1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tăng cường thanh tra đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nước trong lĩnh vực giáo dục tại tỉnh lai châu

144 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 144
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn LỜI CAM ĐOAN Sau quá trình nghiên cứu và tìm hiểu thực trạng công tác thanh tra đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân s

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

LÊ VĂN LƯƠNG

TĂNG CƯỜNG THANH TRA ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRONG LĨNH VỰC

GIÁO DỤC TẠI TỈNH LAI CHÂU

LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG

Chuyên ngành: QUẢN LÝ KINH TẾ

THÁI NGUYÊN - 2016

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

LÊ VĂN LƯƠNG

TĂNG CƯỜNG THANH TRA ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRONG LĨNH VỰC

GIÁO DỤC TẠI TỈNH LAI CHÂU

Chuyên ngành: QUẢN LÝ KINH TẾ

Mã số: 60.34.04.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Mai Ngọc Cường

THÁI NGUYÊN - 2016

Trang 3

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

LỜI CAM ĐOAN

Sau quá trình nghiên cứu và tìm hiểu thực trạng công tác thanh tra đầu

tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nước trong lĩnh vực giáo dục, kết hợp và vận dụng lý thuyết và thực tiễn tại tỉnh Lai Châu, tôi đã nghiên cứu

và tập hợp các tài liệu để hoàn thành luận văn: “Tăng cường thanh tra đầu tư

xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nước trong lĩnh vực giáo dục tại tỉnh Lai Châu” dưới sự hướng dẫn tận tình của GS.TS Mai Ngọc Cường

cùng các thầy cô trong Khoa Quản lý - Luật Kinh tế của Trường Đại học Quản trị Kinh doanh

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình khoa học do chính tôi nghiên cứu và làm ra, các số liệu trong báo cáo là hoàn toàn trung thực./

Thái Nguyên, tháng 11 năm 2016

Tác giả

Lê Văn Lương

Trang 4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập và làm luận văn tốt nghiệp cao học, được sự giúp

đỡ của các thầy, cô giáo trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh - Đại học Thái Nguyên, sự tham gia góp ý của các nhà khoa học, các nhà quản lý, bạn bè, đồng nghiệp và cùng sự nỗ lực của bản thân Đến nay, tác giả đã hoàn

thành luận văn thạc sỹ với đề tài luận văn: “Tăng cường thanh tra đầu tư xây

dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nước trong lĩnh vực giáo dục tại tỉnh Lai Châu”, chuyên ngành Quản lý kinh tế

Các kết quả đạt được là những đóng góp nhỏ về mặt khoa học cũng như thực tiễn trong hoạt động thanh tra đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nước trong lĩnh vực giáo dục Tuy nhiên, trong khuôn khổ luận văn,

do điều kiện thời gian và trình độ có hạn nên không thể tránh khỏi những thiếu sót Tác giả rất mong nhận được những lời chỉ bảo và góp ý của các thầy, cô giáo và các đồng nghiệp

Tác giả bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Mai Ngọc Cường đã

hướng dẫn, chỉ bảo tận tình và cung cấp các kiến thức khoa học cần thiết trong quá trình thực hiện luận văn Xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo khoa Quản lý - Luật Kinh tế và phòng Đào tạo trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tác giả hoàn thành tốt luận văn thạc sĩ của mình

Tác giả chân thành cảm ơn cơ quan thanh tra tỉnh, thanh tra các huyện

và các sở, ngành tỉnh Lai Châu, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo điều kiện cung cấp các tài liệu liên quan và giúp đỡ tác giả hoàn thành luận văn

Thái Nguyên, tháng 11 năm 2016

Tác giả

Trang 5

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

Lê Văn Lương

Trang 6

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iv

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT viii

DANH MỤC BẢNG ix

DANH MỤC HÌNH, HỘP xi

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4

4 Những đóng góp của luận văn 4

5 Kết cấu luận văn 5

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THANH TRA ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC 6

1.1 Cơ sở lý luận về thanh tra đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN trong lĩnh vực giáo dục 6

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm thanh tra đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN trong lĩnh vực giáo dục 6

1.1.2 Vai trò của thanh tra đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN trong lĩnh vực giáo dục 22

1.1.3 Nội dung thanh tra đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN trong lĩnh vực giáo dục 23

Trang 7

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

1.1.4 Nhân tố ảnh hưởng đến thanh tra đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN

trong lĩnh vực giáo dục 44

1.2 Cơ sở thực tiễn về thanh tra đầu tư XDCB từ NSNN trong lĩnh vực giáo dục 52

1.2.1 Kinh nghiệm của một số địa phương về thanh tra đầu tư XDCB từ NSNN trong lĩnh vực giáo dục 52

1.2.2 Bài học rút ra cho tỉnh Lai Châu 56

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 59

2.1 Câu hỏi nghiên cứu 59

2.2 Phương pháp nghiên cứu 59

2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin 59

2.2.2 Phương pháp xử lý thông tin 61

2.2.3 Phương pháp phân tích thông tin 61

2.3 Các chỉ tiêu nghiên cứu 62

Chương 3 THỰC TRẠNG THANH TRA ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC TẠI TỈNH LAI CHÂU HIỆN NAY 64

3.1 Khái quát chung về tỉnh Lai Châu 64

3.1.1 Tình hình phát triển giáo dục tỉnh Lai Châu 64

3.1.2 Tình hình đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN trong lĩnh vực giáo dục 70

3.2 Thực trạng thanh tra đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN trong lĩnh vực giáo dục tại tỉnh Lai Châu 71

3.2.1 Kết quả thực hiện các khâu trong hoạt động thanh tra 71

3.2.2 Những hạn chế, yếu kém 78

3.3 Phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến công tác thanh tra đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN trong lĩnh vực giáo dục tại tỉnh Lai Châu 87

Trang 8

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

3.3.1 Môi trường pháp luật, ban hành các văn bản về hướng dẫn tổ chức

thực hiện 89

3.3.2 Tổ chức quản lý, thực thi trách nhiệm, chỉ đạo, phối hợp, hướng dẫn nghiệp vụ thanh tra; năng lực đội ngũ cán bộ thực hiện công tác thanh tra 90

3.3.3 Điều kiện làm việc của thanh tra 92

3.3.4 Nhận thức của các cấp, các ngành 93

C hương 4 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THANH TRA ĐẦU TƯ XÂY DỰNG TỪ NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC TẠI TỈNH LAI CHÂU 96

4.1 Phương hướng chủ yếu tăng cường thanh tra đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN trong lĩnh vực giáo dục tại tỉnh Lai Châu 96

4.1.1 Bối cảnh phát triển kinh tế xã hội, phát triển giáo dục và đào tạo, đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN trong lĩnh vực giáo dục tại tỉnh Lai Châu những năm tới 96

4.1.2 Phương hướng tăng cường công tác thanh tra đầu tư XDCB trong lĩnh vực giáo dục tại tỉnh Lai Châu hiện nay 99

4.2 Giải pháp chủ yếu tăng cường thanh tra đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN trong lĩnh vực giáo dục tại tỉnh Lai Châu 104

4.2.1 Hoàn thiện tổ chức quản lý, thực thi trách nhiệm, chỉ đạo, phối hợp, hướng dẫn nghiệp vụ thanh tra; năng lực đội ngũ cán bộ thanh tra 104

4.2.2 Tăng cường các điều kiện làm việc của thanh tra 106

4.2.3 Tăng cường công tác tuyên truyền và nâng cao nhận thức 107

4.3 Kiến nghị với Nhà nước về hoàn thiện môi trường luật pháp 109

KẾT LUẬN 110

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 113

PHỤ LỤC 116

Trang 9

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

Trang 10

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

Trang 11

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Phân bổ mẫu khảo sát 60 Bảng 2.2: Thang đánh giá Likert 61 Bảng 3.1: Tình hình kinh tế của tỉnh Lai Châu 65 Bảng 3.2: Quy mô trường lớp các cấp học tỉnh Lai Châu năm học 2015

- 2016 68 Bảng 3.3: Cơ cấu chi NSNN trong lĩnh vực giáo dục tỉnh Lai Châu 70 Bảng 3.4: Cơ cấu chi đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN trong lĩnh

vực giáo dục tại tỉnh Lai Châu 71 Bảng 3.5: Kết quả xây dựng và phê duyệt kế hoạch thanh tra của tỉnh

Lai Châu 2011 - 2015 72 Bảng 3.6: Kết quả thanh tra đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN trong

lĩnh vực giáo dục tại tỉnh Lai Châu 2011 - 2015 73 Bảng 3.7: Kết quả thanh tra hành chính về đầu tư XDCB từ nguồn vốn

NSNN trong lĩnh vực giáo dục tại tỉnh Lai Châu giai đoạn

2011 - 2015 75 Bảng 3.8: Kết quả thanh tra, kiểm tra chuyên ngành về đầu tư XDCB

từ nguồn vốn NSNN trong lĩnh vực giáo dục tại tỉnh Lai Châu giai đoạn 2011 - 2015 76 Bảng 3.9: Kết quả xử lý, chỉ đạo thực hiện kết luận thanh tra đầu tư

