1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Biện pháp tu từ so sánh và biện pháp tu từ nhân hóa trong tác phẩm viết cho thiếu nhi của tô hoài

106 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 0,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một trong những nguồn gốc hình thành nên những tác phẩm xuất sắc của Tô Hoài là bởi tài năng sử dụng ngôn từ, trong đó có các biện pháp tu từ như: so sánh, nhân hóa, ẩn dụ… của một nhà v

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

L ẠI THỊ HƯƠNG

THÁI NGUYÊN - 2019

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

L ẠI THỊ HƯƠNG

Ngành: Ngôn ng ữ Việt Nam

Mã s ố: 8220102

Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN TÚ QUYÊN

THÁI NGUYÊN - 2019

Trang 3

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

L ỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu,

kết quả trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa

từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác

Tác gi ả luận văn

L ại Thị Hương

Trang 4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

luận văn, để luận văn được hoàn thiện hơn

Tác gi ả

L ại Thị Hương

Trang 5

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

M ỤC LỤC

Trang

Trang bìa phụ

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC BẢNG BIỂU v

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 1

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu , 5

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5

5 Phương pháp nghiên cứu 6

6 Cấu trúc của luận văn 6

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 7

1.1 Cơ sở lí luận 7

1.1.1 Khái quát về biện pháp tu từ 7

1.1.2 Biện pháp tu từ so sánh và biện pháp tu từ nhân hóa 10

1.2 Cơ sở thực tiễn 29

1.2.1 Tiểu sử của tác giả Tô Hoài 29

1.2.2 Sự nghiệp của tác giả Tô Hoài 30

1.2.3 Đặc điểm ngôn ngữ trong văn xuôi của Tô Hoài 34

1.3 Tiểu kết 37

Trang 6

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Chương 2 BIỆN PHÁP TU TỪ SO SÁNH TRONG TÁC PHẨM

VIẾT CHO THIẾU NHI CỦA TÔ HOÀI 38

2.1 Biện pháp tu từ so sánh trong tác phẩm viết cho thiếu nhi của Tô Hoài xét về mặt cấu tạo hình thức 38

2.1.1 Nhận xét chung 38

2.1.2 Mô hình của cấu trúc so sánh 38

2.1.3 Đặc điểm ngữ pháp của các thành tố trong cấu trúc so sánh 45

2.2 Biện pháp tu từ so sánh trong tác phẩm viết cho thiếu nhi của Tô Hoài xét về mặt ngữ nghĩa 49

2.2.1 Ngữ nghĩa khái quát của biện pháp tu từ so sánh trong tác phẩm của Tô Hoài 49

2.2.2 Các kiểu cấu trúc so sánh được phân loại theo ngữ nghĩa của đối tượng được so sánh (A) và đối tượng so sánh (B) 53

2.3 Vai trò của biện pháp tu từ so sánh trong tác phẩm viết cho thiếu nhi của Tô Hoài 56

2.3.1 Bộc lộ đặc điểm của nhân vật 56

2.3.2 Thể hiện văn hóa của người Việt 59

2.3.3 Thể hiện cái tài sử dụng ngôn từ của tác giả 60

2.4 Tiểu kết 63

Chương 3 BIỆN PHÁP TU TỪ NHÂN HÓA TRONG TÁC PHẨM VIẾT CHO THIẾU NHI CỦA TÔ HOÀI 64

3.1 Biện pháp tu từ nhân hóa trong tác phẩm viết cho thiếu nhi của Tô Hoài xét về mặt cấu tạo hình thức 64

3.1.1 Nhận xét chung 64

3.1.2 Phân loại và miêu tả các kiểu cấu tạo hình thức của các phương tiện tu từ nhân hóa 64

Trang 7

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

3.2 Đặc điểm ngữ nghĩa của biện pháp tu từ nhân hóa trong tác phẩm viết

cho thiếu nhi của Tô Hoài 73

3.2.1 Nhận xét chung 73

3.2.2 Đối tượng được nhân hóa là động vật 74

3.2.3 Đối tượng được nhân hóa là thực vật 78

3.2.4 Đối tượng được nhân hóa là đồ vật 80

3.3 Vai trò của biện pháp tu từ nhân hóa trong tác phẩm viết cho thiếu nhi của Tô Hoài 82

3.3.1 Bộc lộ thái độ của tác giả đối với thế giới sự vật không phải là người 82

3.3.2 Thể hiện sự sống động của thế giới sự vật vô tri, vô giác 85

3.3.3 Thể hiện cái tài quan sát hiện thực của nhà văn 87

3.4 Tiểu kết 89

KẾT LUẬN 91

TÀI LIỆU THAM KHẢO VÀ NGUỒN NGỮ LIỆU THỐNG KÊ 94

Trang 8

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

DANH M ỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

STT Ch ữ viết tắt, kí hiệu N ội dung

Trang 9

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

DANH M ỤC BẢNG BIỂU

Trang

Bảng 2.1 Các kiểu cấu trúc so sánh 45

Bảng 2.2 Các dạng của yếu tố được so sánh 47

Bảng 2.3 Các dạng của yếu tố so sánh 49

Bảng 2.4 Các từ ngữ so sánh trong các kiểu so sánh 52

Bảng 2.5 Tần xuất các từ ngữ biểu thị quan hệ so sánh 53

Bảng 2.6 Sáu kiểu so sánh được phân loại dựa vào ý nghĩa của A và B 56

Bảng 3.1 Bảng tần xuất số lần xuất hiện các kiểu câu đơn 70

Bảng 3.2 Bảng số lần xuất hiện của các đối tượng được nhân hóa 73

Trang 10

S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

M Ở ĐẦU

1 Lí do ch ọn đề tài

1.1 Nghiên cứu biện pháp ngôn ngữ trong tác phẩm văn chương nói chung, nghiên cứu biện pháp tu từ nói riêng là một trong những hướng nghiên

cứu được chú ý trong ngôn ngữ học hiện đại Nghiên cứu ngôn ngữ trong tác

phẩm của Tô Hoài cũng nằm trong hướng nghiên cứu đó

1.2 Tô Hoài là một nhà văn có tên tuổi trong nền văn học nước nhà Văn

của ông, đặc biệt những trang văn viết cho thiếu nhi đã để lại những ấn tượng sâu

sắc trong lòng người đọc Một trong những nguồn gốc hình thành nên những tác

phẩm xuất sắc của Tô Hoài là bởi tài năng sử dụng ngôn từ, trong đó có các biện pháp tu từ như: so sánh, nhân hóa, ẩn dụ… của một nhà văn lão luyện

