1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phát triển năng lực vận dụng kiến thức trong dạy học lịch sử việt nam (1954 1975) lớp 12 ở trường THPT huyện yên phong tỉnh bắc ninh​

120 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 1,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong dạy học hiện đại, việc hình thành và phát triển năng lực VDKT của HS đóng một vai trò hết sức quan trọng, đặc biệt là việc VDKT lịch sử đã học để giải quyết những vấn đề thực tiễn

Trang 1

S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

Trang 3

S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi với sự hướng

dẫn tận tình của TS Lê Th ị Thu Hương

Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã tham khảo nhiều nguồn tài liệu khác nhau Các nguồn tài liệu được xử lý, tổng hợp đưa vào luận văn một cách

hợp lý và đúng quy định

Các kết quả, số liệu và kết luận của đề tài được trình bày trong luận văn là khách quan, trung thực và chưa được công bố ở một công trình nghiên cứu khoa học nào khác

Tác giả xin chịu trách nhiệm hoàn toàn về nội dung của luận văn

Thái Nguyên, tháng 6 năm 2020

Tác gi ả

B ạch Thị Thanh Mai

Trang 4

S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS.Lê Th ị Thu Hương, người

đã hướng dẫn chu đáo, nhiệt tình, tận tâm trong suốt quá trình tôi thực hiện đề tài này

Xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo Khoa Lịch sử, Trung tâm thông tin thư viện, Phòng Đào tạo, trường Đại học Sư Phạm, Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu tại trường

Xin chân thành cảm ơn những người thân trong gia đình cùng các anh chị

em, bạn bè thân thiết đã giúp đỡ tôi, động viên tôi trong quá trình thực hiện và hoàn thành Luận văn này!

Tác gi ả

B ạch Thị Thanh Mai

Trang 5

S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT iv

DANH MỤC CÁC BẢNG v

DANH MỤC CÁC HÌNH v

M Ở ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

4 Mục đích nghiên cứu 8

5 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 9

6 Giả thuyết khoa học 9

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 10

8 Đóng góp của đề tài 10

9 Cấu trúc của luận văn 10

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRI ỂN NĂNG LỰC VẬN DỤNG KIẾN THỨC CHO HỌC SINH TRONG D ẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT 11

1.1 Cơ sở lý luận 11

1.1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài 11

1.1.2 Xuất phát điểm của vấn đề nghiên cứu 15

1.1.3 Nội dung và tiêu chí của năng lực vận dụng kiến thức trong dạy học Lịch sử ở trường phổ thông 21

1.1.4 Vai trò, ý nghĩa của việc phát triển năng lực vận dụng kiến thức cho học sinh trong dạy học Lịch sử Việt Nam (1954 - 1975) lớp 12 ở trường THPT huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh 26

Trang 6

S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

1.2 Cơ sở thực tiễn 29

1.2.1 Địa điểm, thời gian, đối tượng khảo sát 29

1.2.2 Kế hoạch và nội dung tiến hành điều tra, khảo sát 29

1.2.3 Kết quả điều tra, khảo sát 30

Chương 2: CÁC BI ỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC VẬN D ỤNG KI ẾN THỨC TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM (1954 - 1975) L ỚP 12 Ở TRƯỜNG THPT HUYỆN YÊN PHONG T ỈNH BẮC NINH 35

2.1 Vị trí, mục tiêu, nội dung cơ bản của phần lịch sử Việt Nam (1954 - 1975) lớp 12 THPT 35

2.1.1 Vị trí 35

2.1.2 Mục tiêu 36

2.1.3 Nội dung cơ bản của Lịch sử Việt Nam (1954 - 1975) 38

2.2 Một số yêu cầu khi lựa chọn các biện pháp phát triển năng lực vận dụng kiến thức cho học sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam lớp 12 THPT ở huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh 47

2.2.1 Phải lựa chọn kiến thức cơ bản, trọng tâm 47

2.2.2 Phải đảm bảo được mục tiêu dạy học 47

2.2.3 Phải đảm bảo tính vừa sức 48

2.2.4 Phải phát huy tính tích cực học tập của học sinh 48

2.3 Các biện pháp phát triển năng lực vận dụng kiến thức cho học sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam (1954 - 1975) ở trường THPT huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh 49

2.3.1 Vận dụng kiến thức để hoàn thành các nhiệm vụ học tập trên lớp 49

2.3.2 Vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn cuộc sống 68

2.3.3 Giáo viên thường xuyên gắn nội dung học tập với thực tế cuộc sống 74

2.4 Thực nghiệm sư phạm 76

2.4.1 Mục đích của thực nghiệm 76

Trang 7

S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

2.4.2 Đối tượng và địa bàn của thực nghiệm 76

2.4.3 Phương pháp và nội dung thực nghiệm 76

2.4.4 Kết quả thực nghiệm 77

K ẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 81

TÀI LI ỆU THAM KHẢO 84

Trang 8

S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Trang 9

S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Trang 10

S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

1 Lý do ch ọn đề tài

Trước yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa gắn liền với nền kinh tế trí thức và xu hướng toàn cầu hóa, đòi hỏi phải có những con người lao động toàn diện, có tư duy sáng tạo và năng lực thực hành giỏi Vì vậy, vấn đề đổi mới PPDH đã và đang được Bộ Giáo dục và Đào tạo đặc biệt quan tâm Mục đích của sự đổi mới là yêu cầu sản phẩm giáo dục tạo ra phải là những con người

có nhân cách, sáng tạo, năng động, tự lập, tự chủ trong việc giải quyết các tình huống thực tế của đời sống Điều 7 Luật Giáo dục số 43/2019/QH14 cũng đã

nêu: “Phương pháp giáo dục phải khoa học, phát huy tính tích cực, tự giác, chủ

động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học

tr.3] Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo xác định: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố

cơ bản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng

tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng

Những quan điểm, định hướng nêu trên tạo tiền đề, cơ sở thuận lợi cho

việc đổi mới PPDH nói chung và PPDH bộ môn Lịch sử nói riêng Việc đổi mới này nên chuyển từ cách dạy học tiếp cận nội dung sang cách dạy học tiếp cận năng lực người học Đây cũng là xu hướng giáo dục chung của các nước trên thế

giới hiện nay Giáo dục định hướng năng lực nhằm đảm bảo chất lượng đầu ra

của việc dạy học, thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện các phẩm chất nhân cách, chú trọng năng lực VDKT trong những tình huống thực tiễn nhằm phát

Trang 11

S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

triển cho HS các năng lực Ngoài các năng lực chung thì việc dạy học bộ môn

Lịch sử cần hướng tới việc hình thành và phát triển cho HS những năng lực chuyên biệt Những năng lực chuyên biệt này là đặc thù riêng của bộ môn Lịch

sử ở bậc THPT Và một trong những năng lực chuyên biệt đó là năng lực VDKT

đã học để giải quyết vấn đề Năng lực VDKT có một vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống các năng lực chung

Trong dạy học hiện đại, việc hình thành và phát triển năng lực VDKT của

HS đóng một vai trò hết sức quan trọng, đặc biệt là việc VDKT lịch sử đã học để giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra HS biết VDKT sẽ đào sâu thêm khâu

lĩnh hội kiến thức, làm cho những kiến thức “chết” thu nhận từ sách vở sẽ trở

thành những kiến thức “sống” Đồng thời, nó sẽ chuyển hóa kiến thức lý thuyết

từ ngoài thành tiềm năng tri thức của bản thân VDKT sẽ rèn luyện nhiều thao tác tư duy và khả năng làm bài tập cho HS Đồng thời, việc phát triển năng lực VDKT cho HS sẽ góp phần đáp ứng yêu cầu của đất nước trong bối cảnh hội

nhập quốc tế và khu vực, đòi hỏi người lao động không chỉ đơn thuần là có kiến

thức trên sách vở mà cần phải biết vận dụng linh hoạt những điều đã học vào

thực tiễn cuộc sống

Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954 đến 1975 có vị trí quan trọng trong tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc Nổi bật trong giai đoạn này là cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước Đế quốc Mĩ đã liên tiếp thực hiện nhiều chiến lược chiến tranh khác nhau Quân dân ta đã anh dũng đánh bại các chiến lược chiến tranh của Mĩ Các sự kiện lịch sửcó mối quan hệ chặt chẽ với nhau, có sự kế tiếp, ảnh hưởng, tác động lẫn nhau Điều này đòi hỏi HS phải tìm ra mối liên hệ giữa chúng Trong quá trình DHLS, HS tìm hiểu được bản chất của các sự kiện, hiện tượng đó sẽ góp phần phát triển được năng lực VDKT cho HS, nhất là những vấn

đề liên quan đến thực tiễn cuộc sống đặt ra hiện nay

Yên Phong là huyện nằm ven sông Cầu, ở phía Tây tỉnh Bắc Ninh Đây là huyện có nền kinh tế đang phát triển với rất nhiều khu công nghiệp.Huyện có ba

