: Độ chênh lệch mong muốn là: ± 5% (0,05). Áp dụng công thức trên thu được kết quả như sau: 73 bệnh nhân Trên thực tế, chúng tôi lựa chọn được 106 bệnh nhân có hạ đường máu

Chọn mẫu theo kỹ thuật chọn mẫu có chủ đích, trong đó khung mẫu là tất cả bệnh nhân sơ sinh vào viện điều trị và được làm đường máu ngay tại thời điểm nhập viện, chọn các bệnh nhân đủ tiêu chuẩn từ lúc bắt đầu nghiên cứu đến khi đủ số lượng. Đối với mục tiêu 1, chúng tôi lựa chọn được 106 sơ sinh sớmhạ đường máu, đạt tiêu chuẩn nghiên cứu. Đối với mục tiêu 2, trong thời điểm nghiên cứu chúng tôi chọn bệnh nhân ngẫu nhiên có tương đồng về giới tính, cách sinh, cách nuôi dưỡng và đều là sơ sinh bệnh lý nặng phải điều trị tại ICU Với cách làm như vậy, trong

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn quá trình nghiên cứu chúng tôi lựa chọn được 100 trẻ sơ sinh sớm không hạ đường máu.

Như vậy, trong nghiên cứu của chúng tôi có 106 trẻ sơ sinh sớm hạ đường máu và 100 trẻ sơ sinh không hạ đường máu, tổng cộng có 206 trẻ trong nghiên cứu.

2.3.4 Các chỉ số nghiên cứu

2.3.4.1 Các chỉ số nghiên cứu về phía trẻ sơ sinh

- Tuổi thai: bằng cách hỏi bà mẹ ngày kinh cuối cùng và thăm khám lâm sàng đánh giá tuổi thai theo tiêu chuẩn hình thái nhi khoa phối hợp với chuẩn phân loại già tháng theo Cliffort.

- Giới: xác định nam hoặc nữ

- Xác định mức độ dinh dưỡng: bằng cách dựa vào cân nặng và tuổi thai sau đó đối chiếu trên biểu đồ Luchenco.

+ Theo tiêu chuẩn sản khoa: Ngày sinh trừ đi ngày đầu kỳ kinh cuối tổng số ngày/ 7 = số tuần.Tuy nhiên một số trường hợp không nhớ ngày kinh cuối cùng có thể áp dụng siêu âm thai sớm trước 12 tuần cho phép xác định ngày có thai nhưng sai số 5 ngày.

+ Theo hình thái nhi khoa (theo tiêu chuẩn Varrier Farr ở phụ lục).

+ Theo phân loại hình thái già tháng của Cliffort.

+ Gồm các biến số đó là sơ sinh non tháng, sơ sinh đủ tháng, sơ sinh già tháng

- Dinh dưỡng (theo biểu đồ Luchenco ở phụ lục):

+ Sơ sinh bình dưỡng: cân nặng tương ứng với tuổi thai (cân nặng nằm trong miền giới hạn từ trên đường cong 10 bách phân vị đến đường cong 90 bách phân vị của tuổi thai trên biểu đồ Luchenco).

+ Sơ sinh thiểu dưỡng: cân nặng thấp so với tuổi thai (cân nặng dưới đường cong 10 bách phân vị của tuổi thai trên biểu đồ Luchenco).

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

+ Sơ sinh quá dưỡng: cân nặng lớn so với tuổi thai (cân nặng hiện có trên đường cong 90 bách phân vị của tuổi thai trên biểu đồ Luchenco).

- Bệnh lý giai đoạn sơ sinh: Xác định bằng hỏi tiền sử, bệnh sử thai nghén và thăm khám lâm sàng, cận lâm sàng và theo dõi trong 6 ngày đầu sau sinh Các bệnh lý thường gặp giai đoạn sơ sinhgồm:

+ Đa hồng cầu sơ sinh

+ Suy hô hấp sơ sinh

+ Vàng da tăng bilirubin tự do

- Glucose huyết thanh: Xác định dựa vào lấy máu tĩnh mạch lúc vào viện và được xét nghiệm tại khoa sinh hóa.