1.3 Đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào dành riêng cho việc tìm hiểu các biện pháp tu từ trong tác phẩm của Tô Hoài cũng như chưa công trình nghiên cứu biện pháp tu từ so sánh và nhân hóa trong văn ông một cách bài

bản Theo thống kê ban đầu của chúng tôi, đây là hai biện pháp tư từ được Tô Hoài sử dụng khá nhiều, chúng góp phần quan trọng làm nên diện mạo phong

cách văn ông Vì lẽ đó, chúng tôi chọn đề tài: “Biện pháp tu từ so sánh và biện

nghiên cứu, một phần nhằm góp thêm tiếng nói khẳng định giá trị văn chương

của tác giả Tô Hoài

2 L ịch sử vấn đề

Biện pháp tu từ là một phương diện quan trọng trong việc nghiên cứu nội dung và nghệ thuật trong một tác phẩm văn học Trong đó, chúng tôi có chú ý

đến các cuốn giáo trình nền tảng: Đinh Trọng Lạc với Giáo trình Việt ngữ (Nxb

GD, 1964), 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt (Nxb GD, 1966),

Trang 11

S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

với Từ so sánh đến ẩn dụ (Tạp chí ngôn ngữ, số 3,1991)…

Có thể nhận thấy trong những công trình nghiên cứu kể trên, các tác giả

đã chú trọng đến việc hình thành khái niệm, phân loại và tìm ra hiệu quả vai trò của các biện pháp tu từ trong đó có hai biện pháp tu từ là so sánh và nhân hóa Đây là cơ sở lý thuyết quan trọng để có thể tham khảo và đi sâu nghiên cứu các biện pháp tu từ nói chung, trong đó có có hai biện pháp tu từ so sánh và biện

Ngoài những cuốn giáo trình có tính chất nền tảng trên, còn có nhiều những công trình nghiên cứu về các mặt khác nhau của các biện pháp tu từ: Đỗ Hữu Châu

với các cuốn: Các bình diện của từ và từ tiếng Việt (Nxb Khoa học xã hội, H,

1986), Cơ sở ngữ dụng học (Nxb, Đại học Sư phạm, H, 2001), Giáo trình ngữ

Giáo dục, H, 1994), Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Ngọc Phiến với cuốn

Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt (Nxb Giáo dục, H, 2001)…

Với một khối lượng tác phẩm đồ sộ, tính đến nay có rất nhiều những công trình khoa học nghiên cứu về ông cũng như về các tác phẩm của ông ở mọi phương diện từ nội dung đến nghệ thuật Sau đây, chúng tôi tổng quát một số

cuốn giáo trình, chuyên khảo, luận văn, luận án tiêu biểu về tác giả Tô Hoài và

sự nghiệp văn học của ông:

* Giáo trình:

Giáo trình Văn học hiện đại 3A, giới thiệu về tiểu sử, sự nghiệp văn học và

phong cách nghệ thuật của tác giả Tô Hoài, Nxb Đại học sư phạm Thái Nguyên

do chính Tô Hoài chắt chiu, gom góp Đây được xem như cuốn sách gối đầu giường dành cho những ai yêu thích chủ nghĩa Với ông viết là thành quả lao

Trang 12

S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

động và người viết cần phải chăm chút, tỉ mỉ Tô Hoài như một từ điển sống, một pho sách sống Nhà thơ Trần Đăng Khoa “Ông như cuốn Bách khoa toàn thư mà không viện sĩ nào, không học giả nào sánh được”

phẩm mở đầu cho thành công về đề tài chân dung văn học của Tô Hoài Tô Hoài đã dành những nét vẽ chân thật và sinh động để phác họa về một thế hệ cầm bút: Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyên Hồng Tô Hoài đã quan sát một cách tổng quát, góp nhặt những cái hay, cái dở đưa vào sáng tác của mình

của tác giả Nguyễn Đăng Điệp, 6/2011 Trong bài viết này, tác giả giới thiệu về

cuộc đời, sự nghiệp văn học của nhà văn Tô Hoài Tô Hoài là cây bút gắn bó với

2 mảnh đất: con người phong thổ ngoại ô Hà Nội và vùng đất Tây Bắc Bài viết nói về phong cách, giọng điệu rất riêng của nhà văn Tô Hoài Bài viết cũng có

sự so sánh giữa hai nhà văn Tô Hoài và Nguyễn Tuân Nguyễn Tuân truy tìm cái đẹp đượm màu lý tưởng, đó là cái đẹp kì vĩ, khác lạ Còn Tô Hoài thì đi tìm cái đẹp từ trong đời thường, những cái bình dị và thân thương nhất…

- Tô Hoài, M ột biểu tượng sống của Hà Nội, tác giả Hà Thủy - Thu Hoài

đăng trên báo Thể thao và văn hóa: Đề tài Hà Nội luôn trở đi trở lại trong các tác

phẩm của Tô Hoài Có thể nói bóng dáng và linh hồn Hà Nội luôn luôn hiện hữu trong tâm tưởng và các trang viết của ông

- Tác giả Hoàng Thị Diệu với Văn xuôi viết cho thiếu nhi của Tô Hoài

khoa học, PGS.TS Vân Thanh Trong đó, tác giả viết về vị trí của Tô Hoài trong

nền văn học thiếu nhi Việt Nam, những nét đặc sắc trong thể loại văn xuôi viết cho thiếu nhi của Tô Hoài sau Cách mạng tháng Tám và những đặc điểm nghệ thuật trong văn xuôi viết cho thiếu nhi của Tô Hoài

Trang 13

S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

- Tác giả Phó Thị Hồng Oanh với Trường từ vựng - ngữ nghĩa trong

khoa học, PGS.TS Nguyễn Thị Nhung Đây là công trình khoa học nghiên cứu về đặc điểm trường từ vựng - ngữ nghĩa trong truyện Tây Bắc, vai trò của việc sử

dụng các từ ngữ thuộc các trường nghĩa khác nhau trong truyện Tây Bắc của Tô Hoài để thấy được vẻ đẹp, sự giàu có của thiên nhiên Tây Bắc, sự đặc biệt của khí

hậu, sự đa dạng của địa hình và phong tục, văn hóa đặc trưng Tây Bắc

- Tác giả Giáp Thị Thủy với Hội thoại trong Dế Mèn phiêu lưu kí, Luận

văn Thạc sĩ Ngôn ngữ học, Người hướng dẫn khoa học, PGS.TS Tạ Văn Thông

Đây là công trình khoa học nghiên cứu về đặc điểm của cuộc hội thoại trong Dế

trong D ế Mèn phiêu lưu kí Chúng cho thấy sự hồi đáp phối hợp đa dạng của

người nói và người nghe sự tương tác uyển chuyển qua những phát ngôn

- Tác giả Tạ Minh Thủy với Nghệ thuật tự sự trong truyện viết cho thiếu

dẫn khoa học, PGS.TS Lý Hoài Thu Đây là công trình nghiên cứu khoa học khái quát về nghệ thuật tự sự và sáng tác của Tô Hoài trong bức tranh thiếu nhi

