Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn L ỜI CẢM ƠN Trong quá trình thực hiện luận văn “Đánh giá tác động của chính sách bảo vệ và phát triển r
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH
ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ
KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
THÁI NGUYÊN – 2019
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH
ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ
Chuyên ngành: Kinh t ế nông nghiệp
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
L ỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện luận văn “Đánh giá tác động của chính sách bảo
vệ và phát triển rừng đối với đồng bào dân tộc thiểu số tại huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên” tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ, hướng dẫn, động viên của những cá nhân và tập thể Tôi xin bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc nhất tới tất cả các cá nhân và tập thể đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong học tập và nghiên cứu Trước hết tôi xin bày tỏ sự cảm ơn đối với Ban giám hiệu nhà trường, Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn và các thầy, cô giáo Trường Đại học Nông Lâm thuộc Đại học Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành chương trình học tập và nghiên cứu
Có được kết quả này tôi vô cùng biết ơn và bày tỏ lòng kính trọng sâu sắc đối với Tiến sỹ Kiều Thị Thu Hương người đã nhiệt tình hướng dẫn giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin được gửi lời cảm ơn tới Ủy Ban Dân Tộc và các Thầy Cô trong nhóm nghiên cứu đề tài “ Đánh giá hiệu quả, tác động của chính sách bảo vệ và phát triển
rừng đối với đồng bào dân tộc thiểu số” đã hỗ trợ tôi trong quá trình nghiên cứu và sử
dụng 1 số dữ liệu của đề tài
Tôi xin cảm ơn sâu sắc đến Lãnh đạo, cán bộ Ủy ban nhân dân huyện Định Hóa nơi tôi công tác đã tạo điều kiện để tôi hoàn thành khóa học và nghiên cứu hoàn thiện bài luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Định Hóa, ngày tháng năm 2019
Học viên
Phùng Thế Quân
Trang 4Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
L ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo vệ lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Định Hóa, ngày tháng năm 2019
Học viên
Phùng Thế Quân
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
M ỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
M ỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC HÌNH vii
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 3
3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 5
1.1 Cơ sở lý luận của đề tài 5
1.1.1 Khái niệm rừng 5
1.1.2 Đặc điểm và phân loại rừng 5
1.1.3 Vai trò của rừng 7
1.1.4 Một số vấn đề lý luận về tác động của chính sách quản lý, bảo vệ rừng đến phát triển rừng 8
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài 12
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 12
1.2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 23
1.3 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan 31
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35
2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 35
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 35
2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 42
2.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội 51
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
2.2 Nội dung nghiên cứu 52
2.3 Phương pháp nghiên cứu 52
2.3.1 Phương pháp chọn mẫu 52
2.3.2 Phương pháp thu thập thông tin 53
2.3.3 Phương pháp xử lý thông tin 53
2.3.4 Phương pháp phân tích thông tin 53
2.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 54
2.4.1 Các chỉ tiêu về quản lý, bảo vệ rừng 54
2.4.2 Các chỉ tiêu đánh giá kết quả và hiệu quả tác động của chính sách 54
2.4.3 Các chỉ tiêu tổng hợp 55
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 56
3.1 Thực trạng công tác bảo vệ và phát triển rừng tại huyện Định Hóa và hệ thống chính sách quản lý, bảo vệ rừng đang thực thi tại huyện Định Hóa 56
3.2 Đánh giá tác động của các chính sách quản lý, bảo vệ và phát triển rừng ở huyện Định Hóa 63
3.2.1 Chính sách giao đất, giao rừng trên địa bàn huyện Định Hóa 65
3.2.2 Chính sách phát triển rừng 67
3.2.3 Chính sách hưởng lợi từ rừng 69
3.2.4 Chính sách khai thác, lưu thông và chế biến lâm sản 70
3.2.5 Chính sách về văn hóa - phong tục tập quán 72
3.3 Đánh giá những kết quả đạt được 74
3.3.1 Tác động của chính sách bảo vệ và phát triển rừng lên khía cạnh kinh tế 74
3.3.2 Đánh giá tác động của chính sách bảo vệ và phát triển rừng đối với đồng bào dân tộc thiểu số trên khía cạnh xã hội 76
3.3.3 Đánh giá hiệu quả của chính sách bảo vệ và phát triển rừng đối với đồng bào dân tộc thiểu số trên khía cạnh môi trường 78
3.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi chính sách quản lý, bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn huyện Định Hóa 79
3.4.1 Ảnh hưởng của các nhân tố tự nhiên 79
3.4.2 Ảnh hưởng của nhân tố con người 79
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
3.4.3 Ảnh hưởng của nhân tố kinh tế - xã hội 80
3.5 Đánh giá chung về tác động và thực thi chính sách quản lý, bảo vệ và phát triển rừng ở huyện Định Hóa 80
3.6.Các giải pháp tăng cường thực hiện các chính sách bảo vệ và phát triển rừng đối với đồng bào dân t ộc thiểu số trên địa bàn huyện Định Hóa 86
3.6.1 Giải pháp về tổ chức quản lý 86
3.6.2 Giải pháp về khoa học, công nghệ 87
3.6.3 Giải pháp chính sách 87
3.6.4 Giải pháp về vốn 88
3.6.5 Giải pháp về quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng 89
3.6.6 Giải pháp phát triển thị trường 90
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 91
1 Kết luận 91
2.1 Đối với Nhà nước và chính quyền địa phương 92
2.2 Đối với hộ đồng bào dân tộc thiểu số 92
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
Trang 8Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
DANH M ỤC BẢNG
Bảng 2.1 Diện tích huyện Định Hóa phân theo đơn vị hành chính và loại đất 40 Bảng 2.2 Hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp theo ba loại rừng huyện Định Hóa 41 Bảng 2.3 Dân số huyện Định Hóa phân theo giới tính,
thành thị, nông thôn giai đoạn 2016-2018 42 Bảng 2.4 Số hộ nghèo trên địa bàn huyện Định Hóa giai đoạn năm 2016 - 2018 44 Bảng 2.5 Giá trị sản xuất các ngành kinh tế huyện Định Hóa
giai đoạn năm 2016-2018 (theo giá cố định) 44 Bảng 3.1: Độ che phủ rừng theo đơn vị hành chính huyện Định Hóa 58 Bảng 3.2: tình trạng quản lý diện tích rừng và đất lâm nghiệp
Tỉnh: Thái Nguyên - Huyện Định Hóa 66 Bảng 3.3 Tác động của chính sách bảo vệ và phát triển rừng
trên lĩnh vực kinh tế 75 Bảng 3.4 Tác động của chính sách bảo vệ và phát triển rừng
đối với xã hội dân tộc thiểu số 76 Bảng 3.5 Tác động của chính sách bảo vệ và phát triển rừng
trên lĩnh vực môi trường 78 Bảng 3.6 Phân tích SWOT 81
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
DANH M ỤC HÌNH
Hình 2.1 Bản đồ hành chính huyện Định Hóa 35 Hình 3.1 Các giai đoạn phát triển trong đường lối, chủ trương
và chính sách về BV&PTR đối với đồng bào dân tộc thiểu số 64 Hình 3.2 Khung phân tích chính sách BV&PTR đối với
đồng bào dân tộc thiểu số 64
Trang 10Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Luận văn thạc sỹ với đề tài “Đánh giá tác động của chính sách bảo vệ và
phát tri ển rừng đối với đồng bào dân tộc thiểu số tại huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên” được thực hiện nhằm phân tích thực trạng công tác bảo vệ và
phát triển rừng tại huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên, tìm ra những thuận lợi, khó khăn từ đó đề xuất một số giải pháp trong công tác bảo vệ và phát triển rừng đối với đồng bào dân tộc thiểu số tại huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên
Nội dung nghiên cứu thực trạng bảo vệ phát triển rừng tại huyện Định hóa
và hệ thống hóa các chính sách bảo vệ phát triển rừng có tác động lên đời sống đồng bào dân tộc thiểu số tại vùng nghiên cứu Phân tích các tác động của chính sách bảo vệ và phát triển rừng đối với quá trình sản xuất và đời sống của người dân tộc thiểu số trên địa bàn nghiên cứu Phân tích các thuận lợi và khó khăn trong thực thi chính sách bảo vệ phát triển rừng trên địa bàn huyện Định Hóa
Với phương pháp nghiên cứu lựa chọn các xã có tỷ lệ che phủ rừng cao;
cộng đồng thôn bản, người dân có tham gia vào các hoạt động lâm nghiệp ở địa phương, nhận và được khoán rừng; có liên hệ chặt chẽ với công tác bảo vệ và phát triển rừng Sử dụng phương pháp tham vấn tại hiện trường với sự tham gia của các bên có liên quan như cán bộ thôn bản, các cán bộ và chuyên gia lâm nghiệp, các ban quản lý bảo vệ- phát triển rừng… nhằm thảo luận và thu thập thông tin liên quan phục vụ thẩm định các vấn đề chủ chốt của những người sống phụ thuộc vào rừng Kết quả tham vấn cũng được sử dụng vào phân tích