XDCB từ nguồn vốn NSNN trong lĩnh vực giáo dục tại tỉnh Lai Châu 2011 - 2015 77

Trang 12

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

Bảng 3.10: Kết quả đánh giá tình hình thực hiện các khâu thanh tra đầu

tư XDCB từ nguồn vốn NSNN trong lĩnh vực giáo dục tại tỉnh Lai Châu 80 Bảng 3.11: Kết quả đánh giá tác động của thanh tra đầu tư XDCB từ

nguồn vốn NSNN trong lĩnh vực giáo dục đến sự phát triển giáo dục của tỉnh Lai Châu 84 Bảng 3.12: Kết quả đánh giá tầm quan trọng và thực tế đạt được trong

việc thực hiện các nguyên tắc hoạt động thanh tra đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN trong lĩnh vực giáo dục tại tỉnh Lai Châu 87 Bảng 3.13: Kết quả đánh giá tầm quan trọng và thực tế ảnh hưởng của

các nhân tố đến công tác thanh tra đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN trong lĩnh vực giáo dục đến sự phát triển giáo dục của tỉnh Lai Châu 87 Bảng 3.14: Thống kê số liệu đội ngũ cán bộ thanh tra tỉnh Lai Châu 91 Bảng 3.15: Thống kê thực trạng, kết quả đào tạo đội ngũ cán bộ thanh

tra của tỉnh Lai Châu 92

Trang 13

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

DANH MỤC HÌNH, HỘP

Hình 2.1: Sơ đồ khung phân tích, đánh giá, hoạt động thanh tra đầu tư

XDCB từ nguồn vốn NSNN trong lĩnh vực giáo dục 63 Hộp 3.1: Các vi phạm phát hiện qua thanh tra đầu tư xây dựng cơ bản

từ nguồn vốn ngân sách nhà nước trong lĩnh vực giáo dục tại tỉnh Lai Châu 83 Hộp 3.2: Khâu yếu nhất trong hoạt động thanh tra đầu tư XDCB từ

nguồn vốn NSNN trong lĩnh vực giáo dục tại tỉnh Lai Châu 95 Hình 4.1: Hộp một số sai phạm thường gặp 102

Trang 14

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong công cuộc đổi mới của đất nước, với mục tiêu xây dựng nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh và đến năm

2020, nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định: “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng sách hàng đầu và muốn tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa phải phát triển mạnh giáo dục và đào tạo”

Xuất phát từ vai trò của giáo dục và đào tạo đối với sự nghiệp đổi mới đất nước, trong những năm qua, cùng với sự quan tâm đầu tư khá lớn nguồn lực từ NSNN cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo, Đảng và Nhà nước đã chú trọng công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán Cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan thanh tra các cấp đã quan tâm chỉ đạo thực hiện thanh tra đầu tư XDCB

từ nguồn vốn NSNN trong lĩnh vực giáo dục Kết quả thanh tra đã góp phần quan trọng trong công tác quản lý, sử dụng và phát huy hiệu quả các nguồn lực đầu tư, thúc đẩy sự nghiệp giáo dục và đào tạo phát triển

Tuy nhiên, trong tổ chức thực hiện thanh tra đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN trong lĩnh vực giáo dục còn bộc lộ những hạn chế, bất cập, chất lượng, hiệu quả thanh tra không cao, thu hồi kinh tế do vi phạm có nơi đạt thấp, phát hiện hành vi tham nhũng qua thanh tra còn ít… bên cạnh đó thất thoát, lãng phí,

vi phạm về đầu tư XDCB trong lĩnh vực giáo dục vẫn là những vấn đề gây bức xúc trong xã hội, làm ảnh hưởng đến quá trình điều hành, hoạt động và phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo

Lai Châu là tỉnh miền núi, biên giới phía Tây Bắc của Tổ quốc, có vị trí địa chính trị quan trọng về quốc phòng, an ninh và chủ quyền biên giới quốc gia Tỉnh có 7 huyện, 1 thành phố, trong đó có 6 huyện nghèo theo Nghị quyết 30a của Chính phủ, 108 xã, phường, thị trấn, đường biên giới giáp Trung Quốc dài

Trang 15

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

265,095 km; là tỉnh còn gặp rất nhiều khó khăn về kinh tế Được sự quan tâm đầu tư của Trung ương, của tỉnh, công tác xây dựng cơ sở vật chất được triển khai tích cực theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, từng bước đáp ứng nhu cầu phát triển sự nghiệp giáo dục

Có được kết quả trên là do tỉnh Lai Châu đã chú trọng công tác thanh tra đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN trong lĩnh vực giáo dục Hoạt động thanh tra

có nhiều chuyển biến tích cực, cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan thanh tra các cấp đã quan tâm xây dựng, tổ chức thực hiện kế hoạch thanh tra, xử lý, chỉ đạo thực hiện kết luận thanh tra, định kỳ sơ, tổng kết… Hoạt động thanh tra cơ bản đảm bảo nguyên tắc, trình tự, thủ tục theo quy định, chất lượng từng bước được nâng lên Kết quả thanh tra đã góp phần quan trọng tăng cường kỷ luật, kỷ cương pháp luật, xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, trong sáng Tuy nhiên, trong

tổ chức thực hiện thanh tra đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN trong lĩnh vực

giáo dục tại tỉnh còn bộc lộ một số hạn chế, yếu kém: Một số đơn vị thực hiện

quy trình thanh tra chưa chặt chẽ, chất lượng, hiệu quả thanh tra thấp, phát hiện hành vi tham nhũng qua thanh tra ít; thu hồi sai phạm về kinh tế, xử lý về hành chính ở một số cuộc chưa dứt điểm…

Tình hình trên đặt ra nhiều vấn đề phải giải quyết, việc nghiên cứu tổng thể lý luận và thực tiễn về thanh tra đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN trong lĩnh vực giáo dục có ý nghĩa hết sức quan trọng, nhằm giữ vững kỷ cương, nền nếp, thúc đẩy sự nghiệp giáo dục và đào tạo phát triển

Với mục đích đóng góp một số ý kiến nhằm tăng cường thanh tra đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN trong lĩnh vực giáo dục tại tỉnh Lai Châu, đồng thời với mong muốn nghiên cứu và phân tích rõ hơn một số vấn đề lý luận về hoạt động thanh tra đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN trong lĩnh vực giáo dục

trong giai đoạn hiện nay, tác giả đã chọn đề tài nghiên cứu: “Tăng cường thanh

tra đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN trong lĩnh vực giáo dục tại tỉnh Lai

Trang 16

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

Châu” làm luận văn thạc sĩ của mình

* Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

Đến nay, chủ đề mà luận văn nghiên cứu đã có một số công trình nghiên cứu đề cập đến trên góc độ chung Chẳng hạn Nguyễn Thế Khang (2006), Tăng cường công tác thanh tra thu chi NSNN tỉnh Đồng Nai; Nguyễn Văn Vàng (2007), Đổi mới cơ chế thanh tra nhằm nâng cao hiệu lực quản lý kinh tế ở tỉnh Đồng Nai; Phạm Thị Quế (2013), Hoàn thiện hoạt động thanh tra tại chỗ đối với các tổ chức tín dụng của cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng - Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Hồ Thanh Huy (2013), Hoạt động thanh tra tài chính đối với các dự án đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN - thực trạng, kinh nghiệm và giải pháp; Lê Thị Minh Phương (2014), Tăng cường thanh tra, giám sát của ngân hàng nhà nước chi nhánh Nam Định đối với các tổ chức tín dụng trên địa bàn…

Trong các hoạt động sự nghiệp nói chung, giáo dục nói riêng cũng đã có một số công trình đề cập đến công tác thanh tra như: Phan Thị Kiều Hương (2010), Hoàn thiện quy trình thanh tra các đơn vị sự nghiệp công lập có thu do Thanh tra Sở Tài chính Quảng Bình thực hiện; Nguyễn Thành Nam (2013), tăng cường quản lý khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực kinh tế giáo dục trên địa bàn tỉnh Nam Định…

Tuy nhiên, đây là vấn đề cụ thể, trực tiếp, toàn diện về thanh tra trên một lĩnh vực, đến nay, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách có hệ thống về vấn đề này, nhất là tại địa phương tỉnh Lai Châu

2 Mục tiêu nghiên cứu

2 1 Mục tiêu tổng quát

Tìm ra các giải pháp phù hợp nhằm tăng cường thanh tra đầu tư XDCB

từ nguồn vốn NSNN trong lĩnh vực giáo dục, góp phần sử dụng vốn đầu tư đúng quy định, nâng cao hiệu quả và đảm bảo công bằng trong đầu tư XDCB

từ nguồn vốn NSNN trong lĩnh vực giáo dục tại tỉnh Lai Châu

Trang 17

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

2 2 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể

- Góp phần làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động thanh tra đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN trong lĩnh vực giáo dục

- Đánh giá thực trạng thanh tra đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN trong lĩnh vực giáo dục tại tỉnh Lai Châu hiện nay, chỉ ra những thành tựu, hạn chế

và nguyên nhân hạn chế

- Khuyến nghị phương hướng và giải pháp chủ yếu tăng cường thanh tra đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN trong lĩnh vực giáo dục tại tỉnh Lai Châu

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

3 1 Đối tượng nghiên cứu

Hoạt động thanh tra nhà nước về đầu tư XDCB sử dụng vốn NSNN ở ngành giáo dục tỉnh Lai Châu Để nghiên cứu vấn đề này, luận văn nghiên cứu các khâu

trong thanh tra đầu tư XDCB và các nhân tố đảm bảo cho công tác này

4 Những đóng góp của luận văn

Về lý thuyết, luận văn góp phần làm rõ, hệ thống hóa những vấn đề lý luận

về thanh tra đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN trong lĩnh vực giáo dục trên cơ

sở phân tích các phạm trù, khái niệm, nội dung, nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động thanh tra về lĩnh vực này Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể là nguồn tài liệu tham khảo cho sinh viên nghiên cứu khoa học, học viên cao học

