Phân biệt được các hình thái tuyến giáp đại thể và vi thể trong một số bệnh lý thường gặp.. BƯỚU GIÁP ĐƠN THUẦN Là bệnh lý thường gặp nhất ở tuyến giáp, với đặc điểm đại thể tuyến giáp
Trang 1HÌNH THÁI HỌC TRONG MỘT SỐ BỆNH LÝ TUYẾN GIÁP
MỤC TIÊU HỌC TẬP
1 Phân biệt được các hình thái tuyến giáp (đại thể và vi thể) trong một số bệnh lý thường gặp
NỘI DUNG
1 BƯỚU GIÁP ĐƠN THUẦN
1.1 Bướu giáp lan tỏa
1.2 Bướu giáp cục
2 BƯỚU GIÁP KÈM CƯỜNG GIÁP
3 VIÊM TUYẾN GIÁP
3.1 Viêm tuyến giáp cấp
3.2 Viêm tuyến giáp bán cấp
3.3 Viêm tuyến giáp mạn
3.3.1 Viêm tuyến giáp lan tỏa nhiều lympho bào (Hashimoto)
3.3.2 Viêm tuyến giáp Riedel
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bộ môn Giải phẫu bệnh – ĐHY Hà Nội (2019)- Giải phẫu bệnh học, Nhà xuất bản Y học, trang 502-507
Trang 2giáp to lại không phải là u (bướu) mà là tổn thương giả u
1 BƯỚU GIÁP ĐƠN THUẦN
Là bệnh lý thường gặp nhất ở tuyến giáp, với đặc điểm đại thể tuyến giáp
có khối lượng và kích thước lớn hơn bình thường, khi được khảo sát trên lâm sàng thì chức năng tuyến giáp không có sự rối loạn (Bình giáp/ Bình năng tuyến giáp)
Bệnh lý này do, nhiều nguyên nhân khác nhau gây nên, gồm ba nhóm chính:
- Thường gặp nhất là do thiếu Iodine (I-ốt) trong thực phẩm (Hay gặp ở vùng núi)
- Rối loạn điều hòa thần kinh-nội tiết ở trẻ gái dậy thì, phụ nữ mãn kinh hoặc thai kỳ
- Sử dụng quá nhiều thực phẩm có chứa các chất kháng giáp như thioglucoside (trong cải bắp, củ cải), cyanoglucoside (bột sắn, ngô, khoai lang, măng tre) hoặc một số loại thuốc có thyocyanate, salicylate, thiouracil…
1.1 Bướu giáp lan tỏa
Là giai đoạn đầu của bướu giáp đơn thuần (khoảng vài tháng đến vài năm), tuyến giáp phản ứng với sự thiếu iod, TSH kích thích, bằng sự quá sản (tăng số lượng các nang) và sự phì đại (tăng thể tích các nang)
Trang 3- Đại thể: Tuyến giáp to lan tỏa (to đều hai bên), có thể nặng đến 1000gr; mật độ mềm, diện cắt nhầy và bóng do có nhiều chất keo (khi mức độ thiếu iod lớn) hoặc mật độ rắn, diện cắt không nhày (khi mức độ thiếu iod thấp)
- Vi thể: Vùng tổn thương gồm nhiều nang nhỏ quá sản có các tế bào biểu mô hình trụ hoặc khối, lòng nang chứa ít hoặc không có keo; xen kẽ các nang này là một số nang giãn rộng, kích thước lớn, biểu mô chuyển dạng thấp dẹt, lòng chứa nhiều keo đặc, thuần nhất, ưa eosine Số lượng nang giãn tỷ lệ thuận với mức độ thiếu hụt iod
1.2 Bướu giáp cục / bướu giáp nhân
Là giai đoạn sau của bướu giáp đơn thuần, trung bình sau vài năm
- Đại thể: Tuyến giáp to không đều, có một hoặc nhiều cục, vị trí và kích thước khác nhau, diện cắt qua cục nhày, có thể có chảy máu, calci hóa
Trang 4nang giáp; mô xơ tăng sinh làm chia rẽ các nang tuyến giáp; có vùng calci hóa + Ranh giới giữa các cục (trên đại thể) với vùng mô giáp xung quanh có nơi có vách xơ nhưng không bao giờ liên tục
2 BƯỚU GIÁP KÈM CƯỜNG GIÁP
Còn gọi là bướu giáp lồi mắt, bướu giáp độc lan tỏa, bệnh basedow Tuyến giáp có thể to lên vừa phải hoặc bình thường Những biểu hiện trên lâm sàng điển hình gồm: Mắt lồi, tim đập nhanh, dễ hồi hộp, cáu gắt, run chân tay, tăng huyết áp, tăng chuyển hóa cơ sở, gầy sút cân…
Biểu hiện bệnh là hậu quả của sự tăng sản nguyên phát của mô tuyến giáp, dẫn tới sự cung cấp quá mức hormon tuyến giáp (T3, T4) cho cơ thể, bệnh căn
có liên quan đến cơ chế tự miễn dịch, bệnh nhân có nhiều globulin miễn dịch chống tuyến giáp gây những rối loạn chức năng tuyến giáp và tuyến yên