và đánh giá tính phù hợp, mặt tích cực và tiêu cực của các chính sách bảo vệ và phát triển rừng, làm cơ sở đưa ra các khuyến nghị bổ sung và hoàn thiện chính sách Sau đó xử lý số liệu để đưa ra những kết luận cụ thể
Huyện Định Hóa có diện tích đất được quy hoạch cho lâm nghiệp là 32.024,93 ha, trong đó quy hoạch rừng đặc dụng: 7.539,98 ha, chiếm 23,54 %, Rừng phòng hộ: 8.947,80 ha, chiếm 27,94 %, còn lại là rừng sản xuất: 15.537,15
ha, chiếm 48,52 %
Chính sách bảo vệ và phát triển rừng có ảnh hưởng rất lớn đến kinh tế, đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Định Hóa Rừng Định
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Hóa, tỉnh Thái Nguyên là một bộ phận đặc biệt quan trọng trong quần thể di tích lịch sử cách mạng ATK – Định Hóa Công tác quản lý, bảo vệ rừng đã và đang nhận được sự hỗ trợ về vốn của Nhà nước theo các chương trình dự án nhờ vậy những hoạt động quản lý, bảo vệ rừng đã và đang thực hiện có hiệu quả, góp phần nhất định trong phát triển kinh tế của người dân và địa phương
Các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội có ảnh hưởng rất lớn tới công tác quản
lý, bảo vệ và phát triển rừng đối với đồng bào dân tộc thiểu số tại huyện Định Hóa Ranh giới dễ xác định, địa hình chủ yếu là đồi núi, khí hậu thuận lợi cho nhiều loài động, thực vật phát triển, có đường quốc lộ 3C chạy qua là những điều kiện thuận lợi cho công tác bảo vệ rừng Dân cư sinh sống quanh khu rừng phần lớn có điều kiện sống còn khó khăn, cuộc sống phụ thuộc vào canh tác nương rẫy và tài nguyên rừng, nạn săn bắn thú rừng, đặc biệt tình hình xâm lấn đất rừng cũng gây khó khăn rất lớn cho công tác bảo vệ phát triển rừng
Luận văn đã xác định được các công việc cần phải ưu tiên và giải pháp giảm thiểu tác động tới hoạt động bảo vệ rừng và phát triển rừng ở huyện Định Hóa, trong
đó việc tìm ra giải pháp ngăn chặn nạn khai thác rừng trái phép và săn bắn động vật hoang dã được coi là 2 nhiệm vụ rất cấp thiết cần phải thực hiện Một số giải pháp mang tính chất định hướng đối với khu bảo vệ rừng được đề tài đưa ra là: Đẩy mạnh công tác tuyển dụng, đào tạo và nâng cao trình độ cho cán bộ của khu rừng; đẩy mạnh phát triển kinh tế vùng đệm thông qua các chương trình cải thiện sinh kế để giảm áp
lực vào tài nguyên rừng; phát triển du lịch sinh thái dựa vào các tiềm năng cảnh quan, văn hóa có sẵn của khu; tăng cường quảng bá giá trị di tích lịch sử ATK để thu hút sự quan tâm và đầu tư từ phía chính phủ và các tổ chức xã hội trong và ngoài nước
Trang 12Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
MỞ ĐẦU
1 Tính c ấp thiết của đề tài
Dân tộc và chính sách dân tộc là một trong những vấn đề được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm Giai đoạn vừa qua, nhờ những thành công trong việc xử lý các vấn đề dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc đã góp phần tạo ra môi trường ổn định, thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam nói riêng và khu vực nói chung Trong điều kiện hội nhập khu vực và quốc tế, giải quyết tốt vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc trở thành chiến lược cơ bản, vừa cấp bách, vừa lâu dài trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước Để phát triển toàn diện chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, an ninh quốc phòng, v.v đòi hỏi phải có sự nhìn nhận, đánh giá và giải pháp cho các vấn đề dân tộc một cách toàn diện và phải đặt trong tương quan với các vấn đề dân tộc trong khu vực Hiện nay, nhiều vấn đề dân tộc mới trong khu vực đã và đang đặt ra như xung đột, ly khai, chia rẽ và mất ổn định dân tộc, v.v, đòi hỏi phải có những nghiên cứu để chỉ ra cơ sở lý luận và thực tiễn vững chắc cho việc hoạch định chiến lược dân tộc, chính sách dân tộc, trong đó có chính sách bảo vệ và phát triển rừng của Việt Nam một cách khoa học, đúng với thực tiễn của Việt Nam và phù hợp với bối cảnh quốc tế và khu vực
Công tác quản lý và bảo vệ rừng luôn được Nhà nước ta đặc biệt quan tâm
và chú trọng Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng được ban hành tương đối đầy đủ và ngày càng hoàn thiện, tạo cơ sở hành lang pháp lý cho chính quyền địa phương, lực lượng Kiểm lâm thực thi nhiệm vụ Các chính sách của Nhà nước về quản lý và bảo vệ rừng được thể hiện trong các luật, nghị định, thông tư, chỉ thị, quyết định và qua các chương trình,
dự án… được ban hành, thực hiện trong những thời kỳ nhất định Trong đó, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004 và Luật Đất đai năm 2013 hiện là những căn cứ pháp lý cơ bản và quan trọng để Nhà nước và các địa phương ban hành, thực thi các chính sách liên quan đến công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng
Trang 13Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Một số chính sách quản lý, bảo vệ và phát triển rừng tiêu biểu như chính sách giao đất, giao rừng; chính sách đồng quản lý rừng; chính sách hỗ trợ đầu tư trồng rừng và khuyến lâm; chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng,…Đồng thời rất nhiều chương trình, dự án triển khai ở các địa phương như chương trình 327
về phủ xanh đất trống đồi núi trọc, dự án 661 về trồng mới 5 triệu ha rừng… Tác động của chính sách bảo vệ và phát triển rừng đến phát triển kinh tế xã hội nói chung và đối với đồng bào dân tộc thiểu số và vùng núi nói riêng đang được chính phủ các nước quan tâm Trong giai đoạn vừa qua, nhờ những thành công trong đổi mới chính sách quản lý bảo vệ rừng, rừng ở nước ta dần dần được phục hồi, độ che phủ tăng lên, môi trường sống được cải thiện, góp phần vào phát triển kinh tế xã hội của đất nước, ổn định và nâng cao đời sống người dân sống trong và gần rừng trong đó chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số Bên cạnh
đó chính sách bảo vệ phát triển rừng còn những bất cập, những tác động ảnh hưởng tiêu cực đến quản lý bảo vệ rừng nói chung và đến đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng Thực tế này đòi hỏi cần có những nghiên cứu cụ thể, mang tính hệ thống về tác động của chính sách quản lý bảo vệ rừng đến công tác quản lý bảo vệ rừng đặc biệt là đối với đồng bào dân tộc thiểu số
Xuất phát những vấn đề trên tôi lựa chọn đề tài “Đánh giá tác động của chính sách bảo vệ và phát triển rừng đối với đồng bào dân tộc thiểu số tại huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên” để nghiên cứu làm luận văn tốt nghiệp
của mình
2 M ục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về tác động của chính sách bảo
vệ và phát triển rừng đối với đồng bào dân tộc thiểu số
- Nghiên cứu và làm rõ tác động của chính sách bảo vệ và phát triển rừng đối với đồng bào dân tộc thiểu số tại huyện Định Hóa
- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng trong thực thi chính sách bảo vệ và phát triển rừng tại huyện Định Hóa
Trang 14Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
- Đề xuất các giải pháp để thúc đẩy thực thi chính sách và phát triển rừng gắn với lợi ích của đồng bào dân tộc thiểu số góp phần phát triển bền vững tại huyện Định Hóa
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề mang tính lý luận và thực tiễn về tác động của chính sách bảo vệ và phát triển rừng đối với đồng bào dân tộc thiểu số ở huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Phạm vi nghiên cứu được giới hạn chủ yếu trong vị trí địa
lý và ranh giới huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên Số liệu điều tra được thực hiện ở 03 xã Tân Thịnh, Lam Vỹ, Linh Thông là các xã có độ che phủ rừng trên 70% và có đủ các loại rừng của huyện Định Hóa có diên tích rừng lớn và dân số chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số
- Về thời gian: Các số liệu thứ cấp được thu thập trong giai đoạn từ năm
2016 đến năm 2018 Việc điều tra, khảo sát thực tế được thực hiện năm 2019
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Thực tiễn đề tài sẽ góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn và tổng quan các nghiên cứu về rừng, về quản lý, bảo vệ và phát triển rừng đối với đồng bào dân tộc thiểu số Là cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu, đánh giá thực trạng tác động của chính sách và đề xuất các giải pháp thực hiện có hiệu quả các chính sách của nhà nước và địa phương về quản lý, bảo vệ và phát triển rừng đối với đồng bào dân tộc thiểu số ở huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên
- Việc đánh giá tác động của chính sách quản lý, bảo vệ và phát triển rừng đối với đồng bào dân tộc thiểu số sẽ chỉ ra được những tác động tích cực và những hạn chế, yếu kém còn tồn tại trong các chính sách quản lý , bảo vệ rừng đối với đồng bào dân tộc thiểu số và nguyên nhân của những tồn tại Trên cơ sở
đó, đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện các chính sách quản lý,
Trang 15Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
bảo vệ rừng đối với đồng bào dân tộc thiểu số ở huyện Định Hóa một cách bền vững, hiệu quả
- Các kết quả nghiên cứu sẽ giúp cho các nhà quản lý của huyện Định Hóa nói riêng, tỉnh Thái Nguyên nói chung và các địa phương khác có điều kiện tương tự xây dựng chính sách và định hướng trong quản lý, bảo vệ và phát triển rừng đối với đồng bào dân tộc thiểu số cho địa phương trong thời gian tới
- Các kết luận của luận văn có thể tham khảo để sử dụng cho việc giảng dạy, học tập trong nhà trường, phục vụ cho công tác nghiên cứu của các đối
tượng khác có quan tâm
Trang 16Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Năm 1930, Morozov đã đưa ra khái niệm: “Rừng là một tổng thể cây gỗ,
có mối liên hệ lẫn nhau, nó chiếm một phạm vi không gian nhất định ở mặt đất
và trong khí quyển Rừng chiếm phần lớn bề mặt trái đất và là một bộ phận của cảnh quan địa lý”
Năm 1952, M.E.Tcahenco đã định nghĩa: “Rừng là một bộ phận của cảnh quan địa lý, trong đó bao gồm một tổng thể các cây gỗ, cây bụi, cây cỏ, động vật và cả vi sinh vật Trong quá trình phát triển của mình, chúng có mối quan
hệ sinh học và ảnh hưởng lẫn nhau và với hoàn cảnh bên ngoài”
Năm 1974, LS.Melekhop cho rằng: “Rừng là sự hình thành phức tạp của
tự nhiên, là thành phần cơ bản của sinh quyển địa cầu”
Việt Nam, tại kỳ họp thứ 6, khóa XI, Quốc Hội nước ta đã ra luật số 29/2004/QH11 ngày 03 tháng 12 năm 2004, trong đó nêu rõ: “Rừng là một hệ sinh thái bao gồm quần thể thực vật rừng, động vật rừng, vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó cây gỗ, tre nứa hoặc hệ thực vật đặc trưng là thành phần chính có độ che phủ của tán rừng từ 0,1 trở lên Rừng gồm rừng trồng và rừng tự nhiên trên đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng”
1.1.2 Đặc điểm và phân loại rừng
1.1.2.1 Đặc điểm của rừng
Có thể nói, rừng là một quần xã sinh vật với diện tích đủ lớn trong đó cây
Trang 17Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
rừng là thành phần chủ yếu Trong đó, quần xã sinh vật và môi trường cùng với các thành phần trong quần xã sinh vật phải có mối quan hệ mật thiết để đảm bảo khác biệt giữa hoàn cảnh rừng và các hoàn cảnh khác Do vậy, rừng
có những đặc điểm cụ thể như sau: (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2004)
Thứ nhất, rừng là một thể tổng hợp phức tạp có mối quan hệ qua lại giữa các cá thể trong quần thể, giữa các quần thể trong quần xã và có sự thống nhất giữa chúng với hoàn cảnh trong tổng hợp đó
Thứ hai, rừng luôn luôn có sự cân bằng động, có tính ổn định, tự điều hòa
và tự phục hồi để chống lại những biến đổi của hoàn cảnh và những biến đổi
về số lượng sinh vật, những khả năng này được hình thành do kết quả của sự tiến hóa lâu dài và kết quả của sự chọn lọc tự nhiên của tất cả các thành phần rừng
Thứ ba, rừng có khả năng tự phục hồi và trao đổi cao Khả năng tự phục hồi giúp rừng chống lại những thay đổi nhất định
Thứ tư, rừng có sự cân bằng đặc biệt về sự trao đổi năng lượng và vật chất, luôn luôn tồn tại quá trình tuần hoàn sinh vật, trao đổi vật chất năng lượng, đồng thời nó thải ra khỏi hệ sinh thái các chất và bổ sung thêm vào đó một số chất từ các hệ sinh thái khác
Thứ năm, sự vận động của các quá trình nằm trong các tác động tương hỗ phức tạp dẫn tới sự ổn định bền vững của hệ sinh thái rừng
Thứ sáu, rừng có phân bố địa lý theo vùng miền, địa phương Các vùng miền, địa phương có điều kiện khác nhau có kiểu rừng khác nhau, hệ sinh thái rừng cũng có những đặc trưng riêng theo vùng miền
1.1.2.2 Phân loại rừng
Theo thông tư Số 34/2009/TT-BNNPTNT ngày 10/6/2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn quy định tiêu chí xác định và phân loại rừng, hiện nay rừng được phân thành ba loại: Rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất Cụ thể:
Trang 18Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
- Rừng phòng hộ được sử dụng chủ yếu để bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đất, chống xói mòn, chống sa mạc hóa, hạn chế thiên tai, điều hòa khí hậu, góp phần bảo vệ môi trường Rừng phòng hộ bao gồm: rừng phòng hộ đầu nguồn; rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát bay; rừng phòng hộ chắn sóng, lấn biển; rừng phòng
hộ bảo vệ môi trường
- Rừng đặc dụng được sử dụng chủ yếu để bảo tồn thiên nhiên, mẫu chuẩn
hệ sinh thái rừng của quốc gia, nguồn gen sinh vật rừng; nghiên cứu khoa học; bảo vệ di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh; phục vụ nghỉ ngơi, du lịch, kết hợp phòng hộ, góp phần bảo vệ môi trường Rừng đặc dụng gồm: vườn quốc gia; khu bảo tồn thiên nhiên như khu dự trữ thiên nhiên, khu bảo tồn loài - sinh cảnh; khu bảo vệ cảnh quan gồm khu rừng di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh; khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học
- Rừng sản xuất được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh gỗ, lâm sản ngoài gỗ và kết hợp phòng hộ, góp phần bảo vệ môi trường Rừng sản xuất bao gồm: Rừng tự nhiên, rừng trồng và rừng giống Rừng tự nhiên bao gồm rừng tự nhiên sẵn có và rừng phục hồi bằng khoanh nuôi, tái sinh tự nhiên từ đất không có rừng Rừng giống gồm rừng trồng và rừng tự nhiên qua bình tuyển, công nhận
1.1.3 Vai trò của rừng
Rừng có vai trò đặc biệt quan trọng đối với toàn bộ cuộc sống của con người trên trái đất (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2004), cụ thể như sau:
Thứ nhất, rừng là nơi tạo ra số lượng sinh khối lớn nhất Hiện nay, tất cả thực vật trên Trái Đất đã tạo ra 53 tỷ tấn sinh khối (ở trạng thái khô tuyệt đối là 64%) thì rừng chiếm 37 tỷ tấn (tương ứng với 70%) Trong đó, trung bình một hecta rừng hàng năm tạo nên sinh khối khoảng 300 - 500 kg, 16 tấn oxy (rừng thông 30 tấn, rừng trồng 3 - 10 tấn)
Thứ hai, rừng là lá phổi xanh của thế giới, giúp cung cấp phần lớn oxy cho hoạt động sống của con người Thực vậy, theo thống kê của các nhà khoa học,
Trang 19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
các cây rừng sẽ thải ra 52,5 tỷ tấn (chiếm 44%) oxy để phục vụ cho hô hấp của con người, động vật và sâu bọ trên Trái Đất trong khoảng 2 năm Trong đó trung bình mỗi người một năm cần 4.000 kg O2để thở, tương ứng với lượng oxy do 1.000 - 3.000 m² cây xanh tạo ra trong một năm Do đó, rừng giúp ích cho sự sống của con người và động vật
Thứ ba, rừng là thảm thực vật của những cây thân gỗ trên bề mặt Trái Đất, giữ vai trò to lớn đối với con người như: cung cấp nguồn gỗ, củi, điều hòa khí hậu, tạo ra oxy, điều hòa nước, nơi cư trú động thực vật và tàng trữ các nguồn gen quý hiếm
Thứ tư, rừng còn có tác dụng điều hòa không khí Điều này có được là do nhiệt độ không khí rừng thường thấp hơn nhiệt độ đất trống 3 - 5°C
Thứ năm, rừng còn giúp bảo vệ và ngăn chặn gió bão Các thống kê cho thấy, tại những nơi có rừng trồng, tỷ lệ nhà cửa bị ảnh hưởng do bão và các thiệt hại do thiên tai xảy ra giảm đáng kể so với những nơi không có rừng Đồng thời, lượng đất xói mòn của vùng đất có rừng chỉ bằng 10% lượng đất xói mòn của vùng đất không có rừng
Thứ sáu, rừng còn là nguồn gen vô tận của con người, là nơi cư trú của các loài động thực vật quý hiếm như các loài hổ, báo, khỉ …
1.1.4 Một số vấn đề lý luận về tác động của chính sách quản lý, bảo vệ rừng đến phát triển rừng
Rừng có vai trò rất quan trọng đối với cuộc sống của con người Tuy nhiên, hiện nay, do khai thác trái phép quá mức đã ảnh hưởng không nhỏ đến cảnh quan, không khí khiến thời tiết nóng hơn, khắc nghiệt hơn…gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển của rừng nói riêng và cuộc sống con người nói chung Chính vì vậy, thực hiện quản lý, bảo vệ và phát triển rừng là việc làm vô cùng cần thiết trong giai đoạn hiện nay
1.1.4.1 Khái niệm quản lý rừng và quản lý rừng bền vững
Quản lý rừng được hiểu là các cơ quan quản lý rừng ban hành các chính sách, quy định, tổ chức các hoạt động nhằm bảo vệ rừng và các tài nguyên rừng;
Trang 20Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
đảm bảo cho các chủ rừng thu được lợi ích về gỗ, lâm sản và giá trị dịch vụ từ rừng mà không làm thay đổi diện tích, trữ lượng và năng suất lâm sản trong đó
và không làm ảnh hưởng tới lợi ích lâu dài của khu rừng
Quản lý rừng bền vững là việc đóng góp của công tác lâm nghiệp đối với
sự phát triển Sự phát triển đó phải mang lợi ích kinh tế, môi trường và xã hội,