- Triệu chứng lâm sàng hạ đường máu:

+ Dễ kích thích: bệnh nhân không giật, các cử động rõ với các kích thích nhạy cảm như ngừng nắm tay và không kèm theo các bất thường về mắt [73]

+ Xanh tím: là tình trạng bệnh lý đổi màu thành xanh hay tímcủa da và niêm mạc.

+ Hạ thân nhiệt: Theo Nguyễn Công Khanh là tình trạng khi thân nhiệt sơ sinh dưới 36,5 0 C, thân nhiệt được đo ở nách bằng nhiệt kế thủy ngân, chính xác đên 0,1 0 C [4]

+ Co giật: cơn giật rung (là những cử động nhịp nhàng của các nhóm cơ và thường đi kèm với những thay đổi trên điện não đồ), cơn co cứng (là cơn toàn thể hay cục bộ, ở chi, lệch mắt, tư thế thân không đối xứng) và giật cơ(là những biểu hiện co giật nhanh của các nhóm cơ, giật cơ có tần số nhanh hơn cơn giật rung)

+ Ngừng thở: là thời gian ngừng thở trên 20 giây hoặc ngừng thở dưới

20 giây kèm theo nhịp tim chậm dưới 100 nhịp/phút, tím tái, xanh xao [36]

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

+ Li bì: trẻ không đáp ứng tỉnh với kích thích thông thường.

+ Không có triệu chứng HĐM

- Giờ tuổi nhập viện: tính theo ngày tuổi, từ ngày tuổi thứ nhất đến ngày tuổi thứ

- Thời điểm hạ đường máu: là thời điểm lấy máu làm xét nghiệm đường máu, tính theo ngày

2.3.4.2 Các chỉ số nghiên cứu về phía mẹ

- Tăng cân của mẹ: xác định bằng cách hỏi bà mẹ cân nặng trước mang thai và cân nặng thời điểm trước sinh.

- Mẹ có truyền glucose trong QTCD: xác định bằng cách tham khảo hồ sơ điều trị của mẹ của khoa Sản.

- Mẹ sốt trong QTCD: Xác định bằng cách tham khảo hồ sơ điều trị của mẹ tại khoa Sản và hỏi người nhà bệnh nhân, mẹ được xác định là sốt khi thân nhiệt trên 37,5 0 C, thân nhiệt được đo ở nách bằng nhiệt kế thủy ngân, chính xác đến 0,1 0 C

- Cách sinh: xác định bằng cách tham khảo hồ sơ điều trị của mẹ tại khoa Sản và hỏi người nhà bệnh nhân.

2.3.5 Tiêu chu ẩ n ch ẩn đoán chỉ s ố

2.3.5.1 Chẩn đoán hạđường máu sơ sinh

Theo Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị một số bệnh thường gặp ở trẻ em của Bộ Y tế 2015:

Hạ đường máu sơ sinh khi nồng độ Glucose huyết thanh < 47 mg/dl (2,6 mmol/l)

- Mức HĐM nặng: < 25 mg/dl (1,1 mmol/l)

- Mức HĐM: ≤ 2,5 mg/dl đến < 47 mg/dl

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

2.3.5.2 Chẩn đoán loại sơ sinh

- Sơ sinh đủ tháng: là những sơ sinh có tuổi thai từ 37 tuần đến 41 tuần

6 ngày và không có hình thái già tháng theo Cliffort

+ Sơ sinh đủ tháng bình dưỡng: là những sơ sinh đủ tháng và có cân nặng tương ứng với tuổi thai (AGA) tức là cân nặng nằm trong miền giới hạn từ trên đường cong 10 bách phân vị đến đường cong 90 bách phân vị của tuổi thai trên biểu đồ Luchenco

+Sơ sinh đủ tháng thiểu dưỡng: Là những sơ sinh đủ tháng và có cân nặng thấp so với tuổi thai (SGA) (cân nặng dưới đường cong 10 bách phân vị của tuổi thai trên biểu đồ Luchenco).