Về thực tiễn, luận văn đánh giá được thực trạng thanh tra đầu tư XDCB

từ nguồn vốn NSNN trong lĩnh vực giáo dục tại tỉnh Lai Châu hiện nay, làm

Trang 18

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

nổi bật những kết quả đạt được cũng như những hạn chế và nguyên nhân của hạn chế Trên cơ sở đó, đề xuất phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường thanh tra đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN trong lĩnh vực giáo dục tại tỉnh Lai Châu những năm tới Phương hướng và những giải pháp

đề xuất có căn cứ khoa học sẽ là tài liệu tham khảo quan trọng cho cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan thanh tra các cấp để nâng cao hiệu quả, chất lượng công tác thanh tra đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN trong lĩnh vực giáo dục

5 Kết cấu luận văn

Luận văn gồm phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và 4 chương: Chương 1: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về thanh tra đầu tư XDCB

từ nguồn vốn NSNN trong lĩnh vực giáo dục

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Thực trạng thanh tra đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN trong lĩnh vực giáo dục tại tỉnh Lai Châu hiện nay

Chương 4: Phương hướng và giải pháp chủ yếu tăng cường thanh tra đầu

tư XDCB từ nguồn vốn NSNN trong lĩnh vực giáo dục tại tỉnh Lai Châu

Trang 19

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

C hương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THANH TRA ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH

NHÀ NƯỚC TRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC

1.1 Cơ sở lý luận về thanh tra đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN trong lĩnh vực giáo dục

1 1.1 Khái niệm, đặc điểm thanh tra đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN trong lĩnh vực giáo dục

1 1.1.1 Khái niệm, đặc điểm hoạt động thanh tra

Thanh tra xuất phát từ nguồn gốc Latinh (Inspectare) có nghĩa là “nhìn vào bên trong” chỉ một sự xem xét từ bên ngoài đối với hoạt động của một số đối tượng nhất định Theo Từ điển Pháp luật Anh - Việt động từ “inspectare”

có nghĩa là “thanh tra” và được giải thích là hoạt động kiểm tra, kiểm soát, kiểm

kê đối với đối tượng bị thanh tra; còn theo nghĩa của danh từ “inspectorate” lại

có nghĩa là một cơ quan, tổ chức, bộ phận thanh tra, ví dụ như ban thanh tra, cơ quan thanh tra… Từ điển Luật học (tiếng Đức) giải thích “thanh tra là sự tác động của chủ thể đến đối tượng đã và đang thực hiện thẩm quyền được giao nhằm đạt được mục đích nhất định - sự tác động có tính trực thuộc” Theo Từ điển Tiếng Việt “thanh tra (người thuộc cơ quan có thẩm quyền) kiểm tra, xem xét tại chỗ việc làm của địa phương, cơ quan, xí nghiệp; thanh tra thường đi kèm với một chủ thể nhất định: “Người làm nhiệm vụ thanh tra”, “đoàn thanh tra” và “đặt trong phạm vi quyền hành của một chủ thể nhất định” [36]

Từ những nghĩa như vậy, thanh tra với vai trò là danh từ chung có thể được hiểu là một thực thể pháp lý, một thiết chế nhà nước về thanh tra để chỉ

cơ quan, tổ chức thanh tra hoặc bộ phận, lĩnh vực thanh tra nhất định Tùy thuộc vào chế độ chính trị, cấu trúc nhà nước hoặc quan niệm về quyền lực mà các

Trang 20

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

quốc gia hiện đại đã sử dụng thiết chế thanh tra theo những cách khác nhau Có quốc gia chỉ sử dụng thanh tra nhà nước (thanh tra của Quốc hội); thanh tra của Chính phủ (thanh tra hành pháp); kiểm toán; có quốc gia chỉ sử dụng thanh tra chuyên ngành; có quốc gia chỉ sử dụng thanh tra như một lực lượng cảnh sát (hoặc bán cảnh sát) hoặc phân về các ngành quản lý để phục vụ quyền lực Đồng thời, thanh tra với ý nghĩa là một động từ còn là khái niệm để chỉ hoạt động kiểm tra, kiểm soát của cơ quan, tổ chức, người được giao nhiệm vụ, quyền hạn nhằm “xem xét và phát hiện, ngăn chặn những gì trái với quy định của các tổ chức, cá nhân là đối tượng của thanh tra”

Quan niệm về thanh tra hiện nay cũng như trong lịch sử nước ta được thể hiện qua mô hình các cơ quan nhà nước, các quy định của Hiến pháp và pháp luật và được đề cập ở các giác độ khác nhau:

- Thời kỳ phong kiến, khái niệm thanh tra chưa được sử dụng nhưng

có các chức quan làm công việc giống như thanh tra, đó là: Thời Lý có chức quan Gián nghị đại phu (tả, hữu gián nghị đại phu); thời Trần có cơ quan gọi

là “Ngự sử đài” với chức năng gần giống như cơ quan thanh tra nhà nước hiện nay và có chức “Quan ngự sử” đứng đầu Ngự sử đài Ngự sử đài có nhiệm vụ giúp Vua trong việc theo dõi, xem xét các công việc hệ trọng của triều đình Quan Ngự sử đời nhà Trần có quyền tiền trảm hậu tấu và là chức quan duy nhất có quyền can dán Vua Thời nhà Lê có hàm “Gián nghị đại phu” phong tặng cho bất kỳ bề tôi nào dám nói thẳng, nói đúng sự thật, Gián nghị đại phu có quyền can gián nhà Vua những việc nên làm và những việc không nên làm [3]

Ngày 23/11/1945, chỉ sau 3 tháng từ khi Chính phủ Việt Nam cộng hòa

ra đời, Hồ Chủ tịch ký Sắc lệnh số 64-SL thành lập Ban thanh tra đặc biệt Sắc lệnh nêu rõ: “Chính phủ sẽ lập ngay một Ban thanh tra đặc biệt có ủy nhiệm là

đi giám sát tất cả các công việc và các nhân viên của UBND và các cơ quan

Trang 21

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

của Chính phủ”, từ đây, thuật ngữ “thanh tra” xuất hiện, quyền thanh tra được xác định và chính thức giao cho Chính phủ

Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước ta chưa dùng thuật ngữ “Thanh tra”, hoạt động thanh tra, kiểm tra chưa được giao cho một

cơ quan chuyên trách nào, mà quyền “kiểm soát” đối với Chính phủ được giao cho Ban Thường vụ Nghị viện: “Khi Nghị viện không họp, Ban Thường vụ có quyền kiểm soát, phê bình Chính phủ”

Hiến pháp năm 1959 cũng đề cập đến nội dung kiểm tra việc thi hành quyết định quản lý Nhà nước: “các Bộ trưởng và thủ trưởng các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ ra đời những thông tư, chỉ thị và kiểm tra việc thi hành các thông tư và chỉ thị ấy” và “Ủy ban hành chính các cấp chiếu theo quyền hạn do luật định ra mà quyết định, chỉ thị và kiểm tra việc thi hành các quyết định, chỉ thị ấy” Như vậy, Thanh tra, kiểm tra ở đây ngoài việc xem xét vi phạm của các

cơ quan, nhân viên hành chính hay Chính phủ còn mở rộng ra kiểm tra, giám sát các hoạt động xây dựng, ban hành, thực hiện các văn bản pháp quy

Hiến pháp năm 1980 đã sử dụng thuật ngữ “thanh tra” với nội dung là một chức năng của cơ quan quản lý nhà nước Khoản 15, Điều 107 của Hiến pháp quy định Hội đồng Bộ trưởng có nhiệm vụ: “tổ chức và lãnh đạo công tác thanh tra và kiểm tra của Nhà nước”, Điều 110 quy định: “Chủ tịch Hội đồng

Bộ trưởng lãnh đạo công tác của Hội đồng Bộ trưởng, đôn đốc, kiểm tra việc thi hành những quyết định của Quốc hội, Hội đồng Nhà nước, Hội đồng Bộ trưởng” Về UBND, Điều 124 quy định: “UBND các cấp chiểu theo quyền hạn

do luật định, ra những quyết định, chỉ thị và kiểm tra việc thi hành những văn bản đó”

Đến Hiến pháp năm 1992, khái niệm thanh tra, kiểm tra được thể hiện rõ hơn qua các điều 112, 115, 116 và 124, Khoản 7, Điều 112 quy định Chính phủ

có nhiệm vụ “tổ chức và lãnh đạo công tác kiểm kê, thống kê của Nhà nước,

Trang 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

công tác thanh tra, kiểm tra Nhà nước, chống quan liêu, tham nhũng trong bộ máy Nhà nước; công tác giải quyết tố cáo, khiếu nại của công dân” Điều 15 quy định: “… Chính phủ ra nghị quyết, nghị định, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định, chỉ thị và kiểm tra việc thi hành các văn bản đó” Đối với Bộ trưởng, các thành viên khác của Chính phủ, thủ trưởng các cơ quan khác thuộc Chính phủ “ra quyết định, chỉ thị, thông tư và kiểm tra việc thi hành các văn bản đó” (Điều 116) Đối với UBND, Điều 124, Hiến pháp năm 1992 cũng quy định:

“UBND… ra quyết định, chỉ thị và kiểm tra việc thi hành những văn bản đó”

