Với bộ môn Ngữ văn, do đặc thù của môn học khoa học xã hội nên việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học hiện nay còn ít và chậm hơn so với các môn học khác, chưa khai thác hết tiề
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
CHU BÍCH TH ỦY
ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG D ẠY HỌC ĐỌC HIỂU TRUYỆN LỚP 11
NH ẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SÁNG TẠO CHO HỌC SINH
LU ẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN
HÀ N ỘI - 2020
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
CHU BÍCH THỦY
ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG D ẠY HỌC ĐỌC HIỂU TRUYỆN LỚP 11
NH ẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SÁNG TẠO CHO HỌC SINH
LU ẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN CHUYÊN NGÀNH: LÍ LU ẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
B Ộ MÔN NGỮ VĂN
Mã số: 8.14.01.11
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Ban
HÀ N ỘI - 2020
Trang 3L ỜI CẢM ƠN
Tác giả luận văn xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô, những người đã tận tình giảng dạy, đóng góp ý kiến cho tác giả trong quá trình học
tập và thực hiện luận văn
Xin được bày tỏ sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc đối với cán bộ hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Ban, người đã tận tình định hướng, hướng dẫn, giúp đỡ để tác giả hoàn thành luận văn này
Xin cảm ơn Ban Giám hiệu, Tổ Ngữ văn - Trường Trung học phổ thông Phúc Thọ, đồng nghiệp và bạn bè đã luôn tạo điều kiện giúp đỡ, ủng
hộ, động viên tác giả trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Mặc dù đã rất cố gắng song luận văn không tránh khỏi những thiếu sót
Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến từ các thầy cô, đồng nghiệp và các bạn
Hà N ội, ngày 25 tháng 6 năm 2020
Tác gi ả
Chu Bích Th ủy
i
Trang 4DANH M ỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
CNTT Công nghệ thông tin
THPT Trung học phổ thông
ii
Trang 5DANH M ỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Nhận thức về vai trò ứng dụng CNTT trong dạy học……… 23 Bảng 1.2 Các tiết dạy GV thường sử dụng CNTT……… 23 Bảng 1.3 Mức độ sử dụng phần mềm ứng dụng của GV……… 24 Bảng 1.4 Phạm vi ứng dụng của GV trong dạy học……… 25 Bảng 1.5 Đánh giá của HS về thuận lợi khi GV sử dụng CNTT…… 25 Bảng 1.6 Đánh giá của HS về khó khăn khi GV sử dụng CNTT…… 26 Bảng 3.1 Đánh giá về sự phù hợp của việc ứng dụng CNTT……… 60 Bảng 3.2 Đánh giá của GV về chất lượng sử dụng CNTT……… 61 Bảng 3.3 Mức độ hiểu bài tại lớp do HS tự đánh giá……… 61 Bảng 3.4 Mức độ hứng thú của HS……… 61 Bảng 3.5 Kết quả kiểm tra thường xuyên các lớp thực nghiệm……… 62 Bảng 3.6 Kết quả kiểm tra thường xuyên các lớp đối chứng………… 63 Bảng 3.7 Kết quả kiểm tra định kì các lớp thực nghiệm……… 64 Bảng 3.8 Kết quả kiểm tra định kì các lớp đối chứng……… 64
iii
Trang 6DANH M ỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 So sánh kết quả kiểm tra thường xuyên……… 63 Biểu đồ 3.2 So sánh kết quả kiểm tra định kì……… 64
iv
Trang 7DANH M ỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1 Bảng tĩnh và bảng động trên màn hình trình chiếu………… 39 Hình 2.2 Trang bố cục của bài giảng “Chữ người tử tù”……… 40 Hình 2.3 Slide cho hoạt động tạo tâm thế……… 45 Hình 2.4 Học sinh lớp thực nghiệm thuyết trình về tác giả………… 46 Hình 2.5 Đáp án sơ đồ cốt truyện Chí Phèo bằng ảnh……… 48 Hình 2.6 Đáp án trò chơi ô chữ……… 49
v
Trang 8M ỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN……… i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT……… ii
DANH MỤC CÁC BẢNG……… iii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ……… iv
DANH MỤC CÁC HÌNH……… v
MỞ ĐẦU……… 1
1 Lí do chọn đề tài……… 1
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu……… 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu……… 8
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu……… 9
5 Phương pháp nghiên cứu……… 9
6 Cấu trúc của đề tài……… 10
Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU…… 11
1.1 Đặc điểm tâm lí của học sinh lứa tuổi trung học phổ thông……… 11
1.1.1 Đặc điểm nhận thức……… 11
1.1.2 Đặc điểm hứng thú trong học tập……… 12
1.2 Năng lực sáng tạo và việc phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh trong dạy học Ngữ văn……… 14
1.2.1 Năng lực sáng tạo……… 14
1.2.2 Phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh trong dạy học Ngữ văn 16
1.3 Công nghệ thông tin và việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Ngữ văn ……… 17
1.3.1 Công nghệ thông tin……… 17
1.3.2 Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Ngữ văn……… 18
1.4 Dạy học đọc hiểu văn bản văn học và ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học đọc hiểu văn bản văn học……… 20
vi
Trang 91.4.1 Dạy học đọc hiểu văn bản văn học……… 20
1.4.2 Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học đọc hiểu văn bản văn học……… 21
1.5 Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học đọc hiểu truyện ở lớp 11……… 21
Tiểu kết chương 1……… 26
Chương 2 BIỆN PHÁP ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC ĐỌC HIỂU TRUYỆN Ở LỚP 11 NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SÁNG TẠO CHO HỌC SINH……… 28
2.1 Phân tích đặc trưng và cách dạy học đọc hiểu truyện ở lớp 11… 28
2.1.1 Đặc trưng truyện ở lớp 11……… 28
2.1.2 Cách dạy đọc hiểu truyện ở lớp 11……… 31
2.2 Khả năng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học đọc hiểu truyện ở lớp 11 ……… 34
2.3 Đề xuất biện pháp ứng dụng công nghệ thông tin ở từng khâu đọc hiểu truyện ở lớp 11 nhằm phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh… 37 2.3.1 Trong khâu tổ chức chuẩn bị dạy học.……… 37
2.3.2 Trong khâu tổ chức hoạt động dạy học……….……… 44
2.3.3 Trong khâu kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh…… 50
2.4 Những lưu ý khi ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học đọc hiểu truyện nhằm phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh ………… 53
Tiểu kết chương 2……… 55
Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM……… 57
3.1 Mục đích thực nghiệm……… 57
3.2 Đối tượng, địa bàn thực nghiệm……… 57
3.3 Phương pháp thực nghiệm……… 58
3.4 Tiêu chí đánh giá kết quả thực nghiệm……… 59
vii
Trang 103.5 Kết quả thực nghiệm sư phạm……… 59
Tiểu kết chương 3……… 65
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ……… 67
1 Kết luận……… 67
2 Khuyến nghị….……… 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 69
viii
Trang 11từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học Trong đó, môn Ngữ văn được coi là môn học mang tính công cụ, có vai trò rất quan trọng trong việc hình thành, bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm, bồi đắp những cảm xúc nhân văn, lòng yêu nước và phát triển nhân cách cho học sinh, góp phần định hướng phát triển năng lực cho học sinh Để thực hiện đổi mới giáo dục theo hướng phát triển năng lực của người học cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó ứng dụng công nghệ thông tin là một trong những giải pháp quan trọng hàng đầu