- Đại thể: Tuyến giáp tăng kích thước nhẹ, đối xứng, nặng khoảng 50-60g Diện cắt đồng nhất, có thể nhiều thùy, màu đỏ nhạt như thịt, không nhầy
Trang 5- Vi thể:
+ Tổn thương lan tỏa tuyến giáp, gồm nhiều nang tuyến giáp quá sản với tế bào biểu mô nang cao, hình trụ, có thể chen chúc tạo nhú trong lòng nang, cực đỉnh các tế bào có nhiều lỗ hút; lòng nang ít keo, keo loãng (nhạt màu)
+ Mô đệm nhiều sợi liên kết và mạch máu, thường có thấm nhập lympho bào, có khi thành đám với tâm sáng như nang lympho Đôi khi tăng sinh xơ chia cắt các nhóm nang tuyến thành các tiểu thùy (tương ứng với đại thể)
3 VIÊM TUYẾN GIÁP
3.1 Viêm tuyến giáp cấp
Nguyên nhân do nhiễm khuẩn thứ phát, vi sinh vật đến tuyến giáp theo đường máu, đường bạch huyết hoặc lan từ các nhiễm khuẩn cơ quan lân cận (đường tiêu hóa, đường hô hấp trên, viêm tuyến nước bọt) Các tác nhân thường gặp là tụ cầu vàng, liên cầu Salmonella, trực khuẩn lao hoặc nấm, virus, Bệnh nhân có biểu hiện sốt, đau vùng trước cổ
Trang 6- Đại thể: Tuyến giáp to không đối xứng, diện cắt mềm, có thể thấy nhiều ổ apxe nhỏ
- Vi thể: Dịch phù viêm, bạch cầu đa nhân xâm nhập trong mô đệm và khoảng
kẽ giữa các nang
3.2 Viêm tuyến giáp bán cấp
Còn gọi là viêm giáp hạt, viêm tuyến giáp De Quervain, viêm giáp giả lao Nguyên nhân chưa rõ, liên quan nhiều đến nhiễm virus (thường xuất hiện sau nhiễm khuẩn đường hô hấp trên) Tuyến giáp sưng to, đau, bệnh phát triển từng đợt từ vài tuần dến vài tháng, có thể điều trị khỏi hoàn toàn
- Đại thể: Tổn thương một phần tuyến giáp thành dạng cục, rắn cứng, không đối xứng, dính mô kế cận, diện cắt không đều màu trắng nhạt
Trang 7- Vi thể: Một số nang tuyến giáp bị phá hủy do xâm nhập viêm, ban đầu là bạch cầu đa nhân, các nang lân cận thưa, nhỏ, teo đét Về sau bạch cầu đa nhân được thay thế bằng ổ viêm hạt dạng nang, gồm các lympho bào, tương bào, mô bào, đại thực bào và các tế bào khổng lồ nhiều nhân Ở giai đoạn muộn, tổn thương trên được thay thế bằng ổ xâm nhập viêm mạn và xơ hóa
3.3 Viêm tuyến giáp mạn
3.3.1 Viêm tuyến giáp mạn lan tỏa nhiều lympho bào (Hashimoto)
Đây là type hình thái thường gặp nhất Bệnh căn liên quan đến tự miễn nên còn có tên gọi là viêm tuyến giáp lympho bào tự miễn Bệnh nhân thường không đau vùng cổ
- Đại thể: Tuyến giáp to gấp 2-3 lần bình thường, đối xứng, diện cắt thuần nhất, dai như cao su, màu vàng nhạt, nhiều thùy
- Vi thể:
+ Mô nang tuyến giáp bị xâm nhập bằng rất nhiều lympho bào và có thể tạo thành các tâm mầm Mô đệm xơ hóa rải rác Các nang giáp còn sót lại thường teo, chứa ít keo loãng Biểu mô nang giáp biến đổi đa hình, phổ biến là tế bào Hurthle: có bào tương lớn, ưa acid, hình đa diện, nhân tròn nằm ở trung tâm, hạt nhân rõ
+ Đôi khi gặp thể xơ hóa, xơ tăng sinh rõ rệt còn xâm nhập lympho bào không
rõ ràng Khi tổn thương teo các nang nặng nề hơn, các tế bào nang sót lại dị sản
Trang 83.3.2 Viêm tuyến giáp Riedel:
Bệnh rất hiếm gặp, có nhiều đặc điểm hình thái trùng lặp với viêm tuyến giáp mạn thể xơ hóa Tổn thương không gây đau, có thể gặp khó thở khi nằm, trên lâm sàng dễ nhầm với ung thư tuyến giáp
+ Đại thể: Tuyến giáp chỉ tổn thương một phần (không đối xứng), cứng chắc như gỗ hoặc như đá, dính vào mô kế cận Diện cắt giống như sẹo sợi
+ Vi thể: Các nang giáp bị phá hủy được thay thế bằng mô sợi xơ dày, thâm nhập ít lympho, tương bào Tổn thương này vượt quá bao giáp lan đến mô kế cận