Trong Pháp lệnh Thanh tra năm 1990, hoạt động thanh tra của các tổ chức thanh tra được xác định là một chức năng thiết yếu của cơ quan quản lý Nhà nước Điều 8, Pháp lệnh Thanh tra năm 1990 quy định nhiệm vụ của các

tổ chức thanh tra nhà nước là: “thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, kế hoạch nhà nước của các cơ quan, tổ chức và cá nhân, trừ hoạt động điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan điều tra, kiểm sát, tòa án và việc giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh tế, xử lý vi phạm hợp đồng kinh tế của cơ quan trọng tài kinh tế”

Luật Thanh tra năm 2004 và Luật Thanh tra năm 2010 khẳng định và làm rõ hơn vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan thanh tra Nhà nước

Thứ hai, đặc điểm của thanh tra:

i) Thanh tra gắn liền với quản lý Nhà nước

Với tư cách là một chức năng, là một giai đoạn của chu trình quản lý Nhà nước, thanh tra gắn liền với quản lý Nhà nước, tất cả các giai đoạn của chu trình quản lý Nhà nước đều phải thông qua thanh tra, kiểm tra để có thông tin đầy

đủ, chính xác

Thanh tra là một phạm trù lịch sử, thanh tra gắn với quá trình lao động

xã hội Chính bản chất của quá trình lao động xã hội đã đòi hỏi tính tất yếu phải

Trang 23

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

có quản lý để điều hòa hoạt động cá nhân và thực hiện chức năng chung phát sinh từ sự khác nhau giữa vận động của cả cơ chế sản xuất với sự vận động của các yếu tố khách quan, độc lập hợp thành cơ chế sản xuất đó

Như vậy, việc xem xét, định hướng, đánh giá kết quả quản lý là một phương diện của quản lý xã hội Quản lý nhà nước là một bộ phận của quản lý

xã hội và ở đâu có quản lý nhà nước thì ở đó có thanh tra

Trong mối quan hệ giữa quản lý và thanh tra thì quản lý nhà nước giữ vai trò chủ đạo, chi phối hoạt động của thanh tra (đề ra đường lối, chủ trương, quy định thẩm quyền của cơ quan thanh tra, sử dụng các kết quả, các thông tin

từ phía các cơ quan thanh tra) Mặt khác, hoạt động chấp hành của quản lý nhà nước thường bao hàm cả sự điều hành, cho nên trong quá trình thực hiện các văn bản pháp luật đòi hỏi phải có sự kiểm tra nghiêm ngặt của các cơ quan có thẩm quyền

Quản lý nhà nước và thanh tra có đặc điểm chung là nhân danh quyền lực Nhà nước thực hiện sự tác động lên đối tượng bị quản lý Song xem xét theo cơ cấu, chức năng của quản lý thì thanh tra chỉ là những công cụ, phương tiện để quản lý nhà nước

Là một khâu trong chu trình quản lý, thanh tra bị ràng buộc, chế ước bởi quản lý, nhưng đồng thời tác động trở lại, góp phần điều chỉnh cách thức, phương phá quản lý của chủ thể quản lý Nhà nước Trong chu trình đó, thanh tra phản ánh và bảo vệ mục đích của quản lý Một thể chế hành chính và cơ chế quản lý Nhà nước sẽ không đầy đủ nếu thiếu thanh tra Trong tổ chức và hoạt động của

bộ máy nhà nước, hoạt động có tính hiệu quả của thanh tra sẽ ngăn chặn nguy

cơ biến dạng, tùy tiện, thiếu kỷ cương trong hoạt động quản lý nhà nước Lê nin

đã nhiều lần nhấn mạnh: “Nhà nước xã hội chủ nghĩa sẽ hạn chế được nguy cơ tham nhũng, tệ quan liêu, tăng cường được kỷ cương xã hội khi những người cộng sản thực hiện tốt công tác thanh tra, kiểm soát” [12]

Trang 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

ii) Thanh tra luô n mang tính quyền lực nhà nước

Tính quyền lực nhà nước của hoạt động thanh tra có mối liên hệ chặt chẽ với tính quyền uy - phục tùng của quản lý nhà nước Là một chức năng của quản lý nhà nước, thanh tra phải thể hiện như một tác động tích cực nhằm thực

hiện quyền lực của chủ thể quản lý đối với đối tượng quản lý Không thể không

có quyền lực mà không gắn với một tổ chức Nói về quyền lực nhà nước trong quá trình thanh tra cũng có nghĩa là xác định về mặt pháp lý tính chất nhà nước của tổ chức thanh tra Vì vậy, thanh tra phải được nhà nước sử dụng như một công cụ có hiệu quả trong quá trình quản lý Khi nhấn mạnh tính quyền lực của các tổ chức thanh tra, Lê nin nói: “Thanh tra thiếu quyền lực là thanh tra suông” [12]

Có thể nói thanh tra là một hoạt động luôn luôn mang tính quyền lực nhà nước Chủ thể tiến hành thanh tra luôn luôn là cơ quan nhà nước Thanh tra (với

tư cách là một danh từ chỉ cơ quan có chức năng này) luôn luôn áp dụng quyền năng của Nhà nước trong hoạt động của mình và nhân danh Nhà nước khi áp dụng quyền năng đó Nói cách khác, thanh tra là sản phẩm của Nhà nước Thanh tra chỉ xuất hiện khi từ khi Nhà nước ra đời trong lịch sử và nó cũng sẽ tiêu vong cùng với sự tiêu vong của Nhà nước

Nói tóm lại, chủ thể duy nhất tiến hành thanh tra là Nhà nước, thanh tra xuất hiện, tồn tại và tiêu vong cùng với Nhà nước Ở các nước trên thế giới, dù

mô hình tổ chức, hoạt động thanh tra có khác nhau nhưng đều có chung đặc điểm này Thậm chí, kể cả những nước theo hệ thống pháp luật Anh - Mỹ vốn

có xu hướng “khế ước hóa” các mối quan hệ, kể cả quan hệ giữa nhà nước với công dân cũng không có một loại hình thanh tra nào ngoài những tổ chức thanh tra của nhà nước, mang uy danh nhà nước Ở nước ta, Điều 1, Pháp lệnh Thanh tra quy định: “thanh tra là một chức năng thiết yếu của cơ quan quản lý Nhà nước, thực hiện quyền dân chủ xã hội chủ nghĩa”

Trang 25

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

Tính quyền lực nhà nước của hoạt động thanh tra thể hiện ở chỗ các cơ quan quản lý nhà nước đều có quyền hạn được xác định và khả năng thực hiện những quyền hạn đó:

- Ra các quyết định bắt buộc thi hành đối với các đối tượng bị thanh tra trong việc sửa chữa những thiếu sót đã bị thanh tra phát hiện

- Yêu cầu cấp có thẩm quyền giải quyết đề nghị của thanh tra, truy cứu trách nhiệm đối với những người có lỗi gây ra những vi phạm được phát hiện,

kể cả việc chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra để truy tố trước pháp luật

- Trong một số trường hợp, trực tiếp áp dụng biện pháp cưỡng chế nhà nước

Tính quyền lực nhà nước trong quá trình thanh tra phải được cụ thể hóa trong chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của hệ thống thanh tra, phương thức tiến hành thanh tra, xử lý kết quả thanh tra, quan hệ giữa cơ quan thanh tra với đối tượng bị thanh tra, sự phối hợp giữa các tổ chức thanh tra nhà nước và thanh tra nhà nước chuyên ngành, thanh tra nhân dân Nếu cụ thể hóa một mặt nào đó mà không thực hiện đồng bộ tính quyền lực nhà nước trên các lĩnh vực đều dẫn đến

hạ thấp vai trò và hiệu quả hoạt động thanh tra, hạn chế hiệu lực thanh tra

Trong chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân lao động, nhân dân sử dụng quyền lực của mình thông qua các cơ quan nhà nước do mình bầu ra (trực tiếp hoặc gián tiếp) Do đó, nói đến tính chất nhân dân của thanh tra, kiểm tra là xác định vai trò to lớn của quần chúng nhân dân tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá trình thanh tra Đây cũng là điều kiện đảm bảo thắng lợi của chủ nghĩa xã hội Tuy nhiên, sự tham gia của quần chúng nhân dân và quá trình kiểm tra, như Lê nin nói: “không chỉ là những phong trào, những tín hiệu dân chủ mà phải quy định bằng pháp luật và thông qua bộ máy nhà nước” [12]

iii) Thanh tra có tính độc lập tương đối

Trang 26

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

Đây là đặc điểm vốn có, xuất phát từ bản chất của thanh tra Đặc điểm này phân biệt thanh tra với các loại hình cơ quan chức năng khác của bộ máy quản lý nhà nước Khác với hoạt động kiểm tra thường do bản thân các cơ quan quản lý nhà nước tiến hành, hoạt động thanh tra thường được tiến hành bởi một

cơ quan chuyên trách Ngoài những nhiệm vụ như những cơ quan quản lý nhà nước khác, cơ quan thanh tra có nhiệm vụ chủ yếu là xem xét, đánh giá một cách khách quan việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, kế hoạch nhà nước của các cơ quan, tổ chức, cá nhân

Tính độc lập tương đối trong quá trình thanh tra được thể hiện trên các điểm sau: Chỉ tuân theo pháp luật; tự mình tổ chức thực hiện các cuộc thanh tra trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội theo thẩm quyền đã được pháp luật quy định;

ra các kết luận, kiến nghị, quyết định xử lý theo các quy định của pháp luật về thanh tra, chịu trách nhiệm về các quyết định thanh tra của mình