Trang 12

S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

trường THPT và một trung tâm giáo dục thường xuyên Những năm gần đây các trường đã tích cực đổi mới PPDH nhằm nâng cao chất lượng dạy học bộ môn nhưng việc đổi mới này vẫn còn nhiều hạn chế, hiệu quả chưa cao.Truyền thụ tri

thức một chiều vẫn là cách dạy học chủ yếu của nhiều GV Số GV thường xuyên

chủ động, sáng tạo trong việc phối hợp các PPDH nhằm phát huy tính tích cực,

tự học và sáng tạo của HS còn chưa nhiều Dạy học vẫn nặng về cung cấp kiến

thức lý thuyết, một chiều, tình trạng đọc - chép là chính Phần lớn các GV vẫn chưa chú trọng đến việc hình thành và phát triển các năng lực chuyên biệt của bộ môn, đặc biệt là năng lực VDKT trong DHLS Việc rèn luyện kỹ năng sống, kỹ năng giải quyết các tình huống thực tiễn cho HS thông qua khả năng vận dụng tri thức tổng hợp chưa thực sự được quan tâm Việc dạy học theo hướng phát triển năng lực của HS còn khá mới mẻ đối với cả đội ngũ GV và HS

Xuất phát từ những lý do trên mà chúng tôi chọn vấn đề: “Phát triển năng

l ực vận dụng kiến thức trong dạy học Lịch sử Việt Nam (1954 - 1975) lớp 12

ở trường THPT huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh” làm đề tài luận văn cho

mình

2 L ịch sử nghiên cứu vấn đề

Vấn đề năng lực nói chung và phát triển năng lực VDKT nói riêng trong DHLS được nhiều nhà nghiên cứu giáo dục, lí luận dạy học ở trong và ngoài nước quan tâm với mức độ khác nhau

2.1.Tài li ệu nước ngoài

Trên thế giới đã có nhiều nhà nghiên cứu về lí luận dạy học “lấy học sinh làm

Montaigne (1533-1592) nhà quý tộc Pháp, người chuyên nghiên cứuvề giáo dục đã đưa ra phương pháp giáo dục “học qua hành” Ông cho rằng: muốn

đạt được mục tiêu này, tốt nhất, kiến hiệu nhất là bắt học trò liên tục hành để học,

học qua hành Vậy vấn đề không phải là dạy học một cách giáo điều, thầy nói liên tục, thao thao bất tuyệt Trái lại, chủ yếu là bắt trò hoạt động, vận dụng khả

Trang 13

S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

năng xét đoán của mình

Nhà giáo dục Xô Viết - Khalamop trong cuốn “Phát huy tính tích cực học

trình thực nghiệm nhiều năm về dạy học phát huy tính tích cực của HS Ông đã nêu được tên quy luật chung của dạy học nêu vấn đề, cách áp dụng phương pháp

đó vào các ngành khoa học cụ thể [33]

Cuốn “Chuẩn bị bài học lịch sử như thế nào?” của Đairi cũng đã trình bày một vấn đề quan trọng là: Bài học lịch sử Tác giả đưa ra nhiều phương thức giải quyết giờ học lịch sử theo hướng mới, trong đó nhấn mạnh đến bài tập nhận

thức nhằm phát huy óc suy nghĩ độc lập, sáng tạo và tích cực trong nhận thức

của HS [47]

Trong cuốn “Các phương pháp dạy học hiệu quả” của tác giả

Robert.J.Marzano-Debra J.Pikering-Jane E.Pollock, gồm 13 chương được đưa ra

với mục đích phát huy cao độ khả năng học tập của HS Trong đó nhân tố quan

trọng là GV, GV cần có tầm nhìn trong việc lựa chọn, áp dụng PPDH thích hợp

và tác giả đặc biệt coi trọng phương pháp tạo và kiểm định các giả thuyết đề ra

những giải pháp khác nhau nhằm giúp HS phát triển năng lực giải quyết vấn đề trong thực tiễn cuộc sống [55]

Tác giả Robert J.Marzano trong cuốn “Quản lý lớp học hiệu quả”, người

dịch Phạm Trần Long đã chỉ ra là GV có vài trò lớn trong quản lý lớp học Bằng cách GV tổ chức các hoạt động để phát huy tính tích cực tự giác và chủ động giúp HS “tư duy qua từng bước” để rèn kỹ năng xã hội và giải quyết vấn đề trong

đó nhấn mạnh học theo nhóm và hợp tác [56]

Cuốn “Những phẩm chất của GV hiệu quả” (năm 2011) của

James.H.Stronge, người dịch Lê Văn Canh Đề cao vai trò của người GV và cần chú trọng HS giỏi và yếu kém Tác giả nhấn mạnh đến các PPDH, kỹ thuật dạy

học để phát triển tư duy cao cấp như kỹ năng giải quyết vấn đề, tư duy phân tích

và sáng tạo tạo điều kiện cho HS liên hệ các tình huống thực tiễn [36]

Giselleo.Martin-Kniep với cuốn “Tám đối mới để trở thành giáo viên

Trang 14

S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

giỏi là việc sử dụng phương pháp đánh giá gắn với đời sống thực Đây được coi

là một phương thức giúp người học tham gia giải quyết những vấn đề và những thách thức do cuộc sống đặt ra Đồng thời tác giả cũng đưa ra những tiêu chí của đánh giá gắn với thực tế cuộc sống Vậy để thực hiện được cách đánh giá này đòi

hỏi việc dạy phải theo hướng phát triển năng lực VDKT vào thực tiễn cuộc sống [22]

Tác giả Thomas Amstrong trong cuốn “Đa trí tuệ trong lớp học” đã đưa

ra bảng phân loại các mục tiêu giáo dục của giáo sư Bloom ở trường đại học Chicago (1956) Bảng này gồm sáu mức độ phức tạp của nhận thức, trong đó có

mức độ ba là ứng dụng tức khả năng chuyển dịch kiến thức (thông tin) từ khung

cảnh này sang khung cảnh khác Vậy mức độ nhận thức này là cơ sở để hình thành và phát triển năng lực VDKT cho HS [67]

Như vậy, vấn đề phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo nhằm phát triển năng lực người học đã được các nhà lý luận và PPDH quan tâm Các tác giả đều

khẳng định tầm quan trọng của việc phát triển năng lực của HS, trong đó có năng

lực VDKT

2.2 Tài li ệu trong nước

Ở Việt Nam, trong những năm gần đây, việc đổi mới phương pháp theo hướng phát huy tính tích cực, độc lập nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, đặc biệt là phát triển năng lực VDKT cho HS trong DHLS

Các nhà giáo dục học, đặc biệt quan tâm đến vấn đề phát huy tính tích cực,

đọc lập, rèn kĩ năng cho HS như: “Giáo dục học” tập 1 của Hà Thế Ngữ, Đặng

Vũ Hoạt; “Giáo dục học hiện đại” của Thái Duy Tuyên; giáo trình “Giáo dục

Cuốn “Phương pháp dạy học truyền thống và đổi mới” của Thái Duy

Tuyên đưa ra các PPDH hiện đại như dạy học nêu vấn đề, dạy học theo thuyết

kiến tạo, dạy học tương tác…để hình thành choHS các kĩ năng vận dụng tri thức,

Trang 15

S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

giải quyết vấn đề [63]

Cuốn “Dạy và học tích cực - một số phương pháp và kĩ thuật dạy học” dự

án Việt - Bỉ đã chỉ ra các đặc trưng của PPDH tích cực: phương pháp dự án, hợp tác, dạy học theo hợp đồng… để tích cực hóa hoạt động học tập và phát triển tính sáng tạo của người học Trong đó các hoạt động được tổ chức, định hướng bởi

GV và HS sẽ tự tìm tòi, khám phá, phát hiện kiến thức, VDKT để giải quyết vấn

đề trong học tập cũng như trong thực tiễn [15]

và tập 2; “Hệ thống các phươngpháp dạy học lịch sử ở trường trung học cơ sở”

của Trịnh Đình Tùng Đặc biệt trong sách chuyên khảo “Các con đường, biện

pháp nâng cao hiệu quả bài học lịch sử ở trường phổ thông” của Nguyễn Thị

Côi đã đi sâu vào các biện pháp để phát huy cao nhất tư duy, năng lực sáng tạo, độc lập của HS Đồng thời tác giả cũng đưa ra bốn loại bài tập trong đó có loại bài tập nhằm rèn luyện kĩ năng vận dụng những kiến thức đã học để hiểu kiến

thức mới Nguyễn Thị Thế Bình trong “Phát triển kĩ năng tự học môn lịch sử cho

sử, đồng thời đưa ra khái niệm năng lực

Ngoài ra, còn nhiều bài viết trên các tạp chí về vấn đề đổi mới PPDH theo

hướng phát triển năng lực như: “Phát triển năng lực thực hành trongdạy học lịch

luận văn, luận án cũng nghiên cứu về năng lực Tiêu biểu là luận án “Một số biện

pháp nâng cao năng lực thực hành cho học sinh lớp 12 qua dạy học Lịch sử Việt

năng lực, năng lực thực hành Luận văn “Một số biện pháp phát triển năng lực

Trang 16

S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Ly Luận án “Phát triển chương trình giáo dục phổ thông theo định hướng phát