1.2 Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển không ngừng của khoa học kĩ thuật, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học đã thu được
những kết quả tích cực và đã trở thành vấn đề cốt lõi góp phần đổi mới phương pháp dạy học Đây là tiền đề quan trọng để chúng ta phát triển ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học theo định hướng phát triển năng lực của người học Với bộ môn Ngữ văn, do đặc thù của môn học khoa học xã hội nên việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học hiện nay còn ít và chậm hơn so với các môn học khác, chưa khai thác hết tiềm năng mà công nghệ thông tin mang lại và chưa tìm ra cách thức trình bày bài giảng tối ưu nên chưa mang lại hiệu quả cao Sự sáng tạo trong việc đổi mới phương pháp dạy học, phát huy tính tích cực, tự học của học sinh chưa nhiều; dạy học còn thiên về truyền thụ kiến thức, chưa thực sự chú trọng dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kĩ năng, hình thành năng lực và phẩm chất Đồng thời, hoạt động kiểm tra, đánh giá chủ yếu là tái hiện kiến thc, kiểm tra trí
Trang 12Xuất phát từ những lí do đã nêu trên, chúng tôi chọn đề tài “Ứng dụng
công nghệ thông tin trong dạy học đọc hiểu truyện lớp 11 nhằm phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh” với mong muốn tiếp tục thực hiện đổi mới
phương pháp dạy học, góp phần nâng cao hiệu quả dạy học truyện ngắn hiện đại nói riêng, dạy học đọc hiểu văn bản văn học nói chung; tập trung phát triển năng lực, nhất là năng lực sáng tạo cho học sinh; đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội trong thời đại mới
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
2.1 Trên thế giới
Vấn đề ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học
Cùng với sự phát triển của khoa học kĩ thuật, vào đầu những năm 70 của Thế kỉ XX xuất hiện những giao thức kết nối máy tính đầu tiên - tiền thân của internet như Arpanet, Merit Network… và đến những năm 80 giao thức kết nối mạng internet World Wide Web ra đời, cho phép liên kết các tài
liệu siêu văn bản vào một hệ thống thông tin, có thể truy cập từ bất kì vị trí nào trên mạng Từ giữa những năm 1990, internet phát triển rất nhanh kéo theo sự phát triển của truyền thông đa phương tiện và có tác động mang tính cách mạng đối với mọi mặt của đời sống xã hội, trong đó có khoa học giáo dục Ngay từ cuối thập niên 80, nhiều nhà khoa học giáo dục Mỹ như Steven Cohen, Irwin Unger Timothy, J Newby, H Judith, Sandholtz đã đề cập đến việc sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học theo hướng phát huy
Trang 133
tính tích cực của người học, trong đó các tác giả trên đã đề cập công nghệ thông tin có tầm quan trọng như những công cụ hỗ trợ các hoạt động dạy học, có tác động bổ trợ tích cực đến nhiều giác quan của học sinh; đồng thời,
đề xuất các ý tưởng sư phạm trong hoạt động dạy học có sự hỗ trợ của phương tiện kĩ thuật theo hướng phát huy tính chủ động, tích cực của người học; xác định các yêu cầu, thuận lợi và khó khăn trong việc ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học Cuối Thế kỉ XX đầu Thế kỉ XXI, các tác giả
Davis Gardner và Deidre Mc Cann đã đề cập một số yêu cầu, ý tưởng trong việc khai thác thông tin đa phương tiện từ các CD-Rom, internet nhằm giúp học sinh có cơ hội tiếp cận, trao đổi thông tin một cách đa dạng, tích cực giữa giáo viên với học sinh và giữa học sinh với học sinh
Thực tiễn giáo dục những năm qua đã chứng minh vai trò, tầm quan
trọng và hiệu quả của ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học cho thấy việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học là xu thế tất yếu của giáo dục Đổi mới phương pháp dạy học bằng công nghệ thông tin là một chủ đề lớn được UNESCO đưa ra thành chương trình của Thế kỉ XXI và dự đoán sẽ
có sự thay đổi nền giáo dục một cách căn bản vào những năm tới với tầm ảnh hưởng mạnh mẽ của công nghệ thông tin
Vấn đề phát triển năng lực cho người học trong dạy học
Ở các nước có nền khoa học giáo dục phát triển, vấn đề phát triển năng lực trong dạy học đã được nghiên cứu từ khá sớm Từ những năm 70 của Thế kỉ XX vấn đề rèn luyện năng lực và năng lực sáng tạo cho học sinh trong nhà trường được đặc biệt quan tâm, được thể hiện trong các bài viết của các tác giả I Ia Lecne, M I Macmutov, M N Xkatkin, V Okon, V G Razumovski (Liên-Xô) Cũng trong khoảng thời gian đó tại Mỹ, giáo dục dựa trên năng lực (Competency based education - CBE) dành được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Với hình thức này, giáo dục coi trọng việc đo lường chính xác kiến thức, kĩ năng và thái độ của người học sau khi kết thúc
Trang 144
mỗi chương trình học Nếu giáo dục kiểu truyền thống được coi là giáo dục theo nội dung kiến thức (content based education) tập trung vào việc trang bị kiến thức; đánh giá thông qua các bài thi viết và nói thì giáo dục theo năng lực có xu hướng tập trung vào phát triển các năng lực cần thiết để học sinh
có thể thành công trong trong công việc cũng như cuộc sống Giáo sư tâm lí học Howard Gardner của đại học Harvard (Mỹ) đã đề cập đến khái niệm năng lực thông qua việc phân tích bảy mặt biểu hiện của trí tuệ con người gồm: lô-gic toán học, ngôn ngữ, âm nhạc, thể hình, không gian, giao cảm và nội cảm Ông khẳng định rằng: Mỗi mặt biểu hiện của trí tuệ đều phải được biểu lộ hoặc thể hiện dưới dạng sơ đẳng hoặc sáng tạo đỉnh cao Để giải quyết một vấn đề trong cuộc sống thì con người không thể chỉ sử dụng duy nhất một mặt của biểu hiện trí tuệ nào đó mà phải vận dụng kết hợp nhiều mặt biểu hiện của trí tuệ liên quan đến nhau; sự kết hợp đó tạo thành năng lực cá nhân Ông cũng kết luận: Năng lực có thể đánh giá hoặc đo đạc được
và phải được thể hiện thông qua hoạt động có kết quả
Ban đầu, một số nhà nghiên cứu cho rằng giáo dục dựa trên năng lực
là dành cho giáo dục dạy nghề và giảng dạy công nghệ thông tin, nhưng thực
tế cho thấy giáo dục theo năng lực phù hợp với nhiều lĩnh vực Trong thời gian gần đây với sự phát triển mạnh của khoa học kĩ thuật và tri thức, giáo dục nếu chỉ hướng tới việc nắm vững kiến thức là không đủ bởi kiến thức của nhân loại luôn phát triển, hôm qua còn mới, hôm nay đã trở thành lạc hậu Do đó, những hệ thống giáo dục tiên tiến đã hướng tới việc giáo dục để người học có đủ khả năng làm chủ kiến thức và sử dụng kiến thức để giải quyết các vấn đề trong khoa học cũng như trong thực tế Nền giáo dục của các nước tiên tiến đã áp dụng phương pháp giảng dạy theo năng lực thay vì giảng dạy tập trung vào nội dung Như vậy, giảng dạy theo năng lực là hướng tiếp cận coi trọng đầu ra của quá trình dạy học trong đó nhấn mạnh