có thể cân bằng giữa nhu cầu hiện tại và tương lai Như vậy, “quản lý rừng bền vững còn là quá trình quản lý rừng để đạt được một hay nhiều mục tiêu cụ thể xem xét đến việc phát triển sản xuất dịch vụ và sản phẩm lâm nghiệp, đồng thời không làm giảm giá trị hiện có và ảnh hưởng đến năng suất sau này, cũng như không gây ra các tác động xấu đến môi trường tự nhiên và xã hội”.(Bộ Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn, 2006)
1.1.4.2 Khái niệm bảo vệ rừng
Ngoài việc quản lý rừng bền vững, nhà nước cũng cần phải thực hiện bảo
vệ rừng “Bảo vệ rừng là tổng thể các hoạt động nhằm bảo toàn, phát triển hệ sinh thái rừng hiện có, bao gồm thực vật, động vật rừng, đất lâm nghiệp và các yếu tố tự nhiên khác; phòng, chống những tác động gây thiệt hại đến đa dạng sinh học của rừng, bảo vệ nguồn nước, bảo vệ môi trường sinh thái” (Nguyễn
Thứ hai, cần thực hiện các biện pháp phòng cháy, chữa cháy; phòng, trừ sâu bệnh hại cho cây rừng
Thứ ba, hàng năm thực hiện thanh tra, kiểm tra và xử lý các hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ rừng
Trang 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
1.1.4.3 Khái niệm phát triển rừng
Theo Luật số 29/2004/QH11 do Quốc Hội ban hành ngày 03 tháng 12 năm
2004 quy định: “Phát triển rừng là việc trồng mới rừng, trồng lại rừng sau khai thác, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh phục hồi rừng, cải tạo rừng nghèo và việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh khác để tăng diện tích rừng, nâng cao giá trị đa dạng sinh học, khả năng cung cấp lâm sản, khả năng phòng hộ và các giá trị khác của rừng”
Việc phát triển rừng bền vững đã được các nhà khoa học, các nhà chính sách các nước trên thế giới quan tâm từ những năm 80 của thế kỷ thứ XX Đây
là tiêu chí quan trọng trong “chiến lược bảo tồn thế giới” nhằm đáp lại nhận thức
và những mối lo ngại ngày càng tăng về sự suy kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên cùng sự xuống cấp môi trường thế giới Quan điểm chung của các nhà khoa học về sự phát triển bền vững là phải đảm bảo sao cho việc đáp ứng nhu cầu của thế hệ hôm nay không làm tổn hại đến việc đáp ứng các nhu cầu của các thế hệ mai sau
1.1.4.4 Khái niệm chính sách
Để bảo vệ và phát triển rừng bền vững, Nhà nước cũng cần xây dựng các chính sách quản lý, bảo vệ rừng cho phù hợp Chính sách quản lý, bảo vệ rừng
là tập hợp các chủ trương và hành động về quản lý, bảo vệ rừng của chính phủ
nhằm tạo cho rừng phát triển bằng cách tác động vào việc cung cấp các yếu tố đầu vào (đất đai, lao động, vốn), từ đó tác động tới sản xuất đầu vào và đầu ra, tác động đến việc thay đổi tổ chức và chuyển giao công nghệ cho ngành rừng tại Việt Nam (Nguyễn Huy Dũng, 2002)
Trên thế giới và ở nước ta có nhiều định nghĩa, cách hiểu khác nhau về
chính sách Theo Vũ Cao Đàm, “Chính sách là tập hợp các biện pháp được thể chế hóa của một chủ thể quản lý tác động vào đối tượng quản lý nhằm thúc đẩy đối tượng quản lý thực hiện mục tiêu mà chủ thể quản lý vạch ra” Như vậy, có
thể nói, chính sách là tập hợp các biện pháp can thiệp được thể chế hóa mà Nhà
Trang 22Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
nước đưa ra nhằm đạt được mục tiêu quản lý của mình (Nguyễn Trung Thắng
và cs, 2013)
Đánh giá tác động chính sách là dự báo những tác động có thể xảy ra của
một dự thảo chính sách hoặc đo lường, phân tích các tác động về kinh tế, xã hội, môi trường đã xảy ra sau khi thực hiện một chính sách đã ban hành (Nguyễn Trung Thắng và cs, 2013)
1.1.4.5 Đặc điểm, vai trò và các tiêu chí đánh giá chính sách bảo vệ và phát triển
rừng đối với đồng bào dân tộc thiểu số tại huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên
Các chính sách luôn gắn với bối cảnh phát triển kinh tế đất nước nhằm luật pháp hóa, cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng trong các giai đoạn phát triển Như vậy, trong điều kiện của Việt Nam, hệ thống chính sách, giải pháp chính sách có quan hệ chặt chẽ giữa chủ trương của Đảng với các văn bản pháp quy của nhà nước và các giải pháp thực thi chính sách
Với các tiêu chí như: Sự phụ thuộc của chính sách, tính pháp lý của chính sách,
thể hiện pháp lý dưới hình thức văn bản quy phạm pháp luật
Vai trò quyết định nội dung chính sách, pháp lý hóa quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng Có tác động định hướng phương thức thực thi pháp luật vào thực tiễn tại huyện Định Hóa
1.1.4.6 Bài học kinh nghiệm quản lý, bảo vệ và phát triển rừng tại huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang
Tỉnh Tuyên Quang thực hiện từ nhiều năm trở lại đây để tăng cường công tác tuần tra, bảo vệ rừng Hạt kiểm lâm rừng đặc dụng Na Hang, là Hạt kiểm lâm đầu tiên trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang áp dụng mô hình đồng quản lý và
ký hợp đồng thuê nhân viên tuần rừng : Hạt kiểm lâm rừng đặc dụng Na Hang hiện phải quản lý trên 33.000ha rừng, trong đó rừng đặc dụng là trên 21.000ha, rừng phòng hộ trên 6.000ha và rừng sản xuất là trên 6.000ha Với diện tích lớn, động thực vật phong phú, trong khi Hạt chỉ có 25 cán bộ kiểm lâm trong biên chế (còn thiếu 8 biên chế kiểm lâm theo chỉ tiêu được giao) nên khối lượng công
Trang 23Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
việc rất lớn, công tác tuần tra, bảo vệ rừng gặp nhiều khó khăn Do đó, thực hiện theo cơ chế của tỉnh, năm 2013, Hạt đã triển khai mô hình đồng quản lý giữa hạt
và xã, đồng thời trình lên Chi cục Kiểm lâm tỉnh xin ký hợp đồng thuê thêm nhân viên tuần rừng, Tiêu chuẩn để trở thành nhân viên tuần rừng đó là, phải là người có uy tín và có kiến thức về lâm nghiệp, có sức khỏe tốt, trách nhiệm trong công việc
Thực hiện mô hình đồng quản lý, bên cạnh đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người dân bảo vệ và phát triển rừng; phối hợp với lực lượng kiểm lâm đẩy mạnh công tác tuần tra, xử lý các vụ việc vi phạm về rừng,
xã còn tạo điều kiện tốt nhất để hai nhân viên tuần rừng kiêm nhiệm hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao… Nhờ đó, các vụ vi phạm pháp luật về rừng trên địa bàn xã đã giảm rõ rệt
1.2 T ổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
* Phát t riển rừng
Trên phạm vi toàn quốc, nước ta đã vượt qua được thời kỳ suy thoái diện tích rừng Diện tích rừng tăng từ 9,3 triệu ha năm 1995 lên 11,31 triệu ha năm năm 2008 (bình quân tăng khoảng 0,3 triệu ha/năm) Diện tích rừng trồng mới tăng từ 50.000 ha/năm lên gần 240.000 ha năm 2008, diện tích rừng tự nhiên được khoanh nuôi bảo vệ phục hồi nhanh đã làm tăng đáng kể năng lực phòng
hộ và bảo tồn đa dạng sinh học của rừng
Ngành Lâm nghiệp đã tham gia tích cực vào việc tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho người dân, nhất là đồng bào các dân tộc ít người (như tại Thái Nguyên, thu nhập từ lâm nghiệp của nhóm hộ thoát nghèo chiếm 32,8% tổng thu nhập, nhóm hộ khá là 16,8%; tại Tây Nguyên, thu nhập từ lâm nghiệp của nhóm hộ khá là gần 40%, nhóm hộ nghèo là 17%); đáp ứng phần lớn nhu cầu
gỗ gia dụng và củi cho tiêu dùng nội địa Tác động của ngành lâm nghiệp đối với xoá đói, giảm nghèo còn hạn chế, chưa tạo ra được nhiều việc làm; thu nhập
Trang 24Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
của người làm nghề rừng thấp và chưa ổn định (tại Thanh Hoá, thu nhập bình
quân từ lâm nghiệp của nhóm hộ khá đạt khoảng 461 nghìn đồng/người/năm, nhóm hộ thoát nghèo đạt 786 nghìn đồng/người/năm, nhóm hộ nghèo đạt 241 nghìn đồng/người/năm), đa số người dân miền núi chưa thể sống được bằng nghề rừng, đời sống của cán bộ, công nhân viên lâm nghiệp còn rất khó khăn (Nguyễn Văn Nam, 2009)
Theo chiến lược phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2006-2020, đến năm 2020, lâm phận ổn định của quốc gia sẽ là 14,3 triệu ha, bao gồm 5,7 triệu ha rừng phòng hộ, 2,3 triệu ha rừng đặc dụng và 6,3 triệu ha rừng sản xuất, còn lại 1,9 triệu ha là diện tích vườn rừng, nông lâm kết hợp và cây nông nghiệp trồng trên đất lâm nghiệp Toàn bộ 16,2 triệu ha đất lâm nghiệp đều có đủ 3 chức năng phòng hô môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học và cung cấp lâm sản tạo sinh kế cho người làm nghề rừng, đặc biệt là các dân tộc ít người ở miền núi
Diện tích rừng trồng mới hàng năm tăng từ 50.000 ha đến 200.000 ha Trữ lượng rừng trồng đạt khoảng 60.000.000 m3 và sản lượng gỗ khai thác năm 2008
đã đạt 4 triệu m3/năm và khoảng 1 triệu ster củi Đây là nguồn nguyên liệu chủ yếu cung cấp cho công nghiệp giấy, gỗ trụ mỏ, ván nhân tạo, dăm gỗ xuất khẩu
và đáp ứng phần lớn nhu cầu gỗ gia dụng và củi cho tiêu dùng, góp phần giảm sức ép đối với khai thác gỗ rừng tự nhiên (Vũ Biệt Linh, 2006)