Việt Nam, nghệ thuật tổ chức cốt truyện và xây dựng nhân vật trong truyện thiếu nhi của Tô Hoài và người kể chuyện, ngôn ngữ trần thuật trong truyện viết cho thiếu nhi của Tô Hoài

Như vậy, cho đến nay chưa thấy có tài liệu nghiên cứu riêng nào nghiên cứu một cách đầy đủ và sâu sắc về phương thức so sánh và nhân hóa trong các tác phẩm

của Tô Hoài đặc biệt là trong tác phẩm viết cho thiếu nhi của Tô Hoài

Trang 14

S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là biện pháp tu từ so sánh và biện pháp

tu từ nhân hóa trong tác phẩm của Tô Hoài viết cho thiếu nhi

+ Tô Hoài (1997), Tuy ển tập Văn học thiếu nhi, Tập 1, Nxb Văn học, Hà

Luận văn nghiên cứu biện pháp tu từ so sánh và biện pháp tu từ nhân hóa

- Mục đích nghiên cứu của luận văn là góp phần làm rõ đặc điểm ngôn

ngữ của nhà văn Tô Hoài

- Giúp người đọc thấy được vai trò của biện pháp tu từ so sánh và nhân hóa trong tác phẩm văn chương nói chung, trong văn Tô Hoài nói riêng

- Làm tư liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy ngôn ngữ văn chương

Trang 15

S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Để đạt được mục tiêu đã đặt ra, đề tài tài xác định một số nhiệm vụ chủ

yếu sau đây:

- Nghiên cứu những vấn đề lý thuyết liên quan được dùng làm căn cứ lí

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đã sử dụng một số phương pháp và thủ pháp nghiên cứu sau:

5.1 Phương pháp thống kê - phân loại: Phương pháp nghiên cứu này được

dùng để thống kê và phân loại các biểu thức ngôn ngữ dùng để thực hiện biện pháp

tu từ so sánh và biện pháp tu từ nhân hóa trong các tác phẩm đã nói trên

5.2 Phương pháp phân tích miêu tả: Phương pháp nghiên cứu này dùng

để phân tích các ngữ liệu khảo sát, sau đó kết luận những kết quả đã nghiên cứu theo từng loại, từng nhóm

5.3 Phương pháp đối chiếu so sánh: Phương pháp nghiên cứu này dùng để đối

chiếu việc sử dụng hai biện pháp tu từ đang bàn với trường hợp không dùng chúng trong một bối cảnh ngôn ngữ để thấy được vai trò của các biện pháp tu từ này

6 C ấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo nội dung chính của

luận văn chia làm 3 chương như sau:

Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn

Chương 2 Biện pháp tu từ so sánh trong tác phẩm viết cho thiếu nhi của

Tô Hoài

Chương 3 Biện pháp tu từ nhân hóa trong tác phẩm viết cho thiếu nhi của

Tô Hoài

Trang 16

S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Trong cuộc sống, mọi hoạt động của con người đều nhằm những mục đích

thực tiễn Và để đạt được mục đích đó, con người phải sử dụng những phương

tiện (công cụ) theo những cách thức (biện pháp) nhất định Do đó trong hoạt động ngôn ngữ cũng như trong mọi hoạt động khác của con người cần phân biệt

mục đích, phương tiện và biện pháp Con người sử dụng ngôn ngữ như một phương tiện giao tiếp quan trọng nhất và có hai loại phương tiện: phương tiện ngôn ngữ trung hoà và phương tiện ngôn ngữ tu từ; đồng thời ngoài những biện pháp sử dụng ngôn ngữ thông thường còn có những biện pháp sử dụng ngôn ngữ

một cách đặc biệt, gọi là những biện pháp tu từ

Tuy nhiên, việc xác định khái niệm biện pháp tu từ có nhiều quan điểm khác nhau Cù Đình Tú đồng nhất biện pháp tu từ với cách tu từ, phép mĩ từ

Hiểu như vậy có nghĩa là hạn chế nó chỉ trong các hình thức chuyển nghĩa, tức

“những hình thức diễn đạt bóng bẩy, gợi cảm, có sức hấp dẫn, lôi cuốn trong

nhưng khi đi miêu tả cụ thể ở mỗi cấp độ thì lại dùng những thuật ngữ khác nhau như: phương thức, biện pháp Đỗ Hữu Châu cũng dùng một thuật ngữ thống nhất

là biện pháp tu từ song với cách hiểu không xác định, ví dụ như biện pháp tu từ

từ vựng được dùng để chỉ biện pháp tu từ ngữ nghĩa hoặc biện pháp tu từ cú pháp

lại bao gồm cả các phương tiện tu từ cú pháp…Những cách hiểu biện pháp tu từ như vậy không phân biệt được phương tiện tu từ với biện pháp tu từ và đã thu

hẹp phạm vi hoạt động của biện pháp tu từ chỉ ở hai cấp độ: ngữ nghĩa và cú pháp

Trang 17

S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Như vậy, cần phải định nghĩa phương tiện tu từ và biện pháp tu từ một cách khái quát, nhất quán ở mọi cấp độ Phương tiện tu từ được các nhà phong cách học quan niệm: “Phương tiện tu từ là những phương tiện ngôn ngữ mà

ngoài ý nghĩa cơ bản (ý nghĩa sự vật - logic) ra chúng còn có ý nghĩa bổ sung,

tố hình tượng), cảm xúc (chứa đựng những yếu tố diễn đạt tình cảm, cảm xúc), bình giá (chứa đựng những yếu tố khen chê) và phong cách chức năng (chỉ rõ

phương tiện tu từ bao giờ cũng nằm trong thế đối lập tu từ học tiềm tàng (trong

ý thức của người bản ngữ) với phương tiện tương liên có tính chất trung hoà của

hệ thống ngôn ngữ

Biện pháp tu từ còn được gọi là phương thức tu từ, được các nhà phong cách học hiểu như sau: “[…] là những cách phối hợp sử dụng trong hoạt động

tượng về hình ảnh, cảm xúc, thái độ, hoàn cảnh) Hiểu như vậy có nghĩa biện

pháp tu từ là những cách kết hợp ngôn ngữ đặc biệt trong một hoàn cảnh cụ thể,

nhằm một mục đích tu từ nhất định Nó đối lập với biện pháp sử dụng thông thường trong mọi hoàn cảnh, chỉ nhằm mục đích diễn đạt lí trí