Ở đây, tính độc lập tương đối của hoạt động thanh tra chỉ là tương đối, bởi trong hoạt động thanh tra, các cơ quan thanh tra phải căn cứ vào pháp luật và chính sách hiện hành, đồng thời phải xuất phát từ thực tế cuộc sống, đặt sự vật, hiện tượng, việc làm đang xem xét trong sự phát triển biện chứng với quan điểm khoa học, lịch sử cụ thể Ở nước ta, tính độc lập tương đối của các cơ quan thanh tra trong quá trình thanh tra được quy định trong các văn bản pháp luật từ khi Ban thanh tra đặc biệt ra đời (23/11/1945) đến nay, thể hiện thông qua thẩm quyền (quyền hạn và nghĩa vụ) của các cơ quan thanh tra Điều 5, Pháp lệnh Thanh tra quy định: “hoạt động thanh tra chỉ tuân theo pháp luật” Mặt khác, Luật Thanh tra cũng quy định cơ quan thanh tra tiến hành thanh tra theo yêu cầu, nhiệm vụ mà thủ trưởng cơ quan hành chính nhà nước giao Nếu thủ trưởng không sử dụng kết quả thanh tra, không đồng ý với kết luận thanh tra thì cơ quan thanh tra có quyền bảo lưu ý kiến và chuyển kết luận thanh tra lên cơ quan thanh tra cấp trên cho đến Tổng Thanh tra Nhà nước [17]

Trang 27

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

Mọi hoạt động tài phán đều mất tính công minh nếu xa rời cơ sở pháp luật, nếu chịu ảnh hưởng của những quyền lực khác, kể cả quyền lực về phía

cơ quan nhà nước cấp trên không chịu trách nhiệm trực tiếp về kết quả thanh tra Tuy nhiên, tính độc lập của thanh tra ở đây cần được hiểu là tính độc lập của hoạt động thanh tra nói chung và độc lập về nguyên tắc nói riêng Nó khác với tính độc lập trong xét xử ở Tòa án, bởi vì: Thanh tra xem xét mọi việc không chỉ căn cứ vào tính hợp pháp mà cả tính hợp lý; không phải mọi hoạt động thanh tra đều mang tính tài phán; trong hoạt động thanh tra, về nguyên tắc, người có trách nhiệm, người quyết định cuối cùng trong việc xử lý kết luận thanh tra vẫn là thủ trưởng cơ quan quản lý hành chính nhà nước

Thứ ba, mục đích hoạt động thanh tra

Khi nói về thanh tra, kiểm tra, Bác Hồ căn dặn: “Cán bộ thanh tra giúp cấp trên hiểu biết tình hình địa phương và cấp dưới, đồng thời giúp các địa phương kịp thời sửa chữa, uốn nắn nếu làm sai hoặc làm chậm”, “thanh tra là

để theo dõi, xem xét kế hoạch, chỉ thị, chính sách đó các địa phương đã chấp hành như thế nào”… “nếu họ làm sai hay gặp khó khăn, còn giúp họ làm cho đúng với nghị quyết, chỉ thị của trên đưa xuống”, “thường vì cơ quan, địa phương, bộ phận hay công việc nào có chỗ không đúng, chỗ sai lầm mới cần đến thanh tra” [31]

Chỉ thị số 38/CT-TW, ngày 20/02/1984 của Ban Bí thư Trung ương Đảng nêu rõ: “Mục đích của thanh tra là đánh giá chính xác những mặt làm đúng, làm sai trong việc chấp hành các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, pháp luật, kế hoạch của Nhà nước… Trước mắt cũng như lâu dài công tác thanh tra có tác dụng quan trọng, trực tiếp giữ gìn pháp luật Nhà nước, tăng cường trách nhiệm quản lý kinh tế, quản lý xã hội của bộ máy Nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động”

Nghị quyết số 26-NQ/HĐBT, ngày 15/02/1984 của Hội đồng Bộ trưởng

Trang 28

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

nêu rõ thanh tra là “nhằm mục đích phát huy mặt đúng, ngăn ngừa, sửa chữa cái sai, làm cho chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước được chấp hành nghiêm chỉnh và thi hành có hiệu quả thiết thực”

Pháp lệnh Thanh tra ngày 01/4/1990 nêu rõ mục đích của hoạt động thanh tra là “nhằm phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa, xử lý vi phạm, góp phần thúc đẩy hoàn thành nhiệm vụ, hoàn thiện cơ chế quản lý, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích nhà nước, các quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân”

Điều 2, Luật Thanh tra năm 2010 quy định: “Mục đích thanh tra nhằm phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị

cơ quan nhà nước có thẩm quyền các biện pháp khắc phục, phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật; giúp cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện đúng quy định của pháp luật; phát huy nhân tố tích cực; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, nhà nước, cá nhân” [17]

Điều đó khẳng định hoạt động thanh tra không có mục đích tự thân mà

để phục vụ cho công tác quản lý, điều hành của Nhà nước ngày càng có hiệu quả, hiệu lực, phục vụ nhân dân ngày càng tốt hơn Chính vì vậy công tác thanh tra phải hướng vào việc đánh giá, thực hiện các cơ chế, chính sách đó trong thực tiễn cuộc sống Trong cơ chế pháp luật liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của thanh tra cũng như thực tiễn tiến hành các cuộc thanh tra thì đây phải được coi là ưu tiên hàng đầu Điều này càng trở nên cực kỳ quan trọng khi chúng ta đang trong quá trình đổi mới toàn diện đất nước, trọng tâm là đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, sự đánh giá cơ chế, chính sách qua các kiến nghị của thanh tra

là vô cùng cần thiết Chúng ta đang sống trong một thời kỳ phát triển hết sức sôi động từ bản thân quá trình phát triển nền kinh tế thị trường với sức tăng trưởng đáng kể do mọi tiềm năng được phát huy, thêm vào đó là sự hội nhập

Trang 29

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

của Việt Nam vào đời sống kinh tế - chính trị của thế giới Trong bối cảnh đó, các tiêu chí đánh giá luôn có sự biến động Bản thân các văn bản pháp luật cũng được thay đổi thường xuyên nhưng nhiều khi vẫn không phản ánh hết thực tiễn cuộc sống, các quan hệ xã hội mới phát sinh Chính vì vậy, ngành thanh tra và

cụ thể là những người đi thanh tra phải có quan điểm đúng và nhìn nhận vấn đề với nhãn quan biện chứng, trong sự vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng để đánh giá chính xác các vấn đề mà mình thanh tra Từ đó đưa ra các kiến nghị xác đáng để xử lý bản thân các vấn đề đó, đồng thời đưa ra các giải pháp và dự kiến cho tương lai Thanh tra lấy pháp luật làm chuẩn mực nhưng hơn thế nữa phải thấy được mục đích tối thượng trong quản lý nhà nước là hiệu quả quản lý, tính phục vụ nhân dân để xem xét đánh giá đúng sai, công và tội Một việc làm nào đó mà chưa đúng với quy định của pháp luật nhưng lại có lợi cho đất nước, cho dân thì chính quy định đó cần phải được thanh tra kiến nghị sửa đổi Như vậy, thanh tra ngoài việc xem xét việc làm của đối tượng thanh tra còn phải xem xét chính chủ trương, chính sách có đúng không, có phù hợp với thực tiễn hay không

Từ những phân tích nêu trên, có thể khái quát khái niệm thanh tra như sau: Thanh tra là hoạt động xem xét, đánh giá, xử lý theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân, nhằm kết luận đúng, sai, đánh giá ưu, khuyết điểm, phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa, xử lý các vi phạm, góp phần hoàn hiện cơ chế quản lý, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, các quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân [17]

1.1.1.2 Đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN trong lĩnh vực giáo dục

Hoạt động xây dựng gồm lập quy hoạch xây dựng, lập dự án đầu tư xây dựng công trình, khảo sát xây dựng, thiết kế xây dựng, thi công xây dựng, giám

Trang 30

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

sát xây dựng, quản lý dự án, lựa chọn nhà thầu, nghiệm thu, bàn giao đưa công trình vào khai thác sử dụng, bảo hành, bảo trì công trình xây dựng và hoạt động khác có liên quan đến xây dựng công trình; hoạt động đầu tư xây dựng là quá

trình tiến hành các hoạt động xây dựng gồm xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng [20]

Dự án đầu tư là tập hợp đề xuất bỏ vốn trung hạn hoặc dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư kinh doanh trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định, gồm có dự án đầu tư mới và dự án đầu tư mở rộng [19]

Như vậy theo cách hiểu chung nhất, đầu tư là hoạt động bỏ vốn vào các lĩnh vực kinh tế xã hội để mong thu được lợi ích dưới các hình thức khác nhau trong tương lai Đầu tư hay hoạt động đầu tư là việc huy động các nguồn lực hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai Nguồn lực bỏ ra đó có thể là tiền, tài nguyên thiên nhiên, sức lao động, tài sản vật chất khác Biểu hiện của tất cả nguồn lực bỏ ra nói trên gọi chung là vốn đầu tư Những kết quả đó có thể là sự tăng thêm các tài sản tài chính (tiền vốn), tài sản vật chất (nhà máy, đường giao thông…), tài sản trí tuệ (trình độ văn hoá, chuyên môn, khoa học kỹ thuật…) và nguồn nhân lực