Tăng trưởng của ngành Lâm nghiệp thấp và chưa bền vững (theo Tổng cục Thống kê, tốc độ phát triển của ngành Lâm nghiệp năm 2000: 4,9%, năm 2001: 1,9%, năm 2002: 1,6%, năm 2003: 1,1%, năm 2004: 1,1%, năm 2005: 1,2%), lợi nhuận thấp, sức cạnh tranh yếu, tiềm năng tài nguyên rừng chưa được khai thác tổng hợp và hợp lý, nhất là lâm sản ngoài gỗ và các dịch vụ môi trường Rừng trồng cũng như rừng tự nhiên năng suất và chất lượng thấp, chưa đáp ứng được nhu cầu cho phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là nguyên liệu gỗ lớn cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu (Trần Văn Con, 2006)
Trang 25Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Trên phạm vi toàn quốc, nước ta đã vượt qua được thời kỳ suy thoái diện tích rừng Diện tích rừng tăng từ 9,3 triệu ha năm 1995 lên 11,31triệu ha năm
2000 và 12,61 triệu ha năm 2005 (bình quân tăng khoảng 0,3 triệu ha/năm) Diện tích rừng trồng mới tăng từ 50.000 ha/năm lên 200.000 ha/năm, diện tích rừng
tự nhiên được khoanh nuôi bảo vệ phục hồi nhanh đã làm tăng đáng kể năng lực phòng hộ và bảo tồn đa dạng sinh học của rừng Năm 2015, độ che phủ của rừng đạt 40,84% trong đó rừng tự nhiên là hơn 10,175 triệu ha, rừng trồng là hơn 3,886 triệu ha Sản lượng khai thác gỗ rừng trồng tăng khoảng 2.000.000 m3/năm, cung cấp một phần nguyên liệu cho công nghiệp giấy, mỏ, dăm gỗ xuất khẩu và củi đun, góp phần giảm sức ép vào rừng tự nhiên (Trần Văn Con, 2006)
* Tác động của các chính sách đến đời sống người dân và tài nguyên rừng
Từ năm 1986, khi chính sách đổi mới được khởi xướng, Việt Nam đã chuyển đổi kinh tế từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung (sản xuất nông nghiệp dưới sự quản lý của Nhà nước) sang nền kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội chủ nghĩa, trong đó các nông hộ được trao quyền quyết định đối với hoạt động của họ Đánh giá được tác động của việc sử dụng đất đai một cách linh hoạt là cần thiết, điều này sẽ giúp đề xuất các chính sách phát triển phù hợp nhằm tăng cường tính linh hoạt trong sử dụng đất đai và sản xuất, góp phần nâng cao đời sống người dân Tính linh hoạt trong sử dụng đất nông nghiệp đòi hỏi việc thay đổi cách bố trí sử dụng đất sao cho phù hợp trước sự thay đổi của điều kiện sản xuất cũng như thời cơ sản xuất Thay đổi chính sách đất đai ở Việt Nam
đã thúc đẩy sự phát triển và tăng trưởng của khu vực nông thôn và đó là mục tiêu của những người ủng hộ cho sự thay đổi chính sách vào năm 1988 Rõ ràng
là thay đổi chính sách đất đai đã làm tăng năng lực sản xuất; Chính sách đất đai được hoạch định nhằm đóng góp vào quá trình giảm nghèo trong nông thôn Chính sách này có lợi cho cả cư dân nông thôn nói chung và người nghèo nói riêng (Nguyễn Văn Đẳng, 2001)
Trong những năm gần đây, song song với hệ thống các VQG và KBTTN
Trang 26Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
là vấn đề phát triển cộng đồng (Bộ NN&PTNT, 2003) Nhiều địa phương ở Tây Nguyên cùng với hỗ trợ về kinh phí và tư vấn của các chương trình SFSP - ETSP (Heveltas, Việt nam - Thụy Sĩ), GTZ (Đức), Sở Khoa học công nghệ cũng đã thử nghiệm và triển khai các mô hình giao rừng tự nhiên cho cộng đồng quản lý
ở Đăk Lăk, Đăk Nông, Gia Lai, Kon Tum Hiện đã có hướng dẫn về phương pháp giao đất giao rừng (Bộ NN & PTNT, 2006) và đang tiếp tục thử nghiệm để phát triển các quy trình hướng dẫn quản lý rừng sau khi giao dựa vào cộng đồng, xác lập cơ chế hưởng lợi trong quản lý rừng cộng đồng (Bảo Huy, 2006), thí điểm quản lý rừng cộng đồng (Cục Lâm nghiệp, 2006) Hoạt động quản lý rừng cộng đồng nếu được thực hiện thành công với đối tượng rừng sản xuất, cũng sẽ hỗ trợ cho bảo tồn ĐDSH trên diện rộng ở Việt Nam, là cơ sở cho phát triển tiếp cận quản lý sử dụng bền vững gắn với bảo tồn
Ngày 08 tháng 02 năm 2012, Thủ tướng Chính phủ Quyết định ban hành một số chính sách tăng cường công tác bảo vệ rừng, đẩy mạnh xã hội hóa, thu hút các thành phần kinh tế, các tổ chức xã hội và người dân tham gia bảo vệ rừng, tạo việc làm, tăng thu nhập, góp phần xóa đói giảm nghèo, nâng cao mức sống cho người dân và góp phần giữ vững an ninh, quốc phòng (số: 07/2012/QĐ-TTg) Trong đó có quy định về phân cấp trách nhiệm quản lý nhà nước về rừng
và đất lâm nghiệp đối với Ủy ban nhân dân các cấp (Vũ Thị Hạnh, 2014)
Chiến lược phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2006-2020: Có thể nói cam kết của Việt Nam về quản lý rừng bền vững được chính thức hóa vào năm 2006 khi
mà Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược lâm nghiệp Trong bản Chiến lược, Việt Nam đã khẳng định quan điểm phát triển lâm nghiệp là: Quản lý, sử dụng và phát triển rừng bền vững là nền tảng cho phát triển lâm nghiệp Các hoạt động sản xuất lâm nghiệp phải dựa trên nền tảng quản lý bền vững thông qua quy hoạch, kế hoạch bảo vệ phát triển rừng nhằm không ngừng nâng cao chất lượng rừng Phải kết hợp bảo vệ, bảo tồn và phát triển với khai thác rừng hợp lý Đồng thời, trong Chiến lược cũng đã đề ra 5 chương trình hành động,
Trang 27Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
trong đó Chương trình quản lý và phát triển rừng bền vững là Chương trình trọng tâm và ưu tiên số 1 Trong Chiến lược này, nhiệm vụ được đặt ra là: Quản lý bền vững và có hiệu quả 8,4 triệu ha rừng sản xuất, trong đó 4,15 triệu ha rừng trồng
và 3,63 triệu ha rừng tự nhiên Phấn đấu ít nhất có được 30% diện tích rừng sản xuất có chứng chỉ rừng
Theo kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011 - 2020, Việt Nam cần bảo vệ và phát triển bền vững đối với 13.388.000 ha rừng hiện có (tính đến 31/12/2010) và 750.000 ha khoanh nuôi tái sinh, 1.250.000 ha rừng trồng mới trong giai đoạn 2011 - 2014, đến năm 2015, diện tích rừng đạt khoảng 14.270.000 ha rừng, năm 2020 đạt 15.100.000 ha rừng
Trong giai đoạn 2011- 2015, các nhiệm vụ bảo vệ và phát triển rừng thực hiện theo quy định tại Quyết định số 60/2010/QĐ-TTg ngày 30 tháng 9 năm
2010 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành các nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ vốn đầu tư phát triển bằng nguồn ngân sách nhà nước giai đoạn
2011 - 2015 Các Quyết định: số 147/2007/QĐ- TTg ngày 10 tháng 9 năm 2007
về một số chính sách phát triển rừng sản xuất giai đoạn 2007 - 2015 và số 66/2011/QĐ-TTg ngày 9 tháng 12 năm 2011 về sửa đổi bổ sung một số điều của Quyết định số 147/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ
Thống kê từ năm 1991 đến năm 2008, tổng diện tích rừng bị mất là 399.118
ha, bình quân 57.019 ha/năm Trong đó, diện tích được Nhà nước cho phép chuyển đổi mục đích sử dụng đất có rừng là 168.634 ha; khai thác trắng rừng (chủ yếu là rừng trồng) theo kế hoạch hàng năm được duyệt là 135.175 ha; rừng
bị chặt phá trái phép là 68.662 ha; thiệt hại do cháy rừng 25.393 ha; thiệt hại do sinh vật hại rừng gây thiệt hại 828 ha (Vũ Biệt Linh, 2006)
Diện tích rừng bị giảm chủ yếu do chuyển đổi mục đích sử dụng và khai thác theo kế hoạch chiếm 76%; diện tích rừng bị thiệt hại do các hành vi vi phạm các quy định của Nhà nước về quản lý bảo vệ rừng tuy có giảm, nhưng vẫn ở mức cao làm mất 94.055 ha rừng, chiếm 23,5% trong tổng diện tích rừng mất trong 7 năm qua, bình quân thiệt hại 13.436 ha/năm (Trần Văn Con, 2006)
Trang 28Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Các chính sách pháp luật nói chung và chính sách pháp luật về quản lý bảo
vệ rừng nói riêng sau khi được ban hành và thực thi, đã có các nghiên cứu và bài viết về đánh giá tác động của chúng đến đời sống vật chất và tinh thần của người dân, đặc biệt là vừng dân tộc thiểu số và hiệu quả quản lý bảo vệ và phát triển
rừng, có thể kể đến một số nghiên cứu và bài viết sau đây:
Trong, Báo cáo “Đánh giá thực hiện 10 năm thực hiện Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004” trong khuôn khổ hỗ trợ của Chương trình hỗ trợ ngành lâm nghiệp (FSSP) đã chỉ ra kết quả thực hiện và những tồn tại, hạn chế, bất cập của pháp luật bảo vệ và phát triển rừng cụ thể như sau:
- Về khía cạnh lập pháp, Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 đã tạo ra được nền tảng luật định khá toàn diện cho hoạt động lâm nghiệp, đã có khá nhiều qui định luật hóa một số yêu cầu của kinh tế thị trường, đặc biệt là các qui định liên quan đến giao rừng, cho thuê rừng, quyền và nghĩa vụ của chủ rừng, vai trò của cộng đồng, khai thác, sử dụng rừng, chính sách hưởng lợi từ rừng; đã nội luật hóa một số qui phạm, một số nguyên tắc của công ước quốc tế liên quan đến bảo vệ và phát triển rừng