Để có thể nhận biết dễ dàng và sử dụng hiệu quả phương tiện tu từ, biện pháp tu từ, ta cần phải xác định một cách rõ ràng, chính xác, đồng thời cần phân

loại chặt chẽ và miêu tả đầy đủ chúng Ta có thể phân biệt phương tiện tu từ và

biện pháp tu từ dựa trên một số yếu tố cơ bản sau:

Trang 18

S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

- Là những cách phối hợp sử dụng các

đơn vị lời nói trong giới hạn của một

đơn vị thuộc bậc cao hơn

- Là những yếu tố thuộc các cấp độ khác nhau, được đánh dấu về tu

từ học trong giới hạn của một cấp

độ nào đó của ngôn ngữ

- Ý nghĩa tu từ học của biện pháp tu từ

nảy sinh ra trong ngữ cảnh của một đơn

vị lời nói nào đó, bị quy định bởi những

quan hệ cú đoạn giữa các đơn vị của

một bậc hay các bậc khác nhau

- Ý nghĩa tu từ học của phương tiện

tu từ được củng cố ở ngay phương tiện đó, được quy định

bởi những quan hệ hệ hình của các yếu tố cùng bậc

Tuy rằng giữa phương tiện tu từ và biện pháp tu từ là hai phương diện khác

biệt, nhưng giữa chúng vẫn có mối quan hệ biện chứng Một mặt, việc sử dụng các phương tiện tu từ sẽ tạo ra các biện pháp tu từ, mặt khác việc sử dụng một

biện pháp tu từ nào đó trong lời nói cũng có thể chuyển hoá nó thành một phương

tiện tu từ (đây là trường hợp của so sánh) Hơn nữa, cùng một phương tiện tu từ

có thể xây dựng nên những biện pháp tu từ khác nhau Và ngược lại, những phương tiện tu từ khác nhau có thể cùng tham gia vào việc xây dựng cùng một

biện pháp tu từ duy nhất

một hoàn cảnh cụ thể nhằm mục đích tu từ nhất định, đó là cách diễn đạt ngôn

ngữ mới mẻ, thể hiện tài năng sáng tạo độc đáo của người sử dụng ngôn ngữ Do

vậy, việc phân loại và miêu tả các biện pháp tu từ đạt được tính hệ thống, tính

nhất quán trong tất cả các cấp độ ngôn ngữ sẽ giúp cho người học luôn có ý thức

nhận thức được tầm quan trọng nổi bật của sự đối lập quen thuộc, mới mẻ giữa các biện pháp thông thường và biện pháp tu từ (biện pháp đặc biệt) Sự lựa chọn,

sử dụng các biện pháp tu từ ở người sử dụng ngôn ngữ luôn là sự sáng tạo không

ngừng, nhưng không nên nghĩ rằng phải luôn dùng hình thức diễn đạt mới mẻ,

Trang 19

S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

bóng bẩy mới hay, bởi trình độ cao trong việc sử dụng ngôn ngữ không phải ở

chỗ biết nhiều, dùng nhiều biện pháp tu từ mà thể hiện ở khả năng lựa chọn sử

dụng các yếu tố ngôn ngữ nói chung phù hợp với đặc trưng của từng phong cách chức năng của hoạt động lời nói Vì thế, có khám phá, phát hiện và khai thác giá

trị sử dụng của các biện pháp tu từ, người đọc mới có thể phát hiện và nhận thức sâu sắc về giá trị thẩm mĩ của ngôn từ

Căn cứ vào cấp độ ngôn ngữ của các phương tiện ngôn ngữ được phối hợp

sử dụng, các biện pháp tu từ được chia ra: biện pháp tu từ từ vựng, biện pháp tu

từ ngữ nghĩa, biện pháp tu từ cú pháp, biện pháp tu từ văn bản, biện pháp tu từ

ngữ âm - văn tự

So sánh là một thao tác của tư duy Đó là thao tác đem sự vật này đối chiếu

với sự vật khác để nhìn thấy nét tương đồng và khác biệt giữa chúng Có thể dễ dàng nhận thấy, phép so sánh được sử dụng phổ biến và rộng rãi trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội: từ cuộc sống sinh hoạt đời thường đến trong thơ ca nghệ thuật hay trong các ngành khoa học khác

Cùng bàn về biện pháp tu từ so sánh đến nay các tác giả đã đưa ra rất nhiều định nghĩa khác nhau Dưới đây là một số định nghĩa tiêu biểu:

Trong cuốn Từ điển tiếng Việt, Nxb Từ điển bách khoa - Viện Ngôn ngữ học,

Hà Nội 2010 do Hoàng Phê chủ biên: so sánh là: “nhìn vào cái này mà xem xét cái

kia để thấy sự giống nhau, khác nhau hoặc sự hơn kém” [52, tr.106]

Trong cuốn Từ điển tiếng Việt dành cho học sinh, Nxb Văn hóa Thông

tin, Hà Nội 2010 do Song Dương, Đặng Thông chủ biên so sánh là: “xem xét để

Trang 20

S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Các định nghĩa trên tuy có phần khác nhau nhưng đều chung ở một điểm:

So sánh là đối chiếu hai hay nhiều sự vật với nhau để tìm ra điểm tương đồng

hoặc khác biệt giữa chúng

Nhìn từ góc độ phong cách học, so sánh là một phương thức phổ biến ở

mọi ngôn ngữ Vì thế, đây cũng là một trong những vấn đề được các nhà ngôn

ngữ học quan tâm nghiên cứu: A.Ju.Xtêpannov với Phong cách học tiếng Pháp

(1965), Vinôgradov với Phong cách học tiếng Nga (1969), Moorren với Phong

góp phần làm sáng tỏ về mặt lý thuyết và ứng dụng của phương thức so sánh cũng như khẳng định giá trị của phương thức này trong sáng tạo hình tượng nghệ thuật

Phương thức so sánh cũng sớm được các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học nước ta đề cập đến Bắt đầu từ những năm 60 của thế kỉ 20, khi xuất hiện những công trình nghiên cứu tiếng Việt, so sánh cũng được nhắc đến trong các bài giảng

về phong cách học

Có thể kể tới một số công trình tiêu biểu đã đề cập tới so sánh như: Phong

học chuyên nghiệp, Hà Nội 1973; Giáo trình Việt ngữ, tập 3, Nxb Giáo dục, Hà

Nội 1994 (Đinh Trọng Lạc chủ biên); 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng

công trình này, các tác giả đều đưa ra quan niệm về so sánh

Trong cuốn Giáo trình Việt ngữ, tác giả Đinh Trọng Lạc đã quan niệm

về so sánh như sau: “So sánh là định nghĩa sự vật, hiện tượng hoặc khái niệm

ở trong ngôn ngữ nghệ thuật thông qua sự so sánh chúng với hiện tượng hoặc

Trang 21

S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

này, tác giả chủ yếu tiến hành khảo sát hình thức biểu hiện của so sánh Có

thể nói, đây chính là một trong những giáo trình đầu tiên của môn Phong cách

học ở Việt Nam

Trong cuốn 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt, Nxb Giáo dục

1994, tác giả Đinh Trọng Lạc định nghĩa: “So sánh là một biện pháp tu từ ngữ

nghĩa trong đó người ta đối chiếu hai đối tượng khác loại của thực tế khách quan không đồng nhất với nhau hoàn toàn chỉ có một nét giống nhau nào đó, nhằm