người học cần đạt được các mức năng lực nhất định sau khi hoàn thành một chương trình giáo dục
Trang 155
2.2 Ở Việt Nam
Vấn đề ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học
Từ khi Đảng ta tiến hành công cuộc đổi mới và Nhà nước thực hiện chính sách "mở cửa", nước ta nhanh chóng phát triển và hội nhập với thế giới về nhiều mặt Nhận thức đúng đắn vai trò to lớn của công nghệ thông tin, Đảng ta đã có chủ trương đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá bằng chỉ thị số 58-CT/TW ngày 17/10/2000 của Ban Chấp hành Trung ương, trong đó đối với ngành giáo dục
và đào tạo, chỉ thị nêu rõ: “Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác giáo dục và đào tạo ở các cấp học, bậc học, ngành học…”; Nghị quyết số 36-NQ/BCT của Bộ Chính trị ngày 1/7/2017 về "Đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững
và hội nhập quốc tế" tiếp tục khẳng định vai trò to lớn của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong mọi mặt của đời sống xã hội
Vấn đề phát triển năng lực cho người học trong dạy học
Để khắc phục những mặt tồn tại trong giáo dục kiểu truyền thụ kiến thức một chiều nặng về tính hàn lâm, tại Hội nghị Trung ương 8 khóa XI ngày 4/11/2013, Ban Chấp hành Trung ương đã ra Nghị quyết số 29-NQ/TW
về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã định hướng cho nền giáo dục chú trọng việc hình thành năng lực, phát huy tính chủ động, sáng tạo của người học Nghị quyết chỉ rõ "Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kĩ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ
áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ năng, phát triển năng lực Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy học "[3]
Như vậy, kế thừa kinh nghiệm của các nước tiên tiến, vấn đề ứng dụng
Trang 166
công nghệ thông tin trong dạy học, dạy học theo định hướng phát triển năng lực cho người học ở Việt Nam đã được các cấp và ngành giáo dục đặc biệt quan tâm, thể hiện trong Nghị quyết của Đảng, Chính phủ, các chỉ thị của ngành giáo dục và đã tổ chức thực hiện theo lộ trình phù hợp, từng bước thu được những kết quả nhất định Bên cạnh đó, đã có nhiều công trình khoa học liên quan đến vấn đề này như:
- Dự án phát triển giáo dục trung học phổ thông “Một số vấn đề chung
về đổi mới phương pháp dạy học ở trường trung học phổ thông” của TS
Nguyễn Văn Cường và GS, TSKH Bernd Meier Trong dự án, các tác giả đã phân tích những cơ sở khoa học của phương pháp dạy học tích cực, luận giải một số phương pháp và kĩ thuật giảng dạy nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh Trong đó có các phương pháp: "dạy học nhóm" (cộng tác), "giải quyết vấn đề", "nghiên cứu trường hợp" (dạy học theo tình huống), "dạy học theo dự án", "Web Quest" (khám phá trên mạng); các nhóm kĩ thuật như: "động não", "XYZ", "bể cá", "ổ bi" (thuộc nhóm kĩ thuật
thảo luận nhóm ở các mức độ khác nhau), "tranh luận, ủng hộ, phản đối",
"thông tin phản hồi", "tia chớp", "3 lần 3" và "lược đồ tư duy" [11] Một số phương pháp và kĩ thuật có thể áp dụng được vào phần đọc hiểu truyện ở lớp
11 kết hợp với việc khai thác các phương tiện công nghệ thông tin để thiết kế bài giảng theo hướng phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh
- Đề tài khoa học “Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ở
trường phổ thông Việt Nam” của PGS, TS Đào Thái Lai - Viện Chiến lược
và Chương trình Giáo dục Dựa trên cơ sở lí luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu, đề tài đã đề xuất những nội dung ứng dụng công nghệ thông tin
và truyền thông trong dạy học Trong đó, một số nội dung chủ yếu được luận giải khá sâu như: Sử dụng phần mềm dạy học; cấu trúc của bài giảng điện tử;
sử dụng internet, E-learning; mô hình ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông ở trường phổ thông; những tình huống sư phạm ứng dụng công
Trang 177
nghệ thông tin và truyền thông trong dạy học; các yêu cầu về công nghệ thông tin và truyền thông đối với người GV [20] Đây là những nội dung có liên quan trực tiếp đến vấn đề nghiên cứu trong luận văn
- Luận văn thạc sĩ “Ứng dụng công nghệ thông tin nâng cao chất
lượng dạy học một số tác phẩm văn chương trong chương trình Ngữ văn lớp
11 ở trường trung học phổ thông tỉnh Tuyên Quang”của tác giả Nguyễn Thị
Thu Hương - Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên Trên cơ sở phân tích vai trò của công nghệ thông tin trong đổi mới phương pháp dạy học, những đặc trưng thể loại tác phẩm văn chương, đặc điểm tâm lí của lứa tuổi HS vùng miền nghiên cứu, tác giả đã đề xuất một số biện pháp ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy tác phẩm văn chương lớp 11 Trong đó, tập trung vào sử dụng các phương tiện công nghệ thông tin để biên soạn bài giảng điện tử dưới dạng các slide trình chiếu, kết hợp với các phương tiện nghe nhìn khác nhằm nâng cao tính trực quan, sinh động của bài giảng [18]
- Luận văn thạc sĩ “Các biện pháp tạo hứng thú trong dạy học tác
phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu (Chương trình Ngữ văn 11)” của tác giả Nghiêm Thu Trang - Trường Đại học Giáo dục
Thông qua việc làm rõ những đặc trưng cơ bản của hứng thú học tập, các điều kiện để tạo hứng thú học tập, biểu hiện và vai trò của hứng thú học tập, tác giả đã đề xuất một số biện pháp để tạo hứng thú học tập cho học sinh đối với một tác phẩm cụ thể trong chương trình lớp 11 Trong đó, tác giả đã luận giải kĩ các biện pháp như: vận dụng các phương pháp dạy học tích cực, tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo và ứng dụng công nghệ thông tin…; đồng thời xác định ứng dụng công nghệ thông tin là một trong những giải pháp
cơ bản, có ý nghĩa quan trọng hàng đầu trong tạo hứng thú cho học sinh [30]
- Luận án tiến sĩ khoa học giáo dục “Dạy học tác phẩm tự sự ở trung
h ọc phổ thông với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin” của TS Lê Thị Ngọc
Anh - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Phân tích cơ sở khoa học của vấn
Trang 188
đề nghiên cứu, tác giả đã xác định yêu cầu và đề xuất một số biện pháp dạy
học tác phẩm tự sự ở trung học phổ thông với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin như: Đọc diễn cảm với sự hỗ trợ của video và hình ảnh trực quan; thuyết trình với sự hỗ trợ của kho tài nguyên điện tử; vấn đáp tích cực với sự hỗ trợ
của kho tài nguyên điện tử và những yếu tố trực quan; tự làm việc với kho tài nguyên điện tử và phương pháp đọc tài liệu khoa học, hiệu quả từ sự hỗ trợ
của công nghệ thông tin [1]
Các công trình khoa học có liên quan đến đề tài đã được công bố cho đến thời điểm hiện tại đã đề cập đến vấn đề nghiên cứu của luận văn ở những mức độ khác nhau, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu
một cách có hệ thống về “Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học đọc
hiểu truyện ở lớp 11 nhằm phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh” Tuy
nhiên, kết quả nghiên cứu của các công trình trên là những tư liệu tham khảo
có giá trị đối với đề tài nhằm kế thừa, phát triển và vận dụng kết quả đó trong quá trình giải quyết một số nội dung cụ thể của luận văn
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu và đề xuất biện pháp ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học đọc hiểu truyện ở lớp 11 nhằm phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh, góp phần hiện thực hóa mục tiêu giáo dục, đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn, tạo hứng thú học tập cho học sinh; từ đó, nâng cao hơn nữa chất lượng dạy học Ngữ văn ở trường phổ thông hiện nay
3 2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu những cơ sở khoa học liên quan đến ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Ngữ văn, vấn đề dạy học đọc hiểu truyện ở lớp 11 và
vấn đề phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh
- Khảo sát thực tiễn ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học đọc hiểu truyện ở lớp 11gắn với phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh
- Luận giải, đề xuất một số biện pháp ứng dụng công nghệ thông tin
Trang 194 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học đọc hiểu truyện ở lớp 11
gắn với việc phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung kiến thức: Phần đọc hiểu truyện ngắn hiện đại lớp 11 (Văn học Việt Nam từ đầu Thế kỉ XX đến Cách mạng tháng 8 năm 1945);
- Về hình thức tổ chức dạy học: Tập trung vào giờ học chính khóa;
- Về phạm vi điều tra, khảo sát: Một số trường trung học phổ thông ở miền Bắc
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lí luận: Nghiên cứu những vấn đề lí luận liên quan đến đề tài nghiên cứu, phân tích cơ sở khoa học, các quan điểm về ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học, vấn đề phát triển năng lực sáng
tạo cho học sinh
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Nghiên cứu, tổng hợp các tài liệu
để tìm hiểu về ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học đọc hiểu truyện ở
lớp 11 nhằm phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh
- Phương pháp điều tra, khảo sát: Khảo sát bằng phiếu kết hợp phỏng
vấn trực tiếp đối với giáo viên và học sinh về thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Ngữ văn, về mức độ hứng thú của học sinh đối với bài dạy đọc hiểu truyện ở lớp 11 có sử dụng công nghệ thông tin
- Phương pháp so sánh tổng hợp: So sánh những nội dung liên quan đến
đề tài trong các tài liệu; so sánh giờ giảng của các giáo viên khác nhau về cùng
Trang 2010
một văn bản truyện để rút kinh nghiệm, thiết kế giáo án thực nghiệm
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức thực nghiệm trên phạm
vi nhỏ để kiểm chứng những nội dung cơ bản đề xuất trong luận văn
6 Cấu trúc của đề tài
Luận văn gồm: Phần mở đầu, ba chương, kết luận, tài liệu tham khảo
và phụ lục, trong đó:
Chương 1 tập trung làm rõ đặc điểm tâm lí của học sinh trung học phổ thông; những khái niệm có liên quan và khảo sát thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Ngữ văn ở một số trường trung học phổ thông
ở miền Bắc
Chương 2 nghiên cứu đặc trưng, phương pháp dạy và khả năng ứng dụng công nghệ thông tin, đề xuất những biện pháp ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học đọc hiểu truyện ở lớp 11 nhằm phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh
Chương 3 tiến hành dạy thực nghiệm và dựa vào kết quả thực nghiệm
để đánh giá cơ sở khoa học và khả năng ứng dụng của đề tài
Trang 2111
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Đặc điểm tâm lí của học sinh lứa tuổi trung học phổ thông
1.1.1 Đặc điểm nhận thức
Học sinh (HS) trung học phổ thông (THPT) là HS ở độ tuổi từ 15 đến
18 tuổi, là giai đoạn đầu của lứa tuổi thanh niên (15-25 tuổi) HS đã đạt đến mức trưởng thành về cơ thể, sự phát triển thể chất tương đối hài hòa, cân đối
Sự hoàn thiện về mặt cơ thể có ảnh hưởng rõ nét đến sự phát triển tâm lí và nhận thức của lứa tuổi này
Hoạt động của HS THPT đã vượt ra ngoài phạm vi nhà trường, ảnh hưởng từ bên ngoài xã hội vào nhóm này rất mạnh HS thường sử dụng các phương tiện nghe nhìn để xem phim, kịch, tin tức, nghe nhạc; HS đã có sự tranh luận, thể hiện suy nghĩ cá nhân về các trào lưu, xu hướng và những vấn
đề được xã hội, đặc biệt là giới trẻ quan tâm Thái độ đối với việc học tập cũng có sự thay đổi, thái độ tự ý thức về việc học tập cho tương lai được nâng cao; HS thể hiện thái độ lựa chọn đối với từng môn học, hứng thú và khuynh hướng học tập trở nên xác định và thể hiện rõ ràng hơn Với đặc điểm này, giáo viên (GV) có thể sử dụng các phương tiện công nghệ thông tin (CNTT) để trình bày lồng ghép những vấn đề được xã hội quan tâm có liên quan đến bài học nhằm tạo hứng thú, làm cơ sở để phát huy năng lực sáng tạo cho HS trong quá trình dạy học
HS ở độ tuổi THPT cũng là giai đoạn có vị trí quan trọng trong việc phát triển trí tuệ Cảm giác, tri giác ở lứa tuổi này đã đạt ở mức độ của người lớn, khiến năng lực cảm thụ được nâng cao Trí nhớ phát triển tốt, HS đã biết
sử dụng nhiều phương pháp ghi nhớ chứ chứ không phải chỉ là một cách máy móc thụ động học thuộc nữa Sự chú ý, sự tập trung cũng phát triển hơn;
hoạt động tư duy phát triển mạnh Ở thời kì này, HS đã có khả năng tư duy lí luận, trừu tượng một cách độc lập, sáng tạo; hoạt động nhận thức đã phát
Trang 2212
triển ở mức độ tương đối cao, đã có khả năng nhận thức vấn đề một cách đúng đắn, sâu sắc; khả năng tư duy cũng đã phát triển và sẽ được hoàn thiện dần trong quá trình học tập và rèn luyện [22] Bên cạnh đó, ở lứa tuổi này hầu hết HS đã biết sử dụng máy tính, khai thác các công cụ tìm kiếm và xử lí thông tin trên internet; sử dụng thành thạo điện thoại thông minh, mạng xã hội, tham gia vào các nhóm và diễn đàn trên internet với mức độ khác nhau Đây là đặc điểm quan trọng tạo cơ hội cho GV khai thác, sử dụng kết hợp các phương tiện dạy học, nhất là phương tiện CNTT nhằm cung cấp nhiều tư liệu trực quan, tác động vào nhận thức của HS theo nhiều kênh khác nhau
nhằm phát triển tư duy cho HS Khả năng sử dụng phương tiện công nghệ, mạng internet… để tìm kiếm, khai thác và xử lí thông tin của HS vừa là điều kiện thuận lợi, vừa là tiềm năng lớn để phát triển năng lực sáng tạo cho HS
Nghiên cứu đặc điểm nhận thức của HS là cơ sở quan trọng để GV lựa chọn phương pháp dạy phù hợp, tập trung phát triển tư duy trừu tượng; rèn luyện kĩ năng phân tích để phát triển tư duy độc lập, khắc phục tình trạng có kết luận vội vàng; dạy bám sát với thực tiễn hơn là trên lí thuyết Bên cạnh