- Về khía cạnh thực tiễn, Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 và các văn bản hướng dẫn thi hành luật đã tạo khuôn khổ pháp lý thuận lợi cho việc chuyển đổi từ nền lâm nghiệp lấy quốc doanh làm chính sang nền lâm nghiệp có nhiều thành phần kinh tế tham gia, chuyển lâm nghiệp chủ yếu dựa vào khai thác, lợi dụng rừng tự nhiên sang bảo vệ, nuôi dưỡng, gây trồng rừng, thực hiện phân cấp quản lý nhà nước về lâm nghiệp và từng bước thực hiện quản lý rừng theo nguyên tắc bền vững
- Một số tồn tại, hạn chế của Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 là: Vẫn mang tính định hướng, tạo ra một lĩnh vực pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng đa tầng, cồng kềnh, có không ít mâu thuẫn và chồng chéo, tính minh bạch, tính khả thi chưa cao thể hiện chưa làm rõ cơ chế thực hiện các quyền định đoạt của Nhà nước với vai trò là đại diện chủ sở hữu rừng tự nhiên và cơ chế thực
Trang 29Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
hiện các quyền của chủ rừng, các quy định về khai thác rừng chưa tạo điều kiện phát huy tính tự chủ trong sản xuất kinh doanh của chủ rừng; cơ chế chính sách hưởng lợi còn nhiều bất cập, thiếu chính sách khuyến khích phát triển công bằng
và thương mại lâm sản; cơ chế, chính sách đầu tư, tín dụng, tài chính còn bất cập chưa phù hợp với đặc điểm sản xuất lâm nghiệp
Trong cuốn “Phục hồi các hệ sinh thái bị thoái hóa – Tổng quan kết quả nghiên cứu và phát triển ở Việt Nam” (Trần Văn Con, 2006) đã chỉ ra tác một số
tồn tại trong chính sách và việc thực thi chính cách quản lý bảo vệ rừng, cụ thể như sau:
- Việc xử lý vi phạm pháp luật về rừng, đất đai khó khăn, thường kéo dài, do người trực tiếp thực hiện hành vi vi phạm hầu hết là người tại chỗ và người nghèo, không phát hiện được kẻ xúi giục, kẻ đầu cơ đất; địa bàn xảy ra phá rừng là vùng sâu, vùng xa, khó thu thập chứng cứ và xác định người có hành vi vi phạm; quy định pháp luật và chế tài xử lý còn nhẹ đối với kẻ phá rừng
- Công tác khoán bảo vệ rừng cho hộ gia đình, cá nhân ở một số nơi hiệu quả còn thấp, người nhận khoán vẫn nhận tiền, nhưng không thực hiện các hoạt động bảo vệ rừng, rừng vẫn bị phá, nhưng chưa quy được trách nhiệm cụ thể; công tác bảo vệ rừng chưa tiến hành một cách toàn diện, cấp chính quyền địa phương chưa có các giải pháp hữu hiệu đối với công tác bảo vệ rừng
Trong báo cáo “Đánh giá các văn bản pháp luật và chính sách liên quan đến công tác quản lý các khu rừng đặc dụng tại Việt Nam” trong khuôn khổ Dự án
tăng cường công tác quản lý hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên đã chỉ ra rằng:
- Thực tế tại nhiều nơi ở Việt Nam, các nhóm dân tộc khác nhau, mang những đặc trưng văn hóa khác nhau, có những nhận thức và phản ứng với chính sách phân quyền cũng khác nhau Bên cạnh đó, người dân đang sống ở những vùng sinh thái, điều kiện địa lý hoặc những địa điểm khác nhau cũng có khả năng có những phản ứng khác nhau trong quá trình thực thi chính sách
Trang 30Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
- Việc thực hiện chính sách giao đât giao rừng đã mang lại một số tác động tích cực: nhiều chương trình, dự án đi kèm theo chính sách này đã giúp đỡ, hỗ trợ người dân địa phương, và nhận thức của người dân về sự cần thiết phải bảo
vệ tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là tài nguyên rừng được nâng lên Tuy nhiên các chính sách này vẫn chưa đạt được những mục đích chính của chúng: quản
lý, bảo tồn và phát triển tài nguyên rừng tốt hơn
- Chính sách quy định trách nhiệm của các cấp chính quyền trong quản lý nhà nước về rừng (Nghị định 245) đã góp phần ngăn chặn mọi hành vi hủy hoại tài nguyên rừng
- Chính sách về quản lý bảo vệ rừng, về phân chia lợi ích từ rừng (Quyết định 08/QĐ-TTg ban hành quy chế quản lý các loại rừng, Quyết định 186/2006/QĐ;TTg về quy chế quản lý rừng, Quyết định 178/QĐ-TTg về quyển hưởng lợi,…) đã tạo ra một động lực khuyến khích các đối tượng nhận rừng và đất lâm nghiệp phát triển rừng có hiệu quả hơn, nhằm cụ thể hóa và làm rõ hơn những vấn đề như đối tượng hưởng lợi, tỷ lệ phân chia sản phẩm khai thác từ rừng giữa các bên, hình thức phân chia sản phẩm…
Trong Báo cáo “Tổng kết thực hiện Dự án “Trồng mới 5 triệu ha rừng và
Kế hoạch bảo vệ, phát triển rừng giai đoạn 2011-2020” (243/BC-CP ngày 26 tháng 10 năm 2011) của Chính phủ trình kỳ họp lần thứ 2 Quốc hội khóa XIII đánh giá những kết quả đạt được của Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng trong tạo việc làm, tăng thu nhập góp phần xóa đói giảm nghèo, phát triển sản xuất và ổn định đời sống dân cư, bảo đảm quốc phòng, an ninh như sau:
- Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng được thực hiện trên phạm vi cả nước không chỉ có ý nghĩa lớn về môi trường mà còn tham gia giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho nhân dân và góp phần xoá đói giảm nghèo, đến năm 2010 đã
có 1.249.600 hộ gia đình với 4.657.000 lao động tham gia Dự án, trong đó có 484.890 hộ nghèo (chiếm 38,6%), chủ yếu là đồng bào dân tộc miền núi, vùng cao
Trang 31Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
- Qua 2 năm (2009-2010) thực hiện Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP của Chính phủ, Dự án đã cấp 3.255,2 tấn gạo cho đồng bào dân tộc tại các huyện nghèo để hỗ trợ công tác bảo vệ rừng và trồng rừng thay thế nương rẫy
- Nhiều mô hình vườn rừng, nông lâm kết hợp có hiệu quả cao đã xuất hiện
ở các vùng trong cả nước, như: phong trào trồng và bảo vệ rừng phòng hộ ở Lâm trường Púng Luông (nay là BQL rừng phòng hộ Mù Căng Chải), phong trào trồng rừng sản xuất ở Hồ Thác Bà, huyện Yên Bình - tỉnh Yên Bái; Lâm trường Yên Sơn - tỉnh Tuyên Quang; xã Kiên Lao, huyện Lục Ngạn - tỉnh Bắc Giang;
xã Đức Vân, Bằng Vân, huyện Ngân Sơn tỉnh Bắc Kạn; Huyện Lộc Bình - tỉnh Lạng Sơn, trồng rừng sản xuất ở huyện Đoan Hùng, huyện Thanh Sơn - tỉnh Phú Thọ; Huyện Hoành Bồ - tỉnh Quảng Ninh, Lâm trường Mađrắk - tỉnh Đăk Lắk; BQL rừng phòng hộ Ninh Phước - Ninh Thuận, Dự án làng thanh niên lập nghiệp Phúc Trạch - tỉnh Hà Tĩnh, Các mô hình này cho thu nhập bình quân 15 - 20 triệu đồng/hộ/năm
- Dự án đã góp phần làm thay đổi cơ cấu kinh tế ở miền núi thông qua việc hình thành các vùng nguyên liệu cho sản xuất công nghiệp, thu hút các nhà đầu
tư xây dựng các cơ sở chế biến gỗ và lâm sản trên địa bàn, góp phần tăng thu nhập cho người lao động, tăng thu ngân sách cho địaphương
Trong báo cáo “Đánh giá tác động của Hiệp định Đối tác tự nguyện (VPA) tới sinh kế tại Việt Nam” của Mạng lưới các tổ chức phi chính phủ Việt Nam về thực thi lâm luật, quản trị rừng và thương mại lâm sản (VNGO-FLEGT), đã chỉ
ra tác động của thực thi Hiệp định này đối với nhóm hộ người dân tộc thiểu số sống dựa vào rừng như sau:
- Mặc dù họ không tham gia đáng kể trong việc cung cấp, chế biến gỗ, đồng bào dân tộc thiểu số có xu hướng phụ thuộc lớn vào việc tiếp cận tài nguyên rừng để tìm lâm sản ngoài gỗ và canh tác Nhưng với việc không coi trọng quyền
tiếp cận, sở hữu truyền thống và kiến thức bản địa, nền văn hóa gắn liền với rừng đang bị mai một Những tác động của Hiệp định VPA vào nhóm các bên liên quan này sẽ chủ yếu là gián tiếp, nhưng đáng kể, chẳng hạn như mất đất nông
Trang 32Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
lâm nghiệp do nhu cầu tăng lên đối với đất trồng rừng do giá thành sản phẩm tăng lên - hoặc vì họ bị dụ nhường bán đất cho các nhóm thâu tóm đất đai, hoặc
do bị thu hồi cho các mục tiêu trồng rừng
- Hiệp định VPA cũng có thể mang lại quyền lực lớn hơn cho lực lượng
kiểm lâm, các công ty và chủ sở hữu trong quản lý rừng có thể ngăn chặn người dân tộc thiểu số tiếp cận và hưởng lợi từ rừng Mặt khác, có thể có sự gia tăng
cơ hội việc làm tại các lâm trường gỗ ở một số khu vực
Trong báo cáo “Đánh giá các chính sách có liên quan đến quản lý rừng tự nhiên giao cho hộ gia đình ở vùng miền núi Bắc Bộ” của Viện nghiên cứu Lâm
nghiệp nhiệt đới (2011), chỉ ra những bất cập,thiếu minh bạch của các chính sách chủ yếu có liên quan đến quan đến quản lý RTN giao cho hộ gia đình (HGĐ) làm cản trở động lực của người dân tham gia BV&PTR tự nhiên, bao gồm:
- Quyền sử dụng rừng quy định trong Luật bảo vệ và phát triển rừng không tạo động lực cho hộ gia đình quản lý sử dụng rừng tự nhiên đượ cgiao
- Quy định HGĐ nhận rừng tự nhiên phải xây dựng phương án điều chế rừng là không phù hợp với thực tế
- Thủ tục hành chính kiểm soát khai thác gỗ (phê duyệt, cấp phép) quan liêu, gây phiền hà cho người dân, nhất là người ở vùng sâu vùng xa, trình độ học
vấn thấp, dễ gây ra việc người dân vì ngại mà bỏ qua/ không chấp hành pháp
luật, nhất là khi số lượng gỗ khai thác mỗi lần không lớn
- Chính sách hưởng lợi từ rừng chưa đi vào cuộc sống, còn bất hợp lý, chưa đầy đủ
- Chủ trương đóng cửa rừng kéo dài là không hợp lý, hạn chế động lực của
hộ gia đình được giao rừng
- Nhà nước thiếu chính sách đầu tư và hỗ trợ cho rừng tự nhiên