Nam, đã đề xuất phương hướng tổ chức chương trình, xác định nội dung, phương pháp, phương tiện giáo dục theo định hướng phát triển năng lực Trong đó, tác

giả chú trọng đến những năng lực, kỹ năng cần cho HS suốt đời như năng lực

hợp tác, năng lực VDKT vào thực tiễn, năng lực giao tiếp, năng lực sáng tạo…và

phải sáng tạo hướng dẫn HS giải quyết các tình huống, bối cảnh thực tiễn

Trong “Kỷ yếu Hội thảo hệ thống năng lực chung cốt lõi của học sinh cho

chương trình giáo dục phổ thông Việt Nam” của Bộ GD và ĐT Hà Nội, đã tập

hợp nhiều bài viết của các nhà nghiên cứu về giáo dục, PPDH, đưa ra các mô hình giáo dục tiên tiến của các nước như Đức, Pháp, Niudilan, Singapo…từ đó các tác giả đã xác định khung năng lực chung cốt lõi cho chương trình giáo dục

phổ thông sau 2015 Trong đó, lưu ý đặc biệt tới năng lực vận dụng, liên hệ kiến

thức lịch sử đã học để giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra [14]

Tóm lại, đã có nhiều tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu về đổi mới PPDH theo hướng phát triển năng lực, phát huy tiềm năng sáng tạo của người

học với các cách tiếp cận khác nhau Tuy nhiên, các công trình chỉ dừng lại ở nghiên cứu lý luận chung, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu trực tiếp về

vấn đề dạy học theo hướng phát triển năng lực VDKTcho HS THPT Mặc dù vậy chúng tôi vẫn coi đây là nguồn tài liệu tham khảo quý báu cho mình trong quá trình thực hiện đề tài của mình

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Quá trình DHLS Việt Nam lớp 12 THPT (Chương trình chuẩn) và các

biện pháp phát triển năng lực VDKT trong DHLS cho học sinh lớp 12 ở trường THPT huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh

3.2 Ph ạm vi nghiên cứu

Trang 17

S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận về năng lực VDKT và đề xuất các biện pháp phát triển năng lực VDKT cho HS trong DHLS Việt Nam ở trường THPT huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh

Các biện pháp sư phạm đề xuất trong luận văn nhằm vào đối tượng DH là

HS lớp 12 ở các trường THPT huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh

Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi tiến hành điều tra thực tế việc DHLS tại ba trường THPT huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh Bên cạnh đó chúng tôi đã chọn trường THPT Yên Phong số 2 để tiến hành thực nghiệm sư phạm các

4.2 Nhi ệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc phát triển năng lực VDKT trong quá trình nhận thức và học tập

- Tìm hiểu thực tiễn dạy học nói chung, phát triển năng lực VDKT trong DHLS nói riêng

- Khái quát nội dung chương trình Lịch sử lớp 12 THPT phần lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954 - 1975 có liên quan tới việc hình thành và phát triển năng

lực VDKT

- Đề xuất một số biện pháp nhằm phát triển năng lực VDKT cho HS trong

dạy học lịch sử Việt Nam (1954 - 1975) lớp 12 ở trường THPT Yên Phong tỉnh

Bắc Ninh (Chương trình chuẩn)

- Tiến hành thực nghiêm sư phạm để rút ra kết luận về tính khả thi của các

Trang 18

S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

biện pháp sư phạm mà đề tài đề xuất

5 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 C ơ sở phương pháp luận

Trên cơ sở thế giới quan, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước về công tác giáo dục đào tạo nói chung, giáo dục Lịch sử nói riêng

5.2 Phương pháp nghiên cứu

- Nghiên cứu lý thuyết:

+ Nghiên cứu các văn bản, nghị quyết của Đảng, Nhà nước, Bộ Giáo dục

và Đào tạo có liên quan đến đề tài nghiên cứu

+ Nghiên cứu các tài liệu về tâm lí học, giáo dục học, phương pháp dạy học

Lịch sử, vấn đề phát triển năng lực nói chung và năng lực, kĩ năng VDKT nói riêng của học sinh và các tài liệu lịch sử liên quan đến đề tài

+ Nghiên cứu chương trình SGK phần lịch sử Việt Nam (1954 – 1975) lớp

12 để xác định mục tiêu về kiến thức, kĩ năng, thái độ để đề xuất các biện pháp

sư phạm trong DHLS Việt Nam lớp 12 ở trường THPT Yên Phong tỉnh Bắc Ninh

- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

+ Điều tra, khảo sát, thăm dò ý kiến của GV, HS thông qua phiếu điều tra + Phỏng vấn GV, HS, cán bộ quản lý giáo dục Ngoài ra chúng tôi còn tranh

thủ lắng nghe ý kiến của các đồng nghiệp đang trực tiếp giảng dạy bộ môn Lịch

+ Sử dụng thống kê toán học trong nghiên cứu để phân tích, xử lý các số

liệu thực nghiệm sư phạm

6 Gi ả thuyết khoa học

Trang 19

S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Trong quá trình DHLS Việt Nam (1954 - 1975) lớp 12 nếu GV sử dụng

những biện pháp sư phạm mà đề tài đề xuất, đáp ứng được yêu cầu đặt ra, phù hợp với đối tượng HS và điều kiện cụ thể của nhà trường sẽ góp phần nâng cao

chất lượng DHLS Việt Nam ở trường THPT Yên Phong tỉnh Bắc Ninh

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Về mặt khoa học: Luận văn góp phần làm phong phú thêm lí luận và PPDH bộ môn về vấn đề phát triển năng lực VDKT trong DHLS Việt Nam (1954

- 1975) ở trường THPT hiện nay

- Về mặt thực tiễn: Luận văn là nguồn tài liệu giúp GV ở trường THPT Yên Phong tỉnh Bắc Ninh sử dụng vào công tác dạy học bộ môn để nâng cao

chất lượng Thực hiện đề tài cũng là một hình thức trau dồi kiến thức chuyên môn,nghiệp vụ của bản thân tác giả đề tài

HS trong DHLS Việt Nam giai đoạn 1954 - 1975 lớp 12 THPT ở trường THPT huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh (Chương trình chuẩn)

9 C ấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục luận văn được

cấu trúc thành hai chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc phát triển năng lực vận dụng

kiến thức cho học sinh trong dạy học lịch sử ở trường THPT

Chương 2: Một số biện pháp phát triển năng lực năng lực vận dụng kiến thức trong dạy học Lịch sử Việt Nam (1954 - 1975) lớp 12 ở trường THPT huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh

Trang 20

S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN

NĂNG LỰC VẬN DỤNG KIẾN THỨC CHO HỌC SINH TRONG

1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 M ột số khái niệm liên quan đến đề tài

Khái niệm năng lực (competency) có nguồn gốc từ tiếng La tinh

“competentia” có nghĩa là gặp gỡ Ngày nay khái niệm năng lực được hiểu dưới

nhiều nghĩa khác nhau

Theo Từ điển Tiếng Việt, năng lực là “khả năng, điều kiện chủ quan hoặc

có năng lực suy nghĩ…là phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng

Trong cuốn Lý luận dạy học hiện đại, Vũ Dũng đã định nghĩa: “Năng lực

định” [24; tr 27]

Nhà giáo dục Weinert (2001) cho rằng: Năng lực gồm những khả năng và

kỹ xảo học được hoặc sẵn có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như sẵn sàng về động cơ, xã hội và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt

Theo OECD (Tổ chức các nước kinh tế phát triển) (2002) định nghĩa

“năng lực là khả năng cá nhân đáp ứng các yêu cầu phức hợp và thực hiện thành

Các nhà tâm lý học nghiên cứu sâu về vấn đề năng lực cũng khẳng định

rằng: Năng lực là tổ hợp các đặc điểm tâm lý của cá nhân, phù hợp với yêu cầu

của một dạng hoạt động xác định, đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả tốt

Trang 21

S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Như vậy có rất nhiều các quan điểm khác nhau về vấn đề năng lực Năng lực trong bối cảnh giáo dục thể hiện những nhu cầu và nguyện vọng tăng cường

mối liên hệ giữa thị trường lao động và giáo dục Năng lực nhận được sự chú ý

đặc biệt trong các lĩnh vực chuyên môn Như vậy, chúng tôi cho rằng năng lực

là khả năng thực hiện (giải quyết) có trách nhiệm và hiệu quả các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề trong những tình huống khác nhau thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trên cơ sở hiểu biết, kỹ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động Năng lực không phải là một thuộc tính

đơn nhất mà là là một thuộc tính tâm lý phức hợp, là một tổng thể của nhiều yếu

tố có liên hệ tác động qua lại, là điểm hội tụ của nhiều yếu tố như tri thức, kỹ

năng, kỹ xảo, vai trò, đạo đức…Năng lực là một tổng hòa phức tạp của kiến thức,

kỹ năng và thái độ, của tiêu chí và giá trị Nghĩa là năng lực không phải là cái có

sẵn, tồn tại trong mỗi con người mà ban đầu chỉ có tư chất của năng lực, nhưng

tư chất này được dần hình thành và phát triển, tích lũy trong quá trình học tập và lao động