Tổ chức nghiên cứu và thu thập số liệu

Bản thân tác giả cùng các cán bộ của khoa Sơ sinh – Cấp cứu nhi, Trung tâm Nhi khoa, Bệnh viện Trung Ương Thái Nguyên, các đồng nghiệp là học viên nội trú, cao học theo học tại khoa và các cán bộ giảng dạy của Bộ môn Nhi trường đại học Y Dược Thái Nguyên.

2.4 2 Tiến hành thu thậ p số liệu

Chuẩn bị giấy tờ, phiếu điều tra, bệnh án nghiên cứu Nhân lực tham gia nghiên cứu được tập huấn, thống nhất phương pháp thu thập số liệu Mỗi lần thăm khám, đánh giá bao gồm 2 cán bộ.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

BÀN LUẬN

Ngày đăng: 12/06/2021, 19:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
10. Bộ Y Tế (2015), "Hạ đường huyết sơ sinh", Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị một số bệnh thường gặp ở trẻ em, Hà Nội, tr. 185 -190 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hạ đường huyết sơ sinh
Tác giả: Bộ Y Tế
Năm: 2015
11. Lê Minh Trác, Phan Thị Thu Nga và Lê Anh Tuấn (2012), "Thực trạng sơ sinh thấp cân, non tháng đẻ tại bệnh viện phụ sản trung ương", Tạp chí phụ sản . 10(2), tr. 98-103 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng sơ sinh thấp cân, non tháng đẻ tại bệnh viện phụ sản trung ương
Tác giả: Lê Minh Trác, Phan Thị Thu Nga và Lê Anh Tuấn
Năm: 2012
12. Hoàng Thị Trang và Hoàng Thị Thủy Yên (2019), "Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và một số yếu tố liên quan đến tình trạng hạ đường máu ở trẻ sơ sinh nhẹ cân", Kỷ yếu hội nghị nội tiết - đái tháo đường - rối loạn chuyển hóa toàn quốc lần thứ IX , tr. 638 - 646 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và một số yếu tố liên quan đến tình trạng hạ đường máu ở trẻ sơ sinh nhẹ cân
Tác giả: Hoàng Thị Trang và Hoàng Thị Thủy Yên
Năm: 2019
13. Chế Thị Ánh Tuyết (2013), Nghiên cứu một số yếu tố nguy cơ hạ đường máu giai đoạn sơ sinh sớm tại Khoa Nhi Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế, Đại học Y Dược Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số yếu tố nguy cơ hạ đường máu giai đoạn sơ sinh sớm tại Khoa Nhi Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế
Tác giả: Chế Thị Ánh Tuyết
Năm: 2013
14. Vũ Thị Vân Yến, Phạm Thị Xuân Tú và Nguyễn Thị Quỳnh Hương (2012), "Một số yếu tố liên quan đến tử vong của trẻ đẻ non ", Tạp chí nghiên cứu Y học. Phụ trương 80(3A), tr. 181 - 187.T ài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số yếu tố liên quan đến tử vong của trẻ đẻ non
Tác giả: Vũ Thị Vân Yến, Phạm Thị Xuân Tú và Nguyễn Thị Quỳnh Hương
Năm: 2012
15. Sawsan Sati Abbas, Hamed Fakhri Fayadh (2013), "Neonatal polycythemia: Risk factors, clinical manifestation and treatment applied", Iraqi Academic Scientific Journal. 12(3), 390-395 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Neonatal polycythemia: Risk factors, clinical manifestation and treatment applied
Tác giả: Sawsan Sati Abbas, Hamed Fakhri Fayadh
Năm: 2013
16. David H Adamkin (2019), "Neonatal hypoglycemia", Common Problems in the Newborn Nursery, Springer, 99-108 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Neonatal hypoglycemia
Tác giả: David H Adamkin
Năm: 2019
17. David H Adamkin, Richard A Polin (2016), "Imperfect advice: neonatal hypoglycemia", The Journal of pediatrics. 176, 195-196 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Imperfect advice: neonatal hypoglycemia
Tác giả: David H Adamkin, Richard A Polin
Năm: 2016
18. Yasemin Akin, et al. (2010), "Macrosomic newborns: a 3-year review", The Turkish journal of pediatrics. 52(4), 378 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Macrosomic newborns: a 3-year review
Tác giả: Yasemin Akin, et al
Năm: 2010
20. M de L Anthony, et al. (2000), "Neonatal hypoglycaemia in Nepal 2. Availability of alternative fuels", Archives of Disease in Childhood-Fetal and Neonatal Edition. 82(1), 52-58 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Neonatal hypoglycaemia in Nepal 2. Availability of alternative fuels