- Thuế tài nguyên với sản phẩm của rừng tự nhiên quá cao, áp dụng cả đối với rừng tự nhiên đã giao cho hộ gia đình là không phù hợp với chủ trương và
quá trình xã hội hóa nghề rừng ở nước ta và chính sách xóa đói giảm nghèo đối với vùng miền núi và dân tộc thiểu số
Trang 33Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
-Tuyên truyền phổ biến chính sách, pháp luật về lâm nghiệp yếu ,chưa thấm đến người dân
Bài viết “Tác động của chính sách, pháp luật đến quản lý tài nguyên rừng công bằng và bền vững” đã phân tích, bình luận để có cái nhìn toàn diện về quản
lý tài nguyên rừng công bằng và bền vững Việc phân tích được tiến hành từ hai
cả hai phương diện: xây dựng chính sách, pháp luật và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật, với hai cấp độ: cấp quốc gia và cấp địa phương; theo hai chiều hướng: tác động tích cực và tác động tiêu cực đến quá trình quản lý, bảo vệ và phát triển rừng Kết quả phân tích chỉ ra rằng vẫn còn một số những rào cản liên quan đến quản lý rừng công bằng và bền vững như việc chậm tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sử dụng rừng; việc chậm ban hành các quy định
về phương pháp và cách thức định giá rừng, giao đất giao rừng cho cộng đồng dân cư thôn bản, chia sẻ lợi ích giữa các bên liên quan,… song những phát hiện chính nêu trên cho thấy quản lý, bảo vệ và phát triển rừng là một trong những lĩnh vực chịu sự tác động rất mạnh của chính sách và pháp luật Điều này cũng
có nghĩa là để quản lý rừng công bằng và bền vững đòi hỏi chính sách, pháp luật
về rừng phải có mức độ phù hợp cao hơn nữa so với yêu cầu của thực tiễn (Vũ Thị Hạnh, 2014)
Trong Báo cáo tóm tắt Hội thảo “Thành quả và thách thức trong phát triển của cộng đồng người dân tộc thiểu số - Tiếng nói từ người dân” do Viện nghiên cứu xã hội kinh tế và môi trường đã chỉ ra năm nhóm thách thức của cộng đồng dân tộc thiểu số, trong đó có một nhóm liên quan đến các thách thức về chính sách đối với các cộng đồng dân tộc thiểu số như: Sự tham gia quyết định của người dân ít; Thông tin pháp luật, chính sách cho dân tộc thiểu số đều bằng tiếng việt nên nhiều người không tiếp cận được, công tác tuyên truyền chưa tốt, không liên tục và không sâu nên kiến thức pháp luật của người dân hạn chế, chính sách chưa tính đến hỗ trợ cho phụ nữ đơn thân nuôi con một mình, chính sách hỗ trợ chưa bền vững: nhà nước đưa xuống, dân thụ động tiếp nhận đợi chờ, dựa vào vấn đề hơn là nội lực của người dân;…
Trang 34Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Báo cáo “Đánh giá các rào cản ảnh hưởng đến quản lý rừng bền vững và công bằng- Nghiên cứu điểm ở Việt Nam” do Tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế giới (IUCN) thực hiên năm 2008 đã chỉ ra một số tồn tại hạn chế trong quản lý rừng cộng đồng, đó là:
- Chính sách và quy định của chính phủ tương đối phức tạp và thay đổi thường xuyên do vậy đã hạn chế hiểu biết rộng rãi của nhân dân về văn bản pháp luật cũng như thực thi pháp luật
- Người dân thôn bản rất hạn chế trong việc tiếp cận với nguồn thông tin
1.2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Di cư và đa dạng sắc tộc ngày càng đặt ra những câu hỏi mới cho chính sách và nghiên cứu về rừng và thiên nhiên, đặc biệt là về sự bình đẳng của các vùng tự nhiên, cách tiếp cận trong chính sách và nghiên cứu về các nhóm dân tộc thiểu số ở vùng sâu, xa ở bốn nước Tây Âu gồm Vương quốc Anh (Anh), Hà Lan, Đức và Đan Mạch cho thấy rằng mối liên kết mạnh mẽ giữa lịch sử nhập
cư, truyền thống quốc gia và văn bản chính sách về bảo vệ rừng tự nhiên Ở Anh
có sự phân biệt đối xử giữa các nhóm dân tộc thiểu số trong việc tiếp cận với tài nguyên thiên nhiên, dẫn đến mâu thuẫn mà được giải quyết bởi các trong công cộng Ở Đức và Đan Mạch nhấn mạnh sử dụng các giá trị khác nhau của các nhóm dân tộc, có thể sự hiểu biết về sự khác biệt văn hóa trong các mô hình giải
Trang 35Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
trí, các kinh nghiệm của nhóm dân tộc thiểu số được lồng nghép vào lập kế hoạch
và thiết kế chiến lược quản lý tài nguyên thiên nhiên bền vững Có sự khác biệt
về khía cạnh chính sách trong việc tiếp cận với phong tục tập quán của nhóm dân tộc thiểu số về tiếp cận nguồn tài nguyên thiên nhiên ở các nước đó
Mặc dù một loạt các chính sách bảo vệ môi trường trong các khu rừng tự nhiên ở miền nam Ghana đều tồn tại ở dạng văn bản, trong thực tế hầu hết chỉ được áp dụng trong tích trữ gỗ phục vụ mục đích thương mại, các chính sách về môi trường có ảnh hưởng rất ít đến những người sống gần với rừng và được áp dụng không thường xuyên Các chính sách này chỉ quan tâm đến các giá trị mà rừng đem lại cho các giá trị thương mại mà không quan tâm/chấp nhận cho cộng đồng sử dụng tài nguyên cho sinh kế của họ Điều đó dẫn đến những mâu thuẫn
mà cần có lời giải dựa trên những truyền thống, phong tục của cộng đồng địa phương Chính sách môi trường đã có thể gây hại đến sinh kế của người nghèo sống trong và xung quanh khu vực rừng, những khu vực được cho là nhạy cảm
về tinh thần Mâu thuẫn về chính sách môi trường, chính sách tiếp cận tài nguyên rừng của người dân địa phương để bảo vệ cuộc sống của họ, đảm bảo vấn đề công bằng xã hội và hiệu quả của các chính sách (Wirongrong Duangjai, 2015) Nhiều chính sách được xây dựng có sự phân biệt cụ thể để bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, các quy định về sử dụng đất và nước, hạn chế truy cập, điều khiển
về khai thác và thu hoạch và sử dụng các nguồn tài nguyên Các quy định về xử
lý chất thải, áp đặt chi phí bổ sung đối với một số hoạt động kinh tế và các nhóm
xã hội Một số hoạt động giới hạn như những hộ gia đình nghèo thu hoạch giống tôm ở ven biển Ấn Độ, và những vùng đất dành cho khu vực chăn thả bị cắt xén
để bảo tồn thiên nhiên (Sandford, 1983) Cộng đồng dân tộc thiểu số sản xuất hàng hóa và dịch vụ đa dạng (Barbier, 1991), bao gồm cả giá trị trực tiếp và gián tiếp như gỗ, cây dược liệu, cây ăn quả, vv ; những phát sinh gián tiếp thông qua các hệ thống sinh thái, bảo tồn nước, và lưu trữ cacbon; các giá trị tùy chọn của tương lai sử dụng trong các khu rừng; và các giá trị tồn tại phi vật thể của đa
Trang 36Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
dạng sinh học và cảnh quan rừng Khi những giá trị đó bị ảnh hưởng bởi các chính sách chuyển đổi mục đích sử dụng rừng, mất các dịch vụ môi trường có thể một phần là mùa thu lớn cho các thế hệ hiện tại và tương lai điều đó sẽ xuất hiện hiệu ứng kiểu đối kháng quy định, những người sống trong các khu rừng ở đây có những đấu tranh để bảo vệ sinh kế của họ
Nghiên cứu hành vi của con người trong lĩnh vực bảo tồn thiên nhiên chỉ mới được chú ý nhiều từ giữa thập kỷ 70 của thế kỷ trước, khi các phong trào môi trường bắt đầu khởi sự ở Châu Âu và Hoa Kỳ, và trở nên được áp dụng rộng rãi hơn từ sau Hội nghị LHQ về Môi trường và Phát triển năm 1992 nhằm thúc đẩy bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững Có rất nhiều nghiên cứu
về hành vi cộng đồng trong quản lý và sử dụng tài nguyên thiên nhiên đã được thực hiện ở Châu Phi (Fairhead và Leach, 1996; Byers 1996; và Byers 2000) và khu vực Amazone, Nam Mỹ (Posey, 1985; và McElwee, 2003) Và kết quả các nghiên cứu này được áp dụng đã góp phần thành công cho nhiều nỗ lực bảo tồn thiên, liên quan đến công tác bảo tồn thiên nhiên ở các vùng rừng nhiệt đới, canh tác nương rẫy được xem là một trong những hành vi đặc trưng của cộng đồng địa phương miền núi và chứa đựng nhiều tranh cãi về biện pháp can thiệp từ các nhà bảo tồn, người dân và chính quyền
Theo Thrupp et al (1997), canh tác nương rẫy là một hệ thống canh tác nông nghiệp có tính chu kỳ về không gian và thời gian Những nghiên cứu trước đây của các nhà nhân chủng học ở Indonesia và Thái Lan đã khẳng định rằng hiệu quả của canh tác nương rẫy dựa hoàn toàn vào mức độ đa dạng và giàu có của tài nguyên rừng hơn là các nguồn đầu tư đầu vào (như phân bón, nước) như canh tác lúa nước ở vùng đồng bằng (Geertz, 1963) Từ những năm 1967, Spencer đã mô tả canh tác nương rẫy ở khu vực Đông Nam Á không chỉ là một
hệ thống (canh tác) đơn thuần, mà là một sinh kế “gắn kết một hệ thống phức tạp đa thành phần về động cơ, yếu tố, mục đích, vận động của văn hóa truyền thống, thói quen, tác động chính trị và các nhu cầu đời sống khác” Những nghiên
Trang 37Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
cứu sau đó đã khẳng định nhu cầu cần phải có một cách tiếp cận liên ngành thì mới có thể hiểu được tính phức tạp của hành vi canh tác nương rẫy, bởi vì “đó không chỉ là cách để đáp ứng nhu cầu cơ bản của từng hộ gia đình trong toàn bộ