Có nhiều loại năng lực khác nhau, trong đó năng lực hành động là một loại năng lực Khái niệm phát triển năng lực trong dạy học tích cực được hiểu đồng nghĩa với phát triển năng lực hành động Năng lực hành động bao gồm: năng lực tìm tòi, khám phá; năng lực xử lý thông tin; năng lực giải quyết vấn đề; năng lực

hợp tác…Và một người có năng lực là người hành động phù hợp Hành động của

một người có năng lực phụ thuộc vào khả năng tích lũy, thích ứng của họ Kết

quả của hành động là thước đo của sự phát triển năng lực Năng lực của cá nhân

là sự tổng hòa của kiến thức, kỹ năng, thái độ và kinh nghiệm, linh hoạt cần vận

dụng để thực hiện một nhiệm vụ trong một bối cảnh thực và có nhiều biến động Năng lực có thể quan sát được thông qua hành vi giải quyết vấn đề, sự thành thục

của năng lực có thể được suy ra từ yếu tố có thể quan sát được

Sau khi tiếp cận nghiên cứu của rất nhiều tác giả về năng lực, nhận thấy

Trang 22

S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

rằng sẽ không thể có năng lực lịch sử nếu không có kiến thức lịch sử, không thể

có năng lực toán học nếu không có kiến thức toán học Tuy nhiên, kỹ năng chỉ là

một yếu tố quan trọng trong tổ hợp nhiều yếu tố tạo nên năng lực (yếu tố cần nhưng chưa đủ) Năng lực lại là một hệ thống phức tạp bao gồm cả kỹ năng Bởi

một năng lực là tổ hợp đo lường của các kiến thức, kỹ năng, thái độ mà một người cần vận dụng để thực hiện một nhiệm vụ nào đó trong học tập và trong

cuộc sống

*Phát triển, vận dung, kiến thức

Theo Từ điển Tiếng Việt: “Phát triển là sự biến đổi hoặc làm cho biến đổi

tr.769] Phát triển là khuynh hướng vận động đã xác định về hướng của sự vật từ

thấp đến cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn Phát triển còn được hiểu theo nghĩa là cái mới ra đời thay thế cái cũ, cái tiến bộ ra đời thay thế cái lạc hậu…

Cũng theo Từ điển tiếng Việt thì khái niệm “vận dụng” nghĩa là “đem tri

tr.1105] Vậy chúng ta có thể hiểu chung năng lực VDKT là khả năng VDKT,

những điều hiểu biết có được do từng trải một cách có hiệu quả

Khái niệm “kiến thức” theo từ điển Tiếng Việt là “những điều hiểu biết có

được do từng trải, hoặc do học tập (nói tổng quát) Tích lũy kiến thức Truyền

th ụ kiến thức” [51; tr.524]

Có ý kiến cho rằng: Năng lực VDKT là khả năng vận dụng, nhận biết, hiểu

biết thông tin để giải quyết vấn đề đặt ra Nó còn là khả năng vận dụng sáng tạo tri thức trong những tình huống khác nhau và khả năng đánh giá thực tiễn

Năng lực VDKT còn được hiểu là khả năng VDKT đã biết, biết sử dụng phương pháp, nguyên lý hay ý tưởng để chiếm lĩnh kiến thức mới, để giải quyết

một vấn đề nào đó và vận dụng nó vào thực tiễn

Cũng có thể hiểu, năng lực VDKT là khả năng VDKT, khả năng, kĩ năng

Trang 23

S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

và thái độ hứng thú để hành động một cách phù hợp và có hiểu quả trong các tình

huống phong phú của cuộc sống

Tóm lại, theo cách hiểu chung nhất thì: Năng lực VDKT là khả năng vận

dụng tích hợp những điều đã biết, đã học (kiến thức, kĩ năng, phẩm chất, thái độ,

niềm tin…) vào các tình huống cụ thể gắn với thực tiễn Việc VDKT vào hoạt động thực tiễn có thể hiểu theo hai khía cạnh là: thực tiễn trong giờ học và thực

tiễn trong cuộc sống

Từ khái niệm nêu trên, chúng tôi cho rằng phát triển năng lực VDKT là

quá trình tích lũy kiến thức, kỹ năng, thái độ và kinh nghiệm, làm cho khả năng VDKT vào thực tế cuộc sống ngày càng thành thạo và hoàn thiện, đạt được mục đích đặt ra trước đó Trên cơ sở đó, bản thân sẽ giải quyết vấn đề nhanh hơn, chính xác hơn trong những hoàn cảnh khác nhau qua sự tìm tòi, khám phá, xử lý thông tin

Đối với HS THPT, năng lực VDKT gắn liền với sự hướng dẫn, điều khiển

của GV giúp HS phát hiện vấn đề cần giải quyết HS có năng lực VDKT thể hiện

ở việc các em khi gặp một tình huống có vấn đề, có thể tự phát hiện được vấn đề

cần giải quyết; chuyển vấn đề thành câu hỏi, bài tập nhận thức; thu thập thông tin và phân tích thông tin; đưa ra được phương án giải quyết và lực chọn phương

án tối ưu; hành động theo phương án đã chọn để giải quyết vấn đề; đánh giá cách làm của mình và điều chỉnh, đề xuất, cải tiến, mong muốn của bản thân đối với

vấn đề

Sự phát triển năng lực VDKT nói chung và phát triển năng lực VDKT cho

HS trong DHLS nói riêng được thể hiện theo hai khía cạnh: một là quá trình tăng

dần và hoàn thiện về kiến thức, kỹ năng, thái độ và kinh nghiệm Bởi năng lực là

tập hợp của ba mặt kiến thức, kỹ năng, thái độ; hai là sự phát triển về mặt chất lượng của năng lực VDKT, trên cơ sở kiến thức, kỹ năng, thái độ HS sẽ được rèn luyện việc tự phát hiện vấn đề cần xử lý, giải quyết, thu thập thông tin cần thiết cho vấn đề trong học tập và trong cuộc sống, VDKT đã học giải quyết vấn đề

Trang 24

S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

thực tiễn đặt ra Rồi phát triển lên mức độ cao hơn, thành thạo hơn, biểu hiện là

việc giải quyết vấn đề nhanh và hiệu quả

Tuy nhiên, để phát triển năng lực VDKT cho HS trong DHLS đòi hỏi phải

có một quá trình lâu dài trong học tập, lao động, trải nghiệm, bản thân luôn tích cực khám phá, muốn phát hiện cái mới, giải quyết mâu thuẫn xung đột trong nhận thức,

học tập và thực tiễn liên quan tới cuộc sống của HS Điều đó diễn ra dưới sự hướng

dẫn điều khiển thường xuyên của GV Vậy nên, việc phát triển năng lực VDKT cho

HS trong DHLS ở trường THPT có vai trò đặc biệt quan trọng

1.1.2 Xu ất phát điểm của vấn đề nghiên cứu

Luật giáo dục (2019), Điều 2 nêu rõ mục tiêu giáo dục nước ta là “nhằm

nghĩa xã hội; phát huy tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; nâng cao

tạo này đã chi phối đến mục tiêu của từng cấp học và môn học Đối với giáo dục

phổ thông, mục tiêu là phải trang bị kiến thức và khả năng nhận thức cao hơn so

với cấp trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông, phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển

Mục tiêu của bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông đã được xây dựng trên cơ

sở mục tiêu đào tạo, mục tiêu cấp học, quan điểm, đường lối của Đảng về sử học

và giáo dục Đồng thời, căn cứ vào nội dung, đặc trưng của hiện thực Lịch sử và

nhận thức Lịch sử, yêu cầu của bối cảnh đất nước hiện nay Trong Chương trình giáo dục phổ thông môn Lịch sử (2018) xác định mục tiêu của bộ môn là:“Môn

Lịch sử có sứ mệnh giúp HS hình thành và phát triển năng lực lịch sử, thành phần của năng lực khoa học đồng thời góp phần hình thành, phát triển những phẩm

Trang 25

S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

chất chủ yếu và năng lực chung được xác định trong Chương trình tổng thể Môn Lịch sử giữ vai trò chủ đạo trong việc giáo dục lòng yêu nước, tinh thần tự tôn dân tộc, truyền thống lịch sử và văn hoá dân tộc, giúp HS nhận thức và vận dụng được các bài học lịch sử giải quyết những vấn đề của thực tế cuộc sống, phát triển tầm nhìn, củng cố các giá trị nhân văn, tinh thần cộng đồng, lòng khoan dung, nhân ái; góp phần hình thành, phát triển những phẩm chất của công dân Việt Nam, công dân toàn cầu trong xu thế phát triển của thời đại” [12; tr.6] Như vậy,

mục tiêu của bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông phải thực hiện được những nhiệm

vụ cơ bản về: chuẩn kiến thức, kĩ năng, và hướng thái độ Trong đó, muc tiêu nhận

thức HS phải đạt được trên cả ba cấp độ: nhận biết (nắm được sự kiện, thời gian, không gian, nhân vật…), thông hiểu (nêu được bản chất, ý nghĩa, tìm ra mối liên

hệ bên trong của các sự vật hiện tượng…) và vận dụng (VDKT cũ tiếp thu kiến

thức mới và giải quyết vấn đề trong thực tiễn cuộc sống) Trên cơ sở các nhiệm vụ được hình thành và phát triển, GV giúp HS phát triển các năng lực chủ yếu: năng

lực hành động, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực giao tiếp, năng lực tự khẳng định…Đây cũng là những năng lực phù hợp với yêu cầu của sự phát triển kinh tế

- xã hội của khu vực và toàn cầu khi bước vào thế kỉ XXI mà UNESCO đã nêu ra:

“học để biết, học đê làm, học để chung sống, học để khẳng định mình” Để đạt

được ba mục tiêu đó, cần phải đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực

* Đặc trưng kiến thức lịch sử

Kiến thức Lịch sử mà các em được lĩnh hội mang tính quá khứ rõ rệt, mỗi

sự kiện, hiện tượng lịch sử chỉ xảy ra một lần duy nhất, gắn với một khoảng thời gian, không gian và nhân vật cụ thể Các em không thể trực tiếp quan sát được các sự kiện, hiện tượng, mà các em chỉ có thể nhận thức được một cách gián tiếp thông qua các tài liệu được lưu giữ lại, hoặc nhận thức thông qua bài giảng, hướng dẫn của giáo viên Và GV cũng không thể tiến hành thí nghiệm để dựng

Trang 26

S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

lại quá khứ lịch sử đúng như nó tồn tại để cho HS quan sát

Cùng với tính quá khứ, tri thức lịch sử mà các em được lĩnh hội ở trường

THPT còn mang tính không l ặp lại về cả không gian và thời gian Mỗi sự kiện,

hiện tượng lịch sử chỉ xảy ra trong một thời gian và không gian nhất định, trong

những thời gian và không gian khác nhau Không có một sự kiện, hiện tượng lịch

sử nào hoàn toàn giống nhau, dù có điểm giống nhau, lặp lại mà là sự kế thừa, phát triển - “sự lặp lại trên cơ sở không lặp lại” Bởi vậy, trong DHLS, khi trình

bày một sự kiện, hiện tượng nào đó GV phải xem xét tính cụ thể cả về thời gian

và không gian làm nảy sinh sự kiện, hiện tượng ấy Trên cơ sở đó, kiến thức lịch

sử đã mang tính cụ thể Lịch sử là khoa học nghiên cứu tiến trình lịch sử cụ thể

của các nước, các dân tộc khác nhau và quy luật của nó Lịch sử của mỗi nước,

mỗi dân tộc đều có diện mạo riêng do những diều kiện riêng quy định Đồng

thời, nội dung lịch sử rất phong phú, đề cập đến mọi lĩnh vực của đời sống xã

hội Điều này đòi hỏi người GV, phải chú ý tới mối quan hệ ngang-dọc, sau của các vấn đề lịch sử để cung cấp tri thức lịch sử cho HS có tính hệ thống

trước-Hơn nữa, các sự kiện lịch sử xảy ra không phải ngẫu nhiên mà có một quá trình hình thành, phát triển và kết thúc nhất định Nó biểu hiện mối liên hệ giữa các sự kiện hiện tượng một cách chặt chẽ, tạo nên tính logic tất yếu của lịch sử Ngoài

những điểm trên, kiến thức lịch sử còn mang tính thống nhất giữa “sử” và “luận”

HS nhận thức sự kiện, không chỉ dừng lại ở việc “biết”, mà cần phải giải thích

sự kiện, so sánh, đánh giá, rút ra quy luật và bài học kinh nghiệm Mọi giải thích, bình luận đều phải xuất phát từ sự kiện cụ thể, chính xác, đáng tin cậy

Từ những đặc trưng nói trên, rõ ràng việc DHLS ở trường phổ thông khác

với các môn khoa học tự nhiên khác Với các môn tự nhiên GV có thể tiến hành trong phòng thí nghiệm, HS được trực tiếp quan sát cái đang học Còn với môn

Lịch sử, GV phải giúp HS đi từ “biết” đến “hiểu”, từ cung cấp sự kiện đến tạo

biểu tượng để các em có thể tái tạo lại quá khứ, hình thành khái niệm, nêu quy

luật, rút ra bài học lịch sử và VDKT vào thực tiễn

Trang 27

S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Theo các nhà giáo dục, quá trình dạy học là một quá trình nhận thức của

HS Quá trình nhận thức của HS có những điểm giống với nhận thức của nhà khoa học là cùng diễn ra theo quy luật chung “từ trực quan sinh động đến tư duy

huy động của các thao tác tư duy ở mức độ cao nhất, đồng thời cũng làm cho vốn

hiểu biết của chủ thể được phong phú, hoàn thiện thêm

Tuy nhiên, quá trình nhận thức của HS lại có những nét đặc thù so với quá trình nhận thức chung của loài người, của các nhà khoa học là nó được tiến hành trong quá trình dạy học với những điều kiện sư phạm nhất định Và quá trình nhận thức của HS diễn ra theo con đường đã được khám phá HS không

phải tìm ra cái mới cho nhân loại mà nhận thức cái mới cho bản thân mình, được rút ra từ kho tàng hiểu biết chung của loài người Những kiến thức HS cần nắm

vững trong quá trình học tập chỉ là những kiến thức phổ thông cơ bản phù hợp

với thực tiễn của đất nước, được rút ra từ các khoa học và được gia công về mặt

sư phạm

Đối với bộ môn Lịch sử, xuất phát từ lí luận chung, từ mục tiêu, chức năng, nhiệm vụ của bộ môn, các nhà giáo dục Lịch sử đã khẳng định bản chất của quá trình dạy học Lịch sửlà một quá trình nhận thức đặc thù Bởi vì, đây là sự nhận

thức của cá thể HS, sự nhận thức trong lĩnh vực giáo dục và HS là người được giáo dục, chuẩn bị để sau này đảm nhiệm công việc xã hội Cho nên quá trình nhận thức của HS trong học tập có ba đặc điểm là tính gián tiếp, được hướng dẫn

và tính giáo dục

Chính từ những đặc điểm trên, chúng ta thấy rằng quá trình nhận thức của

HS là một quá trình phức tạp, mang tính đặc thù Trong học tập Lịch sử, quá trình nhận thức của HS trước hết phải bắt đầu từ việc tri giác tài liệu về sự kiện, quá trình lịch sử cụ thể để tạo các biểu tượng Đó là giai đoạn nhận thức cảm tính

của HS Ở giai đoạn tiếp theo, bằng hoạt động của tư duy tích cực, độc lập, HS

Trang 28

S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

đi đến những tri thức trừu tượng, khái quát hóa, đó là việc hình thành các khái

niệm, nêu quy luật Đây là giai đoạn nhận thức lý tính Tiếp đó, HS phải vận

dụng tri thức đã học để tạo ra trong tư duy những mối liên hệ với những điều mới chưa biết rồi biết sử dụng hiểu biết về quá khứ để hiểu hiện tại, hành động trong

thực tiễn phù hợp với trình độ, yêu cầu và nhiệm vụ của mình Đây là giai đoạn VDKT vào thực tiễn

Tóm lại, học tập lịch sử là quá trình nhận thức theo quy luật với những đặc trưng riêng biệt của bộ môn Trên cơ sở sự kiện, biểu tượng GV giúp HS hình thành khái niệm, nêu quy luật và rút ra bài học kinh nghiệm Có nghĩa là phải giúp các em hiểu được bản chất của sự kiện, hiện tượng từ đó biết VDKT vào

thực hành bộ môn và thực tiễn cuộc sống Vậy nên, trong DHLS đòi hỏi GV cần

có những phương pháp giúp HS khôi phục lại bức tranh quá khứ đúng như nó

tồn tại Hơn nữa, phải phát huy được tính tích cực, độc lập, sáng tạo của HS trong DHLS, góp phần nâng cao chất lượng dạy học, đáp ứng yêu cầu phát triển giáo

dục trong bối cảnh đất nước - quốc tế hiện nay

Vấn đề đổi mới giáo dục nói chung, đổi mới PPDH nói riêng là một yêu cầu cấp thiết trong cải cách giáo dục, đặc biệt là hình thành và phát triển năng

lực người học - một xu thế đổi mới giáo dục hiện nay trên thế giới

Trong bối cảnh công cuộc cải cách giáo dục và đổi mới PPDH đang diễn ra mạnh

mẽ trên thế giới từ những năm 90 của thế kỉ XX, các tài liệu, văn kiện của Đảng, Chính phủ đều định hướng việc đổi mới PPDH phải “lấy người học làm trung

tâm”, “áp dụng những phương pháp giáo dục hiện đại phù hợp với thực tiễn Việt Nam để bồi dưỡng cho HS năng lực tư duy, giải quyết vấn đề” [11] Chiến lược

phát triển giáo dục 2001-2010 cũng chỉ rõ: việc đổi mới phương pháp giáo dục

phải “chuyển từ truyền đạt tri thức thụ động thầy giảng trò ghi sang hướng dẫn

người học chủ động tư duy trong quá trình tiếp cận tri thức, dạy cho người học

có phương pháp tự học, có tư duy phân tích và tổng hợp” [13] đặc biệt vấn đề

Trang 29

S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

đổi mới PPDH nói chung được pháp chế hóa tại điều 7 của Luật Giáo dục số 43/2019/QH14 có ghi: “Phương pháp giáo dục phải khoa học, phát huy tính tích

năng lực tự học và hợp tác, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên” [44; tr 30]

Từ những định hướng chung về đổi mới PPDH của Đảng, Nhà nước thì việc đổi mới PPDH môn Lịch sử ở trường phổ thông cần chú trọng vào khuyến khích