đó, GV có căn cứ để lựa chọn những hình thức và biện pháp ứng dụng CNTT phù hợp với lứa tuổi và khả năng sử dụng các phương tiện CNTT của
HS, có cách thức tổ chức các hoạt động học tập phù hợp với tâm sinh lí và đặc điểm nhận thức của HS, tạo hứng thú học tập, qua đó phát huy được tính tích cực, sáng tạo của HS
1.1.2 Đặc điểm hứng thú trong học tập
Theo từ điển tiếng Việt, hứng thú có hai nghĩa Nghĩa thứ nhất hứng
thú là “Biểu hiện nhu cầu của chủ thể, làm cho chủ thể tìm cách để thỏa mãn, tạo ra khoái cảm; thích thú và huy động sinh lực nhằm cố gắng thực hiện” và
nghĩa thứ hai hứng thú là “sự ham thích” [32]
Như vậy, hứng thú là sự vui vẻ, hào hứng, thích thú của con người đối với một hoạt động nào đó Hứng thú trong học tập là thái độ đặc biệt của chủ
Trang 23kiên trì hoàn thành bài tập, không nản chí trước những tình huống khó khăn [26] Như vậy, khi HS hứng thú với bài học, với môn học thì sẽ tạo được không khí học tập sôi nổi, mê say, hào hứng…, người học tiếp nhận tri thức một cách chủ động và tự giác, không bị ép buộc và tất nhiên kết quả học tập
sẽ đạt được mức cao hơn Hơn thế nữa, hứng thú cũng chính là con đường cơ bản để dẫn đến sáng tạo và tài năng
Học sinh THPT phần lớn đã nhận thức được tầm quan trọng của học tập; tuy vậy, giữa nhận thức và hành động cũng còn nhiều mâu thuẫn Nguyên nhân thì có nhiều, trong đó cơ bản là chưa có động cơ học tập đúng đắn, chưa có hứng thú thực sự với môn học Thưc tế cho thấy HS chỉ có kết quả học tập cao khi thực sự có hứng thú với môn học Vấn đề đặt ra cho hoạt động giáo dục hiện nay là tổ chức dạy và học như thế nào để hình thành và nâng cao hứng thú học tập cho HS Việc GV tạo được những bài giảng sinh động, hấp dẫn, kích thích sự hứng thú, khiến HS say mê hơn trong học tập chính là một trong số những câu trả lời Đồng thời, qua đó GV sẽ giúp HS
phát triển được năng lực học tập của mình và rút ngắn hơn khoảng cách đến với chân trời của tri thức
Trong thời đại “bùng nổ” CNTT hiện nay, hầu hết giới trẻ nói chung
và HS trung học phổ thông nói riêng đều sử dụng các phương tiện CNTT với
Trang 2414
những mục đích khác nhau và có xu hướng sử dụng chúng vào mọi công việc có thể Hứng thú của HS trong sử dụng các phương tiện CNTT cũng như khả năng sử dụng thành thạo các phương tiện CNTT vừa là đặc điểm vừa là điều kiện thuận lợi không nhỏ cho GV nếu GV biết khéo léo khai thác lợi thế này vào mục đích học tập, phục vụ giải quyết các nội dung của bài học nhằm nâng cao chất lượng dạy học
1.2 Năng lực sáng tạo và việc phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh trong dạy học Ngữ văn
Theo từ điển Tiếng Việt, năng lực có nghĩa gốc chung là “khả năng,
điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó”
và “phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao” [32]
Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể 2018 của Bộ Giáo dục và đào tạo giải thích: Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển
nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện; cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí, thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể [6]
Sáng t ạo là hoạt động tạo ra cái mới có giá trị của con người nhằm
giải quyết vấn đề đặt ra một cách hiệu quả, đáp ứng nhu cầu của con người
Cũng theo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, các năng lực chung cần được hình thành và phát triển cho HS trung học phổ thông bao
gồm: năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải
Trang 2515
quyết vấn đề và sáng tạo Những năng lực đặc thù - năng lực được hình thành, phát triển chủ yếu thông qua một số môn học và hoạt động giáo dục
nhất định như: năng lực ngôn ngữ (chủ yếu trong môn Ngữ văn và Ngoại
ngữ); năng lực tính toán (chủ yếu là ở môn Toán); năng lực công nghệ (chủ
yếu ở môn Công nghệ); năng lực tin học (chủ đạo là ở môn Tin học); năng
lực thẩm mĩ (chủ yếu trong các môn Âm nhạc, Mĩ thuật, Ngữ văn); năng lực
thể chất (chủ yếu trong môn Giáo dục thể chất) Tất cả những năng lực chung và năng lực đặc thù đó là những năng lực cốt lõi - năng lực cơ bản, thiết yếu mà bất kì người nào cũng cần phải có để sống, học tập, làm việc có
hiệu quả Ngoài ra, chương trình giáo dục phổ thông còn đề cập đến vấn đề phát hiện, bồi dưỡng năng lực đặc biệt - năng khiếu về trí tuệ, văn nghệ, thể thao, kĩ năng sống cho HS
Năng lực sáng tạo là khả năng tạo ra những giá trị mới về vật chất và
tinh thần, tìm ra cái mới, giải pháp mới, vận dụng thành công những hiểu biết đã có vào hoàn cảnh mới Năng lực sáng tạo được cấu thành từ các yếu tố: tư duy sáng tạo, động cơ sáng tạo, ý chí sáng tạo, phương tiện điều kiện sáng tạo, môi trường sáng tạo; trong đó tư duy sáng tạo là yếu tố cơ bản nhất, quyết định hiệu quả hoạt động sáng tạo Năng lực sáng tạo của HS trong đọc
hiểu truyện ở lớp 11 được thể hiện thông qua các mặt sau:
- Phát hiện ra những vấn đề mới đối với bản thân trong cảm thụ tác
phẩm văn học;
- Khả năng thu thập, chọn lọc và xử lý những thông tin phù hợp liên quan đến tác giả, tác phẩm;
- Khả năng thể hiện suy nghĩ, cảm nhận của bản thân về tác giả, tác
phẩm, tình huống truyện, nhân vật trong truyện một cách có biện luận, không theo khuôn mẫu có sẵn;
- Khả năng vận dụng kỹ năng sống và trải nghiệm thực tế, sử dụng các công cụ, phương tiện, để giải quyết các nhiệm vụ học tập được giao phù hợp
Trang 2616
với tình huống và bối cảnh;
- Khả năng hợp tác, tranh biện khi trao đổi, thảo luận về những vấn đề đặt ra trong tác phẩm
1.2.2 Phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh trong dạy học Ngữ văn
Năng lực Văn học là khả năng tiếp nhận và tạo lập văn bản văn học của người học Khả năng tiếp nhận thể hiện qua việc HS biết vận dụng kiến thức văn học và kinh nghiệm cá nhân vào việc đọc, giải mã, kiến tạo nghĩa
và đánh giá văn bản văn học Còn khả năng tạo lập văn bản văn bản văn học
là khả năng thể hiện cảm xúc và ý tưởng bằng những ngôn từ mang tính thẩm mĩ cao, có thể sáng tác văn học [13]
Năng lực văn học là một biểu hiện của năng lực thẩm mĩ, là khả năng nhận biết, phân tích, tái hiện và sáng tạo các yếu tố thẩm mĩ thông qua hoạt động tiếp nhận và tạo lập văn bản [9]
Từ trước đến nay, việc tiếp nhận văn học của HS thường theo lối thụ động GV thường đọc, cảm nhận, hiểu hộ HS; HS có khi không cần phải đọc văn bản tác phẩm mà chỉ cần nghe, ghi chép và học thuộc lời thầy cô Nhưng
năng lực sáng tạo trong môn Ngữ văn là rất cần thiết bởi văn chương là nghệ thuật ngôn từ, văn chương vốn dĩ trừu tượng nhưng cũng lại mang tính hình tượng, cụ thể, cảm tính Nó rất cần đến cái riêng, cái tôi, cái cá tính sáng tạo
của mỗi chủ thể