Đầu tư cơ bản là hoạt động đầu tư để tạo ra các tài sản cố định đưa vào hoạt động trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội khác nhau Trong hoạt động đầu

tư, các nhà đầu tư phải quan tâm đến các yếu tố: sức lao động, tư liệu lao động, đối tượng lao động Khác với đối tượng lao động (nguyên vật liệu, sản phẩm

dở dang, bán thành phẩm…), các tư liệu lao động (như máy móc thiết bị, nhà xưởng, phương tiện vận tải…) là những phương tiện vật chất mà con người sử dụng để tác động vào đối tượng lao động, biến đổi nó thành mục đích của mình Xét về mặt tổng thể thì không một hoạt động đầu tư nào mà không cần phải có các tài sản cố định, nó bao gồm toàn bộ cơ sở kỹ thuật đủ tiêu chuẩn theo quy định của Nhà nước và có thể được điều chỉnh cho phù hợp với giá cả từng thời

Trang 31

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

xã hội Đầu tư XDCB là một hoạt động kinh tế

Quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư XDCB là sự tác động của bộ máy quản lý nhà nước vào các quá trình, các quan hệ kinh tế - xã hội trong đầu

tư XDCB từ bước xác định dự án đầu tư để thực hiện đầu tư và cả quá trình đưa

dự án vào khai thác, sử dụng đạt mục tiêu đã định nhằm đảm bảo hướng các ý chí và hành động của các chủ thể kinh tế vào mục tiêu chung, kết hợp hài hòa lợi ích cá nhân, tập thể và lợi ích của nhà nước Có thể hiểu sự tác động của bộ máy quản lý nhà nước chính là Nhà nước với hệ thống các cơ quan hành chính chấp hành và điều hành, là tác động của chủ thể quản lý nhà nước lên đối tượng

bị quản lý là quá trình đầu tư XDCB và khách thể quản lý là con người với hành

vi hoạt động của họ trong quá trình đầu tư XDCB

Vốn của dự án đầu tư XDCB nói chung được cấu thành bởi các nguồn: Nguồn vốn của Nhà nước, nguồn vốn đầu tư của khu vực tư nhân, nguồn vốn đóng góp tự nguyện và nguồn vốn đầu tư nước ngoài Trong đó nguồn vốn của Nhà nước bao gồm: NSNN cấp phát, vốn của các doanh nghiệp nhà nước có nguồn gốc từ NSNN, bao gồm vốn từ khấu hao cơ bản để lại, từ lợi nhuận sau thuế, từ đất đai, nhà xưởng còn chưa sử dụng đến được huy động đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh; vốn góp của Nhà nước trong liên doanh, liên kết với các thành phần kinh tế trong nước và nước ngoài Vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước mà Chính phủ cho vay theo lãi suất ưu đãi bằng nguồn vốn

tự có hoặc Nhà nước đi vay để cho vay lại đầu tư vào các dự án thuộc lĩnh vực được ưu tiên trong kế hoạch Nhà nước đối với một số doanh nghiệp thuộc các

Trang 32

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

thành phần kinh tế Vốn vay nợ, viện trợ từ bên ngoài của Chính phủ thông qua kênh hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) Trên thực tế, một phần vốn này

sẽ đưa vào ngân sách đầu tư, còn phần ODA cho các doanh nghiệp vay lại thì đưa vào nguồn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước

Đầu tư XDCB từ NSNN trong lĩnh vực giáo dục là hoạt động đầu tư XDCB sử dụng vốn NSNN để tạo ra cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ hoạt động giáo dục

Đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN trong lĩnh vực giáo dục có đặc điểm: Vốn đầu tư là vốn của Nhà nước, chiếm tỷ lệ khá cao trong tổng vốn đầu tư XDCB từ NSNN, được thực hiện bằng các chương trình mục tiêu như: Kiên cố hóa trường lớp học và nhà công vụ giáo viên, dự án THCS vùng khó khăn nhất,…; vốn XDCB tập trung… Ở đây quyền sở hữu về vốn không trùng hợp với quyền

sử dụng và quản lý vì thế trách nhiệm quản lý vốn không cao

Về lĩnh vực và mục tiêu đầu tư là lĩnh vực đặc thù, đầu tư đảm bảo cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ hoạt động giáo dục, đầu tư vì mục tiêu phát triển con người

Quá trình thực hiện đầu tư XDCB thường diễn ra trong thời gian dài, chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố: Yếu tố tự nhiên như tình hình địa chất, thủy văn, khí hậu thời tiết, mưa bão, động đất Ngoài ra, địa bàn đầu tư rộng, phân tán (nhất là ở miền núi); vật liệu xây dựng số lượng nhiều, trọng lượng lớn, nhất là phần thô nên nhu cầu vận chuyển lớn, chi phí vận chuyển cao, không trực tiếp tạo thêm giá trị cho sản phẩm; nơi làm việc, lực lượng lao động, điều kiện làm việc không ổn định… đòi hỏi đơn vị thi công xây lắp phải có phương pháp, cách thức cung ứng vật tư thiết bị hợp lý đảm bảo tiến độ thi công

1.1.1.3 Khái niệm và đặc điểm của thanh tra đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN trong lĩnh vực giáo dục

Kết hợp các quan niệm trên đây có thể nêu khái niệm về thanh tra đầu tư

Trang 33

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

XDCB từ nguồn vốn NSNN trong lĩnh vực giáo dục như sau: Thanh tra đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN trong lĩnh vực giáo dục là việc xem xét, đánh giá,

xử lý theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của

cơ quan, tổ chức, cá nhân trong công tác đầu tư XDCB sử dụng vốn NSNN, nhằm kết luận đúng, sai, đánh giá ưu, khuyết điểm, phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa, xử lý các vi phạm, góp phần hoàn hiện cơ chế quản lý, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, các quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân

Mục đích của hoạt động thanh tra đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN

trong lĩnh vực giáo dục nhằm phát hiện những sơ hở, yếu kém, vi phạm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan trong việc thực hiện các dự án đầu tư từ nguồn vốn NSNN; chấn chỉnh và tăng cường trách nhiệm của các cơ quan lập, thẩm định, phê duyệt các dự án đầu tư thuộc thẩm quyền; xác định rõ trách nhiệm của từng cấp, từng cơ quan (gắn với trách nhiệm cá nhân); phát huy nhân tố tích cực; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân

Qua thanh tra kiến nghị điều chỉnh những tồn tại, bất cập về cơ chế, chính sách trong quản lý dự án đầu tư từ nguồn vốn NSNN nhằm tăng cường quản lý đầu tư; đề xuất chế tài xử lý nghiêm các vi phạm về quản lý, sử dụng vốn đầu

tư phát triển từ nguồn vốn NSNN

Nguyên tắc thanh tra, tuân theo pháp luật; bảo đảm chính xác, khách

quan, trung thực, công khai, dân chủ, kịp thời; không trùng lặp về phạm vi, đối tượng, nội dung, thời gian thanh tra giữa các cơ quan thực hiện chức năng thanh tra và không làm cản trở hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân

là đối tượng thanh tra [17]

Trang 34

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

Nội dung thanh tra, thanh tra việc thực hiện dự án, công trình đầu tư

XDCB, bao gồm các giai đoạn chuẩn bị đầu tư, đầu tư và kết thúc đầu tư, đưa vào khai thác sử dụng

Hình thức thanh tra, gồm thanh tra theo kế hoạch và thanh tra đột xuất

Thanh tra theo kế hoạch được phê duyệt là hoạt động thường xuyên, định kỳ, tập trung vào các lĩnh vực mang tính trọng tâm nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ đặt ra và kịp thời ngăn chặn vi phạm có thể xảy ra Thanh tra đột xuất khi phát hiện tổ chức, cá nhân có dấu hiệu vi phạm pháp luật, theo yêu cầu của việc giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc do thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền giao

Đặc điểm của thanh tra đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN trong lĩnh

vực giáo dục có đặc điểm chung của hoạt động thanh tra, đồng thời có một số đặc điểm riêng:

- Hoạt động thanh tra luôn gắn liền với hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước và phục vụ cho quản lý nhà nước trong lĩnh vực đầu tư XDCB sử dụng vốn NSNN

- Hoạt động thanh tra do các cơ quan thanh tra nhà nước (cấp tỉnh, huyện)

và thanh tra sở tiến hành, thực hiện quyền lực nhà nước trong các hoạt động thanh tra

- Đối tượng của thanh tra là các cơ quan, tổ chức, cá nhân, cấp có thẩm quyền liên quan đến việc lập, thẩm định, phê duyệt phân bổ và sử dụng nguồn vốn NSNN; việc lập, thẩm định, phê duyệt dự án đầu tư; việc quản lý và thực hiện dự án đầu tư có sử dụng vốn NSNN

Về thực hiện quyền trong quá trình thanh tra:

Khi thực hiện hoạt động thanh tra, trưởng đoàn thanh tra, người ra quyết định thanh tra có thể thực hiện quyền trong các trường hợp: Cần bảo đảm

Trang 35

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

nguyên trạng tài liệu; kiểm kê tài sản; cần có sự đánh giá về nội dung liên quan đến chuyên môn, kỹ thuật làm căn cứ cho việc kết luận; phát hiện hành vi vi phạm cần đình chỉ hoặc kiến nghị người có thẩm quyền tạm đình chỉ hành vi vi phạm pháp luật; cần tạm giữ tiền, đồ vật, giấy phép được cấp hoặc có văn bản yêu cầu người có thẩm quyền tạm giữ tiền, đồ vật, giấy phép được cấp do hành

vi trái pháp luật gây ra; cần thu hồi tiền, tài sản bị chiếm đoạt, sử dụng trái phép hoặc bị thất thoát do hành vi trái pháp luật gây ra; phát hiện việc thi hành quyết định kỷ luật, thuyên chuyển công tác, cho nghỉ hưu đối với người đang cộng tác với cơ quan thanh tra hoặc đang là đối tượng thanh tra nếu xét thấy việc thi hành quyết định đó gây trở ngại cho việc thanh tra thì người ra quyết định thanh tra kiến nghị người có thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ thi hành quyết định đó; cần đình chỉ công tác và xử lý đối với cán bộ, công chức, viên chức cố