Tác giả: M de L Anthony, et al
Năm: 2000
21. Eran Ashwal, et al. (2018), "Intrapartum fever and the risk for perinatal complications – the effect of fever duration and positive cultures", The Journal of Maternal-Fetal &amp; Neonatal Medicine. 31(11), 1418-1425 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Intrapartum fever and the risk for perinatal complications–the effect of fever duration and positive cultures
Tác giả: Eran Ashwal, et al
Năm: 2018
22. Victor L Bandika, et al. (2014), "Hypoglycaemia and hypocalcaemia as determinants of admission birth weight criteria for term stable low risk macrosomic neonates", African health sciences. 14(3), 510-516 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hypoglycaemia and hypocalcaemia as determinants of admission birth weight criteria for term stable low risk macrosomic neonates
Tác giả: Victor L Bandika, et al
Năm: 2014
23. Sudeepta K Basu, et al. (2016), "Hypoglycaemia and hyperglycaemia are associated with unfavourable outcome in infants with hypoxic ischaemic encephalopathy: a post hoc analysis of the CoolCap Study", Archives of Disease in Childhood-Fetal and Neonatal Edition. 101(2), 149-155 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hypoglycaemia and hyperglycaemia are associated with unfavourable outcome in infants with hypoxic ischaemic encephalopathy: a post hoc analysis of the CoolCap Study
Tác giả: Sudeepta K Basu, et al
Năm: 2016
24. Bijaylaxmi Behera, et al. (2015), "Hypoglycemia in small for gestational age infants in a level III NICU: An observational study", Current Medicine Research and Practice. 5(1), 10-13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hypoglycemia in small for gestational age infants in a level III NICU: An observational study
Tác giả: Bijaylaxmi Behera, et al
Năm: 2015
25. Sikandar Ali Bhand, et al (2014), "Neonatal hypoglycemia", The Professional Medical Journal. 21(04), 745-749 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Neonatal hypoglycemia
Tác giả: Sikandar Ali Bhand, et al
Năm: 2014
26. R. Bromiker, et al. (2019), "Early neonatal hypoglycemia: incidence of and risk factors. A cohort study using universal point of care screening", J Matern Fetal Neonatal Med. 32(5), 786-792 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Early neonatal hypoglycemia: incidence of and risk factors. A cohort study using universal point of care screening
Tác giả: R. Bromiker, et al
Năm: 2019
27. C ahide Bulut, Tuğba Gürsoy and Fahri Ovalı (2016), "Short -term outcomes and mortality of late preterm infants", Balkan medical journal.33(2), 198-203 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Short-term outcomes and mortality of late preterm infants
Tác giả: C ahide Bulut, Tuğba Gürsoy and Fahri Ovalı
Năm: 2016
28. Leandro Cordero, et al. (2013), "Early feeding and neonatal hypoglycemia in infants of diabetic mothers", SAGE open medicine. 1, 603-613 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Early feeding and neonatal hypoglycemia in infants of diabetic mothers
Tác giả: Leandro Cordero, et al
Năm: 2013
29. Jennifer Croke, et al. (2009), "Two hour blood glucose levels in at-risk babies: An audit of Canadian guidelines", Paediatrics &amp; child health.14(4), 238-244 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Two hour blood glucose levels in at-risk babies: An audit of Canadian guidelines
Tác giả: Jennifer Croke, et al
Năm: 2009
30. Hosein Dalili, et al. (2015), "Comparison of the four proposed Apgar scoring systems in the assessment of birth asphyxia and adverse early neurologic outcomes", PloS one. 10(3), 112-116 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Comparison of the four proposed Apgar scoring systems in the assessment of birth asphyxia and adverse early neurologic outcomes
Tác giả: Hosein Dalili, et al
Năm: 2015

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w