HS học tập tích cực, chủ động chống lại thói quen học tập tiêu cực, thụ động loại

bỏ PPDH truyền thụ một chiều, nhồi nhét kiến thức, phải hướng vào năng lực tự

học của HS, đa dạng hóa các hình thức, phương pháp học tập để tạo điều kiện cho người học được học tập tích cực, tự khám phá kiến thức và giải quyết vấn đề, tự rút ra kết luận trên cơ sở hướng dẫn, tổ chức và gợi ý của GV Đồng thời, phải hướng tới sự tương tác, phối hợp giữa người dạy và người học và giữa người học

với nhau, coi trọng vốn hiểu biết, kinh nghiệm đã có của người học và tăng cường

sử dụng các phương tiện kĩ thuật dạy học hiện đại, đặc biệt là ứng dụng những thành tựu của công nghệ thông tin một cách hiệu quả

Đổi mới PPDH nói chung, môn Lịch sử ở trường phổ thông nói riêng là chuyển từ mô hình dạy học “lấy GV làm trung tâm” sang mô hình “lấy HS làm

học, phát triển khả năng tư duy Hiện nay, yêu cầu đổi mới PPDH là chuyển từ cách dạy học theo quan điểm tiếp cận nội dung sang cách dạy học tiếp cận năng lực người học Quan điểm dạy học này không chỉ đề cao tính chủ động trong

nhận thức của HS, mà còn đặc biệt chú ý năng lực giải quyết vấn đề gắn với

những tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp Đồng thời gắn hoạt động chí

tuệ với hoạt động thực hành, đẩy mạnh quan hệ tương tác giữa GV và HS thông qua sự kết hợp các hình thức học tập, theo đó phát triển năng lực xã hội.Theo quan điểm phát triển năng lực người học, việc đánh giá kết quả học tập của HS không chỉ dừng lại ở việc kiểm tra tái hiện kiến thức đã học, mà quan trọng nhất

Trang 30

S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

là việc kiểm tra khả năng vận dụng sáng tạo tri thức trong những tình huống ứng

dụng khác nhau và khả năng đánh giá thực tiễn cuộc sống

Thực chất đổi mới PPDH lịch sử không phải là thay đổi mục tiêu, hay xóa

bỏ mọi kinh nghiệm quý giá của các nhà giáo dục đã được đúc kết trong thực

tiễn dạy học ở trường phổ thông từ trước đến nay, mà làm cho mục tiêu ấy được

thực hiện có hiệu quả thiết thực, bằng những quan niệm đúng đắn, với những hình thức, bước đi và biện pháp thích hợp Vì theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: Không

phải cái gì cũ cũng bỏ hết, không phải cái gì cũng làm mới, cái gì cũ mà xấu thì

bỏ Cái gì cũ mà không xấu nhưng phiền phức thì phải sửa đổi cho hợp lý Cái

gì mà tốt phải phát triển thêm Cái gì mới thì ta làm nhằm mục đích phát huy mọi

khả năng và năng lực người học

Tóm lại, mục đích của việc dạy và học tích cực - đổi mới PPDHLịch sử không phải là xóa bỏ mọi phương pháp truyền thống đã được thừa nhận và sử

dụng hiệu quả trước đó, thay thế hoàn toàn bằng các PPDH hiện đại, mà thay đổi cách sử dụng chúng theo hướng tích cực, chủ động để nhằm phát triển ở người

học năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề Do đó, cần đề cao vai trò của người học: học bằng hoạt động, thông qua hoạt động của chính người học, để chiếm lĩnh kiến thức, hình thành năng lực và những phẩm chất của người lao động GV giữ vai trò là người tổ chức, hướng dẫn, giúp đỡ, tạo điều kiện tốt cho

học sinh có thể thực hiện các hoạt động học tập một cách hiệu quả

1.1.3 N ội dung và tiêu chí của năng lực vận dụng kiến thức trong dạy học

L ịch sử ở trường phổ thông

Xuất phát từ lí luận đã nêu, từ quá trình nhận thức của HS và đặc trưng của kiến thức lịch sử, chúng tôi xác định nội dung năng lực VDKT chủ yếu, cốt lõi cần phát triển cho HS trong quá trình dạy học bộ môn Lịch sử ở trường trung

học phổ thông gồm:

Trang 31

S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

VDKT trong DHLS có vai trò quan trọng, tạo ra chất lượng mới trong việc nắm vững kiến thức của HS Bởi vì, kiến thức khi HS vận dụng thì được củng cố

và là công cụ phát triển, công cụ giáo dục và công cụ thu nhận kiến thức mới, chúng trở thành phương pháp nhận thức hiện tượng của đời sống xã hội Việc VDKT trong quá trình học tập giúp HS hiểu vững kiến thức mới trên cơ sở so

sánh, đối chiếu với các kiến thức đã học Từ đó, nó giúp HS nhận thấy được mối liên hệ, tính kế thừa, bổ sung giữa kiến thức cũ với kiến thức mới Trên cơ sở đó,

HS hiểu chính xác, nhanh những kiến thức mới, đồng thời củng cố lại những kiến thức đã học

Giữa các môn học luôn có những nội dung liên quan với nhau, đặc biệt

là Văn - Sử - Địa Vì vậy, chúng ta sẽ vận dụng nguyên tắc dạy học liên môn

để nâng cao hiệu quả DHLS, góp phần vào việc phát triển năng lực VDKT cho HS một cách tổng hợp, phong phú Đây chính là việc vận dụng những nội dung và phương pháp các lĩnh vực, các môn học có liên quan để nhằm tăng thêm hiệu quả DHLS Nó giúp HS nhận thức được sự phát triển xã hội một cách liên tục, thống nhất, thấy được mối liên hệ hữu cơ giữa các lĩnh vực của đời sống xã hội, hiểu được tính toàn diện của lịch sử, khắc phục được tính rời

rạc, tản mạn trong kiến thức của HS VDKT liên môn trong DHLS là việc thực

hiện tính kế thừa trong nhận thức các khóa trình lịch sử dân tộc và thế giới từ

cổ đại đến hiện đại, làm cho HS hiểu rõ sự phát triển của xã hội một cách liên tục, thống nhất HS có thể VDKT của môn Văn, môn Địa, các loại hình nghệ thuật như hội họa, kiến trúc, điêu khắc, sân khấu, điện ảnh…trong quá trình

học tập bộ môn Lịch sử Nó giúp HS hiểu sâu sắc, toàn diện nhưng kiến thức

lịch sử đã và đang học

Trang 32

S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Giữa lịch sử thế giới và lịch sử Việt Nam (lịch sử dân tộc) có một mối quan

hệ biện chứng, khăng khít với nhau Những kiến thức lịch sử thế giới giúp học sinh

nắm được quá trình ra đời và phát triển của xã hội loài người, quy luật và xu thế phát triển khách quan của lịch sử Những kiến thức mà lịch sử thế giới cung cấp có liên quan đến lịch sử dân tộc sẽ giúp HS hiểu sâu sắc thêm những sự kiện và tiến trình lịch sử dân tộc hiểu hơn về đất nước mình, tự hào về dân tộc mình khi so sánh

với các dân tộc trên thế giới Sử dụng kiến thức lịch sử thế giới trong DHLS Việt Nam cần đặt các sự kiện, hiện tượng lịch sử trong bối cảnh của khu vực và thế giới, trình bày mối quan hệ và tác động lẫn nhau giữa các sự kiện lịch sử, giữa các quốc gia Nó sẽ giúp HS hiểu rõ bối cảnh thế giới và khu vực và sự tác động của những quy luật chung đến lịch sử dân tộc; đồng thời hiểu rõ vị trí và những đóng góp của dân tộc vào lịch sử nhân loại Nắm chắc lịch sử thế giới giúp HS có lòng tự hào chính đáng về dân tộc mình, có cơ sở khoa học để lí giải những vấn đề phức tạp,

thời sự đã và đang diễn ra trong nước và trên thế giới

Cũng tương tự như mối quan hệ giữa lịch sử thế giới với lịch sử dân tộc thì giữa lịch sử dân tộc với lịch sử địa phương cũng có một mối quan hệ biện

chứng với nhau Đúng như Lênin đã từng khẳng định: Cái riêng không tồn tại ngoài mối liên hệ với cái chung Việc VDKT lịch sử dân tộc để hiểu kiến thức

lịch sử địa phương làm cho HS hiểu rõ hơn những khái niệm lịch sử chung và riêng, nhận thức những hình thái kinh tế - xã hội các giai đoạn phát triển của lịch sử…Khi HS thấy được mối quan hệ biện chứng giữa lịch sử dân tộc và lịch sử địa phương, HS sẽ hiểu sâu sắc hơn những tác động của lịch sử dân tộc đến lịch

sử địa phương và ngược lại; thấy được mối liên hệ nhân quả và sự tác động qua

lại giữa lịch sử dân tộc và lịch sử địa phương

Trang 33

S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Các nhà sử học cổ đại khẳng định “lịch sử là cô giáo của cuộc sống”, “lịch