Phát triển năng lực sáng tạo trong dạy học Ngữ văn là tổng thể các biện pháp, hoạt động của GV và HS trong quá trình chuẩn bị và thực hành dạy học dưới sự tổ chức của GV, nhằm phát huy cao nhất khả năng của HS trong trong tiếp nhận, tạo lập văn bản; nâng cao kĩ năng vận dụng kiến thức
và hứng thú trong học tập Ngữ văn Sáng tạo trong dạy học Ngữ văn cũng không đòi hỏi GV và HS phải có những sản phẩm hoàn toàn mới, thực sự độc đáo; những phát minh cao siêu hay những đóng góp lớn lao mà trước hết
đó là việc dạy học Ngữ văn hướng đến sự suy nghĩ độc lập, mang tính cá thể,
Trang 27dụ, khi dạy đọc hiểu văn bản Hai đứa trẻ của Thạch Lam ở nội dung phân
tích cảnh chờ tàu của chị em Liên và những người dân nơi phố huyện Trong mục ý nghĩa cảnh chờ tàu, GV không chỉ dừng lại ở việc cho HS thảo luận nhóm để phát hiện ra những ý nghĩa khác nhau theo cách hiểu truyền thống (nó khuấy động sự phẳng lặng tẻ nhạt của cuộc sống nơi đây, là thế giới của những kỉ niệm tươi đẹp, là biểu tượng của tương lai tươi sáng…), GV có thể
tổ chức cho HS tranh biện trong một khoảng thời gian nhất định để HS có thể có cái nhìn khác, thậm chí ngược lại, rằng sự chờ đợi ấy là vô nghĩa, vì cuối cùng sự chờ đợi mỗi đêm cũng không giải quyết vấn đề gì, đoàn tàu chỉ đến và đi trong chốc lát, sau đó cuộc sống ở đây lại như cũ, không có gì đổi thay Tất nhiên, cuối cùng GV sẽ định hướng cho các em đến cách hiểu hợp
lí nhưng với hoạt động này nó đã giúp các em có sự tích cực, chủ động trong
tư duy, không lệ thuộc vào ý kiến của người khác mà biết nêu lên ý kiến,
quan điểm, suy nghĩ của mình; thông qua đó, năng lực sáng tạo của HS được phát huy
1.3 Công nghệ thông tin và ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Ngữ văn
1.3.1 C ông nghệ thông tin
Thuật ngữ Công nghệ thông tin xuất hiện từ khoảng những năm 70
của Thế kỉ XX Trên thế giới cũng như trong nước đã có nhiều khái niệm, nhiều cách hiểu đề cập đến thuật ngữ này Ở nước ta, khái niệm CNTT lần đầu được trình bày trong Nghị quyết số 49/CP của Chính phủ năm 1993 về phát triển CNTT ở Việt Nam trong những năm 90 Hiện nay, khái niệm
Trang 2818
CNTT được sử dụng phổ biến nhất là: "Công nghệ thông tin là tập hợp các
công cụ kĩ thuật hiện đại gồm chủ yếu là máy vi tính và phần mềm máy vi tính được sử dụng để xử lí, lưu giữ, trình bày, chuyển đổi, bảo vệ, gửi và nhận thông tin số một cách an toàn" Qua khái niệm, có thể thấy nội hàm của
khái niệm CNTT như sau:
- Về bản chất, công nghệ có thể được hiểu là các công cụ và phương tiện kĩ thuật
- Về phương tiện chủ yếu: máy vi tính, phần mềm máy vi tính
- Về đối tượng xử lí: là thông tin ở dạng tín hiệu số
1.3.2 Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Ngữ văn
Theo quan điểm Mác - Lê nin về mối quan hệ giữa các yếu tố của quá trình nhận thức, nhận thức cảm tính có được nhờ sự hoạt động của các giác quan nhận biết của con người, như thính giác, thị giác, xúc giác, vị giác, khứu giác Nhận thức cảm tính là xuất phát điểm của quá trình nhận thức và đóng vai trò cung cấp tài liệu cho nhận thức lí tính Trong dạy học, để tổ chức quá trình nhận thức được thuận lợi, người dạy cần sử dụng đa dạng các phương tiện trực quan để tác động vào nhiều giác quan của người học nhằm cung cấp cho người học nhiều “tư liệu” cảm tính Quy luật của quá trình nhận thức vừa là cơ sở lí luận vừa là nội dung mang tính định hướng cho hoạt động ứng dụng CNTT trong dạy học ngữ văn
Ngày nay, trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.0, CNTT vừa là phương tiện, công cụ dạy học tiên tiến, vừa là ngành học với những đặc thù riêng, vừa là môi trường dạy học mới với nhiều hình thức dạy học đa dạng Việc ứng dụng CNTT trong dạy học ở mỗi ngành học, cấp học và mỗi môn học rất khác nhau Hiện nay CNTT thường được sử dụng trong dạy học với
ba hướng sau:
Hướng thứ nhất, CNTT được sử dụng như một phương tiện giảng dạy của người dạy Trong đó, GV sử dụng CNTT phục vụ cho việc thiết kế và
Trang 2919
thể hiện bài giảng, ta thường gọi nó với thuật ngữ “bài giảng điện tử” với phần mềm được sử dụng phổ biến là Microsoft Powerpoint, Violet và Presenter
Hướng thứ hai, sử dụng CNTT như phương tiện dạy học của cả người dạy và người học Trong đó, người dạy sử dụng CNTT để thiết kế bài giảng còn người học sử dụng CNTT để thực hiện các yêu cầu của người dạy
Hướng thứ ba, về hình thức CNTT có xu hướng gắn với quá trình học
nhiều hơn quá trình dạy, là môi trường học tập mới, môi trường học tập ảo chứa đựng thông tin và tình huống nhận thức mới Người học là trung tâm, là chủ thể hoạt động trong môi trường đó, thay vì hoạt động trong môi trường tương tác trực tiếp với người dạy
Mỗi hướng ứng dụng CNTT trong dạy học kể trên có đặc điểm; điều kiện sử dụng khác nhau cũng như có ưu điểm, hạn chế riêng và phù hợp với từng ngành học, cấp học, môn học cụ thể Trong điều kiện bình thường, hướng 1 và hướng 2 phù hợp hơn với quá trình dạy học ở bậc học phổ thông; hướng 3 có thể áp dụng với các bậc học cao hơn và sử dụng bổ trợ cho bậc học phổ thông trong một số trường hợp nhất định Trong các hướng ứng
dụng CNTT nêu trên, hướng thứ hai có nhiều ưu điểm và phù hợp với bậc
học THPT hơn cả Đối với môn Ngữ văn, việc ứng dụng CNTT trong dạy học theo hướng thứ hai vừa kế thừa được ưu điểm của phương pháp dạy học truyền thống - có sự tương tác trực tiếp giữa người dạy và người học một cách linh hoạt, đồng thời phát huy được tính tích cực, chủ động sáng tạo của người học Theo hướng này, GV thường sử dụng phần mềm Microsoft Powerpoint - phần mềm rất dễ sử dụng và hoàn toàn miễn phí để thiết kế bài giảng và một số công cụ bổ trợ Nội dung kiến thức được trực quan hóa bằng
cả "kênh hình" và "kênh tiếng" (hình ảnh, bảng biểu, sơ đồ tư duy, phim, âm thanh…) nhằm kết hợp tác động tới quá trình nhận thức của HS lên nhiều giác quan; HS sử dụng CNTT để tìm kiếm, xử lí thông tin liên quan đến bài
Trang 30khác Nguyên nhân do đặc thù môn học không chỉ đơn thuần dạy về kiến thức, kĩ năng cần thiết như ở những môn học khác, không chỉ truyền đạt tri thức khoa học mà hơn thế nữa nó còn rèn luyện cho người học năng lực tiếp nhận và cảm thụ thẩm mĩ, năng lực tư duy và sử dụng ngôn ngữ… Hay nói cách khác, dạy văn học cần đảm bảo cả hai yếu tố là tư duy và cảm xúc Để đạt được điều đó, giờ dạy học cần được tiến hành kết hợp với các hoạt động, các phương pháp và phương tiện dạy học khác nhau một cách linh hoạt Việc ứng dụng CNTT trong dạy học Ngữ văn là hết sức cần thiết, song nó cũng đòi hỏi cao hơn, cầu kì hơn so với các môn học khác Nếu GV không có sự chọn lọc khéo léo, phù hợp với nội dung bài học, tính chất môn học thì hiệu quả dạy học sẽ không đạt được như mong muốn Hiệu quả giờ dạy học phụ thuộc rất lớn vào kĩ năng lựa chọn nội dung, hình thức ứng dụng CNTT của mỗi GV
1.4 Dạy học đọc hiểu văn bản văn học và ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học đọc hiểu văn bản văn học