ý cản trở việc thanh tra hoặc không thực hiện yêu cầu, kiến nghị, quyết định thanh tra thì người ra quyết định thanh tra kiến nghị người có thẩm quyền tạm đình chỉ công tác đối với cán bộ, công chức, viên chức vi phạm Thủ tục thực hiện quyền theo quy định hiện hành

1.1.2 Vai trò của thanh tra đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN trong lĩnh vực giáo dục

Thứ nhất, góp phần thực hiện tốt các quy định của pháp luật về đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN, tăng cường kỷ cương pháp luật, xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, trong sáng

Cùng với việc phát hiện và xử lý các vi phạm pháp luật, thanh tra còn đóng vai trò như một biện pháp phòng ngừa hữu hiệu các vi phạm pháp luật Thanh tra cùng với các phương thức kiểm tra, giám sát luôn là hiện thân của kỷ cương pháp luật; công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát dù được thực hiện dưới bất cứ hình thức nào, cũng luôn có tác dụng hạn chế, răn đe những hành vi vi phạm pháp luật của

Trang 36

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

các đối tượng quản lý Mặt khác, các giải pháp được đưa ra từ hoạt động thanh tra không chỉ hướng vào việc xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, mà còn có tác dụng khắc phục các kẽ hở của chính sách, pháp luật, ngăn ngừa tận gốc mầm mống phát sinh những vi phạm pháp luật, tăng cường kỷ cương, xây dựng môi trường đầu tư, môi trường giáo dục lành mạnh, trong sáng

Thứ hai, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả đầu tư XDCB từ nguồn

vốn NSNN trong lĩnh vực giáo dục

Hoạt động thanh tra đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN trong lĩnh vực giáo dục để giúp cơ quan nhà nước hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN, nhằm huy động và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư, nâng cao chất lượng đầu tư; điều này có ý nghĩa quan trọng, khi cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ hoạt động giáo dục đảm bảo chất lượng, đúng thiết kế sẽ góp phần rất quan trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục

Thứ ba, góp phần thực hiện công bằng trong giáo dục

Hoạt động thanh tra giúp các chủ thể quản lý đánh giá đúng thực trạng đầu tư gắn với quy hoạch mạng lưới trường lớp học, cơ sở giáo dục, sử dụng đất đai, việc phân bổ, sử dụng vốn đầu tư, quá trình chuẩn bị và thực hiện đầu tư… để từ đó kiến nghị cơ quan quản lý nhà nước thực hiện công bằng trong đầu tư, thu hẹp khoảng cách giữa vùng thuận lợi và vùng khó khăn, tạo điều kiện để tất cả các vùng đều có điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị phục

vụ việc giảng dạy, học tập và thực hiện công bằng trong giáo dục

1.1.3 Nội dung thanh tra đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN trong lĩnh vực giáo dục

1.1.3 1 Xây dựng và phê duyệt kế hoạch thanh tra

Kế hoạch thanh tra là văn bản xác định nhiệm vụ chủ yếu về thanh tra của cơ quan thực hiện chức năng thanh tra trong 1 năm do thủ trưởng cơ quan thực hiện chức năng thanh tra xây dựng để thực hiện định hướng chương trình,

Trang 37

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

kế hoạch thanh tra và yêu cầu quản lý của thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp [17]

Kế hoạch thanh tra là văn bản pháp lý quan trọng, thể hiện được các nội dung thanh tra trong năm để đáp ứng yêu cầu công tác quản lý, nhiệm vụ chính trị của ngành, của địa phương và chỉ đạo của cơ quan thanh tra nhà nước cấp trên; đồng thời giúp thủ trưởng các cơ quan thanh tra nhà nước điều hành nhiệm

vụ thanh tra một cách khoa học nhất, điều hòa và chỉ đạo phối hợp trong hoạt động thanh tra, kiểm tra đối với các cơ quan, đơn vị trên địa bàn và trên từng lĩnh vực thuộc quyền quản lý của thủ trưởng cơ quan quản lý cùng cấp

Hằng năm, Chánh Thanh tra tỉnh căn cứ vào định hướng chương trình thanh tra, hướng dẫn của Tổng Thanh tra Chính phủ và yêu cầu công tác quản

lý của UBND tỉnh, trình chủ tịch UBND tỉnh phê duyệt kế hoạch thanh tra

Chánh thanh tra sở, thủ trưởng cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành thuộc sở, chánh thanh tra huyện căn cứ vào kế hoạch thanh tra của Thanh tra tỉnh và yêu cầu công tác quản lý của sở, cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành thuộc sở, UBND cấp huyện trình giám đốc sở, thủ trưởng cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành thuộc sở, chủ tịch UBND, phê duyệt kế hoạch thanh tra

Kế hoạch thanh tra được xây dựng trên cơ sở chương trình công tác, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội của địa phương, của ngành; định hướng chỉ đạo chung của cơ quan thanh tra nhà nước cấp trên; những dấu hiệu vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân do cơ quan thanh tra phát hiện và nguồn lực của cơ quan thanh tra như: Đội ngũ cán bộ thanh tra, điều kiện vật chất, điều kiện thời gian…

Nội dung kế hoạch thanh tra phải toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm, tránh tình trạng thanh tra tràn lan, tuỳ tiện, chồng chéo Trọng tâm là “lựa chọn việc đích đáng nhất”,“việc quan trọng nhất”, “làm được việc này, kết luận cho

Trang 38

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

tốt thì có thể phát huy ảnh hưởng rộng lớn, sâu sắc, có lợi cho nhiều mặt” [37] Mỗi địa phương, mỗi ngành có nhiều vấn đề bức xúc, nhưng chỉ có thể chọn một số nội dung quan trọng, bức xúc nhất để đưa vào kế hoạch thanh tra Triển khai thực hiện tốt, hiệu quả sẽ có tác dụng thiết thực, góp phần tăng cường công tác quản lý

Trọng điểm chính là xác định địa bàn, những “nút” quan trọng, mà ở đó

có phát sinh “vấn đề” trong triển khai thực hiện nhiệm vụ kinh tế xã hội Địa bàn, đơn vị, cơ sở đó nếu được người quản lý, cơ quan quản lý và cơ quan thanh tra xem xét, giải quyết kịp thời, giúp tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn sẽ khắc phục được những sai lầm, khuyết điểm, khắc phục tình trạng yếu kém trong quản lý, trong điều hành, sẽ tạo thế ổn định để phát triển

Các cơ quan thanh tra nhà nước cấp tỉnh, huyện, thanh tra sở căn cứ định hướng chỉ đạo chung của cơ quan thanh tra nhà nước cấp trên, kết quả theo dõi, tổng hợp thông tin về thực trạng tình hình sử dụng vốn, quản lý đầu tư của địa phương; những dấu hiệu vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân do

cơ quan thanh tra phát hiện để lựa chọn nội dung đầu tư XDCB nói chung, đầu

từ XDCB từ nguồn vốn NSNN trong lĩnh vực giáo dục đưa vào kế hoạch thanh tra hằng năm

1.1.3.2 Tổ chức thực hiện kế hoạch thanh tra

Quy trình thực hiện một cuộc thanh tra theo kế hoạch hằng năm được thực hiện theo Luật Thanh tra 2010 và các văn bản hướng dẫn Một cuộc thanh tra đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN trong lĩnh vực giáo dục ở những giác độ khác nhau đều liên quan trực tiếp đến việc thực hiện dự án, công trình đầu tư XDCB, quy trình thanh tra được thực hiện như sau:

Bước 1: Chuẩn bị thanh tra

Công tác chuẩn bị giúp cho hoạt động thanh tra diễn ra thuận lợi, chủ động, có mục tiêu rõ ràng Chuẩn bị thanh tra được tính từ khi chuẩn bị ban

Trang 39

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

hành quyết định thanh tra cho đến khi đoàn thanh tra công bố quyết định thanh tra Nội dung bước chuẩn bị gồm:

a) Thu thập thông tin, tài liệu, nắm tình hình để ban hành quyết định thanh tra

Trong trường hợp cần thiết, thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước, thủ trưởng cơ quan thanh tra nhà nước, thủ trưởng cơ quan thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành (gọi chung là người giao nhiệm vụ nắm tình hình) chỉ đạo việc thu thập thông tin, tài liệu, nắm tình hình để phục vụ cho việc ban hành quyết định thanh tra Thông thường, việc khảo sát, nắm tình hình trong những trường hợp: nội dung thanh tra là việc thực hiện một chủ trương, chính sách hay lĩnh vực công tác lớn, phải tiến hành trên diện rộng, liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành; cuộc thanh tra phức tạp, liên quan đến nhiều đầu mối, nhiều cấp quản lý có trách nhiệm liên quan Nội dung thu thập thông tin, tài liệu, nắm tình hình chủ yếu gồm:

- Quyết định phê duyệt báo cáo đầu tư (nếu có), dự án đầu tư; quyết định phê duyệt thiết kế kỹ thuật - dự toán, tổng dự toán; quyết định phê duyệt kế hoạch đấu thầu; quyết định phê duyệt kết quả đấu thầu của các gói thầu; hợp đồng thi công xây lắp công trình; các tài liệu khác