“thực tiễn là nguồn gốc của nhận thức, là tiêu chuẩn của chân lý” Trong quá

trình nhận thức, HS không những cần phải hiểu được tri thức, mà quan trọng hơn

phải biết vận dụng tri thức vào thực tiễn Việc phát triển được năng lực VDKT vào thực tiễn có giá trị hai mặt: vừa chứng minh hiệu quả của quá trình học tập, kích thích hứng thú học tập cho HS; vừa giúp HS trưởng thành trong nhận thức,

kết hợp lí luận với thực tế, học đi đôi với hành, đây cũng là cơ sở hình thành niềm tin và thế giới quan làm sáng tỏ bản chất của khoa học Từ những kiến thức

lịch sử các em rút ra được những bài học kinh nghiệm quý báu về cả thành công

lẫn thất bại của cha ông ta Kiến thức lịch sử và bài học lịch sử giúp học sinh vận

dụng và liên hệ để giải quyết những vấn đề thực tiễn cuộc sống đặt ra hay các

vấn đề thời sự phức tạp đang diễn ra trong nước và thế giới hiện nay như vấn đề

ô nhiễm môi trường, tranh chấp biên giới, biển đảo, xung đột trên thế giới, phân

biệt sắc tộc, tôn giáo…giúp HS phát triển năng lực nhận thức, độc lập, sáng tạo Năng lựcVDKT để giải quyết vấn đề thực tiễn bao gồm các hoạt động sau: hiểu

kiến thức lịch sử; xác định yêu cầu của vấn đề cần giải quyết; xem xét vấn đề có thể liên hệ được hay không và ở mức độ nào; đưa ra cách giải quyết cho vấn đề

1.1.3.2 Tiêu chí

Để có cơ sở đánh giá mức độ rèn luyện và phát triển năng lựcVDKT cho

HS trong quá trình DHLS ở trường phổ thông Chúng tôi xây dựng bộ tiêu chí đánh giá nội dung năng lực VDKT đề cho HS như sau:

Trang 34

S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

B ảng 1.1: Tiêu chí đánh giá hệ thống các năng lực vận dụng kiến thức

cho h ọc sinh

N ội dung

năng lực

M ức độ 1 (HS chưa có năng lực)

M ức độ 2 (HS đang hình thành năng lực)

M ức độ 3 (HS đã có năng lực)

1 Năng lựcVDKT cũ để hiểu kiến thức mới

-HS chưa thấy được mối liên hệ, tính kế thừa giữa

ki ến thức cũ và mới theo cùng chủ đề, theo giai đoạn

-HS biết được mối quan hệ giữa kiến

th ức cũ với kiến thức mới

-HS giải thích được mối quan hệ, tính kế

th ừa, đan xen, bổ sung giữa kiến thức

cũ với kiến thức mới

2 Năng lực VDKT liên môn để hiểu kiến thức mới

-HS chưa nhận thức được điểm tương đồng, hỗ trợ giữa những kiến thức liên môn với nhau trong quá trình h ọc tập

-HS bước đầu nhận thức được điểm tương đồng,

hỗ trợ giữa những

ki ến thức liên môn

v ới nhau

-HS biết cách sử dụng những kiến thức liên môn trong học tập, làm cơ sở

ti ếp thu kiến thức

m ới

3 Năng lựcVDKT lịch sử thế giới để hiểu kiến thức lịch sử Việt Nam

-HS chưa biết được mối quan h ệ giữa kiến thức lịch sử thế giới với lịch sử Việt Nam

-HS đã thấy được

m ối quan hệ giữa lịch sử thế giới với lịch sử Việt Nam -HS biết được các quy luật phát triển

c ủa lịch sử nhân loại

-HS gi ải thích được

nh ững tác động, ảnh hưởng của lịch sử thế giới đến lịch sử Việt Nam

4 Năng lựcVDKT lịch sử dân tộc để hiểu kiến thức lịch sử địa phương

- HS chưa nhận thức được

m ối quan hệ giữa lịch sử địa phương với lịch sử dân tộc

-HS xác định được

nh ững mối ảnh hưởng của lịch sử dân tộc với lịch sử địa phương

-HS ch ủ động, sáng

t ạo vận dụng kiến thức lịch sử dân tộc

để tìm hiểu lịch sử địa phương

5 Năng lực VDKT vào thực tiễn cuộc sống

-HS chưa biết VDKT lịch

sử để giải quyết vấn đề liên quan đến thực tiễn

-HS chưa lựa chọn được

ki ến thức lịch sử để vận dụng giải quyết vấn đề trong cuộc sống

-HS biết VDKT lịch sử cần giải quy ết liên quan đến thực tiễn

-HS bi ết lựa nội dung kiến thức để vận dụng giải quyết những vấn

đề thực tiễn

-HS tích cực sáng tạo VDKT lịch sử giải quy ết nhưng vấn đề

th ực tiễn

-HS ch ủ động vận dụng thành thạo kiến thức lịch sử cần thiết

để giải quyết vấn đề

th ực tiễn

Trang 35

S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Vậy từ việc xác định nội dung của năng lực VDKT: VDKT đã học để khám phá kiến thức mới, VDKT liên môn trong tìm hiểu kiến thức mới, VDKT

Lịch sử thế giới để hiểu kiến thức Lịch sử Việt Nam, lịch sử dân tộc để hiểu lịch

sử địa phương cũng như VDKT vào thực tiễn cuộc sống, chúng tôi đã xác định tiêu chí để đánh giá các năng lực VDKT ở ba mức độ: HS chưa có năng lực, HS đang hình thành năng lực, HS đã có năng lực Đây sẽ là cơ sở để GV trong quá trình DHLS biết được thực tế HS đang ở mức độ nào để từ đó kết hợp các biện pháp nhằm phát triển năng lực VDKT cho HS

1.1.4 Vai trò, ý nghĩa của việc phát triển năng lực vận dụng kiến thức cho học sinh trong d ạy học Lịch sử Việt Nam (1954 - 1975) lớp 12 ở trường THPT huy ện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh

1.1.4.1 Vai trò

Hiện nay, với sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin kiến thức không còn là tài sản riêng của trường học, HS có thể tiếp nhận thông tin từ nhiều nguồn khác nhau Các nguồn thông tin đa chiều mà người học có thể tiếp nhận

đã đặt giáo dục trước yêu cầu cấp bách là phải đổi mới cách dạy và cách học Xu hướng dạy học theo hướng tiếp cận năng lực người học để phát triển năng lực chủ chốt và năng lực chuyên biệt đang là mục tiêu của nền giáo dục hiện đại

nhằm đào tạo những con người phát triển toàn diện trước yêu cầu xây dựng và

bảo vệ Tổ quốc Trong các năng lực cốt lõi nói chung và năng lực chuyên biệt nói riêng thì việc phát triển năng lực VDKT cho HS trong DHLS có vai trò đặc biệt quan trọng không chỉ đối với học tập Lịch sử mà còn vô cùng cần thiết trong

cuộc sống

Việc phát triển năng lực VDKT góp phần thực hiện đường lối đổi mới giáo

dục hiện nay của Đảng, đặc biệt là việc đổi mới PPDH theo hướng: dạy học lấy

học sinh làm trung tâm, phát huy tính tích cực, chủ động của HS, bồi dưỡng năng

lực tư duy, VDKT, giải quyết vấn đề….Một trong những yêu cầu của dạy và học tích cực là khuyến khích người học tự lực khám phá những điều chưa biết trên

Trang 36

S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

cơ sở những điều đã biết Giáo dục, dạy học bám sát các vấn đề của thực tiễn, áp

dụng kiến thức vào giải quyết vấn đề thực tiễn thay cho việc nhồi nhét thông tin,

là quá trình giúp HS nhận thức, thông hiểu và VDKT vào cuộc sống thực tế Điều này sẽ làm cho HS hiểu, tự lý giải mình cần phải học những gì? và vì sao phải

học chúng? Với đặc trưng của DHLS và đặc trưng của kiến thức lịch sử thì vấn

đề phát triển năng lực VDKT cho HS trong DHLS đóng vai trò không thể thiếu

để tìm ra mối liên hệ trước sau, trong ngoài của các sự kiện, hiện tượng, biến cố

từ đó thấy được nguồn gốc, bản chất, tác động qua lại giữa các sự kiện, hiện tượng Trong đó, các hoạt động học tập được tổ chức, được định hướng bởi GV người học không thụ động, chờ đợi mà phải tự lực, tích cực tham gia vào quá trình tìm kiếm, khám phá, phát hiện kiến thức, VDKT để giải quyết vấn đề trong

thực tiễn, qua đó các em lĩnh hội nội dung học tập và phát triển được năng lực sáng tạo

Việc phát triển năng lực VDKT còn có vai trò quan trọng trong việc góp

phần đáp ứng mục tiêu giáo dục - đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước Để thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong

bối cảnh hội nhập quốc tế, đòi hỏi phải có nguồn nhân lực có trình độ học vấn rộng, năng động, sáng tạo Yêu cầu đối với người lao động không chỉ đơn thuần

là kiến thức mà còn là năng lực giải quyết các vấn đề, năng lực VDKT Chính vì

vậy, chúng ta phải không ngừng đổi mới giáo dục, đổi mới PPDH để đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội

1.1.4.2 Ý nghĩa

Môn Lịch sử ở trường THPT nhằm trang bị cho HS hệ thống kiến thức cơ

bản, cần thiết về lịch sử dân tộc và lịch sử thế giới; góp phần hình thành thế giới quan khoa học, bồi dưỡng các năng lực tư duy, hành động…và năng lực VDKT

Việc phát triển năng lực VDKT cho HS trong DHLScó ý nghĩa đặc biệt quan

trọng đối với HS trên cả ba mặt bồi dưỡng kiến thức, phát triển kỹ năng và hình thành tư tưởng, tình cảm, thái độ tốt đẹp