Sau này, các tác giả Đinh Trọng Lạc và Nguyễn Thái Hòa ở giáo trình

phương thức diễn đạt tu từ khi đem sự vật này đối chiếu với sự vật khác miễn là

Tác giả Hữu Đạt đã định nghĩa so sánh tu từ như sau: “So sánh là đặt hai

Như vậy, theo tác giả Hữu Đạt, về bản chất, phép so sánh tu từ dùng thuộc tính hay tình trạng của sự vật hay hiện tượng này giải thích cho thuộc tính, tình

trạng của sự vật

Trong bài Các y ếu tố và cấu trúc của so sánh nghệ thuật (đăng trên Tạp

sánh: “So sánh thường được hiểu là đưa một sự vật ra đối chiếu về một mặt nào

đó với một sự vật khác khác loại nhưng lại có đặc điểm tương tự mà giác quan

thiết để một phép so sánh tu từ tồn tại là: Hai sự vật được đem ra đối chiếu phải khác loại Ví dụ: Mặt cô ấy tươi như hoa

Trang 22

S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Trên cơ sở tiếp thu những quan niệm của các nhà nghiên cứu đã nêu ở trên,

luận văn trình bày quan niệm về phép so sánh (trong đó có cả so sánh luận lí và

So sánh luận lí là kiểu so sánh, đối chiếu giữa hai đối tượng cùng loại

nhằm xác lập sự tương đồng giữa hai đối tượng này Đây là kết quả của tư duy khái niệm, tư duy khoa học theo những quy luật thông thường

Tác giả Cù Đình Tú chỉ rõ: So sánh luận lí là phép so sánh mà trong đó:

“Cái được so sánh và cái so sánh là các đối tượng cùng loại và mục đích của sự

Chức năng chủ yếu của so sánh logic là nhận thức Kiểu so sánh này là

dạng thức được dùng phổ biến trong lời ăn tiếng nói hàng ngày, giúp người nghe

hiểu rõ, hiểu sâu sắc phương diện nào đó của sự vật Mục đích của so sánh luận

lí là xác lập một giá trị, một đại lượng, một tính chất, một đặc trưng nào đó bằng cách đối chiếu đối tượng này với một đối tượng khác có giá trị lớn hơn bằng hoặc kém nó

Ví dụ 1: Đức cao hơn Minh

Ví dụ 2: Con mèo đen to hơn con mèo tam thể

Trang 23

S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

ở so sánh tu từ, các đối tượng được đưa ra so sánh là những đối tượng khác loại

Mục đích của so sánh tu từ là làm cho các đối tượng giàu hình ảnh, gợi hình, gợi cảm, giàu sức hấp dẫn

Ví dụ 1:

“Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ

(Chế Lan Viên)

Ví dụ 2:

“Hồn tôi là một vườn hoa lá

(Tố Hữu) Như vậy, qua quan niệm của các nhà nghiên cứu đã nêu ở trên, ta có thể

thấy sự khác nhau cơ bản giữa so sánh luận lí và so sánh tu từ là đối tượng so sánh và đối tượng được so sánh Trong so sánh luận lí, đối tượng so sánh và đối tượng được so sánh là những đối tượng cùng loại Trong so sánh tu từ, đối tượng

so sánh là đối tượng được so sánh là những đối tượng khác loại

Có nhiều quan điểm khác nhau về cấu trúc so sánh

Trang 24

S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Cấu tạo của so sánh tu từ bao giờ cũng phô bày hai vế: Vế được so sánh

và vế so sánh Mỗi vế này có thể gồm một hoặc nhiều đối tượng Các đối tượng này gắn với nhau, tạo thành những kiểu hình thức so sánh:

- A bao nhiêu B b ấy nhiêu

- A là B

Trong đó A là cái được so sánh, B là cái so sánh

Tác giả Đinh Trọng Lạc và tác giả Nguyễn Thái Hòa cho rằng, cấu trúc so sánh có thể ở dạng đầy đủ và dạng không đầy đủ

- Cấu trúc so sánh ở dạng không đầy đủ:

Theo hai tác giả này, cấu trúc so sánh trên không phải là cố định Tùy từng trường hợp, trật tự của các yếu tố có thể thay đổi hoặc bớt một số yếu tố trong

cấu trúc Trường hợp cấu trúc so sánh vắng một hay một số yếu tố là cấu trúc so sánh ở dạng không đầy đủ Chẳng hạn:

+ Cấu trúc so sánh vắng yếu tố (t), mô hình cấu trúc là: A + t + tss + B + Cấu trúc so sánh vắng yếu tố A và t, mô hình cấu trúc là: tss + B

+ C ấu trúc so sánh có mô hình là: A + t + B

Trang 25

S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

+ C ấu trúc so sánh có mô hình là: A bao nhiêu B bấy nhiêu:

+ Cấu trúc so sánh có mô hình A là B Từ là có giá trị như từ như nhưng có

sắc thái khác nhau Nếu thay từ là bằng từ như thì nội dung cơ bản không thay đổi

chỉ thay đổi về sắc thái ý nghĩa từ sắc thái khẳng định chuyển sang giả định

Trong cuốn Phong cách học tiếng Việt, tác giả Hữu Đạt đã đưa ra mô hình

khái quát của phép so sánh là: A - X - B

Trong đó: A là đối tượng được so sánh, X là từ so sánh, B là đối tượng

so sánh

Quan sát vào cấu trúc này, dễ dàng nhận thấy, so với quan điểm của tác

giả Đinh Trọng Lạc và tác giả Nguyễn Thái Hòa, cấu trúc so sánh mà tác giả

Hữu Đạt đưa ra chỉ có 3 yếu tố, thiếu yếu tố chỉ phương diện so sánh

Tác giả Hữu Đạt cũng nêu rõ biến thể của cấu trúc này chỉ có hai loại là:

Ví dụ:

“Bác ngồi đó lớn mênh mông

(Tố Hữu) Trong ví dụ trên, A (đối tượng được so sánh) là:Bác ngồi đó lớn mênh

Trang 26

S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Trong bài C ấu trúc so sánh trong tiếng Việt đăng trên Tạp chí ngôn ngữ,

số 7 năm 2001, tác giả Nguyễn Thế Lịch cũng đưa ra một số cấu trúc so sánh hoàn chỉnh gồm 4 yếu tố (giống như quan điểm của tác giả Đinh Trọng Lạc đã nói ở trên) đó là:

- Yếu tố cần đưa ra so sánh, có thể là được hay bị xét về tương quan với chuẩn (YTĐ/ BSS): A

- Yếu tố nêu rõ so sánh về phương diện nào (YTPD): (t)

- Yếu tố thể hiện mối quan hệ trong so sánh (YTQH): (tss)

- Yếu tố được dùng làm chuẩn để so sánh (YTSS): (B)

Theo đó, tác giả đã đưa ra một ví dụ minh họa về cấu trúc so sánh:

Đặc điểm của từng yếu tố được Nguyễn Thế Lịch trình bày cụ thể như sau:

Về yếu tố được/bị so sánh (YTĐSS: A), tác giả cho rằng, về nguyên tắc, bất luận yếu tố được/bị so sánh là sự vật, hiện tượng gì thì cũng có thể đem ra so sánh Chẳng hạn:

Đối tượng được so sánh là người:

Trang 27

S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

- Về yếu tố phương diện so sánh (YTPD), tác giả Nguyễn Thế Lịch cho

rằng, trong cấu trúc so sánh, yếu tố phương diện so sánh có vai trò xác định ý nghĩa của so sánh Nó thể hiện thuộc tính của sự vật mà yếu tố được so sánh biểu thị Nói khác đi, thuộc tính này là thuộc tính tiêu biểu của sự vật mà yếu tố được

so sánh biểu thị

Đối với cấu trúc so sánh vắng YTPD (t), người nghe (đọc) phải dựa vào

liên tưởng để tìm ra nét tương đồng giữa YTĐSS và YTSS, từ đó mới có thể xác định YTĐSS đã được so sánh về phương diện nào

Ví dụ: Tóc đen như gỗ mun

Ở đây, sự tương đồng giữa tóc và gỗ mun là có màu sắc giống nhau (màu đen) Tóc có màu đen bóng, đẹp Gỗ mun là cây gỗ quý, cũng có màu đen bóng

Từ sự so sánh này, người dùng có mục đích là khen Sự tương đồng này là căn

cứ để suy ra (t) - YTPD

- Yếu tố quan hệ so sánh (YTQH: tss): Yếu tố này là yếu tố được coi là đơn

giản nhất trong cấu trúc so sánh Nó bao gồm các từ so sánh như: như, tựa, như

là, như thể, chừng như, tựa như, hồ như, bao nhiêu… bấy nhiêu…

Ví dụ:

“Cổ tay em trắng như ngà Con mắt em liếc như là dao cau »

(Ca dao)

Từ là trong cấu trúc so sánh có giá trị tương đương từ như, nhưng sắc thái

ý nghĩa hoàn toàn khác nhau Là đem đến cho cấu trúc này sắc thái khẳng định

sự đồng nhất hoàn toàn sự đánh giá có cơ sở khách quan, khác với như là mang

sắc thái giả định, chỉ có một sự tương đồng về một khía cạnh nào đó, do cảm nhận chủ quan mang lại

Cặp từ hô ứng: bao nhiêu… bấy nhiêu Ví dụ:

Qua đình ngả nón trông đình Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu

(Ca dao)

Trang 28

S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

- Yếu tố so sánh (YTSS: B): Yếu tố này được xem là yếu tố quan trọng

nhất và không thể thiếu của cấu trúc so sánh Bởi nó là cái chuẩn của so sánh Không có chuẩn thì không thành so sánh sự xuất hiện của yếu tố này là kết quả của quá trình quan sát, liên tưởng, lựa chọn và thông qua quá trình đó nó mang

trong mình sắc thái tâm lý, tư duy, văn hóa của người nói Không thể hiểu YTSS thì không thể hiểu ý nghĩa của so sánh

Cần lưu ý thêm là, không phải lúc nào cấu trúc so sánh cũng hội tụ đủ 4 yếu tố trên, tức là có trường hợp cấu trúc so sánh không hoàn chỉnh, đó là:

+ Cấu trúc so sánh vắng yếu tố phương diện (vắng t), tức cấu trúc so sánh là: A + tss + B

Ví dụ:

Như xôi nếp mật, như đường mía lau

(Nguyễn Văn Trỗi)

+ Cấu trúc so sánh vắng yếu tố bị / được so sánh (vắng A), mô hình cấu trúc so sánh chỉ có t+ tss + B

Trang 29

S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Theo tác giả, cấu trúc vắng yếu tố được so sánh đã tạo ra rất nhiều các thành ngữ so sánh: Cao như núi, mềm như bún, dai như đỉa, ngọt như mía lùi, đỏ

như son… giúp cho việc tiếp nhận trở nên dễ dàng

+ Cấu trúc so sánh vắng yếu tố bị / được so sánh và yếu tố phương diện,

- Ở dạng đầy đủ, cấu trúc so sánh gồm có 4 thành tố: A (cái được so sánh),

t (phương diện so sánh), tss (từ so sánh) và B (cái so sánh)

- Ở dạng không đầy đủ, cấu trúc so sánh có thể khuyết một hoặc hai trong

4 thành tố trên

- Ở dạng đầy đủ, một cấu trúc so sánh bao gồm 4 yếu tố:

A + t + tss +B

Trong đó: + A: Yếu tố được so sánh

+ t: Yếu tố phương diện so sánh

+ tss: Yếu tố biểu thị quan hệ so sánh

+ B: Yếu tố so sánh

Ví dụ: Mặt đỏ như gấc

Trang 30

S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

- Ở dạng không đầy đủ, cấu trúc so sánh có thể khuyết một hay hai thành

* Quan điểm của tác giả Đào Thản

Nhìn nhận phép so sánh ở mặt nội dung và phân chia dựa vào mục đích so sánh Theo đó, tác giả đã đưa ra 8 kiểu so sánh:

Ví dụ: Ở nông thôn, nước ví như sông mà chủ nghĩa xã hội ví như thuyền,

nước sông lên thì thuyền đi lại dễ dàng

Trang 31

S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

(Ca dao)

* Quan điểm của tác giả Hữu Đạt

Tác giả Hữu Đạt dựa vào cả hai tiêu chí là hình thức và nội dung để phân

loại cấu trúc được tác giả chia thành ba loại đó là:

Trang 32

S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Ví dụ:

Nước da nâu và nụ cười bỡ ngỡ

Em như cầu vồng bảy sắc hiện sau mưa

(Lưu Quang Vũ)