- Tình hình triển khai thực hiện dự án, công trình: Tình hình thực hiện đấu thầu các gói thầu; tiến độ thi công của các gói thầu, vốn đã thanh toán cho từng gói thầu, tổng vốn đã thanh toán

- Nội dung các đơn khiếu nại, tố cáo; các thông tin trên công luận, báo chí và dư luận về những tiêu cực, vi phạm của đối tượng; các thông tin liên quan đến những nội dung dự kiến thanh tra

- Kết luận thanh tra, kiểm tra, kiểm toán (nếu có)

Phương pháp thu thập thông tin, tài liệu, nắm tình hình được thực hiện thông qua nhiều kênh, như: Nắm trực tiếp tại cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng; cơ quan cấp trên của đối tượng; cơ quan thống kê, cơ quan thuế nơi quản

Trang 40

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

lý đối tượng; các cơ quan hữu quan khác có liên quan; tập hợp thông tin qua báo chí, dư luận, mạng internet; tổ chức tiếp xúc với những người đi khiếu nại,

tố cáo; người am hiểu về những nội dung dự kiến thanh tra

Sau khi kết thúc cuộc khảo sát, trưởng nhóm khảo sát báo cáo bằng văn bản về kết quả khảo sát, ngoài ra cần đề xuất một số nội dung sau: Những nội dung cần thanh tra, kiểm tra (nêu rõ nội dung chính, trọng tâm); các tổ chức, đơn vị, cá nhân liên quan; những thuận lợi, khó khăn khi tiến hành thanh tra;

dự kiến thành phần, số lượng thành viên đoàn thanh tra, thời gian tiến hành cuộc thanh tra; công tác chuẩn bị tài liệu và các nội dung khác có liên quan đến cuộc thanh tra (nếu cần thiết)

b) Ban hành quyết định thanh tra

Dựa trên các căn cứ để ra quyết định thanh tra và báo cáo kết quả thu thập thông tin, tài liệu, nắm tình hình (nếu có), người giao nhiệm vụ nắm tình hình giao nhiệm vụ cho cá nhân, đơn vị chuyên môn của mình soạn thảo quyết định thanh tra, ký ban hành, gửi cho đối tượng thanh tra và tổ chức công bố quyết định thanh tra Nội dung quyết định thanh tra gồm: Căn cứ pháp lý để thanh tra; đối tượng, nội dung, phạm vi, nhiệm vụ thanh tra; thời hạn tiến hành thanh tra; trưởng đoàn thanh tra và các thành viên khác của đoàn thanh tra; cơ quan, tổ chức, cá nhân được giao nhiệm vụ chỉ đạo, giám sát hoạt động đoàn thanh tra

c) Xây dựng và trình duyệt kế hoạch tiến hành cuộc thanh tra

Quyết định thanh tra là một văn bản có giá trị pháp lý, là căn cứ để chỉ đạo tiến hành thanh tra Kế hoạch tiến hành thanh tra là thể hiện phương án để Đoàn triển khai lực lượng thực hiện quyết định Trưởng đoàn thanh tra có trách nhiệm dự thảo và hoàn chỉnh kế hoạch thanh tra, họp đoàn để thảo luận dự thảo

kế hoạch tiến hành thanh tra trước khi trình người giao nhiệm vụ nắm tình hình phê duyệt Kế hoạch phải cụ thể hoá mục đích, yêu cầu, nội dung cuộc thanh

Ngày đăng: 12/06/2021, 19:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Điệp Văn Chiến (2014), Cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động của thanh tra tỉnh Quảng Ninh hiện nay, Luận văn thạc sĩ, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động của thanh tra tỉnh Quảng Ninh hiện nay
Tác giả: Điệp Văn Chiến
Năm: 2014
10. Phan Thị Kiều Hương (2010) Hoàn thiện quy trình thanh tra các đơn vị sự nghiệp công lập có thu do Thanh tra Sở Tài chính Quảng Bình thực hiện, Luận văn thạc sỹ, Trường Đại học Kinh tế quố c dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện quy trình thanh tra các đơn vị sự nghiệp công lập có thu do Thanh tra Sở Tài chính Quảng Bình thực hiện
11. Phan Văn Kha (2008), Quản lý nhà nước về giáo dục, NXBĐH Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà nước về giáo dục
Tác giả: Phan Văn Kha
Nhà XB: NXBĐH Quốc gia Hà Nội
Năm: 2008
12. VI. Lê nin (1978), Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Matsxcơva 13. Pháp lệnh Thanh tra (1990), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: VI. Lê nin (1978), Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Matsxcơva 13. Pháp lệnh Thanh tra
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
Năm: 1990
21. Phạm Thị Quế (2013), Hoàn thiện hoạt động thanh tra tại chỗ đối với các tổ chức tín dụng của cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng - ngân hàng nhà nước Việt Nam, Luận văn thạc sỹ, Trường Đại học Kinh tế quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện hoạt động thanh tra tại chỗ đối với các tổ chức tín dụng của cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng - ngân hàng nhà nước Việt Nam
Tác giả: Phạm Thị Quế
Năm: 2013
22. Sở Giáo dục và Đào tạo Lai Châu, Sở Tài chính Lai Châu (2011, 2012, 2013, 2014, 2015), Báo cáo quyết toán thu, chi NSNN , Lai Châu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo quyết toán thu, chi NSNN
23. Sở Giáo dục và Đào tạo Lai Châu (2015), Báo cáo tổng kết năm học 2014 - 2015, Lai Châu.24. Tạp chí Thanh tra Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết năm học 2014-2015
Tác giả: Sở Giáo dục và Đào tạo Lai Châu
Năm: 2015
25. Tha nh tra Chính phủ (2010), Thông tư số 02/2010/TT -TTCP, ngày 02/3/2010 quy định quy trình tiến hành một cuộc thanh tra, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 02/2010/TT-TTCP, ngày 02/3/2010 quy định quy trình tiến hành một cuộc thanh tra
Tác giả: Tha nh tra Chính phủ
Năm: 2010
26. Thanh tra Chính phủ (2012), Quyết định số 1885/QĐ -TTCP, ngày 31/7/2012 ban hành quy chế công khai kết luận thanh tra, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 1885/QĐ-TTCP, ngày 31/7/2012 ban hành quy chế công khai kết luận thanh tra
Tác giả: Thanh tra Chính phủ
Năm: 2012
27. Thanh tra Chính phủ (2013), Thông tư số 01/2013/TT -TTCP, ngày 12/3/2013 quy định về hoạt động theo dõi, đôn đốc, kiểm tra thực hiện kết luận, kiến nghị, quyết định xử lý về thanh tra, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 01/2013/TT-TTCP, ngày 12/3/2013 quy định về hoạt động theo dõi, đôn đốc, kiểm tra thực hiện kết luận, kiến nghị, quyết định xử lý về thanh tra
Tác giả: Thanh tra Chính phủ
Năm: 2013
28. Thanh tra Chính phủ (2013), Thông tư số 03/2013/TT -TTCP, ngày 10/6/2013 quy định chế độ báo cáo công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng chống tham nhũng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 03/2013/TT-TTCP, ngày 10/6/2013 quy định chế độ báo cáo công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng chống tham nhũng
Tác giả: Thanh tra Chính phủ
Năm: 2013
29. Thanh tra Chính phủ (2014), Thông tư số 05/2014/TT -TTCP, ngày 16/10/2014 Quy định về tổ chức, hoạt động, quan hệ công tác của đo àn thanh tra và trình tự, thủ tục tiến hành một cuộc thanh tra, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 05/2014/TT-TTCP, ngày 16/10/2014 Quy định về tổ chức, hoạt động, quan hệ công tác của đoàn thanh tra và trình tự, thủ tục tiến hành một cuộc thanh tra
Tác giả: Thanh tra Chính phủ
Năm: 2014
30. Thanh tra Chính phủ (2014), Thông tư số 08/2014/TT -TTCP, ngày 23/4/2014 Quy định việc xây dựng, phê duyệt định hướng chương trình thanh tra, kế hoạch thanh tra, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 08/2014/TT-TTCP, ngày 23/4/2014 Quy định việc xây dựng, phê duyệt định hướng chương trình thanh tra, kế hoạch thanh tra
Tác giả: Thanh tra Chính phủ
Năm: 2014
31. Thanh t ra Nhà nước (2002), Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác thanh tra, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác thanh tra
Tác giả: Thanh t ra Nhà nước
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
32. Thanh tra Sở Giáo dục và Đào tạo Lai Châu (2011, 2012, 2013, 2014, 2015), Báo cáo tổng kết công tác thanh tra, Lai Châu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác thanh tra
33. Thanh tra tỉnh Lai Châu (2011, 2012, 2013, 2014, 2015), Báo cáo tổng kết công tác thanh tra, Lai Châu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác thanh tra
34. Thanh tra tỉnh Lai Châu (2012), Báo cáo kết quả thanh tra chuyên đề diện rộng đề án kiên cố hóa trường, lớp học và nhà công vụ cho giáo viên giai đoạn 2008 - 2012 tỉnh Lai Châu, Lai Châu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả thanh tra chuyên đề diện rộng đề án kiên cố hóa trường, lớp học và nhà công vụ cho giáo viên giaiđoạn 2008 - 2012 tỉnh Lai Châu
Tác giả: Thanh tra tỉnh Lai Châu
Năm: 2012
1. Báo cáo tổng kết công tác thanh tra tỉnh Điện Biên giai đoạn 2004 - 2015 Khác
2. Báo cáo tổng kết công tác thanh tra tỉnh Lào Cai giai đoạn 2010 - 2015 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w