1.4.1 Dạy học đọc hiểu văn bản văn học
Đọc hiểu văn bản là bộ phận rất quan trọng và được xác định là một khâu đột phá trong mục tiêu đổi mới mạnh mẽ chương trình Ngữ văn THPT
Trong chương trình Ngữ văn mới có hai loại văn bản được dạy học đọc hiểu, đó là văn bản văn học và văn bản thông tin
Văn bản văn học là những văn bản nghệ thuật ngôn từ, ở đó ngôn ngữ được sử dụng một cách nghệ thuật, giàu tính thẩm mĩ, tính hình tượng, tính biểu cảm, tính đa nghĩa, tính sáng tạo, thể hiện phong cách nghệ thuật của
Trang 3121
người viết… Đặc biệt, đây là những văn bản được sáng tác theo phương thức
hư cấu, vận dụng cơ chế liên tưởng và tưởng tượng sáng tạo để tạo ra những hình tượng nghệ thuật, hình tượng thẩm mĩ, có khả năng lay thức tâm hồn, tình cảm của người đọc và đem đến cho độc giả những nhận thức về đặc trưng, bản chất của nghệ thuật văn chương [13] Với đặc điểm thể loại văn bản văn học, quá trình dạy học đọc hiểu văn bản được thực hiện theo các hoạt động sau: Hoạt động tạo tâm thế đọc cho HS; hoạt động tìm hiểu những tri thức công cụ cần thiết cho việc đọc hiểu văn bản; hoạt động đọc hiểu văn bản và hoạt động củng cố, vận dụng thực tiễn
Ứng dụng CNTT trong dạy học đọc hiểu văn bản văn học là hoạt động
sử dụng các phương tiện CNTT như máy tính, máy chiếu, thiết bị nghe nhìn, thiết bị lưu trữ và các phần mềm dạy học để bổ trợ cho quá trình chuẩn bị và thực hành giảng dạy của GV cũng như hoạt động học của HS, giúp HS thuận tiện hơn trong việc tiếp thu kiến thức; phát triển năng lực, nhất là năng lực sáng tạo; góp phần nâng cao chất lượng dạy học đọc hiểu văn bản văn học
Trên cơ sở phân tích đặc điểm dạy học đọc hiểu văn bản theo hướng phát triển năng lực cho người học, việc ứng dụng CNTT trong dạy học theo
xu hướng thứ hai đã trình bày ở trên cần tập trung vào một số vấn đề chủ yếu, như: biên soạn bài giảng điện tử; thiết kế tư liệu bổ trợ cho các hoạt động dạy học; sử dụng các phương tiện để triển khai dạy học; định hướng cho HS tìm kiếm, xử lí thông tin, thực hiện nhiệm vụ học tập theo yêu cầu của GV
1.5 Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học đọc hiểu tru yện ở lớp 11
Để có cơ sở thực tiễn, chúng tôi đã tiến hành khảo sát thực trạng ứng dụng CNTT trong dạy học đọc hiểu truyện ở lớp 11 gắn với phát triển năng lực sáng tạo cho HS bằng cách phát phiếu khảo sát kết hợp với phỏng vấn trực tiếp Đối tượng khảo sát gồm: 40 GV trực tiếp giảng dạy môn Ngữ văn
Trang 3222
và 300 HS lớp 11 ở một số trường THPT ở các tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hòa Bình và thành phố Hà Nội
- Về phía giáo viên:
+ Nhận thức về vai trò của việc việc ứng dụng CNTT vào dạy học đọc hiểu truyện;
+ Điều kiện để ứng dụng CNTT vào dạy học đọc hiểu truyện;
+ Mức độ ứng dụng CNTT vào dạy học đọc hiểu truyện (tần suất, thói quen sử dụng CNTT);
Thông qua kết quả khảo sát có thể đánh giá thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học đọc hiểu truyện ở lớp 11 gắn với phát triển năng lực sáng tạo cho HS như sau:
- Về nhận thức và mức độ ứng dụng CNTT cho thấy: Đa số GV và HS xác định việc ứng dụng CNTT trong dạy học ở mức “cần thiết” Tuy nhiên
số lượng GV đánh giá chính xác vai trò, tầm quan trọng của ứng dụng CNTT trong dạy học ở mức "rất cần thiết" chưa cao (bảng 1.1) Điều này ảnh hưởng tới thái độ và việc xác định trách nhiệm của GV trong việc tự bồi dưỡng nâng cao khả năng ứng dụng CNTT, dẫn đến mức độ ứng dụng CNTT trong dạy học đọc hiểu truyện ở lớp 11 còn ít, chủ yếu tập trung vào các tiết học
Trang 33Giáo viên Học sinh
Rất cần thiết 2 5 29 9,7 Cần thiết 23 57,5 167 55,7 Không cần thiết lắm 11 27,5 75 25
Không cần thiết 4 10 29 9,6
Bảng 1.2 Các tiết dạy GV thường sử dụng CNTT
Các tiết dạy thao giảng 25 62,5
Khi có thanh tra, dự giờ 10 25
Các tiết dạy mà nội dung bài cần sử dụng 5 12,5
- Về khả năng, mục đích sử dụng internet và các phần mềm ứng dụng cho thấy: Hầu hết GV có xu hướng sử dụng những phần mềm dạy học quen thuộc như Powerpoint, Violet; khả năng sử dụng các phương tiện CNTT và các phần mềm ứng dụng khác để xây dựng tư liệu, biên tập, xử lí thông tin, nhất là khả năng nghiên cứu cập nhật những phần mềm mới còn hạn chế, dẫn đến bài giảng thiếu sinh động (bảng 1.3)
Qua phỏng vấn trực tiếp một số HS cho thấy: Nhiều bài giảng còn mang tính hình thức, gọi là có ứng dụng CNTT, thực chất chỉ là việc trình chiếu y nguyên nội dung bài giảng trong giáo án lên màn hình thay cho việc viết bảng Về bản chất, ở đây chỉ mang tính chuyển đổi từ “đọc - chép” sang
Trang 34Không bao giờ
ở khâu biên soạn bài giảng điện tử ở mức đơn thuần, chưa khai thác được tiềm năng của CNTT trong thiết kế các tư liệu trực quan sinh động khác phục vụ quá trình dạy học để tích hợp trong bài giảng điện tử; ít ứng dụng trong kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS và hướng dẫn HS tự học (bảng 1.4) Qua đó cho thấy: Hoạt động ứng dụng CNTT trong dạy học còn mang tính một chiều; HS ít được trực tiếp tham gia khai thác các phương tiện CNTT để tạo ra các sản phẩm phục vụ học tập Sự hỗ trợ này của CNTT là chưa đạt tới hiệu quả hình thành và phát triển năng lực người học, chưa chú trọng phát huy vai trò trung tâm, tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS
Trang 35Không bao giờ
SL % SL % SL % SL %
Biên soạn bài giảng điện tử 12 30,0 28 70,0 0 0,0 0 0,0 Tạo và xử lí tư liệu 0 0,0 0 0,0 5 12,5 35 87,5 Kiểm tra, đánh giá kết quả 0 0,0 0 0,0 3 7,5 37 92,5 Hướng dẫn HS tự học 0 0,0 0 0,0 8 20,0 32 80,0
- Về hiệu quả dạy học cho thấy: Phần lớn HS đánh giá việc ứng dụng CNTT mang lại hiệu quả, và đã tạo được hứng thú học tập trong phạm vi nhất định, điều đó được thể hiện qua việc HS thu nhận được nhiều thông tin hơn, dễ tiếp thu bài hơn, qua đó có thái độ hứng thú với những bài học ứng dụng CNTT (bảng 1.5)
Bảng 1.5 Đánh giá của HS về thuận lợi khi GV sử dụng CNTT
Thuận lợi
Mức độ Chắc chắn Có thể Chưa hẳn Không
Dễ tiếp thu bài hơn 80 26,7 152 50,7 68 22,6 0 0,0 Thích học hơn, không
gây buồn ngủ 66 22,0 172 57,3 62 20,7 0 0,0 Thu nhận được nhiều
thông tin, tri thức hơn 98 32,7 115 38,3 83 27,7 4 1,3
Tuy nhiên, thông qua kết quả khảo sát và qua tìm hiểu thêm bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp HS đã phản ánh thực tế là hiệu quả dạy học
Trang 3626
và mức độ hứng thú của HS chưa thực sự thuyết phục, chưa tương xứng với tiềm năng của CNTT Vẫn còn một số lượng không nhỏ HS cho rằng bài giảng của một số GV chưa phù hợp, chưa thực sự hấp dẫn, còn trình chiếu quá nhiều chữ, tạo áp lực lớn trong việc ghi chép của HS (bảng 1.6) Có những GV khi sử dụng bài giảng điện tử do khả năng có hạn nên thường độc diễn với chiếc máy tính của mình mà không có sự tương tác với HS, không
tổ chức các hoạt động để HS tự chiếm lĩnh tri thức, HS vẫn là người thụ động trong quá trình tiếp nhận, về bản chất cũng không có sự khác biệt đáng