Trang 37

S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Phát triển năng lực VDKTcho HS trong DHLS Việt Nam (1954 -

1975)giúp HS mở rộng, củng cố, khắc sâu kiến thức lịch sử quan trọng của dân

tộc Qua đó các em hiểu được quá trình phát triển của lịch sử dân tộc, những chuyển biển của các mặt của đời sống kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục…thấy được quy luật tất yếu trong tiến trình đi lên của loài người Đồng thời giúp các

em có thể giải thích, liên hệ với thực tiễn cuộc sống Trên cơ sở đó làm giàu thêm

vốn tri thức, hình thành thế giới quan cho HS

Phát triển năng lực VDKTcho HS trong dạy học Lịch sử Việt Nam (1954

bộ môn như kỹ năng ghi nhớ, hình dung, tưởng tượng, tái hiện; phát triển kỹ năng tư duy logic (so sánh, đối chiếu, phân tích, đánh giá, phản biện,…) đặc biệt

nhất là kỹ năng VDKT, phát hiện, đề xuất và giải quyết các vấn đề trong học tập

lịch sử (điều tra, thu thập, xử lý thông tin, nêu dự kiến giải quyết vấn đề, lựa chọn

giải pháp phù hợp nhất…) và thực tiễn cuộc sống hiện nay Hình thành các năng

lực: năng lực tự học, năng lực hợp tác, năng lực giao tiếp…

*V ề thái độ

Phát triển năng lực VDKT cho HS trong DHLS Việt Nam (1954 - 1975)góp phần hình thành và phát triển những phẩm chất tốt đẹp như: bồi dưỡng tình yêu quê hương, đất nước gắn liền với chủ nghĩa xã hội; lòng tự hào dân tộc, lòng tôn vinh và trọng những người có công với đất nước; có thái độ tích cực, độc lập, sáng tạo trong học tập; có niềm tin về sự tiến bộ; có tinh thần nhân ái;

có trách nhiệm đối với bản thân, gia đình và xã hội; có ý chí vượt khó vươn lên,

khắc phục và giải quyết vấn đề trong học tập và trong cuộc sống

Như vậy, phát triển năng lực VDKT cho HS trong DHLS có vai trò và ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu bộ môn và góp phần nâng cao hiệu quả DHLS ở trường phổ thông Đặc biệt, phát triển năng lực

Trang 38

S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

VDKT cho HS trong DHLS còn thực hiên việc đổi mới PPDH, kiểm tra đánh giá theo xu hướng phát triển năng lực người học

1.2 C ơ sở thực tiễn

1.2.1 Địa điểm, thời gian, đối tượng khảo sát

THPT huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh trong năm học 2019 - 2020 Kết quả thu được sẽ giúp chúng tôi có được một cái nhìn tổng thể, khái quát về thực trạng DHLS nói chung, DHLS Việt Nam (1954 - 1975) nói riêng ở ba trường THPT huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh: Trường THPT Yên Phong số 1, THPT Yên Phong số 2 và THPT Dân lập Nguyễn Trãi

huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh: Trường THPT Yên Phong số 1, THPT Yên Phong số 2, THPT Dân lập Nguyễn Trãi và Trung tâm giáo dục thường xuyên huyện Yên Phong Những trường chúng tôi tiến hành điều tra đều có điều kiên

cơ sở vật chất, trình độ HS tương đương, chăm ngoan, ham học hỏi, GV dạy lịch

sử đều có phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ, có tinh thần trách nhiệm cao với nghề nghiệp

1.2.2 K ế hoạch và nội dung tiến hành điều tra, khảo sát

*Mục đích điều tra, khảo sát

Về mục đích của công tác điều tra nhằm đánh giá tình hình DHLS nói chung và việc phát triển năng lực VDKT cho HS trong DHLS nói riêng Kết quả điều tra là cơ sở thực tiễn quan trọng để chúng tôi đề xuất các biện pháp nhằm phát triển năng lực VDKT cho HS trong DHLS

- Chúng tôi sử dụng phiếu điều tra phát cho GV và HS để lấy ý kiến

- Dự giờ chuyên môn, quan sát hoạt động dạy - học trên lớp của GV và

HS, nghiên cứu trao đổi, phỏng vấn GV lịch sử, HS ở các trường THPT, về vấn

Trang 39

S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

đề cần khảo sát, phát phiếu điều tra nhằm thu thập ý kiến của GV và HS về các vấn đề cần nghiên cứu

Đối với GV: Tập trung vào nhận thức của GV về bản chất, nội dung, vai trò, ý nghĩa của năng lực VDKT trong DHLS, biểu hiện và các biện pháp sư

phạm để rèn luyện và phát triển năng lực VDKT cho HS trong DHLS

Đối với HS: chúng tôi tiến hành điều tra các vấn đề như tìm hiểu thái độ

của HS đối với bộ môn Lịch sử, quan niệm của HS về năng lực VDKT và mong

muốn của các em khi học bộ môn lịch sử

1.2.3 K ết quả điều tra, khảo sát

Căn cứ vào kết quả xử lý số liệu điều tra của GV và HS, chúng tôi thấy được thực trạng của việc phát triển năng lực VDKT cho HS trong DHLS để từ

đó xác định nguyên nhân và đề xuất biện pháp Trên cơ sở tổng hợp kết quả điều tra các nguồn thông tin thu thập chúng tôi thu được kết quả như sau:

Với câu hỏi: “Quan điểm của thầy (cô) về tầm quan trọng của việc phát

GV tham gia cuộc điều tra đều khẳng định sự cần thiết phải rèn luyện và phát triển năng lực VDKT cho HS Và 89.5% GV cho rằng phát triển năng lực VDKT cho HS giúp các em phát triển được năng lực VDKT trong học tập bộ môn và biết VDKT lịch sử đã học vàothực tiễn cuộc sống

Về ý nghĩa của việc phát triển năng lực VDKT cho HS trong DHLS: 100%

GV đều cho rằng việc phát triển năng lực VDKT có một ý nghĩa quan trọng Nó góp phần củng cố kiến thức, rèn luyện kĩ năng thực hành bộ môn, bồi dưỡng thái

độ, tư tưởng tình cảm đúng đắn, tính chuyên cần, kiên trì cho HS

Trong DHLS, năng lực VDKT có những biểu hiện cần phải được rèn luyện

và phát triển cho HS Vì vậy, chúng tôi đề xuất các nội dung năng lực VDKT trong phiếu điều tra Kết quả thu được như sau: 57,9% GV đồng ý biểu hiện là

Trang 40

S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

VDKT đã học để hiểu kiến thức mới; 26,3% chọn năng lực VDKT liên môn trong dạy học; 36,8% GV chọn năng lực VDKT lịch sử thế giới để hiểu kiến thức

lịch sử Việt Nam; 31,6% GV chọn năng lực VDKT lịch sử dân tộc để hiểu lịch

sử địa phương 26,3 % GV chọn nội dung năng lực VDKT lịch sử vào giải quyết các vấn đề thực tiễn cuộc sống, hay các vấn đề thời sự đang diễn ra ở trong nước

và thế giới

Như vậy, đã số các GV đã nhận thức được sự phong phú về những biểu

hiện của năng lực VDKT cho HS trong DHLS cần thiết để phát triển cho HS

Về mức độ sử dụng những biện pháp để phát triển năng lực VDKT cho HS trong DHLS thì đa số vẫn sử dụng phương pháp truyền thống: thuyết trình, đàm thoại, vấn đáp Các GV đều rất ít vận dụng những biện pháp khác: Tổ chức hoạt động khởi động để liên hệ kiến thức cũ với kiến thức mới (31,6%); Sử dụng các phương pháp và hình thức kiểm tra, đánh giá yêu cầu HS giải quyết các vấn đề

học tập (42,1%); Hướng dẫn HS VDKT để làm bài tập Lịch sử (gồm bài tập nhận

thức, vẽ sơ đồ, sử dụng đồ dùng trực quan, hùng biện về một nhân vật lịch sử, giao bài tập về nhà ) (36,8%); Tổ chức cho HS tham gia các công tác công ích xã hôi: Tham gia xây dựng nhà bảo tàng, phòng truyền thống cách mạng ở địa phương, thăm hỏi các gia đình thương binh, liệt sĩ hoặc chăm sóc nghĩa trang liệt sĩ, đền

thờ các anh hùng dân tộc(21.1%); Hướng dẫn HStuyên truyền, phổ biến kiến thức

Lịch sử trong nhân dân (tổ chức dạ hội Lịch sử, các cuộc thi kỉ niệm các ngày lễ

lớn ) (15,8%); Hướng dẫn HS bày tỏ ý kiến cá nhân về các hành vi sai lệch trong cuộc sống (21,1%); GV thường xuyên gắn nội dung học tập với thực tế cuộc sống (31,6%) Thực tế cho thấy việc tích cực vận dụng các biện pháp nhằm phát triển năng lực VDKT cho HS trong DHLS ở trường phổ thông hiện nay chưa được quan tâm và chú trọng nhiều

Khi được hỏi: “Thầy (cô) thường giao cho HS những loại bài tập về nhà

nào dưới đây:Bài tập dưới dạng một câu hỏi tổng hợp; Bài tập lập niên biểu;

Ngày đăng: 12/06/2021, 19:38

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w