xã hội canh tác nương rẫy” (Spencer, 1967) Khi nghiên cứu về hoạt động canh tác nương rẫy của cộng đồng người Karen ở miền núi Thái Lan, Grandstaff (1980) đã khám phá thấy rằng người dân bản địa ở đó “sở hữu một lượng thông tin nhiều đến mức ngạc nhiên về môi trường sống của họ cũng như phương pháp thích ứng và kỹ năng thực hành ở mức cao trong quá trình ra quyết định phức tạp để canh tác, sản xuất” (Theo Nguyễn Việt Dũng và cs, 2007)
Tại Thái Lan, quy hoạch sử dụng đất đai và các chính sách về đất đai được đưa ra một cách rời rạc Điều này đúng đối với việc sử dụng đất công, bao gồm
cả diện tích rừng ở miền núi phía Bắc, nơi có sự tham gia của cộng đồng các dân tộc thiểu số Tuy nhiên, trường hợp có sự thay đổi trong các chính sách và quy định về đất đai và trong các quyết định và kế hoạch được thực hiện Đối với Mae Salong ở miền Bắc Thái Lan, nơi có một xu hướng sử dụng đất cho mục đích bảo tồn, điều này đã làm cho người nông dân cũng phải thay đổi dựa trên các quy định về chính sách đất đai từ năm 1950 đến nay Phân tích thể chế và phát triển về sự thay đổi thông quan các nghiên cứu sâu dựa trên quan điểm lịch sử
và với câu chuyện về quản lý đất đai thông qua thời gian, các thí nghiệm cứu sử dụng các cuộc phỏng vấn sâu vào các cuộc thảo luận nhóm nông dân Bài học kinh nghiệm rút ra các quyết định chuyển mục đích đất rừng sang bảo tồn thì người nông dân đang chịu ảnh hưởng bởi cả hai quyết định phân cấp của cơ quan cấp trên và qua mối liên kết ngang giữa nhiều bên liên quan Tuy nhiên, trong khi nông dân tham gia dễ dàng trong các hoạt động bảo tồn, họ không đóng một vai trò tích cực trong quá trình thay đổi chính sách
Quản lý rừng cộng đồng (CFM) đã nhận được sự quan tâm trên toàn thế giới từ các chính phủ, các nhà nghiên cứu và các tổ chức giáo dục trong hai thập
kỷ qua Nhiều chính phủ, đặc biệt là ở các nước đang phát triển, đã được ưu tiên
Trang 38Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
CFM hơn hệ thống quản lý rừng truyền thống Tại Thái Lan, CFM không được công nhận bởi hệ thống các quy phạm pháp luật; Tuy nhiên, có những thực hành CFM là nhân tố quản lý nguồn tài sản chung CFM đã thực chất được thực hiện hàng trăm năm của người dân địa phương, và đại diện cho một khía cạnh quan trọng của văn hóa Thái Nghiên cứu này nhằm đánh giá CFM tại Thái Lan trong bối cảnh phát triển bền vững Để đáp ứng mục tiêu, nghiên cứu thu thập thông tin thông qua các cuộc thảo luận nhóm tập trung với các bên liên quan khác nhau: các viện nghiên cứu, cán bộ Cục Lâm nghiệp, và các thành viên của cộng đồng Chang Tok Tây rừng Từ nghiên cứu này, nó xuất hiện rằng tài nguyên rừng là quan trọng đối với sinh kế và sự sống còn của người dân nông thôn, và
vì vậy họ đã bảo vệ rừng để đảm bảo bền vững sinh kế Nghiên cứu này xác định rằng triển vọng cho CFM bền vững ở Thái Lan: (i) các thành viên của cộng đồng được động cơ cao và có đủ quan tâm để bảo vệ cây xanh, vì họ đều biết rằng cuộc sống của họ đang được mối đe dọa từ cạn kiệt rừng, (ii) truyền thống và văn hóa của người dân nông thôn hỗ trợ của họ mối quan hệ với thiên nhiên, (iii) Rừng sản ngoài gỗ đóng một vai trò rất quan trọng trong địa phương sinh kế để sinh sống và đòi hỏi bảo vệ rừng đầu nguồn rừng, đó là quan trọng để hỗ trợ nghề nghiệp của họ, (iv) các nghi lễ tâm linh như những nơi Phật giáo nhà sư ràng buộc vải màu vàng trên cây đóng một vai trò quan trọng trong việc bảo vệ cây, một cái gì đó hiếm hoi trong các nước khác Nghiên cứu xác định thêm những trở ngại khác nhau để đạt được bền vững CFM: (i) hỗ trợ pháp lý cho CFM vắng mặt, (ii) Cục Lâm nghiệp Hoàng Gia (RFD) không thể chuyển giao công nghệ thích hợp để người dân cộng đồng do thiếu sự hỗ trợ pháp lý, (Iii) phạm vi cho việc phát triển các chiến lược hiệu quả cho CFM bền vững bằng cách kết hợp kiến thức truyền thống với kiến thức khoa học hiện có là hạn chế, (iv) chính thức sắp xếp thể chế cho quản lý rừng cộng không tồn tại, và (v) truy cập các thành viên của cộng đồng ' với công nghệ cứng của CFM là hạn chế Vì vậy, ngoài việc hợp thức hóa CFM một khuôn khổ thể chế chính thức để xây
Trang 39Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
dựng, thực hiện và kiểm CFM là điều cần thiết để đạt được quản lý rừng cộng đồng bền vững ở Thái Lan
Khu rừng ở Fengshui nơi rất phổ biến các dân tộc thiểu số sinh sống ở khu vực nông thôn ở tỉnh Quý Châu của Trung Quốc, rừng nơi đây có ý nghĩa biểu tượng tinh thần và được quản lý chặt chẽ Các giá trị về lịch sử, nhận thức về quản lý rừng, coi rừng là một khối tài sản khổng lồ, rừng giúp cộng đồng đoàn kết hơn,… nên các cộng đồng địa phương được cộng động trân trọng và gìn giữ Rừng Fengshui hoạt động như một hình thức của cộng đồng ''dựa vào bảo tồn thiên nhiên ''trong đó duy trì các giá trị của rừng tự nhiên, các tính năng đặc biệt
và khả năng chống chống xói mòn đất Các quy định của chính quyền địa phương
đã được người dân hưởng ứng và đã được kết hợp đưa vào trong xây dựng chính sách lâm nghiệp hiện đại của Trung Quốc như các khu rừng này đóng một vai trò quan trọng trong đời sống nông thôn
Sự tham gia của các dân tộc thiểu số ở Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào trong việc cải cách ruộng đất ở hai làng dân tộc thiểu số ở miền bắc Lào Các phong trào của cộng đồng người dân địa phương với các tổ chức phi chính phủ
để đối mặt với những thách thức trong quản lý tài nguyên và phản đối chính sách tái định cư và cải cách ruộng đất Các quan điểm của chính phủ và người dân tộc thiểu số chưa được thảo luận và xây dựng trên quan điểm tôn trọng sắc thái của cả các bên có liên quan
Chính phủ Trung Quốc hiện đang triển khai chương trình phục hồi rừng lớn nhất thế giới, diện tích đất canh tác ở những khu vực có độ dốc lớn được chuyển thành đất rừng, có hàng nghìn hộ được trợ cấp để thực hiện chương trình này Nhà nước phát huy quyền tự chủ và sự tham gia của địa phương trong khi thực hiện chương trình, các chính sách về lâm nghiệp có sự thay đổi, cộng đồng địa phương và chính quyền cơ sở được gia tăng về quyền lực trong việc ra quyết định về quản lý và sử dụng rừng Mặc dù vậy, hiệu quả về kinh tế, xã hội của chương trình là chưa cụ thể, rõ ràng Sinh kế của người dân chưa được cải thiện, nhưng chính sách đã giúp cho diện tích rừng được tăng lên, các giá trị của rừng được cải thiện Điều đó cho thấy các chính sách về lâm nghiệp tiếp cận từ dưới
Trang 40Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
lên thường có hiệu quả tích cực, đặc biệt ở những vùng đồng bào dân tộc thiểu số Tại Nigeria lâm nghiệp cộng đồng có thể giúp đỡ để đảm bảo quản lý rừng bền vững và phát triển Các cộng đồng địa phương có mối quan hệ lẫn nhau với các khu rừng và có thể là các đối tác trong nỗ lực phát triển rừng nếu các nhu cầu, mong muốn, nguyện vọng và nhận thức của những người tham gia khác nhau là chỗ trong việc lập kế hoạch và ra quyết định quá trình Nó được thừa nhận ở đây mà không có chiến lược để bảo tồn hoặc quản lý các hệ sinh thái rừng trên cơ sở duy trì sẽ thành công trừ khi nhu cầu của các phần thuận lợi nhất
và dễ bị tổn thương nhất trong xã hội được xem xét Bài viết này nhấn mạnh rằng với lâm nghiệp cộng đồng, người dân địa phương có thể được thực hiện để biết rằng việc mở rộng liên tục của các doanh nghiệp là con người ra khỏi sự cân bằng với tài nguyên rừng bị thu hẹp và các dịch vụ môi trường bị suy giảm rừng
là một vấn đề toàn cầu ngay lập tức Những thách thức của ngành lâm nghiệp xã trong việc đảm bảo quản lý rừng bền vững như được nhấn mạnh trong bài báo bao gồm thiếu chuyên môn, kinh phí, các cuộc xung đột, và bỏ sẵn sàng của các
ủy ban lâm nghiệp và nhân viên để thay đổi Những người khác bao gồm thiếu
sự cam kết với mục tiêu của sự hợp tác của các bên liên quan, hỗ trợ đầy đủ từ
sự lãnh đạo của cộng đồng cũng như toàn cầu hóa hiện nay của nền kinh tế thế giới; tự do hóa và tư nhân hóa nền kinh tế quốc gia tác động tiêu cực đến tài nguyên thiên nhiên Tuy nhiên, kết luận trong số những thứ khác mà con đường phía trước bao gồm bảo đảm quyền lâu dài của cộng đồng địa phương, kinh phí đầy đủ, quản lý xung đột hiệu quả, nghiên cứu và xây dựng năng lực trong lâm nghiệp cộng đồng cũng như các thiết lập của đơn vị dự án phát triển lâm nghiệp cộng đồng tại cả liên bang, Nhà nước và các cấp chính quyền địa phương sẽ huy động và nâng cao nhận thức trong cộng đồng
Cộng đồng địa phương có một mối quan hệ cộng sinh với rừng và có thể là các đối tác trong nỗ lực phát triển rừng Một cách tiếp cận để bảo tồn và nhân quản rừng với mục đích duy nhất của sự phát triển của người dân bản địa có thể giúp xóa đói giảm nghèo (Tewari và Tiwari, 1997; Chijioke, 2003; Ikojo Et al.,