Ví dụ:

nhất hay khác biệt về các thuộc tính giữa hai sự vật đem ra so sánh Do đó, ta có

thể phân chia so sánh thành hai kiểu:

như thể, tỉ như, giá như, tựa, kém gì, hơn gì, khác gì… mang tính chất giả định

Ví dụ:

“Thân em như hạt mưa rào

“Thân em như hạt mưa sa

(Ca dao)

Trang 33

S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

- So sánh ngang b ằng: Ở kiểu so sánh này thường có các từ so sánh: bằng, là… mang tính khẳng định

Ví dụ:

“Người là Cha, là Bác, là Anh

(Tố Hữu)

- So sánh d ị biệt hơn gồm:

+ So sánh d ị biệt hơn tuyệt đối: thường có những từ so sánh nhất (A), nhì

(B), tam, t ứ…, thứ nhất (A), thứ nhì (B)… Thông thường trong dạng kết cấu này,

A và B được xếp theo thứ tự phân hạng đánh giá

Ví dụ: Nhất canh trì, nhì canh viên, tam canh điền.(Tục ngữ)

Tuy nhiên vẫn có những trường hợp thứ tự này chỉ mang tính ước lệ, tức

là người sáng tác quan tâm đến vần điệu nhiều hơn là thứ tự mức độ “quan trọng”

của đối tượng được liệt kê Xếp một đối tượng nào đó theo thứ tự nhất, nhì… còn tùy thuộc vào quan điểm chủ quan của người nói

+ So sánh d ị biệt hơn tương đối: thường có những từ chuyên dụng: hơn, còn hơn…

Ví dụ:

(Tục ngữ)

+ So sánh d ị biệt kém: Để biểu thị quan hệ so sánh dị biệt kém, người ta

thường dùng các từ so sánh: thua, kém, không bằng, sao bằng, chẳng bằng, không

Trang 34

S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Như vậy, hầu như các tác giả nói trên đều gặp nhau ở một điểm, về ngữ nghĩa, có thể chia cấu trúc thành hai kiểu: So sánh đồng nhất và so sánh dị biệt

Mỗi kiểu so sánh lại có thể chia thành những nhóm nhỏ hơn, tùy theo những tiêu chí phân loại

a Khái ni ệm

Bàn về biện pháp tu từ nhân hóa các tác giả đưa ra những quan niệm

của mình:

Trong cuốn 99 phương tiện và biện pháp tu từ Tiếng Việt (Nxb GD 1999)

tác giả Đinh Trọng Lạc định nghĩa: “Nhân hóa (còn gọi: là nhân cách hóa) là

Theo tác giả Lại Nguyên Ân: Nhân hóa (còn gọi là Nhân cách hóa là một

(hoặc không có đặc tính của những cơ thể sống).[1]

Như vậy, nhân hóa là lấy những từ ngữ biểu thị thuộc tính, hoạt động của

người dùng để biểu thị thuộc tính, hoạt động của đối tượng khác loại dựa trên

tượng không phải người (khác loại)

Ví dụ:

Trâu ơi, ta bảo trâu này

(Ca dao)

Trang 35

S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Trong cuốn 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt (Nxb GD 1994),

tác giả đã phân loại như sau:

Về mặt hình thức, nhân hóa có thể được cấu tạo theo hai cách:

- Dùng những từ ngữ chỉ tính chất, hoạt động của đối tượng không phải con người:

Ví dụ:

Mà sao nên lũy nên thành tre ơi?

Ở đâu tre cũng xanh tươi Cho dù đất sỏi, đá vôi bạc màu

(Nguyễn Duy)

- Coi đối tượng không phải như con người và tâm tình trò chuyện với nhau:

Ví dụ:

(Ca dao) Như vậy, dựa trên sự liên tưởng nhằm phát hiện ra nét giống nhau giữa đối tượng không phải là người và người, giúp cho những đối tượng nhân hóa trở nên sinh động và hấp dẫn hơn

Do có chức năng nhận thức và chức năng biểu cảm - cảm xúc cho nên nhân hóa được sử dụng rộng rãi trong các phong cách: khẩu ngữ, chính luận, văn chương

Trong sinh hoạt hàng ngày ta thường nghe nói: điếu cày kêu sòng sọc, con

đường lượn vòng, đá đổ mồ hôi, cái bụng muốn đi (mà) cái chân không muốn bước…

Trang 36

S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Trong lời nói nghệ thuật ta thường gặp nhân hóa: gió khóc, gió rền rĩ,

trăng chiếu mơ màng, sông thì thầm mấy khúc hùng ca xưa cũ, nước biếc chao

Nhân hóa chỉ có thể được thực hiện hóa trong một hoàn cảnh nhất định

* Theo tác giả Phan Thị Thạch trong Giáo trình Phong cách học tiếng

- Dùng từ ngữ chỉ tình cảm, hoạt động của con người để gắn cho đối tượng không phải là con người: Yêu, thương, chạy, nhảy…

Ví dụ:

Khăn thương nhớ ai Khăn rơi xuống đất?

Khăn thương nhớ ai, Khăn vắt lên vai??

Trang 37

S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Qua sông

Cô gió chăn mây trên đồng

(Trần Đăng Khoa)

- Coi các sự vật không phải là con người như là con người để tâm tình, trò chuyện với chúng

Ví dụ:

Con cá rô ơi chớ có buồn

Bác vẫn chăm tay tưới ướt bồn

(Tố Hữu)

* Quan điểm của luận văn

con người

- Coi các con vật giống như con người đê tâm tình và trò chuyện với chúng

người khi miêu tả các con vật

Như vậy có thể thấy được sự đa dạng của các hình thức nhân hóa.Đối với từng đối tượng ta có thể dùng các hình thức nhân hóa khác nhau sao cho phù hợp

với đối tượng đó và phù hợp với hoàn cảnh xuất hiện của các đối tượng được nhân hóa

Trang 38

S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

1.2 Cơ sở thực tiễn

Tên thật là Nguyễn Sen Các bút danh khác: Mắt Biển, Mai Trang, Hồng Hoa, Duy Phương… sinh ngày 07/09/1920 ở quê ngoại: Làng Nghĩa Đô, quận

Cầu Giấy, Hà Nội, quê nội: thị trấn Kim Bài, huyện Thanh Oai, nay là xã Kim

An, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây

Tô Hoài sinh trưởng trong một gia đình nghèo làm nghề dệt lụa thủ công

Học xong bậc tiểu học, ông làm nhiều nghề: thợ cửi, dạy tư, bán giày, phụ kế toán

hiệu buôn… Tuy quê gốc ở Thanh Oai nhưng ông lại gắn bó với làng Nghĩa Đô Bút danh của ông được lấy từ hai địa danh phủ Hoài Đức và sông Tô Lịch