kể so với cách dạy truyền thống
Bảng 1.6 Đánh giá của HS về khó khăn khi GV sử dụng CNTT
Khó khăn
Mức độ Chắc chắn Có thể Chưa hẳn Không
HS, phù hợp với Nghị quyết về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đào tạo
Tiểu kết chương 1
Vấn đề phát triển năng lực trong dạy học đã được các nước trên thế
Trang 3727
giới nghiên cứu từ khá sớm Tuy nhiên, đến những thập niên cuối của Thế kỉ
XX nhờ sự phát triển hùng mạnh của internet và các phương tiện CNTT thì việc kết hợp CNTT trong dạy học phát triển năng lực mới bắt đầu được nghiên cứu và áp dụng Hiện nay, mô hình kết hợp ứng dụng CNTT trong dạy học phát triển năng lực được rất nhiều nước có nền giáo dục phát triển
áp dụng và thu được những thành tựu to lớn Ở Việt Nam, kế thừa những kinh nghiệm của các nước tiên tiến, việc ứng dụng CNTT trong dạy học nói chung và dạy học phát triển năng lực nói riêng đã từng bước phát triển và tạo được phong trào tương đối sôi nổi Hiện nay, có một số công trình khoa học nghiên cứu những vấn đề có liên quan đến đề tài luận văn Mỗi công trình đề cập đến vấn đề ứng dụng CNTT trong dạy học phát triển năng lực môn Ngữ văn ở mức độ khác nhau nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu một cách có hệ thống về ứng dụng CNTT trong dạy học đọc hiểu truyện
ở lớp 11 nhằm phát triển năng lực sáng tạo cho HS
Đặc điểm tâm lí, nhận thức, năng lực sáng tạo của HS, cơ sở vật chất, phương tiện và khả năng ứng dụng các phương tiện CNTT của GV và HS là những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến vấn đề nghiên cứu Phân tích thực trạng ứng dụng CNTT trong dạy học đọc hiểu truyện, rút ra những bài học kinh nghiệm cả về thành công cũng như những mặt còn hạn chế là cơ sở quan trọng để tác giả đề xuất những biện pháp nâng cao hiệu quả ứng dụng CNTT trong dạy học đọc hiểu truyện ở lớp 11 gắn với phát triển năng lực sáng tạo cho HS trong chương 2
Trang 3828
CHƯƠNG 2 BIỆN PHÁP ỨNG DỤNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
TRONG DẠY HỌC ĐỌC HIỂU TRUYỆN Ở LỚP 11
NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SÁNG TẠO CHO HỌC SINH 2.1 Đặc trưng và cách dạy học đọc hiểu truyện ở lớp 11
2.1.1 Đặc trưng truyện ở lớp 11
Bốn kiểu văn bản văn học lớn được dạy trong chương trình phổ thông hiện hành đó là: thơ, truyện, kí và kịch (kịch bản văn học) Trong mỗi kiểu văn bản ấy lại được chia ra thành các tiểu loại khác nhau Các văn bản được sắp xếp theo trục thể loại và có tính đến trục lịch sử, được thể hiện ở các chủ
đề học tập trong chương trình từng khối lớp ở bậc THPT Ví dụ, các chủ đề
truyện trung đại Việt Nam, thơ trung đại Việt Nam được bố trí trong chương trình Ngữ văn lớp 10; truyện hiện đại Việt Nam, thơ hiện đại Việt Nam - chương trình Ngữ văn 11; kí hiện đại Việt Nam, kịch hiện đại Việt Nam - chương trình Ngữ văn 12 [13] Như vậy, các truyện hiện đại Việt Nam, cụ thể là các truyện ngắn hiện đại Việt Nam được lựa chọn dạy học trong chương trình Ngữ văn 11
Truyện là tên gọi để chỉ loại hình tự sự của văn học, bao gồm những
thể loại: truyện kể dân gian (thần thoại, truyền thuyết, sử thi…), truyện phiêu lưu, truyền kì, truyện kể hiện đại (truyện ngắn, truyện vừa, truyện dài) Truyện có hai thành phần chủ yếu là nhân vật và cốt truyện; truyện thể hiện
tư tưởng, tình cảm của tác giả thông qua việc tái hiện một cách khách quan các hiện tượng của đời sống xã hội với sự diễn đạt bằng ngôn từ Văn bản truyện là văn bản tự sự được sáng tác theo lối hư cấu Mỗi văn bản truyện là một sáng tạo nghệ thuật ngôn từ độc đáo của người nghệ sĩ Tuy nhiên, xét chung về thể loại, văn bản truyện thường có những dấu hiệu đặc trưng nổi bật như: có cốt truyện, có nhân vật, có người kể chuyện, có lời trần thuật; với truyện ngắn còn có tình huống truyện [13]
Trang 3929
T ruyện ngắn hiện đại Việt Nam được giới thiệu lựa chọn bắt buộc
trong chương trình Ngữ văn 11 bao gồm các tác phẩm: Hai đứa trẻ - Thạch
Lam; Chữ người tử tù - Nguyễn Tuân và Chí Phèo (hoặc Đời thừa) - Nam
Cao [7] Đây là những văn bản có giá trị và chiếm vị trí quan trọng trong nền văn học dân tộc; đồng thời cũng là phần văn bản, là nguồn dữ liệu đóng vai trò rất quan trọng cho việc phát triển các phẩm chất và năng lực người học theo mục tiêu, yêu cầu cần đạt của chương trình phổ thông hiện hành Ngoài những đặc trưng chung của tác phẩm truyện, truyện ngắn hiện đại có các đặc trưng sau:
- Truyện ngắn - tác phẩm tự sự hiện đại
Truyện truyền thống (các tác phẩm tự sự, các truyện ngắn thời trung đại) và các truyện hiện đại có những điểm chung nhất định do tính chất của
loại tác phẩm tự sự quy định, không thể không kể đến các yếu tố tạo nên sự tồn tại của loại, đó là cốt truyện, nhân vật và trần thuật Tuy vậy, giữa
Trang 4030
chũng cũng có những điểm khác nhau cơ bản:
Cốt truyện của truyện ngắn hiện đại biến hóa linh hoạt và phức tạp hơn cốt truyện truyền thống, có truyện ngắn hầu như bị triệt tiêu cốt truyện, còn gọi là những truyện không có truyện Thực tiễn cho thấy, các nhà văn thường chú ý nhất khi xây dựng cốt truyện, đó là ở chi tiết và đoạn kết Chi tiết nghệ thuật trong tác phẩm thì nhiều nhưng không phải chi tiết nào cũng hay, chi tiết nào cũng có giá trị ngang nhau Trong nhiều tác phẩm nghệ thuật, có những chi tiết rất đắt giá, nhờ vào đó mà tư tưởng, chủ đề thẩm mĩ của tác phẩm được bộc lộ rõ ràng hơn, được khắc sâu hơn Truyện ngắn hiện đại thường có lối kết thúc mở, tạo nên sự bất ngờ, ám ảnh cho người đọc
Nhân vật trong truyện ngắn hiện đại luôn là kết quả của cái nhìn đa chiều, được khắc họa qua nhiều điểm nhìn khác nhau: điểm nhìn tác giả, điểm nhìn của những nhân vật khác và có thể điểm nhìn của chính nhân vật
đó tự nhìn nhận về mình
Trần thuật trong truyện ngắn hiện đại thường được dẫn dắt bởi một chủ thể, thường gọi là người trần thuật Người trần thuật có thể ẩn hoặc hiện trong một vai cụ thể (thường xưng “tôi”), trong vai một người chứng kiến kể lại câu chuyện hoặc vai một nhân vật tham gia vào câu chuyện, nhưng xu hướng được khai thác nhiều hơn đó là người trần thuật hiện ra thành người
kể chuyện hay nhân vật kể truyện Tính chất của trần thuật phụ thuộc vào các điểm nhìn khác nhau trong văn bản mà từ đó sự việc, sự kiện được dẫn dắt Các điểm nhìn chủ yếu thường được nói đến là: điểm nhìn tác giả, điểm nhìn của người kể chuyện, điểm nhìn của nhân vật; các điểm nhìn thường được xen phối và chuyển hóa lẫn nhau một cách phong phú và linh hoạt [19]
Nắm rõ những đặc điểm trên của thể loại truyện ngắn nói chung cũng như truyện ngắn hiện đại nói riêng là cơ sở để GV khai thác đúng trọng tâm, nhất là sử dụng các phương tiện CNTT làm nổi bật nội dung của truyện trong quá trình tổ chức các hoạt động tìm hiểu văn bản truyện cho HS, nhằm nâng