Từ năm 1938 chịu ảnh hưởng của phong trào Mặt trận Bình dân, Tô Hoài

bắt đầu tham gia hoạt động trong các tổ chức Ái hữu thợ dệt và Thanh niên dân

chủ ở Hà Nội Lúc này, ông mới 17 tuổi Từ đây, nhà văn đã bắt đầu tìm và đi theo cách mạng Ông đi giải chữ cho mọi người: Viết văn, truyền đơn, viết văn

để mưu sinh và lấy văn chương để phục vụ cách mạng Giáo sư Phan Cư Đệ viết:

“Có những người từ sách vở lý luận, từ vốn văn hóa kiến thức đi vào văn học

Tô Hoài chủ yếu từ cuộc sống mồ hôi nước mắt, từ cuộc đời lam lũ của quần

Những sáng tác đầu tiên của ông được đăng trên Hà Nội tân văn và Tiểu thuyết

Từ năm 1943, Tô Hoài tham gia hoạt động trong Hội văn hóa cứu quốc và phong trào Việt Minh; viết bài báo bí mật Sau cách mạng tháng Tám và trong kháng chiến chống Pháp, ông lên Việt Bắc làm báo Cứu quốc, sau đó về công

tác ở Hội văn nghệ Việt Nam.Từ năm 1957 đến năm 1980, ông liên tục tham gia công tác lãnh đạo Hội nhà văn Việt Nam.Từ năm 1966 đến năm 1996, ông làm

chủ tịch Hội văn nghệ Hà Nội và còn đảm nhiệm nhiều chức trách xã hội khác.Ông mất ngày 6 tháng 7 năm 2014, hưởng thọ 94 tuổi

Trang 39

S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Với một hành trình sáng tác không mệt mỏi cho đến nay ông đã sở hữu

một gia tài văn học lớn Ông được coi là nhà văn Việt Nam có số trang viết kỷ lục với khoảng trên 150 tác phẩm Trong đó có 60 tác phẩm viết cho thiếu nhi thuộc các thể loại văn xuôi và văn cho thiếu nhi Sự nghiệp văn chương của Tô Hoài có 3 thành công tiêu biểu không phải nhà văn nào cũng đạt được Đó là thành công cho mảng viết cho thiếu nhi, thành công cho mảng viết về miền núi

và thành công cho mảng viết về Hà Nội Vì những đóng góp lớn lao trong lĩnh

vực văn học nghệ thuật nên ông được nhà nước phong tặng giải thưởng Hồ Chí Minh năm 1996

Tô Hoài vừa tự nhiên, vừa ngẫu nhiên vào nghề viết văn Theo lời ông kể:

“Tôi không thể so sánh và tưởng tượng ra giá một bài báo và công xá những việc tôi đã làm bấy lâu để kiếm sống Hãng giày Bata mỗi tháng trả lương tôi 6 đồng

ngoài để tên mình Ôi, lịch sự! Mà một tháng, tôi có thể viết mấy cái truyện ngắn Điếc không sợ súng, tôi cứ viết tràn lan” [Tự Truyện, Tô Hoài]

Chặng đường văn học của ông được chia làm hai giai đoạn:

Trước năm 1945 ông viết:

Truyện thiếu nhi: Dế Mèn phiêu lưu kí (được gộp từ hai truyện Con dế mèn

- Truyền bá số 3 và Dế Mèn phiêu lưu kí - Truyền bá số 16 và số 17) (Nxb Á

Châu, 1941) Truyện ngắn: O chuột (NxbTân Dân, 1942), Nhà nghèo (NxbTân

Dân, 1942), Nước lên (Nxb Tân Dân, 1942) Hồi ức: Cỏ dại (Nxb Hà Nội, 1944)

Truyện vừa và dài: Giăng thề (Nxb Tân Dân, 1941), Quê người (Nxb Á Châu, 1942), Đêm mưa, Xóm Giếng (NxbTân Dân, 1944), Chuột thành phố (Tiểu

thuyết thứ 7, 1945)

Trang 40

S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Thành công lớn của Tô Hoài đó là mảng truyện về thiếu nhi Trong đó

phải kể đến Dế Mèn phiêu lưu kí Tác phẩm đã gắn liền với bao thế hệ thiếu nhi

ở Việt Nam và được dịch ra gần 40 thứ tiếng trên thế giới Đây là tập truyện “gối

đầu giường” của biết bao thế hệ thiếu nhi Việt Nam Một tập truyện với thế giới

nhân vật sinh động hấp dẫn đã đánh dấu thành công đầu tiên trên con đường văn học của mình

Thế giới nhân vật trong truyện Dế Mèn phiêu lưu kí là thế giới côn trùng

phong phú về chủng loại và đa dạng về tính cách Trong đó không xuất hiện

những con vật to lớn có sức mạnh phi thường, đó không phải là những con vật đặc biệt mà là những chú Dế nhỏ bé, đáng yêu, và gắn với tuổi thơ của trẻ em vùng nông thôn Đó cũng là những con vật gần gũi và gắn bó với người dân lao động Những nhân vật đó là một xã hội thu nhỏ với đầy đủ tính cách của con người: tốt có xấu có…Dế Mèn là một chàng thanh niên khỏe mạnh, tự lập, tự rèn luyện được bản thân mình qua các chương của truyện và ngày càng trưởng thành Sau cái chết của Dế Choắt, Dế Mèn đã rút ra bài học đường đời cho mình: Ở đời

đừng có thói hung hăng, bậy bạ, có óc mà không biết nghĩ rồi cũng có ngày

một hệ thống nhân vật trong đó cáo cả nhân vật chính diện, các nhân vật phản

diện, nhân vật trung gian Đó là anh: Dế Trũi, bác Xiến Tóc, anh Gọng Vó, chị Cào Cào, chị Cốc, bọn Nhện, …Đây là những nhân vật đại diện cho nhiều giai cấp, nhiều tầng lớp khác nhau lúc bấy giờ Không chỉ xây dựng thành công tính cách của các nhân vật, tác giả còn tạo nên những mối quan hệ anh em, bạn bè…

ở thế giới loài vật: Dế Mèn, Dế Trũi như anh em kết nghĩa, sẵn sàng hi sinh tính mạng của mình vì vì nghĩa lớn.Anh Xiến Tóc trầm lặng, vừa yêu đời vừa chán đời Chị Cào Cào ồn ào và duyên dáng Bọ Ngựa kiêu căng, ngạo mạn Từ đời sống

và tích cách của từng con vật, nhà văn muốn bày tỏ quan niệm của mình về thế giới nhân sinh, về khát vọng chính đáng của người lao động, về một cuộc sống hòa bình, yên vui, về tình thương, lòng chân thành và sự đoàn kết Bởi thế câu chuyện về chú

Ngày đăng: 12/06/2021, 19:38

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w